Top 14 # Xem Nhiều Nhất Nội Dung Cơ Bản Của Cấu Tạo Nguyên Tử / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Cấu Tạo Nguyên Tử Và Bài Toán Các Hạt Cơ Bản / 2023

Chi tiết Chuyên mục: Chuyên đề 1. Cấu tạo nguyên tử, bảng tuần hoàn, liên kết hóa học Được viết ngày Chủ nhật, 08 Tháng 2 2015 10:17 Viết bởi Nguyễn Văn Đàm

Nguyên tử là các hạt vô cùng nhỏ bé nhưng nó lại có cấu tạo phức tạp.

1. Cấu tạo nguyên tử

Nguyên tử gồm 2 phần:

– Hạt nhân nguyên tử: hầu hết đều được tạo thành từ proton và nơtron (trừ nguyên tử 1 H trong hạt nhân không có nơtron).

2. Kích thước và khối lượng của nguyên tử

– Nguyên tử có kích thước vô cùng nhỏ bé.

– Khối lượng của nguyên tử tập trung chủ yếu ở hạt nhân (vì khối lượng của e rất nhỏ bé). Do đó một cách gần đúng có thể coi khối lượng nguyên tử là khối lượng của hạt nhân.

3. Mối quan hệ giữa các loại hạt trong nguyên tử

– Vì nguyên tử trung hòa về điện nên trong mọi nguyên tử luôn có: số p = số e.

– Với nguyên tử bền: số p ≤ số n ≤ 1,5.số p (các nguyên tử có số p ≥ 82 thì không bền là những chất phóng xạ).

4. Các đại lượng đặc trưng của nguyên tử và cách kí hiệu nguyên tử

Nguyên tử có 2 đại lượng đặc trưng là số đơn vị điện tích hạt nhân (Z) và số khối (A).

– Số đơn vị điện tích hạt nhân (Z) = số electron (E) = số proton (P) = số hiêu nguyên tử.

– Số khối (A) = Z + N (số nơtron).

5. Nguyên tố hóa học và đông vị

– Nguyên tố hóa học là những nguyên tử có cùng điện tích hạt nhân.

– Đồng vị là hiện tượng các nguyên tử có cùng số proton nhưng khác nhau về số nơtron, do đó số khối A của chúng khác nhau.

– Số khối: A = Z + N.

– Số khối A và số proton (số đơn vị điện tích hạt nhân, số hiệu nguyên tử) Z là 2 đại lượng đặc trưng cho nguyên tử.

chúng tôi giới thiệu đến các bạn các bài tập về cấu tạo nguyên tử và bài toán các hạt cơ bản sau:

Cấu Tạo Vỏ Nguyên Tử: Lý Thuyết Và Các Dạng Bài Tập Cơ Bản / 2023

Trong nguyên tử, electron chuyển động quanh hạt nhân tạo nên vỏ nguyên tử.

Sự chuyển động của các electron trong nguyên tử

Những năm đầu của thế kỉ XX người ta cho rằng các electron chuyển động xung quanh hạt nhân nguyên tử theo những quỹ đạo tròn hay bầu dục, như quỹ đạo của các hành tinh quay xung quanh Mặt Trời. Đó là mô hình mẫu hành tinh nguyên tử của Rơ-dơ-pho, Bo (N.Bohr) và Zom-mơ-phen.

Mô hình này có tác dụng rất lớn đến sự phát triển lý thuyết cấu tạo nguyên tử, nhưng không đầy đủ để giải thích mọi tính chất của nguyên tử.

Các electron chuyển động rất nhanh (tốc độ hàng nghìn km/s) trong khu vực xung quanh hạt nhân nguyên tử không theo những quỹ đạo xác định tạo nên vỏ nguyên tử. Số electron ở vỏ nguyên tử của một nguyên tố đúng bằng số proton trong hạt nhân nguyên tử và cũng bằng số hiệu nguyên tử (Z) hay số thứ tự của nguyên tố đó trong bảng tuần hoàn. Chẳng hạn, vỏ của nguyên tử hiđro (Z = 1) có 1 electron, vỏ của nguyên tử clo (Z = 17) có 17 electron, vỏ của nguyên tử vàng (Z = 79) có tới 79 electron.

