Đề Xuất 11/2022 # Tụy Nằm Ở Đâu Và Có Chức Năng Gì? / 2023 # Top 19 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 11/2022 # Tụy Nằm Ở Đâu Và Có Chức Năng Gì? / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tụy Nằm Ở Đâu Và Có Chức Năng Gì? / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Vị trí của Tụy

Tụy (lá mía) giống như một cái búa có 3 phần: đầu, thân và đuôi. Tụy dài 15cm, cao 6cm, dày 3cm, nặng 80g, tổ chức mềm màu trắng nhạt. Chức năng ngoại tiết là sản xuất, bài tiết các dịch tụy chứa các men tiêu hóa, hay enzyme tiêu hóa còn chức năng nội tiết là sản xuất, bài tiết vào trong máu các nội tiết tố hay hormon. Mỗi ngày trung bình tụy có thể tiết ra 0,8 lít dịch tiết.

Tụy là một cơ quan sau phúc mạc trải dài từ độ cong bên trong của tá tràng đi đến đến cuống lách, nằm cắt ngang trước cột sống TL, chếch lên trên sang trái. Phần dài nhất của tuyến tụy nằm dài phía sau dạ dày, đuôi của tuyến tụy nằm liền kề với lá lách. Phần lớn tụy ở tầng trên mạc treo đại tràng ngang, chỉ có một phần nhỏ ở dưới mạc treo.

2. Cấu tạo của Tụy

Cấu tạo của tụy gồm có ba phần: đầu tụy, thân tụy và đuôi tụy. Đầu tụy nằm sát đoạn tá tràng D2, đuôi tụy thì kéo dài đến sát nách. Ống tụy là một ống nằm dọc suốt chiều dài của tụy có chỗ nối vào tá tràng gọi là bóng Vater dẫn lưu dịch tụy đổ vào đoạn D2 của tá tràng. Ống mật chủ kết hợp với ống tụy gần bóng Vater còn cơ vòng Oddi là nơi đổ ra của ống tụy và ống túi mật.

Tụy được cung cấp máu bởi các động mạch tá tụy là nhánh của động mạch mạc treo tràng trên. Tĩnh mạch đưa máu đổ về các tĩnh mạch lách rồi đổ vào tĩnh mạch cửa. Tĩnh mạch cửa được hợp thành bởi sự hợp thành của hai tĩnh mạch là tĩnh mạch mạc treo tràng trên và tĩnh mạch lách. Đối với một số người thì tĩnh mạch mạc treo tràng dưới cũng đổ vào tĩnh mạch lách, phía sau tuyến tụy.

3. Chức năng của Tụy

Tuyến tụy sản xuất dịch tiêu hóa có khả năng tiêu hóa gần như tất cả các thành phần thức ăn gồm tụy ngoại tiết và tụy nội tiết:

3.1 Tụy ngoại tiết

Tụy được bao bọc bởi bao tụy có tác dụng phân chia tụy thành các tiểu thùy. Nhu mô của tụy được cấu tạo bởi các tế bào tụy ngoại tiết chứa đựng rất nhiều các hạt nhỏ chứa enzyme tiêu hóa dưới dạng tiền chất chủ yếu là trypsinogen, chymotrysinogen, lipase tụy và amylase.

Các men tụy sẽ được tiết vào ống tụy và sau đó đổ vào ruột non ở đoạn D2 của tá tràng khi có kích thích thích hợp. Tại đây các men enterokinase của tá tràng sẽ xúc tác làm trypsinogen biến thành dạng hoạt động là trypsin là một endopeptidase lại cắt các amino acid của chymotrypsinogen thành dạng hoạt động chymotrypsin có nhiệm vụ cắt các polypeptide trong thức ăn thành các đơn vị nhỏ có thể hấp thu được qua niêm mạc ruột. Các men hoạt động có khả năng tiêu hủy protein của chính tuyến tụy nên tụy chỉ tiết các men dưới dạng tiền chất hay dạng không hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Dịch tụy là nguồn chứa các men tiêu hóa mỡ và protein còn niêm mạc ruột lại có các men tiêu hóa được glucose. Dịch tụy cũng chứa các ion bicarbonate có tính kiềm để trung hòa lượng dịch acid trong thức ăn từ dạ dày đi xuống. Việc kiểm soát chức năng ngoại tiết của tụy được thực hiện thông qua các men như gastrin, cholecystokinin và secretin mà được các tế bào của dạ dày và tá tràng tiết ra dưới kích thích của thức ăn hiện diện trong ống tiêu hóa và bởi chính dịch tụy.

