Cấu Tạo Một Từ Tiếng Hàn Quốc

--- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Đá Tự Nhiên Và Đá Nhân Tạo (P1)
  • Đá Nhân Tạo Là Gì? Tổng Quan Về Đá Nhân Tạo Từ A
  • Tìm Hiểu Cơ Chế Hoạt Động Của Công Tắc Điều Khiển Từ Xa
  • Nguyên Lý Hoạt Động Của Điều Khiển Từ Xa, Các Loại Điều Khiển Từ Xa
  • Bộ Điều Khiển Từ Xa Nào Sử Dụng Nhiều Trong Gia Đình
  • Với bài viết Bảng chữ cái Hàn Quốc, chúng ta đã biết được rằng: hiện nay, trong hệ thống bảng chữ  Hangul có tất cả 40 chữ cái, với 21 nguyên âm và 19 phụ âm. Trong đó có 24 chữ cơ bản và 16 chữ được ghép từ các chữ cơ bản tạo thành.

    Vậy thì hôm nay chúng ta đã có các nguyên liệu để tạo thành một từ trong tiếng Hàn rồi. Cũng giống như tiếng Việt, tiếng Hàn là loại ngôn ngữ ghép.

    Trong một từ tiếng Hàn gồm 3 bộ phận:

    phụ âm (có thể có hoặc không) + nguyên âm (bắt buộc) + phụ âm cuối hay còn gọi là patchim 받침 (có thể có hoặc không)

    Trước khi bắt đầu, Trang muốn bắt đầu với một bảng phụ âm cuối mà trong bài viết trước của Trang chưa đề cập đến. Trong cấu tạo của một từ tiếng Hàn, các bạn sẽ thấy có một phụ âm cuối mà người ta gọi là patchim 받침. Patchim có là 2 loại gồm phụ âm cuối đơn và phụ âm cuối kép.

    Với phụ âm cuối đơn ta sẽ có như sau:

    ㄱ, ㅋ, ㄲ →

    ㄷ,ㅅ,ㅈ,ㅊ,ㅌ,ㅎ,ㅆ →

    ㅁ →

    ㅇ → (động từ “ngồi”), 많다 (động từ: “không có”), 값(danh từ: “gà”), 밝다(tính từ: “trong sáng”), 젊다[점다](tính từ: “trẻ”)

    1. Cấu trúc: nguyên âm đơn

    Đây là cấu trúc từ đơn giản nhất. Để có được một từ nguyên âm đơn thì trước nguyên âm chúng ta phải có “ㅇ”.

    Ví dụ:

    아이: em bé

    여우: con cáo

    오이: dưa leo, dưa chuột

    왜: vì sao, tại sao

    이: số 2

    우유: sữa

    2. Cấu trúc gồm: phụ âm + nguyên âm

    Cấu trúc này sẽ gồm một phụ âm và một nguyên âm đơn hoặc kép đi cùng.

    Ví dụ:

    가 =ㄱ + ㅏ :động từ “đi”

    하= ㅎ + ㅏ: động từ “làm”

    과 = ㄱ + ㅘ : liên kết từ: “và”

    3. Cấu trúc gồm: phụ âm + nguyên âm đơn hoặc kép + phụ âm cuối

    Cấu trúc này gần như là cấu trúc đầy đủ của một từ trong tiếng Hàn. Bao gồm một phụ âm đứng đầu, tiếp theo là một nguyên âm đơn hoặc nguyên âm kép và cuối cùng sẽ gồm một phụ âm cuối hay còn được gọi là patchim (받침)

    Ví dụ:

    강 =ㄱ + ㅏ + ㅇ

    공 = ㄱ + ㅗ + ㅇ

    광 = ㄱ + ㅘ + ㅇ

    4. Cấu trúc gồm: phụ âm + nguyên âm + hai phụ âm kết thúc

     Cấu trúc này khác với cấu trúc 3 ở điểm, phụ âm cuối kết thúc sẽ gồm 2 phụ âm gộp lại để tạo thành 1 phụ âm cuối hoàn chỉnh.

    Ví dụ:

    없 = ㅇ + ㅓ + ㅂ + ㅅ

    많 = ㅁ + ㅏ + ㄴ + ㅎ

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Học: Từ Hán Việt
  • Bếp Từ Công Nghiệp Và Những Điều Có Thể Bạn Chưa Biết!
  • Bếp Từ Công Nghiệp Và Chi Tiết Từ A Đến Z Để Chọn Mua Phù Hợp
  • Timer Xả Đá Tủ Lạnh, Rơ Le Thời Gian. Cấu Tạo Và Chức Săng Của Timer Xả Đá
  • Timer Là Gì? Timer Tủ Lạnh Có Giá Bao Nhiêu?
  • Van Một Chiều Lò Xo Là Gì? Cấu Tạo Van Nước Một Chiều Lò Xo

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Lắp Van Nước Một Chiều
  • Tiết Lộ Bí Mật Về Đặc Điểm Cấu Tạo Van 1 Chiều Lò Xo
  • Mua Van 1 Chiều Lò Xo Chính Hãng Giá Rẻ Nhất Thị Trường
  • Van 1 Chiều Lò Xo, Van Nước 1 Chiều Lò Xo Giá Rẻ
  • Vạn 1 Chiều Máy Nén Khí Là Gì? Cấu Tạo
  • Van một chiều lò xo là thiết bị không thể thiếu trong quá trình phòng cháy và chữa cháy. Nó giúp con người dập tắt đám cháy một cách tối ưu. Hạn chế những nguy hiểm gây ra do hỏa hoạn.

    Van một chiều lò xo là gì?

    Van một chiều lò xo tương tự như van một chiều lá lật là loại van giúp cho dòng chảy của nước hoặc chất khí chỉ có thể đi theo một hướng nhất định và không cho chúng đi theo hướng ngược lại. Van hoạt động một cách tự động nhờ vào áp suất của dòng nước và chất khí. Không cần kết nối thiết bị điều khiển. Van một chiều lò xo thường được kết nối vào hệ thống ống dẫn.

    Các loại van một chiều hiện nay rất đa dạng. Có những loại van được thiết kế từ đồng, gang, inox. Và có những loại van xuất xứ từ Đài Loan, Việt Nam, Malyasia,..

    Cấu tạo van nước một chiều lò xo

    Van nước một chiều thường được cấu tạo bởi 4 thành phần chính.

    • Thân van thường được cấu tạo từ gang, inox, nhựa phù hợp với mục đích sử dụng của từng yêu cầu.
    • Ty van thường thấy là loại được làm từ inox với độ bền cao và không bị gỉ sét.
    • Lá van là loại đĩa tròn nằm bên trong thân van, có thể làm từ nhiều chất liệu, chống ăn mòn được bọc một lớp cao su EPDM bảo đảm nước, khí không bị lọt qua.
    • Lò xo nẵm giữa ty van và lá van thân trên van với độ bền cực cao không bi gỉ sét.

    Thông số kỹ thuật của van một chiều lò xo

    Nguyên lý hoạt động van nước một chiều lò xo

    Khi có dòng nước hoặc khí đi qua van một chiều. Dưới tác dụng của áp suất và lực đẩy sẽ đẩy lò xo và ép lá van đến vị trí mơ cho dòng nước đi qua.

    Khi dòng nước chảy nguôi lại lò xo sẽ trở về vị trí đóng và ngăn dòng chất lỏng, khí chảy ngược trở về.

    Van hoạt động hoàn toàn tự động và kết nối 2 chiều trên mặt bích trên đường ống giúp dễ dang thay thế. Với thiết kế gọn nhẹ giúp van dễ dàng thay thế.

    Được thiết kế bằng nhiều chất liệu khác nhau như, đồng, inox, nhựa giúp van phù hợp với nhiều môi trường. Và vận chuyển nhiều loại chất lỏng khác nhau. Cần lưu ý lắp đúng chiều dòng chảy cho van.

    Khi lắp đặt van một chiều lò xo cần lưu ý những gì?

    • Khi lắp đặt cần lắp đặt theo chiều mũi tên được kí hiệu trên thân van
    • Cần kiểm tra xem khoảng cách từ đầu van đến cuối thân van có vừa với chỗ thay thế hay không
    • Để tăng độ kín khi lắp đặt có thể thêm đẹm cao su hoặc gioăng cao su vào
    • tùy vào nhu cầu sử dụng của bạn để lắp đặt van theo phương nằm ngang hoặc phương thẳng đứng.

    Gọi ngay 0965 848 555 để được hỗ trợ và tư vấn miễn phí

    Tại sao nên dùng van một chiều lò xo?

    • Với khả năng hoạt động hoàn toàn tự động, dựa trên lực đẩy của dòng chảy. Giúp tiết kiệm điện một cách tối đa.
    • Với thiết kế nhỏ gọn, van rất dễ dàng để lắp đặt và không tốn diện tích
    • Van có độ bền cao, an toàn cho người sử dụng. Được làm từ các vật liệu chống gỉ và chống ăn mòn cao.

    Với tính năng vượt trội, loại van này luôn được người sử dụng tin tưởng. Loại van này là một trong những loại bán chạy nhất thị trường Việt Nam hiện nay. Cũng chính vì những tính năng vượt trội này mà loại van này trở nên rất phổ biến trên thị trường. Vậy nên mua van một chiều lò xo ở đâu thì uy tín?

    Nếu bạn đang muốn chọn một đơn vị cung cấp uy tín, chất lượng mà giá cả lại hợp lý phải chăng thì BAT Group là lựa chọn hàng đầu. Chúng tôi luôn cung cấp cho khách hàng những sản phẩm chính hãng, chất lượng. Các sản phầm đều đảm bảo đầy đủ tem kiểm định, các giấy tờ CO/CQ khi giao đến khách hàng. Đồng thời chúng tôi còn đảm bảo các chính sách bảo hành và hậu mãi cho khách hàng.

    Đến với BAT Group bạn có thể hoàn toàn yên tâm và trải nghiệm các dịch vụ hàng đầu của chúng tôi. Rất hân hạnh được phục vụ!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Van Một Chiều
  • Vi Sinh Vật Là Gì Và Sự Phân Bố Vi Sinh Vật Trong Cơ Thể Người
  • Vi Sinh Vật Học Môi Trường
  • Vi Khuẩn Gram Dương Là Gì?
  • Hình Ảnh Vi Khuẩn Lao Phá Hủy Cơ Thể Người Và Cấu Tạo Vi Khuẩn
  • Cấu Tạo Một Đôi Giày Patin

    --- Bài mới hơn ---

  • Giày Patin Flying Eagle F7
  • Đánh Giá Chất Lượng, Hình Ảnh Sản Phẩm Giày Patin Flying Eagle F6S
  • Những Đôi Giày Trượt Patin Trẻ Em Tốt Giá Rẻ Số 1 Việt Nam
  • Lịch Sử Ra Đời Và Kiến Thức Từ A
  • Cách Chọn Giày Cao Gót Cho Người Mập Dễ Phối Đồ
  • Wed, 23/12/2020

    PATIN HALO SHOP CUNG CẤP GIÀY PATIN CHO SÂN TRƯỢT PATIN, CHO ĐẠI LÝ, CHO NHÓM TRƯỢT GIÁ RẺ, FREELINE

    SHOP GIAY TRUOT PATIN GIA RE, THIẾT KẾ SÂN TRƯỢT PATIN, MỞ SÂN TRƯỢT PATIN, CUNG CẤP GIAY PATIN 4 BANH, BANH DOC, 1 HANG BANH, 2 HANG BANH, GIÀY PATIN, SKATEBOARD, VÁN TRƯỢT, FREELINE SKATES, BÁN SỈ,

    HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

    Tin mới đăng

    Số lượt truy cập

    4.403.778

    Tổng số Thành viên

    276

    Số người đang xem

    6

    cấu tạo một đôi giày patin

    Đăng ngày: 07/05/2011 08:03

    Một đôi giày thường có cấu tạo chung bởi 4 phần: phần thân giày (bot), phần khung giày (flame), vòng bi, bánh xe

    1.Đầu tiên là giày (hay còn gọi là bot): 1 c* T5 I/ m( j

    Gồm phần ngoài (tạm gọi là giày), phần trong (tạm gọi là lót) và cuối cùng là bộ phân để buộc.

    chúng tôi đó là khung (tiếng pháp là platin, tiếng anh là frame) :/ e2 Y/ z* O9 W1 t# I

    Gồm khung chính, lỗ vít (và phanh với những ai mới tập)* @9 ?# A” ]” a; L9 Z0 s* e- T’ }

    3.Vòng bi : ; R; o7 i! y0 w3 n

    có độ trơn khác nhau và đươc gọi là ABEC. ABEC xếp theo thứ tự nhanh

    dần : 1, 3, 5, 7, 9 và loại mới nhất là micro roulement.

