Top 2 # Xem Nhiều Nhất Vai Trò Của Lợi Ích Kinh Tế Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Vai Trò Của Hoạt Động Kinh Doanh Quốc Tế

Kết quả

Vai trò của hoạt động kinh doanh quốc tế:

Trước hết, kinh doanh quốc tế giúp cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế thỏa mãn nhu cầu và lợi ích của họ về trao đổi sản phẩm, về vốn đầu tư, về công nghệ tiên tiến.

Kinh doanh quốc tế giúp cho các quốc gia tham gia sâu rộng vào quá trình liên kết kinh tế, phân công lao động xã hội, hội nhập vào thị trường toàn cầu. Thị trường thế giới có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển các quốc gia. Hoạt động kinh doanh quốc tế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia chủ động và tích cực vào sự phân công lao động quốc tế và sự trao đổi mậu dịch quốc tế làm cho nền kinh tế quốc gia trở thành một hệ thống mở, tạo cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, biến nền kinh tế thế giới thành nơi cung cấp các yếu tố đầu vào và tiêu thụ các yếu tố đầu ra cho nền kinh tế quốc gia trong hệ thống kinh tế quốc tế.

Đồng thời, tham gia vào thị trường thế giới còn giúp cho các doanh nghiệp khai thác triệt để các lợi thế so sánh của mỗi quốc gia, đạt quy mô tối ưu cho mỗi ngành sản xuất, tạo điều kiện xây dựng các ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành, thúc đẩy việc khai thác các nhân tố tăng trưởng theo chiều sâu, trao đổi và ứng dụng nhanh chóng các công nghệ mới, thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, nâng cao tốc độ tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế quốc dân.

Hoạt động kinh doanh quốc tế được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như thông qua các lĩnh vực xuất khẩu hàng hoá, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh quốc tế tăng thu ngoại tệ để tăng nguồn vốn dự trữ, đẩy mạnh việc thu hút đầu tư trong nước; bằng hình thức hợp tác đầu tư, thu hút vốn đầu tư nước ngoài để đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế; thông qua các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ như du lịch, kiều hối để tăng thêm nguồn thu bằng ngoại tệ thông qua lượng khách du lịch vào thăm quan; thông qua các nguồn vốn vay từ các nước, các tổ chức tín dụng, ngân hàng trên thế giới để bổ sung nguồn vốn đầu tư trong nước trong khi nguồn vốn tích lũy từ nội bộ của chúng ta còn thấp; tăng thêm nguồn vốn bằng ngoại tệ bằng cách xuất khẩu lao động và chuyên gia cho các nước thiếu lao động, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, tạo thêm việc làm, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế.

Mở rộng các hoạt động kinh doanh quốc tế, tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học và chuyển giao công nghệ, giúp cho các nước có nền kinh tế kém phát triển có cơ hội cải tiến lại cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tạo cơ hội cho việc phân phối các nguồn lực trong nước và thu hút các nguồn lực bên ngoài vào việc phát triển các lĩnh vực, các ngành của nền kinh tế quốc dân một cách có hiệu quả, khắc phục tình trạng thiếu các nguồn lực cho sự phát triển đất nước như vốn, nhân lực có trình độ cao, công nghệ hiện đại, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước vươn ra thị trường thế giới. Thông qua hoạt động kinh doanh quốc tế, phân công lao động quốc tế giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài được đẩy mạnh, đảm bảo đầu vào đầu ra cho các doanh nghiệp trong nước một cách ổn định và phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế đất nước, tạo điều kiện cho việc hình thành những tập đoàn kinh tế mạnh, đủ sức cạnh tranh và hội nhập kinh tế thế giới và khu vực.

Nguồn: chúng tôi (Biên tập và hệ thống hóa)

Vai Trò Của Tín Dụng Ngân Hàng Trong Nền Kinh Tế

Trong những năm vừa qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đang chuyển sang cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Vì vậy ngân hàng là ngành kinh tế chủ chốt quan trọng, chi phối và có sự ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các ngành kinh tế khác. Nhận thức được vị trí và vai trò của mình, các Ngân hàng thương mại ở nước ta đang từng bước khẳng định sự lớn mạnh của mình trong mọi phương diện hoạt động, đặc biệt là hoạt động tín dụng nhằm phục vụ đắc lực cho sự phát triển của các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân.

Như vậy, ta thẩy trong xã hội luôn có một số người thừa vốn cần đầu tư và một số người thiếu vốn muốn đi vay. Song những người này khó có thể trực tiếp gặp nhau, hoặc có thể gặp nhau thì chi phí rất cao và không kịp thời. Hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại đã thoả mãn những lo lắng của những người có vốn và đáp ứng nhu cầu của người cần vốn, có nghĩa là các ngân hàng thương mại đứng ra làm trung gian nhận tiền gửi từ tất cả các thành phần kinh tế và cho vay lại các đơn vị, cá nhân trong nền kinh tế. Hay nói cách khác: “tín dụng ngân hàng là chiếc cầu nối để những người có vốn và những người cần vốn gặp nhau”

Như trên đã trình bày, thông qua hoạt động “đi vay để cho vay” tín dụng ngân hàng đã làm nhiệm vụ đưa vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu. Điều này được thể hiện ở việc tín dụng thu hút các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân để cho vay đầu tư phát triển kinh tế.

Bằng các hình thức huy động vốn ngày càng đa dạng và phong phú cúng với việc thoả mãn thích đáng nhu cầu lợi ích, nhu cầu tiền đột xuất của người gửi tiên fma các Ngân hàng thương mại đã thu hút được hầu hết các nguồn tiền nhàn rỗi dù là rất nhỏ từ trong dân chúng tập trung về tay mình và từ đó đáp ứng được nhu cầu về vốn ngày càng tăng của nền kinh tế, hay nói cách khác hoạt động tín dụng đã làm nhiệm vụ thông đòng để vốn chảy từ nơi thừa đến nơi thiếu thông qua việc thực hiện hoạt động đi vay và cho vay. Nhờ đó đã góp phần cung ứng và điều hoà vốn trong từng doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế, tạo cho quá trình sản xuất được tiến hành một cách trôi chảy đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cố định, vốn lưu động, bổ sung tăng cường củng cố tài sản cố định làm cho quá trình sản xuất được tuần hoàn, thúc đẩy sản xuất lưu thông, tăng tốc độ chu chuyển vốn tiền tệ trong xã hội, góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triền bền vững.

Vì vậy có thể nói tín dụng ngân hàng là công cụ mạnh mẽ thúc đẩy quá trình tập trung và điều hoà vốn trong nền kinh tế.

2.3) Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy, củng cố chế độ hạch toán kế toán.

Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở có hoàn trả và có lợi tức (gốc+lãi). Ngân hàng huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mọi thành phần kinh tế và cho vay khi họ tạm thời thiếu vốn. Các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng ngoài việc được cung ứng vốn một cách kịp thời đầy đủ còn được ngân hàng hỗ trợ trong quá trình sử dụng vốn thông qua những ý kiến tư vấn khi lập phương án sản xuất kinh doanh hoặc chọn đối tác ký kết hợp đồng…Mặt khác, trong khi sử dụng vốn vay, khách hàng có quan hệ ràng buộc với ngân hàng bởi trách nhiệm hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định. Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải cân nhắc làm thế nào để sử dụng vốn có hiệu quả nhất, giảm thiểu chi phí, tăng vòng quay của vốn đảm bảo kinh doanh có hiệu quả cho doanh nghiệp, đồng thời tăng hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng.Muốn vậy các doanh nghiệp phải tự vươn lên thông qua các hoạt động của mình mà một trong các hoạt động khá quan trọng là việc hạch toán kế toán nhằm giám sát mọi hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Như vậy thông qua hoạt động tín dụng mà cụ thể là cho vay, ngân hàng có thể kiểm soát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp làm cho người vay càng có ý thức hơn trong cơ chế quản lý tài chính, quản lý đồng vốn, qua đó tăng cường củng cố chế độ hạch toán kế toán thêm vững chắc.