Các men thường được tiết ra dưới dạng tiền chất nghĩa là chưa có khả năng tiêu hủy protein và mỡ. Tuy nhiên vì một lý do như sự ứ trệ, nhiễm trùng, chấn thương, các men này lại được hoạt hóa ngay trong lòng tụy gây nên sự tự tiêu hủy tụy gọi là viêm tụy cấp, có thể gặp tình trạng viêm tụy cấp do sỏi, do giun chui ống mật tụy.

3.2 Tụy nội tiết

Nhu mô của tụy ngoại tiết là các nhóm nhỏ tế bào gọi là tiểu đảo tụy hay tiểu đảo Langerhans gồm từ 1-2 triệu đảo, là những tế bào tụ thành từng đám, chiếm 1g tổ chức tụy, thường ở gần mạch máu và đổ vào tĩnh mạch cửa.

Các tiểu đảo này là phần nội tiết của tuyến tụy có chức năng tiết các hormone quan trọng là insulin có tác dụng làm giảm đường huyết; glucagon có tác dụng làm tăng đường huyết và tăng cường phân giải glycogen thành glucose; còn các hormone khác như Lipocain có tác dụng oxy hóa các chất đặc biệt là axit béo. Nếu nhiều mỡ được đưa về gan mà không được oxy hóa có thể tích tụ gây nhiễm mỡ gan.

Ba loại tế bào chính của tiểu đảo tụy là tế bào alpha, tế bào beta, và tế bào delta. Trong ba loại này thì tế bào beta chiếm số lượng nhiều nhất và sản xuất insulin. Các tế bào alpha sản xuất glucagon và tế bào delta sản xuất somatostatin có tác dụng làm giảm nồng độ của glucagon và insulin trong máu.

4. Các bệnh thường gặp

Nguồn: Vinmec

Xương Chậu Nằm Ở Đâu Và Có Chức Năng Gì? / 2023

Xương chậu nằm ở đâu? Vị trí xương chậu nằm ở phần cuối của cột sống thắt lưng, nằm dưới thắt lưng bao quanh phần xương cột sống đoạn dưới.

Ở góc độ khác, xương chậu nằm ở trên phần xương đùi, được đan xen với xương hông và phần đầu xương đùi.

Vùng xương chậu là ở đâu? Diện tích vùng xương chậu từ phần xương mu đến bẹn, đùi và quanh hông, nằm dưới eo và bao trọn vùng hông đến đùi.

Xương chậu là gì? Xương chậu hay còn được gọi là xương dẹt, là vùng xương có diện tích lớn nhất trong cấu tạo xương của cơ thể con người. Xương chậu có hình cánh quạt gồm 4 bờ, 2 mặt và 4 góc, do 3 xương hợp thành: xương cánh chậu ở trên, xương mu ở trước, xương ngồi ở sau.

Cấu tạo 2 mặt của xương chậu

Mặt ngoài xương chậu: ở giữa có ổ cối khớp với chỏm xương đùi. Xung quanh là vành ổ cối gắn với khuyết ổ cối. Dưới ổ cối có lỗ bịt hình vuông hoặc tam giác, phía sau là xương ngồi, phía trước là xương mu, ở trên là xương cánh chậu lõm xuống tạo thành hố chậu. Ở hố chậu có 3 diện bám vào cơ mông.

Mặt trong của xương chậu có 1 gờ nhô lên chia mặt sau thành 2 phần:

Phần trên có lồi chậu, phía sau có diện nhĩ

Phần dưới có diện vuông và lỗ bịt

Cấu tạo 4 bờ của xương chậu

Bờ trên (mào chậu) bắt đầu từ gai chậu trước trên đến gai chậu sau trên. Hình dạng cong theo hình chữ S, mỏng ở giữa, dày hơn ở phía trước và phía sau.

Bờ dưới (ngành ngồi) được hình thành do xương ngồi và xương mu.

Bờ trước lồi lõm từ trên xuống dưới, gồm gai chậu trước trên, gai chậu trước dưới, diện lược, mào lược, gai mu (củ mu).

Bờ sau cũng lồi lõm từ trên xuống dưới, gồm gai chậu sau trên, gai chậu sau dưới, khuyết ngồi lớn, khuyết ngồi bé, ụ ngồi, gai ngồi.

