Top 5 # Xem Nhiều Nhất Xét Về Cấu Tạo Từ Có Mấy Loại Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Mạch Máu: Đặc Điểm, Cấu Tạo, Có Mấy Loại, Chức Năng Và Các Bệnh Thường Gặp

Ai cũng có hệ thống mạch máu để nuôi dưỡng cơ thể. Hệ thống mạch máu là một phần của hệ tuần hoàn, nó có dạng ống, nối tiếp nhau hợp thành hệ thống kín dẫn máu từ tim nuôi dưỡng đến các cơ quan trong cơ thể sau đó lại quay trở về tim, kết thúc một vòng tuần hoàn. Hệ thống mạch máu trong cơ thể có chức năng vận chuyển nước, oxy, CO2, các chất dinh dưỡng đến các cơ quan trong cơ thể.

Máu đi từ tim trong các động mạch, phân nhánh thành các mạch nhỏ hơn và nhỏ hơn, cuối cùng trở thành tiểu động mạch. Các tiểu động mạch kết nối với các mạch máu nhỏ hơn gọi là mao mạch.

Thông qua các bức tường mỏng của mao mạch, oxy và chất dinh dưỡng truyền từ máu vào các mô và các chất thải chuyển từ các mô vào máu. Từ các mao mạch, máu đi vào tĩnh mạch, sau đó vào tĩnh mạch để trở về tim.

Động mạch và tiểu động mạch có thành cơ tương đối dày vì huyết áp trong đó cao và vì chúng phải điều chỉnh đường kính để duy trì huyết áp và kiểm soát lưu lượng máu.

Tĩnh mạch và tĩnh mạch có thành mỏng hơn, ít cơ hơn so với động mạch và tiểu động mạch, phần lớn là do áp lực trong tĩnh mạch và tĩnh mạch thấp hơn nhiều. Tĩnh mạch có thể giãn ra để phù hợp với lượng máu tăng lên.

Các động mạch, mạnh mẽ, linh hoạt và kiên cường, mang máu ra khỏi tim và chịu áp lực máu cao nhất. Bởi vì các động mạch có tính đàn hồi, chúng thu hẹp (giật lại) một cách thụ động khi tim đang thư giãn giữa các nhịp đập và do đó giúp duy trì huyết áp .

Các động mạch phân nhánh thành các tàu nhỏ hơn và nhỏ hơn, cuối cùng trở thành các tàu rất nhỏ gọi là tiểu động mạch. Động mạch và tiểu động mạch có thành cơ có thể điều chỉnh đường kính của chúng để tăng hoặc giảm lưu lượng máu đến một bộ phận cụ thể của cơ thể.

Mao mạch là những mạch nhỏ, cực mỏng, đóng vai trò là cầu nối giữa các động mạch (mang máu ra khỏi tim) và tĩnh mạch (đưa máu trở lại tim). Các thành mỏng của mao mạch cho phép oxy và chất dinh dưỡng đi từ máu vào các mô và cho phép các chất thải đi từ các mô vào máu.

Máu chảy từ mao mạch vào các tĩnh mạch rất nhỏ gọi là tĩnh mạch, sau đó chảy vào tĩnh mạch dẫn trở lại tim. Tĩnh mạch có thành mỏng hơn nhiều so với động mạch, phần lớn là do áp lực trong tĩnh mạch thấp hơn rất nhiều. Tĩnh mạch có thể mở rộng (giãn) khi lượng chất lỏng trong chúng tăng lên.

Một số tĩnh mạch, đặc biệt là tĩnh mạch ở chân, có van trong đó, để ngăn máu chảy ngược. Khi các van này bị rò rỉ, dòng chảy ngược của máu có thể khiến các tĩnh mạch bị giãn ra và trở nên dài ra và bị co lại (quanh co). Các tĩnh mạch kéo dài, quanh co gần bề mặt của cơ thể được gọi là giãn tĩnh mạch .

Mạch máu giúp việc trao đổi nước và các chất dinh dưỡng giữa cơ quan chủ lực là tim và các mô. Các tĩnh mạch mang máu từ các mao mạch trở về tim để nuôi dưỡng và tiếp tục vòng tuần hoàn đi đến các cơ thể.

