Top 3 # Xem Nhiều Nhất Tính Năng Suất Bình Quân Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Cách Tính Năng Suất Lao Động

Chỉ nêu năng suất lao động tính theo thời gian

Chỉ tiêu này được tính hằng thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một sản phẩm:

Ưu điểm hai phương pháp tính năng suất theo hiện vật và theo thời gian là cách tính don gian, phán ánh chính xác mức độ hiệu quả lao động, sát với thực tế, không phụ thuộc vào giá cá vật liệu và cơ cấu công tác. Do đó nó được dùng để đánh giá so sánh năng suất lao động của cá nhãn và tập thể thực hiện các loại công tác đồng nhất cũng như dế phân tích kinh tế – kỹ thuật của các phương án kỹ thuật.

Nhược diêm: hai phương pháp này không sử dụng được khi đánh giá, so sánh năng suất lao động cúa các cá nhân hoặc tập thể thực hiện các loại công tác khác nhau, mà chỉ phản ánh được nâng suất lao động của từng bộ phận, từng dây chuyền công tác riêng rẽ.

Chi tiêu năng suất lao động theo hiện vật và theo thời gian là cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống định mức lao động ở đơn vị cơ sở.

Cách tính năng suất lao động

Các chỉ tiêu năng suất lao động thường sử dụng để phân tích tình hình năng suất lao động trong các doanh nghiệp xây lắp, bao gồm:

Năng suất lao đóng bình quân của một công nhân viên xây lắp trong kỳ

Năng suất lao dộng bình quân của một công nhân xây lắp trong kỳ (N cnxl):

Năng suất lao động bình quân một ngày công xây lắp (N n);

Năng suất lao động bình quân một giờ công xây lắp (W G):

Trong dó: G – giá trị khối lượng công tác xây lắp đã thực hiện;

S CNVXL – số lượng công nhân viên xây lắp bình quân;

S CNXL – số công nhân xây lắp bình quân;

T n – số ngày công xây lắp của một công nhân trong kỳ;

T g – số giờ công xây lắp bình quân trong ngày của một công nhân trong kỳ. Mối liên hệ giữa các trị số năng suất lao động dược thể hiện bằng các phương trình sau:

– tỷ trọng công nhân xây lắp trong tổng số công nhân xây lắp:

Mối liên hệ giữa năng suất lao động ở năm thứ i (ký hiệu là Nj) với năng suất lao động ở năm đầu (ký hiệu là Nj), nhịp tăng năng suất trung bình (ký hiệu là K) được biểu hiện theo các công thức sau:

2.2.1. Phân tích tình hình năng suất lao động

Năng suất lao động của công nhân xây dựng phản ánh chất lượng của lực lượng lao động, đồng thời phản ánh kết quả của quá trình tổ chức quản lý sản xuất thi công của doanh nghiệp xây dựng. Trong thực tế phân tích tình hình năng suất lao động thường sử dụng chỉ tiêu năng suất biểu thị bằng giá trị vì nó cho phép đánh giá tình hình năng suất lao động một cách tổng hợp cho các loại công tác khác nhau, mặc dù theo cách biểu thị này năng suất lao động bị ảnh hưởng bởi yếu tố giá cả và cơ cấu công tác (như đã nói ở trên).

Phân tích tình hình năng suất lao động của doanh nghiệp bắt đầu từ đánh giá chung tình hình, sau đó xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới sự tăng (giảm) năng suất lao động, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp tác động tăng năng suất lao động. Khi đánh giá tình hình năng suất lao động cần đặc biệt chú ý đến chỉ tiêu (N cnxl), vì công nhân xây lắp là lực lượng trực tiếp tạo ra sản phẩm xây lắp, đồng thời kết hợp với cả hộ thống các chỉ tiêu năng suất lao động, có như vậy mới có thể chỉ ra được đầy đủ các dự trữ tiềm tàng tăng năng suất lao động.

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới sự biến động của chỉ tiêu năng suất lao động nhưng có ba nhân tố chủ yếu là:

– Cơ cấu lực lượng lao động của doanh nghiệp xây dựng (tỷ trọng lao động trực tiếp trong tổng số lao động lao động);

– Mức độ sử dụng lao động về mặt thời gian (sự đảm bảo ngày công, giờ công lao động);

– Mức năng suất lao động giờ công.