Cấu tạo 4 góc của xương chậu

Góc trước trên: ứng với gai chậu trước trên

Góc sau trên: ứng với gai chậu sau trên

Góc trước dưới: ứng với gai mu (củ mu)

Góc sau dưới: ứng với ụ ngồi

Nếu xem cơ thể là một ngôi nhà, thì xương chậu chính là nền móng của ngôi nhà ấy. Với diện tích cấu tạo lớn nhất trong hệ thống xương của cơ thể con người, xương chậu nối cột sống với xương đùi và trải đều trọng lượng cơ thể từ phần đỉnh đầu xuống thắt lưng, giữ vai trò là bộ phận quan trọng để nâng đỡ toàn bộ cơ thể và là “chìa khóa” giữ gìn sức khỏe.

Về cơ bản, xương chậu có các chức năng chính và phụ :

Chức năng chính

Chống đỡ trọng lượng của phần thân trên khi cơ thể ngồi và đứng, chuyển hóa trọng lượng đó từ khung xương trục sang khung ruột thừa dưới khi thao tác đi đứng, chạy nhảy và hoạt động phần dưới cơ thể. Giúp cơ thể cân bằng và chịu được lực của các cơ vận động và tư thế mạnh.

Vai trò này cũng chính là điểm tiến hóa khiến con người trở thành động vật bậc cao so với các loài động vật khác.

Chức năng phụ

Chứa và bảo vệ nội tạng vùng chậu, phần dưới của đường tiết niệu, che chở các cơ quan sinh sản bên trong.

Đối với phụ nữ, xương chậu có đặc trưng là rộng và nông, giống hình dáng của thau rửa mặt bao trọn lấy các cơ quan nội tạng khác như tử cung, buồng trứng, đường ruột, bàng quang, và khi phụ nữ mang thai, xương chậu còn có vai trò quan trọng là bảo vệ thai nhi.

Nếu không may bị giãn xương chậu sẽ khiến tử cung và đường ruột bị đẩy xuống sâu hơn so với bình thường, dẫn đến việc phình bụng dưới, cản trở tuần hoàn máu vùng xương chậu gây ra các tình trạng phổ biến như đau bụng kinh, lạnh bụng, són tiểu.

Các dấu hiệu bất thường ở xương chậu

Một số biểu hiện bất thường của xương chậu có thể kể đến:

Cảm giác đau khớp xương chậu kèm theo biểu hiện tê cứng chân.

Đau dai dẳng ở vùng chậu hông giữa hai mông, có dấu hiệu teo mông.

Chân vòng kiềng dẫn đến chân to, mông xệ, khoảng cách giữa hai chân lớn là dấu hiệu của giãn xương chậu

Đau nặng hơn mỗi khi cử động mạnh, thậm chí là không thể xoay hoặc là nghiêng người, khó cúi ngửa, xoay, ngồi lâu một tư thế…

Cơn đau lan dần xuống đùi và có dấu hiệu teo cơ vùng mông đùi.

Đau vùng bụng dưới âm ỉ, đại tiện thấy đau và có mùi lạ, chảy máu.

Khi quan hệ thấy đau, sốt hoặc rét run người, buồn nôn, choáng váng…

Tê cứng các khớp xương chậu, cơn đau lan xuống cả hai chân, đùi, cẳng chân giống như là khi bị đau thần kinh tọa.

Khi có bất kì biểu hiện nào trong những dấu hiệu kể trên, người bệnh nên nhanh chóng đến các cơ sở y tế thăm khám và trao đổi với bác sĩ chuyên khoa để sớm có nhận định chuẩn xác và kịp thời nhất, hỗ trợ cho công tác điều trị sau này.

Phương thức trị liệu, chăm sóc vùng xương chậu

Để chăm sóc vùng xương chậu được tốt nhất, chúng ta nên chú trọng rèn luyện các cơ bắp xung quanh xương chậu.

Thường xuyên tập luyện, làm khỏe cơ xương chậu bằng các bài tập khung xương chậu như kegel, phương pháp soutai đẩy đầu gối, bắt chước các động tác của võ sĩ sumo như “sonkyo”, “shiko” và “suriashi”.

Khi bị đau vùng xương chậu, có thể dùng gạc ấm, khăn ấm chườm vào vùng bị đau hoặc tắm bằng nước ấm.

Đối với phụ nữ mang thai, việc châm cứu và massage cũng là cách giảm cơn đau xương chậu khi bầu bí.

