Top 11 # Xem Nhiều Nhất Việt Nam Gia Nhập Wto Có Lợi Ích Gì Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Việt Nam Gia Nhập Wto Năm Nào

Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức WTO, đây được coi là một bước ngoặt trọng đại và một khởi đầu đầy tốt đẹp từ năm 2007, mặc dù sự kiện này đã được biết trông đợi từ trước (năm 1995, Việt Nam đã chính thức xin gia nhập vào Tổ chức mậu dịch Thế Giới, hay còn được gọi với tên theo Anh ngữ là WTO).

Trước đó, Việt Nam đã kết thúc năm 2016 với rất nhiều thành công trong việc đàm phán gia nhập WTO và quan trọng hơn hết là đạt được những chỉ số kinh tế vĩ mô hơn cả sự mong đợi.

Vì sao việt nam gia nhập wto?

Mong muốn Việt Nam được gia nhập WTO cũng vì mục tiêu thúc đẩy tự do hàng hóa thương mại với thế giới, WTO có các hình thức hỗ trợ như: Giảm thuế quan, xóa bỏ những rào cản phi thuế quan ( hạn ngạch, cấp phép xuất nhập, khẩu), xóa bỏ đi trợ cấp, mở cửa thị trường kinh doanh với các nước, tạo một sân chơi bình đẳng cho hầu hết doanh nghiệp trong và ngoài nước, bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo đảm quyền trí tuệ và bản quyền sáng tạo.

Những quy định được WTO đưa ra, trên lý thuyết sẽ tạo một thuận lợi cho những nước thành viên mở rộng thị trường, thâm nhập sâu vào trong thị trường của các nước và tranh thủ vốn đầu tư, được nhận sự hỗ trợ từ công nghệ và kỹ năng quản lý của nước ngoài, được quyền tham gia đóng góp các “luật chơi” mới, được quyền xử lý những cạnh tranh thương mại, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng tư duy, phát triển, cạnh tranh, đem lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng.

Tất cả những lợi ích trên nước ta đều phấn đấu để trở thành thành viên của Tổ chức WTO. Hơn hết, nền kinh tế của nước ta chưa thực sự phát triển nên còn phụ thuộc đáng kể vào nền kinh tế từ thế giới ở cả đầu vào lẫn đầu ra. Ở đầu vào, vốn nước ngoài (trong đó có cả ODA lẫn FDI) chiếm tới 30% tổng số vốn đầu tư của toàn bộ xã hội. Còn ở đầu ra, kim ngạch xuất khẩu bằng khoảng trên dưới 60% trị giá GDP, nếu tính cả kim ngạch xuất, nhập khẩu thì đạt tới 132%.

Do đó, nếu muốn nền kinh tế phát triển hơn, ta cần tranh thủ những vốn đầu tư ở nước ngoài vào thị trường để tiêu thụ sản phẩm, nhất là sức mua của thị trường ở trong nước còn đang rất hạn chế. Nói sâu xa hơn thì việc trở thành thành viên của WTO là một điều tất yếu và khách quan, bởi sẽ đạt được nhiều lợi ích cho chính chúng ta, xong cũng chỉ là phương tiện để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế chứ không phải là mục đích tự thân.

Quá trình việt nam gia nhập wto

1 – 1995: Việt Nam chính thức nộp đơn xin gia nhập WTO. Ban chỉ đạo công tác xét duyệt hồ sơ gia nhập của Việt Nam được thành lập do Chủ tịch là ông Eirik Glenne, Đại sứ đến từ Na Uy tại WTO.

8 – 1996: Việt Nam nộp bị WTO đưa ra quyết định “Bị vong lục về chính sách thương mại”.

1996: Bắt đầu đàm phán hiệp đại thương mại song phương với nước Mỹ.

1998 – 2000: Thực hiện 4 phiên họp đa phương cùng với Ban Công tác về Minh bạch hóa những chính sách thương mại kể từ năm 7-1998, 12-1998, 7-1999 và 11-2000. Sau khi thực hiện xong 4 phiên họp này, Ban công tác của WTO đã đưa ra nhận xét Việt Nam cơ bản đã kết thúc quá trình minh bạch hóa chính sách và chuyển sang một giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường.

7-2000: Ký kết chính thức BTA với Hoa Kỳ

12-2001: BTA đã đạt được hiệu lực

4-2002: Thực hiện phiên họp đa phương lần thứ 5 với Ban công tác. Chúng ta đã đưa ra bản chào đầu tiên về hàng hóa và dịch vụ. Tiếp đến thực hiệp đàm phán song phương.

2002 – 2006: Đàm phán song phương cùng với một vài thành viên có yêu cầu đàm phán, cùng với 2 mốc quan trọng.

10 – 2004: Chúng ta đã đàm phán song phương với EU( là đối tác quan trọng lớn nhất).

5-2006: Kết thúc phiên đàm phán song phương với Mỹ – đây là đối tác cuối cùng trong tổng 28 đối tác cần phải đàm phán.

26-10-2006: Kết thúc phiên đàm phán cuối cùng, Ban công tác đã chính thức thông qua giấy tờ sổ sách gia nhập WTO của Việt Nam.

11-1-2007: WTO đã chính thức nhận được sự phê duyệt chính thức của toàn quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Bắt đầu từ lúc này Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức WTO.

Lợi ích khi việt nam gia nhập WTO?

Tăng trưởng kinh tế khả quan

Nền kinh tế Việt sau khi gia nhập WTO được hơn 12 năm, mặc dù bị ảnh hưởng nhiều tác động từ khủng hoảng tài chính toàn cầu, những vấn đạt được mức kỳ vọng tăng trưởng bình quân là 6,29%/năm – thành tựu này vô cùng quan trọng.

Đổi thay thể chế chính sách kinh tế, thương mại đầu tư

WTO đã giúp chúng ta thay đổi một diện mạo khung khổ pháp lý, thể chế chính sách về kinh tế, thương mại, đầu tư, phát triển, cũng như phương thức quản lý kinh tế của Việt Nam.

Từ khi gia nhập, đã mở màn cho sự bùng nổ mới của khu vực doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, đạt kỷ lục gần 60.000 doanh nghiệp mới đã được thành lập.

Điểm sáng xuất nhập khẩu, hút vốn FDI

Sau 10 năm Việt Nam gia nhập WTO, tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã tăng vượt trội hơn 4 lần, vượt mốc 350 tỷ USD.

Tốc độ sản xuất nhập khẩu ngày một tăng nhanh chóng. Theo nhiều chuyên gia kinh tế, tốc độ tăng trưởng thương mại lớn là một điều rất đáng mừng, đây là một minh chứng cho nền kinh tế Việt Nam mở cửa đang rất phát triển.

