Đề Xuất 12/2022 # Trung Tâm Nghiên Cứu Và Chuyển Giao Khoa Học Công Nghệ / 2023 # Top 17 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Trung Tâm Nghiên Cứu Và Chuyển Giao Khoa Học Công Nghệ / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Trung Tâm Nghiên Cứu Và Chuyển Giao Khoa Học Công Nghệ / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cây Thanh Long (Hylocereus undulatus, Haw.)

TS. Nguyễn Văn Kế – Đại học Nông Lâm

Trích nguồn từ http://www.longdinh.com.vn/

1. GIỚI THIỆU

Cây thanh long (tên tiếng Anh là Pitahaya, hay còn gọi là Dragon fruit, thuộc họ Xương rồng, có nguồn gốc ở các vùng sa mạc thuộc Mehico và Colombia. Thanh 1ong được người Pháp đem vào trồng ở Việt Nam trên 100 năm nay, nhưng mới được đưa lên thành hàng hóa từ thập niên 1980. Việt Nam hiện nay là nước duy nhất ở Đông  Nam á có trồng thanh long tương đối tập trung trên qui mu thương mại với diện tích ước lượng 4.000 hectare (1998), tập trung tại Bình Thuận 2.716 hectare, phần còn lại là Long An, Tiền Giang, TP. HCM, Khánh Hòa và rải rác ở một số nơi khác. Nông dân Việt Nam với sự cần cù sáng tạo đã đưa trái thanh long lên mặt hàng xuất khẩu làm nhiều người ngoại quốc ngạc nhiên. Hiện nay, nước ta đã xuất khẩu thanh long qua nhiều nước dưới dạng quả tươi. Riêng thị trường Nhật do sự kiểm dịch thực vật rất khắt khe trong vài năm gần đây đã chỉ nhập thanh long dưới dạng đông lạnh. ở Bình Thuận nói riêng và Nam bộ nói chung mùa thanh long tự nhiên xảy ra từ tháng 4 tới vườn tháng 10, rộ nhất từ tháng 5 tới tháng 8. Vào thời điểm ấy giá rẻ , một số nhà vườn tiến bộ đã phát hiện, hoàn chỉnh dần từng bước kỹ thuật thắp đèn tạo quả trái vụ để chủ động thu hoạch, nâng cao hiệu quả kinh tế. Vài năm gần đây Thái Lan, Taiwan và cả Trung Quốc cũng đã bắt đầu nghiên cứu trồng cây này.

2. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

2.1. Sinh thái

Là cây có nguồn gốc nhiệt đới, chịu hạn giỏi, nên được trồng ở những vùng nóng. Một số loài chịu được nhiệt độ từ 500C tới 550C . Nhưng nó không chịu được giá lạnh. Chúng thích hợp khi trồng ở các nơi có cường độ ánh sáng mạnh, vì thế hễ bị che nắng thân cây sẽ ốm yếu và lâu cho quả. Cây mọc được trên nhiều loại đất khác nhau như đất xám bạc màu (Bình Thuận), đất phèn (TP.HCM), đất đỏ latosol (Long Khánh)…; nó có khả năng thích ứng với các độ chua (pH) của đất rất khác nhau. Khi trồng thanh long nên chọn các chân đất có tầng canh tác dày tối thiểu 30 – 50 cm và để có năng suất cao nên tưới và giữ ẩm cho cây vào mùa nắng. Nhưng cây thuộc họ xương rồng chịu hạn giỏi nhưng chịu đựng độ mặn kém, dù vậy đã có một số hộ ở Cần Giờ trồng thử thanh long trên đất bị nhiễm mặn (0,8%) đã được lên liếp và cải tạo tầng mặt, mùa khô không tưới.

2.2. Thực vật học

2.2.1. Rễ cây

Khác hẳn với chồi cành, rễ thanh long không mọng nước nên nó không phái là nơi tích trữ nước giúp cây chịu hạn. Cây thang long có hai loại rễ: địa sinh và khí sinh.

Rễ địa sinh phát triển từ phần lôi ở gốc hom. Sau khi đặt hom từ 10 – 20 ngày thì từ gốc hom xuất hiện các rễ tơ màu trắng, số lượng rễ tăng dần và kích thước của chúng cũng tăng dần theo tuổi cây, những rễ lớn đạt đường kính từ 1 – 2 cm. Rễ địa sình có nhiệm vụ bám vào đất và hút các chất dinh dưỡng nuôi cây. Rễ phân bố chủ yếu ở tầng đất mặt (0 – 15 cm). Theo Gibson và Nobel (1986) thì rễ xuất hiện trong tầng đất từ 0 – 30 cm. ở các nơi đất xốp và có tưới nước rễ có thể mọc sâu hơn. Khi đất khô các rễ sợi sẽ chết đi, các rễ cái lớn hơn sẽ hóa bần làm giảm sự dẫn nước khoảng 10 lần để ngăn chặn sự mất nước vào đất thông qua rễ. Khi đất ẩm rễ lại mọc trở lại một cách dễ dàng.

Rễ khí sinh mọc dọc theo thân cây phần trên không, bám vào cây chống (choái) để giúp cây leo lên giá đỡ. Những rễ khí sinh nằm gần đất sẽ đi dần xuống đất.

2.2.2. Thân, cành

Thanh long (một loại xương rồng) trồng ở nước ta có thân, cành trườn bò trên trụ đỡ (climbing cacti), trong khi ở một số nước trồng loại xương rồng thân cột (columnar cacti). Thân chứa nhiều nước nên nó có thể chịu hạn một thời gian dài. Thân, cành thường có ba cánh dẹp, xanh, hiếm khi có 4 cánh. ở các nước khác có thứ 3, 4, 5 cánh. Tiết diện ngang cho thấy có hai phần: bên ngoài là nhu mô chứa diệp lục, bên trong là lõi cứng hình trụ. Mỗi cánh chia ra làm nhiều thùy có chiều dài 3 – 4cm. Đáy mỗi thùy có từ 3 – 5 gai ngắn. Chúng sử dụng CO2 trong quang hợp theo hệ CAM (Crassulacean Acid Metabolism) là một hệ thích hợp cho các cây mọc ở vùng sa mạc. Mỗi năm cây cho từ 3 -  4 đợt cành. Đợt cành thứ nhất là cành mẹ của đợt cành thứ hai và cứ thế cành xếp thành hàng lớp trên đầu trụ. Trong mùa ra cành, khoảng thời gian giữa hai đợt ra cành từ 40 – 50 ngày. Số lượng cành trên cây tăng theo tuổi cây: cây một tuổi trung bình có độ 30 cành, hai tuổi độ 70 cành, ba tuổi độ 100 cành và bốn tuổi 130 cành. ở cây 5 – 6 tuổi chỉ duy trì độ 150 – 170 cành.

Chiều dài cành thanh long đo ở cuối vụ thu hoạch được trình bày ở bảng 1.

Bảng 1: Chiều dài cành thanh long

Tuổi vườn       Trung bình (cm)          Dài nhất (cm)  Ngắn nhất (cm)

1          73        119      42

2          82        140      52

3          98        180      49

4          108      160      45

5          103      140      53

2.2.3. Hoa

Thanh long là cây ngày dài (trường quang kỳ). Tại Nam bộ hao xuất hiện sớm nhất vào trung tuần tháng 3 dương lịch (dl) và kéo dài tới khoảng tháng 10 dl, rộ nhất từ tháng 5 dương lịch tới tháng 8 dương lịch. Trung bình có từ 4 – 6 đợt ra hoa rộ mỗi năm.

Hoa lưỡng tính, rất to, có chiều dài trung bình 25 – 35 cm, nhiêu lá đài và cánh hoa dính nhau thành ống, nhiều tiểu nhị và 1 nhụy cái dài 18 – 24 cm, đường kính 5-8 mm, nuốm nhụy cái chia làm nhiều nhánh. Hoa thường nở tập trung từ 20 – 23 giờ đêm và đồng loạt trong vườn. Từ nở đến tàn kéo dài độ 2 – 3 ngày. Thời gian từ khi xuất hiện nụ tới hoa tàn độ 20 ngày. Các đợt nụ đầu tiên rụng từ 30% đến 40%, về sau tỉ lệ này giảm dần khi gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi.

Tại nông trường Phạm Văn Hai trên các liếp đất phèn cây thanh long đã trồng được 3 năm, nghiên cứu các đợt thanh long ra hoa cho thấy như sau:

Bảng 2 : Sự ra hoa của thanh long trong năm

Ngày/tháng/năm          Số hoa ra         Tỷ lệ (%)

10/3 – 04/5/1995          583      2,57

11/5 – 31/5/1995          4343    19,14

01/6 – 30/6/1995          9945    43,83

01/7 – 31/7/1995          6788    29,92

01/8 – 31/8/1995          997      4,40

01/9 – 11/9/1995          32        0,14

Tổng số hoa ra trong năm       22.688 100,00

Số hoa trên mỗi trụ     94,5    

Ghi chú: Theo dõi 240 trụ tại hộ anh Võ Thành Nghiệp.