Người bệnh có thể chữa căng cơ vùng xương chậu bằng cách sử dụng thuốc kết hợp với bài tập vật lý trị liệu.

Tương tự người bị đau xương chậu do viêm ruột thừa thì cần phải được tiến hành phẫu thuật để cắt bỏ đi phần ruột thừa trước khi chuyển hóa thành viêm nhức, nhiễm trùng, có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng

Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể tiêm botox để ngăn ngừa được sự co thắt cơ vùng chậu, giúp giảm nhanh cảm giác đau mỏi.

Ruột Non Là Gì, Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo Và Chức Năng / 2023

Khi cần thiết, người ta có thể cắt bỏ đến 3,5m ruột non mà cơ thể vẫn phát triển bình thường. Vậy thực chất ruột non là gì, nằm ở đâu, có cấu tạo và chức năng thế nào mà người ta có thể cắt bỏ nó nhiều đến vậy?

Ruột non là gì? Vị trí của ruột non trong cơ thể người

Ruột non là một bộ phận thuộc ống tiêu hóa và của hệ tiêu hóa. Ngoài ruột non, ống tiêu hóa còn có ruột già, dạ dày, miệng, hầu, trực tràng, ống hậu môn và hậu môn. Còn hệ tiêu hóa thì bao gồm ống tiêu hóa và những cấu trúc và cơ quan phối hợp như: răng, môi, má, lưỡi, tuyến nước bọt, gan, túi mật và tuyến tụy.

Trong cơ thể người, ruột non nằm sau dạ dày và trước ruột già (còn gọi là đại tràng). Chiều dài của ruột non được tính từ môn vị dạ dày đến góc tá – hỗng tràng. Ở người trưởng thành, chiều dài của bộ phận này giao động từ 5 – 9m. Nó dài hơn cả ruột già (từ 1,2 – 1,8m) và là bộ phận dài nhất trong cơ thể. Bên cạnh đó, tổng diện tích bề mặt bên trong của ruột non cũng rất lớn. Nó có thể đạt đến 500m2.

Các thành phần cấu tạo ruột non

Tá tràng

Là phần đầu của ruột non. Nó dài khoảng 25cm và có hình chữ C. Tá tràng ôm quanh đầu tụy và đi theo đường gấp khúc. Phần trên hơi phình to còn được gọi là bóng tá tràng.

Hỗng tràng và hồi tràng

Ranh giới giữa 2 thành phần này khó được phân định chính xác. ⅘ độ dài đoạn đầu được gọi là hỗng tràng. Phần còn lại là hồi tràng. Để bụng có thể chứa được chiều dài của 2 thành phần này. Chúng được uốn lại như hình chữ U. Trung bình có 14 – 16 quai chữ U.

Trong đó, các quai chữ U ở trên nằm ngang, ở dưới nằm dọc. Chúng được treo vào thành lưng bởi mạc treo ruột non. Bao quanh hỗng tràng và hồi tràng là ruột già.

Đặc điểm giải phẫu của ruột non

Các cơ quan ở ống tiêu hóa giống nhau ở cấu tạo 4 lớp gồm: màng bọc, lớp cơ, lớp dưới niêm mạc và lớp niêm mạc. Trong đó, lớp cơ được phân thành cơ dọc và cơ vòng. Cấu tạo của ruột non cũng không ngoại lệ.

Màng bọc có cấu tạo gồm phúc mạc ở mặt dưới và mô liên kết ở mặt sau. Phúc mạc gồm 2 lớp: lớp thanh mạc và tấm dưới thanh mạc.

Lớp cơ có 2 lớp cơ trơn. Giữa hai lớp này là các mạch máu, mạch bạch huyết và đám rối thần kinh tự chủ, làm nhiệm vụ chi phối cơ trơn. Lớp cơ có các nhu động ruột làm nhiệm vụ nhào trộn thức ăn và di chuyển chúng đến ruột già.

Lớp dưới niêm mạc có các mô liên kết lỏng lẻo. Nơi đây chứa các đám rối mạch máu và thần kinh; các mạch bạch huyết và các mô dạng này.

Lớp niêm mạc trong ruột non có chức năng tiết dịch, hấp thụ chất dinh dưỡng và bảo vệ cơ quan này. Do đó, nó có cấu tạo là lớp tế bào thượng mô trụ. Xen kẽ là các tế bào tiết nhầy.

