Các Kiểu Quan Hệ Lợi Ích Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn

--- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Thị Trường Xăng Dầu: Phải Vì Lợi Ích Của Nền Kinh Tế
  • Vai Trò Của Doanh Nghiệp Thương Mại Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Trách Nhiệm Xã Hội Của Cá Nhân Và Yêu Cầu Nâng Cao Trách Nhiệm Này Trong Điều Kiện Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tài Liệu Mối Quan Hệ Giữa Lợi Ích Cá Nhân Và Đạo Đức Xã Hội Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Lợi Ích Của Gà Đông Tảo Hưng Yên
  • Các Kiểu Quan Hệ Lợi ích Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn ở Việt Nam, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Vai Trò Của Nhà Nước Pháp Quyền Đối Với Kinh Tế Thị Trường Và Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội C, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Tiểu Luận Về Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Thông Tư Hướng Dẫn Sử Dụng Kinh Phí Thực Hiện Công Tác Y Tế Trong Các Trường, Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Pdf, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Vai Trò Của Pháp Luật Xhcn Đối Với Kinh Tế Và Chính Trị, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nhân Tố Quan Trọng Quyết Định Hiệu Quả Kinh Tế Hiện Nay, Tiểu Luận Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ N, Thực Trạng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Iệt Nam Vừa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ Biế, Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Quá Trình Đảng Chỉ Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trương Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Số 11-nq/tw Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Liên Hệ Với Những ưu Thế Của Nền Kinh Tế Thị Trường Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Của Việt Nam, Hãy Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình Thông Qua Một , Hãy Giải Thích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình, Lý Luận Hình Thái Kinh Tế – Xã Hội Với Việc Lựa Chọn Con Đường Xhcn ở Việt Nam, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam Chưa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ B, Tại Sao Phải Thống Nhất Nhận Thức Về Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Đảng Chỉ Đạo Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng X, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chỉ Nghĩa ở Việt Nam Bao Hàm Những Đặ Trưng Có Tính Phổ Biến Củ, Mối Quan Hệ Giữa Dân Chủ Xhcn Và Nhà Nước Xhcn, Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến , Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Hướng Dẫn Về Quản Lý Chất Lượng Đo Lường Trong Kinh Doanh Khí Dầu Mỏ Hóa Lỏng, Quan Điểm Lịch Sử Cụ Thể Trong Việc Hoạch Định Chính Sách Phát Triển Kinh Tế Việt Nam Qua Các Thời K, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin Về Việc Xây Dựng Nền Văn Hóa Xhcn Trong Cách Mạng Xã Hội Chủ , Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin Về Việc Xây Dựng Nền Văn Hóa Xhcn Trong Cách Mạng Xã Hội Chủ, Chuyên Đề 3 Quản Lí Giáo Dục Và Chính Sách Gd Trong Cơ Chế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghãi, Độc Quyền Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Giải Pháp Hoàn Thiện The Chế Gan Ket Tang Truong Kinh Kinh Tế, Tiểu Luận Vai Trò Của Kinh Tế Thị Trường Đối Với Việc Phát Triển Kinh Tế Xã Hội ở Việt Nam Hiện Nay, Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Bảo Hộ Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Đối Với Nhãn Hiệu Trong Kinh Tế Thị Trường, Thảo Kinh Tổ Tiên Trong Thánh Kinh, Kinh Tế Lượng Trong Phân Tích Và Dự Báo Kinh Tế Xã Hội, Yêu Cầu Đối Với Thông Tin Trong Quản Trị Kinh Doanh, Nội Quy Mẫu Trong Kinh Doanh Nhà Hàng Quán ăn, Phát Triển Thương Mại Điện Tử ở Việt Nam Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường ở Việt Nam Hiện Nay, Quan Niệm Không Đúng Về Kinh Tế Thị Trường, Quan Niệm Nào Không Đúng Về Kinh Tế Thị Trường, Nghiên Cứu Khoa Học Trong Quản Trị Kinh Doanh, Phương Pháp Kinh Tế Trong Quản Lý Nhà Nước, Thống Kê Trong Kinh Tế Và Kinh Doanh Neu, Sách Giáo Khoa Dạy Trong Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Tiểu Luận Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường ở Việt Nam H, Thầy Cô Hãy Chia Sẻ Kinh Nghiệm Giảng Dạy Để Thu Hút Hs Trong Các Tiết Học Atgt ỏ Trường, Hướng Dẫn ứng Xử Trong Kinh Doanh Của Textron, Lý Luận Về Các Phân Tích Môi Trường Kinh Doanh Quán, Tam Quốc Và Những Bí Quyết Trong Quản Lý Kinh Doanh, 3. Phương Hướng Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng Và Cơ Cấu Lại Nền Kinh Tế, Quan Điểm Chỉ Đạo Của Đảng Trong Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hóa, Tư Tưởng, Quản Trị Kinh Doanh Kinh Tế Quốc Dân, Vì Sao Phân Bổ Công Nghiệp Có Vai Trò Quan Trọng Thúc Đẩy Sự Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội, Sáng Kiến Kinh Nghiệm Trong Quản Lý Nhà Nước Về Chăn Nuôi, Định Luật 80/20 Trong Kinh Doanh, Ra Quyết Định Trong Kinh Doanh, Kinh Tế Thị Trường Và Các Quy Luật Kinh Tế, Quyết Định Bổ Nhiệm Vụ Trưởng Vụ Kinh Tế Đối Ngoại, Quan Điểm Cơ Bản Của Đảng Ta Về Phát Triển Kinh Tế Trong Giai Đoạn Hiện Nay Về, Hướng Dẫn Thực Hành Quản Trị Kinh Doanh, 9 Yếu Tố Quyết Định Điểm 10 Trong Kinh Doanh, Nếu Gdp Thực Tế Của Nền Kinh Tế Tăng Từ 2000 Tỷ Lên 2100 Tỷ, Thì Tỷ Lệ Tăng Trưởng Kinh Tế Của Quốc, Nếu Gdp Thực Tế Của Nền Kinh Tế Tăng Từ 2000 Tỷ Lên 2100 Tỷ, Thì Tỷ Lệ Tăng Trưởng Kinh Tế Của Quốc , Quyết Định Bổ Nhiệm Trưởng Phòng Kinh Doanh, Định Nghĩa Nào Sau Đây Về Tăng Trưởng Kinh Tế Là Không Đúng, Tại Sao Phân Bố Công Nghiệp Có Vai Trò Quan Trọng Thúc Đẩy Sự Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Trên Lạnh Th, Vì Sao Phân Bổ Công Nghiệp Có Vai Trò Quan Trọng Thúc Đẩy Sự Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Trên Lãnh T, Vì Sao Phân Bổ Công Nghiệp Có Vai Trò Quan Trọng Thúc Đẩy Sự Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Trên Lãnh T, Giáo Trình Giao Tiếp Trong Kinh Doanh Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, Phan Tich Dinh Luong Trong Kinh Doanh, Kinh Tế Và Quản Trị Kinh Doanh, Hãy Kể Tên 6 Trường Thcs ở Quận Ninh Kiều Mà Em Biết, Cơ Sở Lý Luận Về Thông Tin, Dự Báo Và Quyết Định Quản Trị Kinh Doanh, Mẩu Số 02/uq-cn( Dành Cho Các Hộ, Thành Viên Trong Gia Đình,hộ Kinh Doanh,tổ Chức Khac Không Co Tư C, Mẩu Số 02/uq-cn( Dành Cho Các Hộ, Thành Viên Trong Gia Đình,hộ Kinh Doanh,tổ Chức Khac Không Co Tư C, Quy Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Dầu Khí, Kinh Doanh Xăng Dầu Và Khí, Tiểu Luận Tình Huống Trong Quản Ly Môi Trường,

    Các Kiểu Quan Hệ Lợi ích Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn ở Việt Nam, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Vai Trò Của Nhà Nước Pháp Quyền Đối Với Kinh Tế Thị Trường Và Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội C, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Tiểu Luận Về Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Thông Tư Hướng Dẫn Sử Dụng Kinh Phí Thực Hiện Công Tác Y Tế Trong Các Trường, Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Pdf, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Vai Trò Của Pháp Luật Xhcn Đối Với Kinh Tế Và Chính Trị, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nhân Tố Quan Trọng Quyết Định Hiệu Quả Kinh Tế Hiện Nay, Tiểu Luận Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ N, Thực Trạng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Iệt Nam Vừa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ Biế, Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Quá Trình Đảng Chỉ Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trương Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Số 11-nq/tw Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Liên Hệ Với Những ưu Thế Của Nền Kinh Tế Thị Trường Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Của Việt Nam, Hãy Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình Thông Qua Một , Hãy Giải Thích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình, Lý Luận Hình Thái Kinh Tế – Xã Hội Với Việc Lựa Chọn Con Đường Xhcn ở Việt Nam, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam Chưa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ B, Tại Sao Phải Thống Nhất Nhận Thức Về Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Đảng Chỉ Đạo Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng X, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chỉ Nghĩa ở Việt Nam Bao Hàm Những Đặ Trưng Có Tính Phổ Biến Củ, Mối Quan Hệ Giữa Dân Chủ Xhcn Và Nhà Nước Xhcn, Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến , Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Hướng Dẫn Về Quản Lý Chất Lượng Đo Lường Trong Kinh Doanh Khí Dầu Mỏ Hóa Lỏng, Quan Điểm Lịch Sử Cụ Thể Trong Việc Hoạch Định Chính Sách Phát Triển Kinh Tế Việt Nam Qua Các Thời K, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin Về Việc Xây Dựng Nền Văn Hóa Xhcn Trong Cách Mạng Xã Hội Chủ , Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin Về Việc Xây Dựng Nền Văn Hóa Xhcn Trong Cách Mạng Xã Hội Chủ, Chuyên Đề 3 Quản Lí Giáo Dục Và Chính Sách Gd Trong Cơ Chế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghãi,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Lợi Ích Của Việc Tập Thể Dục Đối Với Sức Khỏe
  • Nhảy Aerobic Giảm Cân: Không Những Khỏe Đẹp Mà Còn Xả Stress
  • Gợi Ý Cách Chọn Nhạc Nhảy Aerobic Thiếu Nhi
  • Bóc Tem Những Lợi Ích Của Các Bài Nhảy Aerobic Đối Với Trẻ Em
  • Lợi Ích Của Việc Nhảy Aerobic Thiếu Nhi Tiểu Học Dưới Nước
  • Tiểu Luận Quan Hệ Lợi Ích Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Liên Kết Trồng Rừng Để Nâng Cao Lợi Ích Kinh Tế Cho Các Hộ Dân
  • Lợi Ích Kinh Tế Và Môi Trường Của Rừng Ngập Mặn Cần Giờ
  • Lợi Ích Chuyển Hóa Từ Trồng Rừng Gỗ Nhỏ Sang Gỗ Lớn
  • 4 Điều Kỳ Diệu Mà Tài Nguyên Rừng Mang Lại Cho Con Người
  • Rừng Mang Lại Cho Chúng Ta Rất Nhiều Lợi Ích. Do Đó, Con Người Phải Bảo Vệ Rừng. Em Hãy Chứng Minh Điều Đó
  • Tiểu Luận Quan Hệ Lợi ích Kinh Tế, Bài Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế, Tiểu Luận Quán Lý Dự án Đầu Tư Kinh Doanh, Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế, Tiểu Luận Ngành Quản Trị Kinh Doanh, Tiểu Luận Mối Quan Hệ Giữa Đổi Mới Kinh Tế Và Đổi Mới Chính Trị, Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cà Phê, Tiểu Luận Kinh Doanh Quán Cafe, Bài Tiểu Luận Nhập Môn Ngành Quản Trị Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cafe, ài Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cafe, Tiểu Luận Về Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Tiểu Luận Vai Trò Của Kinh Tế Thị Trường Đối Với Việc Phát Triển Kinh Tế Xã Hội ở Việt Nam Hiện Nay, Tiểu Luận Tình Huống Trong Lanh Dao, Quan Ly O Truong Tieu Hoc, Đường Tổng Chi Tiêu Phản ánh Mối Quan Hệ Giữa Tổng Chi Tiêu Của Nền Kinh Tế Và Thu Nhập Quốc Dân, Tiểu Luận Tình Huống Quản Lý Nhà Nước Ubnd Quận, Tiểu Luận Tình Huống Quản Lý Nhà Nước Ubnd Quận Hồng Bàng, Tiểu Luận Kinh Tế, Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô, Tiểu Luận Môn Kinh Te Hoc, Tiểu Luận 2 Địa Lý Kinh Tế, Tiểu Luận Dự Báo Kinh Tế, Tiểu Luận Kinh Tế 2, Bài Tiểu Luận Địa Lý Kinh Tế, Bài Mẫu Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô, Tiểu Luận Địa Lý Kinh Tế, Một Số Bài Tiểu Luận Môn Kinh Tế Vĩ Mô, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô, Một Số Bài Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô, Kết Luận Của Bài Tiểu Luận Tổng Qyan Quản Trị Nhân Sự, 199 Bài Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị, Bài Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Môn Luật Kinh Tế, Đề Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2, Tiểu Luận Đạo Đức Kinh Doanh, Tiểu Luận Kinh Kim Cang, Tiểu Luận 1 Địa Lý Kinh Tế Hubt, Các Đề Tài Tiểu Luận Môn Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Luật Kinh Tré, Tiểu Luận Địa Lý Kinh Tế Hubt, Tiểu Luân Về Thủ Đoạn Kinh Têa, Tiểu Luận Về Công Ty Kinh Đô, Bài Tiểu Luận Về Công Ty Kinh Đô, Đề Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1, 329 Bài Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị, Tiểu Luận Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Môi Trường, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Lượng, Tiểu Luận Môn Địa Lý Kinh Tế Việt Nam, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị, Bài Tiểu Luận Luật Kinh Tế, Tiểu Luận Môn Địa Lí Kinh Tế Việt Nam, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2, Tiểu Luận Luaatj Kinh Tế, Tiểu Luận Môn Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Hộ Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Địa Lý Kinh Tế Việt Nam, Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô Về Lạm Phát, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 3, Tiểu Luận Kinh Tế Lượng, Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị Ftu, Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô Về Thất Nghiệp, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Quốc Tế, Tiểu Luận Luật Kinh Tế, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Phát Triển, Tiểu Luận ý Tưởng Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận ý Tưởng Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2 Hubt, Bài Tiểu Luận Về ý Tưởng Kinh Doanh, Tiểu Luận Mô Hình Kinh Doanh, Tiểu Luận Kinh Tế Phát Triển, Bìa Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị Mac Lenin, Bài Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh, Tiểu Luận Rủi Ro Trong Kinh Doanh, Tiểu Luận Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế, Tiểu Luận Luật Hình Sự Kinh Tế, Tiểu Luận Môn Luật Kinh Doanh Ueh, Bài Tiểu Luận Về Tăng Trưởng Kinh Tế, Tiểu Luận Môn Kinh Tế Chính Trị Về Vấn Đề Thất Nghiệp, Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị Mác Lênin, Tiểu Luận Kinh Tế Phát Triển, Tiểu Luận Kinh Doanh Bảo Hiểm, Tiểu Luận Môn Kinh Tế Phát Triển, Tiểu Luận Kế Hoạch Kinh Doanh, Tiểu Luận Luật Kinh Doanh, Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh, Tiểu Luận Môn Kinh Tế Học Phát Triển, Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị Về Thất Nghiệp, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 3 Hubt, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1 Hubt, Tiểu Luận Kinh Doanh Quốc Tế, Luận Văn Quản Lý Kinh Tế, Bài Tiểu Luận Về Nghiên Cứu Mô Hình Kinh Doanh Trà Sữa, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Kinh Tế, Bài Tiểu Luận Khủng Hoảng Kinh Tế 2008, Tiểu Luận Học Thuyết Kinh Tế Của William Petty, Tiểu Luận Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng,câu Cấu Nền Kinh Tế,

    Tiểu Luận Quan Hệ Lợi ích Kinh Tế, Bài Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế, Tiểu Luận Quán Lý Dự án Đầu Tư Kinh Doanh, Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế, Tiểu Luận Ngành Quản Trị Kinh Doanh, Tiểu Luận Mối Quan Hệ Giữa Đổi Mới Kinh Tế Và Đổi Mới Chính Trị, Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cà Phê, Tiểu Luận Kinh Doanh Quán Cafe, Bài Tiểu Luận Nhập Môn Ngành Quản Trị Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cafe, ài Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cafe, Tiểu Luận Về Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Tiểu Luận Vai Trò Của Kinh Tế Thị Trường Đối Với Việc Phát Triển Kinh Tế Xã Hội ở Việt Nam Hiện Nay, Tiểu Luận Tình Huống Trong Lanh Dao, Quan Ly O Truong Tieu Hoc, Đường Tổng Chi Tiêu Phản ánh Mối Quan Hệ Giữa Tổng Chi Tiêu Của Nền Kinh Tế Và Thu Nhập Quốc Dân, Tiểu Luận Tình Huống Quản Lý Nhà Nước Ubnd Quận, Tiểu Luận Tình Huống Quản Lý Nhà Nước Ubnd Quận Hồng Bàng, Tiểu Luận Kinh Tế, Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô, Tiểu Luận Môn Kinh Te Hoc, Tiểu Luận 2 Địa Lý Kinh Tế, Tiểu Luận Dự Báo Kinh Tế, Tiểu Luận Kinh Tế 2, Bài Tiểu Luận Địa Lý Kinh Tế, Bài Mẫu Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô, Tiểu Luận Địa Lý Kinh Tế, Một Số Bài Tiểu Luận Môn Kinh Tế Vĩ Mô, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô, Một Số Bài Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô, Kết Luận Của Bài Tiểu Luận Tổng Qyan Quản Trị Nhân Sự, 199 Bài Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị, Bài Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Môn Luật Kinh Tế, Đề Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2, Tiểu Luận Đạo Đức Kinh Doanh, Tiểu Luận Kinh Kim Cang, Tiểu Luận 1 Địa Lý Kinh Tế Hubt, Các Đề Tài Tiểu Luận Môn Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Luật Kinh Tré, Tiểu Luận Địa Lý Kinh Tế Hubt, Tiểu Luân Về Thủ Đoạn Kinh Têa, Tiểu Luận Về Công Ty Kinh Đô, Bài Tiểu Luận Về Công Ty Kinh Đô, Đề Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1, 329 Bài Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị, Tiểu Luận Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Môi Trường, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Lượng, Tiểu Luận Môn Địa Lý Kinh Tế Việt Nam, Bài Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Kinh Tế Chính Trị Mác
  • Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam Trong Những Năm Đổi Mới
  • Hội Nhập Quốc Tế: Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn
  • Một Số Vấn Đề Về Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam
  • Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Tính Tất Yếu Khách Quan Và Lợi Ích Của Việc Mở Rộng Quan Hệ Kinh Tế Đối Ngoại

