Top 20 # Xem Nhiều Nhất So Sánh Cấu Tạo Của Phổi Phải Và Phổi Trái / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Giải Thích Cấu Tạo Của Phổigiải Thik Cấu Tạo Của Phổi / 2023

Phổi là cơ quan chính của hệ hô hấp, nơi trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường. Phổi có tính chất đàn hồi, xốp và mềm. Hai phổi phải và trái nằm trong lồng ngực, cách nhau bởi trung thất. Phổi phải lớn hơn phổi trái.Dung tích bình quân của phổi khoảng 5000ml khi hít vào gắng sức.

I. Hình thể ngoài

Phổi có dạng một nửa hình nón, được treo trong khoang màng phổi bởi cuống phổi và dây chằng phổi.

Phổi có hai mặt, một đỉnh, một đáy và hai bờ. Mặt sườn lồi, áp vào thành ngực. Mặt trong là giới hạn hai bên của trung thất. Đáy phổi còn gọi là mặt dưới, áp vào cơ hoành.

2. Đỉnh phổi

Nhô lên khỏi lỗ trên của lồng ngực.

Phía sau, đỉnh phổi ngang mức đầu sau xương sườn I. Phía trước, đỉnh phổi cao hơn phần trong xương đòn khoảng 3cm.

3. Mặt sườn

3.1. Đặc điểm chung của hai phổi

– Áp sát mặt trong lồng ngực, có vết ấn của các xương sườn.

– Có khe chếch chạy từ ngang mức gian sườn 3 ở phía sau xuống đáy phổi, chia phổi ra thành các thùy phổi. Mặt các thùy phổi áp vào nhau gọi là mặt gian thùy.

– Trên bề mặt phổi có các diện hình đa giác to, nhỏ khác nhau; đó là đáy của các tiểu thuỳ phổi là đơn vị cơ sở của phổi.

3.2. Đặc điểm riêng của từng phổi

– Phổi phải có thêm khe ngang, tách từ khe chếch, ngang mức gian sườn 4, nên phổi phải có ba thuỳ: trên, giữa và dưới.

– Phổi trái chỉ có khe chếch, nên phổi trái chỉ có hai thuỳ: trên và dưới. Ở phía trước dưới thuỳ trên, có một mẫu phổi lồi ra goi là lưỡi của phổi trái, ứng với phần thuỳ giữa của phổi phải.

4. Mặt trong

ặt trong hơi lõm, gồm hai phần:

– Phần trước quây lấy các tạng trong trung thất, gọi là phần trung thất. Ở phổi phải, có một chỗ lõm gọi là ấn tim; còn phổi trái, có một hố sâu gọi là hố tim.

+ Giữa mặt trong của hai phổi, có rốn phổi hình vợt, cán vợt quay xuống dưới. Trong rốn phổi có các thành phần của cuống phổi đi qua như: phế quản chính, động mạch phổi, hai tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, các dây thần kinh và hạch bạch huyết.

Ở rốn phổi phải, động mạch phổi nằm trước phế quản chính; còn ở phổi trái động mạch nằm trên phế quản chính. Hai tĩnh mạch phổi nằm trước và dưới phế quản chính.

+ Phía sau rốn phổi có rãnh tĩnh mạch đơn và ấn thực quản ở phổi phải và rãnh động mạch chủ ở phổi trái.

+ Phía trên rốn phổi có rãnh động mạch dưới đòn và rãnh thân tĩnh mạch cánh tay đầu.

5. Các bờ

5.1. Bờ trước

Là ranh giới giữa mặt sườn và mặt hoành. Bờ trước nằm gần đường giữa, kéo dài từ đỉnh phổi đến đầu trong sụn sườn VI ở phổi phải, ở phổi trái có khuyết tim nên bờ trước kéo dài từ đỉnh phổi đến đầu trong sụn sườn số IV thì vòng ra ngoài đến sụn sườn VI.

5.2. Bờ dưới

Gồm hai đoạn:

+ Đoạn cong là ranh giới giữa mặt sườn và mặt hoành. Đoạn này lách sâu vào ngách sườn hoành.

+ Đoạn thẳng là ranh giới giữa mặt trong và mặt hoành.

Sự phân chia của động mạch phổi

2.1. Thân động mạch phổi

Thân động mạch phổi bắt đầu đi từ lỗ động mạch phổi của tâm thất phải lên trên, sang trái và ra sau. Khi tới bờ sau quai động mạch chủ thì chia thành động mạch phổi phải và động mạch phổi trái.

2.2. Động mạch phổi phải

– Đi ngang sang phải, chui vào rốn phổi phải ở trước phế quản chính, rồi ra phía ngoài và cuối cùng ở sau phế quản.

– Động mạch phổi phải cho các nhánh bên có tên gọi tương ứng với các thùy hoặc phân thuỳ mà nó cấp huyết:

+ Nhánh động mạch thuỳ trên: chia các nhánh đỉnh, nhánh sau xuống, nhánh trước xuống, nhánh trước lên, nhánh sau lên.

+ Nhánh động mạch thuỳ giữa: chia các nhánh bên và nhánh giữa.

+ Nhánh động mạch thuỳ dưới: chia các nhánh đỉnh của thuỳ dưới, nhánh đáy giữa, nhánh đáy trước, nhánh đáy bên, nhánh đáy sau.

2.3. Động mạch phổi trái

– Ngắn và nhỏ hơn động mạch phổi phải, đi chếch lên trên sang trái, bắt chéo mặt trước phế quản chính trái, chui vào rốn phổi ở phía trên phế quản thuỳ trên trái.

– Động mạch phổi trái cũng cho các nhánh bên tương tự động mạch phổi phải, nhưng cũng có một vài điểm khác biệt:

+ Chỉ có một nhánh sau của thùy trên.

+ Nhánh ứng thùy giữa gọi là nhánh lưỡi, chia làm 2 là nhánh lưỡi trên và dưới.

3. Sự phân chia của tĩnh mạch phổi

– Hệ thống lưới mao mạch phế nang đổ vào tĩnh mạch quanh tiểu thùy, rồi tiếp tục thành những thân lớn dần cho tới các tĩnh mạch gian phân thùy hoặc tĩnh mạch trong phân thùy, các tĩnh mạch thùy, và cuối cùng họp thành hai tĩnh mạch phổi ở mỗi bên phổi, dẫn máu giàu ôxy đổ về tâm nhĩ trái. Hệ thống tĩnh mạch phổi không có van.

– Ngoài các tĩnh mạch đi trong các đơn vị phổi như động mạch, các tĩnh mạch phổi thường đi ở chu vi hoặc ranh giới giữa các đơn vị phổi.

– Hai tĩnh mạch phổi phải trên và trái trên nhận khoảng 4 hoặc 5 tĩnh mạch ở thuỳ trên (và giữa).