Lợi Ích Của Kinh Tế Việt Nam Khi Gia Nhập Wto

Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO tác động, ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của các trường đại học, viện nghiên cứu nói chung và về lĩnh vực kế toán nói riêng bao gồm cả những yếu tố thuận lợi sau: – Chỉ sau hơn 10 năm Việt nam đã từng bước chuyển mình bằng việc thể chế hoá các định chế hệ thống pháp lý tạo điều kiện cho mọi tổ chức sẵn sàng hoà nhập và thách thức trong môi trường cạnh tranh. hệ thống pháp luật về kế toán- kiểm toán của Việt nam liên tục được phát triển và hoàn thiện. Bằng chứng là chúng ta đã ban hành các chuẩn mực về kế toán và kiểm toán phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và được quốc tế thừa nhận. Cho đến nay Việt nam đã ban hành được 27 chuẩn mực kế toán và 38 chuẩn mực kiểm toán đã bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động của mọi loại hình doanh nghiệp tạo điều kiện cho việc minh bạch số liệu , đồng thời cũng tạo môi trường đầu tư lành mạnh, từng bước thực hiện các cam kết hội nhập trong lĩnh vực kế toán – kiểm toán theo các Điều ước quốc tế mà Việt nam đã cam kết hoặc gia nhập. – Vị thế của kế toán và kiểm toán Việt nam ngày càng được đề cao khi Hiệp định khung về thừa nhận lẫn nhau ( MRA ) trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán đã được ký kết giữa 10 nước ASEAN tại Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 10 vào tháng 8 năm 2011 vừa qua. Từ đây có thể khẳng định sứ mệnh và vai trò của lực lượng kế toán – kiểm toán ngày càng được đề cao trong xã hội , vì thế đòi hỏi của xã hội đối với những người làm nghề kế toán – kiểm toán ngày càng lớn và đó cũng là trọng trách của hoạt động đào tạo kế toán – kiểm toán trong các trường đại học và viện nghiên cứu hiện nay. Đồng thời, các trường đại hoc, viện nghiên cứu có chuyên ngành kế toán – kiểm toán sẽ có điều kiện mở rộng hợp tác liên doanh với các cơ sở của nước ngoài, qua đó có nhiều thuận lợi trong việc học tập, áp dụng kinh nghiệm, phương pháp nghiệp vụ, kỹ năng chuyên môn, công tác đào tạo, nghiên cứu nước ta có điều kiện tiếp cận và theo kịp trình độ tiên tiên của các nước trên thế giới. – Song hành với những thuận lợi thì có thì tiềm năng cơ bản của đào tạo kế toán hiện nay có thể dựa trên nền tảng nhu cầu của các khu vực kinh tế có quan hệ mật thiết đến hoạt động kế toán sau : + Về khu vực doanh nghiệp thì số lượng doanh nghiệp tăng trưởng nhanh chóng với hơn 500.000 doanh nghiệp đăng ký tại thời điểm cuối năm 2010, trong đó riêng năm 2010 số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là hơn 90.000 doanh nghiệp . + Thị trường chứng khoán phát triển với trị giá vốn hoá đến cuối năm 2009 chiếm 23,1% GDP + Các công ty kiểm toán Việt nam chỉ trong vòng hơn 10 năm từ năm 1998 đến năm 2011 phát triển với một tốc độ tăng trưởng bình quân 23% năm, đội ngũ chuyên nghiệp trong giai đoạn này là 20% năm. + Khu vực công phát triển nhanh chóng cùng với phát triển của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước các cấp…

Đặc biệt để phát triển bền vững hơn nữa cần đổi mới chương trình đào tạo kế toán ở bậc đại học thiết nghĩ chúng ta cần quan tâm các vấn đề cơ bản sau đây: – Thực hiện phải khảo sát thị trường trước – Cần tổ chức họp mặt thường xuyên giữa nhà trường và các đơn vị sử dụng lao động kế toán – kiểm toán – Thu thập phản hồi từ các công ty tuyển dụng sinh viên – Hợp tác với các công ty trong cùng lĩnh vực thường xuyên tổ chức các chương trình hướng nghiệp – Các chương trình mời chuyên gia từ giỏi từ giới kinh doanh đến nói chuyện với sinh viên – Mối quan tâm của các doanh nghiệp khi sinh viên thực tập – Sử dụng công nghệ trong việc đổi mới nội dung giảng dạy tại các trường đại học – Chia sẻ kinh nghiệm về chương trình đào tạo kế toán quốc tế tại Việt nam với các trường đại học quốc tế đã có mặt tại Việt nam. Website: www.gec.edu.vn

Việt Nam Gia Nhập Wto, Cơ Hội Và Thách Thức

– 1998 – 2000: Tiến hành 4 phiên họp đa phương với Ban Công tác về Minh bạch hóa các chính sách thương mại vào tháng 7-1998, 12-1998, 7-1999, và 11-2000. Kết thúc 4 phiên họp, Ban công tác của WTO đã công nhận Việt Nam cơ bản kết thúc quá trình minh bạch hóa chính sách và chuyển sang giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường.

– 1-1995: Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO. Ban Công tác xem xét việc gia nhập của Việt Nam được thành lập với Chủ tịch là ông Eirik Glenne, Đại sứ Na Uy tại WTO (riêng từ 1998–2004, Chủ tịch là ông Seung Ho, Hàn Quốc)

– Từ đầu những năm 90 Việt Nam đã bắt đầu quá trình tham gia vào nền kinh tế thế giới

– 12-2001: BTA có hiệu lực

– – 4-2002: Tiến hành phiên họp đa phương thứ 5 với Ban Công tác. Việt Nam đưa ra Bản chào đầu tiên về hàng hóa và dịch vụ. Bắt đầu tiến hành đàm phán song phương.

- - 2002 – 2006: Đàm phán song phương với một số thành viên có yêu cầu đàm phán, với 2 mốc quan trọng:

– – 10-2004: Kết thúc đàm phán song phương với EU – đối tác lớn nhất

– – 5-2006: Kết thúc đàm phán song phương với Hoa Kỳ – đối tác cuối cùng trong 28 đối tác có yêu cầu đàm phán song phương.

– – 26-10-2006: Kết thúc phiên đàm phán đa phương cuối cùng, Ban Công tác chính thức thông qua toàn bộ hồ sơ gia nhập WTO của Việt Nam. Tổng cộng đã có 14 phiên họp đa phương từ tháng 7-1998 đến tháng 10-2006.