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Tế Vĩ Mô Trong Nền Kinh Tế Mở
  • Lợi Ích Nhóm Trong Nền Kinh Tế Việt Nam
  • Quản Lý Thị Trường Vàng Hơn 1 Năm Qua: Những Hiệu Ứng Tích Cực Đối Với Nền Kinh Tế
  • Bài Tập: Kinh Tế Vĩ Mô
  • Tại Sao Sữa Chứa Trong Hộp Giấy Chữ Nhật, Trong Khi Nước Ngọt Lại Chứa Trong Lon Trụ Tròn?
  • Published on

    Tính tất yếu khách quan và lợi ích của việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại

    1. 1. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ LỢI ÍCH CỦA VIỆC MỞ RỘNG QUAN HỆ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI Tính tất yếu khách quan của việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại Kinh tế đối ngoại là tổng thể các quan hệ kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của một quốc gia nhất định với các quốc gia khác hoặc với các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế, được thực hiện dưới nhiều hình thức, hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công, hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại đã và đang là xu hướng tất yếu với hầu hết các nước. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại bắt nguồn từ yêu cầu của quy luật về sự phân công và hợp tác quốc tế giữa các nước từ sự phân bố tài nguyên thiên nhiên và sự phát triển không đều về kinh tế – kỹ thuật giữa các nước. Trong mấy chục năm gần đây sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học – công nghệ và tác động của nó đã khiến cho việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết đối với tất cả các quốc gia. Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế. Một mặt, cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm cho lực lượng sản xuất vượt khỏi khuôn khổ quốc gia để trở thành lực lượng sản xuất mang tính quốc tế và đẩy nhanh quá trình hình thành nền kinh tế thế giới như một chỉnh thể có nhiều quốc gia tham gia, vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau, hình thành thị trường quốc tế với giá cả quốc tế chi phối mọi hoạt động buôn bán quốc tế. Điều đó có ảnh hưởng sâu sắc và trực tiếp đến hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia. Có thể nói, ngày nay không một quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, tiên tiến hay lạc hậu có thể phát triển kinh tế có hiệu quả nếu tách khỏi thị trường thế giới, không có quan hệ kinh tế đối ngoại. Mặt khác, cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại dẫn tới sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện thông tin liên lạc và phương tiện giao thông, vận tải. Chính các phương tiện này đã làm rút ngắn khoảng cách và thời gian đi lại, thu nhận và xử lý thông tin giữa các nước, các khu vực và trên toàn thế giới nhanh chóng và thuận tiện, làm cho quá trình giao lưu, liên kết, phân công và hiệp tác quốc tế phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng và chiều sâu. Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế diễn ra mạnh mẽ trong những thập niên gần đây, được biểu hiện ở các khía cạnh sau: Một là, sự phân công và hiệp tác quốc tế giữa các nước, các khu vực ngày càng phát triển. Ngày nay, rất nhiều sản phẩm quan trọng dù được đăng ký ở một nước, nhưng tham gia chế tạo nó có hàng trăm công ty của hàng chục nước. Ví dụ: sản xuất máy bay Bôinh có tới 650 công ty trên thế giới đặt ở 30 nước tham gia; sản xuất ôtô Pho có tới 165 công ty ở 20 nước tham gia. Hai là, sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế giữa các nước ngày càng tăng. Sự chuyên môn hóa, hiệp tác hoá sản xuất làm cho các nước phụ thuộc vào nhau ngày càng chặt chẽ về nhiều mặt như: nguyên liệu, kỹ thuật, công nghệ, vốn đầu tư, lao động, thị trường… Trong đó, mỗi nước có những lợi thế riêng và đều tìm cách khai thác tối đa cả lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh của mình. Có thể nói, thị trường của nền kinh tế thế giới vừa là đầu vào vừa là đầu ra đối với hoạt động kinh tế của
    2. 2. mỗi nước. Điều đó làm cho các nước vừa phụ thuộc vào nhau vừa lợi dụng lẫn nhau để phát huy thế mạnh, khắc phục thế yếu của mình, sản xuất những sản phẩm mình có ưu thế để bán và mua các sản phẩm không sản xuất được, hoặc nếu tự sản xuất thì chi phí sản xuất cá biệt sẽ rất cao. Ba là, sự hình thành kết cấu hạ tầng sản xuất quốc tế và chi phí sản xuất quốc tế. Hệ thống giao thông quốc tế gồm có: đường biển, đường sông, đường ôtô, đường sắt và hàng không. Ngày nay, mỗi dạng phương tiện đều có những tiêu chuẩn và điều kiện hoạt động như: tiêu chuẩn về đường ôtô, cảng biển, sân bay, kho bãi, hệ thống tín hiệu, hệ thống luật… Các tiêu chuẩn đó đã và đang được quốc tế hóa. Cùng với các phương tiện giao thông, mạng lưới thông tin, liên lạc hiện đại cũng được quốc tế hóa. Quốc tế hoá đời sống kinh tế còn biểu hiện ở sự hình thành chi phí sản xuất quốc tế, giá cả quốc tế. Mỗi nước do có các điều kiện sản xuất khác nhau nên sản xuất ra cùng một loại hàng hóa sẽ có chi phí sản xuất khác nhau. Dựa vào chi phí sản xuất quốc tế, các nước tìm cách khai thác các thế mạnh của mình để đạt hiệu quả kinh tế cao trong quan hệ kinh tế quốc tế. Điều đó lại thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa và hiệp tác quốc tế phát triển. Như vậy, khu vực hóa, quốc tế hoá đời sống kinh tế là một tất yếu khách quan, nó đòi hỏi các quốc gia phải tăng cường mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực quốc tế và trong nước. Đối với nước ta, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại không nằm ngoài tính quy luật và mục đích nói trên. Sự tác động của cách mạng khoa học và công nghệ cùng với sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia và vai trò ngày càng tăng của các định chế kinh tế – tài chính toàn cầu và khu vực đã thúc đẩy quốc tế hoá đời sống kinh tế phát triển đến giai đoạn cao – toàn cầu hoá kinh tế. Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan của thời đại, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia. Toàn cầu hoá kinh tế đang phát triển nhanh chóng, gia tăng mạnh mẽ quy mô và phạm vi giao dịch hàng hoá, dịch vụ, vốn, công nghệ, kỹ thuật. Toàn cầu hoá kinh tế tạo khả năng để mở rộng thị trường, thu hút vốn, công nghệ, đồng thời đặt ra thách thức mới về nguy cơ tụt hậu ngày càng xa của các nước kém phát triển và sự cạnh tranh quốc tế rất gay gắt. Toàn cầu hoá kinh tế khiến cho không một nền kinh tế nào có thể phát triển một cách biệt lập “đóng cửa”, vì nếu biệt lập “đóng cửa” thì sẽ lạc hậu về kinh tế, xã hội… Đồng thời, cộng đồng quốc tế đứng trước nhiều vấn đề kinh tế, xã hội có tính toàn cầu mà không một nước riêng lẻ nào có thể giải quyết được mà không cần có sự hợp tác đa phương. Như vậy, toàn cầu hoá kinh tế càng khẳng định tính tất yếu khách quan của mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế. Lợi ích của mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại mang lại lợi ích to lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của nước ta. – Góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước với sản xuất và trao đổi quốc tế, nối liền thị trường trong nước với thị trường khu vực và thế giới, mở rộng thị trường ra bên ngoài, đồng thời góp phần phát triển thị trường trong nước.
    3. 3. – Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, nước ta sẽ khai thác được các nguồn lực bên ngoài vô cùng quan trọng để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đó là nguồn vốn, công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến. – Tạo điều kiện khai thác và phát huy có hiệu quả lợi thế so sánh, các nguồn lực trong nước, kết hợp nguồn lực trong nước với nguồn lực bên ngoài, mở rộng không gian và môi trường để phát triển kinh tế. – Góp phần thúc đẩy tăng trường kinh tế, tạo nhiều công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, tăng thu nhập, ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân. – Góp phần đưa nước ta sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tất nhiên, những lợi ích to lớn của mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại chỉ đạt được khi hoạt động kinh tế đối ngoại vượt qua được những thách thức của toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế và giữ đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhận thức sâu sắc về tính tất yếu khách quan và lợi ích to lớn của mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế, xuất phát từ tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã xác định nhiệm vụ “mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế” . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.84. . Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định chủ trương: “phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững” . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, .2001,tr. 89. , xác định nhiệm vụ: “chủ động hội nhập kinh tế có hiệu quả, mở rộng kinh tế đối ngoại” . Sđd, tr.330. . Đại hội lần thứ X của Đảng đã đánh giá những thành tựu và hạn chế của hoạt động kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn 2001-2005, đồng thời xác định “đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất” . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, .2006,tr.113-114. là một nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010. MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG, NGUYÊN TẮC CƠ BẢN NHẰM MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI Mục tiêu Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ nguồn lực bên ngoài về vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
    4. 4. Mục tiêu đó phải được quán triệt đối với mọi ngành, mọi cấp trong hoạt động kinh tế đối ngoại, đồng thời cũng phải được quán triệt trong mọi lĩnh vực của kinh tế đối ngoại. Phương hướng cơ bản nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, phát triển kinh tế đối ngoại Xuất phát từ quan điểm của Đảng: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 119. , phương hướng cơ bản nhằm phát triển kinh tế đối ngoại trong thời kỳ quá độ là: Thứ nhất, đa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại và đa dạng hoá các hình thức kinh tế đối ngoại. Đây là phương hướng chủ yếu của quan hệ quốc tế trong giai đoạn hiện nay – giai đoạn hoà bình, phát triển trở thành xu hướng cơ bản của thời đại ngày nay. Thứ hai, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại một cách có hiệu quả. Cần phải nhận thức rõ hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh mà vấn đề cốt lõi là giành thị trường, vốn, công nghệ và kỹ thuật, phải tuân thủ các nguyên tắc, luật lệ, tập quán quốc tế trên cơ sở cùng có lợi, “có đi có lại”. Thứ ba, trong điều kiện nền kinh tế thị trường quốc tế đã và đang từng bước trở thành nền kinh tế thị trường hiện đại và thống nhất, đồng thời luôn luôn biến động, việc phát triển kinh tế đối ngoại ở nước ta vừa cần tôn trọng và tuân thủ cơ chế thị trường vừa phải hết sức chú ý củng cố và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mỗi bước tiến của quan hệ kinh tế đối ng oại phải là mỗi bước tiến của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nguyên tắc cơ bản cần quán triệt trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Để mở rộng kinh tế đối ngoại có hiệu quả cần quán triệt những nguyên tắc phản ánh những thông lệ quốc tế, đồng thời đảm bảo lợi ích chính đáng về kinh tế, chính trị của đất nước. Những nguyên tắc đó là: Nguyên tắc bình đẳng Đây là nguyên tắc có ý nghĩa rất quan trọng làm nền tảng cho việc thiết lập và lựa chọn đối tác trong quan hệ kinh tế giữa các nước. Nguyên tắc này xuất phát từ thực tế là mọi quốc gia trong cộng đồng quốc tế đều là những quốc gia độc lập, có chủ quyền, có quyền bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Nó cũng bắt nguồn từ yêu cầu của sự hình thành và phát triển thị trường quốc tế mà mỗi quốc gia là thành viên. Với tư cách là thành viên, mỗi quốc gia phải được bảo đảm có quyền tự do kinh doanh, quyền tự chủ như mọi
    5. 5. quốc gia khác. Nói cách khác, bảo đảm tư cách pháp nhân của mỗi quốc gia trước luật pháp quốc tế và cộng đồng quốc tế. Kiên trì đấu tranh để thực hiện nguyên tắc này là nhiệm vụ chung của các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển khi thực hiện mở cửa và hội nhập kinh tế ở thế bất lợi so với các nước phát triển. Nguyên tắc cùng có lợi Nguyên tắc này giữ vai trò là nền tảng kinh tế để thiết lập và mở rộng quan hệ kinh tế giữa các nước với nhau. Cơ sở khách quan của nguyên tắc này là cùng có lợi bắt nguồn từ yêu cầu phải thực hiện đúng các quy luật kinh tế của thị trường diễn ra trên phạm vi quốc tế mà mỗi nước có lợi ích kinh tế dân tộc khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường thế giới, nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia sẽ là hình thức nếu các quốc gia tham dự không cùng có lợi ích kinh tế. Vì trong trường hợp đó, quan hệ kinh tế giữa các nước sẽ đi ra ngoài yêu cầu của quy luật giá trị. Quy luật dựa trên nguyên tắc ngang giá của kinh tế thị trường trong cộng đồng quốc tế. Nguyên tắc cùng có lợi còn là động lực kinh tế để thiết lập và duy trì lâu dài mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia. Cùng có lợi là một trong những nguyên tắc làm cơ sở cho chính sách kinh tế đối ngoại. Nguyên tắc này được cụ thể hoá thành những điều khoản làm cơ sở để ký kết các nghị định thư, hiệp định thương mại…, giữa các chính phủ và trong các hợp đồng kinh tế giữa các tổ chức kinh tế các nước với nhau. Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi quốc gia Trong cộng đồng quốc tế, mỗi quốc gia với tư cách là quốc gia độc lập đều có chủ quyền về chính trị, kinh tế, xã hội và địa lý. Vì vậy trong quan hệ kinh tế, các bên quan hệ phải tôn trọng chủ quyền, đồng thời trên cơ sở tôn trọng chủ quyền không được phép can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đó cũng chính là nguyên tắc để bảo đảm yêu cầu của nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Để thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi mỗi bên trong các quan hệ phải tôn trọng các điều kiện ký kết, không đưa ra những điều kiện phương hại đến lợi ích của nhau, không được dùng các biện pháp có tính chất can thiệp vào nội bộ của các quốc gia, đặc biệt là không dùng các thủ đoạn kinh tế, kỹ thuật, kích động, can thiệp vào đường lối chính trị của các quốc gia, tôn trọng quyền tự lựa chọn con đường phát triển của các quốc gia. Nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong việc phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam. Việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm khai thác có hiệu quả nguồn lực quốc tế chủ yếu về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý nhằm phát huy lợi thế, tăng sức cạnh tranh, nâng cao hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mọi hoạt động trong lĩnh
    6. 6. vực kinh tế đối ngoại đều phải hướng vào mục tiêu đó, tránh tình trạng vì lợi ích kinh tế trước mắt, xa rời mục tiêu dẫn đến chệch hướng xã hội chủ nghĩa. NHỮNG HÌNH THỨC KINH TẾ ĐỐI NGOẠI CHỦ YẾU HIỆN NAY Ngoại thương Ngoại thương hay còn gọi là thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ (hàng hóa hữu hình và vô hình) giữa các quốc gia thông qua xuất nhập khẩu. Ngoại thương là một trong những hình thức chủ yếu và có hiệu quả nhất trong các hình thức của kinh tế đối ngoại. Đối với các nước, đặc biệt là những nước đang phát triển như nước ta, ngoại thương có tác dụng to lớn: góp phần làm tăng của cải và sức mạnh tổng hợp, tắng tích luỹ của mỗi nước nhờ sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong trao đổi quốc tế; là một động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; “điều tiết thừa, thiếu” của mỗi nước; nâng cao trình độ công nghệ và cơ cấu ngành nghề trong nước; tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của người lao động, nhất là trong các ngành xuất khẩu. Nội dung của ngoại thương bao gồm: xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa, gia công tái xuất khẩu, xuất khẩu tại chỗ (bán hàng thu ngoại tệ trong nước). Trong đó, xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của hoạt động ngoại thương ở các nước nói chung và ở nước ta nói riêng. Quá trình phát triển thương mại quốc tế đòi hỏi tự do hoá thương mại; đồng thời thực hiện bảo hộ mậu dịch một cách hợp lý. Đối với nước ta hiện nay, để đẩy mạnh hoạt động ngoại thương cần hướng vào giải quyết các vấn đề sau: + Tăng kim ngạch xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu. Nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống trong nền kinh tế “mở” đòi hỏi phải tăng nhập khẩu. Do vậy, tăng kim ngạch xuất khẩu là yêu cầu bức xúc đối với nước ta. Định hướng đẩy mạnh xuất khẩu trong những năm tới là: Tăng nhanh tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm chế biến có giá trị tăng thêm cao, giàu hàm lượng công nghệ, có sức cạnh tranh, tạo thêm các sản phẩm xuất khẩu chủ lực mới, hạn chế và tiến tới chấm dứt xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên và nông sản chưa qua chế biến; Củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo thị trường ổn định cho các mặt hàng có khả năng cạnh tranh; Tăng thêm thị phần ở các thị trường lớn và khai mở các thị trường còn nhiều tiềm năng. Phấn đấu đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm tới (2006-2010) lên hơn hai lần 5 năm trước (tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá 5 năm: 2001-2005 đạt gần 111 tỷ USD). + Về nhập khẩu – chính sách mặt hàng nhập. Chính sách nhập khẩu phải tập trung vào việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phục vụ chiến lược hướng mạnh vào xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu những mặt hàng có thể sản xuất có hiệu quả ở trong nước;
