Top 9 # Xem Nhiều Nhất X Là Một Tetrapeptit Cấu Tạo Từ Amino Acid Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Amino Acid Là Gì ? Tác Dụng Và Thực Phẩm Chứa Amino

Amino acid là gì ?

Phân biệt amino acid và axit amin

Cấu trúc của amino acid

L và D amino acid

Các loại amino acid

Amino acid thiết yếu

Amino acid không thiết yếu

Amino acid có tác dụng gì ?

Amino acid có trong thực phẩm nào

Amino acid nào tốt nhất ?

Thuốc tăng cơ amino acid là gì ?

Amino có giúp giảm mỡ không ?

Amino có giúp tăng cân không ?

Để đảm bảo sức khỏe cũng sở hữu một thân hình đẹp, thì chế độ dinh dưỡng là một yếu tố vô cùng quan trọng. Đặc biệt là với những người đang tập luyện thể hình để xây dựng cơ bắp.

Trong đó, chắc hẳn bạn thường nhận được lời khuyên là nên nạp đầy đủ amino acid. Vậy amino acid là gì ? Chúng có tác dụng như thế nào đối với sức khỏe ? Liệu việc tiêu thụ amino acid có gây hại hay không ?

Amino acid là gì ?

Amino acid là các hợp chất hữu cơ chứa 1 nhóm carboxyl (-COOH) và 1 nhóm amino (-NH₂). Nói một cách dễ hiểu hơn, thì chúng là các hợp chất được tạo thành bởi các phân tử nitơ, cacbon, hydro và oxy, cùng với một nhóm chuỗi bên.

Amino acid là các khối xây dựng của protein. Nói cách khác, chúng là các đơn vị cấu tạo nên protein. Amino acid chiếm một tỷ lệ lớn trong thành phần của cơ bắp và các mô.

Ngoài ra, các loại thực phẩm giàu protein như thịt, cá, thịt gia cầm, trứng đều được cấu tạo bởi rất nhiều loại amino acid khác nhau. Sau khi được tiêu hóa, thì protein sẽ bị phân giải thành các amino acid.

Sau đó, amino acid lại được cơ thể tổng hợp để tạo thành protein, nhằm phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau. Amino acid có nhiều loại, mỗi loại lại có một vai trò cụ thể và được phân biệt bằng cách chuỗi bên (side chains) trong cấu trúc.

Loại hợp chất này tham gia vào hầu hết các quá trình sinh học trong cơ thể. Và chúng có thể giúp hỗ trợ làm lành vết thương, sản xuất hormone, chức năng miễn dịch, phát triển cơ bắp, sản xuất năng lượng.

Cơ thể của chúng ta cần tất cả các amino acid để hoạt động và phát triển. Tuy nhiên, có một số loại amino acid có thể tự sản xuất được bởi cơ thể. Trong khi các amino acid còn lại sẽ cần được lấy từ thực phẩm.

Việc nạp đủ amino acid thông qua chế độ dinh dưỡng hoặc thực phẩm bổ sung có thể giúp thúc đẩy giảm cân, duy trì cơ bắp, cải thiện hiệu suất tập luyện, cải thiện tâm trạng và giấc ngủ.

Phân biệt amino acid và axit amin

Khi tham khảo tài liệu trên internet, chắc hẳn bạn đã từng bắt gặp rất nhiều khái niệm gần giống với amino acid. Nào là axit amin, amino axit hay thậm chí là acid amin. Vậy, những khái niệm này có ý nghĩa gì?

Trong các tài liệu nghiên cứu và tài liệu từ các tổ chức uy tín trên thế giới, thì “amino acid” là khái niệm tiêu chuẩn và được sử dụng nhiều nhất. Còn tại VN thì amino acid sẽ được Việt hóa thành axit amin.

Tuy nhiên, tất cả các khái niệm khác ngoài amino acid và axit amin đều là những thuật ngữ không tồn tại. Nếu bạn bắt gặp bất kỳ nguồn tài liệu nào sử dụng khái niệm “amino axit” hay “acid amin” thì đó đều là kiến thức rác “nửa nạc nửa mỡ”.

Thể Hình Vip đã từng bắt gặp trường hợp có 1 trang web sử dụng khái niệm “amino axit” vì họ nhìn thấy chúng trong 1 video trên youtube. Do không có kiến thức nên trang web này đã copy hoàn toàn nội dung mà không biết đúng sai.

Cấu trúc của amino acid

Protein được tạo thành từ hàng trăm đơn vị nhỏ hơn được gọi là amino acid. Các hợp chất amino acid này được gắn vào với nhau bởi liên kết peptide và hình thành nên một chuỗi dài.

Để dễ hiểu, bạn hãy tưởng tượng protein là một chuỗi hạt cườm, trong đó mỗi hạt cườm là một amino acid. Tất cả các amino acid đều có 5 thành phần cơ bản. Các thành phần này là:

Một nguyên tử carbon ở trung tâm, một nguyên tử hydro, một nhóm amino (NH₂) – bao gồm một nguyên tử nitơ và 2 nguyên tử hydro, một nhóm carboxyl (COOH) – bao gồm 1 nguyên tử cacbon, 2 nguyên tử oxy và 1 nguyên tử hydro.

Và cuối cùng là một nhóm R (R-group) hoặc còn được gọi là side chain (chuỗi bên) bao gồm nhiều nguyên tử khác nhau. Xét về cấu tạo, chuỗi bên là yếu tố khiến mỗi loại amino acid trở nên khác biệt.

Nói cách khác, mỗi loại amino acid sẽ có một cấu trúc chuỗi bên khác nhau. Các chuỗi bên này chủ yếu chứa các nguyên tử hydro, cacbon và oxy. Tuy nhiên, một số amino acid còn chứa cả nguyên tử lưu huỳnh và nitơ trong chuỗi bên.

Một nguyên tử carbon ở trung tâm

Một nguyên tử hydrogen

Một nhóm amino

Một nhóm carboxyl

Một nhóm R (side chain)

Khái niệm “amino acid” thật ra là phiên bản rút gọn của “α-amino carboxylic acid” (alpha-amino carboxylic acid). Mỗi phân tử amino acid đều có một nguyên tử cacbon (carbon) ở trung tâm.

Nguyên tử này được gọi là alpha carbon (Cα / α-carbon). Các nhóm amino, nhóm carboxyl, nguyên tử hydro và chuỗi bên sẽ liên kết trực tiếp với nguyên tử alpha carbon này.

L và D amino acid

Xét về mặt cấu trúc thì amino acid có 2 phiên bản, đó là L và D amino acid. L và D amino acid là hình ảnh phản chiếu của nhau và không phải là phiên bản superimposable của nhau, giống như bàn tay trái và bàn tay phải.

Bởi vì L và D amino acid không phải là phiên bản superimposable của nhau, nên chúng sẽ không khớp nhau khi được đặt chồng lên nhau. Nói cách khác, chúng chỉ là hình ảnh phản chiếu của nhau chứ không có cùng cấu trúc.

Và một cặp amino acid như vậy được gọi là enantiomers (đồng phân đối quang). Mỗi một enantiomer là một trong 2 stereoisomers (đồng phân lập thể) và là hình ảnh phản chiếu của nhau.

Trong L và D amino acid, thì chỉ có duy nhất L-amino acid là thành phần của protein. Cơ thể của chúng ta tự tổng hợp hầu hết các L-amino acid, và sau đó được sử dụng để tổng hợp thành protein.

Protein là chất xúc tác cho hầu hết các phản ứng sinh hóa diễn ra trong cơ thể. Cùng với DNA và RNA, protein tạo thành bộ máy gene di truyền của các sinh vật sống. Và protein thường được gọi là các “khối xây dựng” của cuộc sống.

Các loại amino acid

Vừa rồi chúng ta đã tìm hiểu về cấu trúc của amino acid. Còn bây giờ sẽ là phần nội dung đi sâu hơn vào các loại amino acid cụ thể. Amino acid có rất nhiều cách phân loại khác nhau.

Tuy nhiên, cách được sử dụng nhiều nhất là phân loại chúng dựa trên nhu cầu của cơ thể. Dựa trên nhu cầu, amino acid được chia thành 2 nhóm chính, đó là essential amino acids (amino acid thiết yếu)…

Và non-essential amino acids (amino acid không thiết yếu). Trước khi đi sâu hơn vào từng nhóm cụ thể thì chúng ta cần hiểu được một khái niệm được gọi là “proteinogenic amino acid”.