    4.Bánh :

    dù hình dáng giống nhau nhưng phần technic thì hoàn toàn khác nhau. Có 2 điều cần chú ý đó là đường kính và độ cứng của bánh. Đường kính phụ thuộc vào khung của roller. Độ cứng được viết bởi 1 số và chữ A đằng sau, ví dụ 83A, số càng cao thì bánh càng cứng. Các bạn đừng vội nghĩ ngay là bánh cứng tốt hơn, việc chọn độ cứng của bánh tùy thuộc vào môn mà bạn định tập.

    THẢO LUẬN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Bánh Giày Patin Cấu Tạo Và Chức Năng Hỗ Trợ Người Chơi Hiệu Quả
  • Giải Pháp Kiểm Soát Độ Ẩm Sân Trượt Băng
  • Cấu Tạo Bánh Xe Patin Và Cách Sắp Xếp Cho Những Skater!
  • Trượt Băng: “đắt, Xắt Ra Miếng”
  • Top 10 Giày Trượt Băng Nghệ Thuật Bán Chạy Nhất Cho Nam Và Nữ
  • Cấu Tạo Máy Phát Điện Một Chiều, Động Cơ Điện Một Chiều

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Máy Phát Điện Một Chiều Và Máy Phát Điện Xoay Chiều
  • Cấu Tạo Của Máy Khoan Bàn Và Những Lưu Ý Khi Sử Dụng
  • Máy Khoan Bàn Và Những Kiến Thức Hay Được Tổng Hợp Chi Tiết
  • Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Máy Khoan
  • Mao Mạch Có Chức Năng Gì?
  •  

    ĐỊNH NGHĨA MÁY PHÁT ĐIỆN MỘT CHIỀU:

    Lưu ý: Máy phát điện một chiều cũng có thể sử dụng làm động cơ một chiều mà không cần phải thay đổi bất kỳ một cấu trúc nào của máy và ngược lại. Do đó,gọi máy phát điện một chiều hay động cơ một chiều đều được.

    Hình trên cho thấy cấu tạo chi tiết của động cơ điện một chiều, gồm 4 cực phổ biến. Một động cơ điện một chiều bao gồm 2 phần cơ bản: Stator và Rotor. Các bộ phận cơ bản khác của máy được được mô tả chi tiết, cụ thể như sau: 

     Gông (ách): Khung bên ngoài của máy phát điện một chiều được gọi là gông máy (ách máy). Được tạo thành từ gang (thép). Không chỉ cung cấp độ bền cơ học mà còn mang từ thông được tạo ra bởi cuộn dây từ trường

    Lõi từ: Được nối với gông máy bằng bu lông hoặc hàn phụ kiện lại với nhau. Chúng được bao bọc bởi cuộn dây kích từ. Lõi từ được tạo ra nhằm: trải đều từ thông trong khe hở không khí và hỗ trợ các cuộn dây kích từ.

    : Cuộn dây kích từhường được làm bằng đồng. Cuộn dây kích từ được đặt trên mỗi cực và quấn thành nhiều vòng. Khi có năng lượng chúng tạo thành các cực bắc, nam xen kẽ, từ đó tạo ra từ trường.

    Phần ứng (Rotor): Có dạng hình trụ với các khe để mang các cuộn dây phần ứng. Được cấu tạo từ các đĩa thép tròn, mỏng, để giảm thiểu hao mòn do dòng điện gây ra. Phần ứng Rotor có thể được cung cấp các ống dẫn khí để hỗ trợ cho việc làm mát. 

    Cuộn dây phần ứng: Thường là cuộn dây đồng, nằm trong các khe của phần ứng. Các dây dẫn của phần ứng được cách điện với nhau và quấn thành từng cuộn theo một trong hai phương pháp sau: Quấn dây chồng lên nhau hoặc quấn dây dạng sóng. Thường khi quấn dây chồng lên nhau sẽ quấn hai lớp và mỗi khe phần ứng sẽ mang hai cuộn dây khác nhau.

    Cổ góp và bánh răng: Việc kết nối với các cuộn dây phần ứng được thực hiện thông qua các bánh răng. Cổ góp trong máy phát điện một chiều có chức năng thu thập dòng điện một chiều được tạo ra trong các dây dẫn phần ứng, giúp cung cấp dòng điện cho dây dẫn phần ứng trong một số trường hợp. Một cổ góp sẽ bao gồm những cuộn dây đồng được tách biệt nhau. Mỗi một phần được kết nối với một cuộn dây phần ứng và cổ góp được khóa vào trục. Bánh răng thường được làm từ carbon hoặc than chì. Chúng nằm trên các phần của cổ góp và trượt khi cổ góp xoay vòng để thu nạp hoặc cung cấp dòng điện một chiều.

     

    NGUYÊN LÝ LÀM VIỆC CỦA MÁY PHÁT ĐIỆN MỘT CHIỀU

    Theo định luật cảm ứng điện từ Faraday, bất cứ khi nào một dây dẫn được đặt trong một từ trường khác nhau (hoặc một dây dẫn di chuyển trong một từ trường), một suất điện động được cảm ứng trong dây dẫn. Độ lớn của suất điện động cảm ứng có thể được tính từ phương trình suất điện động của bộ tạo dòng điện một chiều. Nếu dây dẫn được cung cấp một đường dẫn kín, dòng điện cảm ứng sẽ lưu thông trong đường dẫn. Trong một máy phát điện một chiều, cuộn dây trường tạo ra một trường điện từ và các dây dẫn phần ứng được quay trong từ trường. Do đó, một suất điện động cảm ứng điện từ được tạo ra trong các dây dẫn phần ứng. Hướng của dòng điện cảm ứng được đưa ra bởi quy tắc bàn tay phải của Fleming.

     

    SỰ CẦN THIẾT CỦA VÀNH GÓP 2 MẢNH:

    Theo quy tắc bàn tay phải của Fleming, hướng của dòng điện cảm ứng thay đổi bất cứ khi nào hướng chuyển động của dây dẫn thay đổi. Hãy xem xét một phần ứng quay theo chiều kim đồng hồ và một dây dẫn ở bên trái đang di chuyển lên trên. Khi phần ứng hoàn thành một nửa vòng quay, hướng chuyển động của dây dẫn cụ thể đó sẽ bị đảo ngược xuống dưới. Do đó, hướng của dòng điện trong mọi dây dẫn phần ứng sẽ được xen kẽ. Nếu bạn nhìn vào hình trên, bạn sẽ biết hướng của dòng điện cảm ứng xen kẽ trong một dây dẫn phần ứng. Nhưng với một cổ góp vòng chia, các kết nối của dây dẫn phần ứng cũng bị đảo ngược khi xảy ra sự đảo chiều. Và do đó, chúng ta nhận được dòng điện một chiều tại các thiết bị đầu cuối.

     

    PHÂN LOẠI MÁY PHÁT ĐIỆN MỘT CHIỀU

    Máy phát điện một chiều có thể được phân thành 5 loại 

    Động cơ điện 1 chiều kích từ bằng nam châm vĩnh cửu.

    Động cơ điện 1 chiều kích từ độc lập.

    Động cơ điện 1 chiều kích từ nối tiếp.

    Động cơ điện 1 chiều kích từ song song.

    Động cơ điện 1 chiều kích từ hỗn hợp

     

    Bài viết trên là tổng hợp toàn bộ thông tin cơ bản về máy phát điện điện một chiều. Nếu bạn có thêm bất kỳ một thắc mắc nào về máy phát điện, hãy nhấc máy lên và bấm số: 0989.44.22.49 (Anh Bổn), để được gặp và trao đổi trực tiếp với chuyên gia.

     

    Các dịch vụ khác Nam Nguyên cung cấp: 

     

    MỌI CHI THÔNG TIN CHI TIẾT XIN LIÊN HỆ: 

    CÔNG TY TNHH MTV  MÁY PHÁT ĐIỆN NAM NGUYÊN

    Địa chỉ: 245/24 Bình Lợi , Phường 13, Quận Bình Thạnh, TP. HCM

    Điện thoại: (028) 3620 7316 – 0989 44 22 49

    Email:  [email protected]

    Website: www.mayphatdiennamnguyen.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Lý Máy Phát Điện 1 Chiều Xoay Chiều Và Ứng Dụng Máy
  • Máy Nghiền Búa Công Suất Lớn Giới Thiệu Chi Tiết
  • Những Lưu Ý Cần Thiết Khi Sử Dụng Máy Khò Trong Sửa Chữa Linh Kiện
  • Tìm Hiểu Về Cấu Tạo Bên Trong Của Máy Khò Nhiệt
  • Giới Thiệu Về Máy Khò Và Công Dụng
  • Cấu Tạo Của Một Động Cơ Xăng

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Dưỡng Sữa Chữa Thanh Truyền
  • Cơ Cấu Trục Khuỷu Thanh Truyền
  • Cộng Đồng Ô Tô Việt Nam: Cơ Cấu Trục Khuỷu Thanh Truyền Trên Ô Tô
  • Cấu Tạo Và Cách Sử Dụng Máy Rửa Xe Karcher
  • Hướng Dẫn Mở Khóa Xe Lead Từ A
  • Động cơ xăng bao gồm các bộ phận chính và các hệ thống phụ.

    • Bộ phận chính bao gồm: Thân máy, nắp máy, piston, thanh truyền, trục khuỷu, bánh đà… và cơ cấu

      phân phối khí.

    • Các hệ thống phụ gồm: Hệ thống làm trơn, hệ thống làm mát, hệ thống nạp và thải, hệ thống nhiên liệu và hệ thống điện động cơ.

    Bộ phận chính có thể chia làm các bộ phận cố định, các bộ phận di động và cơ cấu phân phối khí.

    1. Bộ phận chính
      • Thân máy và nắp máy.
      • Các piston và các thanh truyền.
      • Trục khuỷu và bánh đà.
      • Cơ cấu phân phối khí.
      • Các-te chứa nhớt.
    2. Hệ thống phụ
      • Hệ thống làm trơn.
      • Hệ thống làm mát.
      • Hệ thống nạp và thải.
      • Hệ thống nhiên liệu.
      • Hệ thống điện động cơ.

    Các bộ phận cố định bao gồm: Nắp máy, thân máy, các-te.

    Thân máy là thành phần chính của động cơ, nó được chế tạo bằng gang hoặc hợp kim nhôm.

    Thân máy có chức năng như một cái khung, nó dùng để bố trí các chi tiết và để giải nhiệt. Thân máy chứa các xy lanh và piston chuyển động lên xuống trong xy lanh.

    Thân máy được đậy kín bởi nắp máy, ở giữa chúng có một joint làm kín. Hộp trục khuỷu được bố trí bên dưới thân máy, nó chứa đựng trục khuỷu. Các-te chứa nhớt được kết nối ở bên dưới thân máy. Mạch dầu làm trơn được bố trí bên trong thân máy. Một số động cơ, thân máy còn chứa trục cam, trục cân bằng và một số chi tiết khác.

    Thân máy có dạng thẳng hàng hoặc chữ V tuỳ theo cách bố trí xy lanh. Ở động cơ chữ V các xy lanh được bố trí theo hai nhánh hình V nhưng chúng chỉ có một trục khuỷu. Người ta chế tạo động cơ chữ V với mục đích rút ngắn chiều dài thân máy. Số xy lanh ở loại này có thể là 6 hoặc 8 đôi khi có tới 12…

    1.1.1/ Ống lót xylanh

    Động cơ xăng, xy lanh thường được chế tạo liền với thân máy. Ở động cơ Diesel thường dùng ống lót xy lanh.

    Ống lót xy lanh được chế tạo bằng thép cứng và được ép vào thân máy. Có hai loại ống lót xy lanh, đó là ống lót ướt và ống lót khô.

    Ống lót ướt được lắp tiếp xúc với nước làm mát. Loại này phải làm kín tốt để ngăn ngừa nước làm mát rò rỉ xuống hộp trục khuỷu. Ống lót ướt rất dễ dàng sửa chữa thay thế.

    1.1.2/ Hộp đỡ trục khuỷu

    Hộp đỡ trục khuỷu dùng để gá lắp trục khuỷu. Số lượng các ổ trục chính để gá lắp trục khuỷu phụ thuộc vào chiều dài của trục khuỷu và sự bố trí xy lanh.

    1.3/ Joint nắp máy

    Joint nắp máy được đặt giữa khối xy lanh và nắp máy. Nó dùng để làm kín buồng đốt, làm kín đường nước làm mát và dầu nhớt làm trơn.

    Joint nắp máy chịu được nhiệt độ cao và áp suất lớn. Cấu trúc của nó gồm một lớp thép mỏng đặt ở giữa , hai bề mặt của tấm thép được phủ một lớp carbon và một lớp bột chì để ngăn cản được sự kết dính giữa joint với bề mặt khối xy lanh và thân máy. Nó cũng được chế tạo bằng thép, aminian bọc đồng hoặc nhôm…

    Nắp máy được bố trí trên thân máy, phần lõm bên dưới nắp máy chính là các buồng đốt của động cơ. Nắp máy chịu áp lực và nhiệt độ cao trong suốt quá trình động cơ hoạt động.