Thông qua hoạt động tín dụng, khối lượng tiền trong lưu thông sẽ tăng lên khi thực hiện hoạt động cho vay và ngược lại sẽ giảm xuống khi thực hiện hoạt động thu nợ, do đó sẽ góp phần điều tiết khối lượng tiền trong toàn bộ nền kinh tế. Ngân hàng sử dụng công cụ lãi suất, hạn mức tín dụng để làm thay đổi khối lượng tiền vay, từ đó điều tiết được khối lượng tiền trong nền kinh tế và kiểm soát được lạm phát, bởi vì tín dụng ngân hàng khi điều tiết được khối lượng tiền tức là khống chế được khối lượng tiền cần thiết cho nhu cầu trao đổi và lưu thông hàng hoá, nhờ kiểm soát được giá cả. Hay nói cách khác ,việc đưa tiền vào lưu thông qua tín dụng ngân hàng là con đường hữu hiệu nhất bởi vì khối lượng tiền này đã được đảm bảo bằng một lượng giá trị vật tư hàng hoá và tránh được lạm phát tiền tệ.

Mặt khác, chúng ta cũng biết rằng Ngân hàng trung ương là cơ quan quản lý vĩ mô đối với các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, có nhiệm vụ kiểm tra, khảo sát mọi hoạt động của các tổ chức này nhằm đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động an toàn và có hiệu quả. Thông qua hoạt động tín dụng các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng trung ương có thể biết được phạm vi, phương hướng đầu tư, hiệu quả đầu tư vào cá ngành kinh tế từ đó có chính sách tiền tệ thích hợp. Nếu nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng, hiệu quả đầu tư vào cá ngành trong nền kinh tế cao thì Ngân hàng trung ương sẽ thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng tức là bơm thêm tiền vào lưu thông. Ngược lại, nếu nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái thì Ngân hàng trung ương sẽ thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt tức là rút bớt tiền từ lưu thông về. Như vậy bằng các công cụ như hạn mức tín dụng, lãi suất tín dụng Ngân hàng trung ương có thể kiểm soát, điều tiết lưu thông tiền tệ đảm bảo khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông nhằm ổn định giá trị đồng tiền, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển.

Mỗi một quốc gia muốn phát triển nền kinh tế của mình thì không thể chỉ dựa vào tiềm năng của đất nước mà còn phải mở rộng quan hệ kinh tế ra bên ngoài, tham gia vào nền kinh tế thế giới, bởi lẽ không có một nước nào lại có thể hội tụ đầy đủ các tiềm năng để phát triển kinh tế mọi mặt, mà các nước đều chỉ có lợi thế so sánh của mình, do đó nó thường phát sinh quan hệ vay mượn lẫn nhau mà chủ yếu là vốn đầu tư. Vì vậy, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau.

Tóm lại, tín dụng ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế đất nước.Tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa người có vốn và người cần vốn để giải quyết nhu cầu này thoả đáng trong mối quan hệ này, từ đó thúc đẩy tái sản xuất mở rộng tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển bền vững, thông qua tín dụng ngân hàng có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông, thực hiện yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ. Mặt khác, tín dụng ngân hàng còn thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường chế độ hạch toán kinh doanh, giúp các doanh nghiệp khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế trong hoạt động kinh doanh.

Kinh Tế Du Lịch Là Gì? Đặc Điểm Và Vai Trò Của Kinh Tế Du Lịch Việt Nam

Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, kinh tế du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế đất nước, góp phần vào tiến trình hội nhập quốc tế và thực hiện đường lối đối ngoại của các quốc gia.

1. Kinh tế du lịch là gì?

Kinh tế du lịch là một hệ thống phức hợp những quan hệ và hoạt động kinh tế của các chủ thể tham gia trong quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng những sản phẩm, dịch vụ du lịch, nhằm đem lại lợi ích kinh tế, xã hội cho các bên tham gia và tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

Trong quá trình hội nhập kinh tế, kinh tế du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế đất nước, góp phần vào tiến trình hội nhập quốc tế và thực hiện đường lối đối ngoại của các quốc gia.

Kinh tế du lịch nhằm khai thác tài nguyên có sẵn của thiên nhiên nhằm thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.

Ngành kinh tế du lịch gồm 2 loại:

Du lịch trong nước: là loại hình tổ chức và khai thác các địa điểm tham quan du lịch dành cho khách du lịch trong nước hoặc những khách du lịch tới tham quan tại quốc gia đó.

Du lịch quốc tế: là loại hình du lịch mà khách du lịch của quốc gia nội tại có nhu cầu và thực hiện tham quan di lịch tại quốc gia khác.

2. Đặc điểm của ngành kinh tế du lịch

Tính tổng hợp, liên ngành: ngành du lịch cũng như các ngành khác, đều có mỗi quan hệ liên kết chặt chẽ với các lĩnh vực khác như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, tài nguyên môi trường, thể thao văn hóa…

Tính xã hội hóa: tức là ngành kinh tế du lịch thu hút mọi thành phần kinh tế xã hội tham gia.

Tính xanh và sạch: Đây được đánh giá là ngành công nghiệp không khói, có xu hướng tích cực bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp.

Tính lợi ích và hiệu quả kinh tế cao: phải khẳng định rằng kinh tế du lịch đem lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế, góp phần tăng ngân sách và mức đô tăng trưởng GDP của mỗi quốc gia.

3. Vai trò của kinh tế du lịch đối với hội nhập quốc tế

Có thể nói kinh tế du lịch là chiếc chìa khóa thúc đẩy nền kinh tế phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa quốc gia tác động mạnh mẽ đến tổng sản phẩm quốc nội GDP; ngân sách nhà nước; tổng vốn đầu tư; công nghệ hiện đại; tổng kim ngạch xuất khẩu; nền văn hóa đa dạng.

Kinh tế du lịch góp phần thúc đẩy phân công lao động, hợp tác khu vực và quốc tế: Kinh tế du lịch là ngành sản xuất ra sản phẩm du lịch để cung ứng ra thị trường với sự kết hợp của một chuỗi các dịch vụ khác nhau, để có được sản phẩm chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu thị trường đòi hỏi phải có sự phân công lao động, chuyên môn hóa rất cao trong các công đoạn, phân khúc sản phẩm.

Kinh tế du lịch góp phần tăng cường giao lưu, hội nhập của quốc gia với khu vực và quốc tế: thông qua các hoạt động dịch vụ du lịch, đòi hỏi sự liên kết mở rộng, giao lưu kinh tế và văn hóa.

Kinh tế du lịch góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tham gia mở rộng thị trường nội địa và quốc tế: đây là kênh quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Thông qua hợp tác quốc tế và khu vực trong lĩnh vực du lịch, các quốc gia có thể tận dụng lợi thế để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

Việc phát triển kinh tế du lịch góp phần giới thiệu và quảng bá hình ảnh của quốc gia đối với nhiều nước khác trên thế giớ; có cơ hội được giao lưu, học hỏi kinh nghiệm và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến; có cơ hội liên kết mở rộng các tuyến du lịch và các loại hình du lịch mới.

Tuy nhiên để phát triển kinh tế du lịch cũng đối mặt với một số thách thức như làm tăng sự phụ thuộc về khách du lịch của các quốc gia vào thị trường nước ngoài hoặc tạo ra những thách thức trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc, bảo vệ tài nguyên và môi trường.

Vai Trò Của Thương Mại Quốc Tế Đối Với Sự Phát Triển Kinh Tế Thế Giới

Published on

Vai trò của thương mại quốc tế

1. CHƢƠNG I: LÝ THUYẾT CHUNG VỂ THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ1. Khái niệm, chức năng của hoạt động thƣơng mại quốc tế:1.1 Khái niệm: Thương mại quốc tế(TMQT) là một hình thức của quan hệ kinh tế quốc tếtrong đó diễn ra sự mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ hoặc các tài sản trí tuệgiữa các chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế.Điều kiện để thương mại quốc tế tồn tại và phát triển là:- Có sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hóa-tiền tệ, kèm theo đó là sự xuấthiện của tư bản thương nghiệp.- Có sự ra đời của nhà nước và sự phát triển của phân công lao động quốc tế. Ngoại thương đã xuất hiện từ thời cổ đại: dưới chế độ nhà nước chiếmhữu nô lệ và tiếp đó là chế độ nhà nước phong kiến. Thời đó, do kinh tế tự nhiêncòn chiếm vị trí thống trị, nên thương mại quốc tế mang tính chất ngẫu nhiên,phát triển với quy mô rất nhỏ, hẹp. Lưu thông hàng hóa quốc tế chỉ gồm mộtphần nhỏ nhiều sản phẩm sản xuất ra và chủ yếu là để phục vụ cho tiêu dùng cánhân của giai cấp thống trị đương thời. Đến thời đại tư bản chủ nghĩa, thươngmại quốc tế mới phát triển rộng rãi. Các cuộc cách mạng lớn diễn ra trongthương nghiệp ở thế kỷ XVI và XVII gắn liền với những phát kiến địa ký đãdẫn tới sự phát triển nhanh chóng của tư bản thương nhân. Tính tất yếu nội tạicủa phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là phải tái sản xuất tren một quy môngày càng lớn hơn để phát triển thu lợi nhuận. Điều đó, thúc đẩy thị trường thếgiới phải không ngừng mở rộng, thương mại quốc tế ngày càng phát triển. Ngàynay càng có nhiều nước ở nhiều trình độ phát triển kinh tế- xã hội khác nhauthuộc nhiều khu vực lãnh thổ khác nhau cùng tham gia vào mậu dịch quốc tế.Nhất là trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới như hiện nay,thì thươngmại quốc tế càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của một nước.1.2 Chức năng của hoạt động ngoại thương: Chức năng của một ngành kinh tế là một phạm trù khách quan, được hìnhthành trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội.Chức năng của thương mại quốc tế là lưu thông hàng hóa giữa trong nước vànước ngoài. 1