– Hai tĩnh mạch phổi phải dưới và trái dưới nhận toàn bộ các tĩnh mạch của thuỳ dưới.

4. Động mạch và tĩnh mạch phế quản

– Là thành phần dinh dưỡng của phổi.

– Động mạch phế quản nhỏ, là nhánh bên của động mạch chủ. Thường có một động mạch bên phải và hai ở bên trái.

– Tĩnh mạch phế quản đổ vào các tĩnh mạch đơn, một số nhánh nhỏ đổ vào tĩnh mạch phổi.

5. Bạch huyết

Gồm nhiều mạch bạch huyết chạy trong nhu mô phổi, đổ vào các hạch bạch huyết phổi, cuối cùng đổ vào các hạch khí quản trên và dưới ở chổ chia đôi của khí quản.

6. Thần kinh

– Hệ thần kinh giao cảm: xuất phát từ đám rối phổi.

– Hệ phó giao cảm: các nhánh của dây thần kinh lang thang.

III. Màng phổi

Là một bao thanh mạc gồm hai lá: màng phổi thành và màng phổi tạng. Giữa hai lá là ổ màng phổi, hai ổ màng phổi riêng biệt không thông với nhau.

1. Màng phổi tạng

Màng phổi tạng mỏng, trong suốt bao phủ toàn bộ bề mặt của phổi, ngoại trừ rốn phổi và dính chặt vào nhu mô phổi, lách cả vào các khe gian thuỳ. Ở rốn phổi, màng phổi tạng quặt ra để liên tiếp với màng phổi thành.

2. Màng phổi thành

Màng phổi thành phủ lên toàn bộ các thành của khoang chứa phổi. Bao gồm:

– Màng phổi sườn: áp sát vào mặt trong lồng ngực, ngăn cách với thành ngực bởi lớp mô liên kết mỏng gọi là mạc nội ngực.

– Màng phổi trung thất: là giới hạn bên của trung thất đi từ xương ức phía trước đến cột sống phía sau, áp sát phần trung thất của màng phổi tạng. Ở rốn phổi, màng phổi thành quặt lên liên tục với màng phổi tạng. Ranh giới của đường quặt này không chỉ bao quanh cuống phổi mà còn kéo dài xuống dưới đến tận cơ hoành và các cơ quan lân cận. Chính vì vậy rốn phổi có hình chiếc vợt, cán vợt quay xuống dưới là phần mà màng phổi dính với nhau tạo nên dây chằng phổi.

– Màng phổi hoành: phủ lên mặt trên cơ hoành. Phần mạc nội ngực ở đây được gọi là mạc hoành màng phổi.

– Đỉnh màng phổi là phần màng phổi thành tương ứng với đỉnh phổi. Phần mạc nội ngực ở đây được gọi là màng trên màng phổi. Đỉnh màng phổi được các dây chằng treo đỉnh màng phổi cố định vào cột sống cổ, xương sườn, xương đòn.

– Ngách màng phổi: được tạo bởi hai phần của màng phổi thành. Có hai ngách màng phổi chính :

+ Ngách sườn hoành: do màng phổi sườn gặp màng phổi hoành.

+ Ngách sườn trung thất: do màng phổi sườn gặp màng phổi trung thất.

3. Ổ màng phổi

– Hai lá màng phổi liên tục với nhau ở rốn phổi giới hạn nên một khoang là ổ màng phổi. Bình thường hai lá màng phổi tiếp xúc với nhau nên ổ màng phổi là một khoang ảo.

– Mỗi phổi có một ổ màng phổi kín, riêng biệt, không thông nhau.

4. Mạch máu và thần kinh của màng phổi

– Động mạch: màng phổi thành được cấp máu bởi những nhánh của các động mạch kế cận: động mạch ngực trong, các động mạch gian sườn, các nhánh trung thất và các động mạch của cơ hoành. Màng phổi tạng được cấp máu từ các động mạch phế quản.

– Tĩnh mạch: đi kèm với động mạch.

– Thần kinh: màng phổi sườn được chi phối bởi các thần kinh gian sườn, màng phổi trung thất và màng phổi sườn được chi phối bởi những nhánh cảm giác của thần kinh hoành. Màng phổi tạng được chi phối thần kinh từ đám rối phổi.

Phổi Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo, Chức Năng Của Phổi / 2023

Từ lúc sinh ra đến lúc trút hơi thở cuối cùng, phổi luôn làm việc cật lực để cung cấp đủ oxy cho tế bào trong cơ thể con người. Ấy thế nhưng, đại đa số nhiều người lại không hề biết phổi nằm ở đâu và có cấu tạo như thế nào?

Phổi có tính chất đàn hồi, mềm và xốp; ở người bình thường gồm có 2 lá phổi và được cấu tạo bởi các thùy. Phổi trái thường nhỏ hơn phổi phải. Dung tích của mỗi phổi khoảng 5000 ml khi hít vào gắng sức. Phổi có hình thể gồm mặt ngoài, mặt trong và màng phổi.

Hình thể bên ngoài của phổi

Phổi có dạng một nửa hình nón được treo trong khoang màng phổi bởi dây chằng phổi và cuống phổi. Phổi có ba mặt, một đỉnh, hai bờ. Mặt ngoài phổi lồi, áp vào thành ngực còn mặt trong giới hạn hai bên của trung thất, mặt dưới gọi là đáy phổi được áp vào cơ hoành.

Nhô lên khỏi xương sườn I. Phía sau, đỉnh phổi ngang mức đầu sau xương sườn I, còn phía trước thì ở trên phần trong xương đòn khoảng 3cm.

Ðặc điểm chung của hai phổi: áp sát mặt trong lồng ngực, có vết ấn của các xương sườn. Mặt sườn có khe chếch bắt đầu từ ngang mức gian sườn 3 ở phía sau chạy xuống đáy phổi, chia phổi ra thành các thuỳ phổi. Mặt các thuỳ phổi áp vào nhau gọi là mặt gian thuỳ. Trên bề mặt phổi có các diện hình đa giác to, nhỏ khác nhau; đó là đáy của các tiểu thuỳ phổi – đơn vị cơ sở của phổi.

Ðặc điểm riêng của từng phổi: phổi phải có thêm khe ngang, đi từ khe chếch, ngang mức khoảng gian sườn 4 chạy ngang ra trước, nên phổi phải có ba thuỳ là thùy trên, thùy giữa và thùy dưới. Phổi trái chỉ có khe chếch, nên phổi trái chỉ có hai thuỳ là thùy trên và thùy dưới. Ở phía trước dưới thuỳ trên, có một mẫu phổi lồi ra gọi là lưỡi của phổi trái, tương ứng với thuỳ giữa của phổi phải.

Mặt trong của phổi được cấu tạo bởi các thành phần đi qua rốn phổi, phân chia nhỏ dần trong phổi. Bao gồm cây phế quản, động mạch và tĩnh mạch phế quản, động mạch và tĩnh mạch phổi, các sợi thần kinh, các mô liên kết và bạch mạch.

