Đề Xuất 11/2022 # Việt Nam Trước Địa Chính Trị Của Biển Đông / 2023 # Top 20 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 11/2022 # Việt Nam Trước Địa Chính Trị Của Biển Đông / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Việt Nam Trước Địa Chính Trị Của Biển Đông / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Về lý thuyết, hai khả năng khai thác tài nguyên địa chính trị của Việt Nam có thể được xem xét là vai trò cửa ngõ ra hướng biển Đông và vai trò đầu cầu kết nối các quan hệ giao thương khu vực và quốc tế.

Vai trò cửa ngõ và giấc mơ chưa thành

Trước hết, cần phải hiểu rằng vai trò cửa ngõ chỉ được phát huy nếu kinh tế vùng đất liền phía trong phát triển. Chúng ta hãy lần lượt xem xét vai trò này thông qua phân tích vai trò của từng vùng miền.

Vùng biển Bắc bộ, do mức phát triển kinh tế chưa mấy khởi sắc của phần đất liền phía trong (đồng bằng sông Hồng và khu Đông – Tây Bắc bộ), và do bị lấn át bởi sự phát triển vượt bậc của đảo Hải Nam và các tỉnh duyên hải Trung Quốc trong thời gian gần đây, khó đảm đương vai trò cửa ngõ hướng ra các luồng thủy lộ biển Đông. Việt Nam đã đầu tư các tuyến đường cao tốc bằng những khoản vay lớn từ Trung Quốc trong thời gian gần đây (Hà Nội – Lào Cai và Hà Nội – Lạng Sơn). Liệu chúng có thực sự là động lực phát triển kinh tế cho các tỉnh phía Bắc của ta hay Trung Quốc mới chính là kẻ hưởng lợi từ khối lượng xuất nhập khẩu khổng lồ qua con đường biên mậu? Đó là chưa kể những âu lo khác về an ninh quốc phòng đối với Việt Nam.

Ảnh: Kiên Trung

Vùng biển miền Trung khá dài và sát các thủy lộ biển Đông, với nhiều cảng nước sâu, có thể được xem là cửa ngõ tốt. Thế nhưng, vùng đất liền phía trong, có thể tính bao gồm một phần lãnh thổ Việt Nam và cả Lào, Đông Bắc Campuchia, nhìn chung cũng chưa phát triển mấy. Việc đầu tư dàn trải các cảng nước sâu từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng để hướng đến thị trường Lào quá bé nhỏ đã khiến cho vai trò cửa ngõ của khu vực miền Trung trở nên manh mún. Ngoài cảng biển, các dự án lớn khác tại khu vực miền Trung, mà đặc biệt là trong ngành lọc dầu, vẫn còn khá xa mong đợi thúc đẩy sự phát triển kinh tế cho khu vực.

Miền Nam, với chúng tôi và vùng Bà Rịa – Vũng Tàu, nơi kinh tế phát triển vượt trội, thị trường lớn, sức mua cao và cả một vùng đất liền phía trong rộng lớn, nhiều tiềm năng, có thể được xem là lý tưởng hơn cả trong vai trò cửa ngõ. Thế nhưng, vai trò cửa ngõ phải gắn chặt với vai trò kho hàng (entrepôt). Điều này tỏ ra không mấy hiện thực với chúng ta, vì vẫn còn khá lâu, do trình độ công nghệ hạn chế, chúng ta mới có thể đạt được vị thế hiện nay của Hồng Kông và Singapore. Sự thất bại của hàng loạt cảng biển khu vực phía Nam, đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian qua là một minh chứng.