    7. 7. + Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chính sách thương mại tự do và chính sách bảo hộ thương mại. Chính sách thương mại tự do có nghĩa là Chính phủ không can thiệp bằng biện pháp hành chính đối với ngoại thương, cho phép hàng hóa cạnh tranh tự do trên thị trường trong nước và nước ngoài, không thực hiện đặc quyền và ưu đãi đối với hàng hóa xuất nhập khẩu của nước mình, không có sự kỳ thị đối với hàng hóa xuất khẩu của nước ngoài. Chính sách bảo hộ thương mại có nghĩa là Chính phủ thông qua biện pháp thuế quan và phi thuế quan như: hạn chế về số lượng nhập khẩu, chế độ quản lý ngoại tệ để hạn chế hàng hóa nước ngoài xâm nhập. Cần kết hợp hai xu hướng đó trong chính sách ngoại thương sao cho vừa bảo vệ và phát triển kinh tế, bảo vệ thị trường trong nước, vừa thúc đẩy tự do thương mại, khai thác có hiệu quả thị trường thế giới. + Hình thành tỷ giá hối đoái một cách chủ động, hợp lý. Tỷ giá hối đoái là tỷ giá giữa đồng tiền của nước sở tại với đồng tiền của nước ngoài. Tỷ giá hối đoái là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng trong trao đổi kinh tế đặc biệt ảnh hưởng trực tiếp đối với xuất, nhập khẩu. Do vậy, việc xây dựng một tỷ giá hối đoái thống nhất, sát giá thị trường tiền tệ là rất cần thiết cho mỗi nước. Đầu tư quốc tế Đầu tư quốc tế là một hình thức cơ bản của quan hệ kinh tế đối ngoại. Nó là quá trình trong đó một hay nhiều bên (có quốc tịch khác nhau) cùng góp vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư nhằm đưa lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia. Yếu tố quốc tế của đầu tư quốc tế thể hiện sự khác nhau về quốc tịch của các bên tham gia đầu tư, nhưng mọi hoạt động đầu tư quốc tế đều nhằm mục đích sinh lợi. Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt đối với các nước nhận đầu tư. Một mặt làm tăng thêm nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý tiên tiến, tạo thêm việc làm, đào tạo tay nghề, khai thác tài nguyên, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tiếp cận kinh tế thị trường hiện đại trên thế giới. Mặt khác đối với các nước kém phát triển, đầu tư quốc tế cũng có khả năng làm tăng sự phân hóa giữa các giai tầng trong xã hội, giữa các vùng lãnh thổ, làm cạn kiệt tài nguyên, làm ô nhiễm môi trường sinh thái, tăng tính lệ thuộc vào bên ngoài. Những điều bất lợi này cần được tính đến và cân nhắc kỹ trong quá trình xây dựng, thẩm định, ký kết và thực thi dự án nhận đầu tư. Có hai loại hình đầu tư quốc tế: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp (FDI) là hình thức đầu tư mà quyền sở hữu và quyền sử dụng quản lý vốn của người đầu tư thống nhất với nhau, tức là người có vốn đầu tư trực tiếp tham gia vào việc tổ chức quản lý và điều hành dự án đầu tư, chịu trách nhiệm về kết quả, rủi ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận. Đầu tư quốc tế trực tiếp được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau: – Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng. Hình thức này không cần thành lập một pháp nhân mới.
    8. 8. – Xí nghiệp liên doanh mà vốn do hai bên cùng góp theo tỷ lệ nhất định để hình thành xí nghiệp mới có Hội đồng quản trị và ban điều hành chung. – Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài. – Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao. Hình thức này đòi hỏi cần có nguồn vốn lớn của bên ngoài và thường đầu tư cho các công trình kết cấu hạ tầng. Thông qua các hình thức trên mà các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao… sớm hình thành và phát triển. Đầu tư gián tiếp là loại hình đầu tư mà quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là người có vốn không trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, điều hành dự án mà thu lợi dưới hình thức lợi tức cho vay (nếu là vốn cho vay) hoặc lợi tức cổ phần (nếu là cổ phần). Trong các nguồn vốn đầu tư gián tiếp, một bộ phận quan trọng là viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho chính phủ một số nước có nền kinh tế đang phát triển. Bộ phận này có tỷ trọng lớn và thường đi kèm với điều kiện ưu đãi. ODA bao gồm các khoản hỗ trợ không hoàn lại và các khoản tín dụng ưu đãi khác do các tổ chức trong hệ thống Liên Hợp Quốc, các chính phủ, các tổ chức kinh tế dành cho các nước chậm phát triển. Các hình thức viện trợ chủ yếu của ODA là tiền mặt, hàng hóa, tín dụng thương mại ưu đãi, hỗ trợ công trình, hỗ trợ dự án. Từ năm 1988 đến hết năm 2005, nguồn vốn đầu tư trực tiếp vào nước ta đã có gần 65,7 tỷ USD đăng ký và khoảng 33 tỷ USD thực hiện. Trong giai đoạn 2001-2005, tổng vốn FDI thực hiện là 14,3 tỷ USD; tổng vốn ODA cam kết đạt 11,2 tỷ USD, vốn ODA giải ngân đạt 7,9 tỷ USD. Tuy nhiên, môi trường đầu tư của Việt Nam kém hấp dẫn so với một số nước xung quanh. Chưa thu hút được nhiều vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến của các tập đoàn kinh tế lớn; chưa chủ động khai thác vốn đầu tư gián tiếp quốc tế. Định hướng đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn 2006-2010 là: Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, chú trọng cải cách hành chính, đào tạo nguồn nhân lực, tạo lập những điều kiện thuận lợi hơn nữa để thu hút mạnh các nguồn vốn quốc tế; mở rộng địa bàn và hình thức thu hút FDI, hướng vào các thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn FDI. Đẩy nhanh tốc độ giải ngân ODA. Từng bước mở rộng đầu tư gián tiếp của nước ngoài. Hợp tác khoa học – kỹ thuật Hợp tác khoa học – kỹ thuật được thực hiện dưới nhiều hình thức, như: trao đổi những tài liệu – kỹ thuật và thiết kế, mua bán giấy phép, trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, phối hợp nghiên cứu khoa học kỹ thuật, hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công nhân. Đối với những nước lạc hậu về kỹ thuật, vốn chi cho nghiên cứu khoa học kỹ thuật còn ít, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật chưa nhiều, phương tiện vật chất còn thiếu thốn như nước ta thì việc tham gia hợp tác khoa học kỹ thuật với nước ngoài là vô cùng quan trọng. Đó là điều kiện thiết yếu để rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến. Tín dụng quốc tế
    9. 9. Đây là quan hệ tín dụng giữa nhà nước, các tổ chức kinh tế – xã hội, các cá nhân ở trong nước với các chính phủ, các tổ chức (gồm cả tổ chức phi chính phủ) và cá nhân ở nước ngoài, trong đó với các tổ chức ngân hàng thế giới và ngân hàng khu vực là chủ yếu. Tín dụng quốc tế được thể hiện dưới nhiều hình thức: hoặc vay nợ bằng tiền tệ, vàng, công nghệ, hàng hóa, hoặc có thể qua hình thức đầu tư trực tiếp (bên nhận đầu tư không có vốn, phải vay của bên đầu tư). Ưu điểm của hình thức này là vay nợ để có vốn đầu tư mở rộng sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng – những khu vực cần vốn đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm. Tuy nhiên, nếu không có phương án đầu tư đúng, được tính toán một cách khoa học thì việc chi tiêu vốn vay sẽ không có hiệu quả, vốn vay sẽ trở thành một gánh nặng cho nền kinh tế. Các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ Các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ chủ yếu là: Du lịch quốc tế Du lịch là nhu cầu khách quan, vốn có của con người, kinh tế càng phát triển, năng suất lao động càng cao thì nhu cầu du lịch – nhất là du lịch quốc tế càng tăng. Ngành kinh tế du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp bao gồm các hoạt động tổ chức, hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu đi lại, ăn uống, nghỉ ngơi, lưu trú, thăm quan, giải trí, tìm hiểu, lưu niệm… của du khách. Phát triển ngành du lịch quốc tế sẽ phát huy lợi thế của Việt Nam về cảnh quan thiên nhiên, về nhiều loại lao động đặc thù mang tính dân tộc, truyền thống của Việt Nam. Vận tải quốc tế Sự ra đời và phát triển của vận tải quốc tế gắn liền với sự phân công lao động xã hội và quan hệ buôn bán giữa các nước với nhau. Sự phát triển của vận tải quốc tế có tác dụng tăng nguồn thu ngoại tệ thông qua vận tải và tiết kiệm chi ngoại tệ do phải thuê vận chuyển khi nhập khẩu hàng hóa. Vận tải quốc tế sử dụng các phương thức như: đường biển, đường sắt, đường bộ (ôtô), đường hàng không… trong các phương thức đó, vận tải đường biển có vai trò quan trọng nhất. Việt Nam có vị trí địa lý quan trọng lại có nhiều hải cảng thuận tiện cho vận tải đường biển nên có thể phát huy thế mạnh của mình thông qua việc đẩy mạnh vận tải quốc tế. Xuất khẩu lao động ra nước ngoài và tại chỗ Hiện nay nhu cầu lao động ở các nước phát triển vẫn còn lớn do kinh tế phát triển, tỷ lệ tăng dân số ở các nước này có xu hướng giảm và nhất là do chuyển dịch cơ cấu kinh tế bởi cách mạng khoa học và công nghệ. Những ngành khó cơ giới hoá tự động hoá, độc hại, nguy hiểm hoặc cần nhiều
    10. 10. lao động không lành nghề như xây dựng, khai mỏ, công nghiệp nhẹ, công nghiệp lắp ráp ôtô, điện tử hiện vẫn cần lao động. Việt Nam với dân số trên 83 triệu người, kinh tế chưa phát triển là một nước có thương mại lao động lớn. Việc xuất khẩu lao động mang lại nhiều lợi ích trước mắt và lâu dài. Các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ khác Ngoài những hoạt động nêu trên, lĩnh vực kinh tế đối ngoại còn có nhiều hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ khác như dịch vụ thu bảo hiểm, dịch vụ thông tin bưu điện, dịch vụ kiều hối, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tư vấn. Phân công hợp tác sản xuất quốc tế trên cơ sở chuyên môn hóa Do sự phát triển của lực lượng sản xuất, phân công và hợp tác sản xuất không chỉ trong phạm vi quốc gia mà mang tính quốc tế. Trong nền kinh tế hiện đại, mỗi quốc gia có những ưu thế riêng trong việc sản xuất ra những sản phẩm nhất định, thậm chí những chi tiết sản phẩm nhất định. Nếu các quốc gia thực hiện phân công và hợp tác sản xuất trên cơ sở chuyên môn hoá, sản phẩm có thể đạt được chất lượng tốt nhất, chi phí thấp nhất và đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia. Chuyên môn hóa bao gồm: chuyên môn hóa những ngành khác nhau và chuyên môn hóa trong cùng một ngành (chuyên môn hóa theo sản phẩm, theo bộ phận sản phẩm hay chi tiết và công nghệ). Hình thức hợp tác này làm cho cơ cấu kinh tế ngành của các nước tham gia đan kết vào nhau, phụ thuộc lẫn nhau. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM MỞ RỘNG, NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI Để thực hiện mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại cần thực hiện đồng thời hàng loạt các giải pháp trong đó có các giải pháp chủ yếu sau đây: Bảo đảm sự ổn định về môi trường chính trị, kinh tế – xã hội Môi trường chính trị, kinh tế – xã hội là nhân tố cơ bản, có tính quyết định đối với hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt là đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài – hình thức chủ yếu, quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại. Kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ ra rằng nếu sự ổn định chính trị không được bảo đảm, môi trường kinh tế không thuận lợi, thiếu các chính sách khuyến khích, môi trường xã hội thiếu tính an toàn… sẽ tác động gián tiếp hoặc trực tiếp đến tỷ suất lợi nhuận của các đối tác, theo đó, sẽ tác động xấu tới quan hệ hợp tác kinh tế, trước hết là đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài. Có chính sách thích hợp đối với từng hình thức kinh tế đối ngoại Đây là giải pháp quan trọng nhằm phát triển đa dạng, hiệu quả kinh tế đối ngoại. Một mặt phải mở rộng các hình thức kinh tế đối ngoại, mặt khác phải sử dụng linh hoạt phù hợp với điều kiện cụ thể. Đặc biệt là phải sử dụng chính sách thích hợp đối với mỗi hình thức kinh tế đối ngoại. Chẳng hạn
    11. 11. đối với hình thức ngoại thương cần phải có chính sách khuyến khích mạnh mẽ sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, phát triển mạnh mẽ những sản phẩm hàng hóa dịch vụ có khả năng cạnh tranh, có cơ chế bảo hiểm hàng xuất khẩu, đặc biệt là nông sản, đầu tư cho sản xuất trong nước, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu tiến tới cân bằng xuất nhập khẩu, v.v.. Xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung, kinh tế đối ngoại nói riêng. Trong điều kiện nền kinh tế tri thức đang hình thành và từng bước phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội càng đóng vai trò quan trọng và yêu cầu chất lượng ngày càng cao. Trong đó đặc biệt là kết cấu hạ tầng kinh tế – kỹ thuật mà trước hết là hệ thống thông tin liên lạc, giao thông vận tải. Do vậy, phải có chiến lược đầu tư đúng, nhất là đầu tư tập trung có trọng điểm, dứt điểm và có hiệu quả cao, đặc biệt phải kiên quyết chống các hiện tượng tiêu cực gây thất thoát vốn đầu tư. Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với kinh tế đối ngoại Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn những năm vừa qua đã khẳng định rằng nếu thiếu sự quản lý của Nhà nước, kinh tế đối ngoại sẽ không thể mở rộng và mang lại hiệu quả cao, thậm chí còn dẫn đến những hậu quả khó lường trước không chỉ về kinh tế mà còn nguy hại hơn là hậu quả về chính trị. Vì vậy việc tăng cường quản lý nhà nước trở thành vấn đề cấp bách. Chỉ có tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước mới có thể bảo đảm mục tiêu, phương hướng và giữ vững được những nguyên tắc cơ bản trong kinh tế đối ngoại và có như vậy hoạt động kinh tế đối ngoại mới mang lại hiệu quả cao. Thông qua sự tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước sẽ khắc phục được tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh, phát huy hiệu quả của sự hợp tác trong nước để có sức mạnh cạnh tranh quốc tế, tránh được sự thua thiệt về lợi ích… Xây dựng đối tác và tìm kiếm đối tác trong quan hệ kinh tế đối ngoại Do hình thức kinh tế đối ngoại rất đa dạng nên đối tác cũng hết sức đa dạng. Cũng vì thế vừa xây dựng đối tác và tìm kiếm đối tác quan hệ trở thành vấn đề phức tạp cần được xử lý linh hoạt. Đối với việc xây dựng đối tác trong nước, điều quan trọng là phải từng bước xây dựng các đối tác mạnh (về vốn, công nghệ, năng lực quản lý, phong cách giao tiếp quốc tế…) có tầm cỡ quốc tế, đóng vai trò đầu tàu trong quan hệ kinh tế quốc tế. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp vẫn là những chủ thể chủ yếu trực tiếp hoạt động kinh tế đối ngoại nên cần phải xúc tiến xây dựng một số doanh nghiệp nhà nước thành tập đoàn xuyên quốc gia. Các tập đoàn này sẽ là lực lượng đầu tàu trong việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và thông qua đó lôi cuốn các doanh nghiệp khác. Trong quan hệ kinh tế đối ngoại, việc lựa chọn đối tác thích hợp luôn là vấn đề quan trọng đối với Việt Nam. Song trong tương lai và lâu dài cần quan tâm hơn đối với các công ty xuyên quốc gia vì đó là nguồn lực quốc tế lớn về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý mà chúng ta rất cần khai thác. Mỗi giải pháp trong hệ thống 5 giải pháp nói trên tuy đều có vị trí khác nhau, song sự phân định cũng chỉ có ý nghĩa tương đối. Để mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại cần phải thực
    12. 12. hiện đồng bộ các giải pháp tạo nên sức mạnh tổng hợp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại của nền kinh tế nước ta. Các giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại phải đặt trong tổng thể các giải pháp đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Đó là các giải pháp chủ yếu sau: Nâng cao nhận thức chung về hội nhập kinh tế quốc tế; xây dựng chiến lược phát triển, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước; đổi mới cơ chế chính sách quản lý, hoàn thiện hệ thống pháp luật; đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực; đẩy mạnh cải cách hành chính; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đối với các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế. CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Phân tích sự tất yếu khách quan và lợi ích của việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay. 2. Phân tích các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh tế đối ngoại. 3. Trình bày các hình thức kinh tế đối ngoại chủ yếu. 4. Trình bày các giải pháp chủ yếu nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tái Chế Tấm Pin Mặt Trời: Lợi Ích Kinh Tế Và Môi Trường
  • Lợi Ích Kinh Tế, Môi Trường Từ Rừng Fsc
  • Lời Giải Cho Bài Toán Lợi Ích Kinh Tế Và Môi Trường
  • Cân Bằng Lợi Ích Kinh Tế Và Môi Trường
  • Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Giải Quyết Quan Hệ Lợi Ích Kinh Tế Trong Thu Hút Fdi Của Nhật Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Lợi Ích Của Việc Thu Hút Fdi Với Sự Phát Triển Kinh Tế Ở Việt Nam Và Giải Pháp Nhằm Cải Thiện Môi Trường Đầu Tư Nước Ngoài
  • Cơ Hội Từ Những Dịch Chuyển Trong Các Chuỗi Giá Trị: Lợi Ích Và Chi Phí Của Vốn Fdi
  • Thu Hút Dòng Vốn Fdi: Hai Bên Đều Có Lợi Và Lợi Ích Của Chúng Ta Phải Nhiều Hơn
  • Fdi Là Gì? Vốn Fdi Là Gì? Những Tác Động Của Fdi
  • Fan Cứng Là Gì? Cách Trở Thành Fan Cứng Trên Facebook
  • Nhật Bản là quốc gia thành công nhất ở châu Á trong thu hút FDI khi làn sóng xuất khẩu tư bản mở rộng thập kỷ 50 của thế kỷ trước. Một trong những yếu tố tạo nên sự thành công đó là chính quyền các cấp tập trung giải quyết tốt quan hệ lợi ích kinh tế giữa các chủ thể trong thu hút FDI. Bài viết bàn sâu thêm nội dung này làm bài học kinh nghiệm cho tỉnh Thái Nguyên.