– – 7-11-2006: WTO triệu tập phiên họp đặc biệt của Đại Hội đồng tại Geneva để chính thức kết nạp Việt Nam vào WTO. Ngày 7/11/2006, Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển và Tổng giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Pascal Lamy đã ký vào Nghị định thư gia nhập của Việt Nam kết thúc 11 năm tiến hành hàng loạt các cuộc đàm phán song phương, đa phương và tham vấn kể từ khi đệ đơn gia nhập vào năm 1995.

– – 11-1-2007 WTO nhận được được quyết định phê chuẩn chính thức của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Kể từ đây, Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO.

Lí do gia nhập WTO của Việt Nam cũng như của phần lớn các nước đang phát triển khác là để có động lực thúc đẩy xuất khẩu do phải cải thiện các điều kiện tham gia vào thị trường quốc tế. Cùng với việc mở rộng doanh số hàng nông sản và dệt may, Việt Nam cũng hi vọng thu hút thêm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Một lợi ích quan trọng nữa đối với Việt Nam, nhất là sau một số vụ kiện bán phá giá tại Hoa Kỳ (cá da trơn, tôm) và EU (xe đạp), chính là việc tiếp cận với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Sau cùng, việc gia nhập cũng sẽ tạo ra động lực mạnh hơn cho những cải cách trong nước tiếp theo về định hướng thị trường

2. Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập WTO

11-1-2007, Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO. Sự kiện này mở ra cơ hội mới cho sự phát triển đất nước và cả những thách thức cần phải vượt qua khi VN được tham gia vào tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu.

Cơ hội

Một là: khi gia nhập WTO, Việt Nam được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ, không bị phân biệt đối xử.

Hai là: Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lý theo quy định của WTO, môi trường kinh doanh của Việt Nam ngày càng được cải thiện.

Ba là: Gia nhập WTO, Việt Nam có được vị thế bình đẳng như các thành viên khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp.

Bốn là: Việc gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của Việt Nam đồng bộ hơn, có hiệu quả hơn.

Năm là: Cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau 20 năm Đổi mới, việc gia nhập WTO sẽ nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế, tạo điều kiện cho Việt Nam triển khai có hiệu quả đường lối đối ngoại.

Thách thức

Một là: Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn.

Hai là: Trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của toàn cầu hoá là không đồng đều. Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn. Ở mỗi quốc gia, sự “phân phối” lợi ích cũng không đồng đều. Một bộ phận dân cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân hoá giàu nghèo sẽ mạnh hơn. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và an sinh xã hội đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ trương của Đảng: “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”.

Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên. Trong điều kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều thì đây là khó khăn không nhỏ.

Bốn là: Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền.

 Nguồn: Bộ Tài Chính Việt Nam

Lợi Ích Và Chi Phí Tiềm Năng Khi Việt Nam Gia Nhập Hiệp Định Mua Sắm Công Wto (Gpa)

Trân trọng cảm ơn người dùng đã đóng góp vào hệ thống tài liệu mở. Chúng tôi cam kết sử dụng những tài liệu của các bạn cho mục đích nghiên cứu, học tập và phục vụ cộng đồng và tuyệt đối không thương mại hóa hệ thống tài liệu đã được đóng góp.

Many thanks for sharing your valuable materials to our open system. We commit to use your countributed materials for the purposes of learning, doing researches, serving the community and stricly not for any commercial purpose.

Từ khóa: Mua sắm công, mua sắm chính phủ, đấu thầu, Hiệp định mua sắm chính phủ (GPA)

In Vietnam, government procurement accounts for considerable proportion of GDP (from 7% in 2007 up to 22% in 2010 – in a report from MUTRAP in 2010 the number could be 36%) but becomes the most ineffective expenditure in the whole economy embedding waste and corruption, which entails high public debt and high inflation. Therefore, government spending including government procurement has been targeted as an urgent area that needed to be reformed. Reforming government spending is also one of three reconstructive pillars identified by Vietnam’s government after being suffered from the impacts of the global financial crisis in 2008 as well as in the context of limited resources for capital based growth model. Under the circumstances, committing to the trade agreements in which government procurement provisions are attached could be a valuable tool to enhance this process. Indeed, Vietnam completed negotiation of Trans Pacific Partnership (TPP) which embodies government procurement provisions and simultaneously an observer of Government Procurement Agreement of the WTO (GPA). Therefore, from economic and political perspective, Vietnam has strong incentives to access to GPA to promote the efficiency of government procurement in particular and government spending in general. Participating GPA, however brings not only benefits but also costs incurred by acceding members. The article will introduce first overall information about government procurement and GPA, then examine how it will impact on Vietnam’s economy

Key words: public procurement, government procurement, tendering, government procurement agreement (GPA)

1 Tổng quan về mua sắm công và GPA

1.1 Mua sắm công là gì và vai trò của nó đối với nền kinh tế

Mua sắm công hay mua sắm chính phủ theo giải thích của WTO đó là hoạt động mua sắm hàng hóa, dịch vụ của các cơ quan chính phủ để phục vụ cho hoạt động của cơ quan mình. Nói một cách khác, mua sắm công là tất cả các hoạt động mua sắm hàng hóa và dịch vụ cần thiết để các cơ quan chính phủ thực thi chức năng của mình. Mua sắm công theo định nghĩa trên là hoạt động tạo ra đầu vào cho các cơ quan quản lý hành chính hoặc quan trọng hơn là đầu vào để cơ quan đại diện cho chính phủ sản xuất ra hàng hóa công cộng.

Theo OECD, mua sắm công được hiểu là những mua sắm của chính phủ và các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) đối với hàng hóa, dịch vụ và các công trình. Mua sắm công là một chuỗi các hoạt động bắt đầu từ việc đánh giá nhu cầu đến đấu thầu , quản lý thầu và thanh toán

Việt Nam chưa có định nghĩa về mua sắm công tuy nhiên dựa trên các nguồn định nghĩa khác có thể tổng hợp: Mua sắm công là hoạt động của các cơ quan Nhà nước, đoàn thể, lực lượng vũ trang và DNNN sử dụng vốn Nhà nước để mua sắm hàng hóa, thuê dịch vụ hoặc thực hiện các dự án đầu tư để phục vụ việc thực hiện các chức năng của Nhà nước hoặc thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao.