Như vậy mùa ra hoa rộ là từ giữa tháng 5 tới cuối tháng 8.

2.2.4. Quả và hột

Sau khi hoa thụ, bầu noãn sẽ phát triển thành quả mọng (cactus pears), trong 10 ngày đầu tốc độ phát triển tương đối chậm, sau đó tăng rất nhanh về cả kích thước lẫn trọng lượng. Thời gian từ khi hoa thụ tới thu hoạch chỉ từ 22 – 25 ngày, trong thí nghiệm thắp đèn tạo quả trái vụ của Đỗ Văn Bảo thì thời gian này là 25 – 28 ngày. Như vậy thời gian phát triển của quả thanh long tương đối ngắn so với nhiều loại quả nhiệt đới khác như xoài, sầu riêng, chuối, dứa thường phải mất từ 85 tới 140 ngày. Quả thanh long hình bầu dục có nhiều tai lá xanh (do phiến hoa còn lại), đầu quả lõm sâu tạo thành “hốc mũi”. Khi còn non vỏ quả màu xanh, lúc chín chuyển qua đỏ tím rồi đỏ đậm. Thịt quả màu trắng cho đại đa số thanh long trồng ở miền Nam Việt Nam.

Tại Bình Thuận phân tích 100 quả lấy ngẫu nhiên cho thấy sự phân bố về kích thước và trọng lượng như sau:

Bảng 3 : Thành phần cấp quả của thanh long ở Bình Thuận

Hạng quả (g)   Tỷ lệ (%)         Trọng lượng TB (g)     Dài TB (cm)    TB (cm)           Dày vỏ (mm)   Phần ăn được (G)

< 330   20        270      12,5     11        4,8       170

330 – < 500      65        410      13        12        4,6       315

500 – <700       12        565      15        12        4,5       400

³ 700    3          750      16        13,5     3,8       550

Trong một thí nghiệm xử lý thanh long ra hoa trên đất phèn nông trường Phạm Văn Hai (10) cân ngẫu nhiên 150 quả, trọng lượng trung bình là 568,8 g. Dài trung bình là 12,28 cm và đường kính trung bình là 9,2 cm, như vậy quả đặc và chắc hơn. Gần đây do thâm canh cao, đã có nhiều quả lớn trọng lượng từ l kg đến l,3 kg. Thường quả nặng trên 300 g là đã có thể xuất khẩu được.

Phân tích thành phần sinh hóa cho thấy trong 100 g thịt quả chín: hàm lượng đường tổng số có thể biến động từ 8 g đến 12 g, vitamin C từ 3,8 mg đến 9,4 mg. Có sự biến động này là do phân bón, chế độ chăm sóc và thời gian hái, hễ để quả chín trên cây càng lâu càng ngọt. Trong bản dự thảo mô tả sản phẩm thanh long mà phân viện Công Nghệ Sau Thu Hoạch đã xây dựng cho thấy độ Brix của thanh long ở Bình Thuận biến thiên từ 11% đến 15,3%, quả có độ cứng từ l,73 tới 2,0 lbs (15).

Chi tiết được trình bày ở bảng 4, theo đó ngoài chất đường, sinh tố, quả còn chứa nhiều muối khoáng như K, Ca và Mg.

Bảng 4 : Thành phần sinh hóa của quả

Thành phần     Trong 100 g ăn được

Brix (tổng số chất hòa tan)     13

Đường khử (g)            6,1

Đường tổng số (g)      11,5

Acid hữu cơ (g)          0,13

Protein (g)       0,53

K (mg) 212,2

P2O5 (mg)      8,7

Ca (mg)           134,5

Mg (mg)          60,4

Vitamin C (mg)           9,4

Xơ (g) 0,71

Phân tích tại Bộ môn Sinh lý – Sinh hóa và Bộ môn Thủy Nông thuộc Đại học Nông Lâm TP. HCM.

Hột: Mỗi quả có rất nhiều hột nhỏ, màu đen nằm trong khôi thịt quả màu trắng. Do hột nhỏ và mềm nên không làm phiền người ăn như hột của một số loại quả khác (23).

3. GIỐNG TRỒNG

Một số người cho rằng thanh long ở Việt Nam có ba giống: dạng quả tròn, quả dài, quả chôm chôm (quả nhỏ). Qua điều tra chúng tôi nhận thấy có cả 3 dạng quả trên cùng một cành, trên cùng một cây. Dạng quả tùy thuộc vào điều kiện sinh thái, nhất là chế độ ánh sáng và chế độ chăm sóc. Theo Jean Bourdenut (CIRAD-FLHOR) thì thanh long Việt Nam là loại thanh long ruột trắng, giống thuần do nhân vô tính bằng hom. Sau đó ông đã đưa vào Việt Nam hai giống ruột đỏ và ruột vàng (1995), hiện đang trồng và theo dõi, sức sinh trưởng của hai giống mới nhập yếu hơn và cũng theo Jean Bourdeaut thanh long của ta trái to và ngọt hơn.

Giống ruột đỏ và ruột vàng có quả nhỏ hơn và vỏ dày hơn. TS. Suraphong Kosiya-chinta cho biết ông hai giống ruột trắng và đỏ thì được giống ruột hồng.

Đã có nhiều nghiên cứu về giống thanh long theo Carranza A. E. (Nuestra Tiera, Oct 1976, v.2(8) P9-10,2 l Spanish) thì có các loài H. trigonus, H. tetragonus, H.  pentagunus … Nước ta cần du nhập và lai tạo để ngày càng có nhiều giống mới hấp dẫn hơn.

4. KỸ THUẬT TRỒNG TRỌT

4.1. Chuẩn bị đất

4.1.1. Đất cao

Tại Bình Thuận khi có điều kiện hầu hết các chân đất đều được bà con khai thác trồng thanh long như đất rừng, đất thổ cư, các khu vườn tạp. Phần lớn là đất xám bạc màu, nhiều cát. Có nơi khai thác tới sát chân núi. Công việc chuẩn bị đất tương đối đơn giản: cắm cọc, đào lỗ xuống trụ. Sau khi chôn xong trụ thì đào âm quanh trụ sâu độ 10 – 20 cm, đường kính 1,5 m, bón lót phân chuồng rồi phủ lớp đất mặt lên sau đó đặt hom.

4.1.2. Đất thấp

Trên các liếp đất phèn trồng dứa và mía trước đây thuộc các nông trường Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân, Láng Le, hay tại xã Bình Lợi… bà con tu bổ lại liếp, chiều cao mặt liếp so với mặt nước trong mương độ 40 cm, để đề phòng trong mùa mưa nước có thể dâng cao ngang mặt liếp nhất là ở những nơi thấp thì cần phải làm thêm mực trước khi xuống giống. Hễ bị ngập nước một vài tuần nhánh thanh long sẽ vàng, khi nước rút phải bón phân để cây phục hồi lại nhưng như vậy năng suất sẽ không cao.

Đất cần phải được cày bừa kỹ trong mùa nắng, phơi đất, trừ cỏ dại. Hễ cày bừa, làm cỏ không kỹ sau này chi phí trừ cỏ sẽ rất cao, cỏ nguy hiểm trên đất phèn là: cỏ tranh, cỏ ống, cỏ sâu rọm, .vv…

4.2. Mật độ – khoảng cách và bố trí cây trồng: Tại Bình Thuận 84,3% số hộ trong mẫu phỏng vấn chỉ trồng thuần thanh long. 16,6% số hộ còn lại có trồng xen đậu phọng trong 1 – 2 năm đầu. Tại TP. HCM, Long An. .. trên liếp thanh long có trồng xen dứa, hoặc các loại rau như ớt, dưa hấu, cà… Tại Long An thanh long có thể được trồng trên mô hay trên liếp ở trên ruộng lúa, hoặc thanh long trồng trên liếp có xen các loại rau như rau muống, cải, ớt, dưa hấu… dưới mương nuôi cá.

Nên trồng thanh long ở mật độ từ 700 – 1.000 trụ/ha ứng với khoảng cách khoảng 3 m x 3 m. Thanh long là cây cần nhiều ánh nắng nên hễ trồng dầy thì quả nhỏ, bán không được giá. Lấy mẫu một số quả ở các vườn có mật độ khác nhau tại Long An cho thấy có quan hệ giữa kích thước quả và mật độ cây, chi tiết được trình bày ở bảng 5.