Lớp electron và phân lớp electron

Các electron trong nguyên tử ở trạng thái cơ bản lần lượt chiếm các mức năng lượng từ thấp đến cao và sắp xếp thành từng lớp. Các electron ở gần nhân hơn liên kết bền chặt hơn với hạt nhân. Vì vậy, electron ở lớp trong có mức năng lượng thấp hơn so với ở các lớp ngoài.

Các electron trên cùng một lớp có mức năng lượng gần bằng nhau.

Xếp theo thứ tự mức năng lượng từ thấp đến cao, các lớp electron này được ghi bằng các số nguyên theo thứ tự n = 1, 2, 3,4 … với tên gọi: K, L, M, N,…

Mỗi lớp electron lại chia thành các phân lớp.

Các electron trên cùng một phân lớp có mức năng lượng bằng nhau.

Các phản lớp được kí hiệu bằng các chữ cái thường s, p, d, f.

Số phân lớp trong mỗi lớp bằng số thứ tự của lớp đó.

Lớp thứ nhất (lớp K, n = 1) có một phân lớp, đó là phân lớp 1s

Lớp thứ hai (lớp L, n = 2) có hai phân lớp, đó là các phân lớp 2s và 2p

Lớp thứ ba (lớp M, n = 3) có ba phân lớp, đó là các phân lớp 3s, 3p và 3d

Các electron ở phân lớp s được gọi là các electron s, ở phân lớp p được gọi là các electron p…

Số electron tối đa trong một phân lớp, một lớp

Số electron tối đa trong một phân lớp như sau :

Phân lớp s chứa tối đa 2 electron

Phân lớp p chứa tối đa 6 electron

Phân lớp d chứa tối đa 10 electron

Phân lớp f chứa tối đa 14 electron

Phân lớp electron đã có đủ số electron tối đa gọi là phân lớp electron bão hoà. Từ đó suy ra số electron tối đa trong một lớp :

Lớp thứ nhất (lớp K, n = 1) có 1 phân lớp 1s, chứa tối đa 2 electron.

Lớp thứ hai (lớp L, n = 2) có 2 phân lớp 2s và 2p :

Phân lớp 2s chứa tối đa 2 electron

Phân lớp 2p chứa tối đa 6 electron

Ví dụ 1:

Vậy, lớp thứ hai chứa tối đa 8 electron.

Cách giải:

Các dạng bài tập về cấu tạo vỏ nguyên tử lớp 10

Thế nào là lớp và phân lớp electron? Sự khác nhau giữa lớp và phân lớp electron?

Tại sao lớp N chứa tối đa 32 electron.

Lớp: Cho biết số nguyên tố trong cùng chu kì.

Phân lớp: Cho biết số obitan và số electron tối đa trong một phân lớp.

Lớp và phân lớp khác nhau ở điểm: Lớp cho biết số nguyên tố trong chu kì, còn phân lớp cho biết số obitan và số electron tối đa.

Cách giải:

2. Lớp N là lớp thứ 4 có các phân lớp s, p, d, f có số electron tối đa tương ứng các phân lớp là 2, 6, 10, 14 (([…]4s^{2}4p^{6}4d^{10}4f^{14})) nên số electron tối đa là 32.

Ví dụ 2: Các electron của nguyên tử nguyên tố X được phân bố trên 3 lớp, lớp thứ ba có 6 electron. Số đơn vị điện tích hạt nhân của nguyên tử X là bao nhiêu?

Các electron của nguyên tử nguyên tố X được phân bố trên 3 mức năng lượng, lớp thứ 3 có 6 electron, như vậy có sự phân bố như sau (1s^{2}2s^{2}2p^{6}3s^{2}3p^{4}).

Cách giải:

Số đơn vị điện tích hạt nhân của nguyên tử X là 16+.

