Lợi Ích Cận Biên (Marginal Utility) Là Gì? Qui Luật Lợi Ích Cận Biên Giảm Dần

--- Bài mới hơn ---

  • Ích Lợi Cận Biên Là Gì?
  • Chương 3 Lý Thuyết Về Hành Vi Của Người Tiêu Dùng
  • Quy Luật Ích Lợi Cận Biên Giảm Dần Là Gì? Giá Trị Sử Dụng Và Giá Trị Trao Đổi
  • Lí Thuyết Về Hành Vi Của Người Tiêu Dùng
  • 22+ Lợi Ích Của Việc Bỏ Thuốc Lá Thuốc Lào
  • Định nghĩa

    Lợi ích cận biên trong tiếng Anh là Marginal Utility. Lợi ích cận biên là lợi ích tăng thêm do tiêu dùng thêm một đơn vị hành hóa, dịch vụ.

    Lợi ích trong tiếng Anh là Utility. Lợi ích là sự hài lòng, thỏa mãn do tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ mang lại.

    Ví dụ: Một người đang ở trong trạng thái khát nước. Sau khi uống một cốc nước mát, anh ta cảm thấy hài lòng cao độ bởi cốc nước này đã làm giảm cơn khát của anh ta.

    Như vậy, anh ta đã thu được lợi ích từ việc tiêu dùng cốc nước này.

    Tổng lợi ích trong tiếng Anh là Total Utility, kí hiệu TU.

    Tổng lợi ích là tổng thể sự hài lòng, thỏa mãn do tiêu dùng toàn bộ hàng hóa hoặc dịch vụ mang lại.

    Công thức xác định lợi ích cận biên

    Công thức xác định lợi ích cận biên như sau:

    MU = ΔTU / ΔQ

    Trong đó:

    MU là lợi ích cận biên

    ΔTU là sự thay đổi về tổng lợi ích

    ΔQ là sự thay đổi về lượng hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng

    Giả sử nếu một người uống một cốc nước, lợi ích mà anh ta thu được là 5; uống hai cốc nước, lợi ích mà anh ta thu được là 8.

    Như vậy, lợi ích cận biên được xác định theo công thức trên sẽ bằng:

    MU = (8 – 5)/(2-1) = 3

    Qui luật lợi ích cận biên giảm dần

    – Thực tế là, độ thỏa mãn hài lòng của người khát nước trong ví dụ trên đối với mỗi cốc là không giống nhau.

    – Cốc nước thứ nhất có thể cho cảm giác khoái cảm đỡ khát; cốc nước thứ hai không thể đem lại lợi ích bằng cốc nước đầu tiên… đến cốc nước thứ ba, thứ tư lợi cích thu được sẽ tiếp tục giảm…

    – Như vậy, lợi ích mà người khát nước thu được từ cốc thứ nhất cao hơn cốc thứ hai, lợi ích thu được từ cốc thứ hai cao hơn cốc thứ ba và cứ thế tiếp tục.

    – Có thể hiểu rằng, độ thỏa mãn hài lòng của người uống nước sẽ giảm xuống đối với mỗi cốc nước uống thêm. Hiện tượng đó được gọi là qui luật lợi ích cận biên giảm dần.

    Qui luật lợi ích cận biên giảm dần được phát biểu như sau:

    Lợi ích cận biên của một hàng hóa có xu hướng giảm khi lượng mặt hàng đó được tiêu dùng nhiều hơn trong một thời điểm nhất định.

    Qui luật lợi ích cận biên giảm dần nói lên khi ta tiêu dùng nhiều hơn một mặt hàng nào đó, tổng lợi ích sẽ tăng lên song với tốc độ ngày càng chậm và việc tăng chậm này là do lợi ích cận biên giảm đi khi ta tiêu dùng thêm hàng hóa đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hành Vi Của Người Tiêu Dùng
  • Những Lợi Ích Của Ăn Chay Đối Với Sức Khoẻ
  • 36 Lợi Ích Của Việc Ăn Chay
  • Những Lợi Ích Của Việc Ăn Chay
  • Lợi Ích Của Việc Ăn Chay Trong Cuộc Sống Hiện Đại
  • Ích Lợi Cận Biên Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Chương 3 Lý Thuyết Về Hành Vi Của Người Tiêu Dùng
  • Quy Luật Ích Lợi Cận Biên Giảm Dần Là Gì? Giá Trị Sử Dụng Và Giá Trị Trao Đổi
  • Lí Thuyết Về Hành Vi Của Người Tiêu Dùng
  • 22+ Lợi Ích Của Việc Bỏ Thuốc Lá Thuốc Lào
  • Bỏ Thuốc Lá Có Lợi Gì? Bao Lâu Thì Cơ Thể Bình Thường!
  • Ích lợi cận biên (marginal utility) là mức tăng ích lợi của một cá nhân nhận được khi sử dụng hay tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hóa hay dịch vụ. Đôi khi nó còn được gọi là ích lợi tăng thêm. Chẳng hạn, tổng ích lợi (hay mức thỏa mãn) của một người tăng khi anh ta có thêm một đôi giày. Ích lợi cận biên mang dấu dương, nhưng giảm dần. Ví dụ, một người có hai đôi giày sẽ có thêm ích lợi nếu mua thêm một đôi giày nữa, nhưng mức ích lợi tăng thêm này thấp hơn mức ích lợi tăng thêm khi anh ta đang có một đôi giày và mua thêm một đôi giày nữa. Hiện tượng này được gọi là quy luật ích lợi cận biên giảm dần.

    Không nên nhầm lẫn giữa ích lợi cận biên và tổng ích lợi. Tổng ích lợi là tổng số ích lợi thu được từ tất cả các đơn vị hàng hóa tiêu dùng, còn ích lợi cận biên là tổng số ích lợi thu được khi sử dụng hay tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hóa. Sự khác biệt này cho phép chúng ta lý giải được cái gọi là nghịch lý của giá trị. Nước có giá trị cao, tổng ích lợi của nó lớn, nhưng do rất sẵn nên có ích lợi cận biên rất thấp. Kim cương có tổng ích lợi thất, nhưng do khan hiếm nên có ích lợi cận biên cao. Cùng với hàm cung cho trước của nước và kim cương, thực tế này góp phần xác định giá của chúng. Những mặt hàng có ích lợi cận biên thấp (nước) đòi hỏi giá thấp, còn mặt hàng có ích lợi cận biên rất cao (kim cương) đòi hỏi giá rất cao.

    Khi có sự thay đổi ích lợi, chẳng hạn do sự thay đổi từ hai đôi giày lên ba đôi giày, người ta có thể sử dụng toán học để tính toán mức thay đổi. Trong quá trình tính toán, những thay đổi như thế được gọi là đạo hàm (hay vi phân) bậc nhất, và ích lợi cận biên chính là đạo hàm (hay vi phân) bậc nhất của hàm tổng ích lợi, còn tốc độ thay đổi của những thay đổi đó là đạo hàm bậc hai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lợi Ích Cận Biên (Marginal Utility) Là Gì? Qui Luật Lợi Ích Cận Biên Giảm Dần
  • Hành Vi Của Người Tiêu Dùng
  • Những Lợi Ích Của Ăn Chay Đối Với Sức Khoẻ
  • 36 Lợi Ích Của Việc Ăn Chay
  • Những Lợi Ích Của Việc Ăn Chay
  • Chi Phí Cận Biên Và Lợi Ích Cận Biên Trong Lựa Chọn Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tập Lớn Kinh Tế Vi Mô Cần Cho Sinh Viên Kinh Tế
  • Tinh Giản Biên Chế: Tất Cả Phải Vì Lợi Ích Chung
  • Biên Chế Là Gì Mà Sao Ai Cũng Muốn Vào Biên Chế?
  • Biên Chế Giáo Viên: Hai Mặt Của Một Vấn Đề
  • Pbs: Biên Chế Lợi Ích Dịch Vụ
  • Ở kì đầu tiên, mình đã chém gió những gì mình biết về chi phí cơ hội . Tuy nhiên, ngoài chi phí cơ hội ra, còn nhiều công cụ khác giúp chúng ta lựa chọn trong đó có phân tích cận biên. Công cụ này sử dụng chi phí cận biên và lợi ích cận biên để đưa ra lựa chọn phù hợp nhất.

    Lợi ích cận biên (Marginal Benefit – MB)

    Theo giáo trình Kinh tế vi mô cơ bản – ĐH Ngoại thương (PGS.TS Nguyễn Thị Tường Anh), lợi ích cận biên là sự thay đổi của tổng lợi ích khi có sự thay đổi của số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ.

    Theo Bánh Chuối (đứa viết blog này), lợi ích cận biên là sự thay đổi của tổng lợi ích khi có sự thay đổi của số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ.