Bảng 5. Quan hệ giữa mật độ và trọng lượng quả

Khoảng cách

(m)       Mật độ cây/

1000 m2          Trọng lượng

trung bình quả (g)

2,5 ´ 2,5           140 – 150         294

2,5 ´ 3,0           100 – 110         322

2,5 ´ 3,5           90 – 100           344

3,0 ´ 3,5           70 – 80 370

Nguồn: Lý Ngọc Đính, BCTN, ĐHNL, 1992

4.3. Chuẩn bị cây trụ

Cây thanh long cần bám vào cây trụ nên việc chọn lựa trụ và chuẩn bị là công việc người lập vườn thanh long cần quan tâm trước tiên, chi phí về cây trụ chiếm tỉ lệ cao nhất trong số tiền đầu tư ban đầu. Hầu hết nhà vườn ở Bình Thuận chọn trụ chết bằng gỗ, loại gỗ được chọn thường là loại gỗ tết, chịu được nắng mưa, lâu mục. Loại được dùng nhiều là:

– Căm xe Xylia dolabriformis Benth

– Cẩm Liên Xylia xylocarter Taub

– Cà Chắc Pentaeme siamensis Kurs

– Sao đen Hopea odorata Roxb

Việc chọn chiều dài, đường kính trụ, phần chôn dưới đất được trình bày ở bảng 6.

Cây trụ thường được chọn có đường kính trên 25 cm, dài 2,5 – 2,7 m, sau khi chôn còn cao khoảng 2,0 m. Hiện nay xu hướng của nông dân là hạ thấp trụ xuống, nghĩa là sau khi chôn trụ xong còn cao trung bình từ 1,6 m đến 1,8 m, còn đường kính sử dụng chỉ còn khoảng 15 cm. Nguyên nhân làm nông dân hạ thấp trụ và tận dụng cây có đường kính nhỏ là vì các loại gỗ tết hiếm và đắt, ngoài ra trụ cao khiến việc chăm sóc trở nên khó khăn hơn, tốn nhiều công hơn.

Bảng 6: Đặc điểm trụ thanh long ở Bình Thuận

Đặc điểm         Số hộ áp dụng Tỷ lệ (%)

Đường kính trụ (cm)   15 – 20 3          10

Chiều dài trụ lúc chưa chôn (m)         2,0 – 2,3           11        36,7

Chiều dài phần chôn dưới đất (cm)    50 – 60 21        70

Nguồn: Trần Ngọc Tống, BCTN, ĐHNL, 1995.

Trụ thấp có lợi điểm: – Giảm được tiền đầu tư ban đầu. – Cành thanh long mau lên đến đầu trụ, chăm sóc và thu hoạch dễ hơn. Qua nhiều năm cắt tỉa các cành nhánh chồng chất trên đầu trụ sẽ làm cây cao dần, việc dùng trụ thấp sẽ hãm bớt sự cao dần lên của cây. Nhưng hễ trụ thấp quá thì nhánh thanh long sẽ rũ xuống đất vừa tốn công cắt tỉa vừa ít quả do cành ngắn hơn. Việc trồng cây trụ cần tiến hành sớm, có thể trước thời vụ trồng một tháng. Sau khi lấp đất cây trụ phải thẳng đứng, không lệch ngọn. Trên đầu mỗi trụ người ta đóng một cái khung bằng gỗ, một thanh ngang hay một vòng tròn … cho thanh long dễ bám để khi đi tới đầu trụ cành thanh long sẽ rũ đầu xuống nên trông toàn tán cây có dạng một cái dù (bay dạng hình nấm).

Tại ngoại thành thành phố Hồ Chi Mính: Nhà vườn đầu tiên còn e dè về thị trường nên họ thường dùng nhưng cây gỗ xấu, rẻ tiền như cây tràm bông vàng và các loài cây tạp khác. Chỉ sau chừng hai năm cây bắt đầu mục, gãy nên phải thay cây khác rất tốn công. Những người trồng sau rút kinh nghiệm đã dùng trụ là bê tông cốt sắt, đúc vuông mỗi cạnh 12 – 15 cm, dài 2,2 – 2,3 m chôn sâu 0,5 – 0,6 m, như vậy phần trên mặt đất còn 1,7 – 1,8 m, trên đầu trụ làm 2 lỗ đường kính 16 mm để sau này gắn 2 que sắt cho thanh long dễ bám vào đầu trụ. Nhưng hộ không đủ tiền đã mua trụ đẽo bằng đá (xã Bình Lợi, huyện Bình Chánh), loại trụ này thấp, dễ gãy.

Tại tỉnh Long An, ngoài các loại trụ kể trên, vùng này còn thấy khá phổ biến loại trụ bằng cây sống, như cây còng và nhất là cây vông Erythrina orientalis (L) Murr. Dùng trụ sống có nhiều điểm bất lợi như cây chống (trụ) cạnh tranh ánh sáng và chất dinh dưỡng nên ít quả và quả nhỏ, tốn công xén tỉa cành cây chống hàng năm. Trụ sống do cành phân nhánh có nhiều chạc, nên cây dễ bám và thanh long cố khuynh hướng leo lên cao.

Một số vườn trước đây trồng hồ tiêu dùng trụ xây bằng gạch, nay sử dụng lại loại trụ này cho thanh long. Lại cùng có một tỉ lệ nhỏ số vườn không sử dụng trụ rời mà làm giàn như giàn mướp cho thanh long leo bám.

4.4. Chuẩn bị hom giống

Đã có thí nghiệm nuôi cấy mô thanh long do Lê Quang Luận thực hiện (ĐHNL, 1993). Thanh long có thể trồng bằng hột nhưng lâu có trái. Hiện nay, chủ yếu các nhà vườn trồng bằng hom (cắm cành). Hàng năm việc tỉa cành tạo nên nguồn hom giống dồi dào, nhưng để cành phát triển tốt thì cần chọn những cành có tiêu chuẩn sau:

– Tuổi cành trung bình từ l – 2 năm tuổi trở lên, cành non không tốt.

– Chiều dài hom tốt nhất là từ 50 cm đến 70 cm.

– Hom mập, có màu xanh đậm.

– Hom không có khuyết tật, sạch sâu bệnh.

– Các mắt mang chùm gai phải tốt, mẩy, khả năng nẩy chồi (mụt) tốt.

Sau khi chọn hom xong, hom được dựng nơi thoáng mát, trên nền đất khô ráo, trong vòng 10 – 15 ngày hom bắt đầu nhú rễ thì đem trồng.

4.5. Thời vụ trồng

Thường trồng vào tháng 10 – 11 dương lịch, ưu điểm của vụ này là:

– Nguồn hom giống dồi dào do trùng vào lúc tỉa cành.

– Lợi dụng được ẩm độ vào cuối mùa mưa.

– Ở các vùng đất thấp thì mùa này tránh được nguy cơ ngập úng.

Tuy nhiên, trồng mùa này có nhược điểm là cây chưa lớn đủ để có thể chống chịu nắng hạn, vì vậy cần chú trọng tưới nước và giữ ẩm cho cây trong mùa nắng tới.

Ở những vùng thiếu nước tưới thì nên trồng vào đầu mùa mưa (tháng 4 – 5). xuống giống trong thời gian này sẽ gặp khó khăn vì là mùa thanh long ra hoa nên thiếu hom, phải có kế hoạch giâm hom từ trước.

4.6. Bón lót và đặt hom

Trên đất cao như ở Bình Thuận trước khi đặt hom người ta làm âm xuống một khoảng quanh trụ có cạnh độ l,0 – l,5m, sâu 20 – 30 cm, rồi bón lót độ 10 kg phân chuồng + 0,5 kg Super lân.

Trên đất thấp phải lên mô trước khi trồng, xới đất và rải phân quanh mô.

– Đặt từ 3 – 4 hom quanh cây chống (trụ), cần chú ý:

– Đặt hom cạn 0 – 5 cm để tránh thối gốc do đất ẩm.

– Đặt áp phần phẳng của hom vào mé trụ để sau này hom ra rễ và bám nhanh vào trụ.

Cột hom vào trụ để gió khỏi làm lung lay lúc đầu vì rễ trên không chưa phát triển để bám vào cây trụ

Sau khi đặt hom, ở các vùng đất cao hễ đất khô và hết mưa thì cần tủ gốc để giữ ẩm…

4.7. Bón phân thúc hàng năm

4.7.1. Để cây ra hoa tụ nhiên

Hiện chưa có thí nghiệm về bón phân cho thanh long trên các loại đất khác nhau. Lượng phân bón thay đổi theo tính chất đất, theo tuổi của cây và theo sản lượng mà cây đã cho. Qua điều tra thu thập số liệu ở các vườn có năng suất cao cho thấy có hai kiểu bón phân điển hình:

– Bón theo đợt: 3 lần/năm chiếm 70% số hộ phỏng vấn.

– Bón rải ra nhiều lần trong năm chiếm 30% số hộ còn lại.