2. Tuy vậy, cần phân biệt chức năng của thương mại quốc tế với tư cách làmột khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, với tư cách là một lĩnh vực kinh tế. Là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, thương mại quốc tế có thểcó các chức năng sau:Thứ nhất, tạo vốn cho quá trình mở rộng đầu tư trong nước.Thứ hai, chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sảnphẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước và thích ứng chúngvới nhu cầu tiêu dùng và tích lũy.Thứ ba, góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trườngthuận lợi cho sản xuất, kinh doanh. Là một lĩnh vực kinh tế đảm nhận lưu thông hàng hóa giữa trong nước vàngoài nước, chức năng cơ bản của ngoại thương là: tổ chức chủ yếu quá trínhlưu thông hàng hóa với bên ngoài, thông qua mua bán để nối liền một cách hữucơ theo kế hoạch giữa thị trường trong và ngoài nước, thỏa mãn nhu cầu sảnxuất của xã hội về hàng hóa theo số lượng, chất lượng, mặt hàng, địa điểm vàthời gian phù hợp với chi phí thấp nhất. Để thực hiện được chức năng quan trọng trên, thương mại quốc tế cần cósự quản lý của nhà nước. Nhà nước quản lý hoạt động thương mại quốc tế theocơ chế thích hợp cho từng thời kỳ phát triển. Trong cơ chế quản lý kinh tê theomô hình kế hoạch hóa tập trung, quản lý Nhà nước về thương mại quốc tế hoàntoàn khác với quản lý TMQT trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhànước trong việc mua bán hàng hóa, dịch vụ.2. Các hình thức của thƣơng mại quốc tế:2.1 Thương mại quốc tế về hàng hóaThương mại quốc tế về hàng hóa là hình thức thương mại trong đó diễn ra việcmua bán trao đổi các sản phẩm, hàng hóa thể hiện dưới dạng vật chất hữu hình.Ví dụ: trao đổi hàng nông sản (gạo, cà phê, sữa..) nguyên liệu, nhiên liệu, thiếtbị máy móc… là những lĩnh vực quan trọng trong thương mại quốc tế về hànghóa. 2

5. Dùng lợi thế tuyệt đối chỉ giải thích được một phần rất nhỏ trong mậu dịch thế giới hiện nay. Có thể minh họa lợi thế tuyệt đối bằng một ví dụ như sau: chúng ta giảthuyết trường hợp của hai nước Hoa kỳ và Anh với việc 2 nước sản xuất 2 mặthàng là lúa mì và vải Sản phẩm Hoa Kỳ Anh Lúa mì (giạ/ngƣời/giờ) 6 1 Vải (m/ngƣời/giờ) 4 5Hoa Kỳ có lợi thế tuyệt đối so với Anh về sản xuất lúa mì.Anh có lợi thế tuyệt đối so với Hoa Kỳ về sản xuất vải3.2 Lợi thế tƣơng đối ( lợi thế so sánh): Phát triển lý thuyết lợi thế tuyệt đối của hoạt động thương mại quốc tế D.Ricardo đã nghiên cứu lợi thế này dưới góc độ chi phí so sánh để sản xuất ra sảnphẩm. Ví dụ, xét khả năng trao đổi sản phẩm giữa Việt Nam và Nga đối với haisản phẩm thép và quần áo.Bảng 1: Chi phí sản xuấtSản phẩm Chi phí sản xuất(ngày công theo lao động) Việt Nam NgaThép(1 đơn vị) 25 16Quần áo(1 đơn vị) 5 4Xét theo chi phí sản xuất thì Việt Nam sản xuất thép và quần áo đều có chi phícao hơn Nga. Lợi thế tuyệt đối chỉ ra rằng Việt Nam không có khả năng xuấtkhẩu sản phẩm nào sang Nga. Song nếu xét chi phí so sánh thì lại có cái nhìnkhác. 5

6. Bảng 2: Chi phí so sánh Sản phẩm Chi phí so sánh Việt Nam Nga Thép( 1 đơn vị) 5 4 Quần áo(1đơnv ị) 1/5 1/4 Theo chi phí so sánh thì thấy rằng chi phí sản xuất thép của Việt Nam caohơn Nga: để sản xuất một đơn vị thép ở Việt Nam cần 5 đơn vị quần áo trongkhi ở Nga chỉ cần 4 đơn vị. Nhưng ngược lại chi phí sản xuất quần áo ở ViệtNam lại thấp hơn ở Nga, để sản xuất ra một đơn vị quần áo ở Việt Nam cần 1/5đơn vị thép, trong khi ở Nga cần 1/4 đơn vị. Điều này chỉ ra rằng Việt Nam vàNga có thể trao đổi sản phẩm cho nhau. Nga xuất khẩu thép sang Việt Nam vàViệt Nam xuất khẩu quần áo sang Nga. Việc trao đồi này đem lại lợi ích cho cảhai nước. Như vậy, lợi thế so sánh của thương mại quốc tế là khả năng nâng caomức sống và thu nhập thực tế của một nước thông qua việc mua bán, trao đồihàng hóa với nước khác dựa trên cơ sở chi phí so sánh để sản xuất hàng hóa.3.3 Lợi thế nguồn lực của Hecksher- Ohlin D. Ricardo đã đặt nền móng ban đầu cho việc lý giải sự hình thành quanhệ thương mại giữa hai quốc gia, đó chính là sự khác nhau về giá cả sản phẩmtính theo chi phí so sánh. Tuy vậy, ông chưa phân tích sâu về nguyên nhân củasự khác nhau đó và chưa giải thích vì sao giữa các nước lại có chi phí so sánhkhác nhau. Để làm rõ điều này, hai nhà kinh tế người Thụy Điển là EliHeckscher và Bertil Ohlin đã phát triển lý thuyết lợi thế so sánh, được gọi là lýthuyết Heckscher – Ohlin (H-O). Lý thuyết H-O cho rằng chính sự khác nhau vềmức độ sử dụng yếu tố để sản xuất sản phẩm là những nhân tố quan trọng quyếtđịnh sự khác biệt về chi phí so sánh. 6

7. Xét lại ví dụ về quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nga, có thể giảithích rằng: Việt Nam là nước tương đối sẵn có về lao động, Việt Nam sẽ sảnxuất và xuất khẩu hàng dệt may là mặt hàng cần nhiều lao động. Còn Nga lànước tương đối sẵn có về vốn sẽ sản xuất và xuất khẩu thép, là mặt hàng cầnnhiều vốn. Lý thuyết H-O đã giải thích được sự có được lợi ich trong thươngmại quốc tế là do mỗi nước đều hướng đến chuyên môn hóa sản xuất vào cácngành sử dụng nhiều yếu tố sẵn có trong nước. Như vậy, có thể có lợi thế sosánh cho phép bất kỳ nước nào cũng có thể tăng thu nhập của mình thông quathương mại quốc tế, ngay cả khi một nước sản xuất mọi sản phẩm với chi phítuyệt đối thấp hơn một nước khác, bởi vì thị trường thế giới tạo ra cơ hôi để cóthể mua hàng hóa với giá tương đối rẻ so với giá đang được lưu hành trongnước nếu không có thương mại quốc tế. Nội dung này xuất phát từ sự khác nhauvề chi phí so sánh để sản xuất sản phẩm. 7