    Tổng lợi ích nhận được của chúng ta là TB – Total Benefit

    Lượng hàng hóa, dịch vụ thì hãy gọi là Q – Quantity

    Lợi ích cận biên hãy cọi là MB – Marginal Benefit

    Như vậy, nếu Q tăng lên thì TB cũng sẽ tăng lên đúng chứ? Hãy gọi theo kiểu toán học ngầu lòi, rằng khoản tăng thêm của tổng lợi ích là ΔTB và khoản tăng thêm của lượng hàng hóa dịch vụ là ΔQ.

    Khi đó, cô Tường Anh dẫn ra một công thức như thế này:

    Có gì lạ ở công thức này không? Đúng rồi, nếu đọc ở câu định nghĩa bên trên: “lợi ích cận biên là sự thay đổi của tổng lợi ích khi CÓ SỰ THAY ĐỔI của số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ”, ta sẽ thấy nó hơi khác với công thức một chút. Nếu như công thức có ΔQ ở mẫu số, vậy thì lợi ích cận biên là lợi ích của MỘT đơn vị hàng hóa tăng thêm, chứ đâu phải là lợi ích của ΔQ đơn vị hàng hóa tăng thêm với điều kiện ΔQ khá lớn??

    Hãy lấy một ví dụ như thế này: Chuối đi làm ở một cửa hàng tiện lợi X vào buổi tối từ 19h đến 21h mỗi ngày. Mức lương mà Chuối nhận được cho mỗi giờ đồng hồ làm việc là 20k. Một buổi tối đặc biệt nào đấy, cửa hàng đông khách nên bác chủ cửa hàng đề nghị Chuối làm thêm 1 tiếng nữa, tức là đến 22h, thay vì 21h như thường ngày. Khi Chuối làm việc thêm 1 giờ đồng hồ nữa, tổng số tiền Chuối được trả cho buổi tối đó là 70k. Như vậy theo những điều chúng ta phân tích bên trên, lợi ích cận biên mà Chuối thu được cho việc làm việc thêm 1 giờ nữa là 30k. Ta có MB = 30,000 VNĐ

    Cần lưu ý rằng lợi ích cận biên không phải là khoảng tiền chênh lệch giữa 1 tiếng làm việc thêm từ 21h đến 22h với 1 tiếng làm bình thường của Chuối, tức là không phải 30k – 20k = 10k.

    Nếu như Chuối làm việc thêm 1 tiếng từ 21h đến 22h mà thời gian này vẫn chỉ được trả 20k/tiếng như làm việc thông thường, thì lợi ích cận biên mà Chuối thu được của việc làm thêm 1 tiếng vẫn là 20k.

    Chi phí cận biên (Marginal Cost – MC)

    Vẫn theo giáo trình Vi mô cơ bản của cô Tường Anh: “Chi phí cận biên là sự thay đổi của tổng chi phí khi có sự thay đổi của số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ”.

    Tương tự như những phân tích ở trên thì chi phí cận biên chính là chi phí phải chi thêm khi phát sinh thêm một đơn vị hàng hóa hoặc dịch vụ.

    Với MC là chi phí cận biên (Marginal Cost – MC)

    TC là tổng chi phí phải trả (Total Cost – TC)

    Quay lại về ví dụ việc làm bán thời gian của bạn Chuối. Bình thường nếu chỉ làm 2 tiếng từ 19h đến 21h, Chuối sẽ ăn tối bằng một gói mì Hảo Hảo trị giá 3500 VNĐ. Tuy nhiên buổi tối đặc biệt đó, nếu Chuối chấp nhận làm việc thêm 1 tiếng nữa thì sẽ phải gặp nhiều khách hàng hơn và mất nhiều năng lượng hơn. Chính vì thế, Chuối cần ăn nhiều hơn, cụ thể ngoài gói mì đó, bạn ấy đã tự mua thêm cho mình một quả trứng với giá 3000 VNĐ. Như vậy, chi phí cận biên cho 1 giờ làm thêm này của bạn Chuối là 3000 VNĐ, tức là MC = 3000 VNĐ

    Phần này ngắn chưa :))) Nó tương tự như MB thôi mà!!

    So sánh chi phí cận biên và lợi ích cận biên

    Một quy luật mà có thể trẻ con cũng biết, đấy là nếu làm việc gì thì cái mình thu về phải lớn hơn cái mình bỏ ra đã, trong ngắn hạn hoặc trong dài hạn. Điều đó đúng trong việc phân tích cận biên: Bạn nên lựa chọn việc có chi phí cận biên MC nhỏ hơn hoặc bằng lợi ích cận biên MB.

    Ở ví dụ của bạn Chuối xuyên suốt bài viết này: MC = 3000 VNĐ, MB = 30,000 VNĐ.

    Tuy nhiên chúng ta đang phân tích kinh tế, do đó hãy chọn những lựa chọn có tính kinh tế nhất. Tổng quát lại thì chúng ta có những điều sau khi so sánh MB với MC:

    • Nếu MB<MC: nên thu hẹp quy mô hoạt động, giảm số lượng hàng hóa dịch vụ vì chi phí bỏ ra cho 1 đơn vị tăng thêm nhỏ hơn lợi ích thu về từ đơn vị đó.
    • Nếu MB=MC: quy mô lúc này là perfect, đừng thay đổi làm gì. Lí do là tại điểm có lượng hàng là Q mà MB=MC, nếu bạn làm thêm nữa (mở rộng quy mô ra) hoặc thu hẹp quy mô lại thì tiền thu về cũng chỉ bằng tiền bỏ ra thôi, làm gì có lãi, vậy thì sao phải tốn sức!

    Tại sao lại có suy luận trên về tương quan MB – MC?

    Phần này hơi dài, và chẳng thú vị gì đâu, nhưng bạn cứ nên đọc thử vậy!

    Để giải thích vì sao lại có ba dấu chấm đen kia, chúng ta hãy ngẫm lại một chút.

    Lan man quá, trở về việc giải thích nói trên.

    Nếu MB = ΔTB/ΔQ và MC = ΔTC/ΔQ (ΔQ rất nhỏ) thì chúng ta hoàn toàn có thể viết được rằng MB = TB’ và MC = TC’ (đạo hàm theo biến Q)

    Xem xét trên thực tế thì lợi nhuận thu được TB và chi phí bỏ ra TC của chúng ta đều phụ thuộc vào số lượng hàng hóa dịch vụ Q mà chúng ta cung cấp. Do đó, quy về toán học thì:

    Bạn biết khái niệm lợi ích ròng (net benefit – NB) chứ? Lợi ích ròng, tạm hiểu theo kiểu của mình, là lợi ích sau khi bạn đã trừ đi mọi chi phí bạn bỏ ra. Lúc này, vấn đề kinh tế của chúng ta sẽ là làm sao để có được lợi ích ròng to nhất, tức là hàm NB đạt giá trị cực đại.

    Ta có: h(Q) = NB = TB – TC.

    Thế thì để NB đạt cực trị, ta cần NB’ = 0 tức là h'(Q)=0.

    Điều này tương đương với TB’ – TC’ = 0 hay MB – MC = 0, tức là MB = MC

    Vậy thì tại điểm Q mà MB = MC, quy mô sản xuất của chúng ta là tối ưu.

    Tương tự suy ra hai cái chấm đen còn lại. 😀

    Tóm lại, để phân tích cận biên, ta tạm nhớ những điều sau:

    • Lợi ích (chi phí) cận biên là lợi ích thu được (chi phí bỏ ra) thêm khi phát sinh thêm một đơn vị hàng hóa hay dịch vụ.
    • Nếu MB<MC: nên thu hẹp quy mô hoạt động, giảm số lượng hàng hóa dịch vụ.
    • Nếu MB=MC: quy mô lúc này là perfect, đừng thay đổi làm gì

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Phân Tích Cận Biên Trong Kinh Tế Học Vi Mô
  • Lợi Nhuận Biên (Marginal Profit) Là Gì? Đặc Điểm Và Công Thức Tính
  • Chi Phí Cận Biên Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Chi Phí Cận Biên Và Chi Phí Bình Quân
  • Sự Khác Biệt Giữa Tổng Lợi Ích Và Lợi Ích Cận Biên Là Gì?
  • Giá Trị Sử Dụng (Tính Hữu Dụng) Của Sản Phẩm
  • Lợi Ích Cận Biên Của Đồng Tiền

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Quyết Tốt Mối Quan Hệ Giữa Lợi Ích Cá Nhân Và Đạo Đức Xã Hội Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Quan Điểm Của Hồ Chí Minh Về Giải Quyết Hài Hòa Mối Quan Hệ Giữa Lợi Ích Cách Mạng Và Lợi Ích Cá Nhân
  • Trách Nhiệm Cá Nhân Và Lợi Ích Cộng Đồng!
  • Lợi Ích Cộng Đồng Là Trên Hết
  • Về Mối Quan Hệ Giữa Lợi Ích Vật Chất Và Lợi Ích Tinh Thần Trong Sự Phát Triển Của Xã Hội Ta Hiện Nay
  • Có thể bạn cho tôi là một kẻ liều lĩnh khi quyết định giải nghĩa lại một thuật ngữ kinh tế quen thuộc. Nhưng hãy kiên nhẫn, vì thuật ngữ tưởng như rất dễ hiểu này lại có liên hệ trực tiếp tới thành công về tài chính của một con người.