Phế quản chính chui vào rốn phổi và chia thành các phế quản thuỳ. Mỗi phế quản thuỳ dẫn khí cho một thuỳ phổi và lại chia thành các phế quản phân thuỳ, dẫn khí cho một phân thuỳ phổi. Phế quản phân thuỳ chia ra các phế quản hạ phân thuỳ và lại chia nhiều lần nữa cho tới phế quản tiểu thuỳ, dẫn khí cho một tiểu thuỳ phổi.

Là thành phần dinh dưỡng của phổi.

Ðộng mạch phế quản nhỏ, là nhánh bên của động mạch chủ. Thường có một động mạch bên phải và hai ở bên trái.

Tĩnh mạch phế quản đổ vào các tĩnh mạch đơn, một số nhánh nhỏ đổ vào tĩnh mạch phổi.

Hệ thống lưới mao mạch phế nang đổ vào tĩnh mạch quanh tiểu thuỳ; rồi tiếp tục thành những thân lớn dần cho tới các tĩnh mạch gian phân thuỳ hoặc tĩnh mạch trong phân thuỳ; các tĩnh mạch thuỳ; và cuối cùng họp thành hai tĩnh mạch phổi ở mỗi bên phổi, dẫn máu giàu ôxy đổ về tâm nhĩ trái. Hệ thống tĩnh mạch phổi không có van.

Thân động mạch phổi: Bắt đầu đi từ lỗ động mạch phổi của tâm thất phải, lên trên, sang trái và ra sau. Khi tới bờ sau quai động mạch chủ thì chia thành động mạch phổi phải và động mạch phổi trái.

Ðộng mạch phổi phải: đi ngang sang phải, chui vào rốn phổi phải ở trước phế quản chính; rồi ra phía ngoài và cuối cùng ở sau phế quản.

Ðộng mạch phổi trái: ngắn và nhỏ hơn động mạch phổi phải, đi chếch lên trên sang trái, bắt chéo mặt trước phế quản chính trái; chui vào rốn phổi ở phía trên phế quản thuỳ trên trái.

Gồm nhiều mạch bạch huyết chạy trong nhu mô phổi, đổ vào các hạch bạch huyết phổi; cuối cùng đổ vào các hạch khí quản trên và dưới ở chổ chia đôi của khí quản.

Thần kinh đến phổi gồm:

Hệ thần kinh giao cảm xuất phát từ đám rối phổi.

Hệ phó giao cảm các nhánh của dây thần kinh lang thang.

Màng phổi là một thanh mạc gồm hai lá: Màng phổi tạng và màng phổi thành. Giữa hai lá là hai ổ màng phổi, hai bên phải và trái riêng biệt nhau.

Bao phủ toàn bộ bề mặt và dính chặt vào nhu mô phổi, lách cả vào các khe gian thuỳ. Ở rốn phổi, màng phổi tạng quặt ra để liên tiếp với màng phổi thành.

Lót mặt trong lồng ngực và tạo nên túi màng phổi, bao gồm:

Màng phổi trung thất: là giới hạn bên của trung thất, áp sát phần trung thất của màng phổi tạng.

Màng phổi sườn: áp sát vào mặt trong lồng ngực; ngăn cách với thành ngực bởi lớp mô liên kết mỏng gọi là mạc nội ngực.

Cuối cùng là màng phổi hoành: phủ lên mặt trên cơ hoành. Phần mạc nội ngực ở đây được gọi là mạc hoành màng phổi.

Ðỉnh màng phổi là phần màng phổi thành tương ứng với đỉnh phổi.

Ngách màng phổi: được tạo bởi hai phần của màng phổi thành. Có hai ngách màng phổi chính:

Ngách sườn hoành: do màng phổi sườn gặp màng phổi hoành.

Ngách sườn trung thất: do màng phổi sườn gặp màng phổi trung thất.

Ở màng phổi có đặc tính:

Là một khoang ảo nằm giữa màng phổi thành và màng phổi tạng.

Mỗi phổi có một ổ màng phổi kín, riêng biệt, không thông nhau.

Phổi có chức năng sinh lý là thực hiện trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường bên ngoài. Quá trình trao đổi khí được thực hiện trên toàn bộ mặt trong của các phế quản. Để có thể vận chuyển được các vật thể lạ ra bên ngoài thì các phế nang có niêm mạc bao phủ phải luôn rung chuyển.

Theo đó là các tế bào phổi có chức năng giúp cơ thể duy trì cuộc sống tế bào biểu mô và tế bào nội mô. Những tế bào phổi sẽ tạo nên một hàng rào có công dụng ngăn chặn nước và các phân tử đi qua nhiều vào mô kẽ. Đồng thời, tham gia vào những quá trình vận chuyển và tổng hợp nhiều chất quan trọng.

Phổi nằm ở đâu trong cơ thể con người?

Trong cơ thể, phổi có chức năng chính làm nhiệm vụ vận chuyển khí oxy từ môi trường bên ngoài vào nuôi các tế bào trong cơ thể và đẩy khí cabonic độc hại ra ngoài.

Trong mỗi người, phổi gồm có hai buồng phổi. Vị trí giải phẫu của phổi nằm bên trong lồng ngực được bao bọc bởi các xương sườn xung quanh. Phía dưới phổi có cơ hoành ngăn giữa phổi với các cơ quan khác trong ổ bụng như dạ dày, gan và lá lách.

Giữa hai buồng phổi là khí quản. Khí quản phân chia ra làm nhánh phế quản chính; quả tim nằm giữa hai phổi là trung thất, hơi trệch về bên trái.

Nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của phổi

Với chức năng chính là trao đổi khí giữa cơ thể với môi trường bên ngoài nên phổi dễ bị vi khuẩn, virus, nấm và ký sinh trùng xâm nhập gây ho khan hoặc ho có đờm, khó thở. Các bệnh lý thường gặp là , viêm phổi, viêm phế quản cấp , viêm phế quản mãn tính, lao phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính,…

Vì vậy, để phổi luôn được khỏe mạnh mỗi người chúng ta nên chú ý việc tránh các tác nhân gây bệnh. Ví dụ như tiếp xúc với khói bụi, khói thuốc lá, mùi hóa chất,… Đặc biệt, tăng cường sử dụng các loại thực phẩm dinh dưỡng đầy đủ; luyện tập thể dục hàng ngày sẽ giúp phổi hạn chế được nguy cơ nhiễm bệnh hoặc tăng nặng bệnh.

