Thành Phần Trong Khói Thuốc Lá

--- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Thực Vật Của Cây Lúa, Nông Việt Phát
  • Các Loại Van 1 Chiều
  • Lá Tre Và Những Công Dụng Chữa Bệnh Rất Ít Người Biết Đến
  • Cây Tre Có Đặc Điểm Gì? Công Dụng Cây Tre Trong Đời Sống
  • Đặc Điểm, Phân Loại Và Kỹ Thuật Trồng Tre
  • THÀNH PHẦN TRONG KHÓI THUỐC LÁ

    Trong khói thuốc lá chứa hơn 7000 chất. Trong đó có hàng trăm loại có hại cho sức khỏe, 70 chất gây ung thư, bao gồm chất gay nghiện và các chất gây độc, chia ra làm 4 nhóm chính:

        1.  Nicotine: Nicotine là một chất không màu, chuyển thành màu nâu khi cháy và có mùi khi tiếp xúc với không khí. Nicotine được hấp thụ qua da, miệng và niêm mạc mũi hoặc hít vào phổi. Người hút thuốc trung bình đưa vào cơ thể 1 đến 2 mg nicotine mỗi điếu thuốc hút. Hút thuốc lá đưa nicotine một cách nhanh chóng đến não, trong vòng 10  giây sau khi hít vào. Tác dụng gây nghiện của nicotine một cách nhanh chóng đến não, trong vòng 10 giây sau khi hít vào. Tác dụng gây nghiện của nicotine chủ yếu là trên hệ thần kinh trung ương với sự có mặt của các thụ thể nicotine trên các tế bào thần kinh tại “trung tâm thưởng” ở hệ viền não bộ, các hóa chất trung gian dẫn truyền thần kinh bao gồm dopamin, serotonine, noradrenaline được phóng thích. Chúng gây ra nhiều tác động tâm thần kinh như là cảm giác sảng khoái, tâm trạng vui vẻ, tăng chú ý, tăng hoạt động nhận thức và trí nhớ ngắn hạn.

    Não bộ nhanh chóng nhận ra rằng có thể dùng thuốc lá để kích thích bài tiết dopamin và như vậy khởi động quá trình hút thuốc lá kéo dài nhiều năm tháng. Hiệu ứng tâm thần kinh đó”.

    1. Monoxit carbon (khí CO):

    Khí CO có nồng độ cao trong khói thuốc lá và sẽ được hấp thụ vào máu, gắn với hemoglobine với ái lực mạnh hơn 210 lần oxy. Khí CO đi nhanh vào máu và chiếm chỗ của oxy trên hồng cầu. Ái lực của hemoglobine hồng cầu với CO mạnh gấp 210 lần so với O2 và như thế sau hút thuốc lá, một lượng hồng cầu trong máu tạm thời mất chức năng vận chuyển O2 vì đã gắn kết với CO.  Hậu quả là cơ thể không đủ oxy để sử dụng

    1. Các phân tử nhỏ trong khói thuốc lá:

    Khói thuốc lá chứa nhiều chất kích thích dạng khí hoặc dạng hạt nhỏ. Các chất kích thích này gây nên các thay đổi cấu trúc của niêm mạc phế quản dẫn đến tăng sinh các tuyến phế quản, các tế bào tiết nhầy và làm mất các tế bào có lông chuyển. Các thay đổi này làm tăng tiết nhày và giảm hiệu quả thanh lọc của thảm nhày-lông chuyển. Phần lớn các thay đổi này có thể hồi phục được khi ngừng hút thuốc.

    4. Các chất gây ung thư:

    Trong khói thuốc lá có khoảng 70 chất có tính chất gây ung thư, ví dụ như hợp chất thơm có vòng đóng, Benzopyrene hay các Nitrosamine. Các hoá chất này tác động lên tế bào bề mặt của đường hô hấp gây nên tình trạng viêm mạn tính, phá huỷ tổ chức, biến đổi tế bào dẫn đến dị sản, loạn sản rồi ác tính hoá.

     

     

     

    Thực trạng sử dụng thuốc lá:

    Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1,3 tỷ người hút thuốc lá, 84% số người hút thuốc lá sống tại các nước đang phát triển.

    Việt Nam nằm trong nhóm 15 quốc gia có số lượng người sử dụng thuốc lá cao hàng đầu thế giới. Tỷ lệ đang hút thuốc lá, thuốc lào hiện nay (tổng dân số từ 15 tuổi trở lên) là 23,8% tương đương 15,3 triệu người, trong đó, tỷ lệ hút thuốc lá điếu là 19,9% (khoảng 12,8 triệu người), tỷ lệ hút thuốc lào là 6,4% (khoảng 4,1 triệu người), còn lại là tỷ lệ sử dụng các dạng thuốc lá khác. Trong số người trưởng thành, tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới là 47,4% và ở nữ giới là 1,4%. Nhóm tuổi có tỷ lệ hút thuốc lá cao nhất là trong độ tuổi lao động (từ 25 đến 50 tuổi). Tỷ lệ hút thuốc lá ở nông thôn cao hơn so với thành thị, người nghèo có tỷ lệ hút thuốc lá cao hơn người giàu. Thanh thiếu niên bắt đầu sử dụng thuốc lá sớm và dễ dàng tiếp cận thuốc lá.

    Đối với người hút thuốc lá thụ động: tỷ lệ bị phơi nhiễm với khói thuốc lá tại nhà là 67,6% và tại nơi làm việc là 49,0%. Đặc biệt, tỷ lệ phơi nhiễm với khói thuốc lá ở nhà của phụ nữ gần 70%, của trẻ em gần 50%. Như vậy, số người phải thường xuyên tiếp xúc với khói thuốc lá thụ động ở nước ta rất cao.. 

    Tác hại của thuốc lá đối với kinh tế – xã hội:

    Chi tiêu cho thuốc lá làm giảm các chi tiêu thiết yếu khác của hộ gia đình, đặc biệt là hộ có thu nhập thấp. Một người hút thuốc lá trong một năm tiêu hết số tiền bằng 1/3 số tiền chi cho lương thực, gấp 1,5 lần so với chi cho giáo dục, gấp 5 lần chi phí y tế tính theo bình quân đầu người.

    Theo thống kê của thế giới, hỏa hoạn do nguyên nhân thuốc lá chiếm 10% tổng số các vụ hỏa hoạn, gây ra 300.000 ca tử vong và thiệt hại vật chất lên tới 27 tỷ USD. Riêng ở Mỹ năm 2002 có tới 14.450 vụ cháy do thuốc lá gây ra, làm chết 520 người và bị thương 1.330 người.  Điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành tại Việt Nam (GATS) – 2010.

     Cung cấp các bằng chứng khoa học về bệnh tật và tử vong cho quá trình hoạch định chính sách ở Việt Nam (2011), Trường Đại học y tế cộng cộng, Viện Chiến lược và chính sách y tế, Trường Đại học Queensland (Úc).

     Mackay J, Eriksen M, Shafey O. Tobacco Atlas. Second Edition. 2006. trang 42-43. 

     Điều tra mức sống dân cư 1997-1998.

     Mackay J, Eriksen M, Shafey O. Tobacco Atlas. Second Edition. 2006. trang 42-43.

     

    1. Tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe người hút thuốc như thế nào?

    Thuốc lá còn là một trong các nguyên nhân chính gây ra các bệnh không truyền nhiễm. Cụ thể, tính chung trên thế giới thuốc lá gây ra 90% các trường hợp ung thư phổi, 75% các trường hợp phổi tắc nghẽn mạn tính và 25% các trường hợp bệnh tim thiếu máu cục bộ. Theo ước tính ở Hoa Kỳ thuốc lá là nguyên nhân của khoảng 30% các trường hợp tử vong do bệnh ung thư.

    1. Thế nào là hút thuốc thụ động, hút thuốc thụ động gây ra những bệnh gì?

    Hút thuốc thụ động có thể gây nên nhiều bệnh nguy hiểm ở cả người lớn và trẻ em.

    Ở người lớn hút thuốc thụ động gây ung thư phổi, các bệnh về tim mạch, ung thư vú, bệnh động mạch vành, xơ vữa động mạch, gây các triệu chứng kích thích đường hô hấp, tăng nguy cơ đẻ non và trẻ nhẹ cân.

    Ở trẻ em, hút thuốc thụ động có thể gây viêm đường hô hấp, hen, viêm tai giữa, đột tử ở trẻ sơ sinh (SID), kém phát triển chức năng phổi và làm tăng nguy cơ mắc nhiều loại bệnh khác.

     

    Thuốc lá và nguy cơ ung thư

    Thuốc lá gây ra xấp xỉ 90 % tổng số người chết vì ung thư phổi và hút thuốc lá còn gây ra ung thư ở nhiều các phần khác như họng, thanh quản, thực quản, tuyến tuỵ, tử cung, cổ tử cung, thận, bàng quang, ruột và trực tràng.

    1. Ung thư phổi

    Hút thuốc là nguyên nhân chính gây ung thư phổi, khoảng 87% trong số 177,000 ca mới mắc ở Mỹ năm 1996 là do thuốc lá, còn lại là do các nguyên nhân khác như: ô nhiễm môi trường, bệnh nghề nghiệp, ăn uống, cơ địa và các yếu tố di truyền. 90% trong số 660.000 ca được chẩn đoán ung thư phổi hàng năm trên thế giới là người hút thuốc lá. Giả định nguy cơ của những người không hút thuốc lá bị ung thư phổi là 1 thì nguy cơ bị ung thư phổi của những người hút thuốc cao hơn gấp 10 lần so với những người không hút thuốc. Mức độ tăng nguy cơ khác nhau tuỳ theo loại tế bào ung thư, nguy cơ bị ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tế bào nhỏ ở những người hút thuốc tăng 5 đến 20 lần trong khi nguy cơ bị ung thư biểu mô tuyến và ung thư biểu mô tế bào lớn tăng 2 đến 5 lần so với những người không hút thuốc.

    Mức độ nguy cơ sẽ tăng lên cùng với số năm hút thuốc lá, số lượng thuốc lá tiêu thụ hàng ngày và lứa tuổi lúc bắt đầu hút thuốc lá càng sớm càng nguy hiểm. Hút bao nhiêu thuốc thì tăng nguy cơ bị ung thư phổi? Người ta thấy rằng với bất kỳ lượng thuốc hút nào cũng gây tăng nguy cơ mắc ung thư phổi. Nói cách khác không có giới hạn dưới của của lượng thuốc hút cần thiết để gây ung thư phổi. Thời gian hút thuốc lá cũng rất quan trọng, thời gian hút càng dài thì tác hại càng lớn.

    Những người không hút thuốc mà kết hôn với người hút thuốc, tỷ lệ chết vì ung thư phổi cao hơn 20% so với người kết hôn với người không hút thuốc và tỷ lệ chết vì ung thư phổi cũng tăng lên cùng với số lượng thuốc được hút bởi người vợ hoặc người chồng.