    “Lợi ích” là một thuật ngữ kinh tế để miêu tả lượng giá trị hoặc hạnh phúc mà một người thu nhận được nhờ sử dụng một sản phẩm hay một dịch vụ nào đó. “Lợi ích cận biên” ám chỉ lượng giá trị/hạnh phúc có được từ việc tiêu thụ thêm một đơn vị sản phẩm. Hầu hết sản phẩm và dịch vụ đều có lợi ích cận biên giảm dần.

    Mỗi miếng bánh sau mang lại cho bạn ít cảm giác hạnh phúc hơn miếng bánh trước. Tương tự với các sản phẩm khác.

    Trong thực tế, đây cũng là điều xảy ra với đồng tiền. Đối với rất nhiều người, có thêm 500 000 USD trong tài khoản có thể thay đổi cả cuộc đời họ. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu như bạn đã nắm trong tay tài sản trị giá hàng triệu đô la? Khoản tiền trên có thể làm bạn thấy hài lòng nhưng chưa chắc đã tạo ra thay đổi đáng kể nào trong cuộc sống hàng ngày của bạn.

    J.D đã từng là một anh chàng ngập đầu trong nợ nần, khi đó, mỗi đồng anh ta kiếm thêm được có khả năng tạo ra khác biệt rất lớn. Tuy nhiên, sau khi J.D thoát ra khỏi tình trạng trên và trở thành một người giàu có, lợi ích cận biên của đồng tiền đối với anh đã giảm xuống dần dần.

    “Nợ nần đã từng là nỗi ám ảnh đối với tôi, thậm chí biến tôi thành một kẻ tồi tệ. Giờ đây, vấn đề lớn nhất của tôi là: Tôi luôn muốn có thêm nhiều tiền. Dù vậy, tôi cũng bắt đầu nhận ra rằng nếu tôi ít chạy theo đồng tiền hơn, tôi sẽ có thêm nhiều thứ khác”.

    Lợi ích cận biên và sự sợ rủi ro

    Bởi vì đa số chúng ta đều có lợi ích cận biên giảm dần, việc mất đi một khoản tiền sẽ gây ra tác động lớn hơn việc nhận được một khoản tương tự.

    Ví dụ, nếu tôi cho bạn đặt cược vào mặp sấp của một đồng xu. Nếu thắng bạn được 10 000 đô la, nếu thua bạn nợ tôi số tiền đó. Chắc chắn là chẳng có mấy người dám tham dự vào trò chơi này. Cảm giác nhận được 10 000 đô la không đủ để bù đắp cho nỗi sợ mất đi khoản tiền đó và khả năng thắng thua 50 – 50 là quá rủi ro.

    Trong kinh tế học, hiện tượng này được gọi là sự sợ mạo hiểm.

    Loại bỏ rủi ro bất cứ khi nào có thể

    Nếu bạn giống với phần đa dân số, bạn sẽ lo sợ trước việc hết tiền hơn là hạnh phúc với việc trở nên giàu có. Vì thế, hãy cố gắng để giảm thiểu rủi ro một cách tối đa.

    Nếu bạn đang cận kề tuổi hưu trí và chưa biết làm thế nào để chuẩn bị cho tuổi già thì mua bảo hiểm hoặc gửi tiết kiệm dài hạn chính là một lựa chọn tốt.

    Trong đầu tư, thay vì tính toán xem bản thân có thể chấp nhận bao nhiêu rủi ro, hãy cố gắng giải quyết câu hỏi làm thế nào để tránh phải mạo hiểm. Rút cuộc, liệu miếng bánh thứ ba có thực sự đáng để bạn hi sinh mục tiêu của mình?

    NDH – Biên dịch theo Mike Piper – chúng tôi

    Từ một giáo viên tiếng Anh, Jack Ma đã trở thành ông chủ “gã khổng lồ” thương mại điện tử Alibaba và truyền cảm hứng cho nhiều bạn trẻ trên thế giới.

    Trung Quốc giục Ant Group cải tổ hoạt động Những tỷ phú nổi bật năm 2022

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lợi Ích Công Cộng Và Quyền Riêng Tư
  • Bài 17: Nghĩa Vụ Tôn Trọng Và Bảo Vệ Tài Sản Nhà Nước Và Lợi Ích Công Cộng
  • Làm Rõ Khái Niệm “lợi Ích Công” Trong Hoạt Động Báo Chí
  • Cây Bàng Có Tác Dụng Gì?
  • 7 Bài Văn Mẫu Hãy Viết Một Đoạn Văn Nói Về Lợi Ích Của Một Loại Cây Mà
  • Sự Khác Biệt Giữa Tổng Lợi Ích Và Lợi Ích Cận Biên Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Chi Phí Cận Biên Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Chi Phí Cận Biên Và Chi Phí Bình Quân
  • Lợi Nhuận Biên (Marginal Profit) Là Gì? Đặc Điểm Và Công Thức Tính
  • Phương Pháp Phân Tích Cận Biên Trong Kinh Tế Học Vi Mô
  • Chi Phí Cận Biên Và Lợi Ích Cận Biên Trong Lựa Chọn Kinh Tế
  • Bài Tập Lớn Kinh Tế Vi Mô Cần Cho Sinh Viên Kinh Tế
  • Câu trả lời ngắn gọn:

    Lợi ích cận biên là đầu vào đơn vị gây ra thay đổi đầu ra (trong phần quy trình đó).

    Tổng lợi ích là tổng sản lượng gây ra bởi tổng đầu vào (trong phần quy trình đó).

    Điểm cân bằng cận biên là thời điểm không có lợi ích cận biên trong quá trình này. Đây là điểm quan trọng mà một đầu vào đơn vị sẽ gây ra mất mát; nó là 0 nằm giữa dương và âm.

    Giải thích thêm:

    Khái niệm lợi ích cận biên được sử dụng trong cạnh tranh kinh tế vi mô để tối đa hóa lợi nhuận nhưng có một cách khác để sử dụng khái niệm này để hiểu quá trình kinh tế vĩ mô và tránh quá trình cạnh tranh kinh tế vi mô dẫn đến điều kiện kinh tế vĩ mô suy thoái gây ra tình trạng mất cân bằng kinh tế.

    Nhưng khi cả thế giới rơi vào trạng thái cân bằng kinh tế này một ngày nào đó trong tương lai, thủ đô và dân số bị dồn vào chân tường này sẽ không còn nơi nào để đi ngoài việc ngồi đó chờ đợi để bị bốc hơi vào hư vô.

    Do tác động phá hủy hiện tại đối với giá trị vật chất (giá trị thực) ngày càng trở nên ác tính hơn đã vượt qua khả năng điều chỉnh khả năng phục hồi tự nhiên, những sự phá hủy này là quá trình không thể đảo ngược, không thể phục hồi, ví dụ: giảm năng lượng địa nhiệt là quá trình không thể đảo ngược mùa thu ngắn của vòng đời của hệ sinh thái. Ô nhiễm hóa học là quá trình không thể đảo ngược, gây ra thiệt hại không thể đảo ngược đối với hệ sinh thái làm suy giảm các điều kiện tiến hóa làm giảm tốc độ tiến hóa sẽ làm giảm mức độ tiến hóa mà chúng ta cần đạt đến mức quan trọng để đạt được tương lai vô tận, do đó phủ nhận toàn bộ quá trình thành một điều vô nghĩa – – công việc vô giá trị.

    Nền kinh tế của chúng tôi là một xu hướng tự nhiên thúc đẩy quá trình tự nhiên. Quá trình tự nhiên này là một quá trình tăng trưởng entropy, phụ thuộc vào việc khai thác sự khác biệt tiềm năng trong các yếu tố kinh tế như tài nguyên, chi phí lao động, thị trường, vốn, khoa học và công nghệ để kiếm lợi nhuận. Chênh lệch càng cao, bạn càng nhận được nhiều lợi nhuận. Quá trình kinh tế này thậm chí sẽ làm giảm sự khác biệt tiềm năng trong các yếu tố kinh tế làm giảm biên lợi nhuận. Các yếu tố kinh tế càng phân phối đồng đều, tỷ suất lợi nhuận càng nhỏ. Đây là lợi ích cận biên là lợi ích tương đối.