Đoạn động mạch chủ được coi là phình khi đường kính của ống động mạch tăng 50% so với đoạn động mạch chủ ở trạng thái bình thường ngay phía trên nó. Khi gặp phải bệnh lý phình động mạch chủ, người bệnh sẽ thuờng gặp nhất biểu hiện là đau ngực. Khi có đau ngực, bệnh nhân thường đã có biến chứng như lóc tách động mạch chủ hoặc khối phình dọa vỡ, lúc đó việc điều trị rất nguy hiểm.

Theo năm tháng, các chất béo, cholesterol và các chất khác cặn lắng đọng vào thành mạch (gọi là mảng xơ vữa) gây hẹp lòng mạch, cản trở dòng máu lưu thông. Đó gọi là bệnh xơ vữa động mạch khiến mạch máu bị tắc.

Khi mảng xơ vữa nứt vỡ sẽ tạo ra các cục máu đông gây lấp kín thành mạch không cho máu di chuyển. Chúng gần như là nguyên nhân gây ra các trường hợp khẩn cấp như: nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, tắc mạch chi…

Tập luyện đều đặn không chỉ giúp tăng cường sức khỏe mà còn lưu thông máu tốt hơn, giảm rủi ro mắc các bệnh tim mạch. Nó còn giúp bạn kiểm soát cân nặng, giảm hàm lượng mỡ máu, và kiềm chế căng thẳng tốt hơn.

Chỉ cần những bài tập nhẹ nhàng hay những môn thể thao đơn giản như chạy bộ, bơi lội, đạp xe cũng giúp bạn lưu thông máu dễ dàng.

Mát xa giúp các cơ được co giãn, thả lỏng và các mạch máu cũng được nới lỏng lưu thông đi khắp cơ thể. Mát xa chân cũng là một cách rất tuyệt và dễ dàng để tăng cường lưu thông máu tại chân, giúp máu chuyển tới ngón chân.

Tạp chí Giám sát Y khoa đã công bố báo cáo về việc mát-xa thúc đẩy máu lưu thông và giúp giảm đau lưng, đau chân hay tay những cơ quan vận động trong cơ thể. Tác dụng của việc chà xát trên da giúp tăng nhiệt độ cơ thể, thúc đẩy máu lưu thông tới các khu vực được mát xa.

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra: quá nhiều cà phê có thể ảnh hưởng tới lưu thông máu lên não. Họ công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí Bản đồ Não bộ, chỉ ra rằng việc uống đều đặn quá nhiều cà phê có thể gây tác động tiêu cực lên lượng máu bơm lên não, làm tăng huyết áp và nhịp tim.

Chúng ta đều biết rằng ăn quá mặn đều ảnh hưởng lên huyết áp và bệnh tim. Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã phát hiện ra rằng muối còn ảnh hưởng tới lượng máu lưu thông trong lòng mạch.

Tiến sĩ Jennifer Keogh trên WebMD khuyến cáo người dân ăn nhạt để máu lưu thông thuận lợi và tăng cường sức khỏe huyết quản.

Với những thông tin Zicxa Việt Nam chia sẻ trên các bạn đã hiểu về vị trí cấu tạo cũng như chức năng của các mạch máu trong cơ thể mình. Máu là một phần không thể thiếu của cơ thể vì thế hãy tập luyện để máu lưu thông một cách tốt nhất.

Có Mấy Loại Tuyến Nước Bọt?

Ở người, tuyến nước bọt thuộc loại tuyến ngoại tiết với vai trò chính là sản xuất nước bọt hoặc chế tiết amylase. Có khá nhiều tuyến nước bọt nằm rải rác khắp niêm mạc của miệng, trong đó có 3 đôi tuyến chính là tuyến nước bọt mang tai, tuyến nước bọt dưới hàm và tuyến nước bọt dưới lưỡi.