    Nó được chế tạo bằng hợp kim gang hoặc bằng hợp kim nhôm. Trong nắp máy có bố trí các dường nước làm mát. Các bu gi, xú pap, trục cam, đường ống nạp, đường ống thải… được bố trí và gá lắp trên nắp máy.

    Tuỳ theo sự bố trí các xú pap và số lượng của chúng, buồng đốt trên nắp máy có các dạng cơ bản sau:

    1.4.1/ Buồng đốt kiểu hình bán cầu

    Loại này có đặc điểm là diện tích bề mặt buồng đốt nhỏ gọn. Trong buồng đốt bố trí một xú pap nạp và một xú pap thải. Hai xú pap này bố trí về hai phía khác nhau. Trục cam bố trí ở giữa nắp máy và dùng cò mổ để điều khiển sự đóng mở của xú pap. Sự bố trí này rất thuận lợi cho việc nạp hỗn hợp khí và thải khí cháy ra ngoài.

    1.4.2/ Buồng đốt kiểu hình nêm

    Loại này có đặc điểm diện tích bề mặt tiếp xúc nhiệt nhỏ. Buồng đốt mỗi xy lanh được bố trí một xú pap thải và một xú pap nạp, đồng thời hai xú pap bố trí cùng một phía. Đối với loại này trục cam được bố trí ở thân máy hoặc bố trí trên nắp máy. Sự điều khiển sự đóng mở của các xú pap qua trung gian của cò mổ.

    Kiểu này mỗi buồng đốt bố trí một xú pap thải và một xú pap nạp. Hai xú pap bố trí lệch cùng một phía và các xú pap đặt thẳng đứng. Kiểu này có khuyết điểm, đường kính đầu xú pap bị hạn chế nên việc nạp và thải kém.

    Ngày nay, loại buồng đốt này được sử dụng khá phổ biến, mỗi xy lanh động cơ được bố trí hai xú pap nạp và hai xú pap thải. Bu gi được đặt thẳng đứng và ở giữa buồng đốt giúp cho quá trình cháy được xảy ra tốt hơn. Hai trục cam bố trí trên nắp máy, một trục điều khiển các xú pap nạp và trục cam còn lại điều khiển các xú pap thải.

    2/ Các bộ phận di động

    Các bộ phận di động bao gồm: Piston, xéc măng, trục piston, thanh truyền, trục khuỷu và bánh đà.

    2.1/ Trục khuỷu

    Trục khuỷu là chi tiết quan trọng và phức tạp của động cơ. Nó tiếp nhận lực đẩy của thanh truyền và truyền cho bánh đà.

    Trục khuỷu làm bằng thép rèn chất lượng cao để đảm bảo được độ cứng vững và mài mòn tốt.

    Trục khuỷu được đặt trong các ổ trục chính ở thân máy. Để dễ dàng tháo lắp trục khuỷu, ổ trục chính chia làm hai nửa và được lắp ghép lại với nhau bằng vít.

    • Đầu trục khuỷu được lắp bánh xích hoặc bánh đai răng để dẫn động cơ cấu phân phối khí. Ngoài ra, nó còn dẫn động bơm trợ lực lái, máy nén hệ thống điều hoà, bơm nước, máy phát điện…
    • Đuôi trục khuỷu có mặt bích để lắp bánh đà và để đỡ đầu trục sơ cấp hộp số.
    • Các cổ trục chính và chốt khuỷu được gia công rất chính xác và có độ bóng cao. Dầu nhờn từ thân máy được dẫn tới các ổ trục chính để bôi trơn các cổ trục và các bạc lót.
    • Chốt khuỷu dùng để gá lắp đầu to thanh truyền. Ở động cơ chữ V, trên cùng một chốt khuỷu được gá lắp hai thanh truyền. Dầu nhờn bôi trơn chốt khuỷu được dẫn từ cổ trục chính qua đường ống.
    • Đối trọng dùng để cân bằng lực quán tính và mô men quán tính.
    • Trong quá trình làm việc trục khuỷu sinh ra dao động xoắn. Tần số dao động xoắn là 5 lần/s. Khi tăng tốc và có tải, tần số dao động từ 25 đến 30 lần trong một giây. Để giảm dao động xoắn, ở đầu trục khuỷu người ta lắp bộ giảm chấn. Bộ giảm chấn thường là pu li dẫn động các hệ thống bên ngoài.

    Bạc lót chính dùng để đỡ cổ trục chính của trục khuỷu. Các bạc lót chính được chia làm hai nửa hình tròn bao xung quanh cổ trục chính.

    Nửa phía trên của bạc lót có một hoặc nhiều lỗ dầu dùng để dẫn nhớt từ thân máy đến cổ trục. Nó được gá lắp vào nửa ổ trục trên thân máy.

    Nửa phía dưới được lắp vào nắp của bợ trục. Thông thường nửa bạc lót trên và dưới không th? lắp lẫn với nhau được. Trên mỗi nửa bạc lót có vấu định vị để chống xoay.

    Lớp hợp kim chịu ma sát là vật liệu mềm, nó có thể là hợp kim trắng, Kelmet hoặc hợp kim nhôm.

    • Hợp kim trắng: Vật liệu hợp kim chịu ma sát gồm thiếc, chì, antimon, kẽm và một số loại khác. Loại này chịu ma sát tốt, nhưng độ bền thấp, do đó nó được sử dụng ở động cơ có tải nhỏ.
    • Hợp kim Kelmet: Loại này trên miếng thép được phủ một lớp đồng và hợp kim chì. Có khả năng chịu áp suất và chịu mỏi lớn hơn loại dùng hợp kim trắng. Nó được sử dụng trong động cơ có số vòng quay cao và tải trọng lớn.
    • Hợp kim nhôm: Lớp hợp kim chịu ma sát gồm hợp kim nhôm và thiếc. Loại này có khả năng chịu mòn rất cao và truyền nhiệt lớn hơn hợp kim trắng và kelmet. Vì vậy, nó được sử hầu hết trong các loại động cơ xăng.

    Các bạc lót thanh truyền giống như bạc lót cổ trục chính về mặt kết cấu. Một nửa miếng bạc lót lắp trên thanh truyền và nửa còn lại lắp trên nắp đầu to thanh truyền.

    2.1.3/ Hạn chế chuyển động dọc

    Ở một trong các cổ trục chính người ta có lắp một bạc chận để hạn chế chuyển động dọc của trục khuỷu. Bạc chận có thể được chế tạo liền với bạc lót chính hoặc chế tạo rời gồm 4 mảnh. Nó được lắp ráp ở hai đầu của cổ trục chính, trên bạc chận có gia công các rãnh thoát nhớt.

    2.1.4/ Khe hở dầu

    Trong quá trình làm việc phải đảm bảo có một lớp nhớt mỏng bôi trơn nằm giữa các bạc lót và cổ trục, để trục và bạc lót không ma sát trực tiếp với nhau khi trục khuỷu chuyển động. Do đó, phải tồn tại một khe hở bé giữa cổ trục và bạc lót để hình thành màng dầu làm trơn. Khe hở này được gọi là khe hở dầu. Trị số khe hở tuỳ thuộc vào kiểu động cơ, thông thường nó nằm trong khoảng 0,02 đến 0,06mm.

    Dòng dầu nhớt ổn định chảy qua bạc lót, có tác dụng làm trơn, làm mát và cuốn đi các mạt kim loại và chất bẩn ra khỏi bề mặt bạc lót.

    2.2/ Thanh truyền

    Thanh truyền kết nối giữa trục piston và chốt khuỷu. Nó dùng để biến chuyển động lên xuống của piston thành chuyển động quay tròn của trục khuỷu và ngược lại.

    Số lượng thanh truyền sử dụng bằng với số xy lanh của động cơ. Thanh truyền được chia làm 3 phần: Đầu nhỏ thanh truyền kết nối với trục piston, đầu to thanh truyền được chia làm hai nửa được lắp ghép với chốt khuỷu, phần nối giữa đầu nhỏ và đầu to thanh truyền được gọi là thân thanh truyền.

    Dầu nhờn từ cổ trục chính đi qua đường ống dẫn trong trục khuỷu đến bôi trơn đầu to thanh truyền, sau đó đi ra hai mép đầu to để bôi trơn xy lanh-piston dưới tác dụng của lực li tâm.

    Bánh đà chế tạo bằng gang và được bố trí ở đuôi trục khuỷu. Động cơ sử dụng hộp số tự động, nó là một vành mỏng kết hợp với biến mô thuỷ lực. Khi số xy lanh của động cơ càng cao, khối lượng của bánh đà càng nhỏ.

    Bánh đà dùng để ổn định số vòng quay trục khuỷu ở tốc độ bé nhất. Ngoài ra, nó còn dùng để khởi động và truyền công suất đến hệ thống truyền lực.

    Đầu piston bao gồm đỉnh piston và vùng chứa xéc măng. Trên đầu piston có lắp các xéc măng để làm kín buồng cháy. Trong quá trình làm việc, một phần nhiệt từ piston truyền qua xéc măng đến xy lanh và ra nước làm mát.

    Tình trạng chịu nhiệt của piston là không đều, nhiệt độ của đầu piston cao hơn phần thân rất nhiều nên nó giãn nở nhiều hơn khi làm việc. Do vậy, người ta chế tạo đường kính đầu piston hơi nhỏ hơn phần thân một chút ở nhiệt độ bình thường, dạng này được gọi là dạng côn của piston.

    Đuôi piston là phần còn lại của piston, nó dùng để dẫn hướng. Sự mài mòn nhiều nhất của phần thân xảy ra theo phương vuông góc với tâm trục piston.

    Thân piston có dạng oval, dường kính theo phương vuông góc với trục piston hơi lớn hơn đường kính theo phương song song với trục piston, để bù lại sự giãn nở nhiệt do phần kim loại bệ trục piston dày hơn các chỗ khác. Khi piston làm việc ở nhiệt độ bình thường thì nó có dạng hình trụ.

    Khi piston chịu tác dụng của nhiệt độ, nó sẽ giãn nở làm cho đường kính của piston gia tăng. Do Đó, cần thiết phải có một khe hở để đảm bảo piston chuyển động trong xy lanh khi làm việc. Khe hở này được gọi là khe hở piston. Khe hở này phụ thuộc vào kiểu động cơ, nó nằm trong khoảng 0,02 mm đến 0,12 mm.

    2.4.2/ Độ lệnh tâm

    Trong quá trình nén, thanh truyền đẩy piston đi lên. Dưới tác dụng của lực ngang, làm cho piston tiếp xúc với xy lanh ở bên phải theo hình vẽ. Ở kỳ nổ, dưới tác dụng của áp suất cháy, lực ngang sinh ra hướng trái làm cho piston thay đổi chiều đột ngột. Nguyên nhân này làm cho piston va đập mạnh vào vách xy lanh sinh ra tiếng gõ.

    Ở động cơ piston lệch tâm, khi thanh truyền đẩy piston đi lên ở kỳ nén, dưới tác dụng của lực ngang sẽ làm cho piston tiếp xúc với vách xy lanh ở bên phải.

    Các xéc măng được bố trí bên trong các rãnh của piston. Đường kính ngoài của xéc măng hơi lớn hơn đường kính ngoài của piston. Khi lắp cụm piston-xéc măng vào xy lanh, lực đàn hồi của xéc măng sẽ làm cho bề mặt làm việc của xéc măng áp sát vào vách xy lanh. Vật liệu chế tạo xéc măng là vật liệu chống mài mòn cao, nó thường là gang hợp kim hoặc thép hợp kim.

    Ở quá trình nạp, piston chuyển động đi xuống, mép dưới của xéc măng làm kín gạt dầu bám vào vách xy lanh mà xéc măng dầu chưa gạt hết. Ở quá trình nén và thải, xéc măng làm kín lướt trên màng dầu sao cho dầu không đẩy vào buồng đốt. Ở quá trình cháy, xéc măng làm kín làm kín hoàn toàn buồng đốt.

    Xéc măng lắp vào xy lanh phải tồn tại khe hở miệng. Khe hở này phải nhỏ để đảm bảo làm kín khi nhiệt độ động cơ đạt bình thường. Khe hở miệng của xéc măng nằm trong khoảng 0,2 đến 0,5mm.

    2.6/ Trục Piston

    Trục piston kết nối piston với đầu nhỏ thanh truyền. Nó dùng để truyền chuyển động từ piston đến thanh truyền và ngược lại. Có hai kiểu lắp ghép trục piston.