    Vì vậy, kết quả cuối cùng của tăng trưởng kinh tế và chuyển tiếp đầu tư từ nước giàu sang nước nghèo không phải là tất cả những người giàu mong đợi mà tất cả đều nghèo.

    Một người đàn ông thực tế và nghiêm túc sẽ không coi đó là một nguyên nhân lớn để theo đuổi, bởi vì anh ta tham lam và tham vọng hơn: anh ta muốn tương lai vô tận và tự do tối thượng trong vũ trụ.

    Điều mà tất cả mọi người hiện đang làm là cố gắng giành chiến thắng trong quá trình chơi trò chơi cấp độ nhưng trong khi đó, không biết tất cả sẽ làm mất đi cấp độ hệ thống sẽ gây ra sự tuyệt chủng. Ngay cả khi bạn sẵn sàng tiếp tục chơi trò chơi cấp độ quá trình (quá trình cạnh tranh tự nhiên và chọn lọc tự nhiên) mãi mãi, quá trình này sẽ làm cạn kiệt tất cả các tài nguyên và kết thúc trò chơi này sớm hơn bạn mong đợi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Trị Sử Dụng (Tính Hữu Dụng) Của Sản Phẩm
  • Qui Luật Lợi Ích Cận Biên Giảm Dần (Law Of Diminishing Marginal Utility) Là Gì?
  • Một Ly Nước Ép Quả Sung Mỗi Ngày, Bạn Sẽ Không Còn Uể Oải, Mệt Mỏi Ngay Đầu Hè Oi Ả Và Còn Vô Số Lợi Ích Khác
  • Mỗi Ngày Uống Một Ly Nước Hành Tây Sẽ Đem Lại Cho Bạn 5 Điều Kỳ Diệu
  • Những Lợi Ích Đến Từ Việc Ăn Chay
  • Chi Phí Cận Biên Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Chi Phí Cận Biên Và Chi Phí Bình Quân

    --- Bài mới hơn ---

  • Lợi Nhuận Biên (Marginal Profit) Là Gì? Đặc Điểm Và Công Thức Tính
  • Phương Pháp Phân Tích Cận Biên Trong Kinh Tế Học Vi Mô
  • Chi Phí Cận Biên Và Lợi Ích Cận Biên Trong Lựa Chọn Kinh Tế
  • Bài Tập Lớn Kinh Tế Vi Mô Cần Cho Sinh Viên Kinh Tế
  • Tinh Giản Biên Chế: Tất Cả Phải Vì Lợi Ích Chung
  • Chi phí cận biên (marginal cost) là mức tăng chi phí (∆C) khi sản lượng tăng thêm một đơn vị (∆Y). Như vậy, chi phí cận biên là số tương đối hay số tỷ lệ (∆C/∆Y), chứ không phải số tuyệt đối. Nếu biển diễn trên đồ thị như trong hình, thì ban đầu MC có hướng đi xuống, đạt giá trị cực tiểu, sau đó có hướng đi lên. Lý do ở đây là vì ban đầu cả chi phí cố định và biến đổi tính trên mỗi đơn vị sản lượng đều giảm, làm cho MC giảm. Nhưng sau đó quy luật lợi suất giảm dần bắt đầu phát huy tác dụng và chi phí biến đổi của mỗi đơn vị sản lượng bắt đầu tăng. Đồ thị tiếp tục đi xuống khi mức tăng của chi phí biến đổi nhỏ hơn mức giảm của chi phí cố định (do số đơn vị sản lượng tiếp tục tăng).

    MC đạt giá trị tối thiểu khi mức tăng của chi phí biến đổi đúng bằng mức giảm của chi phí cố định. Sau điểm này, chi phí biến đổi tăng nhanh hơn mức giảm của chi phí cố định và đồ thị bắt đầu đi lên. MC cùng với doanh thu cận biên (MR) quyết định mức sản lượng cho phép doanh nghiệp đạt lợi nhuận tối đa.

    Khi chi phí bình quân giảm vì sản lượng tăng, chi phí cận biên thấp hơn chi phí bình quân. Khi chi phí bình quân tăng, chi phí cận biên lớn hơn chi phí bình quân. Khi chi phí bình quân không tăng hoặc giảm (ở mức tối thiểu hoặc tối đa), chi phí cận biên bằng chi phí bình quân.

    Các trường hợp đặc biệt thường xảy ra giữa chi phí bình quân và chi phí cận biên:

    – Chi phí cận biên không đổi / chi phí cố định cao: mỗi đơn vị sản xuất bổ sung được sản xuất với chi phí bổ sung không đổi trên một đơn vị. Đường cong chi phí bình quân giảm xuống liên tục, tiếp cận chi phí cận biên. Các ngành công nghiệp có chi phí cận biên cố định, chẳng hạn như mạng truyền tải điện, có thể đáp ứng các điều kiện độc quyền tự nhiên, bởi vì một khi được xây dựng, chi phí cận biên để phục vụ khách hàng bổ sung luôn thấp hơn chi phí bình quân cho một đối thủ tiềm năng . Chi phí vốn cố định cao là rào cản đối với việc gia nhập thị trường.

    – Hai cơ chế định giá phổ biến là Định giá chi phí bình quân và Định giá chi phí cận biên. Một nhà độc quyền sẽ sản xuất tại điểm mà đường cong chi phí bình quân cắt đường cầu thị trường theo phương pháp định giá chi phí bình quân, được gọi là điểm cân bằng giá chi phí bình quân. Ngược lại, có thể làm một cách tương tự với định giá chi phí cận biên.

    – Quy mô hiệu quả tối thiểu / quy mô hiệu quả tối đa: chi phí cận biên hoặc chi phí bình quân có thể không tuyến tính hoặc không liên tục. Do đó, đường cong chi phí chỉ có thể được thể hiện trên quy mô sản xuất hạn chế của một công nghệ nhất định.

    Ví dụ, một nhà máy hạt nhân sẽ hoạt động vô cùng không hiệu quả (chi phí bình quân rất cao) khi sản xuất với số lượng nhỏ; tương tự, sản lượng tối đa của nó cho bất kỳ khoảng thời gian nhất định nào về cơ bản phải được cố định và nếu sản xuất trên mức đó có là không có khả năng vì không thể về mặt kỹ thuật, nguy hiểm hoặc cực kỳ tốn kém. Độ co giãn dài hạn của nguồn cung sẽ cao hơn, vì các nhà máy mới có thể được xây dựng và đưa vào hoạt động.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Tổng Lợi Ích Và Lợi Ích Cận Biên Là Gì?
  • Giá Trị Sử Dụng (Tính Hữu Dụng) Của Sản Phẩm
  • Qui Luật Lợi Ích Cận Biên Giảm Dần (Law Of Diminishing Marginal Utility) Là Gì?
  • Một Ly Nước Ép Quả Sung Mỗi Ngày, Bạn Sẽ Không Còn Uể Oải, Mệt Mỏi Ngay Đầu Hè Oi Ả Và Còn Vô Số Lợi Ích Khác
  • Mỗi Ngày Uống Một Ly Nước Hành Tây Sẽ Đem Lại Cho Bạn 5 Điều Kỳ Diệu
  • Qui Luật Lợi Ích Cận Biên Giảm Dần (Law Of Diminishing Marginal Utility) Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Sử Dụng (Tính Hữu Dụng) Của Sản Phẩm
  • Sự Khác Biệt Giữa Tổng Lợi Ích Và Lợi Ích Cận Biên Là Gì?
  • Chi Phí Cận Biên Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Chi Phí Cận Biên Và Chi Phí Bình Quân
  • Lợi Nhuận Biên (Marginal Profit) Là Gì? Đặc Điểm Và Công Thức Tính
  • Phương Pháp Phân Tích Cận Biên Trong Kinh Tế Học Vi Mô
  • Qui luật lợi ích cận biên giảm dần

    Khái niệm

    Qui luật lợi ích cận biên giảm dần trong tiếng Anh là Law of Diminishing Marginal Utility.

    Qui luật lợi ích cận biên giảm dần giải thích rằng, khi một người tiêu thụ một mặt hàng hoặc sản phẩm, sự hài lòng và lợi ích mà họ có được từ các sản phẩm sẽ giảm đi khi họ tiêu thụ ngày càng nhiều sản phẩm đó.

    Ví dụ, một cá nhân có thể mua một loại sô cô la nhất định trong một thời gian. Chẳng mấy chốc, họ có thể mua ít hơn và chọn một loại sô cô la khác hoặc mua bánh quy thay thế, do sự hài lòng ban đầu họ nhận được từ sô cô la đang giảm dần.