1. Giải phẫu tuyến nước bọt

Tuyến nước bọt hoạt động được là nhờ sự cân bằng giữa hệ thần kinh phó giao cảm và thần kinh giao cảm. Khi các sợi phó giao cảm đến tuyến nước bọt trong các dây thần kinh sọ thì tuyến mang tai sẽ nhận các sợi đi trong dây thiệt hầu qua hạch tai và tuyến nước bọt dưới lưỡi, tuyến nước bọt dưới hàm sẽ nhận các sợi đi trong dây mặt qua hạch dưới hàm.

Mọi sự kích thích phó giao cảm và hệ giao cảm đều làm tăng tiết nước bọt, chúng hoạt động với vai trò sau:

Vai trò nội tiết: Với vai trò này, tuyến nước bọt đảm bảo sự tăng sản những tổ chức trung mô như xương răng, sụn, sợi chun, tổ chức liên kết và tạo máu, hệ thống lưới nội mô….

Vai trò tiêu hóa: Tuyến nước bọt sẽ có vai trò làm ướt và tan thức ăn, đồng thời củng cố vị giác và thủy phân tinh bột.

Vai trò bảo vệ: Tuyến nước bọt đảm bảo vai trò cuốn trôi vi khuẩn, tạo pH kiềm, các chất diệt khuẩn, kháng thể bảo vệ và hỗ trợ tái khoáng men răng.

Vai trò bài tiết: Theo đó, những chất ngoại lai sẽ được phát hiện nhanh chóng khi xét nghiệm nước bọt.

2. Các tuyến nước bọt chính

Về chế tiết, tuyến nước bọt ở người được chia làm 3 loại tuyến:

Tuyến nước: Tuyến nước bọt mang tai

Tuyến hỗn hợp:Tuyến nước bọt dưới hàm

Tuyến nhầy: Tuyến nước bọt dưới lưỡi

2.1 Tuyến nước bọt mang tai

Tuyến nước bọt mang tai hay còn được gọi là tuyến mang tai, là một trong những tuyến nước bọt chính ở nhiều động vật có vú. Ở người, tuyến nước bọt mang tai nằm ở 2 bên miệng và nằm trước 2 bên tai, đây là 2 tuyến nước bọt có kích thước lớn nhất. Mỗi tuyến nước bọt mang tai sẽ bao bọc xung quanh ngành lên xương hàm và tiết ra nước bọt thông qua ống Stensen, để thuận lợi cho việc nhai, nuốt và quá trình tiêu hóa thức ăn.

Mặt ngoài: Mặt ngoài chỉ có da và mạc nông che phủ, trong tổ chức dưới da có các nhánh mặt của thần kinh tai lớn và các hạch bạch huyết nông, mặt này nằm rất nông nên khi bị viêm sưng thì có thể nhận thấy rất rõ.

Các thành phần nằm ở trong tuyến nước bọt mang tai gồm có thần kinh lách giữa các thùy và các mạch máu của tuyến. Phần ống tuyến nước bọt mang tai được tạo nên do sự hợp nhất của 2 ngành chính trong phần trước tuyến thoát ra thoát ra khỏi tuyến ở bờ trước.

2.2 Tuyến nước bọt dưới hàm

Cặp tuyến nước bọt dưới hàm là 2 tuyến nước bọt chính nằm ở sàn miệng, mỗi tuyến nặng khoảng 15g và đóng góp khoảng 67% thể tích nước bọt lúc chưa bị kích thích, khi được kích thích thì % thể tích đóng góp của tuyến nước bọt dưới hàm sẽ bị giảm xuống và đồng thời % đóng góp của tuyến nước bọt mang tai sẽ tăng lên đến 50%.

Tuyến nước bọt dưới hàm là tuyến lớn thứ 2 sau tuyến nước bọt mang tai, nằm trong tam giác dưới hàm ở mặt trong của xương hàm dưới, tuyến nước bọt dưới hàm có 2 phần nông, sâu nối với nhau ở bờ sau cơ hàm nóng và được ngăn cách với tuyến mang tai bởi một vách cân.

Mặt trên ngoài của tuyến nằm áp sát vào mặt trong xương hàm dưới và có động mạch mặt đào thành rãnh ở phần sau trên của mặt này.

Mặt dưới ngoài của tuyến được phủ bởi lớp da, tổ chức dưới da và cân cổ nông che phủ.