    • Cố định trục piston trong đầu nhỏ thanh truyền bằng cách ghép độ dôi hoặc dùng bu lông.
    • Kiểu ghép thứ hai: trục piston xoay được trong lỗ trục piston và đầu nhỏ thanh truyền. Đối với loại này phải hạn chế chuyển động dọc của trục piston bằng cách dùng khoen chận ở hai đầu trục.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo, Cách Tản Nhiệt Của Két Nước Làm Mát Xe Máy Trên Xe Lôi
  • Tìm Hiểu Về Cấu Tạo Động Cơ Xe Máy 4 Thì Trên Xe Ba Bánh
  • Cấu Tạo Xe Máy 50 Phân Khối
  • Các Loại Khung Sườn Phổ Biến Của Xe Pkl
  • 7 Loại Khung Sườn Xe Máy Phổ Biến Hiện Nay
  • Cấu Tạo Của Một Cầy Đàn Guitar

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Bộ Phận Cấu Tạo Nên Cây Đàn Guitar
  • Nơi Bán Các Loại Đàn Dân Tộc Ở Hóc Môn
  • 5 Cây Đàn Nhị Giá Rẻ Được Ưa Chuộng
  • Giới Thiệu Về Nhạc Cụ Đàn Nguyệt Của Việt Nam
  • Cách Chọn Mua Một Cây Đàn Nguyệt Tốt
  • a. Đầu xỏ dây của bộ khóa đàn (Tuning machine head)

    Cấu tạo của đầu xỏ dây là một đầu nhô dựng đứng vuông góc mặt đầu đàn và được khoét một lỗ để xỏ dây đàn qua.

    b. Nút vặn bộ khóa đàn (Tuning pegs)

    Sau công đoạn xỏ dây, nút vặn bộ khóa sẽ làm tròn nhiệm vụ của nó để làm căng dây đàn, lúc này bạn sẽ cần đến Tuner để biết dây đang ở vị trí tông nào E-A-D-G-B-E, nút vặn này được làm từ chất liệu Chrome Diecast có thể là màu bạc bóng, vàng bóng hoặc là đen nhám tùy theo phân khúc giá tiền của cây đàn. Nếu bạn muốn làm căng dây đàn hoặc giãn dây thì bạn sẽ vặn theo chiều hoặc ngược chiều kim đồng hồ để tùy chỉnh cao độ của dây. Nút vặn thường được thiết kế chung với đầu xỏ xây đàn và được bán theo bộ.

    Lược đàn có thể được làm từ xương động vật hoặc là nhựa tổng hợp đôi khi có thể là kim loại, lược đàn được khoét 6 khe hở tương đương với số dây trên một cây đàn, bạn phải đưa dây nằm trên khe trước rồi sau đó mới đưa dây vào lỗ đầu xỏ và vặn bộ khóa.

    Các hãng sản xuất đàn thường đính thương hiệu của mình lên phía đầu đàn để làm một điểm nhấn cho cây đàn, cũng như để người khác thấy bạn đang sử dụng cây đàn từ nhà sản xuất nào. Nhãn hiệu được đính có thể được làm từ chất liệu nhựa hoặc được khảm ngọc trai trắng, hoặc ngọc trai Abalone, những chất liệu khảm ngọc trai này bạn sẽ bắt gặp ở những cây đàn dòng cao cấp, nhìn nó trông rất đẹp và thu hút.

    Bàn phím được làm từ hai loại gỗ thông dụng đó là Rosewood và Ebony, Ebony là dòng gỗ cho âm thanh hay hơn Rosewood.

    Phím đàn được làm từ kim loại, đính chắc vào các khe được khoét sẵn trên bàn phím để phân chia thành các ngăn đàn như ngăn 1,2,3,…20. Đó là ở đàn Acoustic hoặc Classic, còn guitar điện có loại 22 phím đến tận 24 phím để phục vụ cho việc chơi solo của các tay guitar nhạc rock.

    c. Các chấm vị trí trên bàn phím (Dots)

    Các chấm này được đính bằng nhựa hoặc được khảm bằng ngọc trai tùy loại để người chơi dễ dàng định vị được âm giai khi chơi solo, lead, định vị được vị trí ngăn đàn như ngăn 3, 5, 7, 9, 12, 15, 17 và đó cũng là những vị trí ngăn mà các chấm được đính lên.

    d. Ốc bắt dây đeo (Strap bolt)

    Ốc bắt dây được làm từ kim loại và có hai vị trí được đính trên thùng đàn gồm 1 điểm đính thứ nhất ở dưới cùng của thùng đàn gần ngựa đàn và 1 điểm thứ hai ở phía dưới điểm kết thúc của cần đàn.

    Đôi khi có một số cây đàn không có điểm đính thứ hai, bắt buộc bạn phải sử dụng loại dây đeo gồm 1 đầu là lỗ đính vào điểm thứ nhất, 1 đầu là sợi dây buộc ở đầu đàn sát lược đàn. Những cây đàn đều có hai điểm đính thì sử dụng loại dây có cả hai đầu là lỗ đính thông thường.

    Thân đàn của một cây đàn bao gồm mặt trước (Top), mặt sau và hông (Back&Sides)

    Cây đàn nào cũng cần phải có lỗ thoát âm để cho âm thanh khi dao động được thoát ra lớn hơn, xung quanh lỗ âm thanh sẽ có các họa tiết được đính hoặc khảm bằng ngọc trai trên đó, nhìn sẽ rất đẹp mắt.

    Khi chơi với loa, thì lỗ âm thanh sẽ không có công dụng gì nhiều bởi vì âm thanh đã được truyền tải qua dây jack cắm và phát ra loa, khi chơi với loa nhiều khả năng cây đàn sẽ bị hú khi để sát loa vì thế một số người chơi đã sử dụng miếng che lỗ âm thanh bằng cao su hoặc là gỗ để che lỗ âm thanh đi nhằm hạn chế việc bị hú loa.

    2. Miếng giữ tay (Pickguard)

    Miếng giữ tay có thể được gắn thêm vào nếu cây đàn của bạn nguyên bản không có hỗ trợ miếng này hoặc có những cây đàn đã được đính sẵn, miếng này có công dụng bảo vệ mặt đàn để bạn tì tay, hoặc để gõ percussion khi chơi fingerstyle tránh bị xước hay trầy mặt gỗ.

    Xương đàn có cấu trúc tương tự như lược đàn, đều được làm từ xương động vật hoặc là nhựa tổng hợp cũng có thể được làm từ kim loại. Xương đàn không được khoét khe để đưa dây vào như Lược đàn, mà chỉ có công dụng bợ dây lên để tạo lực căng cho dây.

    Ngựa đàn có thể được làm bằng gỗ Rosewood hoặc Ebony, ngựa đàn được khoét 6 lỗ chốt giữ đầu dây và khe giữ xương đàn.

    5. Chốt giữ đầu dây đàn (Pins)

    Chốt giữ đầu đàn có số lượng là 6 tương đương với sô dây của cây đàn, được làm từ nhựa hoặc kim loại, đỉnh chốt có thể được đính nhựa hoặc khảm ngọc trai.

    Cấu tạo, chân của chốt có thể dài 1-2cm được cắm dựng đứng vuông góc xuống mặt ngựa đàn và có một khe hở dài để dữ đầu dây đàn và cũng giúp đưa dây ra ngoài, bệ lên xương đàn và kéo đến lược đàn, qua lỗ đầu khóa.

    Pick-up có hai loại chìm và nổi, vị trí thiết kế thông thường của Pick-up là ở mặt hông phía trên khi bạn cầm đàn. Pick-up chìm sẽ là một bộ điều chỉnh nằm dưới mép lỗ âm thanh, khi điều chỉnh bạn sẽ phải đưa ngón tay vào lỗ đàn để vặn volume (âm lượng), tone hoặc balance của đàn khi chơi trên Ampli. Pickup có thể mua rời và gắn vào lỗ âm thanh.

    Những cây đàn hiện đại hay dòng cao cấp được trang bị luôn Tuner trực tiếp trên bộ Pick-up, nổi trội nhất là của hãng Fishman, với thương hiệu lâu đời về sản xuất nhiều loại Pick-up khác nhau.

    Pick-up được cung cấp năng lượng từ pin hoặc là nguồn điện trực tiếp thông qua jack cắm, tùy theo nhà sản xuất mà đàn của bạn sẽ sử dụng loại pin nào hoặc sử dụng nguồn điện.

    Ở đàn guitar điện (Electrics guitar) thì có đến hơn 3 pickup và sẽ có một nút điều chỉnh âm thanh hướng vô pickup nào để tạo ra đa dạng âm thanh.

    7. Lỗ cắm jack guitar để chơi trên Ampli

    Lỗ cắm này còn có vai trò như một ốc đính giữ dây đeo, cũng được đính vào vị trí dưới thùng đàn nếu đàn bạn được trang bị bộ Pick-up. Bên cạnh đó, đối với những cây đàn guitar điện (Electrics guitar) thì lỗ cắm này sẽ được đính chéo hướng xuống dưới sàn, hoặc được đính lên mặt trước thùng đàn tùy loại đàn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Của Cây Đàn Guitar Dành Cho Người Mới Quan Tâm
  • Phân Biệt Các Loại Đàn Violin
  • Cello Là Gì? Những Đặc Điểm Cơ Bản Của Đàn Cello
  • Giới Thiệu Về Nhạc Cụ Đàn Nhị Của Việt Nam
  • Đàn Nhị (Đàn Cò): Cấu Tạo, Âm Thanh, Cách Lên Dây Đàn Nhị Và Đàn Nhị Giá Bao Nhiêu
  • Cấu Tạo Của Một Cây Guitar Điện

    --- Bài mới hơn ---

  • Cẩm Nang Guitar: Kiến Thức Cơ Bản Về Guitar Điện
  • Lý Thuyết Về Gen Và Mã Di Truyền
  • Hộp Số Ô Tô Là Gì? Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Hộp Số Ô Tô
  • Nguyên Lý Hoạt Động Của Cấu Tạo Hộp Số Sàn Ô Tô Và Những Diều Cần Biết
  • Gara Sửa Chữa Hộp Số Sàn, Hộp Số Tự Động Uy Tín Ở Hcm 2022
  • Guitar gồm có 2 loại chính là Guitar cổ điển và Guitar điện. Nếu so sánh từ thiết kế và tính năng của 2 loại đàn này ta có thể thấy Guitar điện có nhiều tính năng và doohickeys hơn so với Guitar Acoustic.

    Guitar gồm có 2 loại chính là Guitar cổ điển và Guitar điện. Nếu so sánh từ thiết kế và tính năng của 2 loại đàn này ta có thể thấy Guitar điện có nhiều tính năng và doohickeys hơn so với Guitar Acoustic. Tuy nhiên theo các nhà sản xuất đàn Guitar thì làm một cây Guitar Acoustic thường khó hơn làm Guitar điện. Đó chính là lý do tại sao Guitar Acoustic đắt hơn Guitar điện.

    Guitar điện, về cấu tạo cơ bản, vẫn giống guitar cổ điển. Gồm 3 phần chính: đầu (machine head), cần (neck) và thân (body). Đàn Guitar điện thường được sử dụng để chơi trong dòng nhạc: nhạc pop, nhạc nhẹ, jazz, blues, thậm chí cả rock…

    – Thùng đàn (body):

    Thùng đàn của Guitar điện là nơi nắp các thiết bị âm thanh và tạo ra vẻ đẹp của cây đàn. Đây chính là sự khác biệt lớn giữa Guitar điện và Guitar Acoustic. Thùng đàn Guitar điện không rỗng như Guitar Acousitc, nhưng một số loại đàn Guitar điện vẫn thiết kế 1/2 thân rỗng.

    Thùng đàn Guitar điện thường chắc chắn và thay đổi rất nhiều về hình dạng, kích thước, màu sắc và vật liệu.

    – Nút dây đeo

    Nút dây đeo là nơi bạn treo lên dây đeo guitar của bạn. Loại tốt nhất của nút dây đeo là một nút dây đeo khóa. Điều này sẽ giúp dây đeo của bạn bị khóa vào vị trí và an toàn.

    – Cần đàn (Neck):

    Cần đàn Guitar bằng gỗ thuôn dài nối đến đầu đàn. Mỗi dây đàn sẽ chạy dọc trên cần đàn. Và tùy thuộc vào nơi ngón tay của bạn được đặt trên cần đàn, bạn sẽ tạo ra những âm thanh khác nhau. Mặt của cần đàn là nơi đặt các phím đàn Guitar.

    – Thanh tremolo (whammy Bar)

    Thanh tremolo là một trong những bộ phận của một cây guitar điện có thể được sử dụng cho các hiệu ứng đặc biệt của tăng và giảm độ cao của các ghi chú.

    Kết thúc cần đàn chính là đầu đàn. Nó được trang bị các bộ khóa đàn, đùng để chỉnh dây, thay đổi cao độ của cây đàn Guitar.

    – Khóa đàn (Tuners):

    Bộ phận này là chốt điều chỉnh sức căng của các dây đàn Guitar để nâng cao hoặc thấp hơn cao độ của dây đàn, phụ thuộc vào cao độ cao hay thấp mà bạn xoay theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược chiều kim đồng hồ.

    – Nut:

    Là một thanh nhựa (hoặc sừng) màu trắng mỏng ngăn cách giữa cần đàn và đầu đàn. Nó tách biệt mỗi dây đàn Guitar cổ định để chúng cách đều nhau.