Vai trò cầu nối và viễn cảnh đánh mất vị thế địa chính trị

Thế nhưng, nền kinh tế Việt Nam, mà cụ thể là các hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư, đã ngày càng lệ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc. Những dòng chảy tư bản và hàng hoá giữa Việt Nam và phần còn lại của thế giới thay vì chu chuyển khắp nơi trong một thế giới ngày càng hội nhập như hiện nay thông qua thuỷ lộ biển Đông, giờ đây, chúng đã và đang bị lôi kéo vào những những khu vực địa giới và hải giới gần hơn, giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Những khả năng xung đột hay tranh chấp về lãnh thổ, và trầm trọng hơn nếu tiềm ẩn những nguy cơ xung đột vũ trang, mất an ninh khu vực và an toàn hàng hải, sẽ càng làm suy giảm trầm trọng vai trò cửa ngõ của biển Đông. Có thể nói, gần như trong suốt tiến trình lịch sử, về lợi ích kinh tế, Việt Nam chưa bao giờ tận dụng được vị thế địa chính trị của biển Đông. Và viễn cảnh đánh mất nó có thể sẽ xảy ra trong một tương lai, nếu Việt Nam không có những điều chỉnh về chính trị và chiến lược thích ứng.

Cửa ngõ hay cầu nối?

Từ vấn đề biển Đông lâu nay và vụ giàn khoan Hải Dương-981 của Trung Quốc xâm nhập vùng biển Việt Nam hiện nay, nhiều vấn đề về quan hệ chính trị và bang giao với Trung Quốc chắc chắn sẽ được các nhà lãnh đạo Việt Nam cân nhắc giải quyết.

Đất đai, lãnh hải có thể không thay đổi. Nhưng thời gian lại cuồn cuộn trôi. Hội nhập kinh tế quốc tế có thể đem đến những cơ may, nhưng một khi cơ may không được nắm lấy, nó có thể trở nên những đe dọa ảnh hưởng đến sự hưng suy của cả một dân tộc. Đó chính là ý niệm thời gian của địa chính trị, bên cạnh các phân tích chủ yếu nghiêng về không gian của phần trên. Không có những điều chỉnh, không có những chiến lược đổi thay, ứng phó, chúng ta sẽ mất tất cả qua thời gian.

Xin đưa ra một số ý kiến như sau:

Vai trò cửa ngõ đòi hỏi một nền kinh tế mạnh mẽ của vùng đất liền phía trong. Chúng ta đã và đang nỗ lực để thực hiện việc này, dù rằng, trong tư duy, đã đến lúc chúng ta phải chấp nhận những khoảng cách nào đó trong tăng trưởng và phát triển kinh tế giữa ba miền Bắc-Trung-Nam.

Vai trò cửa ngõ của địa chính trị biển Đông cũng không thể bỏ qua tác động của hành lang kinh tế Đông-Tây, bao gồm thị trường Lào và vùng Đông Bắc Campuchia, thông qua vai trò cầu nối của Việt Nam đối với các quốc gia đó, từ vùng đất sâu phía trong ra biển Đông, với những quan hệ kinh tế-chính trị cần được củng cố vững chắc hơn, dài hạn hơn, mang tính chiến lược hơn trên cơ sở các lợi ích song phương.

PGS. Trương Quang Thông (Theo TBKTSG Online)

Chính Sách Biển Đông Của Malaysia / 2023

1/ Đòi hỏi về chủ quyền và lợi ích Biển Đông của Malaysia

Là một quốc gia biển điển hình, có đường bờ biển kéo dài, toàn bộ bờ biển phía Đông của Tây Malaysia cũng nhưu phía Bắc và phía Tây của Đông Malaysia, và khu vực biển gần đó đều thuộc Biển Đông. Như chúng ta đều biết, Biển Đông với giá trị kinh tế và vị trí địa chiến lược của nó đã trở thành tiêu điểm quan tâm của toàn thế giới. Đối với một Malaysia mà nền kinh tế quốc dân ở một mức độ lớn dựa trên tài nguyên dầu mỏ và thủy hải sản, Biển Đông có tầm quan trọng đặc biệt.

A/ Lợi ích Biển Đông của Malaysia

Lợi ích Biển Đông của Malaysia chủ yếu thể hiện ở 3 phương diện là ngành năng lượng tuyến đường thương mại quốc tế và an ninh quốc phòng. Là nước sản xuất dầu khí lớn thứ hai ASEAN và nước xuất khẩu khí đốt lớn thứ 3 thế giới, gần như tất cả nguồn dầu khí của Malaysia đều đến từ Biển Đông.