    Chỉ khoảng 13% bệnh nhân ung thư phổi sống sót sau 5 năm. Tỉ lệ chết do ung thư phổi ở nam giới có hút thuốc cao gấp 22 lần so với nam giới không hút thuốc, còn ở nữ thì gấp khoảng 12 lần. Trong khi rất nhiều phụ nữ tin rằng ung thư vú là nguyên chính gây tử vong ở nữ thì đến năm 1988 ung thư phổi lại cao hơn nhiều so với ung thư vú trong các trường hợp tử vong ở phụ nữ.

    Hút thuốc thụ động cũng làm tăng nguy cơ mắc ung thư phổi với chỉ số nguy cơ tương đối khoảng từ 1,2 đến 1,5. Khi đồng thời hút thuốc và có tiếp xúc với yếu tố độc hại khác thì nguy cơ gây ung thư phổi sẽ tăng lên gấp nhiều lần.

    2. Các loại ung thư ở các bộ phận thuộc đầu và cổ

    Các loại ung thư các bộ phận thuộc đầu và cổ bao gồm ung thư thực quản, thanh quản, lưỡi, tuyến nước bọt, môi, miệng và họng. Những nguy cơ của các bệnh ung thư này sẽ tăng dần cùng với số lượng và thời gian hút thuốc. Hút thuốc lá và nghiện rượu là hai yếu tố mạnh nhất gây ung thư ở các bộ phận thuộc đầu và cổ. Nghiện rượu và các sản phẩm chế xuất từ thuốc lá cùng nhau tăng nguy cơ về lâu dài gây ung thư.

    – Ung thư thực quản.  Nguy cơ phát bệnh ung thư thực quản của người hút thuốc lớn hơn 8 tới 10 lần người không hút thuốc. Những nguy cơ này sẽ bị tăng thêm từ 25 tới 50 phần trăm nếu người hút thuốc sử dụng nhiều rượu.

    – Ung thư thanh quản. Hút thuốc gây nên 80 % trong tổng số ung thư thanh quản. Người hút thuốc chịu nguy cơ mắc bệnh ung thư thanh quản lớn hơn 12 lần so với người không hút thuốc.

    – Ung thư miệng. Hút thuốc là nguyên nhân chủ yếu của các bệnh ung thư lưỡi, tuyến nước bọt, miệng và vòm họng. Những người nam giới hút thuốc có nguy cơ lớn gấp 27 lần phát triển các bệnh về ung thư miệng hơn những nam giới không hút thuốc.

    – Ung thư mũi. Về lâu dài người hút thuốc sẽ có nguy cơ cao gấp hai lần hơn người không hút thuốc trong phát bệnh ung thư mũi.

    3. Ung thư thận và bàng quang

    Người hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư cả thận và bàng quang. Trong tổng số ca tử vong do ung thư bàng quang, thì ước tính khoảng 40 tới 70 % là vì sử dụng thuốc lá.

    4. Ung thư tuyến tuỵ

    Tuyến tuỵ là tuyến dễ bị ung thư vì khói thuốc vào cơ thể tới tuyến tuỵ qua máu và túi mật. Ước tính rằng thuốc lá là nguyên nhân của 30 % của tổng số ung thư tuyến tuỵ.

    5. Ung thư bộ phận sinh dục

    – Ung thư âm hộ: Ung thư âm hộ, là một phần của bộ phận sinh dục nữ thông thường hiếm gặp. Tuy nhiên phụ nữ mà hút thuốc có nguy cơ gấp đôi mắc ung thư âm hộ.

    – Ung thư dương vật: Ung thư dương vật đã trở nên ngày càng phổ biến ở nam giới hút thuốc hơn là những người nam không hút thuốc.

    6. Ung thư hậu môn và đại trực tràng

    – Ung thư hậu môn. Bằng chứng mới đây đã phát hiện ra hút thuốc lá đóng vai trò tác nhân gây ung thư hậu môn và đại trực tràng. Cũng trong một nghiên cứu diện rộng được tiến hành ở Mỹ, đối với nam và nữ những người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh ung thư tăng từ 75 tới 100 %…so với những người cùng lứa tuổi không hút thuốc.

     

     

    Chủ đề Ngày Thế giới Không Thuốc lá 2022 của Tổ chức Y tế thế giới

    Ngày Thế giới Không Thuốc lá 31 tháng 5 năm 2022, WHO cùng Ban Thư ký Công ước khung về Kiểm soát thuốc lá kêu gọi các quốc gia thành viên hãy sẵn sàng thực hiện việc đóng gói thuốc lá bao trơn.

    Chủ đề Ngày Thế giới Không Thuốc lá 2022 của Tổ chức Y tế thế giới

    Hãy sẵn sàng thực hiện đóng gói thuốc lá bằng bao bì trơn

     

     

    Hướng dẫn Điều 11 và Điều 13 của Công ước khung của WHO về kiểm soát thuốc lá (WHO FCTC) khuyến cáo các Bên nên xem xét áp dụng bao bì trơn. Một số thông tin về tình hình thực hiện bao bì trơn tại các nước.

    – Tháng 12 năm 2012, Úc là quốc gia đầu tiên trên thế giới thực hiện việc in bao bì trơn.

    – Từ tháng 5 năm 2022 các quốc gia: Ireland, Vương quốc Anh, Bắc Ireland và Pháp bắt đầu thực hiện đóng gói bao trơn.

    – Một số nước đang trong giai đoạn xem xét thông qua luật thực hiện bao bì trơn

    Mục tiêu của Ngày thế giới Không thuốc lá 2022

    Ngày Thế giới Không thuốc lá năm 2022 nhằm mục đích:

    – Làm nổi bật ý nghĩa, vai trò của việc thực hiện bao bì trơn như một biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá hiệu quả.

    – Cung cấp các thông tin, các bằng chứng tin cậy và thuyết phục về ý nghĩa, sự cần thiết của việc sử dụng bao bì trơn;

    – Tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển chính sách phòng, chống tác hại của thuốc lá của các nước thành viên Công ước khung (FCTC), đặc biệt nhằm hỗ trợ các nước đang trong quá trình dần tiến tới việc thực hiện bao bì trơn

    – Hỗ trợ các nước thành viên và các tổ chức xã hội dân sự trong quá trình hoạt động nhằm ngăn chặn sự can thiệp ngành công nghiệp thuốc lá vàoc quá xây dựng, thực thi các chính sách phòng, chống tác hại của thuốc lá và các quy định về bao bì trơn.

     

    NỘI DUNG KHẨU HIỆU 

    TUYÊN TRUYỀN THỰC HIỆN LUẬT PCTH THUỐC LÁ

     

    Cấm hút thuốc lá tại cơ sở y tế, trường học, nơi làm việc.

    (Luật Phòng, chống tác hạicủa thuốc lá)

     

    Cấm hút thuốc lá tại khu vực trong nhà của trường đại học, cao đẳng, học viện

    (Luật Phòng, chống tác hạicủa thuốc lá)

     

    Cấm hút thuốc lá tạikhu vực trong nhà của bến tàu, bến xe

    (Luật Phòng, chống tác hạicủa thuốc lá)

     

    Cấm hút thuốc lá tại khu vực trong nhà của nhà hàng, quán ăn, quán cà phê.

    (Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá

     

    Lãnh đạo các cơ quan, đơn vị phải đưa quy định cấm hút thuốc lá tại nơi làm việc vào quy chế nội bộ của cơ quan, đơn vị.

    (Luật Phòng, chống tác hạicủa thuốc lá)

     

     

    Sống và làm việc trong môi trường không khói thuốc lá là quyền của mọi người.

    (Luật Phòng, chống tác hạicủa thuốc lá)

     

     

    Thực hiện nghiêm quy định cấm hút thuốc lá nơi làm việc là trách nhiệm của

    công chức, viên chức, người lao động.

    (Luật Phòng, chống tác hạicủa thuốc lá)

     

    Khói thuốc lá là nguyên nhân chính gây ung thư phổi.

     

    Hút thuốc lá là nguyên nhân gây nhồi máu cơ tim, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

     

    Không hút thuốc vì sức khỏe của chính bạn và những người thân yêu

     

    Tuổi trẻ Việt Nam nói KHÔNG với thuốc lá.

     

    sưu tầm

    Nguồn tin : sưu tầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dùng Lá Trầu Không Để Xông Khi Đau Mắt Đỏ: Cẩn Thận Bệnh Nặng Càng Thêm Nặng!
  • Trầu Không: Những Kiến Thức Tổng Quan
  • Công Dụng, Cách Dùng Của Trầu Không
  • Cổng Điện Tử Tỉnh Thanh Hóa
  • Bí Mật Điếu Thuốc Iqos
  • Các Thành Phần Cấu Tạo Nên Máy Chủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Tiếng Anh Qua Hình Ảnh Các Bộ Phận Máy Tính
  • Thêu Vi Tính Là Gì? 100 Điều Cần Biết Về Phương Pháp Thêu Này
  • Cơ Chế Và Nguyên Lý Điện Của Máy Thêu
  • Cấu Tạo Của Máy Vi Tính
  • Giới Thiệu Về Psu Và Cấu Tạo Của Bộ Nguồn Psu Máy Tính
  • Nếu bạn đang sở hữu hoặc có ý định xây dựng một website thì tên miền, Hosting, máy chủ, là những yếu tố bạn cần quan tâm. Máy chủ có lẽ được nhắc đến nhiều hơn cả. Vậy máy chủ – server là gì? Các thành phần cấu tạo nên một máy chủ?

    Máy chủ – server là gì?

    Máy chủ là một máy tính hay một thiết bị trên mạng quản lý tài nguyên của mạng. Ví dụ như, một máy dịch vụ tập tin là một máy tính hoặc là một thiết bị chuyên dụng để lưu trữ tập tin đó. Bất kỳ người sử dụng nào trên mạng cũng có thể lưu trữ các tập tin trên máy chủ – Server.

    Máy chủ thường là những máy chuyên dụng, chúng không thực hiện nhiệm vụ nào khác bên cạnh các nhiệm vụ dịch vụ của chúng. Tuy nhiên, trên hệ điều hành đa xử lý, một máy tính có thể xử lý vài chương trình cùng lúc. Một máy chủ trong trường hợp này có thể yêu các chương trình quản lý tài nguyên hơn là một bộ máy tính trọn vẹn.

    Các thành phần cấu tạo của máy chủ

    Bo mạch máy chủ

    Nếu như các bo mạch chủ của PC thường đa số chạy trên các dòng chipset cũ như Intel 845, 865 hay dòng mới Intel 945, 975,… thì các Chipset của các Board mạch chủ của Máy chủ Server thông dụng sử dụng các chipset chuyên dùng như Intel 3000, Intel E7520, Intel 5000X,…. với khả năng hỗ trợ các giao tiếp tốc độ cao như RAM ECC, HDD SCSI – SAS, Raid hay hỗ trợ gắn nhiều CPU dòng Xeon,….