    Từ khóa: Quan hệ lợi ích kinh tế, thu hút FDI, bài học kinh nghiệm, tỉnh Thái Nguyên.

    1. Giải quyết quan hệ lợi ích trong thu hút FDI của Nhật Bản

    1.1. Hệ thống tổ chức và cơ chế thực hiện quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hút FDI của Nhật Bản

    Để thực hiện tốt quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hút đầu tư FDI, chính phủ Nhật Bản đã thiết lập hệ thống tổ chức quản lý linh hoạt để thực hiện mối quan hệ lợi ích giữa các doanh nghiệp và người lao động, cụ thể: Hệ thống quan hệ lao động giữa các doanh nghiệp và người lao động có sự tham gia của 3 bên, gồm: Các cơ quan Nhà nước; Chủ doanh nghiệp và các tổ chức đại diện giới chủ doanh nghiệp; Người lao động và các tổ chức đại diện người lao động. Trong đó, tổ chức đại diện chủ doanh nghiệp lớn hay đại diện người sử dụng lao động ở các doanh nghiệp lớn ở Nhật Bản là Hiệp hội Liên đoàn doanh nghiệp Nhật Bản (Keidanren). Còn tổ chức đại diện cho các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa là các Phòng thương mại. Tổ chức đại diện cho người lao động là tổ chức công đoàn, được chia ra làm 3 cấp từ thấp tới cao là công đoàn doanh nghiệp, công đoàn ngành và công đoàn trung ương. Tổ chức công đoàn trung ương lớn nhất ở Nhật Bản là Liên đoàn Lao động Nhật Bản (tiếng Nhật là Rengo). Các tổ chức đại diện chủ sử dụng lao động này thường tham gia thể hiện quan điểm và tiếng nói của mình trong các cuộc đối thoại ở cấp quốc gia và quốc tế. Trong giải quyết xung đột, mâu thuẫn lợi ích với người lao động, các tổ chức này thay mặt chủ doanh nghiệp đối thoại và ưu tiên sử dụng đối thoại với các tổ chức công đoàn, cũng như nghiêm túc lắng nghe ý kiến từ người lao động. Nhờ đó, mối quan hệ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động trong các doanh nghiệp của Nhật Bản ít xảy ra xung đột gay gắt.

    Còn các cơ quan nhà nước quản lý về quan hệ lao động giữa doanh nghiệp và người lao động là Bộ Y tế, lao động và phúc lợi xã hội (viết tắt là CRLC). Ở mỗi địa phương có 1 CRLC phụ trách để giải quyết các tranh chấp ban đầu giữa chủ doanh nghiệp và người lao động ở địa phương. Về cơ bản, CRLC đóng vai trò như trọng tài để giải quyết các vấn đề phát sinh trong mối quan hệ giữa chủ sử dụng lao động và lao động trong doanh nghiệp. Đồng thời, ngăn chặn hoặc hạn chế sự gia tăng của các xung đột, mâu thuẫn giữa hai bên khi các vấn đề này có tác động xấu tới xã hội và cộng đồng xung quanh địa bàn doanh nghiệp.

    Để hài hòa lợi ích giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, giải quyết vấn đề tiền lương cho người lao động là một trong những vấn đề cốt lõi. Ở Nhật Bản, trước năm 1990, các doanh nghiệp Nhật Bản thường trả lương cao cho người lao động theo thâm niên công tác của họ. Trả lương theo thâm niên làm việc thời kỳ này được đánh giá là nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sự tăng trưởng thần kỳ của Nhật Bản. Ở hầu hết các doanh nghiệp đều có hệ thống việc làm trọn đời cho người lao động. Thông qua hai hệ thống này, mối quan hệ giữa người làm chủ và người làm thuê ngày càng gắn bó khăng khít với nhau. Giới chủ sẵn sàng đầu tư để người lao động của mình tăng kiến thức, kĩ năng làm việc, đặc biệt tiếp nhận quy trình công nghệ mới,… Người lao động được trả lương theo thâm niên làm việc và có cơ hội làm việc trọn đời với doanh nghiệp, công ty,… Nhờ đó, mà họ xác định doanh nghiệp như mái nhà thứ hai, họ gắn bó lâu dài và không ngừng nâng cao kiến thức, kĩ năng và tận tâm tận lực cống hiến để góp phần đưa hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp ngày một lớn mạnh. Bên cạnh đó còn được doanh nghiệp ghi nhận những đóng góp, được doanh nghiệp cam kết trả lương dài hạn và làm việc trọn đời, và được bảo vệ quyền lợi từ công đoàn doanh nghiệp nên người lao động ít có những mâu thuẫn lợi ích với doanh nghiệp.

    Chế độ trả lương theo thâm niên làm việc sau một thời kỳ dài ở Nhật Bản đang tỏ ra bất cập trong bối cảnh cuộc cách mạng KH – CH hiện đại, vì làm cho người lao động bị lệ thuộc vào một môi trường nên ít sáng tạo. Vì vậy, những năm gần đây, Nhật Bản không áp dụng chế độ trả lương theo thâm niên của người lao động nữa mà chuyển sang chế độ dựa vào kết quả làm việc của người lao động. Điều này một phần giúp giải quyết vấn đề dân số già, lao động lớn tuổi chiếm tỉ lệ cao làm việc không hiệu quả. Mặt khác, tạo điều kiện khuyến khích khả năng sáng tạo của lực lượng lao động trẻ, cũng đồng thời giảm tải gánh nặng tiền lương cho các doanh nghiệp. Ở mỗi doanh nghiệp sẽ có tiêu chí về các mức độ hoàn thành công việc khác nhau, tùy vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, về cơ bản, tiêu chí một lao động làm việc hiệu quả là xét khả năng hoàn thành nhiệm vụ của họ, xét năng suất lao động và sự thông thạo trong công việc. Chủ doanh nghiệp coi trọng kết quả lao động của người lao động và vẫn áp dụng chế độ trả lương dài hạn đối với lao động tay nghề cao. Công đoàn cấp doanh nghiệp là cầu nối giữa các nhà quản lý doanh nghiệp với người lao động. Khi người lao động cam kết làm việc dài hạn ở doanh nghiệp thì việc công đoàn cấp doanh nghiệp đứng ra yêu cầu các cấp quản lý doanh nghiệp đảm bảo tiền lương, thưởng cho người lao động trở nên dễ dàng hơn. Doanh nghiệp cũng tạo cơ hội cho người lao động về các vị trí quản lý trong doanh nghiệp, nhờ đó người lao động có thêm động lực phấn đấu và làm việc dài hạn. Bên cạnh đó, tại các doanh nghiệp, các cấp quản lý, người lao động và công đoàn cấp doanh nghiệp thường xuyên tổ chức đối thoại và chia sẻ thông tin, trao đổi kiến thức với nhau, từ đó hài hòa được lợi ích cho người lao động và người sử dụng lao động.

    1.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể trong thu hút FDI

    Biểu đồ 1 cho thấy, trong giai đoạn từ năm 1946 tới 1974, số lượng các cuộc đình công ở Nhật Bản khá lớn. Điều này là do sau chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản rơi vào giai đoạn hỗn loạn trầm trọng. Đây là giai đoạn người lao động tham gia rất nhiều vào các phong trào chính trị nên căng thẳng liên tiếp xảy ra giữa chủ doanh nghiệp và người lao động. Sau khi Nhật Bản dần hồi phục lại nền kinh tế thì mối quan hệ này dần được cải thiện. Và cho tới nay, xu hướng các cuộc đình công giữa người sử dụng lao động và người lao động ngày càng giảm, thậm chí từ con số 5197 vụ năm 1974 xuống còn 38 vụ năm 2022. Đây là một kết quả quá lớn, nó phản ánh rõ mối quan hệ đã được cải thiện rất lớn giữa chủ lao động và người lao động trong các doanh nghiệp ở Nhật Bản.

    Hình 1: Số vụ đình công ở Nhật Bản giai đoạn từ năm 1946 tới năm 2022 Nguồn: Takashi Araki, 2022

    Về phương thức giải quyết xung đột giữa doanh nghiệp và người lao động, Nhật Bản luôn ưu tiên giải pháp đối thoại, cụ thể là thông qua hình thức thương lượng tập thể. Hình thức thương lượng tập thể này chủ yếu diễn ra ở phạm vi doanh nghiệp. Mặc dù Nhật Bản có 3 cấp công đoàn là cấp doanh nghiệp, cấp ngành và cấp quốc gia nhưng khi xảy ra xung đột giữa doanh nghiệp và người lao động, việc xử lý xung đột này thường chỉ cần ở cấp doanh nghiệp. Điều này cũng cho thấy phần nào mong muốn hài hòa lợi ích giữa hai bên, họ muốn giải quyết xung đột theo tính chất xây dựng và hợp tác thay vì đẩy mâu thuẫn lên cao. Trong vấn đề thương lượng tăng lương của người lao động, khi doanh nghiệp và người lao động không tiến tới được mức lương mà lao động mong muốn thì doanh nghiệp phải đáp ứng một mức lương sàn cho lao động. Khác với nhiều doanh nghiệp ở các nước phương Tây có xu hướng lựa chọn các nhà quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp dựa trên nền tảng giáo dục và năng lực chuyên môn, các doanh nghiệp của Nhật Bản có xu hướng lựa chọn dựa trên kinh nghiệm làm việc. Đó là cơ hội và cũng là động lực để người lao động gắn bó lâu dài với doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn, người lao động Nhật Bản, đặc biệt là những người có mong muốn thăng tiến trong doanh nghiệp sẽ dễ dàng thông cảm cho khó khăn của nhà quản lý hơn. Hình 2 khái quát hóa mối quan hệ hợp tác giữa lao động và quản lý trong doanh nghiệp. Có thể thấy, doanh nghiệp và người lao động Nhật Bản cơ bản có sự tin tưởng lẫn nhau, cùng nhau hợp tác vì lợi ích chung của đôi bên. Họ hợp tác trên tinh thần tự giác, tự nguyên. Làm được điều này, chứng tỏ doanh nghiệp và người lao động đều có nhận thức rất lớn về vai trò của hài hòa lợi ích giữa các bên cũng nhau vì sự phát triển chung, vì hoạt động thu hút FDI vào phát triển công nghiệp nói riêng.

    Hình 2: Mô hình hợp tác giữa lao động và quản lý trong doanh nghiệp Nhật Bản Nguồn: Hiroyuki Matsui, 2022

    3. Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Thái Nguyên

    Qua nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản về giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế trong thu hút đầu tư FDI vào phát triển công nghiệp, có thể rút ra một số bài học cho tỉnh Thái Nguyên như sau:

    Một là, phát huy tính chủ động và đề cao quan điểm đối thoại của hệ thống tổ chức nhằm đảm bảo lợi ích của các chủ thể trong thu hút FDI vào phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

    Đảm bảo hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế giữa chủ sử dụng lao động và người lao động: Ở Nhật Bản khi người chủ lao động và người lao động có mâu thuẫn lợi ích với nhau, việc xử lý những mâu thuẫn này thường chỉ diễn ra ở phạm vi doanh nghiệp với sự tham gia của công đoàn doanh nghiệp. Các cuộc thương lượng được tổ chức thường xuyên và có trật tự, thường diễn ra vào mùa Xuân. Các bên tham gia thương lượng trên tinh thần xây dựng doanh nghiệp, công ty, thay vì đẩy mâu thuẫn lên cao hơn. Đối với tỉnh Thái Nguyên có thể học hỏi từ việc coi xung đột giữa chủ lao động và người lao động là một quy luật tất yếu. Từ đó, xây dựng hình thức xử lý xung đột trên quan điểm ưu tiên phương pháp hòa bình và đối thoại theo nguyên tắc xây dựng, vì sự phát triển chung của doanh nghiệp. Ở Nhật Bản, vai trò của tổ chức công đoàn là rất lớn và được cả hai phía là chủ doanh nghiệp và người lao động tin tưởng. Nhờ đó, thương lượng giữa đôi bên về cơ bản có hướng giải quyết tích cực. Đây là việc chúng ta cần học hỏi Nhật Bản.

    Hai là, đổi mới phương thức hoạt động để phát huy vai trò của tổ chức công đoàn cơ sở.

    Qua tham vấn kinh nghiệm hoạt động vừa bài bản vừa chủ động trong thực thi chức trách của tổ chúc công đoàn trong doanh nghiệp FDI của Nhật Bản cho thấy: Hiện nay, tiếng nói và vai trò của các tổ chức công đoàn ở các doanh nghiệp FDI ở Thái Nguyên chưa cao, dẫn đến kết quả là hoạt động thương lượng, hòa giải và đàm phán giữa chủ doanh nghiệp và người lao động đạt hiệu quả thấp. Chúng ta cần tăng cường tiếng nói cho các tổ chức công đoàn cấp doanh nghiệp, coi trọng vị trí và vai trò của tổ chức công đoàn các cấp. Tổ chức công đoàn phải là tổ chức thường xuyên quan sát và hiểu rõ tình hình thực tế của mối quan hệ giữa người chủ doanh nghiệp và người lao động để tìm giải pháp phù hợp hài hòa lợi ích cho đôi bên. Cũng chính vì cần sự sâu sát này nên công đoàn cơ sở nên được tăng cường tiếng nói và vai trò. Cần tinh giản bộ máy công đoàn cấp trên, thay vào đó tăng cường nhân lực cho công đoàn cấp dưới, đặc biệt là công đoàn doanh nghiệp. Kêu gọi hỗ trợ tài chính cho tổ chức công đoàn từ nhiều nguồn để công đoàn có khả năng hoạt động độc lập, giảm bớt sự phụ thuộc về kinh tế đốii với giới chủ nên không dám đấu tranh,… Bên cạnh đó, cần xây dựng pháp luật công đoàn để tạo ra những quy định nhằm bảo vệ các tổ chức công đoàn cũng như đảm bảo sự tự do, độc lập trong hoạt động của tổ chức công đoàn.

    Ba là, tập trung giải quyết tốt quan hệ lợi ích giữa các chủ thể khi thu hồi đất là điểm nóng nhất của quan hệ lợi ích kinh tế trong thực hiện FDI để phát triển công nghiệp tại địa bàn cấp tỉnh.

    Về hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế giữa người dân với chính quyền và nhà đầu tư trong hoạt động thu hút FDI vào phát triển công nghiệp, đặc biệt là vấn đề quan hệ lợi ích khi thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất và cụm công nghiệp. Để thu hút nguồn vốn FDI vào phát triển công nghiệp, việc giải phóng mặt bằng để có đất xây dựng cho các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu chế xuất là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, làm sao để việc thu hồi hay giải phóng mặt bằng đảm bảo được mặt bằng cho nhà đầu tư đồng thời không tác động xấu tới cuộc sống của người dân, đặc biệt là những người bị thu hồi đất là bài toán khó.

    Tài liệu trích dẫn:

    1 Ministry of Health, Labour and Welfare (MHLW)

    2 The Central Labour Relations Commission (CLRC)

    3 Lifetime employment

    4 Length-of-service wage system

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Đỗ Đức Bình (2009), Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam – Những bất cập về chính sách và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (6).
    2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2013), Đầu tư nước ngoài trong hoạt động đổi mới và chuyển giao công nghệ ở Việt Nam, 25 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, NXB Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
    3. Phan Việt Châu (2015), Kinh nghiệm thu hút FDI từ một số nước ASEAN, Tạp chí Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, 433(9).
    4. Đào Quang Thu (2013), Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: 25 năm thu hút và phát triển, 25 năm Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, NXB Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
    5. Fujikazu Suzuki. (2014). Industrial relations and productivity in post war Japan Mitsuru Yamashita 2005, Japanese Labour-management Relations in an Era of Diversification of Employment Types: Diversifying Workers and the Role of Labour Unions, Japan Labour Review.
    6. Hiroyuki Matsui. (2015). Employers’ Views on Japanese Labour Management Relations for International Forum on Tripartism, Keidanren (Japan Business Federation).
    7. Masao Nakamura. (1993). Japanese Industrial Relations in an International Business Environment, North American Journal of Economics & Finance, 4(2), 225-251.

    HOW DID JAPAN RESOLVEABSTRACT: ECONOMIC INTERESTS IN ATTRACTING FDI? AND LESSONS FOR THAI NGUYEN PROVINCE, VIETNAM

    Master. DO THI THU TRANG

    Ho Chi Minh National Academy of Politics

    Japan is the most successful country in Asia in attracting foregin direct investment (FDI) when the wave of capital export expanded in the 50s of last century. One of the factors that makes Japan successed in attracting FDI is that the Japan’s authorities at all levels focused on resolving the economic interests between entities. This article further discusses this content to draw lessons for Thai Nguyen Province, Vietnam.

    Keywords: Economic interests, FDI attraction, lessons, Thai Nguyen Province.