8. CHƢƠNG II: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN THƢƠNG MẠI QUỐC TẾVÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THẾ GIỚI (2001-2011)1. Tình hình phát triển thƣơng mại quốc tế:1.1Tình hình phát triển TM hàng hóa1.1.1 Kim ngạch XKGiai đoạn 1990 – 2008, với sự ra đời của tổ chức Thương Mại Quốc Tế WTO(1/1/1995) kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế của tổ chứctiền thân, GATT – Hiệp định chung về Thuế quan Thương mại, thế giới đãchứng kiến một giai đoạn phát triển mạnh mẽ của giao thương quốc tế, khốilượng hàng hóa được xuất khẩu ra thị trường thế giới liên tục tăng trong giaiđoạn này. Điều đó được thể hiện rất rõ qua bảng sau:(Nguồn: Ban thư ký WTO) 8

9. Khối lượng hàng hóa xuất khẩu của thế giới liên tục tăng nhanh, từ 100đơn vị năm 1990 lên gần gấp 3 lần là 280 đơn vị vào năm 2007. Tuy nhiên,cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 – 2009, bắt nguồn từ cú vỡ bongbóng nhà đất tại Mĩ, và lan ra các nền kinh tế lớn, nhỏ toàn cầu. Cuộc khủnghoảng đã làm sụp đổ toàn bộ hệ thống tiền tệ của các ngân hàng hàng đầu thếgiới và dẫn đến sự phá sản của hàng loạt tập đoàn kinh tế, làm ảnh hưởng rấtlớn đến thương mại quốc tế, thế giới đã có một bước tụt lùi đáng kể, sản lượngxuất khẩu hàng hóa của thế giới đã giảm xuống còn gần 250 năm 2009. Theonguồn từ ban thư ký WTO, năm 2009 GDP toàn cầu giảm khoảng 2,5% và tổngkim ngạch xuất khẩu hàng hóa của thế giới giảm mạnh khoảng 12% (Chart 1).(Nguồn: Ban thư ký WTO) Đến năm 2010, khi thế giới đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, thươngmại thế giới có xu thế tăng trưởng mạnh. Tổng hợp số liệu thống kê của 70 nềnkinh tế chiếm 90% thương mại toàn cầu cho thấy giá trị thương mại hàng hóa 9

10. toàn cầu trong quý II/2010 vừa qua đã tăng 25% so với quý I/2010, trong đóxuất khẩu tăng 26% và nhập khẩu tăng 25%. Giá trị thương mại hàng hóa tăngmạnh nhất là ở châu Á – khu vực kéo thế giới thoát khỏi khủng hoảng (37,5%)và khu vực Bắc Mỹ (28,5%). Thương mại toàn cầu năm 2010 tăng 13,8% sovới năm 2009. Sang năm 2011, một loạt các sự kiện và diễn biến xấu đã xảy ra gây cảntrở và thiệt hại không nhỏ cho thương mại Quốc tế. Các sự kiện có thể kể đếnnhư là khủng hoảng nợ công ở Châu Âu, một loạt các cuộc nổi dậy và chiếntranh tại Châu Phi cụ thể là Libya… đã làm giảm nguồn cung dầu ra thế giớikhoảng 8%. Sóng thần tại Nhật Bản, lũ lụt lớn ở Thái Lan … các thảm họa tựnhiên này đã tác động rất lớn đến chuỗi cưng ứng và sản xuất tại Nhật Bản vàTrung Quốc làm giảm khả năng cung ứng hàng hóa cho xuất khẩu Quốc tế. Tất cả các sự kiện trên đã làm cho tình hình thương mại Quốc tế xấu đikhá là nhiều, cụ thể tổng kim ngạch thương mại thế giới tăng trưởng chậm lạicòn 5%, một sự chậm lại rõ rệt, thấp hơn mức tăng trưởng bình quân giai đoạn1990 – 2007 là 5.4%, chậm hơn rất nhiều so với năm 2010 là 13,8%. Tổng giátrị kim ngạch thương mại hàng hóa thế giới năm 2011 đạt 18,2 ngàn tỷ USD,vượt qua đỉnh cao trước đây là 16,1 ngàn tỷ USD năm 2008. Tuy là vượt đỉnhxong phần lớn tăng trưởng là do giá cả hàng hóa thế giới tăng cao hơn trước chứkhông phải tăng về quy mô hay số lượng. Đã bước qua năm 2011 nhưng châu Âu vẫn chìm trong khủng hoảng nợ,Trung Quốc và Mỹ tăng trưởng chậm chạp, nước Nhật chưa hoàn toàn phục hồisau thảm họa động đất, sóng thần hồi đầu năm, lạm phát hoành hành ở khắp mọinơi. Triển vọng kinh tế toàn cầu 2012 sẽ là rất bếp bênh. Với những khó khănchung còn tồn tại, WTO dự báo thương mại quốc tế trong năm nay sẽ còn tăngtrưởng chậm hơn năm 2011 và có thể chỉ là 3,7% . Dù còn khó khăn xong vẫntăng trưởng, cả thế giới đang cùng lỗ lực khắc phục những khó khăn để đưa 10

11. kinh tế thế giới không lâm vào khủng hoảng mới, chúng ta cùng hy vọng vàomột tương lai tươi sáng của kinh tế thế giới và cả thương mại quốc tế trongnhững năm sắp tới.1.1.2 Cơ cấu sản phẩm XK Khối lượng các loại hàng hóa được xuất khẩu ra thị trường thế giới đượctổng hợp từ các bảng sau:(Nguồn: Ban thư ký WTO)Biểu đồ tỷ trọng các loại hàng qua các năm 11

13. (Nguồn: Ban thư ký WTO) Tổng giá trị xuất khẩu hàng năm liên tục tăng xong cơ cấu hàng hóa xuấtkhẩu của thế giới nhìn chung những năm qua biến động không nhiều, hàng hóasản xuất vẫn chiếm phần lớn trong tổng kim ngạch hàng xuất khẩu của thế giới(trên dưới 70%), tiếp đến là hàng nhiên liệu và khai thác mỏ (xấp xỉ 20%), hàngnông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch ( khoảng 10%).1.1.3 Kim ngạch xuất khẩu của các khu vực và 10 nước đứng đầu trong nhữngnước xuất khẩu Trong năm 2011, khu vực xuất khẩu lớn nhất trên toàn thế giới là châuÂu, chiếm 37% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn thế giới, đứng thứ 2 là khu vựcchâu Á với 31%, thứ ba là Bắc Mỹ chiếm 13%, tiếp đến là khu vực Trung Đông7%, Liên bang Nga và Nam Mỹ cùng chiếm 4%, cuối cùng là châu Phi 3%. 13

14. (Nguồn: Ban thư ký WTO) Điểm đáng lưu ý nhất là các nước khu vực châu Á bao gồm các nền kinhtế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ… trong những năm qua đã có sự tăngtrưởng xuất khẩu mạnh mẽ, dự báo trong tương lai gần khu vực này sẽ vươn lênđứng đầu danh sách và là khu xuất khẩu lớn của toàn thế giới. 14

15. (Nguồn: Ban thư ký WTO) Trong danh sách các nước đứng đầu kim ngạch xuất khẩu năm 2011 doWTO công bố thì 10 nước, khu vực kinh tế đứng đầu lần lượt là: các nước ngoàiEU, Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, LB Nga, Hồng Kông TQ, Canada,Singapore, Ả rập Saudi… Nổi bật nhất là Trung Quốc đã vươn lên đứng thứ 2vượt hai cường quốc là Mỹ và Nhật Bản. 15