Mỗi nhân tố này lại chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác, ví dụ như: trình độ thành thạo nghề nghiệp của công nhân; ý thức chấp hành kỷ luật lao động của công nhân; sự đảm bảo mặt trận công tác; mức độ làm sẵn của các chi tiết, bán thành phẩm, cấu kiện; chất lượng vật liệu cung ứng; trình độ cơ giới hoá công tác xây lắp và sử dụng máy thi công; mức độ áp dụng các phương pháp thi công tiên tiến; trình độ tổ chức sản xuất và điều hành sản xuất thi công; các biện pháp khuyến khích và kích thích người lao động…

Tính Năng Suất Máy Trộn Bê Tông Như Thế Nào ?

 Thời điểm chọn mua máy trộn bê tông nhiều người hay quan tâm tới chất lượng, mẫu mã của như năng suất của từng sản phẩm. Những thông số kĩ thuật cũng như năng suất này đều được ghi rõ ràng trong sách hướng dẫn nhưng ít người biết tới cách tính cụ thể.

Vì thế Hạnh Cường sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách tính năng suất trong máy trộn bê tông thông qua bài viết sau.

Máy trộn bê tông theo chu kỳ

Năng suất được tính dựa theo công thức Ns = Vxl x nck x Ktg (mét khối một giờ)

Trong đó

Vxl là thể tích xuất liệu thùng trộn (đó là thể tích bê tông thành phẩm có thể trộn ra được trong một mẻ trộn), tính theo đơn vị mét khối và xác định dựa vào công thức:

Vxl = Vsx x Kxl = (0,3 – 0,4) Vhh x Kxl (mét khối)

Vsx là thể tích sản xuất thùng trộn (mét khối)

Vhh là thể tích hình học thùng trộn (mét khối)

Kxl là hệ số xuất liệu và bằng 0,65;0,7 với bê tông và 0,8 với vữa.

nck là số mẻ bê tông có thể sản xuất trong một giờ. Và nck = 3600/tck.

tck là thời gian của một mẻ trộn, xác định trên công thức

tck = thời gian trộn + thời gian đổ bê tông ra ngoài + thời gian để đổ phối liệu vào máy

Ktg là hệ số dùng thời gian của máy trộn bê tông trong 1 ca = 0,8 – 0,9

Máy trộn bê tông liên tục

Năng suất máy trộn bê tông liên tục có công thức Ns = 60n x S x t x K1 x K2 x Kxl (m3/h)

Trong đó

S – tiết diện dòng vật liệu vận chuyển bên trong thùng trộn (mét vuông) và tính toàn với công thức S = (0,28 +- 0,34)pd2/4.

t  - khoảng cách các cách trộn tính theo chiều dọc trục (mét)

d – đường kính quỹ đạo hình tròn cánh trộn (mét)

K1 với K2 – hệ số đã xét tới tác động dòng vật liệu bên trong thùng trộn do tính không liên tục của cánh trộn và ma sát giữa vật liệu với nhau và với chi tiết khác. K1 x K2 = 0,5

Đó là cách tính năng suất cơ bản của hai loại máy trộn bê tông theo chu kì và liên tục. Nếu còn băn khoăn hay thắc mắc gì hãy gọi ngay tới Hạnh Cường để được hỗ trợ.

Tags:

Phân Loại Và Các Chỉ Tiêu Tính Năng Suất Lao Động

Phân loại năng suất lao động

Xét theo phạm vi: năng suất lao độngchia làm hai loại năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội

Năng suất lao động cá nhân:

Là sức sản xuất của cá nhân người lao động, được đo bằng tỷ số số lượng sản phẩm hoàn thành với thời gian lao động để hoàn thành số sản phẩm đó.

Năng suất lao động cá nhân là thước đo tính hiệu quả lao động sống, thường được biểu hiện bằng đầu ra trên một giờ lao động. Năng suât lao động cá nhân có vai trò rất lớn trong quá trình sản xuất. Việc tăng hay giảm năng suất lao động cá nhân phần lớn quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, do đó hầu hết các doanh nghiệp đều chấp nhận trả công theo năng suất lao động cá nhân hay mức độ thực hiện của từng cá nhân từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu chuẩn sống của người lao động

Năng suất lao động cá nhân cùng năng suất lao động của một nhóm lao động trong doanh nghiệp là cơ sở quan trọng nhất, là chìa khoá cho năng suất lao động xã hội, góp phần tăng khả năng cạnh tranh cuả mỗi nước.