    Bộ vi xử lý (CPU)

    Các PC thông thường bạn dùng các Socket dạng 478, 775 với dòng Pentium D, Pentium 4, Quadcore thì các dòng CPU dành riêng cho máy chủ đa số là dòng Xeon với kiến trúc khác biệt , hoạt động trên các socke t603, 771, 604 với dung lượng cache L2 cao, khả năng ảo hóa cứng, các tập lệnh chuyên dùng khác… Một số máy chủ cấp thấp vẫn dùng CPU Socket 775 làm vi xử lý chính. CPU là cụm từ bạn sẽ thường gặp và cần quan tâm khi thuê VPS gia re.

    Ổ cứng (HDD)

    Khác với các HDD của máy tính thường có giao tiếp IDE, SATA I, SATA II với tốc độ vòng quay đạt con số cao nhất 7200RPM, tốc độ đạt 300MB/s, các HDD dành cho máy chủ hoạt động trên giao tiếp SCSI hay SAS (Serial Attached SCSI) có băng thông cao hơn (600MB/s) và tốc độ vòng quay cao hơn gần 30% (10.000RPM) hay một số ổ SAS mới còn đạt được con số 15.000 RPM giúp tăng tốc tối đa tốc độ đọc/ghi dữ liệu.

    Bộ nhớ (RAM)

    Các loại RAM mà bạn thường thấy trên thị trường là DDR RAM I, II có Bus 400, 800,… trong khi đó RAM dành cho máy chủ cũng có những loại như vậy nhưng chúng còn có thêm tính năng ECC giúp máy bạn không bị treo, dump màn hình xanh khi có bất kỳ bit nào bị lỗi trong quá trình xử lý dữ liệu. Hơn nữa, các RAM này còn có khả năng tháo lắp nóng để thay thế khi bị hư hỏng mà bạn sẽ không cần phải tắt hệ thống. Tất nhiên, để sử dụng loại RAM này thì bo mạch chủ phải hỗ trợ chuẩn RAM mới này. Khi sử dụng , VPS gia re bạn cũng cần phải đặc biệt quan tâm đến điều này.

    Bo điều khiển Raid (Raid controller)

    Đây là thành phần quan trọng trong một máy chủ hiện đại, bo điều khiển này sẽ kết hợp các ổ cứng thành một thể thống nhất với cơ chế sao lưu, chống lỗi giúp dữ liệu của bạn luôn được an toàn khi có các trục trặc vật lý . Tùy theo các bo mạch, khả năng hỗ trợ các mức Raid khác nhau nhưng thường Raid 1 và Raid 5 là 2 mức phổ biến trong hầu hết các server. Một số bo mạch máy chủ đã tích hợp chip điều khiển này nên bạn có thể không cần trang bị thêm.

    Bộ cung cấp nguồn (PSU)

    Thành phần cung cấp năng lượng cho các thiết bị bên trong có vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của máy chủ, chính vì thế các dòng máy chủ chuyên dùng thường đi theo những bộ nguồn công suất cao có khả năng thay thế hay dự phòng khi bộ nguồn chính bị lỗi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Máy Chủ (Server) Là Gì? Các Thành Phần Cấu Tạo Máy Chủ (Server)
  • Vỏ Case Máy Tính Thermaltake View 27 Ca
  • Những Điều Bạn Cần Biết Khi Lựa Chọn Vỏ Case Cho Máy Tính
  • Vỏ Case Máy Tính Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Vỏ Case Pc
  • Case Máy Tính Là Gì?
  • Thành Phần Cấu Tạo Nên Mặt Trời Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thành Phần Cấu Tạo Của Inox
  • Tìm Hiểu Lịch Sử Ra Đời, Phân Loại Và Cấu Tạo Của Quạt Điện
  • Nguyên Lý Hoạt Động Từ A
  • Nguyên Lý Làm Việc, Cấu Tạo, Ưu Nhược Điểm Của Quạt Hút Ly Tâm
  • Tìm Hiểu Cấu Tạo Của Quạt Phun Sương
  • Mặt trời – ngôi sao trong trung tâm Thái dương hệ và là nguồn cung cấp năng lượng, ánh sáng tự nhiên cho Trái đất. Song ít ai biết chính xác thành phần cấu tạo nên Mặt trời.

    Mặt trời là một quả bóng lớn chứa đầy khí nóng. Trong vùng lõi Mặt trời, nguồn khí nóng này được chuyển đổi thành năng lượng. Sau đó, năng lượng di chuyển và phát tán qua các lớp bên trong tới bầu khí quyển của Mặt trời, rồi tiếp tục phát tán năng lượng vào Thái dương hệ dưới dạng hơi nóng và ánh sáng.

    Trong lớp khí nóng, nguyên tố hydro chiếm tới 72%. Phản ứng tổng hợp hạt nhân chuyển đổi hydro thành nhiều nguyên tố hóa học khác. Ngoài ra, Mặt trời còn chứa khoảng 26% nguyên tố heli cùng tập hợp nguyên tố như oxy, carbon, neon, nitơ, magie, sắt và silic.

    Hệ mặt trời

    Tất cả các nguyên tố hóa học trên đều được hình thành trong lõi Mặt trời và chiếm 25% tổng trọng lượng của Mặt trời. Trong khi đó, lực hấp dẫn tạo thành một áp lực lớn và nhiệt độ cực cao trong khu vực lõi Mặt trời với mức nhiệt lên tới 15 triệu độ C. Còn các nguyên tử hydro bị dồn nén và bùng cháy, tạo ra heli và nguồn năng lượng dồi dào. Toàn bộ quá trình trên gọi là phản ứng tổng hợp hạt nhân.

    Nguồn năng lượng lúc này chủ yếu tồn tại dưới dạng các photon, neutrion tia gamma và được chuyển tới vùng bức xạ. Những photon này có thể tồn tại trong vùng bức xạ khoảng 1 triệu năm trước khi xuyên qua lớp phân cách hay còn gọi là tachocline – nằm giữa vùng bức xạ và vùng đối lưu. Theo các nhà khoa học, từ trường của Mặt trời được tạo ra từ một dyamo từ tính trong lớp tachocline.

    Vùng đối lưu được xem là lớp ngoài cùng trong khu vực bên trong Mặt trời. So với vùng khí quyển của Mặt trời, vùng đối lưu nằm ở độ sâu 200.000km. Tuy nhiên, nhiệt độ trong khu vực này lại rất mát mẻ, phù hợp với các ion mang khối lượng nặng như carbon, nitơ, oxy, canxi, và sắt giữ ở trạng thái electron. Những electron này bị chắn sáng và có khả năng hấp thu thêm nhiều hơi nóng, từ đó tạo ra quá trình đun sôi hoặc chuyển hóa plasma.

    Hoạt động chuyển hóa trên khiến nhiệt độ bề mặt – tầng đáy của khí quyển Mặt trời hay còn gọi là quang quyển, tăng lên nhanh chóng. Tại lớp quang quyển, năng lượng được phát tán dưới dạng ánh nắng Mặt trời. Ánh nắng xuyên qua các lớp bên ngoài của khí quyển Mặt trời bao gồm quyển sắc và vành nhật hoa trước khi chiếu xuống Trái đất. Toàn bộ quá trình trên diễn ra trong vòng 8 phút.

    Trong nhiều năm qua, các nhà thiên văn học đã dành thời gian để nghiên cứu thành phần cấu tạo Mặt trời. Kết quả là các nhà khoa học phát hiện được 67 nguyên tố hóa học tiêu biểu. Trong đó, còn có những nguyên tố hóa học khác góp phần hình thành nên Mặt trời song vì hàm lượng quá nhỏ, nên các thiết bị nghiên cứu đã không thể xác định được tên của chúng.

    Trong tổng số 67 nguyên tố có 10 nguyên tố cơ bản hình thành nên Mặt trời. Tính trên tổng khối lượng Mặt trời thì hydro chiếm 71%, heli 27,1%, oxy 0,97%, carbon 0,4%, nitơ 0,096%, silic 0,099%, magie 0,076%, neon 0,058%, sắt 0,014%, lưu huỳnh 0,04%.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài Tập Hóa 11 Bài 29: Anken (Olefin)
  • Bai Tap Tu Luan Ve Anken
  • Phương Pháp Làm Dạng Bài Về Chủ Ngữ, Vị Ngữ Trong Câu Kể “ai Làm Gì”
  • Thế Là Nào Chủ Ngữ, Vị Ngữ, Trạng Ngữ
  • Thế Nào Là Chủ Ngữ, Vị Ngữ, Trạng Ngữ, Bổ Ngữ, Định Ngữ
  • Thuốc Lá Là Gì? Thành Phần Và Tác Hại Của Thuốc Lá

    --- Bài mới hơn ---

  • Đầu Lọc Thuốc Lá Không Lọc Bớt Chất Độc Hại
  • Thực Hư Chuyện Đầu Lọc Thuốc Lá Có Lợi Hay Có Hại?
  • Máy Hút Thuốc Lá Iqos Là Gì? Lý Do Nên Lựa Chọn Sản Phẩm Này Để Chơi
  • Cai Thuốc Lá Bằng Châm Cứu Tai
  • Bàn Phím Laptop Dell Vostro 5460
  • “Một mình một nỗi niềm riêng

    Rít từng hơi thuốc khói huyền bay bay

    Khói bay mà ngỡ dáng ai

    Chờn vờn mộng mị ngà say mộng tình”

    Thuốc lá đến với ta như vậy đó, như một người bạn tâm giao, tri kỉ. Nhưng bạn có biết? Người bạn mà bạn cho rằng đang từng ngày đưa nỗi buồn của bạn bớt đi da diết, dẫn dắt bạn vào những “cõi mộng” ấy lại đang dần ngự trị và sẽ một ngày giết chết cuộc sống của bạn?

    Thuốc lá là gì mà có thể khiến cuộc sống của bạn say sưa như thế? Và thuốc lá sẽ giết chết bạn bằng cách nào? Mời các bạn tìm hiểu những kiến thức về nguồn gốc của thuốc lá, thành phần của thuốc lá và tác hại của thuốc lá như thế nào để hiểu hơn về những nguy hiểm đến từ “người bạn tâm giao” ấy.

    Ấu thơ chúng ta chắc cũng có ghi lại hình ảnh những người nông dân cần mẫn trồng các cây thuốc lá rồi hái lá thái nhỏ sao khô để hút. Ở một số vùng nông thôn hiện nay vẫn đang trồng cây thuốc lá để sử dụng và việc sản xuất thuốc lá thì chưa thấy chạm đến quyết định ngừng sản xuất. Hằng ngày, bạn vẫn nhâm nhi những điếu thuốc nhưng liệu bạn có biết nguồn gốc của thuốc lá là từ đâu và thành phần của thuốc lá là gì không?

    Tìm hiểu thêm: Thuốc lá điện tử vape là gì?