17. 1.2.Tình hình xuất khẩu thương mại dịch vụ1.2.1 Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ Trong giai đoạn 1990 – 1998, thương mại dịch vụ của thế giới tăng6,4%/năm, cao hơn mức tăng trưởng 5,9% của thương mại hàng hóa (WTO,1999, trích bởi OECD, 2000: 25).Tuy nhiên, thương mại dịch vụ ngày nay vẫnchỉ chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch thương mại hàng hóa và dịch vụ(OECD, 2000: 24).Xu hướng gia tăng của thương mại dịch vụ có các đặc điểm sau: Một là sự gia tăng không đều ở các nền kinh tế. Thương mại dịch vụ chủyếu tập trung ở các nền kinh tế phát triển. Năm 2004, 20 nền kinh tế phát triểnhàng đầu của thế giới chiếm đến 75% tổng xuất khẩu dịch vụ của thế giới; trongđó 5 nền kinh tế hàng đầu (Mỹ, Anh, Nhật, Pháp, Đức) chiếm 39%; với Mỹđứng đầu, chiếm 15% tiếp theo là Anh chiếm 8,1% (FORFAS, 2006: 33).Thương mại dịch vụ dường như còn là lợi thế của các nền kinh tế phát triển xéttheo cán cân thương mại. Thí dụ, kể từ năm 1971, Mỹ luôn đạt thặng dư trongxuất khẩu dịch vụ. Năm 2005, thặng dư trong thương mại dịch vụ của Mỹ đã đạttới 56,3 tỷ USD (US service economy overview, web).1 Hai là thương mại của các ngành dịch vụ gia tăng không đều. Năm 2005,nếu xét theo ba ngành lớn thì ngành giao thông vận tải chỉ chiếm 24% tổng kimngạch xuất khẩu dịch vụ, du lịch và lữ hành chiếm 29% còn các ngành còn lại(trong đó có ngành dịch vụ kinh doanh) chiếm tới 48% (so với mức 35% năm1980). Trong các ngành dịch vụ thì xuất khẩu dịch vụ máy tính và dịch vụ thôngtin tăng nhanh nhất, bình quân 20%/năm, tiếp đó là xuất khẩu dịch vụ bảo hiểm(17%/năm) và dịch vụ tài chính (9,7%/năm). Xuất khẩu của các ngành giaothông vận tải, du lịch và lữ hành, dịch vụ chính phủ và xây dựng đều tăng ởdưới mức bình quân của xuất khẩu dịch vụ nói chung (FORFAS, 2006: 33). 17

18. Ba là phương thức “hiện diện thương mại” trong thương mại dịch vụngày càng phổ biến. Xu hướng này hoàn toàn phù hợp với xu hướng gia tăngFDI trong ngành dịch vụ. Theo ước tính của WTO, năm 2006 phương thức hiệndiện thương mại (phương thức 3) chiếm tới 50% hoạt động thương mại dịch vụ,vượt xa các phương thức thương mại dịch vụquốc tế khác (phương thức 1: cungcấp qua biên giới chiếm 35%, phương thức 2: tiêu dùng ở nước ngoài chiếm 10-15% và phương thức 4: hiện diện của thể nhân: 1 – 2%) (FORFAS, 2006: 27).Kế từ năm 1996, xuất khẩu dịch vụ của Mỹ theo phương thức 3 đã vượt quátoàn bộ xuất khẩu dịch vụ theo các phương thức 1, 2 và 4, và đạt mức chênhlệch 156,7 tỷ USD năm 2001. Còn nhập khẩu dịch vụ theo phương thức 3 củaMỹ vượt nhập khẩu dịch vụ theo các phương thức 1, 2, 4 kể từ năm 1989 và đạtmức chênh lệch 165,3 tỷ USD năm 2001 (USDOC, 2003: 59). Thương mại dịchvụ cũng chịu tác động của nhiều yếu tố như đầu tư vào ngành dịch vụ nói trên.Yếu tố cơ bản thúc đẩy thương mại dịch vụ là công nghệ thông tin đã tạo điềukiện cho nhiều ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ kinh doanh, có khả năng muabán được (FORFAS, 2006: 31). Mặc dù vậy, tự do hóa thương mại dịch vụ vẫncòn bị hạn chế do thương mại dịch vụ phức tạp hơn thương mại hàng hóa rấtnhiều nên khó thể có những biện pháp tự do hóa đồng loạt mà chỉ có các biệnpháp mở cửa theo ngành.1.2.2 Kim ngạch từng nhóm hàng:Bảng 3: xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ thương mại của thế giới, 2005-11 18

19. Tỷ $ và % thay đổi hàng nămNguồn: Ban thư ký về hàng hóa của WTO và Ban thư ký về các dịch vụ thương mại của UNCTAD Dịch vụ thương mại xuất khẩu tăng từ 11% trong năm 2011 lên 4,1 nghìntỷ USD. Dịch vụ vận tải ghi nhận sự tăng trưởng chậm nhất trong bất kỳ loạidịch vụ phụ nào (8%), tiếp theo là dịch vụ thương mại khác (11%) và du lịch(12%). Sự tăng trưởng chậm của dịch vụ vận tải có lẽ là không ngạc nhiên khixem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa các loại dịch vụ và thương mại hàng hoá, đãbị đình trệ trong nửa cuối năm 2011. Du lịch thế giới vẫn tăng trưởng bất chấp khủng hoảng. Lượng khách dulịch quốc tế năm 2011 ước đạt 980 triệu lượt khách, tăng gần 4,5% so với năm2010. Bất chấp những khó khăn của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũngnhư tình hình bất ổn chính trị ở nhiều khu vực trên thế giới, du lịch quốc tế vẫntiếp tục tăng trưởng trong năm 2011. Tổng Thư ký Tổ chức Du lịch thế giớithuộc Liên hợp quốc (UNWTO), ông Taleb Rifai, cho biết lượng khách du lịchquốc tế ước đạt 980 triệu lượt khách, tăng gần 4,5% so với năm 2010 và dự kiếntiếp tục tăng trưởng ở mức 4-5%, chạm mức kỷ lục 1 tỷ lượt khách trong năm2012. Tuy nhiên, trong khi lượng khách du lịch tới châu Âu không ngừng tăngthì du khách quốc tế lại bỏ qua những địa danh hút khách nổi tiếng ở TrungĐông và Bắc Phi do tình hình bất ổn tại khu vực, khiến tốc độ phục hồi từ năm2010 chững lại. Tăng trưởng du lịch của châu Á giảm khoảng 6%, giảm hơn 1/2so với 13% của năm ngoái, chủ yếu do những tác động của thảm họa động đất -sóng thần và sự cố hạt nhân ở Nhật Bản hồi tháng 3/2011. Nhìn vào dữ liệu chúng ta thấy các ngành dịch vụ khác tăng trưởng khánhiều trong năm 2011. Các ngành xuất khẩu dịch vụ khác bao gồm: y tế,internet, thương mại điện tử, tài chính – ngân hàng,…Các ngành này đóng vai 19

21. triển đó đã tác động sâu sắc tới bản chất, năng suất của thương mại dịch vụ. Kếtquả của chúng trong sự tăng trưởng nhanh chóng của dịch vụ hiện đại là kháchquan và sự tiến bộ. Vd như CNTT, kinh doanh chế biến, dịch vụ giáo dục, sảnxuất…Các dịch vụ thương mại gia tăng nhanh chóng tương tự như đối với hànghóa sản xuất. Những ngành xuất khẩu dịch vụ tinh vi cung cấp cho sự tăngtrưởng dựa trên sự mở rộng cơ hội cho sự sáng tạo, tạo việc làm công nghệ cao. Mỹ là quốc gia có tiềm lực kinh tế hàng đầu thế giới với hệ thống tàichính rất hùng mạnh. xuất khẩu dịch vụ chiếm khoảng 1/3 tổng kim ngạch xuấtkhẩu của Mỹ và tỷ lệ này đang tiếp tục tăng lên. Năm 2008, xuất khẩu dịch vụthương mại của Mỹ đạt hơn 500 tỷ USD. Trong đó, các dịch vụ kinh doanh,nghề nghiệp và kỹ thuật chiếm phần lớn nhất lên tới 113 tỷ USD, bao gồm cácdịch vụ như quản lý và tư vấn, nghiên cứu và phát triển, công nghệ thông tin…Các dịch vụ xuất khẩu khác của Mỹ phải kể tới bao gồm lữ hành và du lịch,dịch vụ tài chính, điện ảnh Hollywood…Tiền bản quyền cũng đóng góp một phần không nhỏ trong kim ngạch xuất khẩuchung của Mỹ. Chẳng hạn, một công ty ở Thụy Điển muốn sản xuất một loạithuốc do một công ty Mỹ nghiên cứu ra tại New York sẽ phải trả phí để đượccấp phép. Năm 2010, tiền thu về từ quyền sở hữu trí tuệ như vậy đóng góp104,5 tỷ USD vào kim ngạch xuất khẩu của Mỹ.2. Tác động của thƣơng mại quốc tế đối với sự phát triển:2.1. Tác động tích cực:2.1.1 Thương mại quốc tế là động lực để tăng trưởng kinh tế: GDP của một quốc gia được xác định theo phương pháp chi tiêu và luồngsản phẩm theo công thức: GDP= C + I+ G + (X-M) 21