Có rất nhiều nhân tố tác động đến năng suất lao động cá nhân , tuy nhiên các nhân tố chủ yếu là chủ yếu là các yếu tố gắn với bản thân người lao động. ( kỹ năng, kỹ xảo, cường độlao động, thái độ lao động, tinh thần trách nhiệm…) , dụng cụ lao động. Sự thành thạo sáng tạo trong sản xuất của người lao động và mức độ hiện đại của công cụ lao động sẽ quyết định năng suất lao động cá nhân cao hay thấp

Ngoài ra các nhân tố gắn với quản lý con người và điều kiện lao động thì đêu ảnh hưởng đến năng suất lao động cá nhân. Vì thế muốn tăng năng suất lao động cá nhân thì phải quan tâm đến tất cả các yếu tố tác động đến nó.

Năng suất lao động xã hội

Là mức năng suất của tất cả các nguồn lực của một doanh nghiệp hay toàn xã hội. Năng suất lao động xã hội được đo bằng tỷ số giữa đầu ra của doanh nghiệp hoặc của xã hội với số lao động sống và lao động quá khứ bị hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

Năng suất lao động xã hội có sự tiêu hao của lao động sống và lao động quá khứ. Lao động sống là sức lực của con người bỏ ra ngay trong quá trình sản xuất, lao động quá khứ là sản phẩm của lao động sống đã được vật hoá trong các giai đoạn sản xuất trước kia ( biểu hiện ở máy móc, nguyên vật liệu)

Như vậy, khi nói đến hao phí lao động sống là nói đến năng suất lao động cá nhân, còn hao phí lao động sống và lao động vật hoá là năng suất lao động xã hội

Nếu năng suất lao động cá nhân tăng mà năng suất lao động xã hội không tăng hoặc giảm thì đây là mối quan hệ không mong muốn vì lợi ích giữa doanh nghiệp và người lao động không thống nhất . Trường hợp này xảy ra vì khi cá nhân ngươi lao động vì muốn tăng năng suất lao động nên bỏ qua quy trình công nghệ, lãng phí nguyên vật liệu, sử dụng máy móc không hợp lý, coi nhẹ chất lượng sản phẩm. Do đó muốn quan hệ năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội cùng chiều thì quan hệ giữa lao động sống và lao động quá khứ phải thường xuyên có sự thay đổi. Lao động sống giảm nhiều hơn lao động quá khứ tăng lên. Muốn như vậy phải thường xuyên nâng cao trách nhiệm đối với doanh nghiệp đối với người lao động, cần phải có biện pháp khuyến khích và kỹ luật nghiêm ngặt, phải gắn lợi ích của người lao động với lợi ích của doanh nghiệp để người lao động gắn bó với doanh nghiệp hơn nữa ,và tuân thủ các kỷ luật trong lao động

Các chỉ tiêu tính năng suất lao động

Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng hiện vật1Dựa theo bài giảng của chúng tôi Trần Xuân Cầu

Chỉ tiêu này dùng sản lượng bằng hiện vật của từng loại sản phẩm để biểu thị năng suất lao động của một công nhân.

Công thức :

Trong đó : W : Mức NSLĐ của một công nhân

Q : Tổng sản lượng tính bằng hiện vật

T : Tổng số công nhân

Sản lượng hiện vật tức là đo khối lượng hàng hoá bằng đơn vị vốn có của nó. Ví dụ như quạt đo bằng chiếc ; xi măng đo bằng tấn, kg, bao … tuỳ theo từng loại sản phẩm.

– Ưu điểm : Chỉ tiểu này biểu hiện mức năng suất lao động một cách cụ thể,chính xác, không chịu ảnh hưởng của giá cả- có thể so sánh mức năng suất lao động các doanh nghiệp hoặc các nước khác nhau theo một loại sản phẩm được sản xuất ra

Ví dụ : Công nhân A quét vôi 5h được 22m 2 . Công nhân B quét vôi 6h được 26m 2 . Vậy năng suất lao động của công nhân A là 4,4 m 2/1h ; năng suất lao động của công nhân B là 4,33m 2/ 1h. Có thể thấy ngay năng suất lao động của công nhân A cao hơn năng suất lao động của công nhân B.