Mua sắm công thuộc về một khái niệm rộng hơn là chi tiêu chính phủ bao gồm toàn bộ các khoản chi tiêu của chính phủ, là một thành phần quan trọng trong GDP (các khoản chi của chính phủ có thể bao gồm rộng hơn mua sắm công đó là trợ cấp, chi trả nợ…). Khi chính phủ mua sắm hàng hóa dịch vụ, mục tiêu của các giao dịch này có thể nói không đơn thuần chỉ là tạo đầu vào cho các cơ quan chính phủ mà còn được sử dụng để giải quyết các vấn đề khác như hỗ trợ doanh nghiệp trong nước hoặc các nhóm cộng đồng kém phát triển. Do đó, lịch sử của mua sắm công không thể tác rời khỏi mối liên hệ với chính sách phát triển của quốc gia kể từ thời kỳ phục hưng tới thiết chế Nhà nước hiện đại của thế kỷ 21 (Stephanus Pertrus, 2009, trang 1).

Mục tiêu của một hệ thống mua sắm công của một quốc gia có thể chia làm mục tiêu sơ cấp và thứ cấp. Mục tiêu sơ cấp đương nhiên là đảm bảo hệ thống quản lý tài chính công hoạt động tốt, sử dụng hiệu quả ngân quỹ công cộng. Mục tiêu thứ cấp đó là từ hoạt động mua sắm công tạo ra lợi ích kinh tế xã hội. Nói cách khác, hệ thống mua sắm công sẽ chuyển giúp chuyển hóa ngân sách sang các dịch vụ/hàng hóa mà chính phủ cung cấp cho người dân một cách hiệu quả. Hệ thống mua sắm công tốt là trọng tâm để tạo ra chi tiêu chính phủ tốt, là một thành phần quan trọng trong chiến lược cải thiện điều kiện sống cho người dân, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển.

1.2 Lịch sử hình thành, phát triển và nội dung chính của GPA

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển

1.2.2 Nội dung chính của GPA

Trong phiên bản mới nhất của GPA bắt đầu có hiệu lực từ 4/2014, GPA bao gồm có 22 điều và một phụ lục. Các điều khoản quan trọng trong đó bao gồm:

– Điều 2 khoản 6: xác định giá của gói thầu (một khoản mua sắm công) trong đó quy định rõ chủ đầu tư không được lựa chọn cách thức xác định giá gói thầu hoặc không được chia nhỏ gói thầu, để nhằm mục đích tránh áp dụng Hiệp định này. Bên cạnh đó, xác định giá trị gói thầu cần tính toán tất cả các khoản phải trả, bao gồm tất cả các khoản như phí bảo hiểm, lệ phí, hoa hồng, và tiền lãi. Điều này giúp cho việc tính toán giá trị gói thầu được công khai, minh bạch; từ đó xác định gói thầu hay khoản mua sắm công này có bị điều chỉnh bởi GPA hay không

– Điều 4 khoản 1 và khoản 2: Không phân biệt đối xử. Điều khoản này tương đương với quy tắc đối xử quốc gia và tối huệ quốc ở trong các hiệp định khác của GPA, trong đó quy định mỗi nước thành viên sẽ đối xử, ngay lập tức và vô điều kiện cho hàng hóa, dịch vụ và nhà thầu của các nước thành viên khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ của các nước này, không kém thuận lợi hơn so với hàng hóa, dịch vụ và nhà thầu trong nước; và hàng hóa, dịch vụ và nhà thầu của bất kỳ nước thành viên nào khác

– Điều 5: Đối xử ưu đãi cho các nước đang phát triển. Điều này quy định về các biện pháp tạm thời mà các nước đang phát triển có thể sử dụng và sẽ không bị coi là vi phạm GPA. Thời gian thực hiện các biện pháp tạm thời này sẽ không quá ba năm với các nước đang phát triển và không quá năm năm với các nước kém phát triển

– Điều 9 khoản 4: Đấu thầu hạn chế (selective tendering). Điều này quy định về cách thức công bố thông tin của hình thức chỉ định thầu trong đó nêu rõ trong thông báo thầu phải nói rõ tiêu chuẩn của các nhà thầu để có thể tham gia gói thầu, và nếu các nhà thầu đáp ứng đủ tiêu chuẩn được nêu ra thì chủ đầu tư không có quyền từ chối trừ khi nói rõ hạn chế về mặt số lượng nhà thầu trong thông báo thầu.

– Điều 13: Chỉ định thầu (limited tendering). Điều này quy định chi tiết điều kiện để nhà thầu được phép tiến hành đấu thầu bằng hình thức chỉ định thức. Với hình thức chỉ định thầu thì những quy định về đấu thầu rộng rãi từ điều 7 đến điều 12 và điều 14,15 của GPA có thể được nhà thầu bỏ qua

– Điều 16: Tính minh bạch của thông tin đấu thầu. Điều này đảm bảo cho sự hạn chế hay đối xử không công bằng của chủ đầu tư đối với các nhà thầu không phải thuộc nước thành viên của hiệp định ở mức thấp nhất. Tính minh bạch sẽ được đảm bảo bằng cách nêu rõ tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện đấu thầu trong thông báo mời thầu; sẵn sàng đảm bảo rằng các quy định về đấu thầu không thường xuyên thay đổi trong quá trình đấu thầu và, trong những trường hợp thay đổi là không tránh khỏi, phải đảm bảo có những cách xử lý thỏa đáng

– Điều 17: Các thủ tục khiếu nại. Điều này quy định nhà thầu có quyền tham vấn, khiếu nại đối với bên mời thầu và trong trường hợp đó chủ đầu tư có trách nhiệm xem xét một cách thích đáng, toàn bộ và kịp thời đối với từng cáo buộc mà không có thành kiến nhằm có được cách xử lý đúng đắn theo hệ thống khiếu nại. Ngoài ra, bên mời thầu cần phải đưa ra những thủ tục không phân biệt đối xử, kịp thời, minh bạch và hiệu quả cho phép các nhà thầu khiếu nại những vi phạm Hiệp định phát sinh trong đấu thầu mà họ đang có hoặc đã có lợi ích bị xâm phạm

Phụ lục bao gồm có 5 phần quy định những đối tượng mà quốc gia cam kết sẽ bị điều chỉnh bởi quy định của hiệp định

-Phần 1 bao gồm các cơ quan trung ương

-Phần 2 bao gồm các cơ quan ở địa phương

-Phần 3 bao gồm các cơ quan khác

-Phần 4 bao gồm các loại hình dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định, liệt kê theo cách thức chọn cho hay chọn bỏ