23. chuyển sang nền kinh tế công nghiệp phát triển. Nội dung cụ thể của xu thế nàythể hiện ở tỷ trọng nông nghiệp có xu hướng ngày càng giảm đi trong khi đó tỷtrọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng trong tổng GDP, giai đoạn đầu tốcđộ tăng của công nghiệp sẽ cao hơn dịch vụ, nhưng giai đoạn sau,, khi nền kinhtế đã phát triển cao, thì dịch vụ sẽ tăng nhanh hơn. Trong sự vận động chung, ngoại thương với các hoạt động xuất nhậpkhẩu hàng hóa và dịch vụ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của nó tác độngđến toàn bộ quá trình tái sản xuất hàng hóa, từ sản xuất, lưu thông, phân phốiđến tiêu dùng. Đặc biệt đối với các ngành sản xuất vật chất cơ bản như côngnghiệp, nông nghiệp… ngoại thương đã tác động trực tiếp đến cả đầu vào vàđẩu ra của quá trình tái sản xuất, do đó đã góp phần thúc đẩy nhanh sự chuyểndịch cơ cấu kinh tế. Ngoại thương cũng tạo ra các ” mối liên hệ ngược”, ” mốiliên hệ gián tiếp”, giữa các ngành, tạo ra khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế năngđộng.2.1.3 Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế: Cán cân thanh toán quốc tế là bản quyết toán tổng hợp toàn bộ các mốiquan hệ kinh tế đối ngoại của một nước, bao gồm các luồng hàng hóa, dịch vụvà luồng vốn giữa các nước đó với các nước khác trong một thời kỳ nhất định.Như vậy, cán cân thanh toán quốc tế là tấm gương phản chiếu mọi hoạt độngkinh tế đối ngoại của một nước với các nước khác và do đó nó đã được cácnước có nền kinh tế mở sử dụng như một công cụ đắc lực để phân tích và quảnlý vĩ mô các hoạt động kinh tế đối ngoại. Cơ cấu cán cân thanht oán quốc tế bao gồm các bộ phận chủ yếu: cán cânngoại thương ( còn gọi là cán cân mậu dịch hay cán cân hữu hình),cán cân dịchvụ và cán cân chuyển tiền đơn phương không bồi hoàn( gọi chung là cán cânphi mậu dịch hay cán cân vô hình), cán cân nguồn vốn…trong đó ngoại thươnghữu hình vẫn là hoạt động quan trọng nhất, do vậy cán cân ngoại thương giữ vị 23

24. trí quan trọng nhất trong tất cả các bộ phận cấu thành nên cán cân thanh toánquốc tế. Đối với những nước đang phát triển có nền kinh tế mở quy mô nhỏ, thìviệc quan tâm trước hết đến cải thiện cán cân ngoại thương càng có ý nghĩaquyết định đến cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Vì thực tế cho thấy, do xuấtphát điểm trình độ kinh tế xã hội của các nước này thấp, nên hiệu quả thu đượctừ các hoạt động kinh tế đối ngoại khác thường khó đạt đến sự mong muốn ngaynhư hiệu quả của hoạt động thương mại quốc tế, là hoạt động kinh tế đối ngoạicó thể tận dụng triệt để ngay các nguồn lực( lợi thế so sánh) mà các nước nàysẵn có. Nếu hoạt động xuất nhập khẩu ổn định, cán cân thanh toán an toàn thì sẽgiúp ổn định kinh tế vĩ mô của một quốc gia, tạo môi trường kinh doanh thuậnlợi cho doanh nghiệp, tâm lý yên tâm làm ăn, sinh sống cho người dân.2.1.4 Góp phần giải quyết việc làm , nâng cao thu nhập và mức sống thực tếcho các tầng lớp dân cư: Có thể nói đây là tác dộng có ý nghĩa quan trọng nhất bởi mục tiêu cuốicùng của sự tăng trưởng là con người, hướng tới con người. Con người vừa làđộng lực vừa là mục tiêu của sự phát triển. Hoạt động ngoại thương thông qua cách giải quyết quan hệ xuất khẩu-nhập khẩu có tác động trực tiếp đến việc làm và do đó, đến thu nhập và mứcsống thực tế của người dân. Hiện nay, để phát triển kinh tế các nước đều cố gắng tận dụng mọi lợi thếmà nước mình có được. Đối với các nươc đang phát triển thường có dân sốđông, lao động dư thừa nhiều, nhất là lao động của nền sản xuất hàng hóa cònkém, vốn đầu tư cho phát triển thiếu. Vì thế, nên hướng sản xuất hàng hóa xuấtkhẩu vào những ngành sử dụng lợi thế của đất nước. Khi xuất khẩu tăng trưởngthường kéo theo sự gia tăng sản xuất trong nước. Cầu lao động tăng nhanh dẫn 24

25. tới giải quyết công ăn việc làm cho phần lớn lao động dư thừa. Người lao độngcó việc làm tức là có thu nhập, bởi vậy mức sống của họ được cải thiện đáng kể. Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu không chỉ đáp ứng cho sản xuất màcòn cho cả tiêu dùng. Hàng nội vì phải cạnh tranh với hàng ngoại nên khôngngừng nâng cao chất lượng và hạ giá bán. Người được lợi ở đây chính là ngườitiêu dùng ngày càng được sử dụng những hàng hóa đa chủng loại và chất lượngcao.2.2 Tác động tiêu cực2.2.1 Có thể tạo ra những bất bình đẳng giữa các nước Các quốc gia phát triển luôn đưa ra mở cửa thị trường, đẩy mạnh đầu tư,chuyển giao công nghệ, nhưng thực tế khi quyền lợi bị xâm hại họ sẵn sàng đập”cây gậy” chống bán phá giá, vi phạm sở hữu trí tuệ, vi phạm tiêu chuẩn kỹthuật một cách vô lý lên đầu bất cứ quốc gia nào mà họ cho là vi phạm (Điểnhình như vụ kiện chống bán phá giá cá basa của VN). Điều trớ trêu là những đốitượng trực tiếp chịu những “cú đánh” này lại là những người nông dân nghèo,những người vốn dĩ cuộc sống đã phải chịu quá nhiều khó khăn.3.2.2 Gây ô nhiễm môi trường Bên cạnh tác động tiêu cực về cạnh tranh bất bình đẳng, thương mại quốctế còn đem lại cho các quốc gia đang phát triển “nguồn tài nguyên dồi dào” -rác thải. Những thứ mà các quốc gia phát triển thải ra: rác thải công nghiệp, ytế, sinh hoạt… việc tái chế hay tiêu hủy trở nên đắt đỏ và ô nhiễm. Vì vậy, cóxu thế xuất khẩu những thứ này sang các quốc gia đang phát triển trong đó cóVN, biến những nơi này thành bãi rác, nơi tái chế và vùng ô nhiễm khổng lồ.Chúng ta cảm tưởng những chiếc ô tô, ti vi, hay các máy móc được bán sangVN với giá rẻ đó là một sự “cảm thông” của các quốc gia phát triển với nhữngnước nghèo. Sự thực là các quốc gia đang phát triển khó có thể nào chống lại 25

26. các luồng hàng hóa như vậy. Trong các hiệp định về tự do hóa thương mại, việcsử dụng hàng rào bảo hộ kinh tế sẽ gặp nhiều khó khăn, còn áp dụng hàng ràokỹ thuật các quốc gia đang phát triển lại không có lợi thế do trình độ công nghệthấp ở các quốc gia này. Nhiều lĩnh vực được các nhà đầu tư nước ngoài chuyển sang các nướcđang phát triển, đang dần hủy hoại môi trường ở những quốc gia này và tấtnhiên trong đó có VN. Với những hàng rào về môi trường nghiêm ngặt ở quốcgia mình, nhiều doanh nghiệp ở các nước phát triển khó có thể sản xuất, kinhdoanh với công nghệ hiện có, và họ nghĩ ra nơi đầu tư lý tưởng đó là các nướcđang phát triển – nơi mà đang chú trọng thu hút nguồn vốn đầu tư nên vấn đềmôi trường không kiểm soát chặt chẽ.Một cách khôn ngoan, họ – các nước phát triển cho rằng thật là tốt biết bao khimột nước đang phát triển vươn lên thành “cường quốc” trong ngành côngnghiệp nào đó. Thông qua đầu tư, hợp tác quốc tế, điều tuyệt vời này có thể trởthành sự thật. Cuối năm 2007, VN được xếp hạng 6 thế giới về đóng tàu thủy, đây quảthực là một kết quả đáng tự hào. Nhưng tại sao các quốc gia đóng tàu nổi tiếngthế giới trong lịch sử điển hình như Anh lại không tập trung phát triển ngànhnày nữa? Thật ra, chúng ta vẫn chỉ được coi như “làm thuê” khi tỷ lệ nội địa hóakhoảng 30% và đó hầu hết là những chi tiết, công đoạn có mức độ ô nhiễm môitrường rất lớn.2.2.3 Nền kinh tế non trẻ dễ bị chi phốiLuồng tiền đầu tư có từ nhiều nguồn trong đó có cả từ những tập đoàn tư bảnlớn mà vốn, công nghệ, trình độ quản lý đã đạt mức cao. Với những điều kiệnđó, khi các tập đoàn này vào, họ có thể sử dụng nhiều biện pháp thậm chí mang 26

