Top 10 # Xem Nhiều Nhất Vì Lợi Ích Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

“Vì Lợi Ích 10 Năm Trồng Cây, Vì Lợi Ích 100 Năm Trồng Người”

BHG – Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà tư tưởng lỗi lạc, nhà văn hóa kiệt xuất, Bác còn là một nhà giáo dục am hiểu tinh tế về nghệ thuật “trồng người”. Câu nói mà chúng ta thường nhắc nhau là “Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích 100 năm trồng người”, chính là Bác muốn nói về vai trò, nhiệm vụ của giáo dục, của nhà trường, nhà giáo và rộng hơn là của toàn xã hội.

Vậy quan điểm về phương diện lý luận, cũng như thực tiễn trong đời sống, Bác chăm sóc đến công tác “trồng người” như thế nào. Bắt đầu từ câu chuyện mà Bác để lại cho chúng ta rất sâu sắc về giáo dục, mỗi cấp học Bác nói một câu mà toát lên được cương lĩnh giáo dục của cấp học ấy.

.

Đối với bậc học Mầm non, Bác nói, “Dạy mầm non phải giữ mãi sự hồn nhiên cho các cháu, đừng đánh cắp tuổi thơ của các cháu”, các cô giáo dạy Mầm non phải chú trọng đến phương pháp dạy; với cấp Tiểu học Bác dạy “Tiểu học phải lấy đạo đức làm hàng đầu”, đây là bậc học dạy tính cách, đạo đức của học sinh. Từ năm 1946, trước khi thực dân pháp xâm lược nước ta, Bác đã viết thư cảm ơn các cháu thiếu niên, trong thư cảm ơn này, Bác có 5 lời khuyên các cháu: Các cháu phải siêng học; phải giữ gìn sạch sẽ; giữ gìn kỷ luật; tập sống theo đời sống mới; phải thương yêu cha mẹ, anh chị em mình. Đối với bậc Trung học cơ sở, Bác khuyên “Trung học phải dạy kiến thức cơ bản, học xong phải làm thợ được ngay”. Bác dạy thanh niên một câu vô cùng thấm thía đó là “Đường đời là một chiếc thang không có nấc chót, học tập là một quyển vở không có trang cuối cùng”, đây cũng là cơ sở để chúng ta thực hiện xã hội học tập suốt đời như ngày hôm nay. Đối với bậc Đại học, Bác dạy “Đại học đào tạo chuyên gia thì phải dạy theo phong cách nghiên cứu”, trường đại học không phải là bậc phổ thông kéo dài, mà sự cần thiết của bậc đại học đó là sinh viên phải phát triển về chất, quan trọng nhất là năng lực trí tuệ, sản sinh ra nghiên cứu mới bằng các phương pháp sáng tạo. Bây giờ phong trào cả nước khởi nghiệp, toàn dân khởi nghiệp, tuổi trẻ lập nghiệp sáng tạo thì chúng ta mới thấy giá trị từ những lời dạy của Bác từ những quan điểm rất cốt lõi về giáo dục.

Những câu chuyện cảm động về việc Bác quan tâm đến giáo dục mà đến bây giờ chúng ta không bao giờ quên. Ngay sau độc lập, trong thư gửi các cháu học sinh nhân ngày khai giảng năm học mới, Bác viết “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có đủ sức sánh vai cùng với các cường quốc năm châu hay không, một phần lớn là nhờ công học tập của các cháu”. Bác còn dặn, nền giáo dục mới mà các cháu được thừa hưởng ngày hôm nay, khi nước nhà độc lập sẽ là nền giáo dục để các cháu phát huy hết khả năng vốn có của mình. Đây cũng là tư tưởng lớn cho sự nghiệp cải cách giáo dục của nước ta hiện nay. Bác cũng đặc biệt quan tâm đến đội ngũ nhà giáo, bởi không có thầy giỏi thì không có trò giỏi, không có trường tốt thì không có nền giáo dục văn minh, hiện đại, một nước hiện đại căn bản là đo bằng tiềm lực của giáo dục. Bác đã nhiều lần đến trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Bác dạy các sinh viên, những thầy, cô giáo tương lai là cần phải rèn đạo đức, nâng cao khoa học kỹ thuật, nâng cao trí tuệ học vấn. Bác rất chú trọng đến đội ngũ học sinh giỏi, tức là những tinh hoa, năng khiếu vượt trội trong sự phát triển chung. Những điều như vậy chúng ta mới thấy di sản của Bác về giáo dục mà Đảng ta bây giờ gọi là quốc sách hàng đầu.