Qua những thông tin được cung cấp ở trên, hi vọng bạn đọc đã nắm rõ được vị trí phổi nằm ở đâu trong cơ thể con người. Cũng như hình thể và chức năng sinh lý của phổi. Mong rằng những thông tin này cũng giúp bạn đọc biết tầm quan trọng của phổi đối với cơ thể người; và có ý thức bảo vệ sức khỏe phổi tốt hơn. Ngoài ra bạn cũng cần tham khảo ngay những bài thuốc chữa viêm phổi, viêm phế quản hiệu quả để có thể phòng ngừa và điều trị.

Bước 1: Sử dụng kháng sinh

Theo chúng tôi Nguyễn Trọng Nghĩa (Giảng viên ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh) thì việc điều trị viêm phổi cần tiến hành theo các bước sau:

Bước 2: Uống nhiều nước

Dùng nhóm thuốc trị viêm phổi: Penicillin, macrolid cephalosporin, nhóm quinolone (levofloxacin, ciprofloxacin, moxifloxacin) từ 7-10 ngày giúp hạ nhiệt, giảm ho, giảm đau nhức.

Bước 3: Kiểm soát cơn sốt

Các triệu chứng sốt, ớn lạnh hay đổ mồ hôi nhiều là dấu hiệu mất nước do đó người mắc bệnh viêm phổi cần uống đủ nước. Trong trường hợp mất nước nghiêm trọng, bệnh nhân cần nhập viện.

Các bài thuốc có nguồn gốc tự nhiên sẽ giúp loại bỏ độc tố trong cơ thể, trị tận gốc nguyên nhân viêm phổi từ đó tăng cường sức đề kháng, phòng tránh tái phát. Theo đó lộ trình này, bệnh nhân nên lựa chọn bài thuốc Cao Bổ Phế Tâm Minh Đường – sản phẩm giúp trị viêm phổi một cách khoa học.

Cao Bổ Phế được điều chế từ 8 vị thuốc được ví “bát dược bổ phế” cực quý hiếm cát cánh, trần bì, la bạc tử, kim ngân hoa, tang bạch bì, bách bộ, cải trời kinh giới. Trong đó vị thuốc chủ dược chính là trần bì (vỏ quýt khô) thảo dược kinh điển có tác dụng tạo trệ tiêu đàm, bổ khí huyết, phế khí, trừ hàn nhiệt.

Nhờ sự cẩn trọng, tỉ mỉ từ khâu lựa chọn nguyên liệu cho tới khâu điều chế nên chỉ sau 2 – 3 liệu trình sử dụng Cao Bổ Phế trị viêm phổi bệnh nhân sẽ nhận được hiệu quả tích cực:

Cao giúp thanh nhiệt, tiêu viêm, giải độc đồng thời giảm thiểu triệu chứng viêm nhiễm, ho, khó thở, đau ngực do bệnh viêm phổi gây nên.

Tăng cường kháng thể IFN -y- trọng yếu ngăn ngừa virus, vi khuẩn nguyên nhân chính gây bệnh viêm phổi.

Chức năng Tạng – Tỳ – Phế được phục hồi, bệnh viêm phổi nhanh chóng cải thiện và duy trì sức khỏe tốt khi ngưng sử dụng cao.

Phổi: Vị Trí, Đặc Điểm, Cấu Tạo, 14 Bệnh Phổi Thường Gặp / 2023

Phổi (tiếng Anh: lung, tiếng Hindi: फेफड़ा) là một cơ quan thuộc hệ hô hấp. Phổi có trách nhiệm trao đổi không khí, đưa khí oxy vào trong máu để đưa tới não và các cơ quan cơ thể, đồng thời đẩy khí carbon dioxide (CO2) ra ngoài môi trường. 

Vị trí của phổi, phổi nằm ở đâu

Phổi nằm ở bên trong lồng ngực, xung quanh được bao bọc bởi xương sườn, xương ức, xương đòn và các cơ. Phổi được ngăn cách với các cơ quan vùng bụng (gan, lách, dạ dày) bằng cơ hoành ở bên dưới. Không khí được đưa vào cơ thể qua khí phản ở giữa hai buồng phổi. Khí quản rẽ nhánh qua phế quản trái và phải. Phế quản trái và phải sẽ dẫn vào lá phổi trái và lá phổi phải. Hai lá phổi nằm bên trong ổ màng phổi. Tim nằm giữa hai lá phổi, ở vị trí trung thất, hơi lệch về bên trái. 

Cấu tạo, đặc điểm của phổi

Phổi – cấu tạo hình thể ngoài

Giải phẫu phổi

Phổi là cấu trúc nửa hình nón, được treo trong ổ màng phổi bởi cuống phổi và các dây chằng. Phổi có tạng xốp và đàn hồi. Khi giải phẫu, phổi trẻ em màu hồng, còn phổi người lớn có màu xanh hoặc xám. 

Thể tích phổi

Thể tích phổi phụ thuộc vào lượng khí (chủ yếu là oxy và carbon dioxide) chứa bên trong phổi. Khi hít vào, phổi sẽ căng ra còn khi thở ra, phổi sẽ xẹp lại. Phổi của một người bình thường có thể chứa tới 5 L không khí. 

Khối lượng phổi

Phổi to ra rất nhiều trong quá trình lớn lên và trưởng thành. Ở trẻ sơ sinh, phổi chỉ nặng khoảng 50 cho tới 60 grams, chứa 30 triệu phế nang. Khi người trưởng thành, khối lượng phổi tăng lên gấp 6-8 lần, nặng từ 300 cho tới 475 grams, tuỳ thể trạng mỗi người. Số phế nang cũng tăng lên khoảng 300 triệu. 

Hình thái phổi

Mỗi người có hai lá phổi, phổi trái và phổi phải.  Mỗi lá phổi lại có các thuỳ. Bên trái có hai thuỳ, thuỳ trên (5a) và thuỳ dưới (5b). Phổi bên phải là được chia ra làm ba thuỳ, thuỳ trên (4a), thuỳ giữa (4b), thuỳ dưới (4c).  Mỗi phổi có một đỉnh, một đáy, và ba mặt. Các phần này được ngăn cách bởi các bờ.  Mặt sườn của phổi, đúng như tên gọi, hướng về xương sườn ở bên trái (nếu là phổi trái) và ở bên phải (nếu là phổi phải). Mặt sườn nhẵn, lồi, áp sát vào mặt trong lồng ngực. Nhìn vào mặt sườn ta có thể thấy các vết ấn lõm của xương sườn. Mặt trung thất của phối hướng về trung thất của tim. Đây còn được gọi là mặt trong. Mặt này lõm sâu, do có ấn tim. Trên ấn tim có rốn phổi. Mặt hoành hướng về phía cơ hoành ở bên dưới phổi. Mặt này lõm, úp lên vòm cơ hoành. Nơi đây là nơi phổi tiếp xúc với gan. Do đặc điểm cấu trúc này mà đôi khi phổi có thể bị viêm nhiễm nếu người có bệnh gan. Mặt trên của phổi được gọi là đỉnh phổi. Đỉnh tròn, cao hơn lồng ngực một chút. Động mạch dưới xương đòn vắt ngang qua đỉnh màng phổi. Sau đỉnh màng phổi có hạch giao cảm cổ ngực.  