    Nguồn gốc của thuốc lá là một loài cây hoang dại đã có cách đây khoảng 4.000 năm, trùng với văn minh của người da đỏ vùng Trung và Nam Mĩ. Việc khai thác và sản xuất thuốc lá được lịch sử ghi lại là từ chuyển thám hiểm tìm ra châu Mỹ của Christopher Columbus, ông đã phát hiện thấy người bản xứ ở quần đảo Antil vừa nhảy múa, vừa hút một loại lá cuộn tròn gọi là Tabaccos vào năm 1492.

    Ở Việt Nam ta từ xưa không có thuốc lá mà cây thuốc lá này xuất hiện từ năm Canh tý, đời vua Lê Thần Tông. Năm Thuận trị thứ 17 Trung Quốc, người nước Ai Lao đem giống cây thuốc lá đến, dân ta mới đem trồng. Theo các vị thần y thời ấy, cây thuốc lá thời ấy có tính cay, nóng dùng để trị các chứng phong hàn, tê thấp, trệ khí, đọng đờm… Khi khói thuốc vào mồm , một lúc nó chạy khắp người, làm cho khắp cơ thể trong người đều thông khoái, thay được rượu, được chè, cả đời không chán; cho nên, người ta còn gọi thuốc hút là tương tư thảo. Thế nhưng mọi người lại không biết cây thuốc lá khi đốt lên lại gây ra khói độc rất nguy hiểm.

    Vậy theo khoa học thuốc lá là gì? Thuốc lá được sản xuất từ một sản phẩm nông nghiệp là cây thuốc lá, thường được trồng để lấy lá. Lá của cây thuốc lá được thái sợi, sao hoặc phơi khô rồi dùng cho việc hút thuốc. Thời xưa khi chưa có sản xuất điếu thuốc lá đầu lọc người ta thường dùng giấy manh cuộn với lá thuốc sao khô để hút hoặc hút với điếu cày (gọi là thuốc lào).

    Thuốc lá có khả năng gây nghiện, bởi trong thuốc lá có chất nicotin, nhất là những lá già thường có hàm lượng nicotin rất cao. Nicotin được sử dụng ở liều thấp, tạo ra sự sảng khoái nhẹ nhàng, làm dịu cơn đói và bớt mệt mỏi. Tuy nhiên nếu dùng lâu dài sẽ gây lệ thuộc và độc hại cho cơ thể. Người ta đã thấy người lớn chết do dùng khoảng 15 – 20g thuốc lá dưới dạng thuốc nước để thụt tháo đại trực tràng. Trẻ con chỉ cần uống một vài gram sẽ tử vong.

    Nhiều người cho rằng họ hút thuốc lá vì các lý do như giảm stress, điều chỉnh cân nặng, do thói quen giao tiếp. Khi không có thuốc lá làm cho họ mất ngủ, trầm cảm, cáu gắt, bứt rứt lo âu, giảm tập trung… Thế nhưng hậu quả mà thuốc lá mang lại thì còn ghê gớm hơn cả những tác dụng mà nó mang đến.

    Vậy vì sao thuốc lá lại nguy hiểm như thế? Thành phần của thuốc lá là gì?

    Việc hút thuốc lá, thuốc lào đã giết chết hàng triệu người trên thế giới hằng năm. Hút thuốc gây ra nhiều căn bệnh nguy hiểm dẫn đến tử vong, nguyên nhân là trong thuốc lá và khói thuốc lá có những thành phần gây tổn hại đến sức khỏe con người.

    Vậy những thành phần của thuốc lá là gì? Trong khói thuốc lá có chứa hơn 4000 loại hóa chất trong đó hơn 200 loại gây nguy hiểm cho sức khỏe, đó là các chất gây nghiện và các chất độc, được chia làm 4 nhóm:

    Nicotin là tên gọi được đặt theo tên của một nhà ngoại giao người Pháp Nicot (1530 – 1600), người đầu tiên nhập thuốc lá vào Pháp. Đây là một chất không màu, không mùi, nhưng khi đốt cháy lại chuyển thành màu nâu và có mùi.

    Nicotine gây nghiện cao, nó có thể xếp vào nhóm gây nghiện tương tự như Heroin và Cocain. Nicotin chủ yếu tác động lên hệ thần kinh trung ương với sự có mặt của các thụ thể nicotine trên các cấu trúc não. Tuy nhiên trong cơ thể nicotine sẽ nhanh chóng được chuyển hóa thành cotinin và thải trừ ra nước tiểu.

    Đây là một trong những khí độc, có nồng độ cao trong khói thuốc lá và sẽ được hấp thụ vào máu, gắn với hemoglobine với ái lực mạnh hơn 20 lần oxy. Với người hút trung bình 1 bao thuốc mỗi ngày thì hàm lượng hemoglobine khử có thể tới 7-8%. Sự tăng hemoglobine khử làm chuyển dịch đường cong phân tách oxy – hemoglobin dẫn đến giảm lượng oxy chuyển đến tổ chức gây thiếu máu tổ chức và có lẽ góp phần hình thành các mảng xơ vữa động mạch.

    Khói thuốc lá chứa đến 40 chất, trong đó gồm cả các hợp chất thơm có vòng đóng như Benzopyrene có tính chất gây ung thư. Các hóa chất này tác động lên tế bào bề mặt của đường hô hấp gây nên tình trạng viêm mạn tính, phá hủy tổ chức, biến đổi tế bào dẫn đến dị sản, loạn sản rồi ác tính hóa.

    Với những thành phần nguy hiểm như thế, việc bạn hút 01 điếu thuốc tức là đã tự mình làm mất đi 5,5 phút cuộc sống. Tuổi thọ trung bình của người hút thuốc ngắn hơn so với người không hút thuốc từ 05 đến 08 năm. Hút thuốc làm tăng tỷ lệ tử vong từ 30 đến 80%, chủ yếu là do các bệnh ung thư (ung thư phổi), bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, các bệnh tim mạch…

    Khi bạn hút thuốc lá, hay sống chung với khói thuốc một thời gian dài sẽ khiến cơ thể bị các bệnh tim mạch, viêm nhiễm đường hô hấp gây tổn thương trong lòng mạch máu. Những người hút thuốc lá dễ bị các bệnh như: rụng tóc, đục thủy tinh thể, da nhăn, giảm thính lực, sâu răng, ung thư da, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, loãng xương, bệnh tim mạch, vàng móng tay, ung thư cổ tử cung, tinh trùng biến dạng, bệnh vảy nến, viêm tắc mạch máu, ung thư phổi và các cơ quan khác như: mũi, miệng, lưỡi, tuyến nước bọt, họng, thanh quản, thực quản, thận, dương vật, tụy v.v…

    Những tác hại vô cùng nguy hiểm của thuốc lá sẽ khiến tất cả chúng ta đứng trước bờ vực của tử vong và những căn bệnh vô cùng đau đớn. Vì một cộng đồng không khói thuốc! Vì sức khỏe của mỗi người. Vì tương lai con em chúng ta! Mọi người hãy ngừng việc hút thuốc lá.

    Vậy các cai thuốc lá là gì? Làm sao để bỏ thuốc lá một cách hiệu quả?

    Cách cai thuốc lá đơn giản hiệu quả

    Nicotin một khi đã thâm nhập là xâm chiếm lấy cơ thể bạn thì khó có cách nào để có thể dứt điểm một cách dễ dàng. Tuy nhiên cũng không hẳn là chúng ta chỉ còn cách đợi chờ nó hủy hoại cơ thể. Hiện nay có rất nhiều phương pháp cai thuốc lá, thậm chí có một số người đã tự cai rất thành công bằng sự quyết tâm của mình.

    Đó chính là sản phẩm nước súc miệng cai thuốc lá Thanh Nghị. Sản phẩm này được bào chế hoàn toàn từ 100% thảo dược thiên nhiên nên dễ sử dụng, an toàn tuyệt đối. Bạn chỉ cần ngậm và súc miệng, trong quá trình súc miệng nicotin trong các tế bào cơ thể được đào thải ra ngoài nhờ tác dụng của các thảo dược. Đồng thời vị của các thảo dược cũng tạo một màng bảo vệ sự tấn công trở lại của nicotin ngay trong khoang miệng. Chính vì điều đó mà việc bỏ thuốc trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng và hiệu quả hơn.

    Vậy tại sao bạn không thử dùng nước súc miệng Thanh Nghị để dứt điểm thuốc lá? Hãy thử tin tưởng suy luận của bản thân một lần, để thấy rằng không có gì là không thể thực hiện được, cũng như việc cai thuốc không có gì là khó khăn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuốc Lá Là Gì? Nguồn Gốc, Thành Phần Nguy Hiểm?
  • Cấu Tạo Ngoài Của Lá Cau Tao Ngoai Cua La Ppt
  • Câu Hỏi Của Hà Kiều Mỹ Duyên
  • Lá Côn Xe Hino 700 Đầu Kéo Bản 430
  • Trung Tâm Phụ Tùng Xe Tải Hino
  • Thành Phần Và Độc Tính Của Khói Thuốc Lá

    --- Bài mới hơn ---

  • Tác Hại Của Hút Thuốc Lá
  • Tác Hại Của Thuốc Lá
  • Máy Lọc Không Khí Có Khử Mùi Thuốc Lá?
  • Bán Tẩu Lọc Hút Thuốc Lá Cao Cấp Chính Hãng Giá Rẻ Tại Hà Nội
  • Vi Rut Khảm Thuốc Lá Có Dạng Cấu Trúc Nào Sau Đây ?
  • Trong khói thuốc lá chứa hơn 7000 chất. Trong đó có hàng trăm loại có hại cho sức khỏe, 70 chất gây ung thư, bao gồm chất gay nghiện và các chất gây độc, chia ra làm 4 nhóm chính:

    1. Nicotine: Nicotine là một chất không màu, chuyển thành màu nâu khi cháy và có mùi khi tiếp xúc với không khí. Nicotine được hấp thụ qua da, miệng và niêm mạc mũi hoặc hít vào phổi. Người hút thuốc trung bình đưa vào cơ thể 1 đến 2 mg nicotine mỗi điếu thuốc hút. Hút thuốc lá đưa nicotine một cách nhanh chóng đến não, trong vòng 10 giây sau khi hít vào. Tác dụng gây nghiện của nicotine một cách nhanh chóng đến não, trong vòng 10 giây sau khi hít vào. Tác dụng gây nghiện của nicotine chủ yếu là trên hệ thần kinh trung ương với sự có mặt của các thụ thể nicotine trên các tế bào thần kinh tại “trung tâm thưởng” ở hệ viền não bộ, các hóa chất trung gian dẫn truyền thần kinh bao gồm dopamin, serotonine, noradrenaline được phóng thích. Chúng gây ra nhiều tác động tâm thần kinh như là cảm giác sảng khoái, tâm trạng vui vẻ, tăng chú ý, tăng hoạt động nhận thức và trí nhớ ngắn hạn.