1/ Tài nguyên dầu khí ở Biển Đông là trụ cột quan trọng trong việc phát triển kinh tế quốc gia của Malaysia

Về tình hình các nước xung quanh Biển Đông chiếm lĩnh các hòn đảo ở Trường Sa, vẫn là câu nói “Philippines chiếm đầu tiên, Việt Nam chiếm nhiều nhất, Malaysia chiếm chỗ béo bở nhất”. Số liệu chi tiết về “Trữ lượng dầu thô và khí đốt của các nước tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông” do Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ (EIA) công bố hồi tháng 4/2013 cho thấy, trữ lượng dầu khí của vùng biển mà Malaysia chiếm giữ là cao nhất tại Biển Đông.

Từ những năm 70 của thế kỷ trước, trong số những nước xung quanh Biển Đông tranh giành nguồn dầu khí ở Biển Đông, Malaysia hành động sớm, tiến hành nhanh chóng, trở thành nước khai thác dầu khí nhiều nhất, hưởng lợi nhất ở Biển Đông. Năm 2009, sản lượng dầu của Malaysia ở Biển Đông vượt quá 30 triệu tấn, khí tự nhiên đạt gần 150 triệu m3. Đến năm 2014, số lượng giếng dầu mà Malaysia khai thác ở khu vực Nam Sa lên đến gần 90 giếng, chiếm hơn một nửa so với tổng số giếng mà các nước Trung Quốc, Việt Nam, Philippines và Malaysia khai thác.

Là một quốc gia biển điển hình, kinh tế biển là một phần quan trọng trong việc thực hiện công nghiệp hóa đất nước của Malaysia, mà khai thác nguồn tài nguyên dầu khí của Biển Đông lại là nguồn thu nhập quan trọng của quốc gia. Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, thu nhập từ dầu mỏ đã chiếm khoảng 20% thu nhập quốc gia của Malaysia. Số liệu thống kê và báo cáo phân tích của Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ cho thấy trữ lượng dầu mỏ của Malaysia đứng vị trí thứ tư khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chỉ đứng sau Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam. Malaysia từ đó hy vọng phát triển thành trung tâm dự trữ, thương mại, phát triển dầu mỏ và khí tự nhiên của châu Á, điều này sẽ thu hút kỹ thuật chuyên nghiệp và dịch vụ hạ tầng có sức cạnh tranh. Đó chính là dựa vào nguồn dầu khí phong phú, Malaysia đưa ra “Tầm nhìn 2020”, mục tiêu chung của kế hoạch này là vào năm 2020 bước vào hàng ngũ các nước phát triển. Để thực hiện mục tiêu này, cần phải thúc đẩy mạnh mẽ trình độ công nghiệp hóa đất nước, thực hiện chuyển đổi nền kinh tế quốc gia, và trong ngành công nghiệp năng lượng, mục tiêu của Malaysia là xây dựng nền tảng thương mại và dự trữ năng lượng của châu Á, phát triển thành cường quốc năng lượng châu Á.

Có thể nói, “Tầm nhìn 2020” bắt đầu được đề xuất từ thời Mahathir bin Mohamad luôn là lá cờ tiên phong trong việc phát triển kinh tế của Malaysia, trong nhiều thập kỷ ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển trong mọi lĩnh vực của Malaysia. Tuy nhiên, nhìn vào hiệu quả kinh tế của Malaysia những năm gần đây thì ý nguyện này khó mà đạt được. Ngay sau đó vào đầu năm 2017, Thủ tướng đương nhiệm Najib Razak đề xuất “TN50”, hay “Kế hoạch chuyển đổi quốc gia năm 2050” để thay cho “Tầm nhìn 2020”. Mục tiêu thiết lập của “TN50” là năm 2050 Malaysia sẽ trong danh sách 20 nước đứng đầu về kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên cho dù là “Tầm nhìn 2020” hay “TN50”, thì việc thực hiện các mục tiêu to lớn này ở một mức độ rất lớn được quyết định bởi sự phát triển ổn định của ngành năng lượng Malaysia, mà Biển Đông lại là nguồn khai thác chủ yếu tài nguyên dầu khí của nước này. Về ý nghĩa này, Biển Đông là lợi ích then chốt của Malaysia.