    Nut làm cho âm thanh và khả năng chơi của mỗi cây đàn Guitar điện trở nên thực sự khác biệt .

    Các khe phải cắt giảm đúng để giữ các dây ở độ cao thích hợp trên các phím đàn. Vì vậy mà âm thanh đàn điện sẽ không quá chói và cũng dễ dàng hơn để chơi.

    – Phím đàn (Frets):

    Phím đàn là các mảnh kim loại mỏng trên cần đàn đặt vuông góc với dây đàn Guitar, và có tác dụng như “tách giai điệu” cho Guitar. Chúng chia cần đàn ra thành những đoạn cách nhau nửa cung hay 1 cung, tạo ra một mạng lưới các nốt nhạc để bạn chơi.

    – Pickguard:

    Đây là miếng nhựa dán trên thùng đàn để tránh cho đàn bị xước trong quá trình sử dụng

    Nút móc dây đeo: Có hai nút dây đeo trên một cây Guitar điện: một ở phía trên của thùng đàn và một ở cơ sở. Đây là những nút giữ dây đeo cây Guitar của bạn trong khi bạn đứng chơi Guitar.

    – Ngựa đàn (Bridge):

    Ngựa đàn Guitar là nơi giữ dây đàn vững chắc trên thùng đàn để chúng không bị thay đổi cao độ. Khi gảy dây đàn, rung động chạy từ dọc theo cần đàn từ ngựa đàn đến đầu đàn.

    – Pickups:

    Trong khi đàn Guitar Acoustic sử dụng các lỗ thoát âm để phát ra âm thanh, thì Guitar điện sử dụng pickups. Pickups là một chiếc micro nhỏ, hoặc đầu dò nhận rung động từ mỗi dây và chuyển đổi chúng thành tín hiệu điện. Mỗi Pickups thể hiện một âm thanh khác nhau vì vị trí của nó trên cơ thể đàn Guitar cũng khác nhau.

    Các Pickups là linh kiện điện tử cảm nhận được sự chuyển động của một chuỗi và chuyển đổi nó thành tín hiệu điện nhỏ được gửi xuống các dây và vào một bộ khuếch đại. Có rất nhiều loại khác nhau của Pickups. Mỗi Pickups sẽ có âm thanh của riêng mình.

    Cần đàn và đầu đàn Guitar điện gần giống như Guitar Acoustic, tuy nhiên điều chỉnh chốt trên Guitar điện khác hẳn so với Guitar Acoustic. Chốt trên Guitar điện thường tập trung về 1 bên còn Guitar Acoustic thì điều chỉnh cả 2 bên

    CẦN TƯ VẤN THÊM QUÝ PHỤ HUYNH LIÊN HỆ: 090 333 1985 – 09 87 87 0217

    WEB: http://dayguitar.vn/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Thành Phần Cơ Bản Của Một Cây Guitar Điện
  • Cấu Tạo Và Chất Liệu Của Đàn Guitar Điện
  • Gan Nằm Ở Vị Trí Nào? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Gan Bạn Cần Biết
  • Tìm Hiểu Hệ Thống Điều Khiển Ecu
  • Cấu Tạo Da Và Chức Năng Của Da
  • Một Số Mô Hình Cấu Tạo Từ Ghép Chính Phụ Trong Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Nhận Biết Từ Đơn, Từ Ghép, Từ Láy
  • Từ Láy Là Gì? Các Loại Từ Láy
  • Cách Phân Biệt Từ Ghép, Từ Láy Dễ Lẫn Lộn
  • Cách Ghép Từ Trong Tiếng Trung Và 500 Từ Ghép Thông Dụng Nhất ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Các Loại Từ Ghép Trong Tiếng Trung
  • TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

    KHOA NGỮ VĂN

    HOÀNG THỦY TIÊN

    MỘT SỐ MÔ HÌNH CẤU TẠO TỪ GHÉP

    CHÍNH PHỤ TRONG TIẾNG VIỆT

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

    Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. LÊ THỊ LAN ANH

    HÀ NỘI – 2022

    TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

    KHOA NGỮ VĂN

    HOÀNG THỦY TIÊN

    MỘT SỐ MÔ HÌNH CẤU TẠO TỪ GHÉP

    CHÍNH PHỤ TRONG TIẾNG VIỆT

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

    Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐỖ THỊ THU HƢƠNG

    HÀ NỘI – 2022

    MỤC LỤC

    LỜI CẢM ƠN ……………………………………………………………………………………… 4

    LỜI CAM ĐOAN ………………………………………………………………………………… 5

    MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………….. 6

    1. Lý do chọn đề tài ………………………………………………………………………………. 6

    2. Lịch sử vấn đề ………………………………………………………………………………….. 7

    3. Nhiệm vụ nghiên cứu ………………………………………………………………………… 7

    4. Phạm vi nghiên cứu …………………………………………………………………………… 7

    5. Mục đích nghiên cứu …………………………………………………………………………. 7

    6. Phƣơng pháp nghiên cứu ……………………………………………………………………. 7

    7. Đóng góp …………………………………………………………………………………………. 8

    8. Cấu trúc khóa luận ……………………………………………………………………………. 8

    CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ……………………………………………………………. 9

    1.1. Định nghĩa từ Tiếng Việt ………………………………………………………………… 9

    1.1.1. Từ Tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng) ………………………………… 9

    1.1.2. Từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết………………………………. 9

    1.2. Đặc điểm từ tiếng Việt ………………………………………………………………….. 10

    1.3. Đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt …………………………………………………… 6

    1.3.1. Đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt …………………………………………………….. 6

    1.3.2. Phương thức cấu tạo từ tiếng Việt ……………………………………………. 9

    1.3.3. Các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt ………………………………………………… 10

    1.4. Phân biệt từ ghép với cụm từ tự do …………………………………………………. 21

    1.4.1. Dựa vào đặc điểm nghĩa và mối quan hệ giữa các yếu tố………………… 21

    1.5. Các tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt …………………. 23

    1.5.1. Cấu tạo theo một phƣơng thức nhất định và mang một ý nghĩa

    nhất định …………………………………………………………………………………………… 23

    1.5.2. Hiện tƣợng chuyển di kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt ……………………. 24

    CHƢƠNG 2: CÁC KIỂU CẤU TẠO TỪ GHÉP CHÍNH PHỤ TRONG

    TIẾNG VIỆT ……………………………………………………………………………………… 19

    2.1. Kết quả thống kê ………………………………………………………………………….. 19

    2.2. Miêu tả các mô hình ghép chính phụ trong tiếng Việt ……………………….. 20

    2.2.1. Hình vị chính kết hợp với hình vị phụ chỉ màu sắc ……………………. 20

    2.2.2. Hình vị chính kết hợp hình vị phụ chỉ hình dáng …………………….. 24

    2.2.3. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp với hình vị phụ chỉ

    mùi vị ………………………………………………………………………………………………… 30

    2.2.4. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp hình vị phụ chỉ nguyên

    liệu cấu tạo …………………………………………………………………………………. 32

    2.2.5. Mô hình ghép hình phụ vị chính kết hợp hình vị phụ chỉ đặc điểm

    tính chất ……………………………………………………………………………………… 34

    2.2.6. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp hình vị phụ chỉ đặc

    điểm vận hành ……………………………………………………………………………… 36

    2.2.7. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp thành vị phụ chỉ đặc

    điểm chức năng ……………………………………………………………………………. 31

    2.2.8. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp với hình vị phụ chỉ

    địa danh ……………………………………………………………………………………… 40

    2.2.9. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp với hình vị phụ vay

    mượn tiếng nước ngoài………………………………………………………………….. 35

    KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………….. 39

    TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………………. 40

    LỜI CẢM ƠN

    Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi chân thành cảm ơn cô giáo – Tiến sĩ

    Đỗ Thị Thu Hƣơng, đã tận tình, trực tiếp hƣớng dẫn tôi hoàn thành khóa luận

    này.

    Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu trƣờng Đại học Sƣ

    phạm Hà Nội 2, Phòng Quản lý khoa học, Phòng đào tạo, các thầy cô giáo

    trong khoa Ngữ văn cùng các phòng ban chức năng đã giúp đỡ tôi trong quá

    trình nghiên cứu.

    Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã có nhiều cố gắng nhƣng

    không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong và nhận đƣợc ý

    kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn độc giả, để cho khóa luận đƣợc

    hoàn thiện hơn.

    Hà Nội, tháng 05 năm 2022

    Sinh viên

    Hoàng Thủy Tiên

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan khóa luận này đƣợc hoàn thành là kết quả nghiên cứu

    của riêng tôi dƣới sự giúp đỡ của TS. Đỗ Thị Thu Hƣơng.

    Khóa luận này chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nghiên

    cứu khác.

    Hà Nội, tháng 05 năm 2022

    Sinh viên

    Hoàng Thủy Tiên

    MỞ ĐẦU

    1. Lí do chọn đề tài

    Nhƣ chúng ta biết, tiếng Việt vô cùng phong phú và đa dạng (bao gồm:

    từ đơn, từ phức, trong từ đơn lại có đơn âm và đơn đa âm, trong từ phức có từ

    ghép và từ láy, trong từ ghép và từ láy lại có những hệ thống nhỏ hơn,…). Do

    đó, việc tìm hiểu về từ trong tiếng Việt là rất rộng. Trong khóa luận này

    chúng tôi tìm hiểu về: Một số mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ trong tiếng

    Việt.

    Trong số phƣơng thức ghép tiếng Việt, từ ghép chính phụ có khả năng

    sản sinh cao, mô hình cấu tạo từ chính phụ có khả năng đáp ứng nhu cầu giao

    tiếp của ngƣời Việt Nam.

    Việc sử dụng từ ghép chính phụ đạt hiệu quả cao trong nhu cầu giao

    tiếp luôn là mối quan tâm của mỗi chúng ta. Để hiểu đúng – hiểu trúng ý của

    ngƣời nói – ngƣời nghe, ngƣời viết với bạn đọc, trƣớc hết ngƣời giao tiếp phải

    giải nghĩa đƣợc các từ ghép chính phụ ấy. Do vậy, việc mở rộng vốn từ nâng

    cao sự hiểu biết về nghĩa của từ vựng tiếng Việt nói chung, từ ghép và từ ghép

    chính phụ nói riêng có vai trò rất quan trọng trong quá trình giao tiếp.

    Để đáp ứng nhu cầu giao tiếp của ngƣời Việt cũng nhƣ việc tìm hiểu về từ

    ghép từ ghép chính phụ và ý nghĩa của nó cho đến nay vẫn là một câu hỏi đối

    với chúng ta. Trƣớc thực trạng đó, ngƣời viết đi vào tìm hiểu đề tài này với

    mong muốn đƣợc học hỏi, nâng cao tri thức cho bản thân đồng thời để mọi

    ngƣời thấy đƣợc cái hay, cái đẹp của từ ghép – từ ghép chính phụ trong tiếng

    Việt, thấy đƣợc rõ mô hình cấu tạo của từ ghép chính phụ trong tiếng Việt ta.

    2. Lịch sử vấn đề

    Tìm hiểu về “từ ghép” là đề tài lớn đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên

    cứu và có những công trình nghiên cứu khác nhau. Các công trình này tập

    trung nghiên cứu phƣơng diện lý thuyết của từ ghép.

    Nói đến từ ghép chính phụ có thể kể đến một số công trình nghiên cứu

    nổi tiếng nhƣ: “Ngữ pháp tiếng Việt – Từ ghép – Đoản ngữ” tập hợp một số

    bài giảng về ngữ pháp tiếng Việt hiện đại cho sinh viên chuyên ngành ngôn

    1

    ngữ khoa Ngữ Văn Đại học tổng hợp Hà Nội, trong thời gian 1961 – 1969 của

    giáo sƣ Nguyễn Tài Cẩn. Hay cuốn giáo trình “Từ vựng ngữ nghĩa” của giáo

    sƣ Đỗ Hữu Châu. Công trình nghiên cứu của Đỗ Việt Hùng “Nhận thức cộng

    đồng người Việt về thế giới thông qua phương thức định danh sự vật hiện

    tượng của từ ghép chính phụ”. Bên cạnh đó không thể không kể đến cuốn “Từ

    điển tiếng Việt” của tác giả Hoàng Phê chủ biên. Ngoài ra còn một số công

    trình nghiên cứu về từ ghép trong tác phẩm văn học.

    Nhƣ vậy việc tìm hiểu từ ghép chính phụ còn chƣa nhiều và nó vẫn là

    một đề tài mới mẻ khơi nguồn cho nhiều cây bút.

    Có thể nói việc nghiên cứu từ ghép chính phụ trong tiếng Việt là đề tài

    chƣa ai bàn tới. Để hiểu rõ và thấy đƣợc cái hay của từ ghép, ngƣời viết xin

    phép đƣợc tìm hiểu về một số mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ trong tiếng

    Việt.