27. tính “thanh toán”. Gần như các doanh nghiệp trong nước rất khó khăn trongviệc cạnh tranh, hoặc phải chấp nhận làm các công ty con cho những tập đoànnày. Một dẫn chứng kinh điển là trường hợp một tập đoàn nước ngọt hàng đầuthế giới đã chịu lỗ nhiều năm liền để có thể thâu tóm vốn sở hữu và chiếm lĩnhthị phần ở VN – đây là một bài học mà cho tới này vẫn còn nguyên tính thời sự.Chúng ta thử suy nghĩ, nếu thị trường trong nước chịu sự kiểm soát phần lớn từcác tập đoàn đầu tư nước ngoài, khi có một trục trặc xảy ra (ví dụ như: khủnghoảng, suy thoái, hay động cơ chính trị…), các tập đoàn này đồng loạt rút chân,một lượng lớn lao động thất nghiệp, các ngành sản xuất ngưng trệ, hàng hóakhông thể tự túc được, nền kinh tế sẽ càng rơi xuống đáy tiêu điều. Một khía cạnh không thể không nhắc tới về ảnh hưởng của thương mạiquốc tế là đầu tư tài chính. Với xu thế toàn cầu hóa, một nhà đầu tư không cầnphải cất công lặn lội đường xá xa xôi để đem nguồn tiền đi sinh lời. Họ có thểngồi tại New York, Paris, Tokyo hay London để chi phối hoạt động tài chính ởcách đó nửa vòng trái đất. Các luồng vốn tài chính đổ vào các quốc gia dướidạng đầu tư chứng khoán, bất động sản trong một thời điểm nó có thể đẩy cácthị trường này phát triển rất nhanh. Nhưng khi thấy đã “đút túi” được một khoảnlớn, các nhà đầu tư nước ngoài lại có động thái rút vốn khiến thị trường rơi vàotình trạng suy thoái, nhiều doanh nghiệp phá sản, đời sống nhiều người dân rơivào tình trạng khó khăn. Đây là bài học lớn rút ra từ cuộc khủng hoảng tài chínhlớn ở Đông Nam Á năm 1997. Dường như điều này vẫn liên tục lặp lại ở các thịtrường mới nổi khi các nhà đầu tư nước ngoài vẫn luôn ra sức kêu gọi mở thịtrường để rộng đường họ chi phối. Cuối năm 2006, đầu năm 2007, thị trườngchứng khoán VN thực sự sôi động khi giá cổ phiếu được đẩy lên cao hàng ngày,thu hút nhiều nhà đầu tư lên sàn. Từ những người am hiểu kinh tế, tài chính đếnngười không biết gì nhiều, trí thức, công nhân, sinh viên và cả những bác nôngdân bán đất để lên sàn, thậm chí họ mua mà còn không biết rõ mã cổ phiếumình mua của công ty nào. Tất nhiên, điều này làm cho thị trường phát triển quá 27

28. mức và quả bong bóng tài chính có thể nổ bất cứ lúc nào. Khi chính phủ thựchiện chính sách thắt chặt tiền tệ để đẩy lùi nguy cơ lạm phát, các nhà đầu tưnước ngoài rút tiền hàng loạt và thị trường chứng khoán đi xuống một cáchnhanh chóng. Nhiều nhà đầu tư từ chỗ tỉ phú, triệu phú lâm vào cảnh trắng taythậm chí trở thành con nợ.2.2.4 Nảy sinh các vấn đề xã hội: Việc thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư nước ngoài đã tạo ra sự cạnh tranhgiữa các địa phương trong việc xây dựng các khu công nghiệp. Quỹ đất để xâynhững khu công nghiệp này lẽ dĩ nhiên là lấy từ nông nghiệp. Khi không có quyhoạch hợp lý và tính toán dài hạn, hàng loạt người nông dân mất đất, trong taykhông có nghề nghiệp, nhiều người tuổi tác không phù hợp để chuyển đổi côngviệc, cuộc sống họ vốn đã khó khăn, bấp bênh nay càng khó khăn hơn. Nhiềungười cầm một đống tiền đền bù nhưng không biết phải làm gì, và những vấn đềxã hội cũng kéo theo đó gia tăng: thất nghiệp, cờ bạc, nghiện hút… Khái niệm phát triển bền vững được đề cập và phổ biến rộng rãi từ năm1987 từ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Tương lai chung của chúng ta)của Uỷ ban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED) nay là Uỷ banBrundtland. Báo cáo ghi rõ: Phát triển bền vững là “sự phát triển có thể đáp ứngđược những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năngđáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai…”, hay nói cách khác, phát triển bềnvững phải bảo đảm sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môitrường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế- xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội… phải bắt tay nhau thực hiện nhằmmục đích dung hoà ba lĩnh vực chính: kinh tế, xã hội, môi trường. 28

29. CHƢƠNG III: DỰ BÁO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ TRONG GIAI ĐOẠN TỚI (2012-2017) Bối cảnh nền kinh tế toàn cầu vẫn đang trong giai đoạn khó khăn khicuộc khủng hoàng tài chính-kinh tế 2008-2009 chưa kịp hồi phục, năm 2010 đãlại tiếp tục phải “chao đảo” trong cơn bão nợ công, và tình hình tài chính bất ổncủa các nước phương Tây. Sự chi tiêu thiếu kiểm soát của Hy Lạp đang khiếnhình thành nên một nút thắt cho nền kinh tế toàn cầu. Trước những biến động phức tạp về tình hình nợ công, và bất ổn kinh tếtrong khối EU chắc chắn tình hình thương mại quốc tế trong những năm sắp tớisẽ tăng trưởng chậm, và sau đây một vài những nguyên nhân, yếu tố chính dẫnđến sự suy giảm Thương mại quốc tế toàn cầu bắt nguồn từ Châu Âu, các nướcphương Tây và một số khu vực khác:1. Nợ công của Hy Lap Cuộc khủng hoảng nợ công của Hy Lạp đang có nguy cơ lan từ Hy Lạpsang các nền kinh tế lớn thứ ba và thứ tư châu Âu là Italy và Tây Ban Nha, vàthâm trí là toàn cầu. Việc nợ công tăng đang khiến niềm tin của người dân vàochính phủ Hy Lạp giảm mạnh.Có thể thấy niềm tin của người dân vào một quốcgia giảm là một nguy cơ đối với bất kỳ một quốc gia nào. Nguy cơ này được thểhiện thông qua “số liệu của Ngân hàng Trung ương Hy Lạp, riêng trong ngày14/5, người dân đã rút 700 triệu Euro, tương đương 898 triệu USD…”. Việc rúttiền này không phải chỉ là sự thể hiện lo ngại về mặt tài sản của người dân, màcòn là dấu hiệu đánh dấu xu hướng tháo chạy của các dòng vốn ra khỏi Hy Lạp. Tình hình nợ công của Hy Lạp đang ngày một trở nên trầm trọng, thậm trícó thể dẫn tới sự tan rã của khối EU. Nếu vấn nạn nợ công tại Hy Lạp khôngđược giải quyết, vì khi Hy Lạp tuyên bố phá sản, đó không phải là việc riêngcủa cá nhân Hy Lạp, mà là vấn nạn của toàn khối EU. Tuyên bố phá sản củaHy Lạp sẽ tạo tiền đề cho Tây Ban Nha/ Bồ Đào Nha/ Ý… đi theo con đường 29

31. Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu dịch vụ 2011 nguồn http://www.wto.org(http://www.wto.org/english/news_e/pres12_e/pr658_e.htm)Có thể thấy, nếu tình hình bất ổn kinh tế tại Châu Âu không được giải quyết,tình trạng thương mại quốc tế, cũng như tăng trưởng chung toàn cầu sẽ gặp vôvàn khó khăn và gần như sẽ chắc chắn rơi vào suy thoái cho dù sức mạnh kinhtế gia tăng của châu Á cũng khó có thể thay đổi được gì.2. Các thị trƣờng tăng trƣởng chậm lại Cũng bắt nguồn từ tình hình tại Châu Âu, Châu Á đang phải đối phó vớilạm phát trong khi vẫn bắt buộc phải giảm chi phí đi vay, nhằm thúc đẩy tăngtrưởng nội địa do xuất khẩu suy yếu, điều này có thể dẫn tới lạm phát của ChâuÁ rơi vào tình trạng mất kiểm soát. Tại Ấn Độ, ngân hàng trung ương đã tạmdừng tăng lãi suất. Chỉ số giá Trung Quốc đã vượt mục tiêu kìm hãm của chínhphủ có lúc CPI đã lên tới 6.5% vào năm 2011. Lạm phát tiếp tục làm xói mònsức mua của người tiêu dùng, đúng lúc các nền kinh tế châu Á đang cần nhu cầunội địa để thúc đẩy tăng trưởng do xuất khẩu suy yếu. Ngoài ra, Thái Lan,Indonesia và Malaysia, các ngân hàng trung ương cũng đã phải tiến hành cắt 31

32. giảm lãi suất hoặc giữ lãi suất không đổi để bảo vệ nền kinh tế khỏi ảnh hưởngdây chuyền từ cuộc khủng hoảng nợ châu Âu kéo dài. Tuy nhiên việc duy trì lãisuất thấp tại Châu Á chắc chắn là điều không thể, do sự mất kiểm soát rất dễxảy ra nếu khủng hoảng nợ tại Châu Âu kéo dài, việc thắt chặt tín dụng chỉ làsớm hay muộn. Đặc biệt là với Trung Quốc. Vì nợ công của châu Âu và chínhsách siết chặt tài chính ở Mỹ đang thu hẹp thị trường xuất khẩu của TrungQuốc. Ngoài ra, tại Trung Quốc bong bong bất động sản cũng là vấn nạn đángquan tâm, tình trạng sụt giảm giá bất động sản tại Trung Quốc đang ngày cànglan rông tính tới tháng 2/2012 giá đất tại 27 thành phố đã sụt giảm, đến tháng3/2012 số lượng đã tăng lên 37 thành phố. Lĩnh vực bất động sản chiếm 50%nguồn thu ngân sách các địa phương ở Trung Quốc. Giá đất sụt giảm 50% sẽkhiến các địa phương này gặp nhiều khó khăn trong việc hoàn nợ, điều này sẽkhiến nền kinh tế của Trung Quốc có khả năng rơi vào tình trạng bất ổn tínhdụng, và hiển nhiên nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới này sẽ kéo tăng trưởng thếgiới hay thương mại quốc tế đi xuống tiếp. Các nền kinh tế mới nổi, vốn được coi là động lực tăng trưởng toàn cầu,cũng “lao đao” vì vấn đề tài chính của phương Tây. Mỹ, Nhật Bản, Nga, Brazilvốn cũng có những vấn đề nội tại của mình. Đối với Mỹ, đầu tàu kinh tế thế giớinày đang đối mặt với đà phục hồi yếu ớt, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao, nợcông và thâm hụt ngân sách khổng lồ. tính đến ngày 6.4.2012 tỷ lệ thất nghiệpcủa Mỹ vẫn ở mức 8.2%. Ngoài ra, chính sách thắt lưng buộc bụng của Mỹ nếuxảy ra sẽ khiến tăng trưởng thế giới cộng hưởng với Trung Quốc có xu hướnggiảm. Nền kinh tế rất có khả năng đi vào một chu kỳ mới đó là giảm phát, cũngcó thể vì điều này hiện tại gói QE3 của Mỹ vẫn chưa được tung ra vì lo ngạigiảm phát. Tại Ấn Độ, cuộc khủng hoảng nợ của châu Âu, cùng với đà phục hồi yếucủa kinh tế Mỹ, đã khiến New Delhi hạ dự báo tăng trưởng kinh tế của nước này 32

33. xuống còn 7,5% trong tài khóa kết thúc vào cuối tháng 3/2012, từ mức dự đoán9% được đưa ra trước đó. Theo Bộ Tài chính Ấn Độ, môi trường kinh tế toàn cầu ngày một sa sútđã tác động xấu đến kinh tế Ấn Độ. Cùng với một số nhân tố yếu kém ở trongnước như lạm phát cao, tình hình thế giới rõ ràng đã làm suy yếu đà tăng trưởngcủa Ấn Độ trong nửa đầu tài khoá 2012. Thiên tai cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến một số nước trong khuvực châu Á trong năm 2011. Bên cạnh đó, bất ổn chính trị, đặc biệt là cuộc cáchmạng “Mùa xuân Arập”, bắt nguồn từ Tunisia và bùng phát mãnh liệt sang cácnước Arập lân cận hồi cuối tháng 1/2011, ảnh hưởng nghiêm trọng đến một loạtnền kinh tế. Ai Cập, Syria, Tunisia, Libya, Bahrain và Yemen chịu tác độngnặng nề, với hệ thống tiền tệ chịu áp lực lớn, giá cổ phiếu giảm mạnh và thấtnghiệp gia tăng, trong khi ngành du lịch thất thu lớn, khiến cho thu nhập giảm,nhu cầu tiêu dùng giảm và kéo theo thương mại cũng giảm theo. Làn sóng nổidậy trong khu vực đã góp phần làm trầm trọng thêm bức tranh kinh tế toàn cầuvốn ảm đạm.3. Xung đột vũ trang với Iran Một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với thị trường năm nay là sự bấtổn ở khu vực Trung Đông, nơi chiếm hơn 40% trữ lượng dầu của thế giới và lànơi có thể xảy ra đối đầu quân sự giữa Mỹ và các đồng minh trong khu vực vớiIran. Ở thời điểm hiện tại, căng thẳng giữa Iran và phương Tây đang ngày mộtleo thang. Iran đã nhiều lần tuyên bố sẽ đóng cửa eo biển chiến lược Hormuztrong khi Mỹ đã ký thành luật biện pháp trừng phạt với NHTW Iran nhằm làmviệc thanh toán tiền bán dầu khó khăn hơn. Châu Âu hôm 4/1 cũng đã có dự luậtcấm nhập khẩu dầu của Iran. 33

35. Biểu đồ giá dầu theo D1 nguồn MT4Đường stock D1 trong vùng quá bán, W1 đang có xu hưởng giảm ngắn hạn dođó sẽ tạo sideway trong ngắn hạn vùng giá 91/103. Ngoài ra Bollinger bandsđang co lại đó là dấu hiệu SW trong ngắn hạn…4. Các quy định mới Một trong các yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng tới thị trường nói chungvà hàng hóa nói riêng là các quy định của các chính phủ, các sở giao dịch. Kể từkhủng hoảng năm 2008, chính phủ Mỹ đã quan tâm đến việc điều chỉnh các luậtnhằm ngăn chặn một cuộc khủng hoảng tương tự, với sự ra đời của đạo luậtDodd-Frank “Đạo luật Cải cách Tài Chính Phố Wall và Bảo vệ người tiêu dùng(Dodd-Frank Wall Street and Consumer Protection Act), gọi tắt là Dodd-Frank.” 35

36. Ở Mỹ, nơi hàng hóa được giao dịch trên sàn nhiều nhất thế giới, cả Ủy banchứng khoán và hối đoái lẫn Ủy ban giao dịch hàng hóa tương lai (CFTC) đềuđang tích cực điều chỉnh các quy định thị trường cho chặt chẽ hơn. CFTC quyếtđịnh tăng yêu cầu ký quỹ, giới thiệu các biện pháp cưỡng chế khác chẳng hạnnhư các nhà đầu tư tham gia giao dịch phải đăng ký thành viên để tăng tínhminh bạch cho thị trường. Quyết định này được đưa ra sau vụ phá sản lịch sửcủa công ty môi giới MF Global để lại nhiều hậu quả khôn lường. Nếu các quy định quá nghiêm ngặt, thị trường hàng hóa sẽ đối mặt vớitính thanh khoản giảm và hàng hóa sẽ giảm giá. Đồng nghĩa với tình hình tăngtrưởng kinh tế cũng như thương mại quốc tế sẽ giảm trong những năm tới. 36