    [Tạp chí Công Thương – Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ,

    Số 17, tháng 7 năm 2022]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Vốn Fdi Và Lợi Ích Của Việc Thu Hút Fdi
  • Lợi Ích Của Thu Hút Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (Fdi).
  • Mặt Trái Của Thu Hút Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (Fdi) Đến Việt Nam
  • Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Việt Nam Và Một Số Vấn Đề Đặt Ra
  • Ảnh Hưởng Của Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Đối Với Nềnkinh Tế(Của Nước Nhận Đầu Tư)
  • Các Cơ Cấu Lợi Ích Kinh Tế Trong Các Thành Phần Kinh Tế Ở Nước Ta

    --- Bài mới hơn ---

  • Tại Sao Kinh Tế Nhà Nước Giữ Vai Trò Chủ Đạo
  • Phân Tích Tính Tất Yếu Khách Quan Và Lợi Ích Của Sự Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam
  • Phát Triển Kinh Tế Chia Sẻ: Lợi Ích Nhiều Mặt
  • Phát Triển Kinh Tế Phải Từ Lợi Ích Của Người Dân
  • Luận Văn Tiểu Luận Lợi Ích Của Việc Thu Hút Fdi Với Sự Phát Triển Kinh Tế Ở Việt Nam Và Giải Pháp Nhằm Cải Thiện Môi Trường Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Để Vừa Thu Hút Được Vốn Nước Ngoài Vừa Bảo Hộ Được Các Nhà Đầu Tư Trong Nước Và Đảm Bảo Vốn Cạnh Tranh
  • Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế với sự đa dạng các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và đa dạng các hình thức tổ chức sản xuất-kinh doanh.Đại hội lần thứ IX của Đảng đã xác định: ở nứơc ta hiện nay có 6 thành phần kinh tế.Đó là:

    +Kinh tế tập thể: Có thể nói các hợp tác xã(HTX) được thành lập và tồn tại mấy chục năm qua được hình thành trên cơ sở tập thể hoá các tư liệu sản xuất mang tính phong trào và được nền kinh tế xã hội chủ nghĩa bao cấp, nuôi dưỡng đến nay hầu như bị tan rã hoặc đang đứng trước nguy cơ tan rã. Các hợp tác xã nông nghiệp và thương nghiệp, dịch vụ hầu như đã biến dạng và biến mất hoàn toàn.

    Riêng trong nông nghiệp các HTX hay các tập đoàn sản xuất(TĐSX) diễn ra theo hai xu hướng sau:

    – Phần lớn các HTX va TĐSX được thành lập trước đây đã bị tan rã và giải thể .

    – Số còn lại tồn tại chủ yếu mang tính chất hình thức làm dịch vụ phục vụ, thúc đẩy kinh tế hộ gia đình phát triển.

    Dĩ nhiên, cùng với sự tan rã và giải thể hàng loạt của các HTX và các TĐSX trong cả nông nghiệp, công nghiệp thương nghiệp và dịch vụ theo mô hình cũ là sự hình thành những loại hình hợp tác kiểu mới đa dạng ra đời một cách khách quan do yêu cầu của đời sống và sản xuất xã hội. Loịa hình hợp tác này được hình thành trên cơ sở các thành viên xã viên tự nguyện tham gia và đóng góp cổ phần trên nguyên tắc cùng có lợi , lời ăn, lỗ chịu. Trong công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ nó mang tên Tổ hợp sản xuất, công ty… tuỳ theo tính chất và quy mô, còn trong nông nghiệp nó được hình thành và hiện còn ở dạng quy mô hợp tác nhỏ.

    Các quan hệ kinh tế của các HTX và TĐSX trước đây gắn liền với nhà nước, còn các quan hệ kinh tế của các công ty , các hợp tác xã mới được hoạt động mấy năm qua gắn liền với cơ chế thị trường.

    HTX và TĐSX trước đây là một bộ phận của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, quy định bởi nhà nước và vận động theo xu hướng chung đó. Còn kinh tế hợp tác hiện nay là hình thức liên kết tự nguyện của những người lao động, người sản xuất nhỏ, dưới các hình thức hết sức đa dạng , được Đảng và nhà nước ta coi là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cùng với kinh tế nhà nước dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế .Chỉ thị ngày 24-5-1996 của Ban bí thư TƯ Đảng về phát triển kinh tế hợp tác chỉ rõ: ” Nhà nước tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh của HTX, không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX”. Tuy nhiên, nhà nước khuyến khích phát triển mọi hình thức kinh tế hợp tác , có các chính sách ưu đãi , hỗ trợ HTX về đất đai, thuế tín dụng , đầu tư, xuất nhập khẩu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ …

    Trong điều kiện vừa được nhận sự ưu đãi , hỗ trợ từ nhà nước , vừa được hoàn toàn độc lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh, kinh tế tập thể hiện nay vận động theo xu hướng khác nhau , vừa bị quy định bởi cơ chế thị trường , vừa phụ thuộc vào xu hướng chung của các thành viên tham gia hợp tác.

    Đối với kinh tế tập thể, nhà nước với các chức năng của mình, nhất là chức năng hành pháp và kinh tế , thông qua các luật doanh nghiệp, đầu tư…,các chính sách thuế , chính sách bảo trợ sản xuất, các dịch vụ kỹ thuật ,cung ứng vật tư, tiêu dùng sản phẩm và ngân hàng, tín dụng…, trong những chừng mực nhất định, những phạm vi và quy mô nhất định có thể định hướng điều chỉnh sự vận động và phát triển của kinh tế tập thể theo định hướng xã hội chủ nghĩa . Dĩ nhiên, đó là sự điều tiết ở tầm vĩ mô. Chắc chắn rằng trong tương lai thành phần kinh tế tập thể sẽ cùng với thành phần kinh tế nhà nước trở thành nền tảng của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta chủ trương.

    .+Kinh tế tư bản nhà nước : Đó là thành phần kinh tế mới xuất hiện từ khi ta thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Có thể kể 2 loại hình chủ yếu của kinh tế hỗn hợp giữa nhà nước và tư nhân này là: liên doanh và hợp doanh, giữa nhà nước và tư bản nước ngoài; và liên doanh, hợp doanh, hỗn hợp , giữa nhà nước và doanh nghiệp trong nước và tư bản nước ngoài.

    Hiện nay , 70-75% các dự án liên doanh với các nhà tư bản nước ngoài đều có quy mô trên dưới 7 triệu USD . Điều đó chứng tỏ các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam giai đoạn đầu này phần lớn mới chỉ là công ty nhỏ, vốn ít, tìm kiếm cơ hội có thể mang lại lợi nhuận ngay và thu hồi vốn nhanh. Do vậy, chưa có các dự án tầm cỡ đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng và kinh tế mũi nhọn. Thu hút các nhà đầu tư giai đoạn hiện nay phần nhiều là điện tử, sản xuất hàng tiêu dùng, dịch vụ, du lịch, khách sạn và ngân hàng.

    Trong những năm vừa qua, các nhà đầu tư vào Việt Nam gặp không ít khó khăn nhất là thủ tục hành chính môi trường đầu tư…Vì vậy, muốn thu hút các dự án lớn cần trước hết làm trong sạch môi trường đầu tư cũng như ban hành và thực thi pháp luật nghiêm minh, đồng bộ và bình đẳng .

    Dù nhà nước là đồng tác giả nhưng thành phần kinh tế tư bản nhà nước vẫn tuân theo những quy luật thép của kinh tế thị trường. ở đây xu hướng phát triển của các doanh nghiệp liên doanh này sẽ phụ thuộc vào chủ thể bỏ vốn đâù tư nhiều hơn trên 50% . Nếu phía nhà nước đầu tư phía đối tác bên ngoài góp vốn lớn hơn thì dù nhà nước có tham gia điều tiết ở cả tầm vĩ mô và vi mô như thế nào chăng nữa thì xu hướng vận động tự nhiên của nó cũng vẫn nghiêng về con đường phát triển tư bản chủ nghĩa.

    Ngoài ra còn có:

    +Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

    +Kinh tế nhà nước.

    +Kinh tế cá thể,tiểu chủ.

    +Kinh tế tư bản tư nhân

    Như vậy,trên một góc độ nào đấy(dựa vào các mối quan hệ kinh tế trực tiếp chẳng hạn) ta có thể thấy được 6 cơ cấu các lợi ích kinh tế,đó là:

    _Thành phần kinh tế nhà nước có lợi ích của Nhà nước(xã hội);lợi ích tập thể;lợi ích cá nhân người lao động.

    _Thành phần kinh t ế tập thể có lợi ích tập thể; lợi ích xã hội;lợi ích cá nhân.

    _Thành phần kinh tế tư bản nhà nước có lợi ích của doanh nghiêp;lợi ích của xã hội;lợi ích của cá nhân người lao động.

    _Thành phần kinh tế cá thể,tiểu chủ có lợi ích cá nhân,lợi ích xã hội.

    Thành phần kinh tế tư bản tư nhân có:lợi ích chủ doanh nghiệp;lợi ích cá nhân người lao động;lợi ích xã hội.

    _Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài;lợi ích của nước chủ nhà; lợi ích của người lao động trong các doanh nghiêp liên doanh.

    Trong các cơ cấu lợi ích kinht ế ấy,thì lợi ích kinh tế nhà nước(xã hội)giữ vai trò”hàng đầu”và là cơ sở để thực hiện các lợi ích khác,còn lợi ích kinh tế của người lao động là quan trọng,nó thể hiện như là động lực trực tiếp thúc đẩy người lao động.

    Trong nền kinh tế thị trường,mỗi cá nhân,doanh nghiệp. Chỉ hành động khi họ thấy đựơc lợi ích kinh tế của mình mà không cần thuyết phục hoặc cưỡng bức.Song,vì có nhiều lợi ích kinh tế khác nhau và vì lợi ích riêng của mỗi cá nhân,vì lợi ích cục bộ,trước mắt có thể làm tổn hai đến lợi ích chung của cộng đồng(tập thể và xã hội).Do đó,nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách là người tổ chức cán bộ quản lý và điều hành nền kinh tế vĩ mô phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế và hướng chúng vào một quỹ đạo chung,tạo động lực lâu bền,mạnh mẽ và vững chắc cho sự phát triển.

    Giải quyết mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế là một vấn đề khá phức tạp và giữ vị trí quan trọng trong việc nghiên cứu nguồn gốc,động lực phát triển xã hội nói chung,phát triển kinh tế thị trường nói riêng.Theo Ph.Angghen,”ở đâu không có lợi ích chung,ở đó không có sự thống nhất về mục đích”.Quá trình giải quyết mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế là tạo ra các điều kiện trong đó việc thực hiện các lợi ích sao cho cùng một hướng và đảm bảo tính hàng đầu của lợi ích xã hội,cái có lợi đối với xã hội thì phải có lợi ích đối với tập thể, cá nhân và mỗi doanh nghiệp. Đó là nguyên tắc của sự kết hợp kinh tế trong nền kinh tế thị trường.

    Giải quyết tốt mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế phải tính đến sự đan chéo ,chế ước, tác động qua lại giữa các lợi ích kinh tế, đồng thời phải tính toán, một cách toàn diện ,đảm bảo lợi ích trước mắt ,lâu dài, lợi ích toàn bộ,bộ phận.

    Ở nứơc ta hiện nay,sự kết hợp các lợi ích kinh tế nhằm tạo ra động lực thúc đẩy mục tiêu:dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ ,văn minh.Hướng các lợi ích vào quỹ đạo chung và sự kết hợp chúng nhằm tạo ra động lực cho sự phát triển bằng cách:

    _ Với chức năng tổ chức kinh tế,nhà nước ta động viên mọi người,mọi lực lượng,mọi thành phần kinh tế,thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế 2001-2010.

    _ Xác định về lượng của mỗi loại lợi ích kinh tế và quan hệ tỷ lệ về mặt lượng giữa các loại lợi ích kinh tế (đây là vấn đề phức tạp) có thể và cần thực hiện bằng các hình thức kinh tế thể hiện ở một số chính sách kinh tế của nhà nước:tiền lương,chính sách giá cả,thị trường,tín dụng,thuế,phân phối lợi nhuận,….

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vài Suy Nghĩ Về Vai Trò Của Kinh Tế Nhà Nước
  • Giá Trị Và Lợi Ích Của Kiểm Toán Nhà Nước
  • Cơ Cấu Kinh Tế Nhiều Thành Phần Là Gì? Vai Trò
  • Giá Trị Và Vai Trò Của Rừng Đối Với Nền Kinh Tế Quốc Dân
  • Chương 2: Hiệu Quả Tài Chính Chuong2 Hieuqua Ppt
  • Giải Quyết Hài Hòa Quan Hệ Giữa Lợi Ích Cá Nhân Và Lợi Ích Xã Hội Trong Điều Kiện Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Tế Thị Trường Là Gì? Ưu Điểm, Hạn Chế Của Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Phát Triển Cây Công Nghiệp Lâu Năm
  • Tầm Quan Trọng Và Lợi Ích Kinh Tế Của Chăn Nuôi Trâu Bò
  • Bất Ngờ Với Lợi Ích Thần Kỳ Của Thịt Gà Đông Tảo
  • 5 Loại Giống Gà Ta Đạt Giá Trị Kinh Tế Cao
  • Thứ tư, 18 Tháng 3 2022 20:09

    (LLCT) – Trong giai đoạn tiếp tục đẩy mạnh đổi mới hiện nay, Đảng ta xác định: “Bảo đảm lợi ích, sự kết hợp hài hòa các lợi ích và phương thức thực hiện lợi ích công bằng, hợp lý cho mọi người, cho các chủ thể, nhất là lợi ích kinh tế”(1). Chính vì vậy, việc giải quyết các quan hệ lợi ích một cách hài hòa, nhất là giữa lợi ích cá nhân (LICN) và lợi ích xã hội (LIXH) chính là tạo động lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Bài viết tập trung làm rõ vai trò, thực trạng và đề xuất giải pháp giải quyết hài hòa quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội ở nước ta hiện nay.

    Từ khóa: quan hệ lợi ích, lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội.

    1. Vai trò của việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

    Lợi ích là một trong những động lực hoạt động của con người, của sự biến đổi xã hội và là một trong những vấn đề căn bản, có ý nghĩa quyết định bản chất các mối quan hệ trong xã hội. Suy cho cùng, sự phát triển xã hội là kết quả của những hoạt động có ý thức của con người “đang theo đuổi những mục đích nhất định”. Lợi ích chính đáng là động cơ thôi thúc hành động của mỗi con người; việc giành, bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp bao giờ cũng là động lực mạnh mẽ nhất, trực tiếp nhất thôi thúc con người ta hoạt động. Lợi ích chính là nhân tố quan trọng nhất trong chuỗi quy định nhân quả dẫn dắt sự hoạt động của con người: nhu cầu – lợi ích – mục đích – hoạt động. Ở góc độ xã hội, lợi ích là động lực của quần chúng nhân dân trong các cuộc cách mạng và là nguyên nhân sâu xa của mọi mâu thuẫn xã hội. Mỗi lợi ích đều có những chủ thể xác định và mối quan hệ giữa các lợi ích, đặc biệt giữa LICN và LIXH, tạo nên những vector thúc đẩy hoạt động của con người và sự vận động của xã hội theo những chiều hướng khác nhau, mạnh yếu khác nhau. Trong đó, quan hệ giữa LICN và LIXH là quan hệ lợi ích căn bản của xã hội, chi phối đến sự phát triển của cá nhân và xã hội.

    Lợi ích cá nhân, đó là tất cả những lợi ích vật chất, tinh thần gắn liền với từng cá nhân cụ thể và dùng để thỏa mãn các nhu cầu riêng tư cụ thể của cá nhân đó, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân; bao gồm: lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị,… Lợi ích xã hội là cái phản ánh quan hệ nhu cầu của xã hội và là cái dùng để thỏa mãn nhu cầu chung của toàn xã hội về một (một số) đối tượng (vật chất, tinh thần) nhất định, bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, thể hiện các quan hệ cơ bản và lâu dài của xã hội. LIXH ở đây không phải là lợi ích của một nhóm người, một giai tầng, mà đó là lợi ích của cả dân tộc, trong đó có lợi ích chung của các cá nhân cấu thành dân tộc, của cả dân tộc và không mâu thuẫn với lợi ích chung của nhân loại tiến bộ.

    Tuy nhiên, cũng cần thấy thêm, LICN không chỉ đơn giản nằm trong mỗi cá nhân cụ thể, nó có thể nằm trong một chủ thể nhất định nào đó khi ta xét lợi ích của chủ thể đó với tư cách độc lập, tách biệt với các chủ thể khác, tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, chủ thể của LICN chỉ được xét ở góc độ là ở trong mỗi cá nhân. Chủ thể của LIXH thông thường đó chính là Đảng, Nhà nước, nó có thể biểu hiện ở phạm vi nhà nước Trung ương, hay chính quyền ở địa phương. Trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, chủ thể của quan hệ giữa LICN và LIXH được biểu hiện chủ yếu thông qua quan hệ lợi ích giữa cá nhân và Nhà nước.