– Nhược điểm : Chỉ dùng để tính cho một loại sản phẩm nhất định nào đó, không thể tính chung cho tất cả nhiều loại sản phẩm . Trong thực tế hiện nay ít có những doanh nghiệp chỉ sản xuất một loại sản phẩm có một quy cách, mà các doanh nghiệp thường sản xuất nhiều loại sản phẩm

Q : thành phẩm nên chỉ tính được thành phẩm, không tính được chế phẩm, sản phẩm dở dang đang trong quá trình sản xuất nên không phản ánh đầy đủ sản lượng của công nhân

– Phạm vi áp dụng :

+ Phạm vi áp dụng hạn hẹp chỉ áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm đồng nhất ( ngành than, dệt ,may, dâud khí, nông nghiệp…)

+ Trong doanh nghiệp thì chỉ áp dụng cho một bộ phận

– Khắc phục nhược điểm : sử dụng chỉ tiêu hiện vật – quy ước, quy đổi tức là quy đổi tất cả các sản phẩm tương đối đồng nhất về một loại sản phẩm được chọn làm sản phẩm quy ước. ví dụ : Các loại máy kéo có mã lực khác nhau thì có thể quy đổi về cùng mã lực

Tổng sản phẩm đã quy đổi là 220 loại 30 ML

Chỉ tiêu hiện vật quy đổi chỉ khắc phục được một phần nhược điểm

Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng giá trị2Dựa theo bài giảng của chúng tôi Trần Xuân Cầu

Chỉ tiêu này quy tất cả sản lượng về tiền của tất cả các loại sản phẩm thuộc doanh nghiệp hoặc ngành sản xuất ra, để biểu thị mức năng suất lao động

Công thức:

W: Mức năng suất lao động

– Trong phạm vi cả c nước

Q: tính bằng GDP đơn vị tiền tệ là VND

T: Tổng số công số lao động làm việc trong nền kinh tế quốc dân

– Trong phạm vi doanh nghiệp

Q : là giá trị tổng sản lượng, giá trị gia tăng hay doanh thu

+ Giá trị tổng sản lượng là giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất ra được bao gồm cả chi phí và lợi nhuận

+ Giá trị gia tăng: là giá trị mới sáng tạo ra

+ Doanh thu là giá trị sau khi bán sản phẩm

T: người lao động trong doanh nghiệp, ngày, giờ, phút, ngày- người, giờ người.

Ưu điểm : Chỉ tiêu này có thể dùng nó tính cho các loại sản phẩm khác nhau kể cả sản phẩm dở dang.Khắc phục được nhược điểm của chỉ tiêu NSLĐ tính bằng hiện vật

Nhược điểm :

+ Không khuyến khích tiết kiệm vật tư, và dùng vật tư rẻ. Nơi nào dùng nhiều vật tư hoặc vật tư đắt tiền sẽ đạt mức năng suất lao động cao hơn

+ Chịu ảnh hưởng của của cách tính tổng sản lượng theo phương pháp công xuởng. Nếu lượng sản phẩm hiệp tác với ngoài nhiều, cơ cấu sản phẩm thay đổi sẽ làm sai lệch mức năng suất lao động của bản thân doanh nghiệp

+ Chỉ dùng trong trường hợp cấu thành sản phẩm sản xuất không thay đổi hoặc ít thay đổi vì cấu thành sản phẩm thay đổi sẽ làm sai lệch mức và tôc độ tăng năng suất lao động. Khi thay đổi từ sản phẩm hao phí sức lao động ít mà giá trị cao sang sản xuất sản phẩm hao phí sức lao độngcao mà giá trị thấp thì năng suất lao động giảm và ngược lại năng suất lao động tăng.

– Phạm vi áp dụng: chỉ tiêu này có phạn vi sử dụng rộng rãi, từ các doanh nghiệp đến ngành và nền kinh tế quốc dân. Có thể dùng để so sánh mức năng suất lao động giữa các doanh nghiệp sản xuất các ngành với nhau

– Khắc phục :

+ Để khăc phục sự sai lệch do sự biến động của giá cả mang lại thì ta dùng giá cố định . Có thể dùng giá thời kỳ trước hoặc giá hiện hành để tính năng suất lao động.