Proteinogenic amino acids là các loại amino acid có thể được tổng hợp thành protein thông qua quá trình translation. Trong proteinogenic amino acid, chữ “proteinogenic” có nghĩa là “protein creating” (tạo ra protein).

Trong gene di truyền của con người có 22 loại genetically encoded (proteinogenic) amino acids. Hay nói theo một cách khác, thì trong gene của chúng ta chỉ có 22 loại amino acid có thể tổng hợp thành protein.

Tuy nhiên, trong 22 loại amino acid này, thì chỉ có 20 loại là amino acid có standard genetic code (có mã di truyền tiêu chuẩn, dễ tổng hợp thành protein). Đối với 2 loại amino acid còn lại thì chúng cũng có thể được tổng hợp thành protein.

Thế nhưng chúng sẽ cần có cơ chế translation đặc biệt hơn. Hai loại amino acid đặc biệt này là Selenocysteine và Pyrrolysine. Và do chúng khó tổng hợp thành protein, nên chúng ta chỉ xét đến 20 loại amino acid có mã di truyền tiêu chuẩn.

Trong 20 loại amino acid tiêu chuẩn này thì có 9 loại mà cơ thể của chúng ta không thể tự tổng hợp được. Và chúng cần được nạp vào cơ thể thông qua các loại thực phẩm.

Amino acid thiết yếu

Nhóm 9 loại amino acid này được gọi là amino acid thiết yếu (essential amino acids). Nhóm amino acid thiết yếu bao gồm: histidine, isoleucine, leucine, lysine, methionine, phenylalanine, threonine, tryptophan và valine.

Trước đây, có rất nhiều tranh luận về việc có 8 hay 9 loại amino acid thiết yếu. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các nguồn thông tin uy tín đều cho rằng có 9 loại thiết yếu. Bởi vì histidine không thể tự tổng hợp được ở những người trưởng thành.

Tuy nhiên, vẫn có một số ý kiến cho rằng, histidine là amino acid thiết yếu có điều kiện (conditionally essential amino acids). Thậm chí có người còn loại bỏ chúng khỏi nhóm thiết yếu.

Amino acid không thiết yếu

Bên cạnh nhóm amino acid thiết yếu, có 11 amino acid mà cơ thể có thể tự tổng hợp được. Nhóm 11 amino này được gọi là amino acid không thiết yếu (non-essential amino acids).

Nhóm amino acid không thiết yếu bao gồm: alanine, arginine, asparagine, aspartic acid (aspartate), cysteine, glutamic acid (glutamate), glutamine, glycine, proline, serine và tyrosine.

Sở dĩ 11 amino acid này được xếp vào nhóm “không thiết yếu” là bởi vì chúng ta không nhất thiết phải nạp chúng từ thực phẩm. Chứ điều đó không có nghĩa là 11 loại amino acid này không quan trọng đối với cơ thể.

Trên thực tế, tất cả 20 loại amino acid đều quan trọng và có một vai trò nhất định trong cơ thể. Trong nhóm 11 amino acid không thiết yếu, một vài loại có thể trở thành “thiết yếu” trong một số trường hợp nhất định.

Ví dụ như khi bị bệnh nặng hoặc stress. Bởi vì khi đó cơ thể không còn khả năng tự tổng hợp được các amino acid này nữa. Nhóm amino “2 mang” này được gọi là “conditionally essential amino acids”.

Conditionally essential amino acids

Semi-essential amino acids

Dịch ra có nghĩa là các amino acid thiết yếu có điều kiện (chỉ trở thành thiết yếu trong một số điều kiện). Ngoài ra, chúng còn có tên gọi khác là amino acid bán thiết yếu (semi-essential amino acids).

Theo nghiên cứu của trường Baylor College of Medicine (USA) và một số nghiên cứu khác, chúng ta có 7 amino acid thiết yếu có điều kiện, đó là: arginine, cysteine, glutamine, tyrosine, glycine, proline và serine.

Amino acid có tác dụng gì ?

Vừa rồi chúng ta đã tìm hiểu về 20 loại amino acid (axit amin) quan trọng trong cơ thể. Vậy cụ thể thì 20 loại amino acid này có tác dụng gì ? Chúng sẽ mang lại lợi ích gì khi chúng ta bổ sung đầy đủ ?

Amino acid có tác dụng chống viêm

Một nghiên cứu của trường S.N. Medical College Jodhpur (Ấn Độ) đã chỉ ra rằng, việc cung cấp amino thông qua đường miệng (chế độ ăn uống) cho thấy khả năng chống viêm.

Không chỉ vậy, nhiều nghiên cứu khác cũng đã kết luận rằng, các amino acid trong nhóm BCAA có thể giúp chống viêm trong cơ bắp và các khớp. Từ đó giúp chúng ta tập luyện lâu hơn và hiệu quả hơn.

Amino acid hỗ trợ phát triển cơ bắp

Một nghiên cứu của trường University of Texas Medical Branch (USA) cho thấy việc bổ sung các amino acid thiết và arginine giúp cải thiện khối lượng cơ bắp nạc, sức mạnh và khả năng hoạt động thể chất.

Bên cạnh đó, một nghiên cứu của viện công nghệ Nagoya (Nhật Bản) còn chỉ rằng, việc bổ sung BCAA làm giảm mức độ dị hóa cơ trong lúc tập. Ngoài ra, leucine giúp thúc đẩy mạnh sự tổng hợp protein trong cơ bắp.

Amino acid hỗ trợ giảm cân

Theo một nghiên cứu của trường College of Charleston (USA), sau khi sử dụng BCAA kết hợp tập luyện kháng lực trong 8 tuần… Các đối tượng giảm phần trăm body fat một cách đáng kể…

Khi so với whey protein hoặc các loại nước uống thể thao. Trong đó, nhóm đối tượng tiêu thụ BCAA giảm phần trăm body fat nhiều hơn gần gấp 4 lần so với nhóm tiêu thụ nước uống thể thao.

Và nhiều hơn gấp 2 lần so với nhóm dùng whey. Trong trường hợp chưa biết về body fat cũng như cách tính chỉ số này thì bạn hãy tham khảo bài viết body fat là gì của Thể Hình Vip

Amino acid chống mất cơ bắp

Khi tập luyện cường độ cao, cơ bắp có thể bị dị hóa để làm nhiên liệu hoạt động. Từ đó, làm giảm khối lượng cơ. Tuy nhiên, chúng ta có thể khắc phục việc này bằng cách bổ sung amino acid (axit amin).

Trong một nghiên cứu của trường Baylor University (USA), người ta tiến hành thí nghiệm trên 19 người đàn ông. Trong đó, nhóm 1 được tiêu thụ 20 grams protein (chứa 6 grams là free amino acids).

Còn nhóm 2 được tiêu thụ giả dược dextrose. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học thấy rằng nhóm tiêu thụ protein và amino gia tăng myofibrillar protein và mức độ tổng hợp protein nhiều hơn so với nhóm dùng giả dược.

Không chỉ vậy, trong một nghiên cứu khác của trường Northumbria University (Uk), việc sử dụng BCAA cải thiện mức độ tổng hợp protein. Từ đó, làm giảm mức độ tổn thương cơ bắp.

Amino acid cải thiện khả năng nhận thức

Một nghiên cứu của trường Vrije Universiteit Amsterdam (Hà Lan) đã chỉ ra rằng, việc bổ sung tyrosine làm giảm hiệu ứng stress và mệt mỏi lên khả năng nhận thức. Bên cạnh đó, theo tài liệu của Viện nghiên cứu Institute of Medicine US…

Tryptophan là một amino acid cần thiết cho việc tối ứu chức năng não và khả năng nhận thức. Việc tăng hoặc giảm nồng độ tối ưu của tryptophan sẽ làm rối loạn đáng kể hành vi và chức năng não.

Amino acid làm giảm mệt mỏi

Theo một nghiên cứu của trường Karolinska Institute (Thụy Điển), việc bổ sung BCAA làm giảm cảm giác gắng sức và sự mệt mỏi trí não trong quá trình tập luyện. Không chỉ vậy, chúng còn có thể cải thiện khả năng nhận thức sau buổi tập.