    Nội dung của qui luật lợi ích cận biên giảm dần

    Trong kinh tế học, qui luật lợi ích cận biên giảm dần nói rằng, lợi ích cận biên của hàng hóa hoặc dịch vụ giảm khi nguồn cung sẵn có của nó tăng lên. Các tác nhân kinh tế sẽ khiến lần lượt các đơn vị của hàng hóa hoặc dịch vụ ngày càng giảm đi, cho đến khi nó hết giá trị. Qui luật lợi ích cận biên giảm dần được sử dụng để giải thích cho các hiện tượng kinh tế khác, chẳng hạn như lí thuyết về thị hiếu theo thời gian.

    Bất cứ khi nào một cá nhân tương tác với một hàng hóa kinh tế, thì cá nhân đó hành động theo cách thể hiện thứ tự mà họ coi trọng việc sử dụng hàng hóa đó. Do đó, đơn vị đầu tiên được tiêu thụ, là dành cho mục đích có giá trị nhất của cá nhân đó. Đơn vị thứ hai được dành cho mục đích có giá trị thứ hai, và cứ như vậy. Nói cách khác, qui luật lợi ích cận biên giảm dần qui định rằng, khi người tiêu dùng đi chợ để mua hàng hóa, họ không coi trọng tất cả các mặt hàng họ mua như nhau. Họ sẽ trả nhiều tiền hơn cho một số mặt hàng và ít hơn cho những mặt hàng khác.

    Một ví dụ khác, một người bị dạt vào một hòn đảo hoang, tìm thấy một thùng nước đóng chai trên bờ biển. Người đó có thể uống chai đầu tiên, và điều này cho thấy việc thỏa mãn cơn khát cho người đó là lợi ích quan trọng nhất của chai nước. Người này có thể rửa ráy bằng chai thứ hai hoặc quyết định để dành nó cho sau này. Nếu người đó có thể để dành, điều này cho thấy rằng, người đó coi trọng việc sử dụng nước trong tương lai hơn là việc rửa ráy hiện tại, nhưng độ coi trọng vẫn ít hơn là việc làm dịu cơn khát ngay lập tức. Điều này được gọi là thị hiếu theo thời gian. Khái niệm này giúp giải thích việc tiết kiệm và đầu tư so với tiêu dùng và chi tiêu hiện tại.

    Qui luật lợi ích cận biên giảm dần áp dụng cho tiền và lãi suất

    Ví dụ trên cũng giúp giải thích lí do tại sao đường cầu dốc xuống trong các mô hình kinh tế vi mô, vì mỗi đơn vị hàng hóa hoặc dịch vụ bổ sung được đưa vào có giá trị nhỏ hơn. Ứng dụng này của qui luật lợi ích cận biên giảm dần cho thấy lí do tại sao sự gia tăng của dung lượng tiền (hoặc những thứ tương đương) làm giảm giá trị trao đổi của một đơn vị tiền vì mỗi đơn vị tiền được sử dụng để mua bán sẽ lần lượt có giá trị ít hơn.

    Ví dụ về trao đổi tiền tệ đã cung cấp một lập luận kinh tế chống lại sự thao túng lãi suất bởi các ngân hàng trung ương. Vì lãi suất ảnh hưởng đến thói quen tiết kiệm và chi tiêu của người tiêu dùng hoặc doanh nghiệp. Việc bóp méo lãi suất khuyến khích người tiêu dùng chi tiêu hoặc tiết kiệm theo thị hiếu thời gian thực tế của họ, dẫn đến thặng dư có thể xảy ra hoặc sự thiếu hụt trong vốn đầu tư cơ bản.

    Qui luật lợi ích cận biên giảm dần và marketing

    Các marketer sử dụng qui luật lợi ích cận biên giảm dần vì họ muốn giữ lợi ích cận biên ở mức cao cho các sản phẩm mà họ bán. Một sản phẩm được tiêu thụ vì nó mang lại sự hài lòng, nhưng quá nhiều sản phẩm có thể có nghĩa là lợi ích cận biên bằng 0 vì người tiêu dùng đã có đủ sản phẩm và chúng bị bão hòa. Tất nhiên, lợi ích cận biên phụ thuộc vào người tiêu dùng và sản phẩm được tiêu thụ.

    (Theo Investopedia)

    Ích Y

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Ly Nước Ép Quả Sung Mỗi Ngày, Bạn Sẽ Không Còn Uể Oải, Mệt Mỏi Ngay Đầu Hè Oi Ả Và Còn Vô Số Lợi Ích Khác
  • Mỗi Ngày Uống Một Ly Nước Hành Tây Sẽ Đem Lại Cho Bạn 5 Điều Kỳ Diệu
  • Những Lợi Ích Đến Từ Việc Ăn Chay
  • Lợi Ích Của Việc Ăn Chay : Ntthao
  • Lợi Ích Từ Việc Ăn Chay, 5 Điều Bạn Cần Biết
  • Tổng Hợp Về Cấu Trúc As If/as Though: Cách Dùng, Ví Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Trúc As If/as Though/would Rather/it’s High Time
  • So Sánh Hơn/bằng Với Cấu Trúc Than/as + Đại Từ + Trợ Động Từ Trong Tiếng Anh
  • As If Và As Though
  • Tổng Hợp Tất Cả Các Cấu Trúc Viết Lại Câu Trong Tiếng Anh
  • “tất Tần Tật” Cấu Trúc Viết Lại Câu Cực Kì Hữu Ích
  • As if/As though : như thể là…, cứ như là…

    Ex: Kalin talks as if she knows everything.

    (Kalin nói như thể là cô ấy biết tất cả mọi thứ)

    Cấu trúc As if/As though được dùng trong các trường hợp như sau:

    – Khi muốn nói người nào đó/vật gì đó trông như thế nào, trông ra sao, cảm thấy gì (thường là bày tỏ quan điểm cá nhân)

    – Cấu trúc As if/As though vừa đứng trước mệnh đề có thật vừa đứng trước mệnh đề không có thật.

    Form: S + V…+ as if/as though + S +V…

    ➔ Cấu trúc này dùng để diễn tả sự thật hiển nhiên, đã xảy ra.

    Ex: He as though he rich. (But he is not rich).

    (Anh ta hành động như thể là người giàu)

    ➔ Trong trường hợp này muốn diễn đạt việc thật ra anh ta không giàu như những gì anh ta đang làm.

    ** Note: Theo Anh – Mỹ, trong văn viết trang trọng, người ta thường dùng “were” thay cho “was”.

    Form: S + V HTĐ +… + as if/as though + S +tobe(not)/V QKĐ +…

    ➔ Cấu trúc As though dùng để diễn tả sự việc ở hiện tại.

    Ex: She talkes as though she knew where Hung lived.

    (Cô ấy nói như thể là cô ấy biết Hùng sống ở đâu)

    ➔ Cấu trúc As though dùng để diễn tả sự việc ở quá khứ.

    Ex: My sister ate as though she hadn’t eaten during a week.

    (Chị gái tôi ăn cứ như thể là chị ấy không được ăn trong suốt một tuần liền)

    – Mệnh đề sau 2 cặp cấu trúc này không phải lúc nào cũng tuân theo quy luật trên. Trong một số trường hợp, nếu câu điều kiện có thật hoặc dựa vào quan điểm của người nói/người viết là có thật thì sử dụng loại 1, loại 2 và loại 3 không được sử dụng. Động từ ở mệnh đề sau dựa vào mối quan hệ với động từ ở mệnh đề trước.

    Ex: The girl looks as if/as though she has finished the exam.

    (Cô gái trông có vẻ như là vừa kết thúc bài kiểm tra)

    – Cấu trúc As if/As though đi kèm với động từ nguyên mẫu có to hoặc một cụm giới từ.

    Ex: Windy moved his lips as though to smile.

    (Windy di chuyển môi của cô ấy như thể là cười)

    – Cấu trúc này có thể dùng với Feel/Look

    Ex: It looks as if/as though we’ve had a shock.

    (Trông chúng tôi có vẻ như đã có một cú sốc)

    – As if có thể dùng tương tự như ‘Like’. Tuy nhiên, không phải lúc nào nó cũng chính xác trong mọi ngữ cảnh.

    Ex: It could like it could snow at any time.