Phổi – cấu tạo hình thể trong

Mỗi lá phổi có một phế quản chính dẫn khí từ khí quản vào phổi, một động mạch và hai tĩnh mạch. Hệ thống mạch máu chia ra tựa nhánh cây, mạch và ống lớn nhất ở khu vực trung thất, và nhỏ dần, nhỏ dần, cho tới cực nhỏ phía ngoài cùng của lá phổi. Phổi còn có rất nhiều các dây thần kinh và mạch bạch huyết.

Chức năng của phổi

Nhiệm vụ chính của phổi là trao đổi không khí, do mạng lưới dày đặc các mao mạch của phế nang đảm nhiệm. Khí oxy và khí carbon dioxide (CO2) có chênh lệch áp suất. Không khí sẽ đi theo hướng từ nơi áp suất cao tới nơi áp suất thấp hơn. Chính vì vậy, oxy sẽ đi từ phế nang vào máu. Hemoglobin của hồng cầu tiếp nhận oxy và chuyển tới khắp cơ thể. Máu giàu oxy ở động mạch cũng vì thế mà có màu đỏ tươi. Ngược lại, khí CO2 sẽ đi từ máu vào phế nang, và được thải ra ngoài khi người thở ra.  Ngoài trao đổi không khí, phổi còn có chức năng lọc. Bên trong khí quản và phế quản có một lớp tế bào tiêm mao rất mịn và một lớp màng nhầy mỏng. Tạp chất, ví dụ như bụi, hạt phấn hoa, các loại chất bẩn khác, sẽ bị dính lại ở lớp màng nhầy. Các nhung mao, tựa như bàn chải, chuyển động và đẩy tạp chất lên, đưa sang thực quản để xuống dạ dày, và từ đó thải ra ngoài qua hệ bài tiết. Phổi còn có thể bảo vệ cơ thể qua miễn dịch. Ở trên lòng phế nang, phế quản, và các mạch có một lớp tế bào biểu mô và tế bào nội mô. Các tế bào này ngăn nước và các phân tử protein xâm nhập mô kẽ. Mô kẽ có chứa các kháng thể bảo vệ cơ thể khỏi tác nhân gây bệnh. Việc ngăn nước và protein vào khu vực này đảm bảo chức năng cho phổi. Trong quá trình phản ứng miễn dịch, trong phổi có thể có xác bạch cầu và xác vi khuẩn. Chúng sẽ được đào thải ra khỏi cơ thể qua đờm. 

14 loại bệnh phổi thường gặp

1. Áp xe phổi (Lung abscess)

Áp xe là các ổ dịch mủ có chứa mủ, xác bạch cầu và các vi khuẩn, virus. Áp xe được hình thành khi phổi bị viêm cấp tính và mô phổi bị hoại tử. Thường thì vi khuẩn là tác nhân chính gây nên bệnh áp xe phổi, tuy nhiên trong một vài trường hợp, áp xe phổi có thể do các kí sinh trùng như giun sán gây nên. Áp xe phổi xảy ra ở mọi đối tượng nhưng thường phổ biến hơn ở lứa tuổi trung, cao niên. Áp xe phổi nguyên phát là việc các ổ dịch mủ hình thành trên phổi lành, chưa từng bị nhiễm bệnh trước đó. Áp xe phổi thứ phát xuất hiện do các triệu chứng khác ở phổi gây tổn thương mô phổi, ví dụ như lao phổi, giãn phế quản phổi, v.v… Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như chụp X-quang hay chụp CT giúp phát hiện áp xe phổi sớm. Nếu bệnh nhân không điều trị sớm thì sẽ có nhiều biến chứng nguy hiểm: ho ra máu, tràn mủ màng phổi, nhiễm trùng máu, xơ phổi, thậm chí cả áp xe não. 

2. Bụi phổi (Silicosis) 

Bệnh bụi phổi là một bệnh nghề nghiệp của những người làm việc tại công trường xây dựng và mỏ quặng. Bụi độc đến từ a-mi-ăng, cát, đá, than. Khi chúng bay vào trong phổi qua đường hô hấp, những hạt li ti này sẽ làm xước phổi, tạo sẹo, gây nhiễm trùng. Bệnh tiến triển chậm nên người có bệnh có thể làm tại những môi trường này trong vài chục năm mà không thấy dấu hiệu gì đặc biệt. Tuy nhiên, điều nguy hiểm của bệnh này là một khi đã bộc phát, bạn sẽ có nhiều cơn ho, khó thở, tức ngực. Bệnh bụi phổi sẽ dẫn đến chứng hen suyễn hay chứng phổi tắc nghẽn mãn tính.  Bạn cần đến cơ sở y tế gần nhất đề được kê thuốc, và nếu cần thiết thì sử dụng khí oxy bổ trợ và luyện tập các liệu pháp hô hấp. 

3. Hen suyễn (Asthma)

Trong bệnh hen suyễn, khí quản và phế quản thường xuyên viêm nhiễm, tắc nghẽn, gây nên các triệu chứng như thở rít, tức ngực và khó thở.  Đây là bệnh mãn tính. Triệu chứng bệnh hen suyễn có thể xuất hiện khi người bệnh hen có tiếp xúc với nguồn khí ô nhiễm, chất gây dị ứng. Bệnh hen suyễn thường trở nặng vào mùa xuân do độ ẩm không khí cao, môi trường có nhiều bọ bụi nhà, nhiều phấn hoa, nấm, mốc. 

4. Lao phổi (Tuberculosis)

Lao phổi là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis gây nên. Ở thể lao tiềm ẩn, người bệnh đã nhiễm vi khuẩn nhưng do cơ chế miễn dịch của cơ thể còn tốt, họ không có triệu chứng và cũng không lây cho người xung quanh. Ở thể lao bệnh, vi khuẩn sinh sôi nảy nở và tấn công phổi. Người bệnh có biểu hiện ho dai dẳng, giảm cân, sụt cân, chán ăn, cơ thể mệt mỏi, sốt, ra mồ hôi trộm, khó thở và đau ngực.  Những người có hệ miễn dịch kém, có nhiều bệnh nền và hút thuốc lá có nguy cơ mắc bệnh lao phổi cao. Bệnh lao phổi có thể được chẩn đoán qua xét nghiệm máu, chụp X-quang, hay phương pháp nuôi cấy vi khuẩn.  Bệnh lao được điều trị bằng thuốc. Để phòng tránh bệnh và tránh lây cho người xung quanh khi nhiễm bệnh, bạn nên thường xuyên rửa tay sạch, đeo khẩu trang, ăn uống và tập luyện cân bằng, tránh xa thuốc lá và các chất kích thích, cũng như thường xuyên kiểm tra định kì. 