Trong 8 điều căn dặn của Bác Hồ đối với đồng bào các dân tộc Hà Giang khi Người lên thăm vào năm 1961, trong đó dặn “Đồng bào phải cố gắng xóa nạn mù chữ, biết đọc, biết viết thì làm ăn mới tiến bộ”, và quan niệm “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, ghi nhớ lời dạy của Bác, những năm qua Hà Giang đã có nhiều cố gắng, nỗ lực để xóa nạn mù chữ và đạt được những kết quả tốt. Tuy nhiên, so với mặt bằng chung của các tỉnh trong cả nước thì chúng ta còn những hạn chế nhất định. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Bảo: Một trong những điều mà Hà Giang cần làm bây giờ là thực hiện ngay những điều mà Bác Hồ dạy xung quanh câu chuyện giáo dục, quan tâm nâng cao dân trí trong cộng đồng các dân tộc Hà Giang. Trên nền tảng ấy cần quan tâm đến đào tạo giáo dục phổ thông, giáo dục nghề để đào tạo ra một thế hệ có tay nghề cao, chất lượng. Muốn vậy, Đảng bộ Hà Giang cần đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp phát triển các nhà trường, nhất là đội ngũ các thầy giáo, cô giáo. Nói đến vai trò quan trọng của họ, chúng ta nhớ đến câu nói rất nổi tiếng (danh ngôn của thế giới về giáo dục) “Giáo dục một người đàn ông được có một người, giáo dục một người đàn bà được cả một gia đình, giáo dục một người thầy được cả một thế hệ”. Cho nên học Bác và làm theo Bác bây giờ là phải trấn hưng giáo dục, đấy là “chìa khóa” để đưa đất nước phát triển văn minh, hiện đại.

Gs, Ts: HOÀNG CHÍ BẢO (Kể)

LÊ LÂM (ghi)

Đừng Vì Lợi Ích Trước Mắt

Phóng viên (PV): Thưa ông, thực trạng NLĐ xin hưởng BHXH một lần hiện nay như thế nào và đâu là nguyên nhân?

Ông Lê Đình Quảng: Những năm gần đây, bình quân mỗi năm cả nước có khoảng 600.000 đến 700.000 NLĐ làm thủ tục hưởng BHXH một lần. Tình trạng này đặt ra những thách thức rất lớn đến hệ thống an sinh xã hội và việc thực hiện mục tiêu của Nghị quyết số 28 là “từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ” và “hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân”. Không chỉ có vậy, còn tác động xấu tới việc bảo đảm quyền lợi và chính sách an sinh xã hội lâu dài cho NLĐ.

Nguyên nhân là do thu nhập thấp, đời sống NLĐ hiện nay còn quá khó khăn. Qua khảo sát của Viện Công nhân và Công đoàn năm 2018 cho thấy, hầu hết NLĐ có thu nhập vừa đủ hoặc phải hết sức tiết kiệm mới có thể đủ trang trải cuộc sống và chỉ khoảng 16% NLĐ làm việc có tích lũy. Chính vì vậy, không ít NLĐ đã lựa chọn hưởng BHXH một lần để có một khoản tiền trước mắt lo cho cuộc sống gia đình họ. Bên cạnh đó, hệ thống chính sách BHXH của nước ta hiện chưa hấp dẫn, chưa linh hoạt nên không thu hút được đông đảo NLĐ gắn bó lâu dài với BHXH. Theo quy định của pháp luật hiện hành, NLĐ muốn hưởng chế độ hưu trí phải có ít nhất 20 năm đóng BHXH và bảo đảm tuổi đời theo quy định; trong khi tuổi đời của số đông NLĐ khi nghỉ việc còn trẻ (nhiều người về nghỉ khi mới 35 tuổi). Họ không thể chờ đợi đóng đủ 20 năm để được hưởng chế độ hưu trí. Cộng thêm, trong thời gian qua, không ít cơ quan truyền thông, với mục đích vận động cho chính sách nâng tuổi nghỉ hưu nên đã thông tin không chính xác về khả năng “mất cân đối quỹ BHXH” làm cho NLĐ không yên tâm, vì vậy khi có cơ hội là muốn “hưởng trước cho chắc”.

PV: Việc “lĩnh lương” một lần có ảnh hưởng gì đến quyền lợi của NLĐ, thưa ông?