-Phần 5 bao gồm dịch vụ xây lắp

2 Lợi ích và chi phí tiềm năng khi Việt Nam gia nhập GPA

2.1 Tổng quan về hệ thống mua sắm công ở Việt Nam

(1) Trong nhóm một, Luật đấu thầu 2013 đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Luật đấu thầu đầu tiên là một trong nhiều luật được ban hành bởi Quốc hội Việt Nam năm 2005 để hiện đại hóa hệ thống pháp luật theo những tiêu chuẩn quốc tế để chuẩn bị cho việc gia nhập WTO vào đầu năm 2007. Tiền thân của Luật đấu thầu 2005 là Nghị định 43 và 93 của Chính phủ ban hành năm 1996 và sau đó được thay thế bởi Nghị định 88 năm 1999. Luật đấu thầu được tiếp đổi bổ sung sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới vào năm 2009. Và gần đây nhất Luật đấu thầu mới được Quốc hội thông qua vào năm 2013 và có hiệu lực bắt đầu kể từ 1/7/2014. Để làm rõ hơn Luật đấu thầu, Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 63/2014 về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, Nghị định số 30/2015 về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư. Bên cạnh đó, Bộ Kế hoạch đầu tư (MPI) là cơ quan được chính phủ giao chủ trì việc quản lý hệ thống đấu thầu/mua sắm công trên toàn quốc cũng ra một số thông tư nhằm hướng dẫn cụ thể việc thực thi luật đấu thầu như Thông tư số 19/2015/TT-BKHĐT, thông tư số 2,3,7/2016/TT-BKHĐT. Đặc biệt thời gian gần đây Bộ đã tham mưu cho Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể về lộ trình áp dụng đấu thầu qua mạng giai đoạn 2016 – 2025, trong đó tầm nhìn đến năm 2025 100% các thông tin trong quá trình lựa chọn nhà thầu, thực hiện hợp đồng được đăng tải công khai trên Hệ thống đấu thầu quốc gia; tối thiểu 70% số lượng gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật đấu thầu thực hiện trên Hệ thống đấu thầu quốc gia

– Luật về ban hành văn bản quy phạm phát luật (2008) yêu cầu phải có thông báo và khoảng thời gian để góp ý trước khi dự luật được ban hành chính thức

– Luật về phòng chống tham nhũng (2005) quy định về phòng ngừa, phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong phòng, chống tham nhũng

– Nghị định 47/2007 của chính phủ về việc thực hiện luật chống tham nhũng trong đó quy định vai trò và trách nhiệm của các tổ chức dân sự trong việc đấu tranh chống tham nhũng

– Nghị định 37/2007 về Minh bạch trong tài sản và thu nhập, yêu cầu các cán bộ chính phủ nhất định nộp báo cáo về tài sản và thu nhập của mình với mức độ bảo mật nhất định

– Luật về khiếu nại tố cáo (2011) quy định về quy trình thủ tục khi cá nhân tổ chức muốn khiếu nại, tố cáo một quyết định hành chính của cơ quan Nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân tổ chức khiếu nại, tố cáo

– Luật tiếp công dân (2013) quy định về trách nhiệm tiếp công dân đến khiếu nại tố cáo của các cơ quan Nhà nước đồng thời cũng quy định quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh

Trong ba nhóm này, nhóm thứ hai và thứ ba hỗ trợ cho nhóm đầu tiên, nhóm trực tiếp quy định về các hoạt động mua sắm công. Khía cạnh hỗ trợ nhiều nhất của nhóm hai và nhóm ba là tính minh bạch, gián tiếp ngăn ngừa tham nhũng trong mua sắm công. Tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh nhóm hai tương đối rộng không chỉ tập trung vào mua sắm công, còn nhóm ba thì cam kết thực hiện tương đối yếu. Vì thế mà các nhóm này chưa tạo ra sự hỗ trợ lớn cho nhóm một. Trong tương lai khi TPP có hiệu lực và Việt Nam gia nhập GPA thì mức độ cam kết của nhóm ba sẽ trở nên mạnh hơn, từ đó nhóm ba không chỉ mang tính hỗ trợ nữa mà còn tác động trực tiếp lên nhóm một hoặc độc lập điều tiết trực tiếp hoạt động mua sắm công trong nước.

i) cung cấp đối xử bình đẳng và công bằng đối với mọi nhà cung cấp và nhà thấu để đảm bảo không có sự phân biệt đối xử giữa nhà thầu trong nước và nước ngoài hay giữa các nhà thầu nước ngoài với nhau

iii) tính tin cậy của hệ thống giải quyết tranh chấp để đấu tranh chống tham nhũng

Trong một báo cáo đánh giá về hệ thống mua sắm công Việt Nam năm 2008, WB đã xác định 6 thiếu sót trong hệ thống mua sắm công của Việt Nam. Danh sách này bao gồm i) thiếu luật cơ bản về mua sắm công (đấu thầu) và các văn bản về tiêu chuẩn mua sắm công ii) thông báo đấu thầu không đầy đủ iii) thiếu sự tiếp cận của cộng đồng đối với quy tắc đấu thầu iv) thiếu cơ chế rõ ràng để giải quyết các tranh chấp trong đấu thầu v) thiếu hướng dẫn cụ thể để thực thi pháp luật về mua sắm công như phương pháp đánh giá thầu và ưu tiên doanh nghiệp trong nước vi) thiếu đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp và các cơ quan chuyên về đấu thầu. Tuy nhiên với đánh giá mới nhất gần đây của WB về hệ thống đấu thầu/mua sắm công tại Việt Nam , có thể thấy 5 trụ cột được đánh giá đều cho kết quả khả quan. Trong 5 trụ cột này, có đến 3 trụ cột (chuẩn bị thầu, lựa chọn thầu và thực hiện thầu, mức độ sẵn sàng của cơ chế khiếu nại báo cáo) được đánh giá là tốt, 1 trụ cột được đánh giá là rất tốt (nộp thầu và thực hiện thầu) còn 1 trụ cột (quá trình xem xét/xử lý khiếu nại) được đánh giá là khá, thấp nhất trong 5 trụ cột. Điều này cũng không có gì là ngạc nhiên khi quy trình giải quyết khiếu nại tố cáo trong đấu thầu luôn là một vấn đề nhức nhối của hệ thống mua sắm công Việt Nam do vẫn bị lợi ích nhóm chi phối tương đối nhiều.