2.3. Tuyến nước bọt dưới lưỡi

Đây là tuyến nhỏ nhất trong 3 đôi tuyến nước bọt và cũng là tuyến tiết nhầy nặng từ 3 – 4 gam, nằm ở trong ô dưới lưỡi và chỉ được phủ bởi lớp niêm mạc của nền miệng. Bờ trên của tuyến nước bọt dưới lưỡi đội niêm mạc lên thành nếp dưới lưỡi và có các ống tiết của tuyến đổ vào. Bờ dưới của tuyến tựa vào cơ hàm móng.

Hệ thống tuyến nước bọt ở cơ thể người rất dễ bị vi khuẩn xâm nhập và gây ra bệnh như viêm tuyến nước bọt, u tuyến nước bọt,…. Do đó, mỗi người cần chủ động tìm hiểu và bảo vệ cơ thể, đặc biệt trong ăn uống và vệ sinh răng miệng để tránh các tác nhân gây bệnh.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Mạch Máu Là Gì Và Có Mấy Loại?

Mạch máu trong cơ thể gồm 3 loại: động mạch, tĩnh mạch và mao mạch.

Động mạch

Động mạch là những mạch máu có chức năng vận chuyển máu từ tim đến các mô. Từ động mạch chủ trở đi, các động mạch được chia ra thành các nhánh nhỏ dần. Càng xa tim, thiết diện của một động mạch càng nhỏ nhưng tổng thiết diện của hệ thống động mạch càng tăng, do đó máu chảy trong hệ thống động mạch càng xa tim thì càng tăng.

Động mạch có chức năng vận chuyển máu từ tim đến các mô với áp suất cao, do đó thành động mạch khoẻ , bền để có thể dẫn máu chảy nhanh. Thành động mạch có cấu tạo gồm 3 lớp:

Lớp áo trong nằm trong cùng được cấu tạo bởi các tế bào nội mô dẹt.

Lớp áo giữa gồm các sợi cơ trơn và các sợi chun.

Lớp áo ngoài do các tổ chức liên kết sợi tạo nên.

Tĩnh mạch

Tĩnh mạch là những mạch máu có chức năng vận chuyển máu từ các mô trở về tim. Những mạch máu này bắt nguồn từ mao mạch. Dòng máu từ mao mạch đổ vào hệ thống mạch máu đầu tiên gọi là tiểu tĩnh mạch. Tiểu tĩnh mạch tập trung thành đổ máu về những tĩnh mạch lớn. Từ đó máu được dẫn trở về tim.

Tĩnh mạch cũng được cấu tạo bởi 3 lớp. Tuy nhiên, thành của tĩnh mạch mỏng hơn động mạch. Lớp áo trong của hệ tĩnh mạch có các van tĩnh mạch. Đó là những nếp chập đôi của lớp áo trong, có tác dụng cho máu chảy theo một chiều.

Mao mạch

Mao mạch là một hệ thống vi mạch máu nối giữa tiểu động mạch và tiểu tĩnh mạch. Thành mao mạch được cấu tạo bằng 1 lớp tế bào nội mô, giữa các tế bào này có các lỗ nhỏ để cho quá trình trao đổi chất giữa tế bào và máu được thực hiện. Hệ thống mạch máu trong cơ thể người có khoảng 10.000 triệu mao mạch với tổng diện tích trao đổi khoảng 500 – 700 m2.

Bếp Điện Có Mấy Bộ Phận Chính , Cấu Tạo Của Bếp Điện

Cấu tạo có bếp điện có mấy bộ phận chính là những thông tin cần thiết mà người dùng nên biết để hiểu hơn về sản phẩm, cách sử dụng hoặc có thể nhận biết các lỗi đơn giản và xử lý nhanh chóng. Vậy những bộ phận chính của bếp điện bao gồm những gì.

1, Bếp điện là gì?

Muốn biết cấu tạo và bếp điện có mấy bộ phận chính trước tiên bạn cần biết bếp điện là gì, thiết bị này hoạt động ra sao, có tác dụng như thế nào.