5. Phổi tắc nghẽn mãn tính (Chronic obstructive pulmonary disease)

Bệnh này được gọi là COPD trong tiếng Anh. Khói thuốc (thuốc lá, thuốc lào, v.v…) hay các loại khói bụi trong môi trường thâm nhập vào trong phổi, làm tắc nghẽn khí quản và phế quản. Đường thở bị kích ứng nên tiết nhiều chất nhầy. Lớp lông chuyển (nhung mao) bị tổn thương nên giảm khả năng đẩy đờm và chất nhầy ra ngoài cơ thể. Do tính chất mãn tính của bệnh lý, khí quản và phế quản không thế hồi phục lại mà thậm chí diễn biến xấu dần theo thời gian nếu môi trường không được thay đổi. Đối với trẻ em, gia đình nên đưa bé đi tiêm phòng các bệnh về đường hô hấp. Các bệnh lý hô hấp ở trẻ nhỏ có thể gây tắc nghẽn phổi mãn tính khi trường thành. Người có bệnh nên bỏ hút thuốc lá chủ động, cũng như tránh ở gần những người hút thuốc để không bị hít khói thụ động. Môi trường sống và làm việc nên thoáng, sạch. Trong nhà có thể bố trí máy lọc khí, mở cửa sổ, bật quạt. Ở nơi lao động, bạn có thể mặc đồ bảo hộ cẩn thận. 

6. Phù phổi (Pulmonary edema)

Hiện tượng phù nề xảy ra khi túi khí ở phổi tồn đọng quá nhiều chất lỏng. Đây là một hiện tượng nguy hiểm. Bạn sẽ cảm thấy tim đập nhanh, ngột ngạt khó thở, và khó chịu khi nằm ngang. Cơ thể sẽ kích thích việc ho nhằm đẩy các chất lỏng này ra ngoài, nên bạn có thể ho sùi bọt mép hoặc ra máu. 

7. Suy hô hấp (Respiratory distress)

Hội chứng suy hô hấp chỉ xảy ra ở trẻ sơ sinh thiếu tháng. Do sinh non, cơ thể bé chưa phát triển đầy đủ. Chất hoạt động bề mặt phổi chưa được tạo ra và không thể giúp mở phổi.  Với chứng bệnh này, trẻ có biểu hiện khó thở và các bộ phận khắp cơ thể không nhận đủ khí oxy. Bé sẽ thở nông, thở gấp, lỗ mũi tấy đỏ, và da không hồng hào.  Các bé suy hô hấp sẽ được chăm sóc đặc biệt tại bệnh viện, được gắn ống thở cho tới khi cơ thể tạo ra chất hoạt động bề mặt và bé biết tự thở bình thường. 

8. Thuyên tắc phổi (Pulmonary embolism)

Thuyên tắc phổi là hiện tượng cục máu đông, thường hình thành từ dưới chân, di chuyển lên phổi. Cục máu đông cản trở dòng máu chảy và việc trao đổi không khí ở phổi. Việc tắc nghẽn, về lâu dài, gây tổn thương đến các mô phổi.  Cục máu đông có thể được làm tan ra bằng việc sử dụng thuốc chống đông máu, ví dụ như Aspirin. Trường hợp nghiêm trọng cần có can thiệp của phẫu thuật. 

9. U hạt (Sarcoidosis)

Đúng như tên gọi của bệnh, u hạt là những u nhỏ dạng hạt. Những u hạt này phát triển trong phổi của bạn khi cơ thể có phản ứng miễn dịch đối với bụi bẩn và tạp chất trong không khí.  Trong quá trình bộc phát bệnh, bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi, thở khò khè, tức ngực, ho khan, và có biểu hiện sốt. Bệnh sẽ tự thuyên giảm và biến mất sau một thời gian, khi tác nhân bụi bẩn không còn trong môi trường của bạn nữa. Để phòng tránh bệnh này, bạn nên giữ cho môi trường sống sạch sẽ, thoáng mát. Trong trường hợp nặng và thường xuyên tái phát, bác sĩ có thể kê thuốc để giúp bạn kiểm soát bệnh.

10. Ung thư phổi (Lung cancer)

Ung thư có thể xảy ra ở mọi cơ quan của cơ thể, khi tế bào phát triển không kiểm soát. Các tế bào ung thư phát triển ở một cỡ nhất định sẽ tạo nên khối u ung thư.  Ung thư phổi là hiện tượng khối u ác tính phát triển ở biểu mô phế quản. Bệnh được chia ra làm hai loại, là ung thư phổi tế bào nhỏ, và ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Do tính ác của bệnh, hiện nay phương pháp điều trị còn gặp nhiều khó khăn.  Để phòng tránh ung thư phổi, bạn cần từ bỏ hút thuốc lá, thuốc lào, cải thiện môi trường sống và môi trường làm việc.

11. Viêm phế mạc (Pleurisy) 

Viêm phế mạc còn được gọi là viêm màng phổi. Phế mạc chỉ màng phổi, là các mô ở bên ngoài phổi hoặc bên trong lồng ngực. Khi các mô này viêm nhiễm, sưng tấy, chúng sẽ cọ xát vào nhau và gây nên hiện tượng đau buốt ngực. Khi bạn thở, phổi sẽ nở ra, chạm gần với lồng ngực hơn. Như vậy, việc thở sẽ khiến cho cơn đau buốt trở nên trầm trọng hơn. Nguyên nhân gây bệnh là có virus, vi khuẩn, nấm. Ngoài ra, chấn thương vùng phổi và xương sườn, cũng như bệnh tật và phản ứng phụ của thuốc có thể gây nên viêm phế mạc.  Phác đồ điều trị ra sao phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. Nếu bạn bị viêm phế mạc do vi khuẩn, bác sĩ sẽ kê thuốc kháng sinh. Nếu viêm phế mạc do phản ứng phụ của thuốc, bác sĩ sẽ cần đổi cho bạn sang một loại thuốc khác. 

12. Viêm phế quản (Bronchitis)

Phế quản là ống dẫn khí từ ngoài vào đến phổi. Phế quản có thể bị viêm do người bệnh mắc cảm lạnh, cúm nặng, hay dị ứng với phấn hoa và khói thuốc.  Nếu bạn ho khan, ho có đờm dai dẳng (quá 3 tuần), bạn nên đến bác sĩ để được kiểm tra. Viêm phế quản trở nặng nếu bạn có triệu chứng sốt và ho ra đờm kèm máu. Khi này, bạn cần được bác sĩ kê thuốc kịp thời.  Để phòng chống và điều trị viêm phế quản, bạn có thể luyện tập cách thở sâu, theo phương pháp thiền hay Yoga. 