    (Nó trông có vẻ như là vừa có tuyết)

    1. My sister spends money as if she owned a bank.
    2. Minh walks as if he were a big hero.
    3. Zen always acts as though he were rich.
    4. It sounds as though they had a happy time.
    5. His sister looked as though she had seen a ghost.
    6. Binz was having as if nothing had happened.
    7. Ducky shook her headd as if to say “don’t trust him”.
    8. She felt as though she was plunging into something new and quite abnormal.
    9. We took as if we were overworked.
    10. Black – faced, he looked as though he had been drained of all sensation.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Và Cách Dùng As Though Trong Tiếng Anh
  • Một Hiện Tại Phân Từ Thay Thế Cho Mệnh Đề Phụ : Các Cấu Trúc Này Dùng Chủ Yếu Trong Văn Viết Tiếng
  • The Same As; Similar To, Different From
  • Các Tiêu Chí Đánh Giá Tác Động Của Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Bài 3. Qppl & Qhpl Xhcn
  • Xung Đột Lợi Ích, Giải Quyết Xung Đột, Ví Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Lợi Ích Của Nhà Tâm Lý Học Trực Tuyến / Tâm Lý Học Lâm Sàng
  • Nêu Lợi Ích Của Đa Dạng Sinh Học
  • Đa Dạng Sinh Học Là Gì? Nguyên Nhân, Biện Pháp Hạn Chế Suy Giảm Đa Dạng Sinh Học
  • Lợi Ích Khi Đi Du Học Đài Loan Ở Đài Bắc
  • Những Lợi Ích Của Việc Đi Du Học Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Xung đột là một cuộc đối đầu nảy sinh giữa những người tham gia vào quá trình giao tiếp do sự khác biệt về thái độ, thái độ, sở thích, niềm tin, giá trị, mục tiêu. Xung đột được coi là cách gay gắt nhất để giải quyết cuộc đối đầu. Nó bao gồm việc chống lại các bên và thường đi kèm với những cảm xúc tiêu cực, những hành động vượt ra ngoài những chuẩn mực được chấp nhận chung. Đối đầu là không thể tránh khỏi trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống. Do đó, cần nghiên cứu các phương pháp giải quyết xung đột để giảm tác động phá hoại của chúng và giảm thiểu rủi ro về hậu quả tiêu cực.

    Xung đột lợi ích

    Xung đột lợi ích, nó là gì?

    Xung đột lợi ích đề cập đến mâu thuẫn nảy sinh giữa lợi ích cá nhân của cá nhân và nhiệm vụ chuyên môn, quyền hạn chính thức của mình. Sự hiện diện của một mâu thuẫn như vậy có thể ảnh hưởng đến sự công bằng và vô tư của việc ra quyết định, hành động hoặc không hành động trong việc thực hiện các mô tả công việc, quyền hạn chính thức và nhiệm vụ chuyên môn.

    Xung đột về các ví dụ về lợi ích có thể được quan sát không chỉ khi một quan chức thực hiện dịch vụ công cộng, mà cả khi làm việc trong doanh nghiệp tư nhân. Trong trường hợp này, xung đột lợi ích sẽ được gọi là mâu thuẫn xảy ra khi một cá nhân hoặc toàn bộ tổ chức hoạt động đồng thời theo nhiều hướng khác nhau và nhiệm vụ của các lĩnh vực hoạt động này khác nhau.

    Xung đột lợi ích. Một ví dụ về điều này có thể được tìm thấy trong lĩnh vực chuyên nghiệp ở mọi bước trong tình huống lợi ích cá nhân của nhân viên mâu thuẫn với lợi ích và mục tiêu của doanh nghiệp mà anh ta làm việc. Các tình huống làm phát sinh xung đột lợi ích được quan sát ở khắp mọi nơi. Họ phát sinh giữa các thành viên cùng lớp, những người tham gia vào các mối quan hệ gia đình, trong các nhóm cùng chí hướng, giữa các đồng nghiệp. Các cuộc đối đầu dựa trên sự đối đầu về mục tiêu của những người tham gia tương tác có thể xuất hiện bất kể sự thù địch giữa các cá nhân. Trong mọi trường hợp, một hiện tượng như xung đột lợi ích phải được chấm dứt ngay lập tức, vì nó dẫn đến sự xâm phạm lợi ích của toàn bộ tổ chức.

    Ngoài ra, các tình huống đối đầu có thể phát sinh khi quỹ bị giới hạn để đạt được các mục tiêu dự định. Lợi ích quá mức mâu thuẫn với sự khan hiếm các nguồn lực cần thiết để đáp ứng nhu cầu tập thể và cá nhân.

    Vì vậy, trả lời từ quan điểm pháp lý của câu hỏi về xung đột lợi ích, đó là gì, chúng ta có thể rút ra định nghĩa sau đây.

    Nhìn chung, xung đột lợi ích trong lĩnh vực khởi nghiệp được đặc trưng bởi sự hiện diện của ba thành phần khách quan: tính hai mặt của nhu cầu, thiệt hại lớn, hành động sai trái hoặc che giấu và kết nối khách quan giữa chúng.

    Thông thường, xung đột lợi ích xảy ra:

    – như một sự phản đối cá nhân về lợi ích và như một xung đột lợi ích của tổ chức;

    – trong tình huống lợi ích cá nhân của cá nhân, chẳng hạn như: tài sản tài chính tư nhân và các mối quan hệ nghề nghiệp bên ngoài tổ chức, tham gia vào một cuộc đối đầu tưởng tượng hoặc thực sự với các nhiệm vụ mà anh ta thực hiện, được gọi là xung đột lợi ích cá nhân. Xung đột tổ chức xảy ra khi: một tổ chức không thể cung cấp dịch vụ một cách khách quan do các hoạt động khác;

    – sự vô tư của tổ chức bị vi phạm hoặc có thể bị vi phạm trong việc thực hiện các nghĩa vụ được giao cho nó;

    – tổ chức này có lợi thế cạnh tranh quá lớn.

    Xung đột lợi ích. Một ví dụ là như sau. Sự không tương thích về lợi ích thường được quan sát thấy trong dịch vụ công cộng, khi một cá nhân có trách nhiệm đưa ra quyết định sử dụng vốn ngân sách có bất kỳ mối quan hệ nào với một công ty, doanh nghiệp, tổ chức là một trong những ứng cử viên nhận được các khoản tiền đó trong trường hợp đấu thầu cạnh tranh.

    Giải quyết xung đột lợi ích được coi là một trong những nhiệm vụ chính của các cơ chế chống tham nhũng, đồng thời, là một phương tiện để đảm bảo tiến trình quan hệ chính thức.

    Ngày nay, khi tạo ra một mô hình hành vi của công ty, nhiều doanh nghiệp thương mại bao gồm một mô tả về những xung đột có thể có của nhu cầu và cách để ngăn chặn chúng. Trong số các tình huống tiềm năng phổ biến nhất của cuộc đối đầu là:

    – tiết lộ cho các công ty cạnh tranh (quan tâm), các công ty thông tin bí mật của công ty;

    – sử dụng các cơ hội mà tổ chức cung cấp để gây bất lợi cho tổ chức này vì mục đích hiện thực hóa các mục tiêu và lợi ích của chính mình;

    – việc thông qua các khoản vay và thuyết trình từ khách hàng hoặc nhà cung cấp, dẫn đến sự xuất hiện của một số nghĩa vụ mâu thuẫn với các nhiệm vụ và nhu cầu của tổ chức;

    – liên lạc với các công ty, khách hàng hoặc nhà cung cấp cạnh tranh để có được lợi ích cho chính người thân hoặc họ hàng của họ.

    Cần đặc biệt chú ý đến việc giải quyết xung đột lợi ích phát sinh trong dịch vụ công ở nước ngoài. Thực tiễn thế giới xem xét những mâu thuẫn như vậy dưới ba hình thức: gia đình trị, chủ nghĩa kronism và chủ nghĩa vận động hành lang nhúng.

    Nepotism là việc cung cấp các bài đăng và vị trí cho các cá nhân mà người sử dụng lao động trong mối quan hệ gia đình và các mối quan hệ.

    Cronism được tiết lộ trong việc bổ nhiệm công chức vào các chức vụ cao nhất của bạn bè, đối tác thân mật hoặc đồng nghiệp kinh doanh. Vận động hành lang tích hợp được quan sát thấy khi một đại diện của doanh nghiệp tư nhân có được một vị trí trong lĩnh vực dịch vụ công cộng mà anh ta thực hiện công việc kinh doanh của mình.

    Giải quyết xung đột

    Các nhà tâm lý học và nhà xung đột làm việc trong lĩnh vực tìm kiếm giải pháp để giải quyết các tình huống đối đầu đưa ra các phương pháp giải quyết xung đột sau đây.

    Ở lượt đầu tiên, họ khuyên bạn không nên tiếp tục cuộc đối đầu. Các nhà lý luận xung đột đã đề xuất một cuộc thi đối đầu mở. Theo thỏa thuận sơ bộ, người chiến thắng trong một cuộc thi như vậy được đưa ra đối tượng xung đột, và bên thua cuộc phải tự nguyện từ bỏ quyền sở hữu đối tượng của cuộc đối đầu. Tùy chọn này được coi là một trong những chấp nhận được nhất.