2/ Biển Đông là một kênh quan trọng để Malaysia triển khai thương mại quốc tế

Biển Đông phía Đông tiếp giáp Thái Bình Dương, phía Tây tiếp nối với Ấn Độ Dương, tuyến đường Nam – Bắc của Biển Đông lại nối liền với khu vực Đông Á và châu Đại Dương. Vùng biển này là đầu mối thương mại trọng yếu của ASEAN, châu Á và khu vực châu Á – Thái Bình Dương, mà thương mại châu Á – Thái Bình Dương rõ ràng đã trở thành động cơ mạnh mẽ của sự phát triển kinh tế và thương mại khu vực. Các nước Đông Nam Á dựa vào Biển Đông để phát triển thương mại với Đông Á, Nam Á, Trung Đông và phương Tây, mạng lưới thương mại này nhờ Biển Đông mới có thể tồn tại. Malaysia ở vào vị trí xung yếu về giao thông giữa phương Đông và phương Tây, từ xa xưa đã chiếm vị trí vô cùng quan trọng trong mạng lưới thương mại quốc tế, và sự phát triển kinh tế của Malaysia ngày nay cũng phụ thuộc rất nhiều vào thương mại quốc tế. Là một trong những nước ven Biển Đông, Malaysia hiểu rõ được tầm quan trọng của vùng biển này đối với kinh tế khu vực và thương mại toàn cầu.

Đối mặt với tình hình tranh chấp Biển Đông ngày càng phức tạp, có một bộ phận lớn các học giả Malaysia bao gồm các nghiên cứu viên có thâm niên của các viện chính sách và chiến lược, cũng như các học giả làm công tác nghiên cứu trên những phương diện như địa chính trị, quyền lợi biển tại các viện nghiên cứu và trường đại học, từ góc độ nghiên cứu của bản thân, liên tục nhấn mạnh tầm quan trọng của kênh thương mại quốc tế Biển Đông đối với Malaysia, kêu gọi chính phủ và quân đội hết sức coi trọng vấn đề Biển Đông. Ví dụ ông Nazery Khalid, một chuyên gia cao cấp lâu nay chuyên nghiên cứu quyền lợi biển của Viện nghiên cứu biển Malaysia đã chỉ ra rằng vận chuyển dầu thô cho các nước Viễn Đông chiếm vị trí chủ đạo trong thương mại Biển Đông; qua nhiều năm, các con tàu mang khí đốt của Malaysia từ cảng Bintulu – Sarawak vượt qua tuyến đường Biển Đông đến các nước Viễn Đông. Cùng với việc mức độ phụ thuộc của kinh tế Malaysia vào thương mại quốc tế ngày càng cao, Biển Đông là tuyến đường thương mại trên biển, đem lại nguồn lợi nhuận ổn định cho Malaysia, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với Malaysia.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (TQ)

TLTKĐB – 19 & 20/12/2017

Chiến Lược Của Biển Đảo Việt Nam / 2023

Vị trí địa lý, địa – kinh tế, địa – chính trị, địa – chiến lược của biển đảo Việt Nam 