Ngoài ra, trong một nghiên cứu khác của một phòng thí nghiệm tại Thụy Điển, việc bổ sung BCAA làm giảm cảm giác gắng sức thấp hơn 7%, và sự mệt mỏi trí não thấp hơn 15% so với việc tiêu thụ giả dược.

Amino acid có trong thực phẩm nào ?

Amino acid có nhiều trong các nhóm thực phẩm sau: thực phẩm có nguồn gốc động vật, hải sản, các loại hạt – đậu, ngũ cốc… Đầu tiên là nhóm thực phẩm có nguồn gốc động vật…

Protein đến từ nguồn thực phẩm này thường được gọi là protein hoàn chỉnh. Bởi vì chúng chứa tất cả các amino acid thiết yếu. Các loại thực phẩm trong nhóm này bao gồm: thịt bò, heo, gà, trứng.

Hoặc các chế phẩm từ sữa như sữa tươi, phô mai, yogurt… Đối với hải sản thì chúng bao gồm cá hồi, ngừ, tôm, cua… Loại thực phẩm này không chỉ giàu amino acid mà còn cung cấp omega-3, rất tốt cho sức khỏe.

Protein động vật

Chế phẩm từ sữa

Các loại hải sản

Các loại hạt, ngũ cốc

Ở một khía cạnh khác, các loại hạt thường là loại thực phẩm có protein không hoàn chỉnh. Bởi vì chúng thường thiếu 1 hoặc nhiều amino acid (axit amin). Để khắc phục điều này…

Bạn cần kết hợp nhiều loại đậu và hạt để có đủ số lượng amino acid thiết yếu. Bên cạnh đó, đậu nành là một trong số ít các loại thực phẩm thực vật có đủ các amino acid thiết yếu.

Amino acid nào tốt nhất ?

Trong số 20 loại proteinogenic amino acid, thì chúng ta chỉ cần tập trung vào 9 loại thiết yếu. Bởi vì các loại còn lại đã được cơ thể tự tổng hợp, và chúng ta không cần phụ thuộc vào thức ăn để đáp ứng nhu cầu của các amino acid này.

Vậy, trong 9 loại amino acid này thì loại nào sẽ tốt nhất? Đối với những người tập gym thì chúng ta sẽ cần tiêu thụ các loại giúp hỗ trợ tăng cơ bắp, giảm cân hoặc tăng cường hiệu suất tập luyện.

Dựa theo các tiêu chí này, thì các amino acid tốt nhất là sẽ histidine, leucine, lysine, valine. Xét ở khía cạnh khác, nếu muốn chọn các loại thực phẩm bổ sung amino acid tốt nhất, thì bạn nên lựa chọn dựa theo các yếu tố như sau.

Các yếu tố này là: thành phần của sản phẩm và tỷ lệ phần trăm của các amino acid thiết yếu. Đối với thành phần sản phẩm thì bạn nên chọn các sản phẩm có các amino acid thiết yếu là thành phần chủ yếu.

Ví dụ nếu 1 liều dùng của sản phẩm là 10 grams, thì lượng amino acid thiết yếu không nên chênh lệch quá nhiều so với con số này. Việc độn các loại amino khác để thay thế EAA là không cần thiết, vì cơ thể chúng ta có thể tự tổng hợp được chúng.

Bên cạnh đó, để phát triển cơ bắp hiệu quả thì các amino acid cần có tỷ lệ cân bằng. Bạn không nên chọn các sản phẩm chỉ có hàm lượng amino acid cao ở một vài loại, còn các amino khác lại quá thấp.

Thuốc tăng cơ amino acid là gì ?

Một số người thiếu kiến thức thường thắc mắc rằng: “amino là thuốc gì”, “thuốc tăng cơ amino là gì”… Tuy nhiên, amino (hay chính xác là amino acid) không phải là thuốc.

Lý do đã được trình bày ở phần “Amino acid là gì ?”. Xét ở khía cạnh khác, mặc dù các loại thực phẩm bổ sung amino acid (axit amin) có thể giúp ích cho việc gia tăng cơ bắp.

Nhưng điều này không có nghĩa là chúng sẽ giúp bạn chắc chắn tăng cơ sau khi sử dụng. Để gia tăng kích thước cơ bắp thì bạn cần phải tập luyện để kích thích các sợi cơ phát triển.

Không một loại thuốc nào có thể giúp bạn nằm một chỗ mà có thể tăng cơ bắp. Vì vậy, bạn cần loại bỏ khái niệm “thuốc tăng cơ amino” ra khỏi đầu nếu muốn phát triển cơ hiệu quả.

Amino có giúp giảm mỡ không ?

Tương tự như việc tăng cơ, để giảm mỡ hiệu quả, bạn cần áp dụng chế độ ăn đúng cách kết hợp với việc tập luyện. Mặc dù, một số loại amino acid (axit amin) có tác dụng hỗ trợ việc giảm cân, giảm mỡ.

Tuy nhiên, nếu không thỏa mãn được các yếu tố kể trên thì amino acid sẽ không phát huy tác dụng. Trong trường hợp chưa biết cách giảm cân, giảm mỡ hiệu quả thì bạn hãy tham khảo bài viết này của Thể Hình Vip.

Amino có giúp tăng cân không ?

Nếu xét trên khía cạnh tăng cân, thì điều này là không chính xác. Mục đích chính của chúng ta khi sử dụng amino là để bổ sung thêm các amino acid để thỏa mãn nhu cầu của cơ thể, chứ không phải là để tăng cân.

Nếu muốn tăng cân thì bạn cần nạp một lượng lớn calo. Thế nhưng, vài grams amino acid sẽ không giúp ích nhiều trong vấn đề này. Nếu muốn tăng cân hiệu quả thì bạn nên tham khảo cách tăng cân của Thể Hình Vip.

Cấu Tạo Một Từ Tiếng Hàn Quốc

Với bài viết Bảng chữ cái Hàn Quốc, chúng ta đã biết được rằng: hiện nay, trong hệ thống bảng chữ  Hangul có tất cả 40 chữ cái, với 21 nguyên âm và 19 phụ âm. Trong đó có 24 chữ cơ bản và 16 chữ được ghép từ các chữ cơ bản tạo thành.

Vậy thì hôm nay chúng ta đã có các nguyên liệu để tạo thành một từ trong tiếng Hàn rồi. Cũng giống như tiếng Việt, tiếng Hàn là loại ngôn ngữ ghép.

Trong một từ tiếng Hàn gồm 3 bộ phận:

phụ âm (có thể có hoặc không) + nguyên âm (bắt buộc) + phụ âm cuối hay còn gọi là patchim 받침 (có thể có hoặc không)

Trước khi bắt đầu, Trang muốn bắt đầu với một bảng phụ âm cuối mà trong bài viết trước của Trang chưa đề cập đến. Trong cấu tạo của một từ tiếng Hàn, các bạn sẽ thấy có một phụ âm cuối mà người ta gọi là patchim 받침. Patchim có là 2 loại gồm phụ âm cuối đơn và phụ âm cuối kép.

Với phụ âm cuối đơn ta sẽ có như sau:

ㄱ, ㅋ, ㄲ → [k]

ㄴ → [n]

ㄷ,ㅅ,ㅈ,ㅊ,ㅌ,ㅎ,ㅆ → [t]

ㄹ → [t]

ㅁ → [l]

ㅂ,ㅍ → [p]

ㅇ → [ng]

Với phụ âm cuối kép ta lại có chia làm 2 loại phát âm để phân chia:

Phát âm theo âm trước gồm: ㄵ, ㄶ, ㄼ, ㅄ

앉다 [안따] (động từ “ngồi”), 많다 [만타] (tính từ: “nhiều”), 없다[업따](động từ: “không có”), 값[갑](danh từ “giá”)

Phát âm theo âm sau: ㄺ, ㄻ

닭[닥](danh từ: “gà”), 밝다[[박다](tính từ: “sáng”), 맑다[말다](tính từ: “trong sáng”), 젊다[점다](tính từ: “trẻ”)

Cấu trúc: nguyên âm đơn

Đây là cấu trúc từ đơn giản nhất. Để có được một từ nguyên âm đơn thì trước nguyên âm chúng ta phải có “ㅇ”.

Ví dụ:

아이: em bé

여우: con cáo

오이: dưa leo, dưa chuột

왜: vì sao, tại sao

이: số 2

우유: sữa

2. Cấu trúc gồm: phụ âm + nguyên âm

Cấu trúc này sẽ gồm một phụ âm và một nguyên âm đơn hoặc kép đi cùng.