    Các nhà tâm lý học cũng khuyên không nên bắt đầu một cuộc cãi vã, nhưng cố gắng đồng ý về một sự hợp tác hiệu quả, kết quả của nó sẽ là sự chiếm hữu bình đẳng của tất cả các bên của đối tượng xung đột.

    Một cách riêng biệt, các phương pháp giải quyết xung đột lợi ích phát sinh từ dịch vụ trong các cơ quan nhà nước nên được nêu rõ. Bốn phương pháp như vậy được phân biệt: chủ động, tiết lộ, từ chối tự nguyện, giám sát.

    Phương pháp phòng ngừa là ngăn chặn sự xuất hiện của xung đột lợi ích. Phương pháp này được coi là hiệu quả nhất trong việc chống tham nhũng. Một ví dụ về phương pháp được mô tả là sự từ chối của quan chức được bổ nhiệm vào chức vụ từ phần vốn của doanh nghiệp.

    Trong hệ thống các cơ quan nhà nước, các tổ chức được ủy quyền đặc biệt nhằm chống tham nhũng được giám sát. Các tổ chức như vậy giám sát việc tuân thủ các yêu cầu của khung pháp lý, các yêu cầu đối với hành vi của các quan chức và giải quyết xung đột lợi ích.

    Giải quyết mâu thuẫn một cách có thẩm quyền và kịp thời là chìa khóa cho sức khỏe tinh thần của mọi người, vì bất kỳ cuộc đối đầu nào cũng làm nảy sinh mâu thuẫn, phân đôi, bất hòa trong đội. Đồng thời, xung đột cũng là điều kiện cần thiết để hợp nhất nhóm và đưa nó đến một vòng phát triển mới có chất lượng.

    Quản lý xung đột được coi là một kỹ năng quan trọng cho một nhà lãnh đạo thành công. Thật vậy, như họ nói, sự thiếu hiểu biết về các khía cạnh của quản lý xung đột trong nhóm không làm giảm trách nhiệm của các ông chủ.

    Các cuộc đối đầu trong các tổ chức được phân loại theo định hướng và theo chiều ngang, dọc và hỗn hợp.

    Xung đột ngang được gây ra bởi cạnh tranh và so sánh. Dọc – quan sát giữa các cá nhân là cấp dưới, nghĩa là giữa cấp trên và cấp dưới. Đối đầu hỗn hợp, tương ứng, là cả đối đầu dọc và ngang.

    Có thể giải quyết xung đột giữa người lãnh đạo và cấp dưới, trong nhóm:

    – công nhận thực tế về sự tồn tại của một tình huống đối đầu, sự hiện diện của một người tham gia đối lập và yêu sách của anh ta;

    – một ý tưởng rõ ràng về nội dung của các lợi ích xung đột;

    – chuẩn bị đối thủ cho việc áp dụng các chuẩn mực chung về hành vi.

    Đối với mỗi nhà lãnh đạo, nếu anh ta quan tâm đến sự thịnh vượng của tổ chức của mình, điều rất quan trọng là môi trường tâm lý trong nhóm có ảnh hưởng có lợi đến bản chất và chất lượng của công việc tập thể của nhân viên.

    Ngày nay, một trong những điều kiện chính cho người lãnh đạo Hoạt động hiệu quả của nhà lãnh đạo được coi là nhận thức tâm lý xã hội của anh ta, tạo nên sự chuẩn bị và năng lực xung đột.

    Năng lực xung đột, giải quyết xung đột có thẩm quyền và hiệu quả giữa người lãnh đạo và cấp dưới, trong nhóm bao gồm:

    – Nhận thức về bản chất của sự va chạm, bất đồng, xung đột giữa các chủ thể;

    – phát triển thái độ xây dựng giữa bản thân và nhân viên đối với những mâu thuẫn trong tổ chức;

    – Sở hữu kỹ năng giao tiếp không xung đột trong các tình huống khó khăn;

    – khả năng phân tích và giải thích các tình huống vấn đề mới nổi;

    – khả năng phát triển các nguyên tắc hữu ích của các cuộc đối đầu mới nổi;

    – sự hiện diện của các kỹ năng để quản lý các hiện tượng đối đầu;

    – khả năng lường trước hậu quả có thể xảy ra của xung đột;

    – sự hiện diện của các kỹ năng để loại bỏ các hậu quả tiêu cực của mâu thuẫn;

    – khả năng quản lý xây dựng va chạm, cãi vã, tranh chấp và xung đột.

    Giải quyết xung đột buộc các nhà lãnh đạo phải đóng vai trò là bên thứ ba. Nói cách khác, ông chủ là một người trung gian tìm cách khôi phục sự cân bằng tâm lý trong đội. Các hoạt động của nhà lãnh đạo với tư cách là một trung gian bao gồm đánh giá và phân tích tình hình, cũng như trực tiếp giải quyết xung đột.

    Phân tích và đánh giá tình huống đối đầu bao gồm lấy thông tin về đối tượng va chạm, thu thập thông tin về nó, kiểm tra dữ liệu thu được, xác minh độ tin cậy của chúng, phân tích tình huống xung đột.

    Quá trình giải quyết mâu thuẫn bao gồm lựa chọn phương tiện để giải quyết, như hòa giải, thực hiện phương pháp đã chọn, sàng lọc dữ liệu và quyết định, giảm hoặc loại bỏ căng thẳng sau xung đột trong quan hệ của đối thủ, phân tích kinh nghiệm trong quản lý xung đột.

    Tuy nhiên, vấn đề cấp bách nhất hiện nay không phải là giải quyết xung đột trong lĩnh vực chuyên môn, mà là khả năng giải quyết những bất đồng nảy sinh trong môi trường thiếu niên.

    Trong nhiều năm, các nhà tâm lý học, nhà xã hội học đã nghiên cứu các vấn đề của tuổi dậy thì, nhưng cho đến ngày nay vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết. Tuổi vị thành niên được coi là độ tuổi gây tranh cãi nhất và đặc biệt nhạy cảm. Khi trẻ đến tuổi dậy thì, chúng cố gắng sống tách biệt với người lớn, chúng tạo ra một văn hóa nhóm đặc biệt dựa trên những chuẩn mực nhất định, nguyên tắc đạo đức, niềm tin. Nó được đặc trưng bởi các hình thức cụ thể của hành vi, quần áo đặc biệt, một ngôn ngữ đặc biệt, biểu tượng ban đầu, thuộc tính và nghi lễ. Văn hóa nhóm này là không thể hiểu được đối với người lớn, những người coi thanh thiếu niên là trẻ em không thể đưa ra quyết định độc lập và có cảm xúc nghiêm trọng. Hiểu lầm của người lớn là một trong những thành phần chính của sự bất đồng trong môi trường thiếu niên.

    Xung đột đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành các phẩm chất mới của nhân vật và trong sự biến đổi cá nhân.

    Tương tác xung đột ở tuổi dậy thì xảy ra theo ba hướng: một thiếu niên – một thiếu niên, một thiếu niên – cha mẹ và một thiếu niên – giáo viên.

    Trong số thanh thiếu niên, tương tác xung đột dựa trên sự đối đầu, mục tiêu của nó là lãnh đạo. Ở đây, các yếu tố chính của một phong cách hành vi mâu thuẫn là địa vị, mức độ yêu sách ( tham vọng ) và lòng tự trọng .

    Do đó, chúng ta có thể rút ra một thuật toán duy nhất để giải quyết các xung đột trường học:

    – trong lượt đầu tiên, cần phải giữ bình tĩnh;

    – thứ hai, cần phân tích các tình huống không có thăng trầm;

    – thứ ba, điều quan trọng là duy trì một cuộc đối thoại cởi mở giữa các đối thủ, để có thể lắng nghe phía đối lập, bình tĩnh nêu quan điểm của riêng bạn về vấn đề;

    – thứ tư, cần phải khám phá các mục tiêu và phương pháp chung để giải quyết vấn đề, điều này sẽ cho phép chúng ta đi đến những mục tiêu này;

    – thứ năm, bắt buộc phải dự trữ các kết quả sẽ cho phép chúng tôi tránh các cuộc đụng độ tương tự trong tương lai.

    Giải quyết xung đột ở tuổi thiếu niên có thể đạt được theo ba cách: đàn áp, nhượng bộ (thỏa hiệp) và hợp tác.

    Trái với niềm tin phổ biến, việc giải quyết xung đột ở tuổi vị thành niên thông qua sự đàn áp không phải lúc nào cũng quá tệ. Ví dụ, trong những tình huống cực kỳ khó khăn. Ức chế bao gồm việc đặt trách nhiệm lên vai của chính mình theo nghĩa tích cực của nó. Tuy nhiên, việc lạm dụng phong cách quản lý xung đột này dẫn đến sự phát triển của sự phục tùng do sợ hãi , cay đắng, bí mật và không có khả năng đưa ra quyết định.