13. Viêm phổi (Pneumonia) 

Vi khuẩn, virus, nấm, v.v… có thể xâm nhập vào nhu mô phổi và gây viêm phổi. Bệnh này xảy ra ở tất cả mọi lứa tuổi, nhưng nguy hiểm nhất khi nó xảy ra ở người cao tuổi, người có bệnh mãn tính, người miễn dịch kém, và trẻ nhỏ. Viêm phổi là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em. Triệu chứng hay gặp ở viêm phổi là sốt, ho có đờm, tức ngực, khó thở. Do nó rất giống với các triệu chứng cảm lạnh và cúm, người mắc bệnh thường không đi khám sớm.  Các bệnh nền khác có thể là nguyên nhân gây viêm phổi. Ví dụ, như miêu tả ở phần cấu tạo phổi, mặt hoành của phối tiếp xúc với gan. Mủ của áp xe gan có thể tràn qua cơ hoành, qua ổ màng phổi và đi vào phổi, gây viêm nhiễm. 

14. Xơ hoá phổi (Pulmonary fibrosis)

Xơ hoá phổi là hiện tượng dày lên và xơ cứng ở các mô bên trong phổi. Phổi vốn là một cơ quan có tính đàn hồi cao nhằm đẩy khí oxy vào, khí CO2 ra qua chênh lệch áp suất. Xơ cứng khiến cho phổi khó co giãn, cản trở việc trao đổi không khí giữa cơ thể và môi trường bên ngoài.  Nguyên nhân gây nên bệnh chưa được xác định rõ, nhưng các yếu tố di truyền (gia đình có tiền sử xơ hoá phổi và các bệnh khác về phổi) hay yếu tố cuộc sống (virus, khói thuốc, khói bụi) có thể gây nên bệnh.  Người bệnh sẽ thường xuyên khó thở, và ho khan dai dẳng. Việc thiếu khí trong thời gian dài có thể đe doạ tới tính mạng người bệnh. Người bệnh nên đi khám và nghe theo sự chỉ đạo của bác sĩ để kiểm soát triệu chứng bệnh của mình. 

Cách chăm sóc và bảo vệ cho phổi của bạn luôn được khoẻ mạnh

Bạn hãy thực hiện các điều sau để chăm sóc và bảo vệ cho phổi của bạn luôn được khoẻ mạnh:

Tập thể dục, chơi thể thao thường xuyên. Các bài tập aerobic giúp làm tăng nhịp tim và nhịp thở, khiến phổi của bạn hoạt động mạnh hơn.

Luyện tập thở. Việc thở mạnh, thở sâu sẽ giúp luyện tập cơ phổi khoẻ mạnh hơn. Nhiều người không có thói quen thở đúng nên chỉ thở bằng ngực (thở nông) và sử dụng một phần rất nhỏ dung tích phổi. Cách thở đúng, là cách thở của các em bé, là cách thở bằng bụng. Việc thở sâu sẽ giúp sử dụng phổi hiệu quả hơn, và làm sạch phổi. Bạn nên cố gắng tập thở để thời gian thở ra dài bằng hai lần thời gian thở vào. Ví dụ, khi thở vào bằng mũi, bạn đếm 1-2-3-4. Khi thở ra, bạn đếm 1-2-3-4-5-6-7-8. Khi hít vào, thở ra, bạn sẽ để ý thấy bụng mình nâng lên và hạ xuống theo từng nhịp thở. Việc thở sâu cũng giúp bạn thư giãn tinh thần sau những ngày làm việc mệt mỏi.

Không hút thuốc lá hay thuốc lào. Trong khói thuốc có chứa rất nhiều tác nhân gây hại. Hút thuốc nhiều, dù chủ động hay thụ động, sẽ đưa các tác nhân này vào trong phổi, gây trầy xước, viễm nhiễm phổi.

Tránh những nơi ô nhiễm. Bạn không nên ở gần người hút thuốc lá, hay tập chạy trên những cung đường ô nhiễm. Nếu môi trường làm việc của bạn có nhiều tác nhân ô nhiễm (như nhà máy, công trường), hãy mặc đồ bảo hộ và đeo khẩu trang. 

Thường xuyên lau chùi, hút bụi nhà cửa, đồ đạc. 

Mở cửa sổ, cửa ra vào mỗi khi có thể để làm thoáng không khí trong nhà. Trong nhà nên có đủ quạt và máy hút và các lỗ thông gió.

Nếu bạn muốn làm thơm nhà, hãy sử dụng các sản phẩm tinh dầu từ thiên nhiên. Tránh các sản phẩm xịt thơm hoá học vì các sản phẩm này có chứa formaldehyde và benzene, có thể gây dị ứng, tuỳ theo cơ địa mỗi người.

Rửa tay sạch thường xuyên. Tránh đưa tay lên mặt quá nhiều, vì tay bạn có thể dính bụi, phấn hoa, virus, vi khuẩn.

Sử dụng các thực phẩm tốt cho phổi:

Rau: bông cải xanh, súp lơ, bắp cải, cà rốt, rau chân vịt, măng tây

Trái cây: kiwi, cam, dâu, chanh, những loại trái cây nhiều vitamin C

Gia vị: gừng, tỏi, tam thất, mật ong 

Hãy đi khám nếu bạn có các triệu chứng sốt, ho, khó thở, nhiều đờm. 

Lời kết

Phổi là một cơ quan thiết yếu của cơ thể. Mỗi hơi thở là một nguồn khí oxy quý giá, duy trì sự sống của các cơ quan trong cơ thể. Qua bài viết này, chúng tôi tin rằng bạn đã có thêm những kiến thức thiết thực về vị trí, cấu tạo, các bệnh thường gặp ở phổi, cũng như các phương thức bảo vệ và chăm sóc cho hai lá phổi. Chỉ bằng những hành động rất đơn giản như ăn nhiều rau và trái cây, hay luyện tập thở sâu, bạn có thể chăm sóc lá phổi tốt hơn ngay từ hôm nay.

Cấu Tạo Của Phổi Như Thế Nào? Phổi Nằm Ở Đâu Và Có Chức Năng Gì? / 2023

Phổi là bộ phận vô cùng quan trọng trong cơ thể. Vậy cấu tạo của phổi như thế nào? Đây chắc chắn là thắc mắc của rất nhiều người. Không có chức năng hô hấp của phổi, con người không thể sống được. Bài viết sau đây sẽ là lời giải đáp cho bạn về cấu tạo của bộ phận này.

Phổi nằm ở đâu?

Trong cơ thể, phổi nằm ở bên trong lồng ngực chúng ta. Nó được những xương sườn của cơ thể bao bọc ở xung quanh. Cơ hoành ở phía dưới phổi sẽ có tác dụng ngăn phổi với những bộ phận khác như gan, lá lách hay dạ dày.

Phổi gồm có hai buồng phổi. Phía giữa của hai buồng phổi đó là phần khí quản. Ở khu vực khí quản, nó sẽ được phân chia ra những nhánh phế quản chính. Giữa hai lá phổi là tim và nó hơi nằm chếch về trái.