+ Để khắc phục trường hợp có sự thay đổi kết cấu các mặt hàng thì ta dùng hệ số lao động để loại bỏ các yếu tố khách quan.

K ld : Hệ số lao động

h 1 : hao phí lao động sau khi thay đổi kết cấu để tạo để tạo ra 1000đ

h 0 : hao phí sức lao động trước khi thay đổi kết cấu để tạo ra 1000đ

W th : Năng suất lao động thực tức là năng suất lao động sau khi đã loại bỏ tác động khách quan

W hh : Năng suất lao động hiện hành, năng suất lao động chưa loại bỏ tác động khách quan.

Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng thời gian lao động3Dựa theo bài giảng của chúng tôi Trần Xuân Cầu

Chỉ tiêu này dùng thời gian hao phí cần thiết để sản xuất ra ra một đơn vị sản phẩm để biểu hiện năng suất lao động.

Công thức :

Trong đó:

t : lượng lao động hao phí của sản phẩm ( tính bằng đơn vị thời gian )

T : thời gian lao động đã hao phí

Q: Số lượng sản phẩm theo hiện vật

Lượng lao động này tính được bằng cách tổng hợp chi phí thời gian lao động của các bước công việc, các chi tiết sản phẩm (đơn vị tính bằng giờ, phút). Và được chia thành :

+ Lượng lao động công nghệ :Lcn bao gồm chi phí thời gian của công nhân chính,hoàn thành các quá trình công nghệ chủ yếu

+ Lượng lao động chung : (Lch) chiphí thời gian của công nhân hoàn thành quá trình công nghệ cũng như phục vụ quá trình công nghệ. Công thức tính

L = Lcn + Lpvq ( Lpvq là lượng lao động phục vụ quá trình công nghệ)

+ Lượng lao động sản xuất : (Lsx) chi phí thưòi gian lao động của công nhân chính và công nhân phụ trong toàn doanh nghiệp.công thức tính:

Lsx = Lcn + Lpvq + Lpvs. ( Lpvs là lượng lao động phục vụ sản xuất)

+ Lượng lao động đầy đủ: ( Lđđ) bao gồm hao phí lao động trong việc chế tạo sản phẩm của các loại công nhân viên sản xuất công nghiệp trong doanh nghiệp

Ưu điểm : + Phản ánh được cụ thể mức tiết kiệm về thời gian lao động để sản xuất ra một sản phẩm.

Nhược điểm : tính toán khá phức tạp , không dùng để tính tổng hợp được NSLĐ bình quân của một ngành hay một doannh nghiệp có nhiều loại sản phẩm khác nhau

Ngoài ba chỉ tiêu này dùng để tính năng suất lao động còn một số chỉ tiêu khác đang được áp dụng trong phạm vi hẹp,hoặc đang trong quá trình nghiên cứu và đưa vào ứng dụng như: chỉ tiêu NSLĐ tính theo sản phẩm thuần tuý, tính theo hàng hoá thực hiện…

Nano Và Năng Suất Cây Ngô

Những kết quả sử dụng các dạng vi sinh chuyên biệt, có hoạt tính cao bổ sung vào cả phân hữu cơ và vô cơ hay các loại trung, vi lượng được sản xuất thành dạng Nano, ứng dụng trong sản xuất đã cho những kết quả rất đáng khích lệ.

Trong bài này tác giả trình bày tóm lược những kết quả việc áp dụng Nano để xử lý trên cây ngô làm thức ăn gia súc và ngô lấy hạt dùng để ăn tươi để bạn đọc tham khảo.

Ruộng ngô đông bón Nano

Báo cáo này trình bày 2 dạng xử lý:

1/Dùng Nano xử lý hạt trước khi gieo. Đây là khảo nghiệm trình diễn, thực hiện trên diện tích rộng, không nhắc lại, bao gồm 2 giống ngô do Cty TNHH Sinh Thái Xanh phối hợp với Bộ môn Khuyến nông, Viện Nghiên cứu Ngô thực hiện trong vụ thu đông 2015, tại Đan Phượng (Hà Nội), gieo ngày 28/9/2015. Có 2 giống ngô tham gia trình diễn:

Giống ngô lai VS71, trình diễn trên diện tích 5.000m2 bao gồm 3.000m2 có xử lý hạt bằng dung dịch Nano, liều pha 5ml/kg hạt giống ngâm trong 30 phút và lô 2.000m2 làm đối chứng.