Bếp điện là thiết bị nấu nướng với phương thức hoạt động đơn giản chuyển hóa điện năng sang nhiệt năng, tỏa nhiệt và nấu chín thức ăn.

Sản phẩm ra đời từ những năm 1850 với cấu tạo rất đơn giản có 2 bộ phận chính khá đơn giản chỉ gồm một cuộn dây maiso và đế chịu nhiệt một số loại có thêm mặt kính những không có khả năng chịu nhiệt cao như bây giờ.

Ngoài ra có một số loại bếp nấu ăn có nguyên lý hoạt động và cấu tạo với các bộ phận chính tương tự bếp điện nên cũng được gọi với cái tên này như:

Bếp điện halogen cấu tạo gồm hệ thống bóng đèn được ghép với nhau tạo thành những đĩa nhiệt có khả năng sinh nhiệt cao, nhược điểm của dòng bếp này là tuổi thọ các bóng đèn không cao.

Bếp điện hồng ngoại có các bộ phận chính là vòng dây sinh nhiệt phủ một lớp cacbon tỏa nhiệt và mặt kính. Bếp hồng ngoại là thế hệ mới nhất, cải tiến nhất của bếp điện.

2, Cấu tạo của bếp điện gồm những bộ phận chính nào?

Cấu tạo sản phẩm sẽ cho chúng ta biết bếp điện có mấy bộ phận chính, những bộ phận này có vai trò như thế nào, tác dụng ra sao.

Bếp điện gồm 2 bộ phận chính:

Bếp điện chi ra làm 2 loại chính dựa theo đặc điểm thiết kế

Dây đốt nóng được Quấn thành lò xo và đặt vào rãnh của thân bếp được làm từ các vật liệu có khả năng chịu nhiệt tốt như đất. Hai đầu dây đốt nóng được luồn trong chuỗi sứ hạt cườm.

Bếp điện thiết kế nhỏ gọn đơn giản có thể kê đặt ở bất cứ vị trí nào trong bếp tuy nhiên, đặc điểm thiết kế bếp điện kiểu hở nên tỏa nhiệt nóng hơn, thất thoát nhiệt nhiều hơn và đặc biệt nguy hiểm hơn.

Cấu tạo bếp điện kiểu kín cũng có thiết kế rất đơn giản với các bộ phận chính như Dây đốt nóng được đúc kín trong ống dẫn có khả năng chịu nhiệt và bao quanh dây đốt nóng.

Cuộn dây được đặt trên một bộ phấn chính thứ 2 được gọi là thân bếp có vai trò như giá đỡ của bếp điện. Thân bếp được làm từ các loại chất chịu nhiệt và không dẫn điện, nhiệt bảo vệ

Bộ phận mặt kính bếp điện làm bằng kính cường lực chịu nhiệt và chịu lực tốt, và trang bị thêm đèn báo hiệu, nút điều chỉnh nhiệt độ với màn hình hiển thị công suất, nhiệt độ, chương trình nấu…

Bếp điện tuy có cấu tạo đơn giản với các 2 bộ phận chính nhưng mang lại hiệu quả nấu nướng cao cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì bếp điện đang dần thay thế cho bếp gas truyền thống.

3, Bếp điện có tốn điện không?

Cấu tạo bếp điện có mấy bộ phận chính rất đơn giản và dễ tìm hiểu bên cạnh đó, với một thiết bị điện người dùng thương quan tâm đến khối lượng điện tiêu thụ của sản phẩm này để biết bếp điện có tốn điện không.

Các dòng bếp điện trên thị trường hiện nay thường có mức công suất khoảng 2000w cho một chiếc bếp từ đôi. Tính thời gian sử dụng thực tế bếp điện hoạt động hết công suất

Mỗi bữa ăn khoảng 30 phút, mỗi ngày nấu ăn đều 2 bữa, như vậy khối lượng điện tiêu thụ mỗi ngày của bếp điện là

1h x 2000W= 2KW tương đương với 2 số điện,

Mỗi tháng 30 ngày số điện tiêu thụ là

30 x 2KW = 60KW tương đương 60 số điện.

Tính theo giá nhà nước, mỗi 1 số điện tính trung bình khoảng 1.500đ/kw