Riêng phân chuồng thì chỉ cần bón 1 lần sau tỉa cành (tháng 11) và đây là loại phân quan trọng nhất là đối với các loại đất thiếu chất hữu cơ, giữ ẩm kém. ở năm đầu phân hóa học (chẳng hạn Urê) được hòa vào nước và tưới hoặc phun lên cả thân cành để thúc cành mau leo lên đầu trụ. Các năm sau rải phân quanh gốc rồi tưới nhẹ cho phân hòa tan và ngấm xuống đất.

Giai đoạn kiến thiết cơ bản: Chỉ kéo dài từ 1 đến 2 năm. Tổng lượng phân bón thúc thường được áp dụng là 30 kg Urê + 20 kg NPK (16-16-8)/100 trụ/năm.

Chia ra:

– Sau trồng 15 – 20 ngày thúc 1/3 lượng phân.

Tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau thúc 113 lượng phân.

– Tháng 6 – 7 thúc nốt 1/3 lượng phân còn lại, cuối năm thứ 1 bắt đầu có trái bói.

Một số nhà vườn đã chia phân bón làm nhiều lần như vậy nâng cao được hiệu suất sử dụng phân của cây.

Ngoài ra cần bổ sung các phân vi lượng bằng cách phun hoặc tưới các chế phẩm như HVP 301, Mymix… như vậy cây con sẽ tăng trưởng thật mạnh ở giai đoạn đầu và sẽ cho quả sớm. Lượng phân thực sự cây sử dụng ở giai đoạn này rất khó tính vì phân bón cho cây trồng xen thanh long cũng đã sử dụng được một phần.

Giai đoạn kinh doanh. Năm thứ 3 trở đi năng suất đã khá ổn định cần chú trọng tới K, một loại phân cần thiết để làm quả ngon ngọt và chắc hơn. Lượng phân trung bình cho mỗi trụ như sau:

Phân chuồng : 15 – 50 kg; Phân lân (Super lân) : 0,5 kg; Urê :  0,5 kg; NPK (16-16-8) : 1,5 kg; KCl : 0,5 kg; Chia phân ra làm 3 lần:

Lần thứ 1 sau khi tỉa cành (tháng 10 – 11) gồm: tất cả phân chuồng + tất cả lân + 1/3 Urê. Mụe đích là để thúc các đợt lộc cành đầu tiên ra nhanh để nó mau trưởng thành làm cơ sở cho việc ra quả vào mùa tới.

– Lần thứ 2 cách lần thứ l độ 40 ngày gồm 1/3 Urê + 1/5 NPK + 1/2 KCl để thúc đợt cành thứ 2.

– Lần thứ 3 vào tháng 3 gồm 1/3 Urê + 2/5 NPK + 1/2 KCl thúc đợt cành cuối cùng và làm đợt cành thứ 1 phân hóa mầm hoa.

Sau ba lần thúc thì bụi thanh long có 3 – 4 lớp cành và đợt nụ đầu tiên bắt đầu xuất hiện, rồi lớp nụ này kế tiếp lớp nụ hoa, lớp quả này kế tiếp lớp quả kia, người làm vườn quan sát sự ra hoa và năng suất mà bón bổ sung từng đợt NPK cho hết 2/5 còn lại bằng cách chia nhỏ lượng phân này rải làm nhiều đợt trong thời gian cây nuôi quả. Ngoài ra còn bổ sung các chất vi lượng bằng cách phun Mymix hoặc HVP,…

4.7.2. Bón phân cho các vườn thanh long được xử lý ra hoa bằng đèn

Do kích thích cây ra hoa và nuôi quả nhiều đợt trong năm và để cây bớt kiệt sức nên lượng phân bón và số lần bón đã phải tăng lên. Qua khảo sát 30 vườn có xử lý thanh long ra hoa bằng đèn Phan Văn Thu (14) đã đúc kết tổng lượng phân bón trong năm cho mỗi trụ như sau:

– Phân chuồng hoai: từ 15 kg đến 50 kg.

– Phân NPK (16-16-8 hoặc 20-20-15) từ 1 kg tới 3 kg tùy tuổi cây và sản lượng mà cây đã cho mùa trước.

– Phân KCl từ 0,1 kg tới 0,2 kg (bón lúc nuôi quả).

– Ngoài ra quan sát cây để bổ sung phân đạm (Urê) từ 0,1 kg tới 0,2 kg (lúc ra chồi) và 0,1 kg tới 0,2 kg Super lân (trước lúc thắp đèn), phun kích phát tố Thiên Nông, Gibberelin và phân vi lượng.

40% số vườn được phỏng vấn có xử lý đèn cho ra quả trái vụ đã bón phân định kỳ 15 – 20 ngày một lần; 24% bón định kỳ 1 tháng/lần theo nhịp độ thắp đèn. Sự chia phân bón làm nhiều lần sẽ làm phân ít bị rửa trôi, cây sứ dụng hữu hiệu hơn… nhưng tốn nhiều công hơn.

4.8. Tưới nước

Mặc dù thanh long chịu hạn giỏi, nhưng nắng hạn kéo dài sẽ làm cây mất sức và làm giảm năng suất nhiều. Biểu hiện của sự thiếu nước là:

– Cành mới hình thành ít và phát triển rất chậm.

– Cành bị teo lại và chuyển sang màu vàng.

– Quả bé.

Tại Bình Thuận việc tưới nước bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 5. Tùy theo ẩm độ đất… mà nhịp độ tưới thay đổi từ 3 – 7 ngày/lần. Qua phỏng vấn ở Bình Thuận 100% số hộ trồng thanh long có xử lý ra hoa bằng đèn đều đã phải chủ động tưới nước vào mùa nắng, thường tưới vào buổi sáng theo nhịp độ nêu trên.

4.9. Tỉa cành

Năm thứ 2 tỉa nhẹ khi cần để tạo tán hình cây dù. Tới cuối năm thứ 3 mỗi trụ có độ 100 cành, với lượng cành này phân bố trên đầu trụ dày đặc. Một số cành già đã cho trái trong những năm trước nếu giữ lại sẽ không cho trái hoặc cho trái nhỏ. Sự tỉa cành làm thông thoáng tán cây và giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi cành mới. Sau tỉa, cành non đâm ra mạnh hơn. Có ba loại cắt tỉa:

4.9.1. Tỉa đau: Thực hiện sau thu hoạch hoặc trước đợt thu quả cuối cùng. Cắt cùng một lúc tất cả các cành già, các cành ốm yếu, khuyết tật, nằm khuất bên trong tán. Số cành giữ lại trên đầu trụ độ 50 cành. Dùng liềm hoặc dao chặt 3/4 chiều dài của toàn bộ các cành già phía dưới, các tược non sẽ nảy ra từ phần gốc cành được giữ lại.

Ưu điểm: Dễ làm, đỡ tốn công. Khuyết điểm: Qua nhiều năm các lớp cành chồng chất lên nhau nên bụi thanh long bị đôn lên cao.

4.9.2. Tỉa lựa. Lựa các cành cần tỉa rồi dùng liềm cán dài giựt đứt khỏi cây. Ưu điểm: Tạo được sự thông thoáng, qua nhiều năm trụ không đôn lên cao. Giữ được sự cân đối giữa các cành của tán cây. Khuyết điểm: Tốn công.

4.9.3. Tỉa sửa cành: Để kiểm soát số cành con trên cành mẹ (cành sừng trâu). Yêu cầu:

– Chỉ giữ lại 1 – 3 cành con/cành mẹ.

– Các cành con trên cành mẹ xa nhau, phân bố đều để tránh tán lệch.

– Giữ lại các cành mập, khỏe.

– Tỉa bỏ những cành mọc lòa xòa ra lối đi.

Do nhu cầu tạo quả trái vụ, một số cành già trước đây thường bị tỉa đi, nay được giữ lại để tạo cảm ứng ra hoa bàng thắp đèn.

4.10. Làm cỏ: Trước mỗi đợt bón phân. 70% số hộ phỏng vấn làm cỏ thủ công, 30% còn lại dùng thuốc trừ cỏ. Trên đất phèn nơi đất ẩm thường xuyên, có rất nhiều loại cỏ có căn hành rất khó trị như cỏ tranh, cỏ ống, cỏ Paspalum… vì vậy muốn bớt cỏ cần áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp, như cày bừa kỹ vào mùa nắng trước khi trồng, xen canh, dùng thuốc trừ cỏ kết hợp với làm cỏ thủ công sớm…

4.11. Tủ gốc: Vừa trừ cỏ vừa giữ ẩm, nhất là ở các vùng có mùa khô kéo dài và thiếu nước tưới. Dùng rơm, cỏ khô, xơ dừa… để tủ. Có thể tủ quanh gốc hay tủ toàn bộ liếp. Trong dài hạn ở những vùng có cỏ nhiều, giá nhân công đắt nên áp dụng phủ bạt như ngành trồng dưa hấu và trồng thơm đã làm.