Bề mạc niêm mạc của ruột non được phủ nhiều nhung mao. Mỗi nhung mao có nhiều mao mạch và mạch bạch huyết. Chúng phân bố dày đặc đến từng lông ruột. Tốc độ thay mới tế bào ở ruột non giao động từ 1-3 ngày. Các kiểu vận động để tiêu hóa và vận chuyển thức ăn ở ruột non là: vận động lắc lư, vận động của nhung mau, co bóp nhu động và co bóp phân đoạn.

Chức năng của ruột non

Phần lớn các chất dinh dưỡng sẽ được hấp thu ở ruột non. Người ta tính toán được rằng lượng dịch hằng ngày tại ruột non giao động từ 8 – 9 lít. Trong đó có cả dịch tiêu hóa và dịch thức ăn. Khoảng 7,5 lít dịch sẽ được ruột non hấp thu. Còn lại chuyển xuống ruột già.

Quá trình tiêu hóa và hấp thu thức ăn ở ruột non được diễn ra như sau:

Thức ăn đi từ dạ dày xuống ruột non sẽ được tiêu hóa bởi dịch tụy, mật và dịch ruột. Chất dinh dưỡng, chất điện giải và nước sẽ được hấp thu qua thành ruột. Các chất này (bao gồm cả chất độc hại) sẽ theo đường tĩnh mạch và đi qua gan để lọc lại. Sau đó, nó tiếp tục theo tĩnh mạch chủ về tim. Tim sẽ co tống máu chứa chất dinh dưỡng nuôi sống toàn bộ cơ thể.

Một số bệnh thường gặp ở ruột non

Mỗi ngày, ruột non phải làm nhiệm vụ tiêu hóa và hấp thu lượng lớn thức ăn. Dù vậy, chúng lại là cơ quan rất dễ bị tổn thương. Các bệnh lý thường gặp ở cơ quan này là:

Các biểu hiện của bệnh này thường bị nhầm lẫn với người viêm ruột thừa cấp tính. Các triệu chứng phổ biến là đau bụng, phân lẫn máu, buồn nôn và nôn mửa. Bệnh mang yếu tố bẩm sinh. Cứ 100 trẻ được sinh ra thì có 1 trẻ bị viêm túi thừa Meckel. Bệnh xảy ra khi các túi nhỏ trong ruột non phình ra ngoài.

Nếu bệnh không thể hiện triệu chứng ra ngoài và không có nguy cơ gây biến chứng thì bệnh nhân không cần điều trị. Trường hợp ngược lại, các bác sĩ sẽ cắt bỏ phần ruột non có túi thừa. Nếu đã xảy ra biến chứng (tắc ruột hoặc nhiễm trùng đường ruột), người bệnh có thể được chỉ định dùng thuốc kháng sinh.

Tình trạng này hay xảy ra ở hồi tràng của ruột non. Dấu hiệu của bệnh là đau bụng từng cơn và tập trung vùng quanh rốn. Sau đó, cơn đau nhiều hơn và lan rộng ra xung quanh. Bệnh nhân có thể bị nôn mửa, táo bón, chướng bụng, dễ đổ mồ hôi và suy nhược cơ thể. Kéo dài bệnh có thể dẫn đến thủng, viêm màng bụng và nhiễm khuẩn huyết.

Điều trị tình trạng này, các bác sĩ có thể tiến hành các biện pháp hỗ trợ hoặc phẫu thuật. Các biện pháp hỗ trợ gồm: giảm sức ép đường ruột bằng hút mũi – dạ dày; điều chỉnh các chất điện giải, chất keo; dùng kháng sinh.

Nếu các biện pháp trên không có kết quả thì bệnh nhân sẽ được chỉ định phẫu thuật. Khi đó, các bác sĩ sẽ tháo tắc ruột và cắt bỏ đoạn ruột bị hoại tử. Sau đó nối các đoạn ruột khỏe mạnh lại với nhau.

Tình trạng này xảy ra khi cơ vòng thực quản không kín. Bình thường cơ vòng này chỉ mở khi nuốt thức ăn. Dịch tiết từ ruột có thể tràn lên dạ dày và vào thực quản. Triệu chứng thường gặp là ợ nóng, ợ chua và khó nuốt khi ăn. Kéo dài tình trạng này có thể gây viêm loét dạ dày và tổn thương thực quản.