    Quan hệ giữa LICN và LIXH bao gồm cả mặt thống nhất và mâu thuẫn với nhau; trong đó thường thể hiện ở trạng thái mất cân bằng do các chủ thể lợi ích khi thì đề cao lợi ích này, khi thì đề cao lợi ích kia. Điều này thể hiện sự phức tạp của quan hệ lợi ích trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Trong quá trình thực hiện lợi ích của mình, mỗi chủ thể luôn có xu hướng bảo vệ lợi ích thiết thân, khó chấp nhận từ bỏ lợi ích bản thân, dù điều đó có thể tạo mâu thuẫn, xung đột với các chủ thể lợi ích khác. Thực chất của việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay là quá trình tác động vào việc nhận thức và thực hiện lợi ích của cá nhân và xã hội, tạo ra sự hài hòa, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    2. Thực trạng giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

    Từ khi đổi mới (1986) đến nay, vấn đề giải quyết quan hệ lợi ích giữa các chủ thể, nhất là giữa LICN và LIXH đã được Đảng, Nhà nước ta quan tâm giải quyết, nhất là trong lĩnh vực sở hữu và phân phối, tạo động lực cho sự phát triển của cá nhân và xã hội. Quá trình đó đã đạt được những kết quả nhất định, đó là:

    Thứ nhất, cả lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội bước đầu đã được quan tâm giải quyết theo hướng thúc đẩy sự phát triển

    Có thể khẳng định, lợi ích cá nhân chính đáng được tạo điều kiện phát triển trên nhiều phương diện qua đó tạo cơ sở bước đầu giải quyết lợi ích xã hội phù hợp và ngược lợi ích xã hội bước đầu được thực hiện tốt đã tạo tiền đề, điều kiện để lợi ích cá nhân chính đáng được thực hiện. Những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế – xã hội cùng việc thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội (ASXH) và phúc lợi xã hội (PLXH) trong những năm qua đã tạo lập những giá trị mới của xã hội, tạo lập sự công bằng về cơ hội trong việc hưởng thụ, tiếp cận các giá trị của phát triển. Đời sống của mỗi cá nhân không ngừng được nâng lên, quyền và lợi ích chính đáng được pháp luật bảo vệ, nhất là trong sở hữu và phân phối. Lợi ích của các giai tầng cụ thể, những đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế trong xã hội, đồng bào vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo được quan tâm đúng mức, tỷ lệ hộ nghèo giảm, ASXH và PLXH được thực hiện tốt… Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 10 năm qua luôn ở trên 6,5%, trong đó, năm 2022, tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt trên 240 tỷ USD, tăng 7,08% so với năm 2022, thu nhập bình quân đầu người đạt 2.587 USD, tăng 198 USD so với năm 2022, tỷ lệ hộ nghèo theo tiếp cận đa chiều năm 2022 ước tính 6,8%, giảm 1,1 điểm phần trăm so với năm 2022, trên 90% dân số tham gia bảo hiểm y tế(2)… Gần 800.000 người khuyết tật không có khả năng lao động được nhận trợ cấp hằng tháng(3).

    Hơn 30 năm đổi mới vừa qua, chúng ta từng bước khắc phục được tư duy tuyệt đối hóa lợi ích xã hội trong việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Đó là việc chủ thể sở hữu tư nhân được thừa nhận và tạo điều kiện phát triển, kinh tế tư nhân từ chỗ không được thừa nhận, đến chỗ thừa nhận và hiện nay coi đó “là một động lực quan trọng của nền kinh tế”. Đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân trong cơ cấu GDP luôn ở mức trên 43% GDP (so với khu vực kinh tế nhà nước 28,9% GDP và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài FDI là 18% GDP) và “kinh tế tư nhân hiện đóng góp khoảng 39% tổng đầu tư toàn xã hội và tiếp tục tăng lên, năm 2012 là 385 nghìn tỷ đồng và năm 2022 đạt 490 nghìn tỷ đồng”(4).

    Thứ hai, Đảng và Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện ngày một tốt những chủ trương, chính sách đúng đắn về tạo cơ hội phát triển của cả lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

    Từ khi đổi mới đến nay, Đảng, Nhà nước đã ban hành và thực hiện ngày một tốt trên thực tế những chủ trương đúng đắn về tạo cơ hội phát triển cho cả LICN và LIXH trên mọi lĩnh vực, nhất là trong sở hữu và phân phối.

    Sự thay đổi chủ trương, chính sách về sở hữu. Trước hết, về chủ thể sở hữu: chuyển từ việc chỉ thừa nhận vai trò độc tôn của chủ thể sở hữu là Nhà nước đối với các tư liệu sản xuất cơ bản sang công nhận nhiều chủ thể sở hữu (nhà nước, tư nhân, hỗn hợp). Về đối tượng sở hữu, ngoài những đối tượng sở hữu truyền thống như đất đai, tài nguyên, máy móc,… xuất hiện các đối tượng sở hữu mới như các sản phẩm trí tuệ, thông tin, thị trường, thương hiệu, tên miền internet, tài nguyên số, không gian vũ trụ, thậm chí là sở hữu cơ hội phát triển… đều được công nhận và đóng vai trò to lớn hơn trong sự phát triển kinh tế – xã hội. Về hình thức sở hữu: nếu như trước đổi mới, chúng ta chỉ thừa nhận hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, thì từ đổi mới đến nay, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, các hình thức sở hữu ở Việt Nam đã được ghi nhận bao gồm: sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu cá thể, sở hữu tư bản tư nhân, sở hữu tư bản nhà nước, sở hữu có yếu tố nước ngoài và sở hữu hỗn hợp; tương ứng với đó là có nhiều thành phần kinh tế tương ứng.

    Sự thay đổi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về phân phối cũng đã có tác động rất lớn đến việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH ở nước ta hiện nay. Từ khi đổi mới đến nay, Đảng, Nhà nước đã có những thay đổi chủ trương, chính sách về phân phối một cách hợp lý hơn. Tại Đại hội IX, Đảng chỉ rõ: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế; đồng thời phân phối theo mức đóng góp các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội”(5). Về chủ thể phân phối, đã xác định rõ vai trò của ba chủ thể phân phối là Nhà nước, doanh nghiệp và thị trường, trong đó, thị trường là một kênh phân phối nguồn lực hiệu quả, phân phối thu nhập quan trọng và góp phần đắc lực vào phân phối cơ hội phát triển cho mọi chủ thể kinh tế tự do làm giàu trong lĩnh vực mà pháp luật không cấm nhằm tối đa hóa lợi ích riêng của mình, đồng thời góp phần phát triển kinh tế – xã hội. Về khách thể phân phối, không chỉ là phân phối về thu nhập, mà đó còn là phân phối nguồn lực, cơ hội phát triển, phân phối phát triển. Đó còn là sự đa dạng về hình thức phân phối như Đại hội XII khẳng định, đó là: phân phối theo lao động, phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh, phân phối thông qua PLXH, phân phối thông qua hệ thống ASXH.

    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đạt được nêu trên, việc giải quyết quan hệ giữa LICN và LIXH cũng còn những hạn chế nhất định, đó là:

    Thứ hai, tình trạng đề cao LICN không chính đáng, vi phạm LIXH và LICN khác gây ra những tổn hại cho sự phát triển xã hội vẫn có xu hướng phức tạp. Hiện tượng buôn lậu, trốn thuế của nhiều cá nhân, doanh nghiệp; các hiện tượng hàng giả, hàng kém chất lượng; thực phẩm “bẩn”, cho đến những hành vi xây dựng nhà ở, khu đô thị, phá vỡ quy hoạch chung của thành phố, xây nhà không phép, lấn chiếm lòng đường, vỉa hè, hành lang an toàn, không gian công cộng, xây dựng các chung cư không theo quy định, không đảm bảo tiện ích theo quy định xảy ra ở nhiều nơi, nhất là ở thành phố lớn; những hiện tượng xe quá khổ, quá tải, xâm hại, lấn chiếm các công trình công cộng, công trình Nhà nước… đang làm cho LIXH mà Nhà nước là đại diện bị những tổn hại rất lớn. Cho đến những hiện tượng trộm, cướp ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các thành phố lớn trở thành nỗi bất an của người dân; tình trạng lừa đảo, các mô hình kinh doanh đa cấp biến tướng, “chơi hụi”, cho vay nặng lãi – tín dụng “đen”, đòi nợ thuê… đang gây những hệ lụy không nhỏ đối với cuộc sống của nhiều cá nhân, gia đình, gây phức tạp tình hình kinh tế – xã hội.

    Thứ ba, nhiều lợi ích xã hội chưa được thực hiện một cách phổ quát song vẫn còn tồn tại những biểu hiện đề cao lợi ích xã hội, trong khi lợi ích cá nhân chính đáng, chưa được chú ý một cách đúng mức. Cụ thể khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư còn lớn, đời sống một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn; thu nhập, đời sống của người lao động còn thấp; lương của cán bộ, công chức, viên chức chưa cao; tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở vùng sâu, vùng xa, nhất là trong đồng bào dân tộc thiểu số còn cao (một số huyện, xã lên đến 50%), cả nước có khoảng 1% số người vẫn trong tình trạng thiếu đói. Một số nội dung của ASXH (chính sách bảo đảm việc làm, thu nhập và giảm nghèo; chính sách bảo hiểm xã hội; chính sách trợ giúp xã hội nhằm hỗ trợ đột xuất và thường xuyên cho người dân; chính sách dịch vụ xã hội cơ bản) và PLXH chưa được thực hiện tốt, vẫn diễn ra “nghịch lý an sinh xã hội”, thể hiện đặc biệt rõ qua việc so sánh tỷ trọng trợ cấp ASXH mà các hộ gia đình giàu và nghèo nhận được. Nhóm nghèo nhất nhận được 6,6% tổng chỉ tiêu trợ cấp ASXH tương đương 70.000 đồng/năm/người, trong khi đó nhóm giàu nhất nhận được 39% tương đương với 660.000 đồng/người /năm tiền chi tiêu trợ cấp ASXH(7).

    Ở khía cạnh khác, mặc dù, Đảng ta khẳng định: các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật, tuy nhiên có thể thấy lĩnh vực kinh tế tư nhân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực, thậm chí gặp những rào cản trong quá trình phát triển (nhiều thủ tục hành chính còn rườm rà, nhận thức về kinh tế tư nhân còn chưa thông suốt, tình trạng tham nhũng, tham ô, sách nhiễu đối với kinh tế tư nhân còn nhiều…). Chính vì vậy, trong năm 2022, số doanh nghiệp tư nhân thành lập mới chưa đáp ứng nhu cầu đề ra, hoạt động của kinh tế tư nhân chưa có những khởi sắc lớn, chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế của thành phần kinh tế này đối với quá trình phát triển đất nước.

    3. Giải pháp giải quyết hài hòa quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

    Một là, nâng cao nhận thức của các chủ thể lợi ích trong việc giải quyết quan hệ lợi ích, nhất là giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

    Nâng cao nhận thức của các chủ thể lợi ích để các chủ thể lợi ích xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong các quan hệ lợi ích, tránh xung đột lợi ích giữa các chủ thể. Cần nâng cao nhận thức của các chủ thể về tầm quan trọng của sự thống nhất lợi ích. Mỗi chủ thể cần được giáo dục để tự đặt lợi ích của bản thân trong mối quan hệ với các lợi ích khác. Trong mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, chủ thể cá nhân cần nhận thức được rằng, lợi ích xã hội chỉ có thể đạt được khi mỗi cá nhân cố gắng thực hiện tốt các lợi ích chính đáng của mình thông qua việc tích cực học tập, lao động, rèn luyện, hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ; mặt khác chủ thể của lợi ích xã hội chủ yếu là Đảng, Nhà nước cũng cần nhận thức được rằng, muốn thực hiện tốt các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, phải quan tâm đến lợi ích thiết thực của mọi cá nhân, của từng đối tượng, nhất là quan tâm đến những người có công với cách mạng, những đối tượng yếu thế trong xã hội, thực hiện tốt ASXH và PLXH.

    Hai là, tiếp tục hoàn thiện chính sách về sở hữu, phân phối và tổ chức thực hiện tốt các chính sách trên thực tế để giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

    Theo đó, cần tiếp tục thực hiện nhất quán một chế độ pháp lý kinh doanh cho các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu, thành phần kinh tế. Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật, tạo cơ hội ngang nhau trong việc tiếp cận các nguồn lực. Cụ thể hóa các quy định của pháp luật để đảm bảo quyền bình đẳng trong tiếp cận tài sản công của mọi chủ thể trong nền kinh tế, trong đó, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân Việt Nam thật sự trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Hoàn thiện thể chế bảo vệ nhà đầu tư, quyền sở hữu và quyền tài sản của mọi chủ thể. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo thuận lợi phát triển khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Thúc đẩy hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có công nghệ hiện đại, năng lực quản trị tiên tiến. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp trong một số lĩnh vực, nhất là với doanh nghiệp nhà nước.

    Ba là, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách tiền lương, kết hợp thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội

    Cùng với đó, Đảng, Nhà nước cần thực hiện tốt chính sách ASXH, PLXH trong toàn xã hội, nhất là đối với các đối tượng còn nhiều khó khăn như nông dân, công nhân, những đồng bào vùng sâu, vùng xa, đối tượng chính sách… thực hiện tốt chính sách xóa đói, giảm nghèo, thực hiện thật tốt các chế độ, chính sách, nâng cao đời sống đối với các đối tượng có công với cách mạng, đảm bảo cho họ được hưởng thụ các giá trị căn bản của sự phát triển như đời sống vật chất, y tế, giáo dục, hưởng thụ các giá trị văn hóa – xã hội khác. Thực hiện tốt chính sách tiền lương theo Đề án cải cách tiền lương đã được ban hành, đảm bảo tiền lương thực sự đảm bảo cuộc sống của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, đặc biệt đối với người công nhân; có chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với những nhân tài của từng lĩnh vực, địa phương.

    Bốn là, thực hiện các giải pháp đảm bảo công khai, minh bạch nhằm ngăn chặn những hành vi tiêu cực như tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm

    Đảng, Nhà nước cần thực hiện tốt hơn nữa các biện pháp công khai, minh bạch để phòng ngừa các hiện tượng tham ô, tham nhũng, lãng phí. Nâng cao năng lực, hiệu quả sử dụng tài sản công, phát huy tốt trách nhiệm giải trình, thực hiện tốt các biện pháp công khai tài chính, minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức… Trên phạm vi toàn xã hội, cần phải tiến tới một xã hội minh bạch, trên cơ sở quản lý tốt việc sở hữu tài sản của mỗi cá nhân, xây dựng một xã hội hạn chế dùng tiền mặt, quản lý chặt chẽ các nguồn tiền trong thanh toán… Mặt khác, cần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm tội tham ô, tham nhũng, lãng phí, buôn lậu, trốn thuế, hàng giả, hàng kém chất lượng… đây là những hành vi phá hoại nghiêm trọng các quan hệ lợi ích, gây tổn hại tới cả LICN và các mục tiêu của LIXH.

    Năm là, khuyến khích cá nhân thực hiện lợi ích chính đáng của mình đồng thời bảo đảm lợi ích xã hội

    Cần tích cực khuyến khích mỗi cá nhân tích cực vươn lên trong học tập, lao động, sản xuất – kinh doanh, lập thân, lập nghiệp bằng nhiều cơ chế, chính sách cụ thể, nhất là trong khởi nghiệp nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho sự phát triển. Thông qua các biện pháp giáo dục – đào tạo, tuyên truyền, các hoạt động thực tiễn phong phú để họ thấy rằng, để thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích của bản thân, trước hết cần có sự cố gắng, rèn luyện, cần cù, vượt khó vươn lên, tích cực lao động, đóng góp cho xã hội; đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, vi phạm các lợi ích chính đáng của bản thân từ các chủ thể khác; loại bỏ tư tưởng tự mãn, ỷ lại; có cái nhìn tích cực về các vấn đề của xã hội, tìm ra những cơ hội cho sự phát triển của mỗi cá nhân.

    Có thể nói, nhìn một cách tổng thể, qua hơn 30 năm đổi mới, LICN chính đáng đã được khuyến khích phát triển, LIXH đạt được những kết quả bước đầu quan trọng; các mâu thuẫn, xung đội đối kháng về lợi ích cơ bản giữa cá nhân và xã hội được giảm thiểu tối đa, xã hội ổn định; gia tăng tính tích cực của các chủ thể, thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu, lợi ích của cá nhân và xã hội, thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội.

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận số 12-2019

    (1) ĐCSVN: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2022, tr.222.

    (2) GDP năm 2022 tăng 7,08% – cao nhất trong 7 năm qua, https: laodong.vn.

    (3) Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Chương trình phát triển Liên Hợp quốc: Tăng trưởng vì mọi người – Báo cáo phát triển con người Việt Nam năm 2022 về tăng trưởng bao trùm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2022, tr.114.

    (4) Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận, thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2022, tr.69.

    (5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (Khóa VI, VII, VIII, IX, X), phần II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.70.

    (6) Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng – 5 năm nhìn lại, http://noichinh.vn.

    (7) Lê Ngọc Hùng: “Chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam – Thực trạng và một số vấn đề đặt ra”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5-2017, tr.62.

    Học viện Chính trị khu vực IV

    Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tính Đặc Thù Của Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Tài Liệu Lợi Ích Quân Nhân Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Thực Tiễn Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Nước Ta
  • Mối Quan Hệ Giữa Lợi Ích Cá Nhân Và Đạo Đức Xã Hội Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay.
  • Mối Quan Hệ Giữa Lợi Ích Cá Nhân Và Đạo Đức Xã Hội Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay.

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Tiễn Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Nước Ta
  • Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Tài Liệu Lợi Ích Quân Nhân Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tính Đặc Thù Của Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Giải Quyết Hài Hòa Quan Hệ Giữa Lợi Ích Cá Nhân Và Lợi Ích Xã Hội Trong Điều Kiện Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Bài viết đề cập đến mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.

    Trước tình hình đó, một số người cho rằng, sự xuống cấp về đạo đức xã hội bắt nguồn từ việc khuyến khích lợi ích cá nhân của người lao động, rằng lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội là hai yếu tố hoàn toàn không dung hợp với nhau. Bên cạnh đó, một số tác giả lại khẳng định rằng, sự chấp nhận và khuyến khích lợi ích cá nhân (cố nhiên là lợi ích cá nhân chính đáng) tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của mỗi cá nhân về nhiều phương diện, nhất là phương diện tài năng và trí tuệ. Nói cách khác, cơ chế thị trường là môi trường thuận lợi để phát huy vai trò chủ thể cá nhân, là cơ chế tốt cho nhân cách phát triển trong điều kiện hiện nay(1). Để góp phần làm rõ vấn đề này, theo chúng tôi, cần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội, cũng như sự tác động của lợi ích cá nhân đối với đạo đức xã hội ấy trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay nói riêng. Song, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chủ yếu bàn đến sự tác động của lợi ích cá nhân đối với đạo đức xã hội, chứ chưa bàn đến sự tác động ngược trở lại của đạo đức xã hội đối với lợi ích cá nhân.