4.12. Xử lý ra hoa: Đã có một số thí nghiệm cảm ứng thanh long ra hoa bằng hóa chất (KNO3 và một số chất khác) bước đầu đã có kết quả. Hoa ra sớm hơn so với các liếp trồng thanh long khác trong vùng từ 1 – 1,5 tháng. Tuy nhiên, chưa đạt được cảm ứng ra hoa đồng loạt và mạnh như ở cây xoài, số hoa ra còn ít và rải rác. Thanh long có quả sớm giá bán cao gấp 5 – 8 lần so với giá lúc rộ. Trong vài năm gần đây nhiều người trồng thanh long đã thắp đèn để thúc thanh long ra hoa trái vụ. Sự thắp đèn dựa trên cơ sở thanh long là cây ngày dài, dùng ánh sáng đèn để cắt đêm dài. Đã có một số điều tra và thí nghiệm về vấn đề này. Kết quả điều tra và thí nghiệm được tóm tắt như sau:

1. Nguồn điện thắp sáng: có thể sử dụng lưới điện quốc gia, hoặc máy phát điện riêng. Dùng điện thuộc lưới điện quốc gia có một số bấp bênh như điện áp không ổn định, đôi lúc bị cúp điện làm hỏng kế hoạch, vì muốn cắt đêm dài cần phải thắp sáng liên tục một số giờ nhất định nào đó.

2. Loại bóng đèn và công suất: dùng bóng đèn tròn, từ 75 tới 100 watt, hiện nay đa số các vườn dùng bóng 75 watt. Dùng đèn ống hiệu quả kém hơn vì cây hấp thu ánh sáng đỏ (red light) và đỏ xa (far red light) (G.R. Noggle và G. J. Fritz). Dùng bóng 60 watt không đủ độ sáng, số quả ra ít. Dùng bóng 200 watt số quả không tăng hơn bao nhiêu mà lại tốn điện.

Bảng 7: Công suất bóng đèn và năng suất thanh long

Công suất        Số vườn áp dụng trong mẫu điều tra  (%) số vườn    Năng suất kg/trụ/lứa

60 watt            3          10        6,4

75 watt            18        60        7,3

75 + 100 watt  9          30        7,4

Cộng   30        100     

Nguồn: Phan Văn Thu, Luận văn Tốt Nghiệp, ĐHNL, 1999.

3. Cách treo bóng: Bóng được treo giữa 2 trụ làm thành hàng, cách mặt đất từ 0,7 m tới 1,2 m. Nên câu điện để có thể thắp sáng luân phiên cho các phía của cây được hưởng ánh sáng đồng đều. Cũng có một số vườn câu một bóng điện ở giữa mỗi 4 trụ.

4. Thời gian thắp sáng: Trương Thị Đẹp (1998) đã sử dụng bóng đèn 100 watt để thắp sáng cho thanh long tác giả đã kết luận thời gian thắp đèn tốt nhất 4 giờ liên tục 10 – 15 đêm mới gây được cảm ứng ra hoa. Qua điều tra trên diện rộng của Phan Văn Thu và thí nghiệm của Đỗ Văn Bảo (1999) tại Hàm Thuận Nam và Phan Thiết thì trong 97 lần thắp sáng bằng đèn của các vườn được điều tra đã có đến 85% số vườn phải thắp đèn từ 8 đến 10 giờ/đêm và liên tục từ 15 đến 20 đêm tùy theo mùa, lúc ngày ngắn thì phải thắp nhiều đêm hơn lúc ngày tương đối dài hơn. Các vườn này đã đạt được bình quân 13,3 kg quả/trụ/lứa thắp đèn. Vào tháng hai một số vườn đã chỉ thắp có 7 giờ/đêm và kéo dài chỉ từ 10 tới 12 đêm. Nhưng nếu xử lý đèn liên tục, mỗi tháng xử lý một lần thì năng suất sẽ thấp và bất ổn, 5 lần xử lý liên tục trong các tháng từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 1 sẽ thu được tổng số 56 quả/trụ hay 26,3 kg/trụ/5 lần xử lý, bình quân chỉ đạt được 5,3 kg/trụ. Như vậy cần chú trọng nghiên cứu sự bón phân, nhịp độ xử lý để có hiệu quả kinh tế cao, tránh lãng phí điện.

Sau 4 – 7 ngày sau ngưng thắp đèn, nụ hoa sẽ xuất hiện. Nó cần khoảng 20 – 21 ngày cho hoa phát triển, 3 ngày để nở và thụ quả trong vườn, sau đó cần từ 25 đến 28 ngày/ để quả phát triển. Như vậy từ khi ra nụ tới khi thu hoạch mất độ 50 – 52 ngày. Khoảng thời gian này dài ngắn chút ít tùy vào điều kiện khí hậu nơi trồng. Đối với một số loài cây thuộc họ xương rồng, có loài phải mất tới 150 ngày để quả phát triển (23). Như vậy thời gian nuôi quả của thanh long ở nước ta khá ngắn.

5. BẢO VỆ THỰC VẬT

Nhìn chung thanh long tương đối ít bị sâu bệnh phá hoại như nhiều cây ăn quả khác.

5.1. Côn trùng

5.1.1. Kiến: Cắn, đục khoét làm hư hom giống và các cành thanh long non, cắn mất tai lá trên trái, gây tổn thương vỏ trái, đây là loại côn trùng dễ phòng trừ.

Để phòng trị dùng Basudin (Diazinon) 10H, Padan 4G, 10G trộn đều với cát 2/1000 rải đều quanh gốc hoặc những nơi làm tổ. Khi tấn công vào các ổ kiến thì dùng Bi 58, Diazinon. ..

5.1.2. Bọ xít. Hại thanh long từ khi có nụ hoa đến khi trái hình thành, chúng hại bằng cách chích hút nhựa, để lại những vết chích rất nhỏ nhưng đến khi quả chín nơi các vết chích sẽ xuất hiện một chấm đen, mất giá trị xuất khẩu. Việc phòng trừ dùng Trebon, Applaud Mipc, Bassa… nồng độ 0,2%. Phun lên khu vườn có bọ xít xuất hiện.

5.1.3. Ruồi vàng hay ruồi trái cây (Dacus dorsalis): là đối tượng nguy hiểm đang được báo động hiện nay. Trưởng thành chích và đẻ trứng vào quả gây thoái hóa phần thịt quả và phần nhựa chảy ra ngoài vỏ làm quả thanh long bị hư, không xuất vườn được. Là đối tượng mới xuất hiện trên thanh long nhưng ruồi trái cây đã phá rất nhiều loại quả ở nước ta, năm 1995 thị trường Nhật đã tạm đóng cửa vì họ cho ràng có dấu hiệu của ruồi trái cây, vì thế cần chú ý phòng trừ. Đề nghị nên đưa qui trình phòng trừ ruồi vàng ở ngành trồng cam quít vào đây, trong đó việc vệ sinh đồng ruộng như thu dọn và hủy các quả rụng, rải thuốc diệt nhộng dưới đất, đặt bả có chứa chất dẫn dụ trích từ cây é tía trộn với thuốc trừ sâu để diệt ruồi. Hiện nay các thuốc như Ruvacon 90L và Vizubon D đã có chứa sẵn chất dẫn dụ là Metyl eugenol 75% nên tiện cho nhà vườn hơn.

5.2. Bệnh

5.2.1. Bệnh thối đầu cành: Ngọn cành thanh long chuyển màu vàng, rồi mềm, sau đó thối. Cây tăng trưởng chậm, số cành giảm hẳn. Bệnh hay xảy ra vào cuối mùa nắng. Bệnh xảy ra không những trên đất phèn (đất thấp) mà còn cả trên đất cao nữa. Nguyên nhân chính là do nấm Alternaria sp. gây ra. Trị bằng cách phun Rovral 2 lần liên tiếp cách nhau 1 tuần.

5.2.2. Bệnh đốm nâu trên cành: Thân cành thanh long có những đốm tròn như mắt của màu nâu. Vết bệnh nằm rải rác hoặc tập trung, thường kéo dài thành từng vệt dọc theo thân cành. Có nhiều vết acervulus tròn đen năm rải rác. Tác nhân là nấm Gloeosporium agaves. Thuộc họ Nectrioidaceae, Bộ Melanconialea, Lớp Deuteromycetes.