2.2 Lợi ích và chi phí tiềm năng của GPA đối với nền kinh tế

Đã có rất nhiều những nghiên cứu nói về lợi ích và chi phí tiềm năng đối với một quốc gia khi tham gia vào GPA. Một trong những nghiên cứu tiêu biểu mang tính tổng quát đó nghiên cứu của Robert D.Anderson và các đồng nghiệp (2011a). Nghiên cứu đã chỉ ra những lợi ích mà quốc gia có thể có đó là: i) Tiếp cận thị trường xuất khẩu ii) Thúc đẩy hiệu quả của hệ thống mua sắm quốc gia iii) Lợi thế đàm phán đối với những nước gia nhập GPA sau và khả năng tác động vào tiến trình phát triển của GPA; bên cạn đó những chi phí tiềm năng đối với quốc gia khi gia nhập GPA đó là i) chi phí đàm phán ii) chi phí thay đổi hệ thống thể chế cần thiết để phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế iii) tác động đến ngành công nghiệp/người lao động địa phương

Việt Nam chắc chắn sẽ trải qua những lợi ích và chi phí tương tự khi đàm phán và tham gia vào GPA. Phần tiếp theo của bài viết sẽ phân tích cụ thể những lợi ích, chi phí này dựa trên thực trạng hệ thống mua sắm công của Việt Nam

2.2.1 Lợi ích tiềm năng

+) Tiếp cận thị trường xuất khẩu nước ngoài

Vì thế, nhu cầu phải mở rộng thị trường mua sắm công khi thị trường này trải qua tăng trưởng mạnh mẽ trong khoàng 20 năm trở lại đây trong đó có rất nhiều hàng hóa mà các thành viên của WTO có lợi thế đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Chăc chắn, GPA và các hiệp định thương mại thế hệ mới như TPP, RCEP, những hiệp định có chương về mua sắm chính phủ chính là chìa khóa để mở các thị trường này. Trong 47 nước là thành viên hoặc đang đàm phán gia nhập GPA, có những quốc gia vùng lãnh thổ là đối tác thương mại lớn của Việt Nam như Mỹ, Châu Âu và Trung Quốc hay Ấn Độ trong tương lai. Tổng giá trị thị trường mua sắm công của tất cả các nước thành viên GPA ước khoảng 6.83 nghìn tỷ USD (Anderson, 2011a).

Tổng giá trị thị trường mua sắm công nước ngoài mà hàng xuất khẩu Việt Nam có thể đạt đến từ 10 quốc gia kể trên dao động từ gần 5 tỷ USD đến gần 13 tỷ USD. Và nếu tính toàn bộ cho các quốc gia thành viên khác của GPA thì con số này cao nhất có thể lên tới 15 tỷ USD. 15 tỷ USD là một con số khiêm tốn khi so với xuất khẩu hàng năm của Việt Nam nhưng lượng việc làm mà nó tạo ra cũng như lượng ngoại tệ mà nó bù đắp cho thâm hụt tài khoản thương mại quốc gia cũng là những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế

+) Cải thiện quản lý Nhà nước về mua sắm công

Một trong những vấn đề mà GPA và các điều khoản mua sắm công khác giải quyết đó là đảm bảo tính hiệu quả của mua sắm công vì đây là hoạt động sử dụng ngân sách công thường xuyên để mua hàng hóa công cộng. Các cá nhân tham gia vào quá trình mua sắm công có động cơ yếu để tạo ra tính hiệu quả cho hệ thống do quá trình mua sắm công thường bị thao túng bởi các nhóm lợi ích, dẫn tới lãng phí và tham nhũng. Ngược lại, đối với việc mua sắm của các công ty cá nhân, nguồn lực tài chính được sử dụng bởi chính các chủ thể sở hữu, vì thế họ sẽ cân nhắc rất nhiều việc phân bổ nguồn lực hiệu quả; các công ty cung cấp cũng cạnh tranh với nhau về chất lượng hàng hóa và dịch vụ. Do đó, quản trị chính phủ tốt được đánh giá cao trong GPA và các quy định về mua sắm công khác

Ở Việt Nam, quản trị tốt hệ thống mua sắm công là một đòi hỏi cấp thiết hơn bao giờ hết. Chỉ số ICOR đo lường mức độ hiệu quả khi sử dụng vốn nói chung trong nền kinh tế. Chỉ số ICOR cao cho thấy việc sử dụng vốn kém hiệu quả, ngược lại chỉ số ICOR thấp cho thấy việc sử dụng vốn hiệu quả. Nhìn vào bảng 2 chúng ta có thể thấy, khu vực kinh tế Nhà nước có hiệu quả chi tiêu,đầu tư thấp nhất trong cả 3 khu vực. Điều đáng ngạc nhiên là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài lại có hiệu quả kinh tế kém hơn khu vực kinh tế tư nhân ngoài Nhà nước. Do đó, khi thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế về mua sắm công để đạt đến mục tiêu minh bạch, kỳ vọng của chính phủ đó là sẽ làm giảm ICOR, từ đó tiết kiệm nguồn lực tài chính để đầu tư cho phát triển và giảm rủi ro về nợ công tăng cao. Ngoài ra, việc cải cách hệ thống mua sắm công cũng là một phần trong gói cải cách thể chế, từ đó cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, giúp tăng cường hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Và trong tương lai, có thể góp phần nào đó tiếp tục thu hút FDI cho quốc gia giải quyết cả vấn đề số lượng và chất lượng của vốn đầu tư trong nền kinh tế

+) Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiêp trong nước

Tham gia vào GPA và các điều khoản mua sắm chính phủ khác không phải là con đường một chiều khi Việt Nam chỉ việc khai phá thị trường mua sắm công của các nước đối tác, mà cùng lúc Việt Nam cũng phải mở cửa thị trường của mình với những quy tắc tương tự. Trị giá thị trường mua sắm công của Việt Nam khoảng từ 12,19 đến 16,254 tỷ USD (R.D.Anderson, 2011a) trong đó phần lớn là nhập khẩu. Các hãng nước ngoài đương nhiên nhìn thấy cơ hội từ thị trường Việt Nam, do đó cạnh tranh giữa hãng nước ngoài và hãng trong nước ở thị trường này sẽ tăng cao trong thời gian sắp tới. Cũng cần phải chú ý rằng cạnh tranh cao là tốt đối với nền kinh tế Việt Nam có đặc điểm là ưu thế thuộc về các DNNN lớn kém hiệu quả. Họ sở hữu 70% tài sản cố định, 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, 50% đầu tư của Nhà nước, 60% tín dụng ngân hàng và 70% vốn ODA; tuy nhiên chỉ tạo ra những kết quả kinh tế không đáng mong đợi (Vũ Văn Phúc, 2012, trang 161). Với tình hình doanh nghiệp nói chung thì phần lớn doanh nghiệp Việt Nam sử dụng công nghệ lạc hậu hai đến ba thế hệ so với các đối thủ nước ngoài; trong đó 76% máy móc được sản xuât trong giai đoạn 1950 – 1960, 75% máy móc đã khấu hao hết, 50% được làm mới nhiều lần để kéo dài vòng đời (Vũ Văn Phúc, 2012, trang 123). Tỷ lệ ứng dụng khoa học công nghệ cao là rất thấp từ 0.2 đến 0.3% trong tổng doanh thu. Sức ép cạnh tranh lớn, kết quả của quá trình tự do hóa thị trường sẽ loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém và củng cố năng lực cạnh tranh của phần còn lại, từ đó dẫn tới lợi tức đầu tư cao. Kết quả là sẽ thu hút thêm được nhiều vốn đầu tư hơn từ khu vực tư nhân và thúc đẩy hiệu quả sử dụng vốn của nhà đầu tư.