Ví dụ 3: Số đơn vị điện tích hạt nhân của nguyên tử flo là 9. Trong nguyên tử flo, số electron ở mức năng lượng cao nhất là:

Vậy flo có 5 electron ở mức năng lượng cao nhất.

Please follow and like us:

Mâu Thuẫn Giữa Người Với Người: Một Số Nội Dung Cơ Bản / 2023

Nguyễn Ngọc Hà PGS, TS., Phó viện trưởng Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Tạp chí Triết học

03:55′ CH – Thứ năm, 11/11/2010

Để làm rõ một số nội dung cơ bản của mâu thuẫn giữa người với người, trong bài viết này, tác giả đưa ra để trao đổi với độc giả về những đặc trưng cơ bản của mâu thuẫn này, về nguyên nhân xuất hiện của nó, về các loại mâu thuẫn giữa người với người, về vai trò của các chủ thể trong mâu thuẫn này đối với sự phát triển xã hội, về kết quả và phương thức giải quyết mâu thuẫn này. Theo tác giả, mặc dù mâu thuẫn này là hiện tượng bình thường trong xã hội, song đó là một hiện tượng cần được quan tâm nghiên cứu, bởi nó không chỉ giúp chúng ta xác định đúng mâu thuẫn, mà còn lựa chọn đúng đắn phương thức giải quyết mâu thuẫn vì lợi ích con người và xã hội.

Mở đầu

Mâu thuẫn giữa người và người là một hiện tượng tồn tại phổ biến trong xã hội và thường xuyên được nói đến trong sách báo chính trị – xã hội cũng như trong sinh hoạt hàng ngày. Nghiên cứu để làm rõ bản chất của hiện tượng này là nhiệm vụ của triết học xã hội. Trong các sách giáo khoa về phép biện chứng duy vật, một số mâu thuẫn giữa người và người được nói đến như là ví dụ để chứng minh thêm cho quy luật mâu thuẫn. Nhưng, với tư cách một khái niệm của triết học xã hội, mâu thuẫn giữa người và người còn ít được quan tâm nghiên cứu.

1. Đặc trưng cơ bản của mâu thuẫn giữa người và người

Khi nói đến mâu thuẫn giữa người và người, trước hết chúng ta phải xác định đặc trưng cơ bản phân biệt nó với các hiện tượng xã hội khác. Như chúng ta đã biết, hoạt động của con người là hoạt động có mục đích; khi hoạt động mỗi người có thể nhằm đạt được nhiều mục đích khác nhau (chẳng hạn, đạt mục đích A để đạt mục đích B, đạt mục đích B để đạt mục đích C); nhưng mục đích cuối cùng mà mỗi người muốn đạt được bao giờ cũng là lợi ích, tức là cái để đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình. Thông qua hoạt động tìm kiếm cái đáp ứng những nhu cầu, con người có quan hệ với môi trường tự nhiên và quan hệ với nhau.(*)Quan hệ giữa người với người là sự tác động qua lại giữa các chủ thể (giữa cá nhân với cá nhân, giữa tập thể với tập thể, giữa cộng đồng với cộng đồng, giữa cá nhân với tập thể hoặc cộng đồng). Sự tác động qua lại này có thể là mâu thuẫn nhau (cản trở lẫn nhau, bài trừ lẫn nhau, đấu tranh lẫn nhau) hoặc là thống nhất với nhau (hỗ trợ lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, hợp tác với nhau). Như vậy, mâu thuẫn giữa người với người là sự tác động qua lại giữa người với người (giữa chủ thể này với chủ thể khác) theo hướng cản trở lẫn nhau, bài trừ lẫn nhau, đấu tranh lẫn nhau(1).