Phần lớn các trường hợp bị trào ngược axit ở dạng nhẹ có thể tự điều trị bằng cách thực hiện chế độ ăn uống và sinh hoạt khoa học. Trong những trường hợp nặng, các bác sĩ sẽ kê đơn thuốc làm giảm axit và một số thuốc chống trào ngược. Ngoài ra, phẫu thuật cũng sẽ được cân nhắc trong một số trường hợp.

Người ta thường biết đến hội chứng kích thích ruột xảy ra ở đại tràng (ruột già) nhưng ít ai biết rằng ruột non cũng xảy ra tình trạng này. Đây là hiện tượng rối loạn chức năng của ruột tái phát nhiều lần. Khá nhiều người mắc phải hội chứng kích thích ruột.

Dù nó không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt. Triệu chứng của người mắc phải hội chứng kích thích ruột là: bụng đầy hơi, nặng và đau; nhức đầu, mất ngủ, đi đại tiện xong vẫn cảm giác chưa hết phân.

Điều trị bệnh này cần tập trung vào chế độ ăn uống và sinh hoạt. Trong đó, cần kiêng những đồ dễ gây dị ứng và khó tiêu. Chú ý bổ sung nhiều chất xơ. Khi ăn phải ăn chậm, nhai kỹ và không được ăn quá no. Ngoài ra, trường hợp nặng có thể dùng thuốc chống đau, chống táo bón, chống sình hơi, thuốc an thần và triệt khuẩn ruột. Tuy nhiên, bạn cần phải tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng các loại thuốc này.

Ruột Già Là Gì, Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo &Amp; Chức Năng / 2023

Bệnh lý về ruột già khá phổ biến. Tuy nhiên, không nhiều người biết ruột già là gì, nằm ở đâu, có cấu tạo và chức năng thế nào trong cơ thể.

Ruột già là gì? Vị trí trong cơ thể

Ruột già (đại tràng) còn có tên khác là colon. Nó có nghĩa là ruột dày. Đây là bộ phận thuộc ống tiêu hóa và nằm ở vị trí áp cuối trong hệ tiêu hóa.

So với ruột non thì ruột già chỉ bằng ¼ chiều dài. Tuy nhiên, ruột già có tiết diện lớn hơn. Trung bình, người Việt Nam có chiều dài ruột già là 1,9m. Sự khác nhau tùy vào thể trạng từng người và giới tính.

Vị trí của ruột già bao quanh ruột non. Về tổng thể, nó có hình chữ U ngược. Ruột già thông với ruột non tại ranh giới giữa manh tràng và kết tràng. Mục đích là tiếp nhận thức ăn mà ruột non không tiêu hóa được. Ngoài ra, giữa ruột già và ruột non còn có van hồi – manh giữ. Nhiệm vụ của van này là giữ cho chất dịch ở ruột già không di chuyển trở lại ruột non.

Cấu tạo của ruột già

Có 3 thành phần chính cấu tạo nên ruột già. Cụ thể là: manh tràng, kết tràng và trực tràng.

Manh tràng

Hình dạng của manh tràng như một cái túi tròn. Nó nằm ngay dưới hỗng tràng (của ruột non). Manh tràng dài 6 – 7cm và đường kính khoảng 7cm. Đầu manh tràng được bịt kín bởi một đoạn ruột ngắn có hình đầu giun. Người ta còn gọi đây là đoạn ruột thừa. Ở người trưởng thành, chiều dài của đoạn ruột thừa này khoảng 9cm và đường kính giao động từ 0,5 – 1 cm. Lòng ruột thừa thông với manh tràng.

Kết tràng

Là bộ phận chính và dài nhất của ruột già. Người ta còn gọi là ruột kết. Nó được chia thành 4 phần: kết tràng lên, kết tràng ngang, kết tràng xuống và kết tràng xích ma.

Trực tràng

Là đoạn ruột thẳng nối tiếp kết tràng xích ma. Đây cũng là thành phần cuối cùng của ruột già. Chiều dài của trực tràng khoảng 15cm. Nó có thể phình no. Phần ở trên gọi là bóng trực tràng. Phần dưới hẹp gọi là ống hậu môn.

Đặc điểm giải phẫu của ruột già gồm 5 lớp: lớp niêm mạc; lớp dưới niêm mạc; lớp cơ (gồm cơ dọc ở ngoài và cơ vòng ở trong); lớp dưới thanh mạc và lớp thanh mạc.