    Khi nghiên cứu hệ thống các động lực thúc đẩy con người hành động, người ta thường nhắc đến vai trò của nhu cầu, lợi ích, cũng như của các động cơ tư tưởng.

    Hơn 100 năm trước, Ph.Ăngghen đã từng chỉ ra rằng: “Đáng lẽ phải giải thích hoạt động của mình từ nhu cầu của mình …, thì người ta lại quen giải thích hoạt động của mình từ tư duy của mình…”(2). Sở dĩ như vậy vì nhu cầu là đòi hỏi của con người, của từng cá nhân, của các nhóm xã hội khác nhau hay của toàn xã hội muốn có những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển. Có thể nói, không chỉ các nhà triết học mácxít, mà cả các nhà triết học phương Tây cũng thừa nhận vai trò to lớn của nhu cầu trong việc thúc đẩy hoạt động của con người. Chính vì vậy, một trong những tiêu chuẩn của xã hội hiện đại là khả năng đáp ứng nhanh chóng các nhu cầu mới nảy sinh.

    Nhu cầu là động lực hết sức quan trọng thúc đẩy con người hành động. Sự thoả mãn nhu cầu ấy, đối với chủ thể hành động, là lợi ích. Vì vậy, lợi ích là cái đáp ứng nhu cầu và nó chỉ có nghĩa là lợi ích khi được đặt trong quan hệ với nhu cầu. Ngoài mối quan hệ đó, cái được coi là lợi ích không còn là lợi ích nữa. Xét về bản chất, lợi ích chính là mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài chủ thể với nhu cầu của chủ thể, còn về mặt nội dung, lợi ích là cái thoả mãn nhu cầu, đáp ứng lại nhu cầu(3).

    Trong mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích, nhu cầu quyết định lợi ích. Do đó, nó là cơ sở của lợi ích, còn lợi ích thì ngược lại, xuất phát từ nhu cầu, dựa trên nhu cầu, là sự thể hiện của nhu cầu.

    Như vậy, tính chất động lực của nhu cầu được thực hiện không phải một cách trực tiếp mà gián tiếp thông qua lợi ích, còn lợi ích là khâu trực tiếp hơn cả trong việc tạo nên động cơ tư tưởng thúc đẩy con người hành động nhằm thoả mãn nhu cầu. Nhu cầu ngày càng lớn thì sự hấp dẫn của lợi ích đối với chủ thể càng lớn và do đó, động cơ tư tưởng nảy sinh trên cơ sở của lợi ích này cũng càng cuốn hút con người, thúc đẩy con người lao vào hành động.

    Chính C.Mác cũng đã từng nhấn mạnh, tất cả những gì mà con người đấu tranh để giành lấy đều gắn liền với lợi ích của họ. C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng nói rằng, lịch sử chẳng qua chỉ là hoạt động của con người đang theo đuổi những mục đích của mình. Trong cuộc đấu tranh vì sự sống còn của bản thân mình, con người có nhu cầu chung phải liên kết với nhau. Bản thân những nhu cầu chung này là cơ sở nảy sinh những lợi ích chung giữa họ. Song, ngoài những lợi ích chung đó, mỗi con người lại có những lợi ích riêng nảy sinh trên cơ sở của các nhu cầu được hình thành từ những hoàn cảnh lịch sử – cụ thể. Bên cạnh đó, bản thân những nhu cầu chung của cộng đồng và xã hội, cũng như những nhu cầu riêng của cá nhân lại có nhiều loại: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, v.v.. Những nhu cầu này là cơ sở để hình thành nên các lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, v.v..

    Như vậy, tất cả những gì thúc đẩy con người hành động đều gắn liền với nhu cầu và lợi ích của họ. Điểm khác nhau chỉ là ở chỗ có hành vi chịu sự chi phối của lợi ích vật chất, có hành vi bị chi phối bởi lợi ích tinh thần, có hành vi chịu sự thúc đẩy của lợi ích cá nhân, có hành vi chịu sự thúc đẩy của lợi ích tập thể, xã hội. Không có hành vi nào của con người hoàn toàn thoát khỏi sự thúc đẩy của lợi ích.

    Song, trong xã hội, các lợi ích khác nhau đó, đặc biệt là giữa lợi ích riêng và lợi ích chung (lợi ích tập thể và lợi ích xã hội), có thể phù hợp với nhau, cũng có thể không phù hợp, thậm chí còn trái ngược nhau. Điều đó còn xảy ra đối với cả những lợi ích chung của các cộng đồng khác nhau, cũng như đối với các lợi ích riêng khác nhau. Để những hành vi và những hoạt động của từng người cụ thể đang theo đuổi các lợi ích khác nhau không triệt tiêu nhau và làm rối loạn xã hội, xã hội cần đến những phương thức điều tiết hành vi của con người mang ý nghĩa phổ biến. Đạo đức là một trong những phương thức như vậy và là phương thức đầu tiên mà loài người sử dụng. Cùng với sự phát triển xã hội, khi mà sự phân công xã hội càng chặt chẽ, khi khả năng và tính tất yếu của sự hợp tác giữa người và người càng lớn, thì người ta càng tuân thủ những yêu cầu đạo đức và quy phạm pháp luật nhất định, cần áp dụng các biện pháp không gây tổn hại đối với người khác. Vì vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng nói rằng lợi ích được hiểu một cách đúng đắn là toàn bộ cơ sở của đạo đức.

    Với tư cách là phương thức đặc thù điều tiết hành vi của con người trong mọi lĩnh vực hoạt động, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh lợi ích trực tiếp của các giai cấp, dân tộc, thời đại. Vì đạo đức bao giờ cũng có mối quan hệ trực tiếp với những lợi ích chung nên khách thể của ý thức đạo đức bao gồm những quan hệ giữa người và người trong xã hội, quan hệ giữa con người với những sự kiện của đời sống xã hội và quan hệ của con người với chính bản thân mình với tư cách là một thành viên của một đơn vị xã hội nhất định.

    Khác với phương thức điều tiết bằng pháp luật, tức là phương thức điều tiết có tính chất cưỡng chế, đạo đức thuộc lĩnh vực của sự tự nguyện, của hành vi vị tha vì người khác và vì xã hội. Tất nhiên, tính vị tha của đạo đức hoàn toàn không có nghĩa là loại bỏ tất cả những gì thuộc về cá nhân, cá tính của con người. Trái lại, tính vị tha của đạo đức chỉ loại bỏ những gì thuộc về cá nhân và cá tính đối lập với xã hội, có hại cho xã hội. Những lợi ích cá nhân của từng người cụ thể với tính cách là thành viên của xã hội, nếu không đối lập với lợi ích xã hội thì luôn là động cơ của những hành vi đạo đức chân chính.

    Vì vậy, hành vi đạo đức cao thượng được thể hiện rõ khi có sự xung đột giữa lợi ích cá nhân và lợi ích của người khác hoặc của tập thể, cộng đồng; trong trường hợp đó, chủ thể đạo đức có thể tiết chế hoặc hy sinh những lợi ích cá nhân của mình. Điều đó hoàn toàn không có nghĩa là đạo đức gạt bỏ hết lợi ích cá nhân. Trái lại, trong phạm vi hợp lý và chính đáng, đạo đức vẫn cho phép con người đạt tới những lợi ích cá nhân. Những hành vi tìm kiếm lợi ích cá nhân với tiền đề đã được xã hội chấp nhận và bảo đảm, đồng thời không làm tổn hại đến xã hội, đến tập thể, đến người khác đều không phải là hành vi phi đạo đức. Đó chính là cơ sở lý luận để xem xét mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam.

    Kể từ khi Việt Nam áp dụng cơ chế thị trường, những thay đổi to lớn trong các quan hệ kinh tế đã tác động mạnh mẽ tới các lợi ích của con người. Bởi lẽ lợi ích của con người được biểu hiện tập trung ở các quan hệ kinh tế. Sự thay đổi của quan hệ kinh tế được thể hiện trên các lĩnh vực: sở hữu, phân phối và quản lý. Trong lĩnh vực sở hữu, với đường lối đổi mới, từ chỗ chỉ có hai hình thức toàn dân và tập thể, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu trên cơ sở chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.

    Sự thay đổi trong lĩnh vực phân phối được thể hiện ở chỗ, nếu như trước đây, Việt Nam chủ yếu chỉ sử dụng hình thức phân phối theo lao động thì hiện nay, các hình thức phân phối ngày càng trở nên đa dạng hơn. Chính sự đa dạng của các hình thức phân phối đã góp phần thực hiện công bằng xã hội – một mục tiêu quan trọng của sự phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời huy động được vốn đầu tư để phát triển sản xuất.

    Trong lĩnh vực quản lý, cơ chế thị trường thay cho cơ chế kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp. Chính cơ chế đó đã cho phép các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp có được quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh.

    Nói đến kinh tế thị trường là nói đến con người kinh tế và khi tiến hành hoạt động kinh tế, con người chịu sự chi phối của lợi ích cá nhân. Lợi ích cá nhân đã có vai trò đáng kể trong việc thúc đẩy con người hành động. Nhờ việc theo đuổi các lợi ích cá nhân khác nhau mà hoạt động của con người không những tạo ra những sản phẩm thoả mãn các nhu cầu cá nhân của mình, góp phần làm giàu cho bản thân, mà còn góp phần xoá đói, giảm nghèo, làm giàu cho xã hội.

    Như vậy, hoạt động vì lợi ích cá nhân chính đáng của con người đã góp phần làm giàu cho bản thân con người, đồng thời góp phần giảm bớt sự nghèo đói cho xã hội. Đến lượt nó, sự giàu có chính đáng của cá nhân đã làm nẩy sinh ở con người những tấm lòng hào phóng, từ thiện, sự thân ái, lòng vị tha… Điều đó không những góp phần giảm bớt gánh nặng cho xã hội, mà còn tạo ra bầu không khí thân ái trong xã hội, góp phần tạo cơ sở cho việc xây dựng đạo đức mới.

    Mặt khác, dưới sự tác động của lợi ích trong nền kinh tế thị trường, một số quan niệm về những chuẩn mực đạo đức cũng có sự thay đổi. Một số hành vi trước đây bị coi là phi đạo đức thì hiện nay, trở thành hành vi có đạo đức. Ví dụ, nếu như trước đây, việc thuê lao động bị coi là hành vi bóc lột và vô nhân đạo, thì hiện nay, việc thuê mướn lao động mà người thuê và người được thuê đã thoả thuận hợp lý, hợp tình về quyền lợi của nhau thì lại được coi là hành vi nhân đạo, bởi nó không những góp phần giúp xã hội tạo công ăn việc làm cho người lao động, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, mà còn trực tiếp góp phần cải thiện đời sống cho người lao động, giúp họ thoát khỏi cảnh thất nghiệp.

    Có thể nói rằng, lợi ích cá nhân có vai trò tích cực đối với sự hình thành các quan hệ đạo đức, cũng như làm thay đổi một số quan niệm về các chuẩn mực đạo đức.

    Tuy nhiên, bên cạnh đó, lợi ích cá nhân cũng có tác động tiêu cực đối với đạo đức. Khi nghiên cứu chủ nghĩa tư bản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng, trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mọi quan hệ xã hội có thể bị biến thành quan hệ tiền nong, mua bán, trao đổi.

    Mặc dù Việt Nam mới chuyển sang kinh tế thị trường 15 năm, song tình hình đó cũng diễn ra tương tự. Đồng tiền bắt đầu thâm nhập sâu vào các quan hệ xã hội. Vì tiền, vì lợi ích cá nhân, người ta sẵn sàng hy sinh lợi ích xã hội, bất chấp luân thường đạo lý. Tình trạng thương mại hoá đã thâm nhập sâu vào những lĩnh vực vốn xưa kia là mảnh đất nuôi dưỡng những hành vi đạo đức, như giáo dục – đào tạo và y tế.

    Kinh tế thị trường, thông qua lợi ích cá nhân, đã có tác động tiêu cực tới đạo đức truyền thống. Những biểu hiện của sự tác động tiêu cực đó là:

    Thứ nhất, xuất hiện thái độ coi thường đạo đức truyền thống, bất chấp luân thường đạo lý, chạy theo lối sống xa hoa, truỵ lạc.

    Trong những năm gần đây, do kinh tế phát triển, nhiều gia đình trở nên giàu có. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là ở chỗ, bên cạnh những gia đình giàu có do chịu khó làm ăn, biết kinh doanh, sản xuất giỏi, thì một số kẻ giàu có, do lợi dụng chức quyền, đã làm giàu bất chính. Khi đồng tiền kiếm được một cách quá dễ dàng, không phải do lao động thì nó rất dễ dẫn con người đến chỗ ăn chơi sa đoạ.

    Mặt khác, trong điều kiện kinh tế thị trường, do chây lười hoặc không biết làm ăn nhưng lại thích ăn ngon, mặc đẹp, một số người đã rơi vào cảnh khốn quẫn. Để tồn tại, không ít kẻ trong số đó đã đi vào con đường phạm tội. Không ít kẻ chỉ vì vài ngàn đồng mà có những hành vi vô đạo đức, mất tính người.

    Chúng ta cũng có thể nhận thấy sự suy thoái về đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường thông qua một số dẫn chứng về tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự trong những năm gần đây.

    Chẳng hạn, theo thống kê của các cơ quan bảo vệ pháp luật, số vụ hiếp dâm nói chung và hiếp dâm trẻ em nói riêng có xu hướng ngày càng tăng lên. Nếu như năm 1993 phát hiện được 500 vụ hiếp dâm, trong đó có 73 vụ nạn nhân là trẻ em (chiếm 14,6 %); năm 1994 phát hiện được 861 vụ hiếp dâm, trong đó có 143 vụ nạn nhân là trẻ em (chiếm 16,6%), thì đến năm 1997 phát hiện 1097 vụ hiếp dâm, tăng 27% so với năm 1996, trong đó vụ hiếp dâm trẻ em tăng 41%(5). Trong vài năm gần đây, do nhiều nguyên nhân khác nhau, số vụ trọng án giết người, cướp của, cố ý gây thương tích đối với người thân tăng lên. Chẳng hạn, nghiên cứu những vụ trọng án, đặc biệt là những vụ giết người cho thấy, có 90 % các vụ giết người có nguyên nhân mang tính xã hội; trong số các vụ án giết người được nghiên cứu trong mấy năm gần đây thì có tới 24,4% số vụ nạn nhân lại chính là thân nhân của thủ phạm (nạn nhân là vợ, chồng, con cái, anh, chị, em ruột). Tình chất côn đồ, trắng trợn của hành vi giết người không chỉ phản ánh sự xem thường pháp luật của kẻ phạm tội, mà còn thể hiện sự biến đổi trong tính nhân bản thuộc về đạo đức của con người(6).

    Thứ hai, phản ứng của xã hội đối với các hành vi phi đạo đức cũng giảm đi. Chẳng hạn, nếu như trước đây, những hành vi suy đồi về đạo đức như rượu chè bê tha, trai gái đĩ điếm, ăn gian, nói dối, đã bị xã hội lên án hết sức mạnh mẽ, thì ngày nay, sự phản ứng của xã hội cũng có mức độ.

    Như vậy, có thể nói, lợi ích cá nhân trong nền kinh tế thị trường đã tác động đến đạo đức theo hai hướng trái ngược nhau. Theo hướng tích cực, lợi ích cá nhân góp phần tạo nên các giá trị và các chuẩn mực đạo đức mới. Theo hướng tiêu cực, vì lợi ích cá nhân mà con người có thể làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống của mình. Cả hai xu hướng đó đều song song tồn tại trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy, không thể nói một cách chung chung rằng lợi ích cá nhân có tác động tích cực hay tiêu cực đến đạo đức xã hội. Để đánh giá tính tích cực hay tiêu cực của lợi ích cá nhân đối với đạo đức, cần xem xét hiệu quả mà lợi ích đó đem lại có phù hợp với lợi ích chung của xã hội hay không. Đồng thời, không thể nói một cách giản đơn rằng, sự xuống cấp về đạo đức hoàn toàn bắt nguồn từ việc khuyến khích lợi ích cá nhân của người lao động.

    (1) Xem: Nguyễn Văn Phúc. Nghiên cứu đạo đức học ở Việt Nam: một số kết quả và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Trong cuốn “Nửa thế kỷ nghiên cứu và giảng dạy triết học ở Việt Nam” (Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên). Viện Triết học xuất bản, Hà Nội, 2001, tr. 651.

    (2) C.Mác và Ph.Ăngghen . Toàn tập, t. 20. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 651.

    (3) Xem : Lê Hữu Tầng (Chủ biên) . Về động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr. 35. (4) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 151.

    (5) Xem: Phạm Quốc Huỳnh. Tội hiếp dâm: thực trạng và giải pháp. Tạp chí Công an nhân dân, số 1, 1999, tr. 77.

    (6) Xem: Đặng Thái Giáp. Trật tự, an toàn xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay (xét từ lý luận về tồn tại xã hội và ý thức xã hội). Luận án tiến sĩ triết học, Hà Nội, 2000, tr. 111.