Ví dụ:

가 =ㄱ + ㅏ :động từ “đi”

하= ㅎ + ㅏ: động từ “làm”

과 = ㄱ + ㅘ : liên kết từ: “và”

3. Cấu trúc gồm: phụ âm + nguyên âm đơn hoặc kép + phụ âm cuối

Cấu trúc này gần như là cấu trúc đầy đủ của một từ trong tiếng Hàn. Bao gồm một phụ âm đứng đầu, tiếp theo là một nguyên âm đơn hoặc nguyên âm kép và cuối cùng sẽ gồm một phụ âm cuối hay còn được gọi là patchim (받침)

Ví dụ:

강 =ㄱ + ㅏ + ㅇ

공 = ㄱ + ㅗ + ㅇ

광 = ㄱ + ㅘ + ㅇ

4. Cấu trúc gồm: phụ âm + nguyên âm + hai phụ âm kết thúc

 Cấu trúc này khác với cấu trúc 3 ở điểm, phụ âm cuối kết thúc sẽ gồm 2 phụ âm gộp lại để tạo thành 1 phụ âm cuối hoàn chỉnh.

Ví dụ:

없 = ㅇ + ㅓ + ㅂ + ㅅ

많 = ㅁ + ㅏ + ㄴ + ㅎ

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Hyaluronic Acid Là Gì? Công Dụng Của Hyaluronic Acid Với Da

Hyaluronic acid (HA) là một thành phần dưỡng da được các tín đồ trong thế giới skincare tìm hiểu và chia sẻ nhiều trong thời gian gần đây, được biết đến như thành phần siêu việt “nhỏ mà có võ” với khả năng giữ nước gấp 1000 lần trọng lượng của nó, HA được chứng minh là có khả năng chống lão hóa, làm đầy nếp nhăn hữu hiệu. Liệu thành phần này có thần thánh như lời đồn?

Hyaluronic acid là gì?

Chất Hyaluronic Acid (HA) được khám phá ra lần đầu tiên vào khoảng năm 1934, tách ra từ mắt bò, cái tên Hyaluronic có nghĩa là trong suốt như thủy tinh. Đến năm 1951 các nhà khoa học mới xác định rõ cấu trúc của HA là một phân tử đường, tên khoa học Polysaccharide, có khối lượng phân tử nằm trong khoảng 600.000 đến 1.000.000 đơn vị Dalton, lớn hơn rất nhiều phân tử đường thông thường (340 Dalton). Cấu trúc này đem đến cho HA khả năng giữ nước vượt trội, 1 gram HA có thể giữ tới 6l nước.

Tuy vậy, phải tới những năm đầu của thập niên 80, HA mới được đưa vào ứng dụng trong ngành mỹ phẩm. Nghiên cứu cho thấy rằng Hyaluronic acid không chỉ là một thành phần xu hướng, nó là một trong những thành phần chăm sóc da tốt nhất nên sử dụng.

Hyaluronic acid góp phần hỗ trợ duy trì vẻ tươi trẻ của làn da. Là glycosaminoglycan chính trong da, axit hyaluronic hoạt động để giữ cho mọi khía cạnh của da ổn định, được bảo vệ và liên tục đổi mới. 

Các công ty sản xuất mỹ phẩm sử dụng HA trong các sản phẩm dưỡng da chống lão hóa như kem dưỡng ẩm gốc nước, serum và các sản phẩm chăm sóc da khác vì khả năng giúp tăng cường dưỡng ẩm cho mọi loại da, đặc biệt có lợi cho da khô, thiếu nước.

Với đặc tính nhờn và sệt, HA là sợi dây móc nối các phân tử nước đồng thời bôi trơn các bộ phận chuyển động như cơ và khớp. Trong đó khoảng 50% lượng HA của cơ thể tập trung tại khu vực collagen ở lớp trung bì của làn da, HA đóng vai trò như nguồn dinh dưỡng chính nuôi lớp màng collagen. Nhờ có Hyaluronic mà các sợi collagen được chăm sóc, giúp da tăng độ đàn hồi, giảm thiểu các nếp nhăn.

Tầm quan trọng của Hyaluronic acid

Trong cơ thể người tồn tại một lượng HA vào khoàng 15 gram và 1/3 trong số đó được sử dụng hàng ngày. Lượng HA sẽ biến đổi, tự sản sinh thêm nhờ 1 số enzyme đặc biệt. Tùy nhiên, theo thời gian, lượng HA trong cơ thể sẽ hao hụt dần trong khi việc sản sinh trở nên trì trệ khiến cho làn da chúng ta bị khô đi khi tuổi tác nhiều lên. Bên cạnh đó, làn da còn có thể bị mất dần độ ẩm bởi tác động từ môi trường và ánh nắng mặt trời cùng hàng loạt các nguyên nhân khác, vì vậy việc bổ sung HA là vô cùng cần thiết.

Theo bác sĩ da liễu Dennis Gross thì 20 là độ tuổi mà chúng ta nên bắt đầu sử dụng các sản phẩm chống lão hóa nhẹ, do đó HA có thể sử dụng từ năm 20 tuổi, thậm chí trước đó nếu da có dấu hiệu lão hóa sớm. Đến năm 40 tuổi, cơ thể chỉ có thể sản xuất được một nửa lượng HA cần thiết, phần còn lại cần bồi đắp từ bên ngoài.

Công dụng của HA đối với da

Ngậm nước cho làn da căng mọng

Điều kỳ diệu dựa trên khoa học nằm ở khả năng bổ sung độ ẩm của Hyaluronic acid. Một gam (hoặc 0,03 oz.) Hyaluronic acid có thể chứa tới sáu lít nước. Điều ấn tượng hơn nữa là nó không phá vỡ hàng rào tự nhiên của da.

Hyaluronic acid có tác dụng tăng cường độ ẩm cho da mà không thành phần nào có thể so sánh được. Nó cũng làm hồi sinh các lớp bề mặt bên ngoài của da, để chúng trông mềm mại hơn, mịn màng hơn và được ngậm nước rạng rỡ. Điều này giúp cải thiện ngay lập tức sự xuất hiện của các đường nhăn và nếp nhăn.

Cải thiện độ đàn hồi của da

Hyaluronic acid đi sâu vào da không những giúp nâng đỡ và cải thiện da. Mà còn kích thích quá trình tăng sinh collagen và elastin tăng độ đàn hồi, săn chắc, khắc phục tình trạng chảy xệ trả lại làn da căng bóng, chắc khỏe.

Dưỡng ẩm và làm mềm da

Đóng vai trò như một chất liên kết tế bào, Hyaluronic Acid làm rất tốt nhiệm vụ của mình đó là giữ nước giúp da căng mọng. Không những thế, thành phần này còn đóng vai trò như một liều thuốc bỏ tuyệt vời giúp nuôi dưỡng làn da sần sùi, thô ráp hiệu quả, trả lại vẻ láng mịn, tươi mới đầy sức sống.

Ngăn ngừa lão hóa

Đặc tính liên kết độ ẩm của Hyaluronic acid đặc biệt quan trọng đối với quá trình lão hóa da. Khi chúng ta còn trẻ, da của chúng ta có thể giữ nước và giữ được lượng ẩm cân bằng, nhưng nó sẽ mất khả năng này khi chúng ta già đi. Kết quả là da mất đi độ săn chắc, mềm dẻo và giảm độ căng mọng và mềm mại. Khi da được bổ sung Hyaluronic acid, da sẽ trở nên đủ ẩm, căng mọng từ đó ngăn ngừa được các dấu hiệu lão hóa sớm như vết nhăn nông hoặc nếp nhăn sâu hiệu quả.

Chính vì vậy, Hyaluronic acid được xem như một trong những yếu tố quan trọng quyết định vẻ tươi trẻ của làn da.

Cơ chế hoạt động của Hyaluronic acid

Khi đi vào môi trường nước của da, các phân tử Hyaluronic khuếch tán và gia tăng trọng lượng tới 500-1000 lần trọng lượng của mình, nó có khả năng hoạt động như một miếng mút hút ẩm từ môi trường bên ngoài và từ các tầng da bên dưới lên trên bề mặt da, giúp bề mặt da trở nên căng mọng, ngậm nước.