    Não bộ nhanh chóng nhận ra rằng có thể dùng thuốc lá để kích thích bài tiết dopamin và như vậy khởi động quá trình hút thuốc lá kéo dài nhiều năm tháng. Hiệu ứng tâm thần kinh đó”.

    Khí CO có nồng độ cao trong khói thuốc lá và sẽ được hấp thụ vào máu, gắn với hemoglobine với ái lực mạnh hơn 210 lần oxy. Khí CO đi nhanh vào máu và chiếm chỗ của oxy trên hồng cầu. Ái lực của hemoglobine hồng cầu với CO mạnh gấp 210 lần so với O 2 và như thế sau hút thuốc lá, một lượng hồng cầu trong máu tạm thời mất chức năng vận chuyển O 2 vì đã gắn kết với CO. Hậu quả là cơ thể không đủ oxy để sử dụng

    Khói thuốc lá chứa nhiều chất kích thích dạng khí hoặc dạng hạt nhỏ. Các chất kích thích này gây nên các thay đổi cấu trúc của niêm mạc phế quản dẫn đến tăng sinh các tuyến phế quản, các tế bào tiết nhầy và làm mất các tế bào có lông chuyển. Các thay đổi này làm tăng tiết nhày và giảm hiệu quả thanh lọc của thảm nhày-lông chuyển. Phần lớn các thay đổi này có thể hồi phục được khi ngừng hút thuốc.

    4. Các chất gây ung thư:

    Trong khói thuốc lá có khoảng 70 chất có tính chất gây ung thư, ví dụ như hợp chất thơm có vòng đóng, Benzopyrene hay các Nitrosamine. Các hoá chất này tác động lên tế bào bề mặt của đường hô hấp gây nên tình trạng viêm mạn tính, phá huỷ tổ chức, biến đổi tế bào dẫn đến dị sản, loạn sản rồi ác tính hoá.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Dùng Lá Trầu Không Chữa Đầy Bụng Cho Trẻ Sơ Sinh
  • Tắm Lá Trầu Không Cho Trẻ Sơ Sinh Nên Hay Không Nên
  • Nghiên Cứu Chiết Tách, Xác Định Thành Phần Hóa Học Tinh Dầu Và Dịch Chiết Từ Lá Trầu Không
  • Cùng Nghe Chuyên Gia Tư Vấn: Chữa Viêm Phụ Khoa Bằng Lá Trầu Không
  • 5 Công Dụng Tốt Của Lá Trầu Không Đối Với Hệ Tiêu Hóa
  • Thành Phần Cấu Tạo Của Inox

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Lịch Sử Ra Đời, Phân Loại Và Cấu Tạo Của Quạt Điện
  • Nguyên Lý Hoạt Động Từ A
  • Nguyên Lý Làm Việc, Cấu Tạo, Ưu Nhược Điểm Của Quạt Hút Ly Tâm
  • Tìm Hiểu Cấu Tạo Của Quạt Phun Sương
  • Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Quạt Điều Hòa
  • Carbon là một thành phần không thể thiếu của Inox. Nó có mặt ở nhiều nhóm, nhiều loại inox – thép không gỉ khác nhau. Tuy nhiên, hàm lượng C thường ở mức thấp. Tác dụng của Carbon chính là chống chịu lại sự ăn mòn.

    Nếu Carbon kết hợp với Crom trong hợp kim, chúng sẽ gây tổn thương cho “lớp trơ” hình thành. Ở những khu vực cục bộ khác, nếu Crom<10.5% thì “lớp trơ” sẽ không hình thành.

    Có thể bạn chưa biết:

    Như chúng ta đã biết, Inox – thép không gỉ là một dạng hợp kim của sắt chứa tối thiếu 10.5% Cr. Vìvậy, Cr là một thành phần không thể thiếu của bất kì loại Inox nào.Vì Cr là nguyên tố phản ứng cao. Do đó chúng tạo bên bản chất “trơ” cho hợp kim này. Cr còn có tác dụng ngăn chặn sự ăn mòn và gỉ sét thông thường xảy ra đối với các loại thép carbon không có tấm bảo vệ bên ngoài.

    Niken là hợp kim chính của nhóm thép không gỉ Austenitic ( Nhóm 3XX). Chính sự có mặt của Niken làm cho nhóm này có độ dẻo dai cao, độ bền tốt ngay cả ở nhiệt độ hỗn hợp làm nguội.

    Nếu như ở nhóm 3XX, Niken đóng một vai trò khá quan trọng, thì đối với nhóm 2XX, Mangan là một nguyên tố không thể thiếu. Manga chính là nguyên tố thay thế cho Niken ở các mác thép 2XX này. Tác dụng chính của Mangan chính là giúp thép không gỉ khử oxy hóa,ngoài ra chúng còn có tác dụng làm ổn định mác thép Austenitic.

    Ngoài ra, Molypden còn có tác dụng chống nhiệt Clorua, đó là nguyên nhân Tấm Inox 316 ( có chứa 2% Molypden ) dùng tốt hơn các loại Tấm Inox 304 ở môi trường vùng biển. Khi lượng Molypden càng cao, thì sức chống chịu clorua lại càng cao.

    Nhà máy sản xuất Inox Hàng đầu tại Việt Nam ?

    Với thâm niên hàng chục năm trên thị trường mua bán Inox tại Việt Nam và Thế Giới. Inox Đại Dương đã và đang tiếp tục là nhà sản xuất và bán ống inox 304/201/ 430 hàng đầu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thành Phần Cấu Tạo Nên Mặt Trời Là Gì?
  • Giải Bài Tập Hóa 11 Bài 29: Anken (Olefin)
  • Bai Tap Tu Luan Ve Anken
  • Phương Pháp Làm Dạng Bài Về Chủ Ngữ, Vị Ngữ Trong Câu Kể “ai Làm Gì”
  • Thế Là Nào Chủ Ngữ, Vị Ngữ, Trạng Ngữ
  • Thành Phần Cấu Tạo Nguyên Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 25. Kim Loại Kiềm Và Hợp Chất Quan Trọng Của Kim Loại Kiềm
  • Bài 28. Kim Loại Kiềm
  • Tính Chất Hoá Học Của Kim Loại Kiềm, Hợp Chất Của Kim Loại Kiềm Và Bài Tập
  • Tìm Hiểu Nguyên Lý Làm Việc Của Nhà Máy Điện Hạt Nhân
  • Nhà Máy Điện Hạt Nhân Có Kết Cấu Thế Nào?
  • I. Thành phần cấu tạo nguyên tử

    Từ những kết quả thực nghiệm, người ta chứng minh được xác định thành phần nguyên tử gồm có hạt nhân và lớp vỏ electron.

    1. Lớp vỏ electron

    Lớp vỏ electron gồm các hạt electron mang điện tích âm (-) chuyển động trong không gian xung quanh hạt nhân. Electron kí hiệu là e.

    • Khối lượng: me = 9,1094.10-31 kg
    • Điện tích: qe = -1,602.10-19 C (culông)
    • Điện tích của electron được kí hiệu là – eo và quy ước bằng 1-.

    2. Hạt nhân nguyên tử

    Hạt nhân nguyên tử gồm các hạt proton mang điện tích dương (+) và notron không mang điện. Hạt proton kí hiệu là p, hạt notron kí hiệu là n.

    • Khối lượng proton: mp = 1,6726.10-27 (kg)
    • Điện tích của proton: qp = + 1,602.10-19 C (culông)
    • Khối lượng notron: mn = 1,6748.10-27 (kg)
    • Điện tích của notron: qn = 0

    Như vậy, thành phần cấu tạo nguyên tử gồm:

    – Hạt nhân nguyên tử nằm ở tâm của nguyên tử gồm các hạt proton và notron.

    – Vỏ nguyên tử gồm các electron chuyển động xung quanh hạt nhân.

    Thành phần cấu tạo nguyên tử

    II. Kích thước và khối lượng của nguyên tử

    1. Kích thước nguyên tử

    • Kích thước của nguyên tử: mỗi nguyên tử có kích thước khoảng 10-10 m = 0,1 nm. Nguyên tử nhỏ nhất là nguyên tử H có bán kính r = 0,053 nm.
    • Đường kính của hạt nhân nguyên tử khoảng 10-5 nm.
    • Đường kính của e lectron và proton khoảng 10-8 nm.

    2. Khối lượng nguyên tử

    – Để biểu thị khối lượng của một nguyên tử, phân tử hay các hạt e, p, n, người ta dùng đơn vị khối lượng nguyên tử, kí hiệu là u. u còn được gọi là đvC.

    – 1u = 1/12 khối lượng của 1 nguyên tử đồng vị Cacbon 12. Nguyên tử này có khối lượng là 19,9265.10-27 kg.

    1u = 19,9265.10-27/12 ≈ 1,6605.10-27 kg

    Ví dụ:

    • Khối lượng của 1 nguyên tử H là 1,6738.10-27 ≈ 1u.
    • Khối lượng của 1 nguyên tử C là 9,9265.10-27 = 12 u.

    Bài tập về nguyên tử

    Bài 1. Các hạt cấu tạo nên hạt nhân của hầu hết các nguyên tử là:

    A. Electron và proton

    B. Proton và nơtron

    C. Nơtron và electron

    D. Electron, proton và nơtron

    Chọn đáp án đúng.

    Giải: chọn đáp án B

    Cấu tạo của hầu hết các hạt nhân nguyên tử là proton và nơtron, trừ hạt nhân nguyên tử của hiđro chỉ có proton.

    Bài 2. Các hạt cấu tạo nên hầu hết các nguyên tử là:

    A. Proton và electron

    B. Nơtron và electron

    C. Nơtron và proton

    D. Nơtron, proton và electron

    Giải: chọn đáp án D

    Các hạt cấu tạo nên hầu hết các nguyên tử là nơtron, proton và electron, trừ nguyên tử của hiđro chỉ có proton và electron.

    Bài 3. Nguyên tử có đướng kính lớn gấp khoảng 10 000 lần đường kính hạt nhân. Nếu ta phóng đại hạt nhân lên thành một quả bóng có đường kính 6 cm thì đường kính của nguyên tử sẽ là:

    A. 200 m

    B. 300 m

    C. 600 m

    D. 1200 m

    Giải: chọn đáp án C

    Đường kính nguyên tử sẽ là 6 x 10 000 = 60 000 cm = 600 m.

    Bài 4. Tìm tỉ số về khối lượng của electron sơ với proton và nơtron.

    Giải:

    Tỉ số về khối lượng của electron sơ với proton:

    (9,1095.10-31)/(1,6726.10-27) = 1/1836

    Tỉ số về khối lượng của electron sơ với nơtron:

    (9,1095.10-31)/(1,6748.10-27) = 1/1839

    Bài 5. Nguyên tử kẽm có bán kính r = 1,35.10-1 nm và có khối lượng nguyên tử là 65 u.

    a) Tính khối lượng riêng của nguyên tử kẽm.

    b) Thực tế hầu như toàn bộ khối lượng nguyên tử kẽm tập trung ở hạt nhân với bán kính r = 2.10-6 nm. Tính khối lượng riêng của hạt nhân nguyên tử kẽm.