Vị trí địa lý của biển Đông Biển Đông nằm ở phía Đông Việt Nam, trải dài từ vĩ tuyến 3 Bắc đến vĩ tuyến 26 Bắc và từ kinh tuyến 100 Đông đến kinh tuyến 121 Đông. Có 9 nước và một vùng lãnh thổ tiếp giáp biển Đông, gồm Việt Nam, Trung Quốc và Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Campuchia và Đài Loan. Việt Nam giáp với biển Đông từ 3 phía: Đông, Nam và Tây Nam. Bờ biển Việt Nam dài 3.260km, từ tỉnh Quảng Ninh đến tỉnh Kiên Giang, với các vùng biển và thềm lục địa, trung bình cứ 100km đất liền thì có 1km bờ biển. Biển Đông có khoảng vài nghìn đảo lớn nhỏ, trong đó có trên 250 cấu trúc địa lý mà mỗi cấu trúc có diện tích khoảng 1km2 gồm các đảo san hô, rạn san hô, rạn san hô vòng, bãi cạn và bãi ngầm, phần lớn không có người sinh sống, đa phần bị ngập trong nước biển khi triều cường, một số nằm ngầm dưới mặt nước. Các cấu trúc được chia thành 3 nhóm quần đảo là: quần đảo Đông Sa ở phía Bắc, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Trong đó hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng hơn 2.570 hòn đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam ở giữa biển Đông hợp thành phòng tuyến bảo vệ đất nước từ hướng biển. Biển Đông là một trong những khu vực có tầm quan trọng chiến lược đối với các nước thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương, châu Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới. Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của khoảng 300 triệu người. Biển Đông được coi là con đường huyết mạch chiến lược để giao thông thương mại và vận chuyển quân sự quốc tế. Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương, châu Âu – châu Á, Trung Đông – châu Á. Biển Việt Nam là điều kiện thuận lợi để ngành giao thông vận tải biển nước ta phát triển, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Việt Nam với các nước khác trong khu vực và trên thế giới.

Biển Việt Nam có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Thềm lục địa Việt Nam có nhiều bể trầm tích chứa dầu khí và có nhiều triển vọng khai thác nguồn khoáng sản này. Tổng trữ lượng dầu khí ở biển Việt Nam lớn. Tuy mới ra đời, nhưng ngành dầu khí của ta đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, có tiềm lực kỹ thuật, vật chất lớn và hiện đại nhất trong những ngành khai thác biển, đồng thời cũng là một trong những ngành xuất khẩu và thu nhiều ngoại tệ nhất cho đất nước. Ngành công nghiệp khai thác dầu khí phát triển kéo theo sự phát triển của một số ngành khác như công nghiệp hóa dầu, giao thông vận tải, thương mại trong nước và khu vực. Ngoài dầu mỏ, biển Việt Nam còn có nhiều mỏ sa khoáng và cát thủy tinh có trữ lượng khai thác công nghiệp và làm vật liệu xây dựng…tiềm năng về khí-điện-đạm và năng lượng biển cũng rất lớn như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, sóng và cả thủy nhiệt. Vùng biển nước ta có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch Đất nước Việt Nam chạy dài trên 15 vĩ độ địa lý nhưng lại hẹp về chiều ngang, khí hậu phân hóa, phong phú về tập quan dân tộc, bờ biển dài có nhiều bãi cát rộng, vũng, vịnh, hang động tự nhiên đẹp, các dãy núi đá vôi vươn ra sát bờ biển tạo nhiều cảnh quan thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng, các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể du lịch hiếm có trên thế giới, tiêu biểu là quần thể núi và hang động đá vôi ở Vịnh Hạ Long đã được UNESCO xếp hạng là di sản thiên nhiên của thế giới. Ngoài ra còn có các thắng cảnh tự nhiên trên đất liền nổi tiếng như Phong Nha – Kẻ Bàng, Thiên Đường, Sơn Đoòng, Bích Động, Non Nước… Ngày nay sức thu hút của du lịch biển, đảo đã vượt ra ngoài các loại hình du lịch truyền thống, phát triển với nhiều loại hình đa dạng hơn, phong phú hơn. Biển Việt Nam có đầy đủ điều kiện để phát triển như: – Nghỉ ngơi, dưỡng bệnh, tắm biển, tham quan ở vùng duyên hải hay ở ngoài đảo; – Du lịch sinh thái nghiên cứu khoa học vùng duyên hải, hải đảo trong lòng biển; – Du lịch thể thao với các hoạt động ngoài trời như: bơi, lặn sâu, lướt ván, nhảy sóng, đua thuyền..Loại hình du lịch này ngày càng hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách vì sự gắn kết giữa rèn luyện sức khỏe và nghĩ dưỡng; – Du lịch hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế. Biển Việt Nam còn là địa bàn quan trọng để phát triển kinh tế đất nước Hiện có trên 31% dân số cả nước sinh sống ở 28 tỉnh thành phố ven biển, Đa số các thành phố, thị xã đều nằm ở ven sông, cách biển không xa, nhất là thành phố, thị xã ở miền Trung Việt Nam nằm ven biển, có đường quốc lộ 1A chạy qua. Khu vực ven biển cũng là nơi tập trung các trung tâm công nghiệp lớn có nhiều sân bay, cảng biển quan trọng, các căn cứ hải quân, kho tàng, các công trình kinh tế, quốc phòng khác. Các tỉnh, thành phố ven biển có các cảng, cơ sở sửa chữa, đóng tàu, đánh bắt hoặc chế biến hải sản, làm muối… thu hút hơn 13 triệu lao động, giải quyết công việc làm ăn, góp phần to lớn vào việc ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng. Biển Việt Nam có vai trò quan trọng trong xây dựng thế trận quốc phòng – an ninh của đất nước Với các vùng biển rộng lớn, bờ biển dài, địa hình bờ biển quanh co, khúc khủy, có nhiều dãy núi chạy ra biển, chiều ngang đất liền có nơi chỉ rộng khoảng 50km (tỉnh Quảng Bình) nên việc phòng thủ từ hướng biển luôn mang tính chiến lược. Mạng lưới sông ngòi chằng chịt chảy qua các miền của đất nước, chia cắt đất liền thành nhiều khúc, cắt ngang các tuyến giao thông chiến lược Bắc – Nam. Ở nhiều nơi, núi chạy lan ra sát biển, tạo thành những địa hình hiểm trở, những vùng kín, xen lẫn với những bờ biển bằng phẳng, thuận tiện cho việc trú đậu tàu thuyền và chuyển quân bằng đường biển. Hệ thống quần đảo và đảo trên vùng biển nước ta cùng với dải đất liền ven biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, với thế bố trí chiến lược hợp thế trên bò, dưới nước, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển nước ta. Biển là chiến trường rộng lớn để ta triển khai thế trận quốc phòng toàn dân – thế trận an ninh nhân dân trên biển để phòng thủ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự an ninh từ xa đến gần, trong đó có các khu vực biển trọng điểm như Vịnh Bắc Bộ, vùng biển quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa; khu du lịch kinh tế kỹ thuật dầu khí DK1, DK2, vùng biển Tây Nam.