Giống ngô thụ phấn tự do cũng thực hiện quy cách như giống VS71. Tất cả các biện pháp làm đất, phân bón, mật độ trồng và chăm sóc đều giống nhau, chỉ khác nhau là có xử lý Nano và không xử lý Nano. Mật độ trồng theo khoảng cách 60 x 25cm, tương đương 6,7 vạn cây/ha. Lượng phân sử dụng gồm 2.000kg phân vi sinh và phân khoáng được bón 350kg ure + 450kg super lân+ 140kg KCl/ha, tương đương 161kg N + 74kg P205 + 84kg K20/ha.

Kết quả theo dõi đo đếm tính toán được tóm tắt như sau: (a) Về đặc điểm sinh trưởng thì cả 2 giống ngô, ở công thức xử lý Nano đều có tỷ lệ nảy mầm, chiều cao cây, chiều ao đóng bắp, đường kính gốc và độ đồng đều của quần thể cao hơn lô đối chứng rất rõ.

(b) Về năng suất: Với giống bắp thụ phấn tự do làm thức ăn gia súc, sau 75 ngày thu hoạch cho năng suất sinh khối là 62,4 tạ/ha, còn lô đối chứng chỉ đạt 41,15 tạ/ha. Có xử lý Nano năng suất sinh khối tăng hơn đối chứng là 21,25 tạ/ha,hay 51,6%

Trường hợp giống ngô lai VS71, lô mô hình có xử lý Nano có chiều dài bắp, đường kính bắp, số hàng bắp, số hạt trên hàng và trọng lượng 100 hạt đều cao hơn lô đối chứng rất rõ. Năng suất hạt ở lô xử lý Nano đạt 96,06 tạ, còn lô đối chứng chỉ đạt 84,70 tạ/ha, kém lô mô hình 11,36 tạ/ha hay lô mô hình có năng suất cao hơn đối chứng 13,4%

2/ Trường hợp phối trộn Nano với phân khoáng để bón: Đây là thí nghiệm chính quy, ô có diện tích 20m2, nhắc lại 3 lần và Nano MIX được phối trộn vào phân NPK Đầu Trâu theo tỷ lệ ‰, do Công ty Bình Điền Ninh Bình phối hợp với Viện Nông hóa thổ nhưỡng, thực hiện trên vùng đất xám bạc màu Bắc Ninh.

Thí nghiệm thực hiện vào vụ thu đông năm 2016, gieo ngô bầu ngày 6/8/2016, trồng ra ruộng ngày 11/8/2016. Đối chứng sử dụng 2 loại phân Đầu Trâu NPK 16-10-6 và 15-5-15. Kết quả thu hoạch, đo đếm tính toán cho thấy: Công thức đối chứng cho năng suất thực thu 113,8 tạ tươi/ha. Còn công thức NPK kết hợp Nano cho năng suất 136,7 tạ tươi/ha, cao hơn đối chứng 22,9 tạ/ha, tăng 20,1% so với đối chứng. Tính hiệu quả kinh tế cũng cho thấy có bổ sung 1 lượng Nano rất ít vào phân NPK để bón cho ngô mang lại tiền lời cao hơn đối chứng là 9.136.000 đồng/ha/vụ, với giá ngô tươi là 4.000đ/kg.

Nhận xét rằng trong trường hợp đất bạc màu, phân có trộn Nano nếu giảm lượng phân đa lượng xuống 20 – 30% thì chưa thấy có hiệu quả. Nghĩa là cây ngô cần nhiều phân hơn, và mức bón trong thí nghiệm là phù hợp, do đó nếu giảm lượng phân đa lượng xuống thì một lượng Nano nhỏ chưa có khả năng bù đắp lại số lượng phân khoáng bị giảm.

Do đó, với kết quả này, trên đất xám chỉ nên phối trộng Nano với phân khoáng để bón thì có thể làm tăng hiệu lực nông học và cả hiệu quả kinh tế của cây ngô rất rõ. Giá trị thặng dư 9 triệu đồng/ha ngang với tiền lời thu được 1 vụ lúa được mùa và được giá. Do vậy số tiền lợi nhuận này rất có ý nghĩa.

GS MAI VĂN QUYỀN