    Cho biết V hình cầu = 4/3.π.r 3

    Giải:

    1 u = 1,6605.10-27 kg = 1,6605.10-24 g

    Lời Kết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Chuyên Đề Cấu Tạo Nguyên Tử (Lý Thuyết + Bài Tập)
  • Chuyên Đề: Cấu Tạo Nguyên Tử (P1)
  • Giải Sách Bài Tập Hóa Học 8
  • Cấu Tạo Của Kim Loại Và Vị Trí Của Kim Loại Trong Bảng Htth
  • Cách Giải Bài Tập Về Cấu Tạo Chất: Nguyên Tử, Phân Tử Cực Hay.
  • Thành Phần Cấu Tạo Của Thép

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Cấu Tạo Hữu Cơ Của Tư Bản?
  • Cấu Tạo Hữu Cơ Của Tư Bản
  • Phân Loại Câu Theo Cấu Tạo
  • Câu Ghép Là Gì Và Cách Đặt Câu Ghép Cùng Bài Tập Về Câu Ghép
  • Câu Trần Thuật Là Gì? Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Của Câu Trần Thuật
  • Có thể nói các vật liệu sắt, thép, tôn, xà gồ là vật liệu phổ biến, quan trọng nhất hiện nay. Tất cả các ngành nghề lớn nhỏ đều phải dùng trực tiếp hoặc gián tiếp dùng tới những vật liệu này. Vậy thành phần cấu tạo của thép, sắt, xà gồ như thế nào? Mình cùng đi tìm hiểu về chúng nào?

    1/ Đặc tính yêu cầu chung của các loại vật liệu

    Chúng ta ta biết Thép là hợp kim của sắt, cacbon và một số nguyên tố khác. Trên thế giới có hơn 3000 loại thép khác nhau. Hàng năm, để đáp ứng nhu cầu phát triển đa dạng của con người. Các nhà nghiên cứu đã phát minh và sáng chế ra nhiều loại vật liệu khác nhau. Như các loại loại thép mới, tôn, xà gồ… với các tính năng vượt trội. Để đáp ứng nhu nhiều khác nhau của con người.

    – Tính bền: Khả năng chống lại các tác dụng của lực bên ngoài mà không bị phá hỏng.

    – Tính cứng: Khả năng chống lại biến dạng dẻo cục bộ khi có ngoại lực tác dụng lên kim loại thông qua vật nén.

    – Tính chịu nhiệt: Là độ bền của kim loại đối với sự ăn của ôxy trong không khí ở nhiệt độ cao.

    – Khả năng đàn hồi: Là khả năng trở về hình dáng ban đầu của vật liệu sau khi loại bỏ ngoại lực.

    – Tính hàn: Khả năng tạo thành sự liên kết giữa các phần tử khi nung nóng chỗ hàn đến trạng thái chảy hay dẻo.

    – Khả năng chống oxi hóa của môi trường. Như không gỉ, chống ăn mòn trong axit, badơ, muối.

    Như chúng ta đã biết: Thép là hợp kim của sắt, cacbon và các nguyên tố kim loại khác. Xà gồ là những sản phẩm của thép như thép hình U, C, thép hộp…. Tôn là một loại vật liệu được làm từ các tấm kim loại (tấm thép) được phủ một lớp mạ và gia cố thêm các vật liệu chống nóng khác.

    Vậy ta có thể nói cấu tạo chung của các vật liệu chính là cấu tạo của thép.

    Thép chính là hợp kim giữa sắt và cacbon. Với thành phần cacbon không vượt quá 2,14 %. Ngoài ra trong thành phần của thép còn có các kim loại khác như magan, kẽm, nitơ, lưu huỳnh, photpho,…

    Với hàm lượng: C < 2,14%, Mn ≤ 0,8%, Si ≤ 0,4 %, P ≤ 0,05%, S ≤ 0,05%. Ngoài ra có thể có một lượng nhỏ các nguyên tố Cr, Ni, Cu (≤ 0,2 %),W, Mo, Ti (≤ 0,1%).

    Vì vậy để biết về cấu tạo các vật liệu thép, sắt, tôn, xà gồ. Ta cùng đi tìm hiểu về phân loại và thành phần cấu tạo của thép.

    Phân loại thép và tỉ lệ các thành phần kim loại trong thép.

    Theo cách phân loại về thành phần hóa học, chúng ta chia thép thành 2 loại: Thép cacbon và thép hợp kim.

    Cacbon (C): là nguyên tố quan trọng nhất, quyết định tổ chức, tính chất và công dụng của thép. Thép cacbon chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng sản lượng thép khoảng 80% – 90 %. Và các kim loại khác như: Mangan (0,4 – 0,65%), Silic (0,12 – 0,3%), lưu huỳnh, photpho (<0,07%).

    C sẽ làm giảm độ dẻo và độ dai va đập. Khi %C tăng trong khoảng 0,8 – 1% thì độ bền và độ cứng cao nhất nhưng khi vượt qua 1% thì độ bền và độ cứng bắt đầu giảm.

    Theo %C có thể chia thép làm 4 nhóm có cơ tính khác nhau:

    – Thép cacbon thấp (%C ≤ 0,25%): Thép có dẻo, dai nhưng có độ bền và độ cứng thấp.

    – Thép cacbon trung bình (%C từ 0,3 – 0,5%).

    – Thép cacbon tương đối cao (%C từ 0,55 – 0,65%).

    – Thép cacbon cao (%C ≥ 0,7%): Thép có độ cứng cao.

    Đối với thép hợp kim thì có thể phân loại thành các loại sau:

    – Hợp kim thấp: Thành phần các nguyên tố hợp kim trong thép không vượt quá 2,5 %

    – Hợp kim trung bình: Thành phần các nguyên tố hợp kim trong thép chiếm từ 2,5 đến 10 %

    – Hợp kim cao: Thành phần các nguyên tố hợp kim trong thép cao hơn 10 %

    Các nguyên tố: Mn và Si là các tạp chất có lợi, có công dụng khử ôxy. Ngược lại các nguyên tố: P, S là các tạp chất có hại, làm giảm cơ tính của thép. Ảnh hưởng tới chất lượng và phân loại thép.

    Hình ảnh một loại tôn cuộn làm từ thép hợp kim.

    Các hợp kim có vai trò quyết định tính chất của các vật liệu nói chung và thép nói riêng. Chúng được thể hiện như sau:

    CACBON (C): C có mặt trong thép giúp tăng khả năng chịu ăn mòn, tạo đặc tính cứng và bền cho thép.

    NIKEN (Ni): Ni có mặt trong vật liệu giúp thép bền và dẻo dai hơn.

    MANGAN (Mn): Mn được thêm vào thép nhằm khử oxi hóa trong quá trình nấu chảy để ngăn ngừa hình thành các chất bẩn sunfua sắt làm cho thép bị nứt.

    SILIC (Si) và ĐỒNG (Cu): Được thêm vào một lượng nhỏ nhằm chống lại sự ăn mòn của Axit Sunfuric (H2SO4).

    NITƠ (Ni): Khi hàm lượng C thấp sẽ giảm tính bền của thép. Ni được thêm vào trong trường hợp này để tăng thêm độ bền cho thép.

    MOLYDEN (Mo): Là chất phụ gia được thêm vào nhằm chống hiện tượng mòn lỗ chỗ bề mặt vật liệu.

    LƯU HUỲNH (S): S được thêm vào giúp tăng hiệu suất gia công. Tuy nhiên, người ta thêm S với một hàm lượng nhỏ bởi vì sự có mặt của S là một trong những nguyên nhân xuất hiện Sunfua bẩn.

    CROM (Cr): Là thành phần quan trọng giúp thép có khả năng chống lại sự oxi hóa từ môi trường. Thông thường thành phần Cr được điều chỉnh theo một tỉ lệ thích hợp trong hợp kim. Tỉ lệ Cr có mặt trong thép từ 10.5% – 26%. Hàm lượng Cr càng nhiều thì khả năng chống gỉ càng cao. Lớp Cr được thêm vào, giúp tạo ra một lớp màng bảo vệ trong suốt trên bề mặt thép mà mắt thường không nhìn thấy được. Lớp màng này không làm mất đi tính sáng bóng của thép.​

    1/ Thành phần cấu tạo của Tôn

    Thành phần của các loại Tôn dùng trong xây dựng nhà ở chủ yếu được làm bằng thép hoặc nhôm. Các kim loại phụ gia khác như kẽm, đồng và Titan được sử dụng để tăng thêm những tính năng chống gỉ cho vật liệu.

    Tấm lợp ban đầu được sản xuất với dạng ván dài, mỏng. Cuộn thành cuộn lớn ở các nhà máy thép. Sau đó, chúng được phủ một lớp phủ hợp kim để chống gỉ. Rồi sử dụng dòng sơn tốc độ cao, nung ở nhiệt độ cao.

    Cuộn thép đã được sơn vận chuyển đến một nhà sản xuất tấm lợp. Tại đây vật liệu lợp mái được tạo hình bằng cách sử dụng máy ép lớn để dập tạo thành tấm lợp có hình dạng riêng biệt.

    Nhôm lợp cũng được thực hiện một quá trình tương tự ngoại trừ việc không cần trải qua bước phủ lớp phủ kim loại.

    – Mạ kẽm: mạ kẽm 100% tùy thuộc vào yêu cầu sử dụng sản phẩm.

    – Galvalume hoặc Zincalume: Một loại hợp kim của nhôm và kẽm (55 % nhôm và 45% kẽm)

    Độ dày của lớp phủ hợp kim khác nhau phụ thuộc vào ứng dụng của sản phẩm lợp mái trong thực tế. Lớp mạ càng lớn, lớp bảo vệ chống gỉ sét càng kéo dài.

    Tôn cán sóng: Là loại tôn mạ kẽm và được sơn phủ nhằm tạo tính thẩm mỹ cho công trình.

    Như đã tìm hiểu về cấu tạo thép ở trên. Xét về thành phần hóa học thép chia làm 2 loại là thép cacbon và thép hợp kim. Chúng ta có thể xét thêm về ứng dụng của các loại thép này trong các ngành công nghiệp như thế nào?

    Thép hợp kim: Với những ưu điểm vượt trội độ bền, độ sáng bóng và khả năng oxi hóa. Ứng dụng trong lãnh vực gia công cơ khí như: Chế tạo máy, chế tạo dụng cụ, làm khuôn đúc công nghiệp….

    Thép xà gồ chính là các loại thép hình U, C… và các loại thép hộp chữ nhật, thép hộp vuông và thép ống.