Chính bởi khả năng hút ẩm từ tầng dưới của da lên lớp thượng bì nên nếu bạn sử dụng HA mà không kèm theo chất khóa ẩm có thể dẫn đến hiện tượng “hút ẩm ngược”.

Hiện tượng này xảy xa khi độ ẩm bên ngoài dưới 70%, lúc này HA sẽ hút ẩm từ mô liên kết dưới da lên tầng thượng bì trả lại cho môi trường, làn da sẽ bị khô từ bên trong.

Vậy nên sau khi dùng HA, chúng ta nên sử dụng thêm kem dưỡng ẩm hoặc sản phẩm khác chứa thành phần khóa ẩm, nhằm “khóa chặt” lớp màng ẩm của da, ngăn ngừa tình trạng mất nước.

Ngoài ra, Hyaluronic Acid có thể mất đi hiệu quả nếu bước dưỡng da sau đó chứa các chất gây kích ứng như: hương liệu hay cồn xấu. Điều này lý giải tại sao một số bạn sử dụng HA nhưng lại không nhận được kết quả như mong muốn.

Sản phẩm có chứa thành phần Hyaluronic Acid đang được bán tại Paula’s Choice

Sử dụng sản phẩm chứa HA là một cách giúp cung cấp độ ẩm cho làn da, làm đầy các nếp nhăn, đồng thời bảo vệ da khỏi những tác động có hại từ môi trường từ đó đem lại cho bạn làn da mướt mát và phẳng mịn.

Axit hyaluronic và Natri Hyaluronate

Điều đó có nghĩa là natri hyaluronate tốt hơn axit hyaluronic?

Không! Trên thực tế, triết lý của Paula’s Choice là thật tuyệt vời nếu các sản phẩm như kem dưỡng ẩm và kem dưỡng ẩm axit hyaluronic có chứa cả hai dạng thành phần, vì vậy làn da của bạn có thể gặt hái được nhiều lợi ích ở nhiều cấp độ. Có một số sản phẩm trên thị trường có chứa cả hai thành phần, nhưng vì axit hyaluronic đắt hơn nên natri hyaluronate xuất hiện thường xuyên hơn trong các sản phẩm chăm sóc da.

Cách sử dụng Axit Hyaluronic trong quy trình chăm sóc da

Bây giờ bạn đã biết axit hyaluronic và natri hyaluronate có lợi cho da như thế nào, bạn có bao giờ tự hỏi rằng làm thế nào mà chúng tôi chọn ra được các thành phần để kết hợp trong các sản phẩm chăm sóc da?

Paula’s Choice Skincare thường cho cả hai dạng chất giữ ẩm anh hùng này trong công thức dưỡng ẩm, huyết thanh, toner và mặt nạ, vì vậy bạn có nhiều cách để bổ sung axit hyaluronic vào quy trình chăm sóc da của mình.

Axit hyaluronic cực kỳ nhẹ nhàng và hữu ích cho mọi loại da, ngay cả làn da dễ nổi mụn, da nhạy cảm, dễ bị mẩn đỏ nhất. Trên thực tế, ảnh hưởng tích cực của nó đối với bề mặt da một phần là do lợi ích làm dịu tự nhiên của nó. Mỗi công thức không chứa hương liệu sau đây đều chứa các thành phần giảm mẩn đỏ, dưỡng ẩm và chống oxy hóa giúp da mịn màng và mềm mại, đồng thời chúng cũng đủ dịu nhẹ ngay cả với những người có làn da dễ bị chàm và dễ bị bệnh rosacea.

Với kết cấu nhẹ mượt, hoàn hảo cho mọi loại da, Hyaluronic Acid Booster của chúng tôi không thể thiếu cho công thức dưỡng ẩm, làm mịn da, được hỗ trợ bởi ceramides để củng cố hàng rào tự nhiên của da. Thoa trực tiếp lên da sau khi làm sạch, cân bằng và tẩy tế bào chết, hoặc trộn vào serum/kem dưỡng ẩm yêu thích của bạn.

Những người có làn da khô đến rất khô sẽ thấy công thức giàu retinol của Resist Intensive Repair Cream của chúng tôi là lý tưởng. Công thức gồm natri hyaluronate, ceramides và peptide mang lại khả năng hydrat hóa giảm thiểu nếp nhăn.

Nếu bạn đang phải vật lộn với những nốt mụn và đang tìm kiếm loại kem dưỡng ẩm tốt nhất cho làn da bị mụn trứng cá, thì không cần tìm nữa, kem dưỡng ẩm không dầu Clear Oil – Free Moisturizer của chúng tôi là một sự lựa chọn lý tưởng dành cho bạn. Kết cấu kem dưỡng da tuyệt đối của nó có natri hyaluronate, ceramides, và chiết xuất quả việt quất để cung cấp độ ẩm và làm dịu mẩn đỏ.

Kem dưỡng ẩm phục hồi hàng đêm Defense của chúng tôi ngăn ngừa lão hóa sớm với công thức làm mới, phù hợp với mọi loại da chứa nhiều chất chống oxy hóa, siêu thực phẩm và natri hyaluronate giúp tăng cường khả năng bảo vệ của da qua đêm.

Đừng quên đôi môi của bạn! Hyaluronic Acid + Peptide Lip Booster của chúng tôi giúp tăng cường rõ rệt sự đầy đặn, mềm mịn, căng mọng của môi nhờ sự pha trộn của công thức axit hyaluronic acid + peptide giúp giữ cho độ ẩm tự nhiên của chúng không bị thoát ra ngoài. Từ đó giúp duy trì vẻ ngoài mịn màng, căng mọng cho đôi môi.

Bổ sung axit hyaluronic bằng đường uống

Uống hyaluronic acid có mang lại kết quả rõ ràng không?

Một nhóm nghiên cứu đang phát triển cho biết là có! Hóa ra việc uống axit hyaluronic bằng đường uống có thể cải thiện tích cực đến da. Lượng 120-150 miligam mỗi ngày đã được chứng minh là giúp tăng độ ẩm cho da, hỗ trợ vận chuyển các chất dinh dưỡng trong da, cải thiện rõ rệt độ đàn hồi và bổ sung cho kết quả làm đầy đặn, làm mịn nếp nhăn mà axit hyaluronic tại chỗ cung cấp.

Sự thật thú vị: Khi chúng ta già đi, hàm lượng axit hyaluronic tự nhiên trong da của chúng ta giảm xuống đáng kể. Những người trong độ tuổi từ 19 đến 47 có lượng axit hyaluronic trong da cao gấp đôi so với những người ở độ tuổi 50 và 60. Khi chúng ta bước vào độ tuổi 70, lượng đó còn giảm hơn nữa, làm cho các chất bổ sung axit hyaluronic càng trở nên quan trọng hơn, vì chúng giúp thay thế những gì da mất đi theo thời gian (và tất nhiên, tác hại của ánh nắng mặt trời tích lũy sẽ đẩy nhanh quá trình này và các quá trình lão hóa da khác) .

Lời kết

Các nghiên cứu về Hyaluronic Acid vẫn tiếp tục được tiến hành nhằm đưa ra những giải pháp tối ưu nhất ứng dụng HA trong các sản phẩm dưỡng da chống lão hóa. Tại thời điểm hiện tại, HA vẫn đang là thành phần hàng đầu trong việc nuôi dưỡng và kích thích quá trình sản sinh Collagen. Lựa chọn các sản phẩm có chứa Hyaluronic Acid chính là một cách tuyệt vời để lưu giữ thanh xuân cùng làn da tươi trẻ nhất.