    3. Nhiệm vụ nghiên cứu

    Nắm vững vấn đề lí thuyết về từ trong tiếng Việt, đặc điểm về từ Tiếng

    Việt, đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt.

    Khảo sát thống kê các mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ trong tiếng Việt.

    Phân tích các mô hình ghép chính phụ trong tiếng Việt.

    4. Phạm vi nghiên cứu

    Khóa luận tập trung nghiên cứu về một số mô hình cấu tạo từ ghép chính

    phụ trong tiếng Việt. Ngữ liệu phục vụ cho mục đích nghiên cứu đƣợc thống kê

    trong từ điển tiếng Việt. Ngoài ra, để thấy đƣợc sự phát triển của từ ghép chính

    phụ tiếng Việt, chúng tôi còn thống kê ngữ liệu trong một số tờ báo nhƣ Tạp

    chí ngôn ngữ và đời sống…Các từ ghép chính phụ đƣợc thống kê là những từ

    ghép đƣợc cấu tạo từ 2 đến 3 hình vị.

    5. Mục đích nghiên cứu

    Khóa luận này tập trung nghiên cứu về các mô hình từ ghép chính phụ

    trong tiếng Việt. Qua nghiên cứu từ ghép nói chung và từ ghép chính phụ nói

    riêng để thấy đƣợc cách định danh sự vật và lối suy nghĩ của ngƣời Việt trong

    cách gọi tên sự vật.

    6. Phƣơng pháp nghiên cứu

    2

    Trong khóa luận này chúng tôi sử dụng một số phƣơng pháp sau đây:

    – Phƣơng pháp thống kê, phân loại

    – Phƣơng pháp phân tích – tổng hợp

    – Phƣơng pháp so sánh – đối chiếu

    7. Đóng góp

    7.1. Đóng góp về lý luận

    Đề tài góp phần miêu tả một số mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ

    trong tiếng Việt, từ đó giúp cho việc nghiên cứu và phân tích từ ghép thêm

    đầy đủ hơn. Qua việc phân tích các mô hình ghép chính phụ, dề tài góp phần

    thấy đƣợc cách định danh sự vật của ngƣời Việt.

    7.2. Đóng góp về thực tiễn

    Các kết quả nghiên cứu của đề tài là một nguồn tƣ liệu bổ ích đối với

    hoạt động dạy và học từ vựng nói chung, từ ghép nói riêng.

    8. Cấu trúc khóa luận

    Ngoài phần Mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận gồm 2 chƣơng:

    Chƣơng 1: Cơ sở lý luận

    Chƣơng 2: Các kiểu cấu tạo từ ghép chính phụ trong Tiếng Việt.

    3

    CHƢƠNG 1

    CƠ SỞ LÍ LUẬN

    1.1. Định nghĩa từ Tiếng Việt

    Cho đến nay, trong ngôn ngữ cách định nghĩa về từ đƣợc đặt ra rất

    nhiều. Các định nghĩa ấy, về mặt này hay mặt khác đều đúng, nhƣng đều

    không đủ và không bao gồm đƣợc hết tất cả các đơn vị đƣợc coi là từ trong

    các ngôn ngữ và ngay cả trong từng ngôn ngữ cũng vậy. Trong khóa luận này

    tác giả đã tìm hiểu đƣợc một số định nghĩa về từ tiếng Việt của một số nhà

    nghiên cứu tên tuổi.

    1.1.1. Từ Tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng)

    Tiêu biểu cho khuynh hƣớng này là M.B.Emenneu, Cao Xuân Hạo,

    Nguyễn Thiện Giáp.

    Theo Emeneaus định nghĩa: Từ bao giờ cũng tự do về mặt âm vị học,

    nghĩa là có thể miêu tả bằng những danh từ của sự phân phối các âm vị và

    bằng những thanh điệu .

    1.1.2. Từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết:

    Theo Trƣơng Văn Chình, Nguễn Hiến Lê: Từ là âm có nghĩa, dùng

    trong ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân

    tích ra đƣợc.

    Ví dụ: Bàn, ghế, thợ, thuyền, gia đình,…

    4

    Theo Nguyễn Văn Tu: Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức

    vạt chất, (vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính chất biện chứng và

    lịch sử.

    Theo Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách

    khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối

    hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa từ vựng, ngữ pháp và chức năng ngữ pháp.

    Theo Hồ Lê: Từ là đơn vị ngữ ngôn có chức năng định danh phi liên

    kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự

    do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa .

    Tóm lại, đứng từ các góc độ nghiên cứu đồng đại hay lịch đại khác

    nhau, do cách hiểu về khái niệm hình vị trong ngôn ngữ học đại cƣơng khác

    nhau, dẫn đến cách chọn đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt của các tác giả khác

    nhau, và theo đó, quan niệm về từ và cách xác định các kiểu cấu tạo từ cũng

    khác nhau. Phần tổng kết trên đã phần nào khái quát lên đƣợc tính phức tạp

    của tình hình nghiên cứu về từ trong tiếng Việt. Cho đến nay quan niệm có

    tính chất dung hòa nhất, phổ biến nhất, đƣợc nhiều ngƣời tán đồng, đặc biệt là

    phù hợp với chƣơng trình giảng dạy ở phổ thông là ý kiến của các tác giả

    thuộc nhóm 2.

    Trong đề tài này chúng tôi đồng quan điểm với GS.Đỗ Hữu Châu

    1.2. Đặc điểm của từ tiếng Việt

    Từ tiếng Việt có những đặc điểm sau đây:

    Từ tiếng Việt có thể biến thể ngữ âm hoặc ngữ nghĩa nhƣng không có

    biến thể hình thái học. Trong các ngôn ngữ Ấn – Âu, có thể biến thể về mặt

    hình thái. Thí dụ: to go có thể có các biến thể goes, going, gone, went theo

    các quan hệ ngữ pháp khác nhau trong câu. Nhƣng trong tiếng Việt không có

    5

    biến thể hình thái học. Đi, học, nói … bất biến trong mọi quan hệ ngữ pháp và

    chức năng ngữ pháp trong câu. Ngƣời miền Nam có thể nói trăng, trời uốn

    lƣỡi, trong khi ngƣời miền Bắc nói giăng, giời, nhƣng đấy không phải là biến

    thể hình thái học mà chỉ là sự biến âm do thói quen phát âm của địa phƣơng.

    Ý nghĩa ngữ pháp của từ không đƣợc biểu hiện trong nội bộ từ, mà

    đƣợc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ trong câu. Trong các ngôn ngữ biến

    hình, nhìn vào hình thái của từ, ngƣời ta có thể xác định đƣợc ý nghĩa ngữ

    pháp của chúng (thí dụ: danh từ, dựa vào các hậu tố nhƣ -ion, -er, -ment…;

    tính từ dựa vào ive, -ful, -al…). Trong tiếng Việt, từ không có những dấu hiệu

    hình thức giúp xác định ý nghĩa ngữ pháp mà phải dựa vào các loại từ hay

    phó từ nhƣ con, cái, chiếc (đối với danh từ), đã, đang, sẽ, rất, hơi, khá…(đối

    với động từ và tính từ).

    Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có quan hệ chặt chẽ. Chẳng hạn,

    ý nghĩa từ vựng của từ võng khác nhau trong những câu sau đây:

    a. Võng anh đi trước, võng nàng theo sau.

    b. Người ta võng anh ấy đến bệnh viện

    c. Tấm ván võng xuống

    1.3. Đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt

    1.3.1. Đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt

    1.3.1.1. Xác định đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt, chúng tôi chọn “tiếng”

    làm đơn vị cấu tạo từ của tiếng Việt. Về mặt phát âm, mỗi tiếng đƣợc tạo ra

    do một luồng hơi phát ra tự nhiên, kèm theo một thanh điệu nhất định. Về mặt

    văn tự, mỗi tiếng đồng nhất với một chữ. Ví dụ: ăn học, nhà, cao, cửa, rộng,

    thiên, địa, đại, tiểu, vô, hữu… Có thể chọn tiếng làm đơn vị cơ sở cấu tạo từ

    trong tiếng Việt bởi các lý do sau:

    Tiếng là đơn vị dễ nhận diện, quen thuộc đối với ngƣời Việt. Nói theo

    Nguyễn Thiện Giáp, đấy là đơn vị tâm lý ngôn ngữ học. Đối với ngƣời Việt,

    6

    việc xác định số lƣợng âm tiết hay tiếng trong một câu văn, câu thơ không

    phải là một việc làm khó khăn.

    Ví dụ câu thơ:

    Trong đầm gì đẹp bằng sen,

    Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng

    Chúng ta dễ dàng xác định đƣợc ngay 14 tiếng bằng cách dựa vào số

    lần luồng hơi đi ra, hay dựa vào số lƣợng thanh điệu.

    Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập, âm tiết tính. Về hình thức, hầu hết

    những đơn vị nhỏ nhất có nghĩa trong tiếng Việt (tƣơng đƣơng một hình vị

    trong các ngôn ngữ ấn – Âu) đều trùng với âm tiết. Thí dụ: nhà xe, tập, viết,…

    quốc, gia, sơn, hữu, vô… Kể cả các trƣờng hợp nhƣ dàng trong dễ dàng, dãi

    trong dễ dãi, xao trong xanh xao, xắn trong xinh xắn… ta đều có thể giải thích

    đƣợc ý nghĩa của chúng.

    Nghĩa của những đơn vị nhƣ: nhà xe, tập, viết,… ta dễ dàng xác định

    đƣợc. Còn nghĩa của quốc, gia, sơn, hữu, vô,… (những yếu tố Hán – Việt), ta

    có thể xác định đƣợc bằng cách đối chiếu từng đơn vị với hàng loạt từ có

    cùng yếu tố cấu tạo. Thí dụ đối chiếu quốc kì, quốc gia, tổ quốc, ái quốc,… ta

    xác định được quốc có nghĩa là nước; gia đình, tư gia, gia thất, gia chủ…, ta

    xác định được gia có nghĩa là nhà. Đối với các trƣờng hợp nhƣ dàng, dãi

    trong dễ dàng, dễ dãi, tuy bản thân chúng không có nghĩa rõ rệt nhƣng ta có

    thể lí giải đƣợc nghĩa của chúng bằng phép trừ kết hợp với phƣơng pháp đối

    chiếu. Thí dụ: nếu cho nghĩa của dễ dãi là x, nghĩa của dễ dàng là y, nghĩa của

    dễ là z, thì có thể xác định nghĩa của dãi bằng sai số x – z, và nghĩa của dàng

    bằng sai số y – z. Riêng các đơn vị cà, phê, rem trong cà phê, cà rem là những

    tiếng tự thân đều vô nghĩa, và ngay cả khi đặt chúng vào trong mối quan hệ

    với cả từ cũng không giải thích đƣợc ý nghĩa của chúng. Đấy là những trƣờng

    hợp đƣợc vay mƣợn từ các ngôn ngữ Ấn – Âu hoặc một ngôn ngữ nào khác

    mà ta chƣa xác định rõ nguồn gốc. Xét về mặt số lƣợng, những trƣờng hợp

    7

    8

    Những tiếng không độc lập và tự thân không mang nghĩa từ vựng, chỉ

    kết hợp hạn chế với một hay vài yếu tố khác. Thí dụ: xôi trong xa xôi; sẽ

    trong sạch sẽ; a, xít trong a xít; mì, chính trong mì chính…

    Kết hợp tiêu chí ý nghĩa và tiêu chí ngữ pháp có thể tổng kết các loại

    tiếng trong tiếng Việt nhƣ sau:

    Tiếng độc lập

    Tiếng có nghĩa thực

    nhà (nhà cửa),…

    Tiếng không có nghĩa thực

    Tiếng không độc lập

    quốc (quốc phòng)

    dãi (dễ dãi), cà (cà phê)

    1.3.2. Phương thức cấu tạo từ tiếng Việt

    1.3.2.1 Các phương thức cấu tạo từ tiếng Việt.

    Phƣơng thức cấu tạo từ là phƣơng thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị để

    cho ta các từ. Từ tiếng Việt sử dụng ba phƣơng thức sau đây: Từ hóa hình vị ,

    ghép hình vị , láy hình vị .

    Từ hóa hình vị là phƣơng thức tác động vào bản thân một hình vị, làm

    cho nó có đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà

    không them bớt gì cả vào hình thức của nó. Những từ nhƣ: Nhà, xe, áo,

    người, mì chính, lốp (xe đạp)… là những từ hình thành do sự từ hóa các hình

    vị nhà, xe, lốp, mì chính…

    Hiện nay phƣơng thức này chỉ tác động vào các hình thức ngữ âm mô

    phỏng âm thanh và các yếu tố vay mƣợn.