5.2.3. Bệnh nám cành: Trên thân cành có một lớp màng mỏng màu xám tro, nhám. Tác nhân là nấm Macssonina agaves Syd và Sphaceloma sp. Họ Nectrioidaceae, Bộ Melanconiales, Lớp Deuteromycetes. Biện pháp phòng trị chung cho các bệnh thanh long là vệ sinh đồng ruộng, chống úng và chống hạn cho cây. Khi tới mức độ phải trị thì dùng thuốc Rovral, hoặc Anvil 5sc (30 – 100 g a.i./ha) phối hợp với Topas (10 – 50 g a.i./ha). Ngoài sâu bệnh kể trên thanh long còn bị dơi, chim, chuột phá hoại quả nữa.

5.3. Các hiện tượng sinh lý

5.3.1. Hiện tượng rụng nụ: Xuất hiện khi số nụ trên cành nhiều. Sau khi nụ xuất hiện 5 – 7 ngày thì nụ không phát triển nữa, vàng rồi rụng. Tỷ lệ rụng từ 10% đến 20%. Cây tự quân bình sinh lý để nuôi quả còn lại trên cây. Để hạn chế sự rụng quả sinh lý cần bón phân tưới nước đầy đủ và quân bình.

5.3.2. Hiện tượng nứt vỏ trái: Do thời tiết, trời hạn ở giai đoạn vỏ quả phát triển, sau đó mưa nhiều hoặc tưới nhiều vào lúc ruột qua phát triển nên quả nứt. Mặt khác do nhà vườn treo quả lâu đợi dịp có giá mới bán. Để hạn chế nên kiểm soát độ ẩm đất, không để vườn khô hạn trong thời kỳ cây nuôi quả.

6. THU HOẠCH, SƠ CHẾ VÀ NĂNG SUẤT

6.1. Thu hoạch

Sau khi trái chuyển màu từ xanh qua đỏ được độ 3 ngày thì dùng liềm hay dao cắt. Khi cắt công nhân đi dọc theo hàng, lựa quả đúng tiêu chuẩn cắt rồi xếp vào một cái gùi. Khi đầy gùi thì chuyển ra đầu hàng người khác cho vào cần xé xếp theo từng lớp có lót giấy, rơm hoặc lá chuối, sau đó vận chuyển đến nơi thu mua.

Tiêu chuẩn trái xuất khẩu (1994):

•           – Chuy- Chuyển màu đỏ được 2 – 3 ngày, tối đ

•           – Ngo- Ngoại hình đẹp, vỏ không bị trầy sướ

•           – Các tai lá trên qu- Các tai lá trên quả còn xanh tươi và không bị

•           – Không có v- Không có vết chích của côn trùng. không có vết bệ

•           – Cu- Cuố

Không có bất cứ tồn dư thuốc hóa học nào trên ngưỡng cho phép để bảo đảm sức khỏe cho người tiêu dùng.

Trái tiêu thụ trong nước:

Thường được thu hái trễ hơn nên quả nặng, to hơn, và ngọt hơn thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng trong nước. Việc thu hoạch tiến hành giống như khi thu xuất khẩu nhưng không cần xử lý đóng thùng, chỉ cho vào cần xé, may miệng lại rồi chở đến nơi tiêu thụ.

6.2. Sơ chế xuất khẩu

– Phân loại quả theo trọng lượng, có thể sử dụng thang phân loại do Phân Viện Công Nghệ Sau Thu Hoạch dự thảo theo đó quả thanh long được phân làm 4 loại: loại l trên 500 g, loại 2 từ 380 g đến 500 g, loại 3 từ 300 g đến 380 g và loại 4 nhỏ hơn 300 g. Theo cách phân loại này thì các loại quả từ hạng 3 trở lên đều có thể xuất khẩu được.

– Xử lý trừ nấm: quả được xếp ra sàn tối đa là 5 lớp, không nên chất đống, sau đó quả được xử lý bằng cách nhúng quả vào thau đựng nước thuốc trừ nấm (chẳng hạn Topsin M . . .), xếp quả qua một bên, quạt gió cho khô tối thiểu 15 phút, rồi đóng thùng.

– Đóng thùng: thùng carton đựng thanh long có kích thước 46 ( 31 ( 13 cm, làm bằng giấy carton gồm 3 lớp dày 5 mm, thùng có 10 lỗ thông gió kích thước 2,5 cm ( 4 cm, bố trí đối xứng. Bên trong thùng có vách ngăn cho từng quả một. Trọng lượng thùng là 750 g. Quả được bọc bằng bao PE có 10 lỗ thông gió đường kính là 5mm hay tết hơn nên bọc bằng lưới Polystiren, như vậy sẽ tránh được trầy sướt khi chuyên chở. Trọng lượng tịnh (quả) là 5 – 5,2 kg.

Tồn trữ, chuyên chở: do quả thanh long dễ hư, khi xuất khẩu cần chuyên chở nhanh bằng tàu lạnh.

Hễ xuất khẩu ít thì có thể chở băng máy bay, giữ ở nhiệt độ mát trong máy bay. Khi chuyên chở xa bằng tàu thì các thùng thanh long phải làm lạnh trước ở nhiệt độ 80C Sau đó cho vào container giữ ở nhiệt độ 50C, ẩm độ không khí từ 85% đến 90%, có ván lót để bảo đảm thông gió.

Thị trường tiêu thụ hiện nay là Taiwan, Singapore, Hongkong, Nhật Bản,… và vài nước Âu châu mua với số lượng ít.

Vườn chăm sóc tốt có khoảng 70 – 80% số trái đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, giá xuất khẩu gấp độ 1,5 lần giá nội địa.

6.3. Năng suất

Sau một năm trồng thì thanh long bắt đầu cho trái bói, các năm thứ 3, 4, 5 là những năm có năng suất cao. Từ năm thứ 6 trở đi năng suất bắt đầu giảm từ từ. Một cách tổng quát trong điều kiện thanh long ra hoa tự nhiên, năm thứ l năng suất độ 3 kg quả/trụ, năm thứ 2: 10 – 15 kg/trụ, năm thứ 3: 30 kg/trụ, năm thứ tư 40 – 45 kg/trụ, sau đó giảm từ từ tới năm thứ 12 còn độ 20 – 25 kg/trụ. Việc chăm bón tốt, thời tiết thuận lợi sẽ làm năng suất cao và ổn định nhiều năm.

THANH LONG

 I.  GIÚP THANH LONG RA HOA VỤ NGHỊCH:

 Phun sương thuốc đều bộ lá 2 lần. Pha 15 g chúng tôi + 35 ml RA HOA C.A.T(2 nắp lưng ) / 8 lít, phun cụ thể:.lần1- trước khi thắp đèn 1-2 ngày..lần 2 – sau lần nhất 7 ngày.

 Công dụng:

 -Thúc thanh long ra hoa đồng loạt và sớm hơn.

 -Tăng khả năng ra hoa, giúp thanh long hấp thụ ánh sáng nhiều, giảm thời gian và chi phí thắp đèn.

 -Tăng số hoa và trái cho thanh long.

II. NUÔI TRÁI:

  Khi lặt râu xong, pha 35 ml DƯỠNG TRÁI / 8 lít phun sương đều cả cây, 7 ngày

  sau phun thêm 1-2 lần nữa.

 Công dụng:

 -Làm trái to, chắc ruột, cân nặng và ngon ngọt.

 -Giúp vỏ trái khi chín có màu đỏ đều, bóng đẹp, tai trái dài, xanh, cứng.

 -Tăng sản lượng, hương vị thanh long, tăng tỷ lệ trái loại 1.

III. CÂY MỚI TRỒNG & CÂY SAU THU HOẠCH:

 Phun định kỳ chúng tôi 15 g / 8 lít lên bộ lá và cả phần thân rễ cây theo chu kỳ 10-

15 ngày / lần.

 Công dụng:

 -Giúp cây con lớn nhanh, mau cho trái.

 -Thúc đẩy bộ rễ phát triển tốt, cây kháng bệnh mạnh.

 -Giúp hồi phục nhanh & chuẩn bị tốt cho vụ sau.