Một Số Mô Hình Cấu Tạo Từ Ghép Chính Phụ Trong Tiếng Việt

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN

HOÀNG THỦY TIÊN

MỘT SỐ MÔ HÌNH CẤU TẠO TỪ GHÉP CHÍNH PHỤ TRONG TIẾNG VIỆT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. LÊ THỊ LAN ANH

HÀ NỘI – 2015

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN

HOÀNG THỦY TIÊN

MỘT SỐ MÔ HÌNH CẤU TẠO TỪ GHÉP CHÍNH PHỤ TRONG TIẾNG VIỆT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐỖ THỊ THU HƢƠNG

HÀ NỘI – 2015

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN ……………………………………………………………………………………… 4 LỜI CAM ĐOAN ………………………………………………………………………………… 5 MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………….. 6 1. Lý do chọn đề tài ………………………………………………………………………………. 6 2. Lịch sử vấn đề ………………………………………………………………………………….. 7 3. Nhiệm vụ nghiên cứu ………………………………………………………………………… 7 4. Phạm vi nghiên cứu …………………………………………………………………………… 7 5. Mục đích nghiên cứu …………………………………………………………………………. 7 6. Phƣơng pháp nghiên cứu ……………………………………………………………………. 7 7. Đóng góp …………………………………………………………………………………………. 8 8. Cấu trúc khóa luận ……………………………………………………………………………. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ……………………………………………………………. 9 1.1. Định nghĩa từ Tiếng Việt ………………………………………………………………… 9 1.1.1. Từ Tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng) ………………………………… 9 1.1.2. Từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết………………………………. 9 1.2. Đặc điểm từ tiếng Việt ………………………………………………………………….. 10 1.3. Đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt …………………………………………………… 6 1.3.1. Đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt …………………………………………………….. 6 1.3.2. Phương thức cấu tạo từ tiếng Việt ……………………………………………. 9 1.3.3. Các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt ………………………………………………… 10 1.4. Phân biệt từ ghép với cụm từ tự do …………………………………………………. 21

1.4.1. Dựa vào đặc điểm nghĩa và mối quan hệ giữa các yếu tố………………… 21 1.5. Các tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt …………………. 23 1.5.1. Cấu tạo theo một phƣơng thức nhất định và mang một ý nghĩa nhất định …………………………………………………………………………………………… 23 1.5.2. Hiện tƣợng chuyển di kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt ……………………. 24 CHƢƠNG 2: CÁC KIỂU CẤU TẠO TỪ GHÉP CHÍNH PHỤ TRONG TIẾNG VIỆT ……………………………………………………………………………………… 19 2.1. Kết quả thống kê ………………………………………………………………………….. 19 2.2. Miêu tả các mô hình ghép chính phụ trong tiếng Việt ……………………….. 20 2.2.1. Hình vị chính kết hợp với hình vị phụ chỉ màu sắc ……………………. 20 2.2.2. Hình vị chính kết hợp hình vị phụ chỉ hình dáng …………………….. 24 2.2.3. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp với hình vị phụ chỉ mùi vị ………………………………………………………………………………………………… 30 2.2.4. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp hình vị phụ chỉ nguyên liệu cấu tạo …………………………………………………………………………………. 32 2.2.5. Mô hình ghép hình phụ vị chính kết hợp hình vị phụ chỉ đặc điểm tính chất ……………………………………………………………………………………… 34 2.2.6. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp hình vị phụ chỉ đặc điểm vận hành ……………………………………………………………………………… 36 2.2.7. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp thành vị phụ chỉ đặc điểm chức năng ……………………………………………………………………………. 31 2.2.8. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp với hình vị phụ chỉ địa danh ……………………………………………………………………………………… 40

2.2.9. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp với hình vị phụ vay mượn tiếng nước ngoài………………………………………………………………….. 35 KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………….. 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………………. 40

LỜI CẢM ƠN Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi chân thành cảm ơn cô giáo – Tiến sĩ Đỗ Thị Thu Hƣơng, đã tận tình, trực tiếp hƣớng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này. Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2, Phòng Quản lý khoa học, Phòng đào tạo, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn cùng các phòng ban chức năng đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã có nhiều cố gắng nhƣng không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong và nhận đƣợc ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn độc giả, để cho khóa luận đƣợc hoàn thiện hơn. Hà Nội, tháng 05 năm 2015 Sinh viên Hoàng Thủy Tiên

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan khóa luận này đƣợc hoàn thành là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dƣới sự giúp đỡ của TS. Đỗ Thị Thu Hƣơng. Khóa luận này chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khác. Hà Nội, tháng 05 năm 2015 Sinh viên

Hoàng Thủy Tiên

MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Nhƣ chúng ta biết, tiếng Việt vô cùng phong phú và đa dạng (bao gồm: từ đơn, từ phức, trong từ đơn lại có đơn âm và đơn đa âm, trong từ phức có từ ghép và từ láy, trong từ ghép và từ láy lại có những hệ thống nhỏ hơn,…). Do đó, việc tìm hiểu về từ trong tiếng Việt là rất rộng. Trong khóa luận này chúng tôi tìm hiểu về: Một số mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ trong tiếng Việt. Trong số phƣơng thức ghép tiếng Việt, từ ghép chính phụ có khả năng sản sinh cao, mô hình cấu tạo từ chính phụ có khả năng đáp ứng nhu cầu giao tiếp của ngƣời Việt Nam. Việc sử dụng từ ghép chính phụ đạt hiệu quả cao trong nhu cầu giao tiếp luôn là mối quan tâm của mỗi chúng ta. Để hiểu đúng – hiểu trúng ý của ngƣời nói – ngƣời nghe, ngƣời viết với bạn đọc, trƣớc hết ngƣời giao tiếp phải giải nghĩa đƣợc các từ ghép chính phụ ấy. Do vậy, việc mở rộng vốn từ nâng cao sự hiểu biết về nghĩa của từ vựng tiếng Việt nói chung, từ ghép và từ ghép chính phụ nói riêng có vai trò rất quan trọng trong quá trình giao tiếp. Để đáp ứng nhu cầu giao tiếp của ngƣời Việt cũng nhƣ việc tìm hiểu về từ ghép từ ghép chính phụ và ý nghĩa của nó cho đến nay vẫn là một câu hỏi đối với chúng ta. Trƣớc thực trạng đó, ngƣời viết đi vào tìm hiểu đề tài này với mong muốn đƣợc học hỏi, nâng cao tri thức cho bản thân đồng thời để mọi ngƣời thấy đƣợc cái hay, cái đẹp của từ ghép – từ ghép chính phụ trong tiếng Việt, thấy đƣợc rõ mô hình cấu tạo của từ ghép chính phụ trong tiếng Việt ta. 2. Lịch sử vấn đề Tìm hiểu về “từ ghép” là đề tài lớn đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu và có những công trình nghiên cứu khác nhau. Các công trình này tập trung nghiên cứu phƣơng diện lý thuyết của từ ghép. Nói đến từ ghép chính phụ có thể kể đến một số công trình nghiên cứu nổi tiếng nhƣ: “Ngữ pháp tiếng Việt – Từ ghép – Đoản ngữ” tập hợp một số bài giảng về ngữ pháp tiếng Việt hiện đại cho sinh viên chuyên ngành ngôn

1

ngữ khoa Ngữ Văn Đại học tổng hợp Hà Nội, trong thời gian 1961 – 1969 của giáo sƣ Nguyễn Tài Cẩn. Hay cuốn giáo trình “Từ vựng ngữ nghĩa” của giáo sƣ Đỗ Hữu Châu. Công trình nghiên cứu của Đỗ Việt Hùng “Nhận thức cộng đồng người Việt về thế giới thông qua phương thức định danh sự vật hiện tượng của từ ghép chính phụ”. Bên cạnh đó không thể không kể đến cuốn “Từ điển tiếng Việt” của tác giả Hoàng Phê chủ biên. Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu về từ ghép trong tác phẩm văn học. Nhƣ vậy việc tìm hiểu từ ghép chính phụ còn chƣa nhiều và nó vẫn là một đề tài mới mẻ khơi nguồn cho nhiều cây bút. Có thể nói việc nghiên cứu từ ghép chính phụ trong tiếng Việt là đề tài chƣa ai bàn tới. Để hiểu rõ và thấy đƣợc cái hay của từ ghép, ngƣời viết xin phép đƣợc tìm hiểu về một số mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ trong tiếng Việt. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Nắm vững vấn đề lí thuyết về từ trong tiếng Việt, đặc điểm về từ Tiếng Việt, đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt. Khảo sát thống kê các mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ trong tiếng Việt. Phân tích các mô hình ghép chính phụ trong tiếng Việt. 4. Phạm vi nghiên cứu Khóa luận tập trung nghiên cứu về một số mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ trong tiếng Việt. Ngữ liệu phục vụ cho mục đích nghiên cứu đƣợc thống kê trong từ điển tiếng Việt. Ngoài ra, để thấy đƣợc sự phát triển của từ ghép chính phụ tiếng Việt, chúng tôi còn thống kê ngữ liệu trong một số tờ báo nhƣ Tạp chí ngôn ngữ và đời sống…Các từ ghép chính phụ đƣợc thống kê là những từ ghép đƣợc cấu tạo từ 2 đến 3 hình vị. 5. Mục đích nghiên cứu Khóa luận này tập trung nghiên cứu về các mô hình từ ghép chính phụ trong tiếng Việt. Qua nghiên cứu từ ghép nói chung và từ ghép chính phụ nói riêng để thấy đƣợc cách định danh sự vật và lối suy nghĩ của ngƣời Việt trong cách gọi tên sự vật. 6. Phƣơng pháp nghiên cứu