    Ví dụ: Từ cạch vốn mô phỏng tiếng động không vang khi hai vật rắn va chạm

    vào nhau. Nay, thông qua phƣơng thức từ hóa mang ý nghĩa: ” bắn súng cối

    bằng cách thả đạn vào nòng súng” và mang đặc điềm ngữ pháp của các từ

    bắn, phóng, phát, lao… để trở thành một từ. Các từ khác nhƣ bịch (đấm vào

    ngực), đốp (đốp vào mặt) đét (đét cho một roi) đều thuộc trƣờng hợp này. Các từ

    nhƣ lốp, săm, phanh, ti vi, mì chính, căn…là do sự từ hóa các yếu tố nƣớc ngoài.

    Ghép là phƣơng thức tác động vào một hoặc hơn hai hình vị có nghĩa,

    kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới (mang đặc điểm ngữ pháp

    9

    10

    11

    thành tố. Thí dụ, đất nước không phải chỉ đất và nƣớc nói chung hay chỉ đất

    hoặc nƣớc, mà hai yếu tố đƣợc hợp lại để chỉ lãnh thổ của một quốc gia trong

    đó có những nét tiêu biểu là đất và nƣớc. Trƣờng hợp non sông, sông núi, sơn

    hà cũng vậy. Một ví dụ khác, ruột thịt không phải chỉ ruột hay thịt nói chung

    mà cả hai hợp lại hợp lại để chỉ quan hệ máu mủ, huyết thống. Hay gan dạ để

    chỉ sự mạnh mẽ, không lùi bƣớc trƣớc nguy hiểm cũng là một trƣờng hợp

    tƣơng tự.

    1.3.3.2.2. Từ ghép chính phụ: Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một

    thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức

    trong kiểu từ ghép này thƣờng có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt

    ngữ pháp. Loại này có những đặc điểm sau:

    Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hƣớng gợi lên các

    sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có

    khuynh hƣớng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể.

    Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thƣờng giữ vai trò chỉ loại sự

    vật, đặc trƣng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ thƣờng đƣợc dùng để cụ thể hóa

    loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trƣng đó.

    Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ

    ghép chính phụ thành hai tiểu loại:

    Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng

    phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trƣng lớn thành những loại sự vật, hoạt

    động, đặc trƣng, cụ thể. Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện

    tƣợng này là tác dụng phân loại. Thí dụ :

     Máy may, máy bay, máy bơm, máy nổ, máy tiện,…

     Làm việc, làm thợ, làm duyên, làm ruộng, làm dâu,…

     Vui tính, vui tai, vui mắt, vui miệng,…

    Chú ý, ở kiểu từ ghép này trật tự của các yếu tố trong từ ghép thuần

    Việt, hoặc Hán – Việt Việt hóa khác từ ghép Hán – Việt, ở hai trƣờng hợp đầu,

    12

    yếu tố chính thƣờng đứng trƣớc, ở trƣờng hợp cuối, yếu tố phụ thƣờng đứng

    trƣớc. Ví dụ:

     Vùng biển, vùng trời, xe lửa, nhà thơ,…

     Hải phận, không phận, hỏa xa, thi sĩ,…

    Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố

    phụ có tác bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiển cho cả từ ghép này khác

    với thành tố chính khi nó đứng một mình nhƣ một từ rời, hoặc khiến cho từ

    ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa. Thí dụ ,

    so sánh xanh lè với xanh và xanh biếc.

    1.3.3.3. Từ láy

    Cho đến nay, nhiều vấn đề về từ láy vẫn còn để ngỏ.Về phƣơng thức

    cấu tạo của từ láy, tồn tại hai ý khác nhau:

    Ý kiến thứ nhất: Từ láy là từ đƣợc hình thành do sự lặp lại của tiếng

    gốc có nghĩa.

    Ý kiến thứ hai: Từ láy là từ đƣợc hình thành bằng cách ghép các tiếng

    dựa trên quan hệ ngữ âm giữa các thành tố.

    Theo ý kiến thứ nhất chỉ có thể lý giải đƣợc một số từ láy xác định

    đƣợc tiếng gốc, bên cạnh những từ ấy còn rất nhiều từ hiện không xác định

    đƣợc tiếng gốc ( ví dụ: bâng khuâng, lẩm cẩm, lã chã,…), hoặc những từ có

    dạng láy nhƣng thật ra chúng vốn đƣợc tạo ra từ phƣơng thức ghép ( ví dụ

    như hỏi han, chùa chiền, dông dài, tang tóc,…).Nhìn từ láy theo ý kiến thứ hai

    lại không có tác dụng giúp ta thấy đƣợc những nét độc đáo về mặt ngữ nghĩa

    của cấu tạo từ này, không thấy đƣợc nét riêng của dân tộc ta trong việc sáng

    tạo những từ ngữ mới nhằm định danh sự vật mới một cách tiết kiệm mà lại

    có khả năng miêu tả sinh động ,biểu cảm nhất. Có thể nói ý kiến thứ nhất đã

    nêu đƣợc những từ láy chân chính trong tiếng Việt. Tuy nhiên cần nhận thức

    đƣợc rằng ngôn ngữ khong đứng yên mà luôn vận động, thay đổi theo sự phát

    triển của xã hội. Trong quá trình đó, những từ ghép có dạng láy cũng khó phát

    13

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vị Trí Của Danh Từ Trong Câu
  • Từ Phức Là Gì? Phân Biệt Từ Phức Với Từ Ghép Như Thế Nào?
  • Luyện Từ Và Câu Lớp 4: Từ Đơn Và Từ Phức
  • Bài 1. Từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt
  • Bếp Điện Từ Công Nghiệp Công Suất Lớn Cho Nhà Hàng Khách Sạn
  • Máy Điện Một Chiều Là Gì? Phân Loại, Công Dụng, Cấu Tạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Chi Tiết Nguyên Lý Hoạt Động Của Máy Phát Điện 3 Pha
  • Cấu Tạo Của Máy Khoan Bàn Và Hướng Dẫn Sử Dụng Khoan Bàn
  • Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Máy Khoan Cầm Tay
  • Cấu Tạo Máy Khoan Đứng Và An Toàn Khi Sử Dụng
  • Phân Biệt Cấu Tạo Và Chức Năng Các Loại Mạch Máu
  • Ngày nay, máy điện xoay chiều được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp, nhưng máy điện một chiều vẫn được dùng trong giao thông vận tải, công nghiệp chính xác, hóa chất, hàn và trong nhiều đồ điện gia dụng,…để làm máy phát điện hoặc động cơ điện .

    Máy điện một chiều tuy cấu tạo phức tạp vì cả phần tĩnh (stato) và phần quay (rôto) đều có dây quấn, được liên hệ với nhau qua chổi than và cổ góp điện nên khó sử dụng, bảo dưỡng, khó sửa chữa nhưng lại có nhiều ưu điểm như:

    • Máy phát điện một chiều cung cấp dòng điện trực tiếp cho công nghiệp điện phân, đúc điện, mạ điện, nạp ắc quy, dùng cho hệ thống tự động khống chế một chiều,…
    • Motor điện dùng cho máy bơm nước loại một chiều dễ điều chỉnh tốc độ trong phạm vi rộng, bằng phẳng liên tục, mômen khởi động cao.

    Cấu tạo của động cơ điện bơm nước một chiều và máy phát điện một chiều hoàn toàn going nhau: đều dùng động năng kéo cho rôto quay thì máy sẽ phát ra điện một chiều để thắp đèn, chạy máy. Ngược lại, khi cấp điện vào máy thì roto sẽ quay để kéo các máy công tác.

    Máy điện một chiều khi sử dụng làm động cơ điện máy bơm nước, nếu giữ nguyên chiều dòng điện chạy trong dây quấn và tên các cực từ như ở máy phát điện thì động cơ sẽ quay ngược chiều với chiều quay khi làm máy phát điện.

    Phân loại và công dụng của máy điện một chiều

    Để phân loại máy điện một chiều, người ta dựa vào phương pháp kích từ cho máy, có thể chia ra làm 4 loại chính:

    1. Máy điện một chiều kích từ độc lập

    Cuộn dây kích từ không nối dung vào phần úng mà lấy từ nguồn điện một chiều bên ngoài. Nguồn này có thể từ acquy hoặc ở mạch điện một chiều khác (điều khiển tự động từ ngoài vào) nên chủ động được dòng kích từ để động cơ làm việc theo quy trình định trước.

    2. Máy điện một chiều kích từ song song (tự kích từ)

    Dây quấn kích từ đấu song song với dây quấn phần ứng. Khi dùng làm máy phát điện, roto quay thì từ dư sẽ cảm ứng vào dây quấn phần ứng sức điện động nhỏ, sức điện động này sẽ sinh ra dòng điện kích từ ở cuộn dây kích từ, vì thế từ thông của máy sẽ được tăng lên, làm cho sức điện động tăng lên.

    Sức điện động tăng thì dòng điện kích từ lại tăng làm cho từ trường của máy tăng lên. Quá trình đó tiếp tục cho đến khi đạt đến điện áp định mức. Dòng điện kích từ thường ở mức 1-5% so với dòng điện định mức của phần ứng.

    Máy phát điện kích từ song song chỉ dùng cho tải được phép biến động, vì khi tải tăng, điện áp ra của máy bị giảm xuống. Do đó những máy phát điện dùng trên ô tô phải kèm theo bộ điều tiết để ổn định điện áp và dòng điện nạp vào ắc quy (hình 1)

    Động cơ điện kích từ song song thì cuộn dây kích từ phải được nối song song với phần ứng sao cho nhận được điện áp định mức khi máy khởi động. Mômen động cơ tăng tuyến tính với dòng điện, còn tốc độ gần như không đổi theo phụ tải.

    Động cơ kích thích song song được dùng để kéo những máy có tốc độ ít biến đổi theo tải như: thang máy, quạt gió, máy dệt,…

    3. Máy điện một chiều kích từ nối tiếp (hình 2)

    Cuộn dây kích từ được đấu nối tiếp với dây quấn phần ứng qua chổi than và cổ góp điện. Dòng điện qua cuộn dây kích từ cũng bằng dòng điện phần ứng nên cuộn dây kích từ phải quấn bằng dây to và ít vòng. Do cuộn dây kích từ nối tiếp với phần ứng nên khi dòng điện phụ tải thay đổi thì tốc độ động cơ cũng thay đổi : tải nặng thì tốc độ giảm, tải nhẹ tốc độ sẽ tăng.

    Máy điện một chiều kích từ nối tiếp chỉ được dùng làm động cơ điện vì có mômen khởi động cao gấp 3/4 lần định mức, nó phù hợp để kéo máy khởi động ô tô, tàu thủy, dùng làm động cơ xe cẩu, palangw, tời điện, ô tô điện, ,…Khi chạy không tải tốc độ vọt lên rất cao, có thể làm vỡ bi hoặc gãy trục.

    Vì vậy động cơ nối tiếp không được cho chạy không tải (kể cả khi chạy thử) hoặc cắt tải đột ngột.

    4. Máy điện một chiều kích từ hỗn hợp

    Phần cảm gồm có 2 cuộn dây:

    • Cuộn kích từ song song quấn bằng dây nhỏ, nhiều vòng, nối song song với phần ứng
    • Cuộn kích từ nối tiếp quấn bằng dây to, ít vòng, đấu nối tiếp với phần ứng. Những máy lớn có thêm cuộn dây bù cũng đấu nối tiếp với phần ứng.

    Máy điện kích từ hỗn hợp được dùng làm máy phát điện ở các phương tiện giao thông, làm máy phát điện trong công nghệ hàn.

    Máy cũng được sử dụng làm động cơ điện khi có yêu cầu công nghệ đặc biệt : từ thông của máy là tổng hợp các từ thông của cuộn kích từ song song và kích từ nối tiếp, do vậy nó tận dụng được những đặc tính cơ bản của hai loại trên tùy theo cách đấu dây để sử dụng cuộn dây kích nào đóng vai trò chủ yếu.

    Ví dụ 1: máy phát điện hàn 1 chiều kích từ hỗn hợp (tự kích từ), có 2 cuộn dây kích từ (hình 3) nối dây theo kiểu kích từ âm.

    • Cuộn dây kích từ song song, được cung cấp từ nguồn một chiều cố định. Cuộn dây kích từ nối tiếp được đấu nối tiếp với tải. Khi chưa hàn, điện áp không tải của máy từ 60V ~ 80V đủ để gây hồ quang cho que hàn. Điện áp này tạo ra do hiện tượng tự kích nhờ cuộn dây kích từ song song.
    • Khi đang hàn, dòng điện hàn đi qua cuộn dây kích từ nối tiếp, nó sẽ sinh ra từ thông ngược chiều với từ thông của cuộn dây chính gây ra hiện tượng khử từ tạo nên điện áp rơi. Vì vậy, lúc đang hàn điện áp ở kìm hàn chỉ còn từ 30V ~ 40V mà vẫn an toàn cho thợ hàn.
    • Trường hợp ngắn mạch ở kìm, từ thông của cuộn kích từ nối tiếp gần bằng từ thông của cuộn song song nên chúng khử nhau. Từ thông khi ấy có trị số rất nhỏ, do đó điện áp ở hai đầu máy hàn giảm gần tới 0 đảm bảo an toàn cho máy.