Ông Lê Đình Quảng: BHXH là một trong những chính sách, trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội quốc gia. Việc NLĐ hưởng BHXH một lần có thể dẫn đến những thiệt thòi về quyền lợi trước mắt và lâu dài đối với NLĐ, cũng như tạo thêm gánh nặng cho xã hội. Khi nhận BHXH một lần, NLĐ sẽ mất đi cơ hội hưởng lương hưu, không có gì bảo đảm cuộc sống lúc tuổi già.

Hiện nay, theo quy định của pháp luật, tổng mức đóng bảo hiểm hưu trí là 22% mức tiền lương tháng, trong đó, NLĐ đóng 8% và người sử dụng lao động đóng 14%, có nghĩa là tổng mức đóng vào quỹ BHXH hằng năm bằng 2,64 tháng lương. Nếu hưởng BHXH một lần, NLĐ chỉ được thanh toán bằng hai tháng lương làm căn cứ đóng BHXH cho một năm tham gia BHXH. Như vậy, NLĐ mất đi 0,64 tháng lương mỗi năm. Nếu so sánh giữa việc hưởng lương hưu hằng tháng và việc lĩnh BHXH một lần cùng một khoảng thời gian đóng BHXH thì tổng lợi ích bằng tiền khi hưởng lương hưu hằng tháng sẽ cao hơn gấp nhiều lần. Ngoài ra, khi hưởng lương hưu hằng tháng, NLĐ còn được cấp thẻ BHYT, nếu bị ốm đau đã có Quỹ Khám chữa bệnh BHYT chi trả. Do đó, NLĐ cần cân nhắc khi quyết định hưởng BHXH một lần.

PV: Một số NLĐ cho rằng, sở dĩ họ muốn nhận BHXH một lần vì sợ rủi ro, trượt giá; thậm chí khi chết sẽ mất hết quyền lợi, cách nghĩ này có đúng không, thưa ông?

Ông Lê Đình Quảng: Cách suy nghĩ này thực sự không đúng. Bởi, hằng năm căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế-xã hội, Nhà nước vẫn thực hiện tăng mức lương tối thiểu vùng, tăng mức lương cơ sở, rồi điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp hằng tháng cho người thụ hưởng. Cùng với đó, Nhà nước có các biện pháp bảo toàn, tăng trưởng quỹ BHXH và điều này đã được pháp luật quy định. Hơn nữa, khi tham gia BHXH, tất cả NLĐ được hưởng các chế độ bảo hiểm theo quy định của pháp luật; ngay cả khi bảo lưu thời gian tham gia BHXH, nếu không may qua đời thì gia đình vẫn được hưởng trợ cấp mai táng bằng 10 tháng lương cơ sở, thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng (tối đa 4 người) đến khi trưởng thành (nếu là con) hoặc hưởng đến khi chết (nếu là vợ, chồng hoặc cha, mẹ đã hết tuổi lao động và không có thu nhập hoặc có thu nhập thấp hơn mức lương cơ sở)… Do đó, NLĐ cần cân nhắc kỹ khi lựa chọn hưởng BHXH một lần, đừng nên thấy lợi ích trước mắt mà làm mất đi sự bảo đảm an toàn về mặt thu nhập và an sinh xã hội khi tuổi già.

Để bảo đảm an sinh xã hội lâu dài theo quy định tại Hiến pháp, khắc phục những tồn tại của chính sách về hưởng BHXH một lần, tạo tính hấp dẫn để NLĐ chủ động tham gia và gắn bó lâu dài với hệ thống BHXH, Nhà nước cần hoàn thiện chính sách pháp luật, phát triển hệ thống chính sách BHXH “linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại, hội nhập quốc tế; … kết hợp hài hòa các nguyên tắc đóng-hưởng; công bằng, bình đẳng; chia sẻ và bền vững”. Bên cạnh đó, các cấp, các ngành cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giải đáp chính sách, pháp luật về BHXH để thay đổi tâm lý muốn hưởng BHXH một lần của NLĐ. Ngành BHXH cần tiếp tục tăng cường cải cách quy trình, nghiệp vụ, tinh giản thủ tục hành chính… để tạo thuận lợi tốt nhất, giải quyết đúng, đủ, kịp thời các quyền lợi về BHXH đối với người tham gia.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

KIM DUNG (thực hiện)

“Vì Lợi Ích Mười Năm Thì Phải Trồng Cây, Vì Lợi Ích Trăm Năm Thì Phải Trồng Người” (*)