Những bãi biển du lịch nổi tiếng của Việt Nam Một số bãi biển đẹp của các tỉnh như là: Trà Cổ (Quảng Ninh), Quan Lạn (Quảng Ninh), Thanh Lân (Quảng Ninh), Cát Cò (Hải Phòng), Đồ Sơn (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Cửa Hội (Nghệ An), Thiên Cầm (Hà Tĩnh), Đá Nhảy (Quảng Bình), Cửa Tùng (Quảng Trị), Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), Mỹ Khê (Đà Nẵng), Quy Nhơn (Bình Định), Nha Trang (Khánh Hòa), Ninh Chữ (Ninh Thuận), Mũi Né (Bình Thuận), Bãi Trước (Vũng Tàu), Bãi Sau (Vũng Tàu), Phú Quốc (Kiên Giang)… Bãi biển là yếu tố rất quan trọng đối với phát triển du lịch biển ở một xứ sở nhiệt đới, đặc biệt là bãi biển nhỏ nhưng gắn với hải đảo hoang sơ, các vùng biển tĩnh lặng như ở quần đảo Cát Bà (Hải Phòng). Mỗi bãi biển đều có những nét đẹp và lợi thể riêng, thu hút du khách trong và ngoài nước. Nằm trong vùng nhiệt đới, ấm nóng quanh năm nên vùng ven biển và hải đảo nước ta quanh năm chan hòa ánh nắng mặt trời, cùng với các bãi cát trắng mịn trải dài ven sóng. Vì thế, việc quy hoạch sử dụng hợp lý và quản lý hiệu quả các bãi biển sẽ góp phần duy trì được lợi thế trong phát triển du lịch biển, đảo bền vững. Hệ thống đảo, quần đảo và đặc điểm của chúng Việt Nam không chỉ có phần lục địa “hình chữ S” mà còn có các đảo, quần đảo, các vùng biển và thềm lục địa rộng lớn trong biển Đông thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Các đảo của vùng biển Việt Nam phân bố không đều, nằm rải rác từ gần bờ đến xa bờ. Hệ thống đảo hình thành vòng cung rộng lớn chạy suốt từ Vịnh Bắc Bộ đến quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, quần đảo phía Nam và Tây Nam của đất nước. Tổng diện tích các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam vào khoảng 1.636,6 km2, trong đó có khoảng 82 đảo có diện tích lớn hơn 1km2, chiếm 92% tổng diện tích các đảo; 23 đảo có diện tích trên 10km2 và 3 đảo có diện tích trên 100km2. Có thể phân hệ thống đảo, quần đảo thành 3 tuyến: – Tuyến xa bờ: Là những đảo nằm ở vị trí tiền tiêu, cửa ngõ, phên dậu quốc gia, là hệ thống phòng thủ từ xa, ở đó có thể bố trí mạng thông tin tiền tiêu, đặt các trạm quan sát, các trận địa phòng không…để kiểm tra, kiểm soát bảo vệ lãnh thổ quốc gia, bao gồm vùng đất, vùng biển, vùng trời của Tổ quốc. Những đảo, những quần đảo lớn trong hệ thống này như: quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, Bạch Long Vĩ, Côn Đảo, Thổ Chu… – Tuyến giữa: là những đảo có diện tích khá lớn và điều kiện tự nhiên thuận lợi, có thể xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ tốt cho đời sống nhân dân và phát triển cho việc xây dựng các công trình chiến đấu phòng thủ, các hải cảng, sân bay… – Tuyến ven bờ: Gồm những đảo gần đất liền, thuận lợi cho phát triển ngư nghiệp, nông nghiệp, tạo thành nơi trú đậu, tránh bão cho tàu thuyền, có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn trật tự an ninh trên vùng biển ven bờ. Những đảo lớn trong hệ thống này là các đảo: Cái Bầu, Cát Bà, Cồn Cỏ, Hòn Tre, Hòn Khoai… Mỗi vùng biển nước ta đều có từng cụm đảo khá liên hoàn, cả ba hệ thống đảo trở thành thế trận phòng thủ nhiều lớp nhiều tầng, giàu tiềm năng về kinh tế và vững về thế trận quốc phòng, an ninh của Tổ quốc. Một số nhiệm vụ chủ yếu trong Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 Để đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, Đảng và Nhà nước ta đã định hướng triển khai các nhiệm vụ cơ bản, lâu dài và xuyên suốt là: – Hình thành một số lĩnh vực kinh tế mạnh gắn với xây dựng các trung tâm kinh tế hướng biển, làm động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước. – Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, từng bước nâng cao đời sống dân cư vùng ven biển, trên các đảo và những người lao động trên biển. – Phát triển kinh tế biển gắn với quản lý và bảo vệ biển đảo. Nhiệm vụ trước mắt đến năm 2020, tiếp tục phát triển thành công, có bước đột phá đối với các ngành kinh tế biển, ven biển như: – Khai thác và chế biến dầu khí, kinh tế hằng hải, khai thác chế biến hải sản, du lịch biển và kinh tế hải đảo, xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển. – Tạo điều kiện cần thiết đảm bảo an ninh, an toàn cho những người dân sinh sống ở những vùng thường bị thiên tai. – Xây dựng các cơ sở bảo vệ môi trường biển. Giải pháp chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020: – Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng, thường xuyên và có hệ thống trong nhân dân nhằm nâng cao và tạo sự chuyến biến mạnh mẽ trong nhận thức của các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân về vị trí vai trò của biển đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo vệ Tổ quốc. – Cơ cấu lại ngành, lĩnh vực kinh tế biển hợp lý gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân. Khuyến khích nhân dân định cư ổn định trên đảo và làm ăn dài ngày trên biển. – Đẩy mạnh điều tra cơ bản và phát triển khoa học công nghệ biển mạnh và hiện đại, tăng cường năng lực giám sát quan trắc, giảm thiểu và xử lý các thảm họa thiên tai, sự cố môi trường biển, ven biển và hải đảo. – Triển khai quy hoạch khai thác, sử dụng biển, hải đảo ở cấp độ khác nhau đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, tiến tới chấm dứt việc khai thác tự phát, giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích trong sử dụng. – Quản lý nhà nước có hiệu lực và hiệu quả về biển và hải đảo trên cơ sở hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, làm cơ sở xác lập chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, quản lý khai thác sử dụng các vùng biển, ven biển và hải đảo. – Tăng cường hội nhập quốc tế về biển để tranh thủ công nghệ tiên tiến, thu hút thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ biển, cho khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên biển, quản lý và bảo vệ môi trường biển. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành kinh tế biển và sản phẩm biển Việt Nam trên trường quốc tế. – Đảm bảo chất lượng môi trường biển cho phát triển bền vững kinh tế – xã hội. Phòng ngừa và sẵn sàng ứng cứu các sự cố môi trường biển.