    Một cách thỏa hiệp để giải quyết quá trình xung đột là sự nhượng bộ lẫn nhau.

    Phương pháp giải quyết các bất đồng thông qua hợp tác dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau của các bên, kỹ năng giao tiếp và các quyết định mang tính xây dựng.

    Giải quyết xung đột ở tuổi thiếu niên cũng có thể đạt được bằng các kỹ thuật sau:

    – cách tiếp cận sáng tạo (biến vấn đề thành cơ hội tiềm năng cho bản thân);

    – tự khẳng định tối ưu, bao gồm tấn công một vấn đề cụ thể, và không phải trên cá nhân;

    – quản lý cảm xúc;

    – phát triển các lựa chọn thay thế;

    – lập kế hoạch hiệu quả, phát triển các lựa chọn cho chiến lược (đàm phán);

    – trung gian.

    Giải quyết xung đột

    Cho dù mọi người cố gắng tránh đụng độ như thế nào trong cuộc sống hàng ngày, điều này là không thể. Xung đột là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Do đó, cần nghiên cứu các cơ chế phát sinh mâu thuẫn, để biết các hướng có thể của quá trình và sự phát triển của các cuộc đối đầu, và cũng để biết cách ngăn chặn và giải quyết chúng.

    Việc lựa chọn phương pháp ngăn chặn và quản lý cuộc đối đầu được xác định bởi sự ổn định về cảm xúc của cá nhân, phương tiện sẵn có để bảo vệ lợi ích của một người khác, số lượng quyền hạn có sẵn và một số yếu tố khác.

    Ngoài ra, bạn cần hiểu rằng việc giải quyết xung đột phụ thuộc vào phương pháp giải quyết xung đột được chọn.

    Một ví dụ về xung đột và giải pháp của nó trong các mối quan hệ gia đình. Trong một gia đình của cặp vợ chồng mới cưới sống trên lãnh thổ của cha mẹ của một trong các bên, nảy sinh mâu thuẫn giữa hai vợ chồng vì những bất đồng về cuộc sống gia đình: người đàn ông tin rằng vợ / chồng nên làm tất cả việc nhà vì cô ta là phụ nữ. Ngược lại, người phối ngẫu tin rằng cả hai đối tác nên tham gia vào các hoạt động gia đình, tùy thuộc vào khối lượng công việc và thời gian rảnh rỗi. Nếu vợ chồng chọn một mô hình hành vi phá hoại trong một vụ va chạm, thì cha mẹ sống với họ cũng sẽ tham gia vào cuộc đối đầu, do đó mâu thuẫn có thể đạt đến tỷ lệ như vậy mà không thể giải quyết mà không mất.

    Một giải pháp mang tính xây dựng cho xung đột là có thể theo thuật toán phổ quát sau đây. Bước đầu tiên trong việc giải quyết một vấn đề cấp bách là thiết lập một bầu không khí tin cậy có lợi cho sự hợp tác. Nói cách khác, nếu người vợ bắt đầu cuộc trò chuyện bằng một tiếng khóc hoặc trách móc, không chắc họ có thể giải quyết một cách xây dựng mâu thuẫn. Giai đoạn tiếp theo là sự phối hợp trong nhận thức của đối thủ. Ở đây, một trong các bên tham chiến phải đồng ý với lập luận của bên kia, ít nhất là một phần. Nếu không, phía bên kia sẽ không muốn lắng nghe các đối số của đối thủ. Sự đồng ý, thậm chí một phần, sẽ làm giảm mong muốn của phía đối lập để chứng minh sự vô tội của chính họ và tăng mong muốn lắng nghe người đối thoại. Sau khi cả hai bên xung đột lắng nghe những tranh luận của nhau và đồng ý một phần với họ, chúng ta có thể tiến hành giai đoạn tiếp theo – điều phối lợi ích của đối thủ (tìm kiếm sự thỏa hiệp). Giai đoạn thứ tư là việc thông qua các quyết định nhằm giải quyết xung đột và tính đến lợi ích của cả hai bên tham gia. Trong trường hợp này, cần phải phân chia công việc gia đình hàng ngày giữa vợ hoặc chồng hoặc phân chia công việc gia đình theo ngày trong tuần. Bước cuối cùng là thực hiện các thỏa thuận đạt được.

    Lượt xem: 29 051

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Cần Thiết Của Tư Vấn Tâm Lý Học Đường
  • 6 Cách Tâm Lí Học Có Thể Giúp Cho Cuộc Sống Của Bạn Tốt Hơn
  • 13 Lợi Ích Của Tâm Lý Học (Và Tại Sao Nên Đến Nhà Tâm Lý Học) / Tâm Lý Học
  • Làm Thêm Khi Đi Du Học: Lợi Hay Hại?
  • Những Lợi Ích Khi Đi Du Học
  • Điệp Cấu Trúc Là Gì? Ví Dụ Về Điệp Cấu Trúc

    --- Bài mới hơn ---

  • Điệp Ngữ Là Gì? Tác Dụng Và Lấy Ví Dụ Điệp Ngữ
  • Điệp Từ Là Gì? Điệp Ngữ Là Gì? Tác Dụng Của Phép Điệp Từ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Thường Gặp
  • Thực Hành Các Phép Tu Từ: Phép Điệp Và Phép Đối Trang 124 Sgk Ngữ Văn 10, Phép Điệp Và Biện Pháp Tu Từ Lặp Lại Một Yếu Tố Diễn Đạt
  • Định Nghĩa Điệp Từ Là Gì? Điệp Ngữ Là Gì? Tác Dụng Của Phép Điệp Từ
  • 1 – Định nghĩa Điệp Cấu Trúc

    Điệp Cấu Trúc là gì? – Điệp cấu trúc là biện pháp lặp đi lặp lại một cấu trúc cú pháp, trong đó có láy đi láy lại một số từ nhất định và vừa triển khai được ý một cách hoàn chỉnh.

    2 – Tác dụng của phép Điệp Cấu Trúc

    • Giúp cho người nghe dễ nhớ, dễ hiểu

    • Bổ sung và phát triển cho ý hoàn chỉnh

    • Tạo cho toàn câu văn, câu thơ một vẻ đẹp hài hòa, cân đối.

    3 – Ví dụ về phép Điệp Cấu Trúc

    Ví dụ: điệp cấu trúc ” Tôi yêu người Việt Nam này

    Tôi yêu người Việt Nam này

    Cả trong câu hát ca dao

    Tôi yêu người Việt Nam này

    Cười vui để quên đớn đau

    Tôi yêu người Việt Nam này

    Mẹ ơi con mãi không quên

    Ngàn nụ hôn trong tim

    Dành tặng quê hương Việt Nam

    (Phương Uyên)

    4 – Các hình thức điệp khác

    4.1 – Điệp phụ âm đầu

    Đâylà biện pháp tu từ dùng sự trùng điệp âm hưởng bằng cách lặp lại cùng một phụ âm đầu nhằm mục đích tăng sức biểu hiện, tăng nhạc tính của câu thơ.

    Thông reo bờ suối rì rào

    Chim chiều chiu chít ai nào kêu ai

    4.2 – Điệp vần

    Điệp vần là biện pháp tu từ dùng sự trùng điệp về âm hưởng bằng cách lặp đi lặp lại những âm tiết có phần vần giống nhau, nhằm mục đích tăng sức biểu hiện, tăng nhạc tính của câu thơ.

    Lơ thơ tơ liễu buông mành

    Con oanh học nói trên cành ngẩn ngơ

    4.3 – Điệp thanh

    Đây là biện pháp tu từ dùng sự trùng điệp về âm hưởng bằng cách lặp đi lặp lại những thanh điệu cùng nhóm bằng hoặc nhóm trắc, nhằm mục đích tăng nhạc tính, tăng tính tạo hình và biểu cảm của câu thơ.

    Ví dụ: điệp thanh bằng

    Thuyền tôi trôi trên Sông Đà (Nguyễn Tuân)

    4.4 – Điệp từ

    Điệp từ là biện pháp lặp đi lặp lại những từ ngữ nào đó nhằm mục đích mở rộng, nhấn mạnh ý nghĩa hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người đọc.

    Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

    (Ca dao)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tái Cấu Trúc Vốn Doanh Nghiệp Trong Thị Trường Kinh Tế Hiện Nay
  • Cấu Trúc Vốn Của Doanh Nghiệp
  • Tổng Quan Về Cấu Trúc Vốn
  • Lời Giải Về Cấu Trúc Vốn Tối Ưu Cho Doanh Nghiệp
  • Một Số Lý Thuyết Về Cấu Trúc Vốn
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100