Sự kế tục giữa các thế hệ nối tiếp nhau vốn là quy luật tồn tại, phát triển của mọi xã hội. Trong bất cứ một quốc gia, dân tộc nào tuổi trẻ đều là lực lượng lãnh đạo kế cận, là tương lai của đất nước. Do vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bất kỳ một đất nước, một tổ chức nào muốn phát triển bền vững, muốn có một tương lai rạng rỡ phía trước thì đất nước, tổ chức đó phải biết quan tâm đến vấn đề “trồng người”, tức là phải luôn biết chăm lo, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, thế hệ kế tiếp. Đó là một quy luật phát triển tất yếu. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng, nhờ quán triệt sâu sắc lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác bồi dưỡng, chăm sóc thế hệ trẻ – thế hệ tương lai mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã luôn xây dựng được một lực lượng kế cận hùng hậu, trung thành, có đủ phẩm chất và năng lực đưa đất nước vượt qua những thời điểm gian khó, từng bước đưa cách mạng đến những thắng lợi vinh quang, ghi dấu ấn đậm nét vào tiến trình phát triển của dân tộc.

Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, nhưng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới là một sự nghiệp lâu dài, khó khăn, phức tạp, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các thế hệ người Việt Nam. Do đó, Đảng, Nhà nước cùng đội ngũ cán bộ các cấp trong hệ thống chính trị cần luôn quán triệt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt quan tâm, đầu tư, chăm lo giáo dục cho thế hệ trẻ, thế hệ tương lai. Đào tạo họ thành những công dân, những cán bộ đủ đức, đủ tài, vừa “hồng”, vừa “chuyên”, đủ sức kế thừa và tiếp tục phát triển sự nghiệp cách mạng vinh quang mà các thế hệ cha anh đi trước để lại.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện tốt công tác giáo dục – đào tạo, huấn luyện, rèn luyện bộ đội; không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, xây dựng đơn vị, quân đội. Đặc biệt, quan tâm chăm lo làm tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh, nhất là đội ngũ cán bộ trẻ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được coi trọng, bám sát mục tiêu, yêu cầu, định hướng chiến lược cán bộ và thực tiễn, yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; kết hợp đào tạo trong các học viện, nhà trường với tự đào tạo, bồi dưỡng tại đơn vị, đào tạo ở trong nước với đào tạo ở nước ngoài. Công tác quy hoạch cán bộ bảo đảm chặt chẽ, đúng quan điểm, phương châm, nguyên tắc, quy trình, quy định, sự kế thừa liên tục, vững chắc trong quá trình chuyển tiếp giữa các thế hệ cán bộ. Quy hoạch cán bộ chủ trì các cấp đảm bảo có kế tiếp, kế cận phù hợp, coi trọng chất lượng và bồi dưỡng nguồn cán bộ trẻ đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng; tuyệt đối trung thành với lý tưởng chiến đấu của Đảng; vừa có đạo đức cách mạng trong sáng, vừa có năng lực chuyên môn vững vàng, xứng đáng là lực lượng kế tục sự nghiệp xây dựng quân đội trong thời kỳ mới “vừa hồng, vừa chuyên”.

Thành Vinh (Tổng hợp)

“…Vì Lợi Ích Trăm Năm Phải Trồng Người”

Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đặc biệt đến các thầy giáo, cô giáo. Bác khẳng định, nghề giáo là rất quan trọng và vẻ vang. Người thầy giáo tốt dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương song họ luôn là những anh hùng vô danh. Vì vậy, Bác đã có câu nói nổi tiếng, phản ánh tư tưởng về giáo dục đến nay vẫn còn nguyên giá trị “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Tại lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc, ngày 13/9/1958, Bác Hồ đã có bài nói quan trọng về nhiệm vụ của những người thầy giáo với sự nghiệp giáo dục đào tạo. Bác căn dặn: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà. Nhân dân, Đảng, Chính phủ giao các nhiệm vụ đào tạo thế hệ tương lai cho các cô, các chú. Đó là một trách nhiệm nặng nề nhưng rất vẻ vang”.

Rất nhiều lần Bác đề cập đến việc đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Ngay từ ngày 14/11/1945, Bác viết: “Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm, nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”. Và ngay từ ngày 13/11/1946, theo đề nghị của Bác, Quốc hội Khóa I đã cử GSTS. Nguyễn Văn Huyên, một trí thức ngoài Đảng mới 37 tuổi làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục. Nhà trí thức ngoài Đảng này đã làm rất tròn nhiệm vụ mà Bác Hồ giao phó trong suốt 29 năm cho đến tận ngày qua đời (19/10/1975).