Thanh Nhàn

Bài 24 : Vùng Biển Việt Nam / 2023

1. Đặc điểm chung của vùng biển Việt Nam

a. Diện tích, giới hạn

– Biển Đông là 1 vùng biển lớn, diện tích khoảng 3 447 000 km 2, tương đối kín, nằm trải rộng từ xích đạo tới chí tuyến bắc. Có 2 vịnh lớn là vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan

– Biển Việt Nam là một phần Biển Đông, diện tích khoảng 1 triệu km 2.

b. Đặc điểm khí hậu và hải văn của biển

– Chế độ gió: Gió hướng đông bắc chiếm ưu thế từ tháng 10 đến tháng 4. Các tháng còn lại, ưu thế thuộc về gió tây nam, riêng vịnh Bắc Bộ chủ yếu là hướng nam. Gió trên biển mạnh hơn đất liền.

– Chế độ nhiệt: Ở biển, mùa hạ mát hơn và mùa đông ấm hơn trên đất liền. Biên độ nhiệt trong năm nhỏ. Nhiệt độ trung bình năm của nước biển trên mặt là 23 0 C.

– Chế độ mưa: Lượng mưa trên biển thương ít hơn trên đất liền, đạt từ 1100 đến 1300 mm/năm.

– Dòng biển: Dòng biển hình thành trên Biển Đông tương ứng với hai mùa gió chính: dòng biển mùa đông chảy theo hướng Đông Bắc, dòng biển mùa hạ chảy theo hướng Tây Nam.

Cùng với dòng biển, trên vùng biển Việt Nam còn xuất hiện các vùng nước trồi và nước chìm, vận động lên xuống theo chiều thẳng đứng, kéo theo sự di chuyển của các sinh vật biển.

– Chế độ triều phức tạp. Chế độ nhật triều của vịnh Bắc Bộ được coi là điển hình của thế giới.

– Độ muối trung bình của Biển Đông là 30 – 33‰.

2. Tài nguyên biển và bảo vệ môi trường biển Việt Nam

a. Tài nguyên biển

Phong phú và đa dạng (thủy sản, khoáng sản – nhất là dầu mỏ và khí đốt, muối, du lịch – có nhiều bãi biển đẹp)

– Biển giàu tài nguyên nhưng không phải là vô tận. Việc khai thác tài nguyên đòi hỏi nhiều công sức và trí tuệ. Thiên tai vùng biển dữ dội và khó lường.

b. Môi trường biển

– Vấn đề ô nhiễm nước biển, suy giảm nguồn hải sản; vấn đề khai thác hợp lí, bảo vệ môi trường biển.

– Cần khai thác và bảo vệ biển tốt hơn để môi trường biển luôn trong lành.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Việt Nam Trước Địa Chính Trị Của Biển Đông / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!