Cấu tạo của phổi

Về mặt cấu tạo, phổi có độ đàn hồi, xốp và mềm. Cấu tạo của phổi ở cơ thể bình thường sẽ bao gồm các thùy và hai lá phổi. Phổi phải sẽ thường to hơn phổi trái. Nếu hít một cách gắng sức thì dung tích tối đa của phổi sẽ là 5000ml. Cấu tạo của nó gồm có 3 phần: Mặt trong, mặt ngoài và bộ phận màng phổi.

Phổi sẽ được treo trong khoang của màng phổi bởi cuống và dây chằng của phổi. Nó có dạng nửa của hình nón. Cấu tạo của phổi mặt ngoài lồi và áp sát vào khu vực thành ngực. Mặt trong phổi được giới hạn hai bên phần trung thất. Đáy phổi sẽ là mặt dưới và trong cơ thể, nó áp vào vùng cơ hoành.

Phần đỉnh phổi

Phần này nhô lên khỏi xương sườn I. Phần đỉnh của phổi phía sau cao ở mức đầu sau sườn I. Và phần phía trước đỉnh phổi nằm ở trên của phần trong bộ phận xương đòn chỉ khoảng 3cm.

Khu vực mặt sườn

Hai phổi có cấu tạo, đặc điểm chung đó là nằm áp sát vào khu vực trong của lồng ngực. Nó sẽ có những vết ấn của vùng xương sườn. Phần mặt sườn sẽ có khe chếch. Nó được bắt đầu từ phía sau khu gian sườn 3 rồi chạy xuống dưới đáy của phổi. Và chia thành 3 thùy phổi.

Mặt gian thùy là mặt mà những thùy phổi áp sát vào nhau. Bề mặt phổi thường có những hình đa giác kích thước to hay nhỏ. Đây được gọi là khu vực đấy của những tiểu thùy phổi.

Ở mỗi phổi sẽ có những đặc tính riêng. Với khu vực phổi phải thì sẽ có thêm khe ngang. Phổi phải của cơ thể sẽ có 3 thùy đó là thùy trên dưới và thùy giữa. Còn với phần phổi trái, nó chỉ có khe chếch. Bởi vậy mà sẽ có hai thùy đó là phần thùy trên và thùy dưới. Cấu tạo của phổi còn có lưỡi phổi trái lồi ra ở phần trước, dưới thùy trên. Và nó cũng tương ứng thùy giữa phổi phải cơ thể.

Cấu tạo của phổi bên trong

Cấu tạo của phổi mặt trong bao gồm những thành phần đi qua khu vực rốn phổi. Nó được phân chia trong phổi nhỏ dần. Bên trong phổi sẽ bao gồm có động mạch, tĩnh mạch của phế quản, cây phế quản. Ngoài ra còn có phần động và tĩnh mạch phổi, sợi thần kinh cùng mô liên kết, bạch mạch.

Khu vực cây phế quản:

Nó được chia thành những phế quản thùy. Với mỗi phế quản thùy sẽ thực hiện quá trình dẫn khí cho một thùy phổi. Và nó sẽ tiếp tục chia thành những phế quản phân thùy khác. Mục đích là để thực hiện dẫn khí cho một phân thùy của phổi. Sau đó phần phế quản phân thùy sẽ được chia thành phế quản hạ phân thùy, tiểu phân thùy. Nó thực hiện chức năng dẫn khí cho phần tiểu thùy của phổi.

Phần tĩnh mạch và động mạch của phế quản

Động mạch của phế quản khá nhỏ. Bản thân nó là một nhánh bên của phần động mạch chủ. Bên phải sẽ có một động mạch. Bên trái thường có hai động mạch.

Tĩnh mạch của phế quản sẽ đổ vào những tĩnh mạch đơn. Vài nhánh nhỏ sẽ thực hiện đổ vào khu vực tĩnh mạch của phổi.

Bộ phận tĩnh mạch của phổi

Những tĩnh mạch ở khu vực quanh thùy sẽ được một hệ thống các mao mạch của phế nang đổ vào. Nó sẽ lớn dần cho tới khi mà sự phân thùy của những tính mạch gian hay tĩnh mạch trong xảy ra. Đến cuối cùng ở mỗi bên phổi trái – phải sẽ có hai tĩnh mạch. Chức năng của nó là thực hiện đưa máu chứa nhiều oxy về phần tâm nhĩ trái. Cấu tạo tĩnh mạch phổi không có van.

Bộ phận động mạch phổi của cơ thể

Phân thân sẽ di chuyển từ khu vực lỗ của động mạch phổi tâm thất bên phải. Sau đó nó sẽ lên trên, sáng phía trái và ra phần sau. và khi phần thân động mạch phổi tới được quai của động mạch chủ ở phía bờ sau, nó sẽ chia thành những động mạch của phổi trái và phải.

Với động mạch của phổi phải nó sẽ có cấu tạo đi ngang sang bên phải. Nó chui vào trong phần rốn phải. Tieps tục đi ra ngoài và cuối cùng ở sau khu vực phế quản.

Cấu tạo của phổi thường động mạch trái sẽ nhỏ và ngắn hơn rất nhiều so với bên phải. Nó nằm chếch lên trên, phía bên trái. Sau dó, ở khu vực phế quản chính bên trái động mạch phổi trái sẽ bắt chéo. Tại phần trên của phế quản thùy trái thì nó chui vào rốn của phổi.

Khu vực Bạch Huyết

Có rất nhiều các mạch bạch huyết và nó thực hiện quá trình hoạt động trong nhu mô phổi. Mục đích của những hoạt động này là để mạch bạch huyết đổ tập trung vào phần bạch huyết phổi. Cuối cùng sẽ tiến hành đổ vào hạch khí quản trên-dưới.

Hệ thần kinh tới phổi

Xuất phát từ những đám rối của phổi là phần hệ thần kinh giao cảm. Còn phần hệ phó giao cảm với những nhánh khác của các dây thần kinh lang thang của cơ thể.

Bộ phận màng phổi

Chức năng của phổi

Cấu tạo của phổi có chức năng thực hiện quá trình trao đổi khí giữa môi trường bên ngoài và cơ thể. Quá trình này sẽ được thực hiện ở bề mặt của những phế quản. Những vật thể lạ khi cơ thể hít vào sẽ được vận chuyển ra bên ngoài khi niêm mạc bao phủ các phế nang phải luôn hoạt động, rung chuyển.

Phổi giúp duy trì sự sống cho những tế bào nội mô và biểu mô. Tuy nhiên, sẽ có một hàng rào của tế bào phổi để ngăn chặn nước hay một số phân tử xâm nhập quá nhiều vào phần mô kẽ. Phổi cũng là cơ quan có chức năng tham gia vào rất nhiều những quá trình tổng hợp và vận chuyển những chất quan trọng khác.