2

Trong khóa luận này chúng tôi sử dụng một số phƣơng pháp sau đây: – Phƣơng pháp thống kê, phân loại – Phƣơng pháp phân tích – tổng hợp – Phƣơng pháp so sánh – đối chiếu 7. Đóng góp 7.1. Đóng góp về lý luận Đề tài góp phần miêu tả một số mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ trong tiếng Việt, từ đó giúp cho việc nghiên cứu và phân tích từ ghép thêm đầy đủ hơn. Qua việc phân tích các mô hình ghép chính phụ, dề tài góp phần thấy đƣợc cách định danh sự vật của ngƣời Việt. 7.2. Đóng góp về thực tiễn Các kết quả nghiên cứu của đề tài là một nguồn tƣ liệu bổ ích đối với hoạt động dạy và học từ vựng nói chung, từ ghép nói riêng. 8. Cấu trúc khóa luận Ngoài phần Mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận gồm 2 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Các kiểu cấu tạo từ ghép chính phụ trong Tiếng Việt.

3

CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1. Định nghĩa từ Tiếng Việt Cho đến nay, trong ngôn ngữ cách định nghĩa về từ đƣợc đặt ra rất nhiều. Các định nghĩa ấy, về mặt này hay mặt khác đều đúng, nhƣng đều không đủ và không bao gồm đƣợc hết tất cả các đơn vị đƣợc coi là từ trong các ngôn ngữ và ngay cả trong từng ngôn ngữ cũng vậy. Trong khóa luận này tác giả đã tìm hiểu đƣợc một số định nghĩa về từ tiếng Việt của một số nhà nghiên cứu tên tuổi. 1.1.1. Từ Tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng) Tiêu biểu cho khuynh hƣớng này là M.B.Emenneu, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp. Theo Emeneaus định nghĩa: Từ bao giờ cũng tự do về mặt âm vị học, nghĩa là có thể miêu tả bằng những danh từ của sự phân phối các âm vị và bằng những thanh điệu [8, 5]. Theo Cao Xuân Hạo: Chúng ta hiểu tính đa dạng về tên gọi mà các tác giả khác nhau đã đề nghị cho đơn vị khác thường đó của các ngôn ngữ đơn lập là: tiết vị (syllabophoneme), hình tiết (morphosyllabeme), từ tiết (wordsyllabe), đơn tiết (monosyllabe) hoặc đơn giản là từ (word). Thực ra, nó chính là âm, hình vị hoặc từ và tất cả là đồng thời. Nếu chúng ta so sánh với các ngôn ngữ Châu Âu về cơ cấu xoay quanh ba trục được tạo thành bởi các đơn vị cơ bản là âm vị, hình vị và từ, thì cơ cấu của Tiếng Việt hầu như là sự kết hợp ba trục đó thành một trục duy nhất, âm tiết [8, 4]. 1.1.2. Từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết: Theo Trƣơng Văn Chình, Nguễn Hiến Lê: Từ là âm có nghĩa, dùng trong ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra đƣợc. Ví dụ: Bàn, ghế, thợ, thuyền, gia đình,…

4

Theo Nguyễn Văn Tu: Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức vạt chất, (vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính chất biện chứng và lịch sử. Theo Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa từ vựng, ngữ pháp và chức năng ngữ pháp. Theo Hồ Lê: Từ là đơn vị ngữ ngôn có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa [19, 9]. Theo Đỗ Hữu Châu: Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kết cấu tạo) nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu [4, 1]. Tóm lại, đứng từ các góc độ nghiên cứu đồng đại hay lịch đại khác nhau, do cách hiểu về khái niệm hình vị trong ngôn ngữ học đại cƣơng khác nhau, dẫn đến cách chọn đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt của các tác giả khác nhau, và theo đó, quan niệm về từ và cách xác định các kiểu cấu tạo từ cũng khác nhau. Phần tổng kết trên đã phần nào khái quát lên đƣợc tính phức tạp của tình hình nghiên cứu về từ trong tiếng Việt. Cho đến nay quan niệm có tính chất dung hòa nhất, phổ biến nhất, đƣợc nhiều ngƣời tán đồng, đặc biệt là phù hợp với chƣơng trình giảng dạy ở phổ thông là ý kiến của các tác giả thuộc nhóm 2. Trong đề tài này chúng tôi đồng quan điểm với GS.Đỗ Hữu Châu 1.2. Đặc điểm của từ tiếng Việt Từ tiếng Việt có những đặc điểm sau đây: Từ tiếng Việt có thể biến thể ngữ âm hoặc ngữ nghĩa nhƣng không có biến thể hình thái học. Trong các ngôn ngữ Ấn – Âu, có thể biến thể về mặt hình thái. Thí dụ: to go có thể có các biến thể goes, going, gone, went theo các quan hệ ngữ pháp khác nhau trong câu. Nhƣng trong tiếng Việt không có

5

biến thể hình thái học. Đi, học, nói … bất biến trong mọi quan hệ ngữ pháp và chức năng ngữ pháp trong câu. Ngƣời miền Nam có thể nói trăng, trời uốn lƣỡi, trong khi ngƣời miền Bắc nói giăng, giời, nhƣng đấy không phải là biến thể hình thái học mà chỉ là sự biến âm do thói quen phát âm của địa phƣơng. Ý nghĩa ngữ pháp của từ không đƣợc biểu hiện trong nội bộ từ, mà đƣợc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ trong câu. Trong các ngôn ngữ biến hình, nhìn vào hình thái của từ, ngƣời ta có thể xác định đƣợc ý nghĩa ngữ pháp của chúng (thí dụ: danh từ, dựa vào các hậu tố nhƣ -ion, -er, -ment…; tính từ dựa vào ive, -ful, -al…). Trong tiếng Việt, từ không có những dấu hiệu hình thức giúp xác định ý nghĩa ngữ pháp mà phải dựa vào các loại từ hay phó từ nhƣ con, cái, chiếc (đối với danh từ), đã, đang, sẽ, rất, hơi, khá…(đối với động từ và tính từ). Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có quan hệ chặt chẽ. Chẳng hạn, ý nghĩa từ vựng của từ võng khác nhau trong những câu sau đây: a. Võng anh đi trước, võng nàng theo sau. b. Người ta võng anh ấy đến bệnh viện c. Tấm ván võng xuống 1.3. Đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt 1.3.1. Đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt 1.3.1.1. Xác định đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt, chúng tôi chọn “tiếng” làm đơn vị cấu tạo từ của tiếng Việt. Về mặt phát âm, mỗi tiếng đƣợc tạo ra do một luồng hơi phát ra tự nhiên, kèm theo một thanh điệu nhất định. Về mặt văn tự, mỗi tiếng đồng nhất với một chữ. Ví dụ: ăn học, nhà, cao, cửa, rộng, thiên, địa, đại, tiểu, vô, hữu… Có thể chọn tiếng làm đơn vị cơ sở cấu tạo từ trong tiếng Việt bởi các lý do sau: Tiếng là đơn vị dễ nhận diện, quen thuộc đối với ngƣời Việt. Nói theo Nguyễn Thiện Giáp, đấy là đơn vị tâm lý ngôn ngữ học. Đối với ngƣời Việt,