2.2.2 Chi phí tiềm năng

+) Chi phí cải cách hệ thống pháp luật hiện tại

+) Chi phí nâng cấp năng lực

Quá trình mua sắm chính phủ bao gồm nhiều bước: từ thu thập thông tin đến xử lý thông tin, thiết lập quy tắc cụ thể, giải quyết tranh chấp, kiểm soát chất lượng hàng hóa và dịch vụ được cung ứng. Với GPA, tính minh bạch và hiệu quả của quá trình mua sắm công được đề cao, các thành viên muốn tham gia vào (GPA) sẽ phải giải quyết nhiều vấn đề khó khăn cùng một lúc đặc biệt là hạn chế về nhân lực. Đặc biệt đội ngũ nhân lực này phải đáp ứng được hệ thống mua sắm công theo chuẩn quốc tế trong thời đại thương mại điện tử chiếm ưu thế và môi trường mua sắm công ngày càng được quốc tế hóa. Điều này đòi hỏi nguồn lực tài chính từ những nước muốn gia nhập GPA trong việc đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết cho hệ thống mua sắm công hiện đại. Xuất phát điểm càng thấp giống như trong trường hợp của Việt Nam thì chi phí càng cao. Điều này phần nào sẽ làm phân tán chi tiêu của chính phủ cho lĩnh vực khác cũng cần phải cải cách tuy nhiên sự suy giảm này là không đáng kể có thể bỏ qua.

+) Các chi phí khác

Các chi phí khác chủ yếu đến từ các hãng trong nước. Khi cạnh tranh tăng lên vì việc mở cửa thị trường mua sắm công trong nước, trong ngắn hạn những công ty có khả năng cạnh tranh thấp sẽ phải chịu thua thiệt, thậm chí là phá sản dẫn tới tình trạng thất nghiệp gia tăng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp đặc biệt là ở các nước châu Phi (R.D.Anderson, 2011b) có bằng chứng cho thấy ảnh hưởng tích cực từ việc tham gia thị trường mua sắm công của các công ty nước ngoài. Những ảnh hưởng tích cực này có thể là ảnh hưởng tràn bao gồm có chuyển giao công nghệ và mở rộng việc làm, do công ty trong nước có thể học hỏi từ việc làm nhà thầu phụ cho các công ty nước ngoài, ở mức độ nào đó sẽ làm giảm chi phí mà các doanh nghiệp trong nước phải chịu.

2.3 Một số nhân tố tác động đến lợi ích và chi phí tham gia GPA của Việt Nam

2.3.1 Tư cách quan sát viên của GPA

Vào tháng 12/2012, Việt Nam đã chính thức trở thành quan sát viên của hiệp định GPA. Cương vị này giúp Việt Nam rất nhiều trong việc gia nhập GPA trong tương lai thông qua ba kênh

Thứ nhất, Việt Nam sẽ có thời gian quan sát việc thực thi GPA. Kết quả là nếu muốn tham gia Việt Nam có thể chuyển những gì mình quan sát được dần dần vào hệ thống luật quốc gia về mua sắm công một cách thích hợp, trong đó yếu tố lịch sử của hệ thống cũng cần được tính đến. Từ góc độ tổ chức cá nhân, họ cũng có khoảng thời gian chuyển đổi thích hợp để làm quen với những quy định mới về đấu thầu

Thứ hai, với tư cách quan sát viên Việt Nam có thể nhờ cậy đến sự giúp đỡ của các nước thành viên chính thức trong việc đào tạo nguồn lực con người cho hệ thống mua sắm công theo chuẩn quốc tế

Thứ ba, việc quan sát GPA có thể bao gồm cả quá trình đàm phán của những thành viên mới, qua đó Việt Nam có thể rút ra được những kinh nghiệm quý báu trong việc đàm phán gia nhập sau này

Tư cách quan sát viên sẽ làm giảm chi phí thích ứng và đàm phán của Việt Nam trong quá trình gia nhập GPA. Mặt khác, nó cũng tạo ra quãng nghỉ tạm thời để công ty Việt Nam gia tăng khả năng cạnh tranh và làm quen với các cải cách mới của hệ thống mua sắm công trong nước phù hợp với các quy tắc của GPA

Việt Nam đã hoàn thành việc đàm phán TPP (hiện tại TPP chỉ cần Quốc hội các nước thành viên thông qua để có hiệu lực) và đang tiến hành đàm phán RCEP (đã tiến hành xong 14 vòng đàm phán). TPP là hiệp định thương mại xuyên lục địa bao gồm các nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản trong khi đó RCEP là một kế hoạch tham vọng nhằm tập trung các nền kinh tế có mối quan hệ chiến lược lại với nhau trong một cộng đồng kinh tế Châu Á thịnh vượng. Cả hai thỏa thuận trên đều có điều khoản về mua sắm công tương tự như GPA được tóm lại trong một chương

Trên thực tế, Việt Nam đã thực hiện những hướng dẫn về thực hành tốt trong mua sắm công theo tiêu chuẩn quốc tế như hướng dẫn của APEC, hay các hướng dẫn của WB. Dù sao, mức độ ràng buộc của những hướng dẫn này là không cao, do đó ký kết hiệp định có điều khoản về mua sắm công như TPP thật sự tạo ra động lực lớn cho Việt Nam thực thi các điều khoản này theo tiêu chuẩn quốc tế. Do đó, chi phí thích ứng và đàm phán sẽ được giảm vì Việt Nam đã tuân theo những điều khoản gần như tương tự với điều khoản của GPA cũng như đã trải qua quá trình đàm phán với những thành viên chủ chốt của GPA về vấn đề mua sắm công

Tóm lại, kế hoạch tái cấu trúc nền kinh tế sẽ làm gia tăng tính hiệu quả của việc sử dụng ngân sách và giảm chi phí thích ứng khi Việt Nam gia nhập GPA bằng việc tăng cường tính minh bạch và hiệu quả của chi tiêu chính phủ. Bên cạnh đó, kế hoạch này cũng làm tăng khả năng cạnh tranh của các DNNN, từ đó giúp các doanh nghiệp này cạnh tranh tốt hơn với DN nước ngoài thông qua cổ phần hóa, sắp xếp lại hoạt động một khi thị trường mua sắm công Việt Nam mở cửa

Rõ ràng rằng cả 3 nhân tố trên dường như sẽ làm giảm chi phí và tăng lợi ích của Việt Nam một khi Việt Nam quyết định gia nhập GPA. Trong trường hợp thiếu vắng cả 3 nhân tố trên, với tình hình hiện tại của nền kinh tế Việt Nam (đầu tư công kém hiệu quả, tỷ lệ nợ công cao, bộ máy hành chính cồng kềnh) tham gia vào các hiệp định thương mại có điều khoản về mua sắm công như GPA dự kiến vẫn tạo ra nhiều lợi ích hơn chi phí.