Chức năng của ruột già

Dạ dày, ruột non và ruột già đều làm nhiệm vụ tiêu hóa thức ăn. Tuy nhiên, xét về cấp độ thì dạ dày ở cấp độ 1 – tiêu hóa thức ăn ban đầu. Ruột non ở cấp độ 2 và giữ vai trò chủ yếu. Ruột già thuộc cấp độ 3 với nhiệm vụ đảm bảo chắc chắn rằng thức ăn đã được tiêu hóa hết.

Ở vai trò tiêu hóa thức ăn, ruột già sẽ tập trung xử lý một số chất xơ, đạm và mỡ mà dạ dày và ruột non không xử lý được hoặc bỏ sót. Nó thực hiện điều này nhờ hệ vi khuẩn phong phú ở đây. Bởi ruột già không có các enzyme tiêu hóa thức ăn. Thay vào đó, nó chứa nhiều chất nhầy để bảo vệ niêm mạc của nó.

Hấp thụ chất dinh dưỡng và khoáng chất

Sau khi tiêu hóa lần nữa các thức ăn từ ruột non, ruột già sẽ hấp thụ dinh dưỡng một lần nữa. Ngoài ra, nó còn hấp thụ muối khoáng và các nguyên tố khác. Các chất này sẽ được đưa vào máu, cùng với dinh dưỡng mà ruột non hấp thụ để nuôi sống cơ thể.

Chức năng này vô cùng quan trọng trong việc đào thải chất dư thừa ra khỏi cơ thể. Lượng nước từ ruột già sẽ chuyển qua thận. Thận sẽ lọc lại lần nữa trước khi đưa ra ngoài theo chức năng của đường tiết niệu. Chất thải đã mất nước sẽ được ruột già, cụ thể là trực tràng đóng khuôn trước khi đưa ra ngoài.

Từ những phân tích trên, ta có thể thấy rằng ruột già không chỉ nơi chứa chất thải. Nó vẫn làm nhiệm vụ tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng từ thức ăn. Tuy nhiên, đây không phải là nhiệm vụ chính của ruột già. Nhiệm vụ chính của nó là hấp thụ nước và đóng khuôn chất thải. Chức năng này rất quan trọng và không một cơ quan nào khác có thể thay thế ruột già làm nhiệm vụ này.

Các bệnh lý thường gặp ở ruột già

Chủ yếu là tình trạng viêm. Điều này cũng khá dễ hiểu bởi ruột già là cơ quan tiếp xúc trực tiếp và thường xuyên với chất thải của cơ thể. Có 3 dạng viêm ruột già (đại tràng) phổ biến:

Viêm đại tràng co thắt

Tình trạng này còn gọi là hội chứng ruột kích thích. Nó có thể xảy ra ở cả ruột già và ruột non. Nhưng ruột già phổ biến hơn. Biểu hiện của bệnh là cảm giác cứng ở bụng. Nếu lấy tay sờ có thể cảm nhận được những cục cứng nổi lên. Đồng thời, người bệnh cũng sẽ đau rất nhiều ở bụng. Bên cạnh đó, tình trạng tiêu chảy và táo bón có thể xen kẽ.

Bệnh có thể kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm và khiến cơ thể suy nhược, xanh xao, mất ngủ và tim đập nhanh. Nguyên nhân gây bệnh có thể là do rối loạn nhu động ruột, yếu tố tâm lý hoặc ăn uống không khoa học. Bệnh cũng được chia thành 2 dạng: cấp tính và mãn tính. Đa số các trường hợp phát hiện bệnh đều ở dạng mãn tính.

Hiện nay, bệnh viêm đại tràng mãn tính chưa có thuốc đặc trị. Người bệnh chỉ có thể dùng thuốc ức chế các cơ co thắt, chữa đầy hơi hoặc cải thiện tình trạng phân. Bên cạnh đó, người bệnh phải lưu ý lại chế độ ăn uống và sinh hoạt sao cho thật hợp lý và khoa học.

Viêm loét đại tràng

Đây là tình trạng ruột già bị tổn thương lớp niêm mạc với nhiều mức độ. Ở mức độ nhẹ, lớp niêm mạc sẽ kém bền vững và dễ chảy máu. Còn mức độ nặng sẽ xuất hiện các vết loét và xuất huyết. Có 2 dạng viêm đại tràng: cấp tính và mãn tính.