Số lần xem trang : 6

Nhập ngày : 02-04-2008

Điều chỉnh lần cuối :

 In trang này

 Lên đầu trang

 Gởi ý kiến

   CÂY THANH LONG

Họ tên: Phạm Đức Toàn, Đc: Viện nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường – Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Tel: 0918386966, Email: phamductoan@hcmuaf.edu.vn

Thiết kế: Trung Tâm Tin Học ứng Dụng – ĐHNL 2007

Số lần xem trang: 12158Điều chỉnh lần cuối:

Chuyên Đề Nghiên Cứu Khoa Học / 2023

NGHIÊN CỨU KHOA HỌCCỦA HỌC SINH TRUNG HỌC

22CÁC BƯỚC THỰC HIỆNDỰ ÁN KỸ THUẬT hoặc MÁY TÍNH1. Xác định nhu cầu hoặc tiếp nhận yêu cầu. 2. Phát triển các tiêu chuẩn thiết kế3. Thực hiện việc tìm kiếm tài liệu và nghiên cứu tổng quan4. Chuẩn bị thiết kế sơ bộ hoặc thuật toán dưới dạng sơ đồ khối5. Sản xuất mẫu hoặc viết chương trình 6. Kiểm tra các mẫu/chương trình7. Thiết kế lại, khi cần thiết23TRẢI NGHIỆM – NHÌN NHẬN CỦA NHÀ KHOA HỌC Trong hai loại pin A và B, loại nào tốt hơn?Trong hai loại pin A và B, loại nào sử dụng được lâu hơn?Trong hai loại pin A và B, loại nào duy trì được hiệu điện thế lâu hơn trước khi đạt ngưỡng 0.9 vôn?ĐẶT CÂU HỎI NGHIÊN CỨUHình ảnh chỉ là ví dụ minh hoạ24TRẢI NGHIỆM – DỰ ĐOÁN CÓ CƠ SỞ Khi sử dụng làm nguồn cho cùng một thiết bị, pin A sẽ cho thời gian lâu hơn trước khi tới ngưỡng 0.9 vônGIẢ THUYẾT KHOA HỌC25TRẢI NGHIỆM – KIỂM CHỨNG DỰ ĐOÁNBiến Độc lập: THỜI GIANBiến Phụ thuộc: HIỆU ĐIỆN THẾBiến Kiểm soát : MÁY HÁT, ĐĨA HÁT, ÂM LƯỢNGTHỰC NGHIỆM KIỂM CHỨNGHình ảnh chỉ là ví dụ minh hoạ26TRẢI NGHIỆM – SỐ LIỆU THỰC NGHIỆMPin B dưới ngưỡng 0.9(v) ở 5 hPin A dưới ngưỡng 0.9(v) ở 7.5 hKết luận: Pin A tốt hơn pin BTHU THẬP SỐ LiỆUPHÂN TÍCHVÀ KẾT LUẬN27THIẾT KẾ THỰC NGHIỆM KHOA HỌC28KHUNG THIẾT KẾ THỰC NGHIỆMXác định các BIẾNBiến ĐỘC LẬP: Do người nghiên cứu chủ động thay đổi.Biến PHỤ THUỘC: Thay đổi do sự biến đổi của biến độc lập gây ra, được đo và ghi lại.Biến KIỂM SOÁT: Được giữ ở trạng thái ổn định để đảm bảo sự thay đổi của biến PHỤ THUỘC là do tác động vào biến ĐỘC LẬPXác định ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, DỤNG CỤ: Mô tả đối tượng, vật liệu, dụng cụ về vai trò, số, khối lượng; cách thức lắp đặt; các bảng biểu ghi chép số liệu thực nghiệm.Xác định TRÌNH TỰ thực nghiệm: Mô tả trình tự tiến hành đủ chi tiết, rõ ràng tới mức người khác có thể tiến hành được và cho kết quả tương tự.29THIẾT KẾ THỰC NGHIỆM – VÍ DỤ 1GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu dùng 3 loại chất lỏng là nước, sô đa, nước uống thể thao tưới cho một cây thì cây đó sẽ phát triển nhanh nhất khi dùng nước vì nước không có những chất hoá học ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của cây” 30THIẾT KẾ THỰC NGHIỆM – VÍ DỤ 1GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu dùng 3 loại chất lỏng là nước, sô đa, nước uống thể thao tưới cho một cây thì cây đó sẽ phát triển nhanh nhất khi dùng nước vì nước không có những chất hoá học ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của cây” 31THIẾT KẾ THỰC NGHIỆM – VÍ DỤ 1Các BIẾN:ĐỘC LẬP: Loại chất lỏngPHỤ THUỘC: Mức độ tăng trưởng của câyKIỂM SOÁT: Loại cây; Nhiệt độ; Lượng chất lỏngVẬT LIỆU, DỤNG CỤ: 03 chậu cây giống nhau, cùng môi trường; 03 lít chất lỏng tương ứng là nước, sô đa, nước uống thể thao; 03 cốc có vạch đo lượng chất lỏng.TRÌNH TỰ:Bước 1: Chuẩn bị vật liệu, dụng cụBước 2: Mỗi ngày, tưới 50 ml chất lỏng và chia làm 2 lần sáng và chiều (Nước cho cây thứ nhất; Sô đa cho cây thứ 2; Nước uống thể thao cho cây thứ ba)Bước 3: Lặp lại bước 2 trong vòng 15 ngày, dùng thước để đo chiều cao tăng trưởng của từng cây và chi lại số liệu.32THIẾT KẾ THỰC NGHIỆM – VÍ DỤ 2GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Biểu đồ và Bảng

Hình ảnh

Phân tíchKết luận

Ứng dụng

Hướng NC

Nghiên Cứu Khoa Học Và Những Lợi Ích Đối Với Sinh Viên / 2023

Sinh viên NCKH là một trong những phương thức học tập hiệu quả nhất hiện nay, bởi trong quá trình nghiên cứu, sinh viên có thể tiếp cận kiến thức lý luận và kiến thức thực tiễn thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau: qua bài giảng trên lớp, nghiên cứu tài liệu, sách, báo trên Internet, hoặc các sản phẩm thực tiễn trong cuộc sống… qua đó tạo cho mình cách học tập khoa học và khơi gợi khả năng sáng tạo. Có thể khẳng định rằng, sinh viên tham gia NCKH sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho bản thân, trong đó có những lợi ích sau:

Các sản phẩm trưng bày của sinh viên tham gia cuộc thi “Sinh viên sáng tạo khoa học công nghệ lần thứ III năm học 2018-2019 ”

Sinh viên Trần Đức Hưng, Lớp DK9 -KTDK&TĐH khoa Điện – thành viên nhóm tham gia nghiên cứu đề tài: “Hệ thống tự động kiểm soát nhiệt độ môi trường nhà kính trồng rau” đạt giải Ba Cuộc thi sinh viên sáng tạo khoa học công nghệ lần thứ III chia sẻ: “Tham gia NCKH giúp em học tập được rất nhiều điều, từ kiến thức đến khả năng sáng tạo. Chúng em luôn dành phần lớn thời gian để tìm tòi, đọc tài liệu, tra cứu Internet để hoàn thành đề tài của mình, những kiến thức đã học được bồi đắp sâu hơn, rộng hơn… điều đó đã giúp chúng em có đầy ắp những kiến thức mới”.

Thứ hai: Nghiên cứu khoa học giúp sinh viên phát triển và rèn luyện các kỹ năng tư duy sáng tạo, làm việc độc lập và làm việc theo nhóm Khi tham gia nghiên cứu khoa học, sinh viên sẽ tập làm quen với một đề tài nghiên cứu quy mô nhỏ (dành cho một sinh viên tham gia nghiên cứu), sinh viên sẽ được tiếp cận với những vấn đề cụ thể, có ý thức đào sâu suy nghĩ và tập cách tư duy để tự nghiên cứu giải quyết một vấn đề. Trong quá trình thực hiện đề tài sinh viên sẽ nảy sinh ra nhiều hướng giải quyết khác nhau. Quá trình này sẽ giúp sinh viên rèn luyện tư duy độc lập, biết bảo vệ lập trường khoa học của mình. Đối với đề tài khoa học có quy mô lớn hơn thường do một nhóm từ hai sinh viên trở lên cùng thực hiện. Vì vậy việc cùng thực hiện một đề tài nghiên cứu cũng giúp sinh viên phát triển các kỹ năng làm việc theo nhóm với sự chia sẻ ý thức và trách nhiệm, thêm vào đó là biết phân công công việc phù hợp với khả năng và sở trường của từng thành viên.

TS Nguyễn Trong Các – Trưởng khoa Điện khai mạc Cuộc thi: “Robot Tour: Đường đến vinh quang” hưởng ứng phong trào sinh viên khoa Điện hướng tới cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư

Sinh viên Khoa Điện tham gia cuộc thi Robot Tour: “Đường đến vinh quang”

Sinh viên Dương Ngọc Linh – Đội trưởng đội tuyển VHC QUEEN tham gia Cuộc thi Sáng tạo Robot toàn quốc năm 2019 cũng là một thành viên kỳ cựu trong đội tuyển Robocon trường Đại học Sao Đỏ cho biết: “Tham gia nghiên cứu sáng tạo robot, chúng em học được cách làm việc khoa học, học cách tư duy độc lập đối với mỗi vấn đề được giao trong nghiên cứu. Đặc biệt là học được cách làm việc nhóm. Để nhóm được tiến bộ, chúng em dựa vào thế mạnh của mỗi thành viên để phân công công việc. Quá trình làm việc, chúng em học hỏi lẫn nhau qua sự chia sẻ kiến thức mỗi thành viên trong nhóm để cùng tiến bộ”.