3 Một số khuyến nghị

Dựa trên những phân tích về lợi ích và chi phí tiềm năng ở phần trước, tác giả đưa ra một số khuyến nghị chính sách đối với hoạt động mua sắm công ở Việt Nam như sau

3.1 Thay đổi cần thiết trong hệ thống mua sắm công quốc gia

Đối với hệ thống mua sắm công quốc gia cần phải tiếp tục thực hiện những thay đổi mang tính cải cách được thực hiện trong khoảng thời gian gần đây. Những thay đổi này không nhất thiết phải thực hiện ngay lập tức; trái lại chúng có thể được chia thành nhiều giai đoạn được thực hiện qua 5 hoặc 6 năm, đó cũng là khoảng thời gian cần thiết để đàm phán gia nhập GPA

Thay đổi đầu tiên đó là gói cải cách về sự minh bạch và mức độ tin cậy của hệ thống mua sắm công. Sự minh bạch và mức độ tin cậy là mục đích tối quan trọng của bất kỳ hệ thống mua sắm công nào. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đó là lợi ích lớn nhất mà GPA mang lại cho các nước thành viên (R.D.Anderson, 2011b, trang 140-148). Để thực hiện được gói cải cách này cần làm một số việc sau:

Thay đổi thứ hai đó là việc tập trung vào việc sửa đổi các hình thức đấu thầu sao cho phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Theo Nghị định 63/2014 của Chính phủ, ngưỡng để tiến hành chỉ định thầu là không quá 500 triệu đồng đối với gói thầu dịch vụ và 1 tỷ đồng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp; ngưỡng của chào hàng cạnh tranh là không quá 5 tỷ đồng. Điều này gián tiếp giúp các cơ quan đấu thầu tránh khỏi việc đấu thầu công khai bằng việc chia nhỏ các gói thầu. Để phù hợp hơn với GPA và các điều khoản mua sắm chính phủ khác, luật đấu thầu nên được sửa đổi thay thế 5 hình thức đấu thầu hiện nay bằng 3 hình thức tiêu chuẩn trong GPA đó là (rộng rãi, hạn chế và chỉ định). Luật cũng có thể giữ lại hình thức mua sắm trực tiếp để tránh phải trải qua thủ tục hành chính đấu thầu kéo dài, đồng thời giảm ngưỡng áp dụng cho chỉ định thầu xuống.

3.2 Thay đổi cần thiết trong hệ thống kinh tế

Tiếp theo sẽ là những khuyến nghị về thay đổi cần thiết trong hệ thống kinh tế

Đối với DNNN, một vài biện pháp có thể được thực thi để thúc đẩy tính cạnh tranh. Biện pháp đầu tiên đó là tư nhân hóa các DNNN, tính tới ảnh hưởng của doanh nghiệp này với xã hội. Chính phủ chỉ duy trì sở hữu tuyệt đối ở các DNNN đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối phúc lợi xã hội như nước, điện trong khi đó các DNNN, Chính phủ có thể giảm tỷ lệ nắm giữ ở mức thích hợp nhằm tránh bán tài sản công một cách ồ ạt dưới giá trị. Biện pháp thứ hai đó là củng cố hoạt động quản lý vốn tại các DNNN khi các doanh nghiệp này đầu tư ngoài ngành rất nhiều. Điều này dẫn đến phân bổ nguồn vốn ngân sách kém hiệu quả gián tiếp gây nên nợ công cao. Biện pháp thứ ba đó là thay đổi cách thức trả lương sao cho thu hút được nguồn lực chất lượng cao. Nguồn nhân lực cuối cùng sẽ tạo nên sức cạnh tranh cho DNNN khi đối mặt với doanh nghiệp nước ngoài. Biện pháp thứ tư là giảm dần việc trao đặc quyền cho các DNNN, đặt họ vào áp lực cao của cạnh tranh. Bên cạnh đó, cần có biện pháp để tách riêng chức năng xã hội của các DNNNs với chức năng thị trường. Hoạt động của các DNNN theo chức năng thị trường sẽ được điều tiết bởi các bộ luật dạng như GATT cả ở trong nước và nước ngoài; trong khi đó hoạt động của các DNNN theo chức năng xã hội sẽ phải tuân theo các luật như GPA. Kết quả là lợi ích nhóm và chủ nghĩa gia đình trị ở các DNNN sẽ bị ngăn ngừa

Đối với các công ty tư nhân, để tăng tính cạnh tranh, đặc biệt là tận dụng cơ hội để trở thành nhà thầu phụ khi thị trường mua sắm công trong nước được mở cửa, một vài biện pháp sau đây có thể được thực hiện. Biện pháp đầu tiên là thực hiện các chính sách giúp đỡ doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp trên toàn quốc, đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế; tuy nhiên lại đối mặt với sự chèn ép từ DNNN và sự vượt trội của doanh nghiệp nước ngoài. Những chính sách giúp đỡ doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể là thành lập các hiệp hội doanh nghiệp, ưu đãi trong vay vốn thương mại. Biện pháp thứ hai đó là thực thi các chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở những ngành mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh như chế biến thực phẩm, gia công phần mềm và vật liệu xây dựng Mục tiêu là sau khi tự do hóa thị trường mua sắm công, các công ty Việt Nam có thể đủ năng lực dành được những hợp đồng thầu phụ từ những nhà sản xuất nước ngoài những nhà sản xuất có lợi thế về công nghệ thông tin và xây dựng. Biện pháp thứ ba đó là củng cố hoạt động xúc tiến thương mại của Việt Nam ở các thị trường nước ngoài nhằm giúp các công ty trong nước có thể có thêm thông tin về thị trường nước ngoài nói chung và thị trường mua sắm công nước ngoài nói riêng