Nếu ở dạng cấp tính không được điều trị kịp thời rất dễ chuyển sang mãn tính. Khi đó, đại tràng sẽ bị giãn, thủng và thậm chí ung thư.Viêm đại tràng ở dạng mãn tính rất khó điều trị khỏi hoàn toàn. Các biện pháp điều trị viêm đại tràng gồm: dùng thuốc (kháng sinh, giảm đau, chống co thắt, bù nước và điện giải); phẫu thuật kết hợp với chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý.

Viêm đại tràng màng giả

Bệnh do vi khuẩn Clostridium difficile gây ra. Bình thường chúng vẫn có trong ruột già. Tuy nhiên, khi dùng kháng sinh quá mức hoặc bị suy giảm miễn dịch kéo dài, vi khuẩn này sẽ phát triển với số lượng nhiều và khiến đường ruột bị rối loạn. Chúng sẽ tạo thành một lớp màng dính vào thành ruột. Lớp màn này chồng lên niêm mạc đại tràng.

Các biểu hiện thường gặp của tình trạng viêm đại tràng màng giả là đau quặn bụng, sốt và tiêu chảy kéo dài. Trong đó, tình trạng tiêu chảy là nguyên nhân chủ yếu khiến cơ thể bị mất nước và chất điện giải. Đặc biệt là tình trạng hạ kali trong máu. Hậu quả có thể gây hạ huyết áp, suy thận và thủng ruột kết.

Tùy vào tình trạng bệnh, các bác sĩ yêu cầu người bệnh ngừng dùng thuốc kháng sinh hiện tại và kê đơn thuốc gây ức chế hoạt động của vi khuẩn Clostridium difficile. Trường hợp nặng sẽ phải tiến hành phẫu thuật.

Vách đại tràng không đồng đều về mặt cấu tạo. Do đó, những chỗ có vách yếu sẽ dễ bị đẩy ra ngoài khi chịu áp lực quá lớn. Tình trạng này hình thành nên các túi thừa với nhiều kích thước khác nhau. Các túi thừa này có thể bị nhiễm trùng và gây viêm nhiễm. Hậu quả xấu nhất có thể xảy ra là thủng ruột.

Một số người mắc bệnh viêm túi thừa không thể hiện ra triệu chứng cụ thể gì. Số còn lại sẽ cảm thấy đau nhiều ở bên trái vùng bụng dưới. Ở mức độ nhẹ, người bệnh có thể tự trị khỏi ở nhà bằng cách dùng kháng sinh hoặc không. Kết hợp với đó là chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý. Nếu dùng thuốc kháng sinh thì nên tham khảo ý kiến của bác sĩ.

Trường hợp nặng sẽ phải dùng thuốc không kê đơn, thuốc kháng viêm, đặt ống dẫn lưu áp xe ở thành bụng hoặc phẫu thuật. Khi thực hiện phương pháp phẫu thuật, phần đại tràng có túi thừa sẽ được cắt bỏ. Sau đó, các bác sĩ sẽ nối các phần đại tràng bình thường lại với nhau. Có 2 phương pháp phẫu thuật là nội soi hoặc phẫu thuật mở.

Ung thư đại tràng

Bệnh là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 4 trên thế giới (sau ung thư phổi, ung thư dạ dày và ung thư gan). Nó hình thành khi các tế bào ở ruột già tăng sinh quá mức và xâm lấn các cơ quan, bộ phận khác trên cơ thể. Ung thư đại tràng trải qua 4 giai đoạn dựa vào mức độ di căn của tế bào ung thư. Biểu hiện bệnh là: đau bụng, rối loạn tiêu hóa, phân lẫn máu và các triệu chứng toàn thân (thiếu máu, sốt và sụt cân…).

Phát hiện bệnh sớm thì khả năng chữa khỏi sẽ cao. Người ta thống kê được rằng số người được chữa khỏi khi điều trị bệnh ở giai đoạn đầu chiếm đến 90%. Đến giai đoạn 4, tỷ lệ sống sót sau 5 năm kể từ thời điểm điều trị là 11%.

Các phương pháp điều trị ung thư đại tràng gồm: phẫu thuật cắt bỏ khối u, hóa trị và xạ trị. Tuy nhiên, khi dùng phương pháp xạ trị hoặc hóa trị, các tế bào khỏe mạnh của toàn cơ thể sẽ bị nhiễm độc theo. Dù vậy, đây lại là phương pháp hiệu quả nhất hiện nay.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tụy Nằm Ở Đâu Và Có Chức Năng Gì? / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!