6

việc xác định số lƣợng âm tiết hay tiếng trong một câu văn, câu thơ không phải là một việc làm khó khăn. Ví dụ câu thơ: Trong đầm gì đẹp bằng sen, Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng Chúng ta dễ dàng xác định đƣợc ngay 14 tiếng bằng cách dựa vào số lần luồng hơi đi ra, hay dựa vào số lƣợng thanh điệu. Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập, âm tiết tính. Về hình thức, hầu hết những đơn vị nhỏ nhất có nghĩa trong tiếng Việt (tƣơng đƣơng một hình vị trong các ngôn ngữ ấn – Âu) đều trùng với âm tiết. Thí dụ: nhà xe, tập, viết,… quốc, gia, sơn, hữu, vô… Kể cả các trƣờng hợp nhƣ dàng trong dễ dàng, dãi trong dễ dãi, xao trong xanh xao, xắn trong xinh xắn… ta đều có thể giải thích đƣợc ý nghĩa của chúng. Nghĩa của những đơn vị nhƣ: nhà xe, tập, viết,… ta dễ dàng xác định đƣợc. Còn nghĩa của quốc, gia, sơn, hữu, vô,… (những yếu tố Hán – Việt), ta có thể xác định đƣợc bằng cách đối chiếu từng đơn vị với hàng loạt từ có cùng yếu tố cấu tạo. Thí dụ đối chiếu quốc kì, quốc gia, tổ quốc, ái quốc,… ta xác định được quốc có nghĩa là nước; gia đình, tư gia, gia thất, gia chủ…, ta xác định được gia có nghĩa là nhà. Đối với các trƣờng hợp nhƣ dàng, dãi trong dễ dàng, dễ dãi, tuy bản thân chúng không có nghĩa rõ rệt nhƣng ta có thể lí giải đƣợc nghĩa của chúng bằng phép trừ kết hợp với phƣơng pháp đối chiếu. Thí dụ: nếu cho nghĩa của dễ dãi là x, nghĩa của dễ dàng là y, nghĩa của dễ là z, thì có thể xác định nghĩa của dãi bằng sai số x – z, và nghĩa của dàng bằng sai số y – z. Riêng các đơn vị cà, phê, rem trong cà phê, cà rem là những tiếng tự thân đều vô nghĩa, và ngay cả khi đặt chúng vào trong mối quan hệ với cả từ cũng không giải thích đƣợc ý nghĩa của chúng. Đấy là những trƣờng hợp đƣợc vay mƣợn từ các ngôn ngữ Ấn – Âu hoặc một ngôn ngữ nào khác mà ta chƣa xác định rõ nguồn gốc. Xét về mặt số lƣợng, những trƣờng hợp

7

8

Những tiếng không độc lập và tự thân không mang nghĩa từ vựng, chỉ kết hợp hạn chế với một hay vài yếu tố khác. Thí dụ: xôi trong xa xôi; sẽ trong sạch sẽ; a, xít trong a xít; mì, chính trong mì chính… Kết hợp tiêu chí ý nghĩa và tiêu chí ngữ pháp có thể tổng kết các loại tiếng trong tiếng Việt nhƣ sau: Tiếng độc lập Tiếng có nghĩa thực

nhà (nhà cửa),…

Tiếng không có nghĩa thực

Tiếng không độc lập quốc (quốc phòng) dãi (dễ dãi), cà (cà phê)

1.3.2. Phương thức cấu tạo từ tiếng Việt 1.3.2.1 Các phương thức cấu tạo từ tiếng Việt. Phƣơng thức cấu tạo từ là phƣơng thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị để cho ta các từ. Từ tiếng Việt sử dụng ba phƣơng thức sau đây: Từ hóa hình vị , ghép hình vị , láy hình vị . Từ hóa hình vị là phƣơng thức tác động vào bản thân một hình vị, làm cho nó có đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không them bớt gì cả vào hình thức của nó. Những từ nhƣ: Nhà, xe, áo, người, mì chính, lốp (xe đạp)… là những từ hình thành do sự từ hóa các hình vị nhà, xe, lốp, mì chính… Hiện nay phƣơng thức này chỉ tác động vào các hình thức ngữ âm mô phỏng âm thanh và các yếu tố vay mƣợn. Ví dụ: Từ cạch vốn mô phỏng tiếng động không vang khi hai vật rắn va chạm vào nhau. Nay, thông qua phƣơng thức từ hóa mang ý nghĩa: ” bắn súng cối bằng cách thả đạn vào nòng súng” và mang đặc điềm ngữ pháp của các từ bắn, phóng, phát, lao… để trở thành một từ. Các từ khác nhƣ bịch (đấm vào ngực), đốp (đốp vào mặt) đét (đét cho một roi) đều thuộc trƣờng hợp này. Các từ nhƣ lốp, săm, phanh, ti vi, mì chính, căn…là do sự từ hóa các yếu tố nƣớc ngoài. Ghép là phƣơng thức tác động vào một hoặc hơn hai hình vị có nghĩa, kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới (mang đặc điểm ngữ pháp

9

10

11

thành tố. Thí dụ, đất nước không phải chỉ đất và nƣớc nói chung hay chỉ đất hoặc nƣớc, mà hai yếu tố đƣợc hợp lại để chỉ lãnh thổ của một quốc gia trong đó có những nét tiêu biểu là đất và nƣớc. Trƣờng hợp non sông, sông núi, sơn hà cũng vậy. Một ví dụ khác, ruột thịt không phải chỉ ruột hay thịt nói chung mà cả hai hợp lại hợp lại để chỉ quan hệ máu mủ, huyết thống. Hay gan dạ để chỉ sự mạnh mẽ, không lùi bƣớc trƣớc nguy hiểm cũng là một trƣờng hợp tƣơng tự. 1.3.3.2.2. Từ ghép chính phụ: Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thƣờng có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp. Loại này có những đặc điểm sau: Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hƣớng gợi lên các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hƣớng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể. Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thƣờng giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trƣng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ thƣờng đƣợc dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trƣng đó. Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép chính phụ thành hai tiểu loại: Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trƣng lớn thành những loại sự vật, hoạt động, đặc trƣng, cụ thể. Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện tƣợng này là tác dụng phân loại. Thí dụ :

 Máy may, máy bay, máy bơm, máy nổ, máy tiện,…  Làm việc, làm thợ, làm duyên, làm ruộng, làm dâu,…  Vui tính, vui tai, vui mắt, vui miệng,… Chú ý, ở kiểu từ ghép này trật tự của các yếu tố trong từ ghép thuần Việt, hoặc Hán – Việt Việt hóa khác từ ghép Hán – Việt, ở hai trƣờng hợp đầu,

12

yếu tố chính thƣờng đứng trƣớc, ở trƣờng hợp cuối, yếu tố phụ thƣờng đứng trƣớc. Ví dụ:

 Vùng biển, vùng trời, xe lửa, nhà thơ,…  Hải phận, không phận, hỏa xa, thi sĩ,… Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có tác bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiển cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình nhƣ một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa. Thí dụ , so sánh xanh lè với xanh và xanh biếc. 1.3.3.3. Từ láy Cho đến nay, nhiều vấn đề về từ láy vẫn còn để ngỏ.Về phƣơng thức cấu tạo của từ láy, tồn tại hai ý khác nhau: Ý kiến thứ nhất: Từ láy là từ đƣợc hình thành do sự lặp lại của tiếng gốc có nghĩa. Ý kiến thứ hai: Từ láy là từ đƣợc hình thành bằng cách ghép các tiếng dựa trên quan hệ ngữ âm giữa các thành tố. Theo ý kiến thứ nhất chỉ có thể lý giải đƣợc một số từ láy xác định đƣợc tiếng gốc, bên cạnh những từ ấy còn rất nhiều từ hiện không xác định đƣợc tiếng gốc ( ví dụ: bâng khuâng, lẩm cẩm, lã chã,…), hoặc những từ có dạng láy nhƣng thật ra chúng vốn đƣợc tạo ra từ phƣơng thức ghép ( ví dụ như hỏi han, chùa chiền, dông dài, tang tóc,…).Nhìn từ láy theo ý kiến thứ hai lại không có tác dụng giúp ta thấy đƣợc những nét độc đáo về mặt ngữ nghĩa của cấu tạo từ này, không thấy đƣợc nét riêng của dân tộc ta trong việc sáng tạo những từ ngữ mới nhằm định danh sự vật mới một cách tiết kiệm mà lại có khả năng miêu tả sinh động ,biểu cảm nhất. Có thể nói ý kiến thứ nhất đã nêu đƣợc những từ láy chân chính trong tiếng Việt. Tuy nhiên cần nhận thức đƣợc rằng ngôn ngữ khong đứng yên mà luôn vận động, thay đổi theo sự phát triển của xã hội. Trong quá trình đó, những từ ghép có dạng láy cũng khó phát

13