Những hình ảnh đẹp của sinh viên Đại học Sao Đỏ trong Cuộc thi Sáng tạo robot Việt Nam năm 2019

Thứ ba: Phát triển và rèn luyện kĩ năng mềm trong đó có kỹ năng thuyết trình để bảo vệ đề tài nghiên cứu của mình

Bên cạnh đó, việc thực hiện và bảo vệ một đề tài nghiên cứu khoa học sẽ rèn giũa cho sinh viên kỹ năng diễn đạt, trình bày một vấn đề, kỹ năng thuyết trình, tập cho sinh viên phong thái tự tin khi bảo vệ trước hội đồng khoa học. Đây cũng là trải nghiệm rất quý báu và thú vị mà không phải bất kỳ sinh viên nào cũng có được trong quãng đời sinh viên của mình.

Sinh viên Vũ Trung Kiên, lớp DK7-KTĐK &TĐH – một trong những thủ lĩnh sinh viên đoạt giải Khuyến khích Cuộc thi “Ý tưởng sinh viên tình nguyện” năm 2019 do Trung ương Hội sinh viên Việt Nam tổ chức với đề tài “Rơm rạ và bài toán xử lý” cho biết: “Nghiên cứu khoa học giúp em rèn luyện được các kỹ năng mềm cần thiết ngoài xã hội, đặc biệt là kỹ năng thuyết trình. Để có được kỹ năng thuyết trình tốt, em luôn tìm hiểu vấn đề một cách cặn kẽ và sâu sắc đồng thời luôn luyện tập cách truyền đạt nội dung đến với người nghe hiệu quả nhất”.

Thứ tư: Xây dựng hành trang cho mình bằng những thành tích đạt được và cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp

Bên cạnh những kiến thức và kinh nghiệm thu được thông qua việc nghiên cứu khoa học, sinh viên còn tạo dựng được những thành tích tốt trong quá trình học tập. Mỗi sinh viên khi tham gia nghiên cứu khoa học, thực hiện đề tài nghiên cứu sẽ được cộng thêm điểm rèn luyện. Những đề tài đạt giải được Nhà trường và các tổ chức trong xã hội khen thưởng. Đây cũng là cách thức giúp xây dựng hành trang trước khi tốt nghiệp của mình. Với những thành tích đạt được trong quá trình học tập, những sinh viên tích cực NCKH sẽ được các công ty, doanh nghiệp để ý đến và tạo cơ hội vào làm việc ưu tiên hơn cả.

NGƯT. TS Vũ Quang thập trao Giấy chứng nhận cho các sinh viên tham gia phong trào robocon của trường Đại học Sao Đỏ (ảnh trái) ; Tỉnh đoàn Hải Dương trao Bằng khen của Hội sinh viên Việt Nam tỉnh Hải Dương cho các sinh viên đã có thành tích xuất sắc trong phong trào sáng tạo robot năm 2019 (ảnh phải)

Thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đã góp phần phát huy được tính năng động, sáng tạo, khả năng tư duy độc lập, tự nghiên cứu và khả năng làm việc nhóm của sinh viên. Qua đó giúp sinh viên trau dồi kiến thức, phát huy những điểm mạnh, áp dụng khoa học công nghệ vào giải quyết vấn đề thực tiễn, tích lũy kỹ năng nghề nghiệp… để đảm bảo sinh viên sau khi ra trường đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp.

Lợi Ích Của Trung Tâm Khoa Học Và Công Nghệ Năng Lượng Hạt Nhân Mang Lại Cho Việt Nam / 2023

Tuy không phải là một trong các nước đầu tiên phát triển nghiên cứu hạt nhân và công nghệ bức xạ, Việt Nam cũng đã vận hành thành công một lò phản ứng nghiên cứu hạt nhân ở Đà Lạt trong vòng hơn 30 năm qua. Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Công Tạc, mặc dù chỉ có công suất thấp, lò phản ứng nghiên cứu tại Đà Lạt đã có nhiều đóng góp to lớn cho việc nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp, y học và nhiều ngành công nghiệp khác. Theo ông: “Với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay, lò phản ứng công suất 500 KW không còn đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng trong việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ công nghệ cao, do vậy đòi hỏi phải xây dựng một lò phản ứng nghiên cứu mới với công suất lớn hơn”.

Sự ra đời của Trung tâm Khoa học và Công nghệ Năng lượng Hạt nhân (CNEST) chính là câu trả lời hoàn hảo cho các thách thức đặt ra hiện nay trong phát triển khoa học và công nghệ. Nếu được cấp phép xây dựng, CNEST sẽ là một trung tâm đa chức năng với mục tiêu chính là ứng dụng các công nghệ bức xạ trong sản xuất, y học, nông nghiệp và các lĩnh vực quan trọng khác. Trung tâm sẽ được trang bị một lò phản ứng nghiên cứu công suất cao và các phòng thí nghiệm khoa học. Ông Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam Vinatom cho biết: “CNEST không chỉ được xây dựng để thay thế lò phản ứng nghiên cứu hạt nhân cũ ở Đà Lạt mà còn để xây lắp một lò phản ứng nghiên cứu mới với công suất lên đến 15 MW, nhằm trở thành nền tảng cho nhiều hoạt động nghiên cứu và ứng dụng tiên tiến, qua đó nâng cao tiềm năng phát triển ngành công nghiệp hạt nhân Việt Nam”.

Khoa học hạt nhân được đưa vào ứng dụng điều trị ung thư

Sự ra đời của CNEST sẽ giúp tiếp tục nâng cao năng lực ngành y học hạt nhân công nghệ cao ở Việt Nam. Các đồng vị phóng xạ được sản xuất tại Trung tâm sẽ được sử dụng trong chẩn đoán và điều trị các loại ung thư, bệnh nội tiết và các bệnh tim mạch. Dự kiến trong một năm hoạt động, Trung tâm có thể giúp điều trị gần 10 nghìn người mắc bệnh ung thư, bệnh tim, cũng như các bệnh hiểm nghèo khác bằng cách sử dụng phương pháp xạ trị và bức xạ gamma-neutron. Các đồng vị phóng xạ được sản xuất tại Trung tâm sẽ được đưa đến các phòng khám có các hệ thống PET/SPECT nhằm phục vụ công tác chẩn đoán cho bệnh nhân. Ước tính mỗi năm, một hệ thống như vậy có thể chẩn đoán cho khoảng 15.000 bệnh nhân.

Bên cạnh đó, CNEST sẽ hỗ trợ thúc đẩy ngành nông nghiệp hạt nhân Việt Nam. Việc áp dụng phương pháp chiếu xạ thức ăn và các sản phẩm nông nghiệp trong chế biến và kiểm soát sâu bệnh sẽ giúp tăng hạn sử dụng của sản phẩm, đồng thời phương pháp chiếu xạ hạt để kích thích phát triển cũng sẽ giúp tăng năng suất, qua đó thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu nông nghiệp của Việt Nam. Theo ông Nguyễn Hữu Quang, Giám đốc Trung tâm Ứng dụng Kỹ thuật Hạt nhân trong Công nghiệp: “Công nghệ bức xạ và hạt nhân đóng một vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực như y tế, nông nghiệp, và sản xuất. Chẳng hạn trong lĩnh vực y tế, công nghệ hạt nhân được sử dụng để điều trị và chẩn đoán bệnh ung thư. Trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ chiếu xạ giúp tạo ra các loại cây trồng năng suất cao”.

Lò phản ứng nghiên cứu được xây dựng ở Việt Nam là một trong các lò phản ứng an toàn nhất. Có thể nói CNEST sẽ không có tác hại nào đến môi trường (khí quyển và mặt đất) đồng thời hoàn toàn an toàn cho cộng đồng xung quanh. Các loại công nghệ và nhà máy sẽ được sử dụng trong CNEST ở Việt Nam đã được lắp đặt và phát triển trên thế giới trong hơn 70 năm qua. Các kỹ thuật đề xuất áp dụng ở Việt Nam đã được thử nghiệm trong nhiều năm và vận hành thành công ở Nga. Hơn 120 nhà máy nghiên cứu hạt nhân đã được xây dựng theo công nghệ của Nga, trong đó có hơn 20 nhà máy được xây lắp ở nước ngoài.

Trong bối cảnh nhu cầu về các sản phẩm và dịch vụ công nghệ cao ứng dụng công nghệ hạt nhân của khu vực ngày càng gia tăng ở một số ngành phi năng lượng như y học, nông nghiệp, sản xuất; việc xây dựng và phát triển Trung tâm CNEST có thể giúp Việt Nam trở thành một quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á trong lĩnh vực phát triển nghiên cứu và ứng dụng năng lượng hạt nhân.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Trung Tâm Nghiên Cứu Và Chuyển Giao Khoa Học Công Nghệ / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!