    Vì vậy khi xét về cấu tạo xà gồ ta chỉ cần tìm hiểu về cấu tạo của thép phải không nào?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nguyên Tắc Cấu Tạo Cốt Thép Dầm Không Thể Bỏ Qua
  • Soạn Bài Từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt Trang 13 Sgk Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Soạn Bài Từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt (Chi Tiết)
  • Máy Khoan Cầm Tay Bosch Được Cấu Tạo Như Thế Nào?
  • Quy Trình Kiểm Tra Cấu Tạo Bên Trong Máy Cưa Lọng
  • Thuốc Lá Là Gì? Nguồn Gốc, Thành Phần Nguy Hiểm?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuốc Lá Là Gì? Thành Phần Và Tác Hại Của Thuốc Lá
  • Đầu Lọc Thuốc Lá Không Lọc Bớt Chất Độc Hại
  • Thực Hư Chuyện Đầu Lọc Thuốc Lá Có Lợi Hay Có Hại?
  • Máy Hút Thuốc Lá Iqos Là Gì? Lý Do Nên Lựa Chọn Sản Phẩm Này Để Chơi
  • Cai Thuốc Lá Bằng Châm Cứu Tai
  • Những con số đáng báo động về tình hình sử dụng thuốc lá tại Việt Nam

    Bạn có biết thuốc lá có hơn 4,000 hóa chất, trong đó sẽ có hơn 200 hóa chất gây hại đến sức khỏe người hít phải và có hơn 40 chất gây ung thư.

    Nicotine là 1 chất không màu và chuyển thành màu nấu khi cháy và có mùi khi tiếp xúc với không khí. Khi hút thuốc nicotine sẽ được hấp thụ qua da, miệng và niêm mạc mũi và đi vào phổi. 1 điếu thuốc sẽ đưa vào cơ thể khoảng 1 – 2mg nicotine.

    Đây được xem là chất quan trọng cũng như là chất gây nghiện nhất có trong điếu thuốc và cũng là chất mang lại cho ta cảm giác sảng khoái, giải tỏa năng lượng, kích thích hệ thần kinh hoạt động mạnh mẽ.

    Nicotine còn gây đến cho bạn tăng nhịp tim, co thắt mạch máu ở tim, tăng mạch, tăng huyết áp sau khi sử dụng.

    Hay còn được gọi là nhựa thuốc lá, thường có màu đen quánh giống như nhựa đường có đặc điểm dính, nhầy thường bám vào lông mao của phổi làm giảm chức năng của lông mao.

    Khí CO sẽ hấp thụ vào máu sau khi hút thuốc sẽ bám, gắn kết chặt với hemoglobin có trong hồng cầu với ái lực cực mạnh lớn hơn 20 lần Oxy, sẽ chiếm chỗ làm giảm khả năng vận chuyển oxy trong hồng cầu, giảm nồng độ oxy trong máu làm cho máu đặc hơn.

    Khí CO sẽ góp phần hình thành các mảng xơ vữa động mạch đồng thời làm suy giảm hấp thụ các chất dinh dưỡng, ảnh hưởng mạnh mẽ đến tim mạch và các vấn đề tuần hoàn khác.

    Các phần tử nhỏ có trong khói thuốc

    Ngoài những chất phổ biến bên trong khói thuốc còn hàng ngàn chất kích thích dạng khí hay dạng hạt nhỏ mà ta không thể nhận biết bằng mắt thường. Các phần tử nhỏ sẽ làm thay đổi cấu trúc niêm mạc phế phản, làm mất các tế bào có lông chuyển, làm giảm hiệu quả thanh lọc mang đến cảm giác đờm ho sau khi sử dụng.

    Bên trong điếu thuốc có hơn 40 chất gây ung thư như: HCN, Formaldehyde, chì, asen, benzen… Bạn có thể dễ dàng nhận ra các chất này thường xuất hiện bên trong các hoá chất tẩy rửa, diệt sâu bọ…

    Các chất này sẽ tác động mạnh mẽ lên tế bào bề mặt của đường hô hấp mang lại các tình trạng viêm mạn tính, biến đổi tế bào dẫn đến các hậu quả khôn lường.

    Với những thành phần độc hại như thế bạn phần nào cũng hình dung ra được những tác hại mà thuốc lá sẽ mang lại không chỉ người sử dụng mà còn mọi người xung quanh.

    Tác hại của thuốc lá là gì ?

    Bạn có biết tỷ lệ tử vong do khói thuốc ở nước ta cao gấp 4 lần so với số người chết vì tai nạn giao thông chưa?

    Cứ 1 điếu thuốc trôi qua sẽ lấy đi 5,5 phút cuộc sống của bạn. Theo thống kê tuổi thọ của người hút thuốc sẽ ngắn hơn so với người bình thường 8-10 năm.

    Đặc biệt là ung thư phổi đây là 1 trong những tác hại phổ biến nguy hiểm nhất mà khói thuốc mang lại. Các thành phần hoá chất có trong điếu thuốc là nguyên nhân gây nên tổn thương đến các tế bào có trong phổi gây nên ung thư, điển hình là ung thư phổi chiếm đa số.

    Ngoài ung thư phổi thì hút thuốc còn mang đến các loại ung thư khác cũng ko kém phần nguy hiểm như: ung thư vòm họng, yết hầu, bàng quang, thận, dạ dày…

    Hút thuốc sẽ làm tổn thương thành mạch máu, ngoài ra còn giúp cho cholesterol “xấu” hoạt động bám vào thành mạch dẫn đến xơ vữa gây tắc nghẽn mạch máu, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim.

    Các Oxyd Carbon (khí CO) sẽ làm giảm lượng oxy có trong máu, thúc đẩy tim đập nhanh để có thể cung cấp đủ lượng oxy cho cơ thể.

    Ngoài ra khói thuốc còn mang đến các bệnh nguy hiểm khác như: Lão hoá sớm, giảm thị lực, các bệnh về răng miệng, các bệnh về suyễn, loãng xương, đặc biệt nhất là rối loạn cương dương.

    Những con số đáng báo động về tác hại của thuốc lá

    Hơn 40,000 người tử vong vì khói thuốc mỗi năm cao gấp 4 lần so với tỷ lệ người chết vì tai nạn giao thông tại Việt Nam. Con số này sẽ không đứng mà tăng lên từng ngày.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Ngoài Của Lá Cau Tao Ngoai Cua La Ppt
  • Câu Hỏi Của Hà Kiều Mỹ Duyên
  • Lá Côn Xe Hino 700 Đầu Kéo Bản 430
  • Trung Tâm Phụ Tùng Xe Tải Hino
  • Lá Côn Xe Tải Hino Cao Cấp Khẳng Định Thương Hiệu Tại Bắc Nam Auto
  • Cấu Tạo Các Thành Phần Của Hoa