    Đã xem: 23171

    Thời gian đăng: Thứ ba – 20/01/2015 10:30

    Người đăng: Nguyen Tuan Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Khu Kinh Tế Là Gì ? Lợi Ích Của Đặc Khu Kinh Tế
  • Đánh Giá Hiệu Qủa Kinh Tế Và Xã Hội Của Dự Án
  • Lý Thuyết Thương Mại Mới
  • Lợi Thế Kinh Tế Nhờ Qui Mô (Economies Of Scale) Và Hạn Chế Của Lợi Thế Kinh Tế Nhờ Qui Mô
  • Lợi Thế Kinh Tế Nhờ Quy Mô (Economy Of Scale) Là Gì?
  • Nền Kinh Tế Chia Sẻ: Lợi Ích Cho Các Chủ Đầu Tư Bất Động Sản

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Tế Chia Sẻ: Liệu Lợi Ích Trước Mắt Có Đi Cùng Định Hướng Bền Vững?
  • Kinh Tế Chia Sẻ Con Đường Mới Dẫn Đến Tăng Trưởng Bền Vững
  • Kinh Tế Chia Sẻ, Phép Thử Đối Với Tư Duy Quản Lý
  • Tiêu Chuẩn, Nhận Biết Và Phân Loại Tài Sản Cố Định
  • Các Yếu Tổ Của Báo Cáo Tài Chính
  • Mô hình kinh tế chia sẻ vào Việt Nam từ năm 2022, khi cơ quan quản lý nhà nước cho phép thí điểm mô hình Uber – ứng dụng gọi xe công nghệ tại 5 TP lớn. Tiếp đó, lần lượt là Grab, Go-Việt, Bee, FastGo xuất hiện đã cung cấp các dịch vụ taxi, “xe ôm” công nghệ, giao đồ ăn… Việc này không chỉ tạo sự tiện lợi, mà còn mang đến việc làm, thu nhập và góp phần làm thay đổi thói quen tiêu dùng, sinh hoạt của người dân.

    Trước đó vào năm 2007, mô hình chia sẻ căn hộ dành cho những vị khách lạ đến ở chung và nấu ăn trước tình trạng thuê nhà quá đắt đỏ tại San Francisco (Mỹ), được gọi là Airbnb ra đời. Sau chưa đầy 9 năm, từ ý tưởng chia sẻ căn hộ, đã hình thành nên một doanh nghiệp khổng lồ, được định giá 31 tỷ USD trong năm 2022, khiến ngành công nghiệp khách sạn truyền thống trên toàn cầu đều phải lo lắng.

    Đây là những nền tảng đầu tiên của “nền kinh tế chia sẻ”, mô hình đã trở thành xu thế mới và mang lại nguồn lợi tài chính khổng lồ, cũng như mang lại nhiều tiện ích dịch vụ mới cho xã hội.

    Theo KS Trần Văn Quang – Hội Công nghệ thông tin và phần mềm Việt Nam, nền kinh tế chia sẻ đang phát triển ngày càng lớn mạnh hơn trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0, với sự kết nối của internet, đã làm thay đổi toàn bộ tư duy sử dụng dịch vụ của con người.

    Nhờ vào việc chia sẻ những tài nguyên sẵn có bằng các ứng dụng công nghệ, cùng những khoản lợi nhuận khổng lồ đem lại cho nhà cung ứng dịch vụ lẫn người cho thuê và sử dụng tài nguyên, đã khiến mô hình kinh doanh này nhanh chóng phát triển lan rộng toàn thế giới. Theo nghiên cứu của Công ty Kiểm toán PricewaterhouseCoopers (PwC), ước tính doanh thu toàn cầu từ các công ty cung cấp ứng dụng nền tảng kinh doanh chia sẻ sẽ đạt tới 335 tỷ USD vào năm 2025 so với doanh thu năm 2014 mới khoảng 15 tỷ USD.

    “Điều quan trọng hơn, khi kinh tế chia sẻ phát triển tạo thêm nhiều việc làm mới, giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động với mức thu nhập ổn định. Kinh tế chia sẻ không chỉ là sự tương tác giữa người bán – người mua, mà còn mang lại lợi ích cho cả những người đưa hàng” – KS Trần Văn Quang cho biết thêm.

    Kinh tế chia sẻ bao trùm thị trường BĐS

    Các nhà đầu tư BĐS chủ yếu sẽ quan tâm đến việc chia sẻ có tính phí. Tính linh hoạt vẫn được cho là một lợi ích cho người sử dụng, bởi người dân cần được cung cấp các dịch vụ, đổi lại nhà đầu tư sẽ thu được lợi nhuận cao hơn. Các doanh nghiệp thì sẽ tính đến bài toán cung cấp dịch vụ không gian làm việc chung của dự án, một phần của một tòa nhà có thể được sử dụng làm văn phòng linh hoạt, nhưng bản thân diện tích linh hoạt này cũng có thể được điều chỉnh linh hoạt, vì vậy mà các tòa nhà có thể thích ứng dễ dàng hơn với nhu cầu của thị trường.

    Trưởng bộ phận Nghiên cứu châu Á Thái Bình Dương của SavillsSimon Smith cho biết, Tối đa hóa doanh thu là mục tiêu của mọi doanh nghiệp và nền kinh tế chia sẻ cho phép chủ nhà gia tăng thu nhập từ cùng một không gian.

    Vì vậy, các cửa hàng pop-up có thể đem đến một làn gió mới và tăng doanh thu cho trung tâm thương mại, nhưng các cửa hàng này cũng có thể xuất hiện trong các văn phòng, hay khách sạn và biến mất khi sức hút đã giảm dần hoặc chủ nhà tìm được cách sử dụng không gian đó hiệu quả hơn.

    “Với cửa hàng tại văn phòng, sự kiện tại trung tâm mua sắm và khách sạn trong gia đình, rõ ràng rằng nền kinh tế chia sẻ đang xóa nhòa ranh giới với các phân khúc BĐS. Một nhiệm vụ quan trọng đối với các nhóm vận động hành lang trong lĩnh vực BĐS là cập nhật các mô hình BĐS mới với các cơ quan quy hoạch (thường thiếu nhanh nhạy hơn thị trường), nếu không thì thị trường BĐS sẽ không thể tận dụng triệt để được những lợi ích của mô hình kinh tế chia sẻ này” – ông Simon Smith nói.

    Theo đánh giá của các chuyên gia, hoạt động kinh doanh BĐS với sự đề cao tính truyền thống và tương tác cá nhân giữa người bán với người mua, tưởng chừng sẽ khó có thể bị tác động bởi “kinh tế chia sẻ”. Nhưng trên thực tế, nó lại được cập nhật một cách thường xuyên và liên tục, đang bị ảnh hưởng tương đối lớn và ngày càng bao trùm toàn thị trường.

    Theo chuyên gia nghiên cứu thị trường (Hiệp hội BĐS Việt Nam) Vũ Tuấn Trường, việc khách hàng chủ yếu tiếp cận thông tin qua internet, khiến cho việc chào bán sản phẩm BĐS không chỉ là “độc quyền” của riêng cá nhân, hay sàn giao dịch nào, mà là cả cộng đồng trên thị trường. Trong đó, người bán cũng có thể đồng thời là người mua và ngược lại, người mua đồng thời cũng là người bán.

    “Kinh tế chia sẻ mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia, khách hàng có thể tiếp cận được nguồn hàng lớn, thông tin về nguồn hàng, thông tin về chủ đầu tư, đơn vị phân phối, tìm hiểu năng lực của chủ đầu tư, tính pháp lý của sản phẩm… thậm chí khách hàng còn có thể trở thành người môi giới trên chính sản phẩm của mình” – ông Trường cho hay.

    Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, để đảm bảo sự công bằng cho cho các bên tham gia và hoạt động “kinh tế chia sẻ” thì cần phải thiết lập một khuôn khổ pháp lý cho mô hình kinh tế chia sẻ, phù hợp với sự phát triển của thị trường đồng thời giúp cơ quan chức năng dễ dàng trong việc quản lý, tránh thất thoát nguồn thu ngân sách Nhà nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Về Cây Cao Su, Bài Văn Mẫu Về Cây Cao Su Ở Quê Em Đồng Nai, Bình Phước
  • Thuyết Minh Về Cây Cao Su Đầy Đủ Và Chi Tiết Nhất
  • Những Lợi Ích Tuyệt Vời Từ Cây Cao Su
  • Chương 2:xác Định Hoạt Động Kinh Tế
  • Kinh Tế Học (P21: Thị Trường Cạnh Tranh Hoàn Hảo)
  • Lợi Ích Kinh Tế Của Hệ Thống Điện Mặt Trời

    --- Bài mới hơn ---

  • Lợi Ích Kinh Tế Hệ Thống Năng Lượng Mặt Trời
  • Lợi Ích Kinh Tế Hệ Thống Năng Lượng Điện Mặt Trời
  • Những Lợi Ích Kinh Tế Mà Điện Năng Lượng Mặt Trời Mang Lại
  • Lợi Ích Lâu Dài, Xu Hướng Tương Lai Của Pin Năng Lượng Mặt Trời
  • Tấm Pin Năng Lượng Mặt Trời Với Lợi Ích Về Kinh Tế Và Sức Khỏe
  • Bài viết này trình bày phương pháp tính toán lợi ích / chi phí cho hệ thống điện mặt trời, từ đó người dùng có thể nhìn thấy được lợi ích kinh tế từ việc đầu tư hệ thống điện năng lượng mặt trời mang lại.

    Việc đầu tiên cần tìm hiểu là liệu sử dụng hệ thống điện mặt trời có mang lại lợi ích kinh tế không, hay chỉ đơn thuần là có lợi cho môi trường? Để thấy được điều này, ta sẽ so sánh tổng chi phí đầu tư cho hệ thống điện mặt trời với những giá trị thu được từ hệ thống này về lâu dài. Ở đây, chúng ta sẽ không tính đến việc tiết kiệm điện năng gián tiếp qua hệ thống điện mặt trời như là nhà được cách nhiệt bằng hệ thống tấm pin năng lượng mặt trời giúp giảm nóng cho ngôi nhà, khu sản xuất, văn phòng và giảm công suất tiêu thụ điện của máy lạnh…

    Các yếu tố cần quan tâm khi đầu tư hệ thống điện mặt trời

    • Tổng công suất của hệ thống cần lắp đặt
    • Tổng chi phí đầu tư cho hệ thống
    • Kích thước tổng thể của các tấm pin mặt trời tính theo m2. Ví dụ 8m2 cho 1000w.
    • Hiệu suất của tấm pin mặt trời, ví dụ 0.16 = 16%. Đối với loại pin Amorphous Silicon, hiệu suất là 0.063, Polycrystalline là 0.14 và Mono crystalline là 0.16
    • Tuổi thọ của hệ thống

    Bảng mô tả hiệu quả kinh tế pin năng lượng mặt trời áp mái:

    Tính lợi ích kinh tế Điện mặt trời qua ví dụ hệ thống hòa lưới 3kw

    Ví dụ tính cho hệ thống hòa lưới 3KW mỗi ngày cung cấp khoảng 12KW điện

    Sau khi tính toán dựa trên lượng điện sản xuất ra là 12KWh/ngày, ta có kết quả như sau

    Vậy:

    Đầu tư điện mặt trời có hiệu quả hay không?

    1. Nếu xét theo trường hợp, giả sử một gia đình có tiền nhàn rỗi là 60tr đồng đầu tư cho hệ thống điện năng lượng mặt trời hòa lưới như trên thì theo tính toán dựa trên các thông số đầu vào như giá điện hiện tại, thì sau khoảng 5 năm sẽ thu hồi số vốn đầu tư ban đầu là 60tr đồng và từ năm thứ 6 trở đi đến năm thứ 30 sẽ được lãi 1.2 tỷ đồng tiền điện. Tuổi thọ tấm pin mặt trời thường cao hơn 30 năm rất nhiều nên số lợi nhuận thu được thông thường sẽ cao hơn

    2. Nếu xét trường hợp tính theo lãi suất, cũng như trên thì thời gian hoàn vốn đầu tư khoảng 6 năm, và lợi nhuận thu được có chiết tính lãi suất sau đó là trên 1.5 tỷ đồng và có thể cao hơn.

    3. Hệ thống không sử dụng ắc quy và hòa trực tiếp vào lưới điện trong nhà nên không tốn bất kỳ chi phí bảo dưỡng nào, không phải thay đổi bất kỳ thiết kế bố trí thiết bị, đường dây dẫn hiện tại trong nhà

    4. Hệ thống được bảo hành tại chỗ 5 năm. Bảo hành vật lý tấm pin mặt trời 10 năm và đảm bảo hiệu suất hoạt động của pin không dưới 80% trong 25 năm.

    5. Ngoài ra nếu có nhu cầu khi mất điện vẫn có một lượng điện nhất định để sử dụng có thể yêu cầu thiết kế thêm một hệ thống ắc quy dự trữ, chỉ sử dụng khi mất điện lưới

    Nghĩa là đầu tư vào hệ thống điện năng lượng mặt trời là có lợi về kinh tế. Ngoài ra không thể không kể đến các lợi ích khác như bảo vệ môi trường, giảm thải nhà kính, tạo cảnh quan thẩm mỹ hiện đại cho công trình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10 Lợi Ích Hàng Đầu Của Việc Tập Thể Dục Thường Xuyên
  • 6 Lợi Ích Khi Tập Aerobic Mà Phụ Nữa Ai Cũng Muốn Đạt Được Nó
  • Các Lợi Ích Của Aerobic Mang Lại Khiến Bạn Phải Tập Ngay
  • Lợi Ích Của Bộ Môn Aerobic Đối Với Sức Khỏe Thể Chất Và Tinh…
  • Những Lợi Ích Của Tập Aerobic
  • Tài Liệu Mối Quan Hệ Giữa Lợi Ích Cá Nhân Và Đạo Đức Xã Hội Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Lợi Ích Của Gà Đông Tảo Hưng Yên
  • Những Lợi Ích Bất Ngờ Của Thịt Gà Đông Tảo
  • Nên Nuôi Gà Đông Tảo Hay Gà Hồ?
  • Thịt Gà Đông Tảo Có Bổ Dưỡng Và Lợi Ích Gì Cho Sức Khỏe?
  • Vì Lợi Ích Chung Trên Biển Đông
  • Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội trong

    nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

    Nguồn: chúng tôi

    cá nhân (cố nhiên là lợi ích cá nhấn chính đáng), tạo điều kiện thuận lợi cho sự

    phát triển cua mỗi cá nhân về nhiều phương diện, nhất là phương diện tài năng và

    trí tuệ. Nói cách khác, cơ chế thị trường là môi trường thuận lợi để phát huy vai trò

    chủ thể cá nhân, là cơ chế tất cho nhân cách phát triển trong điều kiện hiện nay.

    Để góp phần làm rõ vấn đề này, theo chúng tôi, cần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa

    lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội, cũng như sự tác động của lợi ích cá nhân đối với

    đạo đức xã hội ấy trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay nói riêng:

    Song, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chủ yếu bàn đến sự tác động của lơi

    ích cá nhân đối với đạo đức xã hội, chứ chua bàn đến sự tác động ngược trở lại của

    đạo đức xã hội đối với lợi ích cá nhân.

    Khi nghiên cứu hệ thống các động lực thúc đẩy con người hành động, người

    ta thường nhắc đến vai trò của nhu cầu, lợi ích, cũng như của các động cơ tư

    tưởng.

    Hơn 100 năm trước, Ph.Ăngghen đã từng chỉ ra rằng: “Đáng lẽ phải giải

    thích hoạt động của mình từ nhu cầu của mình thì người ta lại quen giải thích

    hoạt động của mình từ tư duy của mình “. Sở dĩ như vậy vì nhu cầu là đòi hỏi của

    con người, của từng cá nhân, của các nhóm xã hội khác nhau hay của toàn xã hội

    muốn có những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển. Có thể nói, không chỉ

    các nhà triết học mácxít, mà cả các nhà triết học phương Tây cũng thừa nhận vai

    trò to lớn của nhu cầu trong việc thúc đẩy hoạt động của con người. Chính vì vậy,

    một trong những tiêu chuẩn của xã hội hiện đại là khả năng đáp ứng nhanh chóng

    các nhu cầu mới nảy sinh.

    Nhu cầu là động lực hết sức quan trọng thúc đẩy con người hành động. Sự

    thoả mãn nhu cầu ấy, đối với chủ thê hành động, là lợi ích. Vì vậy, lợi ích là cái

    đáp ứng nhu cầu và nó chỉ có nghĩa là lợi ích khi được đặt trong quan hệ với nhu

    cầu. Ngoài mối quan hệ đó, cái được coi là lợi ích không còn là lợi ích nữa. Xét về

    bản chất, lợi ích chính là mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới bên

    ngoài chủ thể với nhu cầu của chủ thể, còn về mặt nội dung, lợi ích là cái thoả mãn

    nhu cầu, đáp ứng lại nhu cầu.

    Trong mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích, nhu cầu quyết định lợi ích. Do

    đó, nó là cơ sở của lợi ích, còn.lợi ích thì ngược lại, xuất phát’ từ nhu cầu, dựa trên

    nhu cầu là sự thể hiện của nhu cầu.

    Như vậy tính chất động lực của nhu cầu được thực hiện không phải một cách

    trực tiếp mà gián tiếp thông qua lợi ích, còn lợi ích là khâu trực tiếp hơn cả trong

    việc tạo nên động cơ tư tưởng thúc đẩy con người hành động nhằm thoa mãn nhu

    cầu. Nhu cầu ngày càng lớn thì sự hấp dẫn của lợi ích đối với chủ thể càng lớn và

    do đó động cơ tư tưởng nảy sinh trên cơ sở của lợi ích này cũng càng cuốn hút con

    người, thúc đẩy con người lao vào hành động.

    Chính C.Mác cũng đã từng nhấn mạnh, tất cả những gì mà con người đấu

    tranh để giành lấy đều gắn liền với lợi ích của họ. C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trách Nhiệm Xã Hội Của Cá Nhân Và Yêu Cầu Nâng Cao Trách Nhiệm Này Trong Điều Kiện Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Vai Trò Của Doanh Nghiệp Thương Mại Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Quản Lý Thị Trường Xăng Dầu: Phải Vì Lợi Ích Của Nền Kinh Tế
  • Các Kiểu Quan Hệ Lợi Ích Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn
  • Những Lợi Ích Của Việc Tập Thể Dục Đối Với Sức Khỏe
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100