    Ví dụ 2: Máy điện một chiều kích từ hỗn hợp kiểu IIH205 dùng làm động cơ thì cách đấu dây giữa hai cuộn với phần ứng lại là kích từ dương có tác dụng trợ từ cho nhau (hình 4).

    Phần cảm (stato) gồm có các cuộn dây:

    • Cuộn kích từ song song Wa.
    • Cuộn kích từ nối tiếp Wb và cuộn dây bù Wb2.

    Động cơ này có công suất P = 33,5 Kw, điện 1 chiều U = 220V, tốc độ 1580 vòng/phút, được lắp cho hệ thống máy xén giấy để điều chỉnh tốc độ cho phù hợp với từng loại nguyên liệu và mômen khởi động cao. Khi tải nặng, tốc độ động cơ có xu hướng giảm xuống nhờ có dòng điện kích từ qua cuộn nối tiếp tăng. Do vậy, từ thông qua nó cũng tăng lên giữ cho tốc độ động cơ hầu như không đổi để đảm bảo yêu cầu của công nghệ giấy. Động cơ này vẫn là máy điện một chiều nếu được một nguồn động lực kéo để quay với tốc độ 1460 vòng/phút thì phát ra điện một chiều 220V – 230V, P = 27Kw

    Một số điểm chú ý:

    • Máy phát điện tự kích từ muốn phát ra điện thì phải còn từ dư, nếu bị mất từ dư thì phải dùng điện một chiều mồi lại từ cho máy.
    • Phải nối dây quấn ích từ đúng chiều để nó sinh ra từ trường trùng với chiều của từ trường dư, nếu nối sai làm cho từ trường của dây quấn kích từ ngược chiều với từ dư sẽ dấn đế khử từ dư, thì dù có cho máy phát điện quay đúng chiều cũng không phát ra điện được.
    • Một vài loại máy phát điện đặc biệt (hình 3) kể cả máy phát điện nhỏ ở ô tô (do tự động điều chỉnh U và I để nạp điện vào acquy) đặt thêm chổi than phụ thứ 3 để lấy điện dương (+) kích từ vào cuộn dây kích thích song song. Chổi than phụ cỡ nhỏ và có thể điều chỉnh được: chỉnh chổi than phụ gần lại chổi than lửa (+) thì điện áp và dòng điện tăng lên, nếu kéo ra xa hơn thì U và I của máy phát sẽ giảm đi.
    • Chiều quay của động cơ điện máy bơm nước một chiều phụ thuộc vào tên cực từ, bởi vậy nếu muốn đổi chiều quay thì phải giữ nguyên chiều dòng điện vào phần ứng và đổi chiều dòng điện kích từ bằng cách đảo chéo đầu với cuối cuộn dây kích từ để đổi tên cực từ thì chiều quay sẽ thay đổi.

    Với máy phát điện khi đã nối dây quấn kích từ đúng, thì phải cho máy quay đúng chiều quy định máy mới phát điện được.

    Tóm lại, mỗi loại máy được thiết kế chế tạo để có đặc tính riêng, phù hợp với yêu cầu công nghệ nên khi sửa chữa không được tùy tiện sửa đổi cách đấu dây của chúng.

    Máy điện một chiều gồm:

    Được gọi là phần cảm, thường làm bằng thép đúc để dẫn từ đồng thời là thân máy, trên thân có hàn chân máy, móc treo. Những máy lớn có loại đúc bằng gang, thân máy liền chân có gắn tăng cường. Phía trong được lắp các cực từ lồi, bắt chặt vào thân máy bằng bu lông.

    Có hai loại cực từ: cực từ chính và cực từ phụ, mỗi máy thông thường có từ 2 đến 8 cực từ chính.

    Động cơ điện một chiều nhỏ (đầu video, catxet, đồ chơi trẻ em,…) thì phần cảm có các cực từ bằng nam châm vĩnh cửu N – S đặt xen kẽ.

    Cực từ chính

    • Dùng để tạo nên từ thông chính của máy điện một chiều. Nó được chế tạo bằng các lá thép 0,5 ~ 1mm (lá thép kỹ thuật điện – KTĐ) ghép lại (máy nhỏ có khi được đúc bằng thép). Thân cực từ có dạng hình chữ nhật, trên đó đặt cuộn dây kích từ.
    • Mặt cực từ hướng về phía phần ứng và có hình dáng lo era để giữ chặt cuộn dây kích từ và để cho từ trường phân bố đều theo chu vi phần ứng được tốt nhất. Những máy công suất lớn, tốc độ nhanh, phụ tải thay đổi đột ngột thì trên mỏm cực còn có thêm các thành rãnh để đặt cuộn dây bù nối tiếp với phần ứng cải thiện việc đổi chiều được ở bất kỳ phụ tải nào. Cực từ được bắt chặt vào stato bằng các bu lông. Để có thể điều chỉnh khe hở không khí giữa cực từ và roto, đôi khi có thêm một vài miếng đệm thép dày 0,5mm lót giữa thân cực từ và stato (hình 5).

    Cực từ phụ:

    • Thường chế tạo bằng thép khối hoặc thép lá kỹ thuật điện (KTĐ) được sử dụng ở máy lớn, điện áp cao, có phụ tải biến đổi nhiều. Nó cũng được bắt chặt vào stato bằng bulong (có lót miếng đệm để điều chỉnh khe hở).
    • Cực phụ nhỏ hơn cực chính (cuộn dây đặt trên cực phụ quấn ít vòng bằng dây to) và được đặt đúng trên đường trung tính hình học giữa hai cực chính khác tên để cải thiện từ trường do phản ứng phần ứng làm méo, khắc phục được tia lửa điện trên cổ góp điện.

    Lõi phần ứng

    • Dạng hình trống, ghép bằng các lá thép KTĐ dày 0,5mm để dẫ từ tốt, giảm tổn thất do dòng điện xoáy. Các lá thép đã dập sẵn lỗ thông gió để làm mát máy (máy nhỏ chỉ lắp cánh quạt làm mát) và các rãnh để quấn dây.
    • Máy nhỏ dập rãnh nửa kín, tuy lồng dây khó nhưng từ thông phân bố tốt, còn ở máy cỡ trung bình và lớn thì rãnh roto thường có hình chữ nhật, vách thẳng và miệng hở. Vì rãnh hở nên việc lồng dây, đặt thanh dẫn bằng đồng dễ dàng nhưng khi quấn roto xong phải đánh đai quanh roto để chống lực ly tâm làm bung dây.

    Cổ góp điện

    • Nằm trên roto, gồm nhiều phiến đồng “cadimi” dập theo dạng mang cá, tiết diện hình thang ghép chặt với nhau và được cách điện giữa hai phiến bằng mica. Phía trong cổ góp được lót cách điện với trục bằng ống nhựa cứng hoặc “mũ micanit”, phía ngoài là một mặt trụ láng nhẵn bóng.
    • Máy nhỏ thì cổ góp được đổ nhựa tổng hợp, còn máy lớn thì phiến góp được giữ chặt bằng hai vòng chặn, đầu có ren đai ốc hoặc tán chặt thành khối.
    • Dây quấn phần ứng được kẹp vào các phiến góp rồi hàn thiếc chắc chắn.

    Chổi than

    • Điện được đưa qua dây quấn phần ứng nhờ choorit han. Trong quá trình làm việc chổi than đứng yên, chỉ có những viên than bằng “graphit” đặt trong hộp giá đỡ chổi than được ấn sát xuống cổ góp điện nhờ những lò xo.
    • Giá đỡ chổi than được lót cách điện và bắt chắc chắn vào nắp máy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đá Dây Chuyền Nghiền Để Bán Ở Việt Nam
  • Máy Nghiền Búa Có Cấu Tạo Và Hoạt Động Ra Sao? Mua Ở Đâu Tốt?
  • Cấu Tạo Và Công Dụng Của Máy Biến Áp Cách Ly 1 Pha
  • Cấu Tạo Máy Biến Áp 1 Pha
  • Bài 46: Máy Biến Áp Một Pha
  • Cấu Tạo Của Một Bộ Sofa Hoàn Chỉnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Trúc Răng Của Con Người Là Như Thế Nào?
  • Cấu Trúc Hàm Răng Có Cấu Tạo Như Thế Nào?
  • Đặc Điểm Hình Thái, Chức Năng Hệ Hô Hấp
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Vòng Bạch Huyết Waldayer
  • Chord Construction – Cấu Tạo Hợp Âm
  • Ghế sofa được cấu tạo như thế nào? Bạn đã tìm hiểu hết về phần bên trong của bộ ghế bạn vẫn sử dụng hàng ngày hay chưa?

    Cấu tạo của ghế sofa cơ bản gồm 4 phần chính:

    – Khung xương

    – Lò xo đàn hồi

    – Mút lót đệm

    – Vải bọc

    1. Phần khung xương

    Trong 1 bộ sofa thì phần khung là phần quan trọng nhất. Hiện nay vật liệu để sản xuất sofa rất đa dạng gồm có kim loại và các loại nhựa tổng hợp có độ bền cao.

    Ngoài ra khung xương ghế sofa còn được làm kết hợp giữa gỗ tự nhiên và gỗ công nghiệp. Các phần khung chịu lực chính được làm bằng gỗ tự nhiên để tạo kết cấu vững chắc, không biến dạng cong vênh mối mọt trong quá trình sử dụng. Liên kết giữa các kết cấu này bằng mộng, đinh hoặc vít đen nhằm tạo nên kết cấu ổn định nhất. Các phần tấm lớn tạo phom cho ghế sử dụng ván Plywood để tạo độ phẳng và ổn định. Để phân biệt được khung gỗ có tốt hay không, bạn chỉ cần kiểm tra sự ổn định của bộ ghế như khi xô vịn không bị ọp ẹp lung lanh, bê nặng tay, khung chắc chắn, có thể đứng lên những phần tay, lưng để nhún mà không bị võng hay hỏng.

    Hiện tại những bộ sofa do Soloha cung cấp vẫn trung thành với phần khung làm hoàn toàn từ gỗ tự nhiên (thường là gỗ sồi Nga) khung làm từ gỗ tự nhiên rất chắc chắn chống chịu lực tốt và thân thiện với môi trường.

    2. Phần Lò xo đàn hồi

    Lò xo đàn hồi bằng thép đặc biệt tạo nên sự êm ái cho chiếc sofa

    Lò xo là phần chịu lực ngồi của sofa, là kết cấu gắn liền với khung ghế, chịu lực tác động trực tiếp từ đệm ngồi xuống ghế. Lò xo được làm bằng thép lò xo đặc biệt S60C, chịu đàn hồi cao, êm ái khi sử dụng, bền với thời gian. Không bị giãn lỏng trong suốt quá trình sử dụng, chịu được lực nén lớn.

    3. Phần mút lót đệm

    Mút là nguyên liệu quan trọng bậc nhất làm nên 1 chiếc ghế sofa êm ái. Là phần không lộ ra bên ngoài nhưng chịu trách nhiệm tạo nên phom ghế, tạo độ êm ái khi sử dụng. Một chiếc sofa tốt phải được làm từ loại mút tốt. Mút tốt là mút có độ đặc cao, độ đàn hồi lớn, không bị xẹp lún trong quá trình sử dụng.

    Những bộ sofa do Soloha cung cấp có mút Kimdan độ dày 15cm chất lượng rất tốt tạo ra sự êm ái nhất khi ngồi.

    4. Phần vải bọc

    Vải bọc là bộ mặt của chiếc ghế sofa. 1 chiếc sofa có ấn tượng hay không? Nhìn có đẹp mắt hay không thì vải bọc bên ngoài sẽ quyết định. Màu sắc hoa văn của vải bọc sẽ phải được lựa chọn kỹ càng để phù hợp với không gian của từng ngôi nhà.

    Chất liệu vải nhập từ Hàn Quốc được nhiều người ưa chuộng để bọc ghế

    Hiện tại, phần vải bọc cho những chiếc ghế sofa do Đức Khang cung cấp được nhập khẩu từ các nước Đức, Mỹ, Indonesia, Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc… để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Chất lượng vải có đủ loại từ giá rẻ đến cao cấp được thiết kế tùy theo mức giá mà khách hàng yêu cầu.

    Ngoài 4 phần chính tạo nên 1 bộ sofa đẹp còn kèm theo những phụ kiện khác cũng đóng vai trò quan trọng trong bộ ghế sofa như phần chân sofa, gối trang trí…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Của Một Đôi Giày Bóng Rổ
  • Cấu Tạo Và Nguyên Lí Hoạt Động Giường Gấp Gắn Tường Thông Minh
  • Giường Ngủ Gỗ Tự Nhiên: Đặc Điểm Cấu Tạo, Đầy Đủ Nhất
  • Cấu Tạo Giường Ngủ Đạt Chuẩn Và Các Thông Số Cơ Bản Nhất
  • Glucozơ – Cấu Tạo, Tính Chất Vật Lý Hóa Học, Điều Chế Và Ứng Dụng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100