Ngày 10/1/1946 Bác đã khẳng định mục đích của tự do độc lập là 4 nhiệm vụ: “Làm cho dân có ăn, Làm cho dân có mặc, Làm cho dân có chỗ ở, Làm cho dân có học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do, độc lập và giúp sức được cho tự do độc lập”. Để giúp cho dân có học hành, Bác đã động viên mạnh mẽ phong trào Bình dân học vụ. Trong thư gửi anh chị em giáo viên Bình dân học vụ vào tháng 5/1946, Bác đã viết: “Anh chị em làm việc mà không có lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm. Anh chị em là những người vô danh anh hùng. Tuy là vô danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em”. Nhớ lại những lời căn dặn từ cách đây trên nửa thế kỷ của Bác Hồ chúng ta càng thấy trách nhiệm nặng nề nhưng vẻ vang của đội ngũ thầy cô giáo và các nhà quản lý giáo dục.

Bác rất quan tâm đến việc cải tiến cách dạy trong Nhà trường. Trong thư gửi Hội nghị Giáo dục toàn quốc (tháng 7/1948), Bác đã nhắc nhở: “Chúng ta phải sửa đổi cách dạy cho hợp với sự đào tạo nhân tài”. Vậy mà cho đến gần đây thày giáo Dương Minh ở Trường THPT Quy Nhơn (Bình Định) vẫn phải thốt lên: “Vòng chu chuyển vẫn theo con đường khuôn mẫu: Học sinh sợ Thầy; Thầy sợ Trường; Trường sợ Sở; Sở sợ Sách giáo khoa, sợ quy định của Chương trình, sợ kết quả thi cử”(!)

Ngay từ tháng 5/1950, Bác đã cảnh báo về việc ham mở thật nhiều trường lớp mà thiếu giáo viên cơ hữu. Bác nói: “Hiện nay đang có một cái dịch mở trường…Vì mở nhiều lớp nên thiếu người giảng. Thiếu người giảng thì học viên đâm chán nản. Thiếu người giảng thì phải đi bắt phu, vì thế người đến giảng khi nào cũng hấp tấp, lướt qua lớp này một chút, lớp khác một chút như chuồn chuồn đạp nước, dạy không chu đáo. Thiếu người giảng thì thường khi lại phải bịt lỗ, người bịt lỗ năng lực kém, nói sai, có hại cho học sinh…”. Bác nói cách đây những 61 năm mà đúng y như chuyện chạy sô của nhiều giảng viên Đại học, Cao đẳng hiện nay.

Hiện nay học sinh rất sợ học, sợ thi và không còn thời gian và tâm trí đâu để tận hưởng hạnh phúc hồn nhiên của tuổi thơ. Điều này ngay từ ngày 28/8/1950, Bác đã phê phán và căn dặn: “Phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng trở nên già cả…Trong lúc học cũng cần làm cho chúng vui. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học”. Bao giờ chúng ta mới thực hiện được lời căn dặn này của Bác?

Bác luôn luôn quan tâm đến việc nâng cao vị trí của các thầy cô giáo. Ngày 12/6/1956, Bác đã viết: “Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục…Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế, văn hóa. Trong việc đào tạo cán bộ, giáo dục là bước đầu. Tuy không có gì oanh liệt nhưng làm tròn nghĩa vụ là anh hùng, anh hùng tập thể”. Bác Hồ dạy: “Người ta có câu: “Hữu xạ tự nhiên hương” giáo viên chưa được coi trọng vì chưa có hương, còn xa rời quần chúng. Có nhiều giáo viên được quần chúng coi trọng như chiến sĩ thi đua, giáo viên bình dân học vụ, họ cùng với nhân dân kết thành một khối nên được quần chúng yêu mến”. Bác Hồ dạy Đảng và Nhà nước phải thường xuyên quan tâm đến thầy giáo, cô giáo cả tinh thần lẫn vật chất, và có như vậy mới có cơ sở để thầy, cô giáo sống thật tốt, dạy thật tốt. Thực tế cho thấy, nếu để các thầy, cô giáo thiếu chỗ ăn, chỗ ở, lương bổng không đáp ứng những nhu cầu tối thiểu thì có yêu nghề, mến trẻ cũng là những sự gắng gỏi, sự khắc phục chịu đựng tạm thời, khó có thể toàn tâm toàn ý hết lòng vì sự nghiệp trồng người.