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Nhận Dạng Giống Mai Vàng Yên Tử
  • Cây Hoa Mai: Đặc Điểm, Ý Nghĩa Và Cách Trồng, Chăm Sóc Cây Mai Sau Tết
  • Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Cách Chăm Sóc Hoa Mai Vàng Ra Đúng Dịp Tết
  • Tuần 21. Cấu Tạo Bài Văn Miêu Tả Cây Cối
  • Bài 29. Các Loại Hoa
  • Cấu tạo các thành phần của hoa 1.2.1. Đế hoa Đế hoa là phần đầu tận cùng của cuống hoa, thường phình to ra mang bao hoa và các bộ phận sinh sản. Ở những dạng nguyên thủy, đế hoa thường dài và có dạng hình nón (hoa Ngọc lan ta, Dạ hợp). Trong quá trình phát triển của thực vật, đế hoa có xu hướng thu ngắn lại, trở thành đế phẳng, hoặc có khi lõm lại thành hình chén (Hoa hồng). Có trường hợp đế hoa phát triển thành một bộ phận riêng mang nhụy gọi là cột nhụy (hoa Ngọc lan) hoặc mang cả nhị và nhụy, gọi là cột nhị – nhụy (hoa Lạc tiên, Dâm bụt). Ngoài ra, đế hoa có thể mang một bộ phận dày và nạc gọi là đĩa mật, bao gồm các tuyến mật tập trung lại. Sự có mặt của đĩa mật là một biểu hiện cho sự thích nghi với lối thụ phấn nhờ sâu bọ của một số loài hoa. 1.2.2. Đài hoa (Kalyx – K) Là bộ phận ngoài cùng của hoa và làm nhiệm vụ che chở, các lá đài thường có màu lục, hình dạng giống lá, đôi khi có dạng tam giác, dạng sợi, dạng vảy… và màu sắc tương đối phong phú. Trong một số trường hợp đài có màu sắc giống với cánh hoa. Các lá đài có thể tách rời nhau, gọi là đài phân (hoa Cải, Phượng vĩ…) có thể dính lại Hình 4.1. Sơ đồ cắt dọc của hoa lưỡng tính 1. Đế hoa; 2. Vết gắn các bộ phận bao hoa; 3. Đài hoa; 4. Tràng hoa; 5. Chỉ nhị; 6. Bao phấn; 7. Bộ nhị; 8. Bầu; 9. Vòi nhuỵ; 10. Núm nhuỵ; 11. Bộ nhuỵ (Nguồn: T. Elliot Weier, C. Ralph Stocking, 1982) 90 với nhau, gọi là đài hợp (hoa Rau muống, Dâm bụt), trong trường hợp đó phần dính lại làm thành ống đài, phần trên gọi là thùy của đài, ống đài có thể dài hoặc ngắn và khác nhau tùy loài… Số lượng các lá đài ở trong hoa có thể thay đổi thường là 3 (hoa của thực vật 1 lá mầm); hoặc là 4, 5 (hoa của thực vật 2 lá mầm). Đài hoa có thể rụng trước khi hoa nở (hoa Thuốc phiện), hoặc cùng tồn tại và phát triển với hoa và quả (hoa các cây họ Cà…). Ở một số cây, ngoài vòng đài chính còn có vòng đài phụ (họ Bông…) Về nguồn gốc các đài phụ có thể do các lá kèm của đài biến đổi thành (Hoa hồng) hoặc do các lá bắc con biến đổi thành (các cây trong họ Bông). Đài hoa có thể có những biến đổi đặc biệt: có thể biến đổi thành lông (các cây họ Cúc) hoặc phát triển thành cánh của quả (cây Chò, cây Sao…) để làm bộ phận phát tán quả. Về hình dạng và cấu tạo giải phẫu, đài là bộ phận ít chyên hóa nhất của hoa và gần với lá dinh dưỡng nhất. Nhu mô đồng hóa của các lá đài thường có cấu tạo đồng nhất không phân biệt thành nhu mô giậu và mô xốp, chúng có chức năng bảo vệ hoa và duy trì chức năng quang hợp vì có chứa sẵn lạp lục, số lượng các bó dẫn của đài thường bằng số lượng bó dẫn trong lá dinh dưỡng. 1.2.3. Tràng hoa (Corolla – C) Tràng hoa là bộ phận phía trong của đài, thường có màu sắc sặc sỡ và có hương thơm để hấp dẫn sâu bọ giúp cho sự thụ phấn. Tràng hoa thường gồm những mảnh có màu gọi là cánh hoa (cánh tràng). Màu sắc của cánh hoa có thể do các chất antoxyan hoà tan trong dịch tế bào, hoặc do các chất màu chứa trong các lạp màu. Cánh hoa trong một số trường hợp có thể có hương thơm do biểu bì tiết ra các chất dầu thơm (hoa Hồng, Nhài, Ngọc lan, Bưởi…). Số lượng các cánh hoa ở các họ thực vật ở mức tiến hoá thấp, thường nhiều và không cố định. Nhưng ở các họ thực vật ở mức tiến hoá cao hơn, số lượng cánh hoa đã giảm xuống và thường là 4,5 hay bội số của 4,5 (hoa cây thực vật 2 lá mầm) hoặc 3 hay bội số của 3 (hoa cây thực vật 1 lá mầm). Số lượng cánh hoa thường tương ứng với là đài, từ đó ta có các khái niệm về hoa mẫu 3, mẫu 4, mẫu 5. Hình 4.2. Một số kiểu đài hoa 1,2. Đài hợp hình ống; 3. Đài phụ và đài chính đều, hợp; 3. Đài hình môi; 5. Đài biến đổi thành lông; 6. Đài đồng trưởng; 7. Đài rời, đều. (Nguồn: Denis Bach, 1945) 91 Về kích thước, các cánh tràng thường có kích thước lớn hơn đài hoa. Mỗi cánh hoa thường gồm một phiến rộng ở phía trên, gọi là phiến và một phần thu hẹp ở dưới gọi là móng (hoa Phượng vĩ). Các cánh hoa có thể tách rời nhau (cánh phân); hoặc dính nhau (cánh hợp) tạo thành ống tràng ở phía dưới và phía trên rời nhau gọi là các thùy tràng, thùy tràng có số lượng tương ứng với số mảnh cánh hoa đã dính lại. Tùy theo mức độ và các kiểu dính nhau tràng hợp có thể hình ống (hoa cây họ Cúc), hình phễu (hoa Rau muống, Bìm bìm), hình đinh (hoa Trang), hình bánh xe (hoa các cây họ Cà), hình môi (các cây họ Hoa môi); hình thìa lìa (các cây họ Cúc)… Đài và tràng kết hợp với nhau tạo thành bao hoa (perigonium – P), thường bao hoa có thể phân hóa thành đài và tràng rõ rệt, nhưng trong một số trường hợp chưa phân hóa rõ, các bộ phận của bao hoa đều giống lá đài (hoa Dừa) và các bộ phận của bao hoa giống với cánh tràng (hoa Huệ…). Khi hoa nở, các cánh hoa rời cũng như các thùy tràng (trong trường hợp hoa cánh hợp) có thể giống nhau về hình dạng và kích thước (hoa đều) cũng có thể khác nhau (hoa không đều). Trong một số trường hợp, các cánh hoa có thể mang các phần phụ hình vảy hoặc hình sợi (hoa Trúc đào, hoa Lạc tiên…) những phần phụ này có thể phát triển thành một tràng phụ (hoa Thiên lý, hoa Náng trắng…). Đôi khi các cánh hoa lai kéo dài thành một cái cựa, có thể chứa tuyến mật (hoa Phong lan). Về mặt cấu tạo giải phẫu, các cánh hoa thường mỏng hơn lá đài thường gồm 3 hoặc 4 lớp tế bào, đôi khi chỉ gồm 2 lớp biểu bì trên và dưới, giữa 2 lớp biểu bì là các tế bào không chứa diệp lục, giữa các tế bào có các khoảng gian bào. Các cánh hoa thường chỉ có một bó mạch. Hình 4.3. Các kiểu tràng hoa rời 1.Tràng hình hoa hồng; 2. Tràng hình hoa cẩm chướng; 3A.B. Tràng hình chữ thập; 4. A.B. Tràng hình bướm; 5. Tràng hình hoa lan. (Nguồn: Denis Bach, 1945) 92 1.2.4. Nhị hoa (Androeceum – A) Nhị hoa là cơ quan sinh sản đực của hoa, tập hợp các nhị ở trong hoa hình thành nên bộ nhị. Số lượng nhị trong bộ nhị có thể thay đổi: từ rất nhiều trong các họ thấp (Ngọc lan, Sen, Súng, Hoa hồng), giảm đi và cố định ở các họ tiến hoá hơn, số lượng các nhị thường là 4,5 hoặc bội số của 4,5 (thường gặp ở các cây thực vật 2 lá mầm) và 3 hoặc bội số của 3 (Thường gặp ở các cây thực vật 1 lá mầm) cũng có khi giảm xuống chỉ còn 1 (họ Gừng) hoặc 1/2 (họ Hoàng tinh). Nhị hoa trong trường hợp điển hình thường gồm 2 phần chính: Chỉ nhị và bao phấn, bao phần thường gồm hai ô phấn (nửa bao phấn) ngăn cách với nhau bởi trung đới. Những nhị có chỉ nhị loe rộng hoặc hình bản có thể có nhiều bó dẫn hơn (3 – 5 hoặc 7 bó). Hình 4.5. Cấu tạo một nhị hoa chúng tôi phấn; 2. Chỉ nhị A. Bao phấn đính gốc B. Bao phấn đính lưng a. Chỉ nhị: Thường đính trên đế hoa, hoặc có khi đính trên tràng (thường gặp ở những hoa có cánh hợp), chỉ nhị có thể dài hoặc ngắn, trong một số trường hợp chỉ nhị rất ngắn khiến cho bao phấn gần như đính trực tiếp trên đế hoa. Chỉ nhị có thể đơn hoặc phân nhánh, trên mặt cắt ngang chỉ nhị có hình tròn hoặc trái xoan, hoặc đôi khi có dạng bản dẹp như lá. Cấu tạo của chỉ nhị rất đơn giản: phía ngoài có biểu bì bao bọc, dưới biểu bì thường có 2 – 3 lớp tế bào mô mềm, màng mỏng. Một bó dẫn duy nhất nhất nằm ở giữa, trong đó libe phát triển kém hơn,sau đó bó dẫn tiếp tục chạy và trung đới, đôi khi ở đó nó được phân nhánh ra b. Trung đới Là phần kéo dài của chỉ nhị vào trong bao phấn, nó ngăn cách giữa 2 nửa bao phấn. Đôi khi trung đới có thể kéo dài vượt quá bao phấn tạo thành một mào lông (như ở hoa Trúc đào) hoặc thành một tuyến (gạo sen ở hoa Sen). c. Bao phấn Bao phấn có nhiều hình dạng khác nhau: hình tròn, hình thận, hình thuôn dài, hình mũi tên… Mỗi bao phấn thường gồm 2 (hoặc1) nửa bao phấn (ô phấn). Mỗi nửa bao phấn khi còn non thường gồm 2 túi phấn bên trong chứa hạt phấn nhưng khi chín, 2 túi phấn đó thường thông với nhau thành một. Như vậy, túi phấn tương đương với túi bào tử nhỏ ở thực vật hạt trần. Khi bao phấn chín, thường nứt theo nhiều kiểu khác nhau: kiểu nứt dọc (phổ biến ở nhiều cây) hoặc mở ra bằng lỗ ở đỉnh (một số cây trong họ Cà) hoặc mở bằng các mảnh van như lưỡi gà (các cây trong họ Long não). Trong trường hợp bao phấn nứt dọc, kẽ nứt có thể quay vào phía trong, đó là bao phấn hướng trong, kẽ nứt quay ra phía ngoài gọi là bao phấn hướng ngoài. Bao phấn được đính vào chỉ nhị theo nhiều kiểu khác nhau: bao phấn đính gốc – bao phấn thường nằm trên đỉnh của chỉ nhị; bao phấn đính lưng – bao phấn đính vào chỉ nhị ở một điểm của trung đới và phần lưng của bao phấn nằm trên đỉnh của chỉ nhị. + Cấu tạo của bao phấn và hạt phấn Hình 4.6. Một số kiểu nứt của bao phấn 1,2. Nứt dọc; 3-6. Các kiểu nứt lỗ; 7,9. Nứt lưỡi gà (Nứt van); 8. Nứt ngang. 94 Bao phấn: màng bao phấn gồm nhiều lớp tế bào bao lấy các nửa bao phấn (ô phấn); lớp ngoài cùng của bao phấn là các tế bào biểu bì – đó là những tế bào nhỏ, dẹp. Dưới biểu bì là những tế bào vòng cơ, gồm những tế bào có màng dày hóa gỗ hình chữ V, còn mặt ngoài vẫn bằng cellulose, các tế bào này giúp cho việc mở bao phấn. Lớp trong cùng của vách bao phấn là tầng nuôi dưỡng, tầng này nằm sát ngay ô phấn và tham gia vào việc nuôi dưỡng tế bào mẹ hạt phấn cũng như hạt phấn sau này, các tế bào của tầng nuôi dưỡng có kích thước tương đối lớn, màng mỏng và rất giàu chất tế bào. Hạt phấn: hạt phấn được hình thành từ các tế bào mẹ hạt phấn (nguyên bào tử). Mỗi tế bào mẹ hạt phấn, bằng hình thức phân chia giảm nhiễm cho ra 4 bào tử, tức 4 hạt phấn đơn bội. Hạt phấn thường có dạng hình cầu, kích thước vào khoảng 10 – 15 m, thường có màu vàng nhạt. Về mặt cấu tạo, hạt phấn thường có 2 lớp màng, lớp màng ngoài dày, bằng cutin, trên bề mặt có những khe rãnh lỗ gọi là lỗ nảy mầm, số lượng rãnh và lỗ thay đổi khác nhau tùy từng loài, ở một số cây thuộc họ Cúc, họ Bông mặt ngoài thường có những gai nhỏ; lớp màng trong của hạt phấn thường mỏng hơn và bằng pectin, thường dày lên trước các lỗ nảy mầm. Bên trong hạt phấn là 2 tế bào: tế bào dinh dưỡng lớn – về sau sẽ phát triển thành ống phấn, tế bào nhỏ hơn là tế bào phát sinh sau sẽ cho ra 2 tinh tử, hạt phấn ở giai giai đoạn phát triển thành 2 tế bào như vậy tương ứng với thể giao tử đực.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trắc Nghiệm Sinh Học 10 Bài 29 Có Đáp Án.
  • Trẻ Rụng Tóc Sau Gáy
  • Bò Sát Tự Luận:câu 1:đặc Điểm Cấu Tạo Ngoài Của Thằn Lằn Thích Nghi Với Đời Sống Ở Cạn Câu 2:trình Bày Những Đặc Điểm Cấu Tạo Trong Của Thằn Lằn Thích Nghi Vớ
  • Đau Sau Gáy Cổ Báo Hiệu Bệnh Gì?
  • Đau Sau Gáy: Triệu Chứng, Nguyên Nhân, Chẩn Đoán, Chữa Trị
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100