2. Nguyên nhân xuất hiện mâu thuẫn giữa người với người

Sự tác động qua lại giữa hai chủ thể, như đã nói ở trên, có thể là mâu thuẫn nhau (cản trở lẫn nhau, bài trừ lẫn nhau, đấu tranh lẫn nhau) hoặc thống nhất nhau (hỗ trợ lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, hợp tác với nhau). Nhưng hoạt động lại do mục đích chỉ đạo. Vì thế, sự mâu thuẫn và sự thống nhất giữa người với người về hoạt động phải có nguyên nhân ở quan hệ giữa hai mục đích mà hai chủ thể theo đuổi. Mục đích mà hai chủ thể theo đuổi có thể thuộc một trong ba trường hợp: mâu thuẫn, thống nhất và khác nhau.

Khi hai chủ thể theo đuổi một mục đích thống nhất thì họ sẽ cùng đạt được hoặc cùng không đạt được mục đích của mình (nếu chủ thể này đạt được thì chủ thể kia cũng đạt được, nếu chủ thể này không đạt được thì chủ thể kia cũng không đạt được). Trong trường hợp này, giữa họ không có mâu thuẫn. Ví dụ, nếu hai người cùng vận động cho một ứng viên vào một chức vụ nào đó thì có nghĩa là họ theo đuổi một mục đích thống nhất và do đó, họ sẽ cùng đạt được hoặc cùng không đạt được mục đích của mình. Sự thống nhất giữa hai chủ thể về mục đích sẽ dẫn đến sự thống nhất giữa họ trong hoạt động, tức là họ sẽ hỗ trợ lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, hợp tác với nhau.

Khi hai chủ thể theo đuổi hai mục đích mâu thuẫn thì họ không thể cùng đạt được mục đích của mình. Ví dụ, nếu hai người nào đó vận động cho hai ứng viên khác nhau vào một chức vụ thì họ đang theo đuổi hai mục đích mâu thuẫn và do đó, họ không thể cùng đạt được mục đích của mình (nếu người này đạt được thì người kia không đạt được). Sự mâu thuẫn giữa hai chủ thể về mục đích sẽ dẫn đến sự mâu thuẫn giữa họ trong hành động, tức là họ sẽ đấu tranh với nhau, bài trừ nhau, cản trở nhau.( 1)

Trong trường hợp hai chủ thể theo đuổi hai mục đích khác nhau (không mâu thuẫn và cũng không thống nhất) thì họ có thể cùng đạt được hoặc không cùng đạt được hai mục đích này. Ví dụ, những người trồng lúa và những người dệt vải là hai chủ thể theo đuổi hai mục đích khác nhau và do đó, họ có thể cùng đạt được hoặc không cùng đạt được mục đích của mình. Sự khác nhau về mục đích tuy không trực tiếp dẫn đến sự mâu thuẫn hay sự thống nhất trong hành động, nhưng gián tiếp và ít hay nhiều cũng sẽ dẫn đến sự mâu thuẫn hay sự thống nhất trong hành động. Bởi vì, mọi người trong xã hội đều có liên hệ với nhau; hoạt động của mỗi người dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp cũng đều có tác động đến hoạt động của tất cả những người khác, mà sự tác động này có thể là mâu thuẫn hoặc thống nhất. Chẳng hạn, những người trồng lúa và những người dệt vải trong quá trình thực hiện mục đích của mình nhất định có sự tác động qua lại với nhau theo cả chiều hướng mâu thuẫn và chiều hướng thống nhất (sự tác động đó có thể là tự phát, nằm ngoài ý thức của họ). Họ có sự tác động lẫn nhau theo chiều thống nhất, vì những người trồng lúa thì cần vải, còn những người dệt vải thì cần lúa. Họ có tác động lẫn nhau theo chiều mâu thuẫn, vì cả hai bên đều cần ruộng đất để sản xuất, cần thị trường để tiêu thụ sản phẩm trong khi ruộng đất và thị trường để tiêu thụ sản phẩm lại có hạn; hoặc vì những người dệt vải gây ô nhiễm môi trường, từ đó cản trở hoạt động của những người trồng lúa.

Như vậy, nguyên nhân xuất hiện mâu thuẫn giữa người và người là do hai chủ thể theo đuổi hai mục đích mà việc đạt được mục đích của chủ thể này tất nhiên sẽ loại trừ hoàn toàn hoặc một phần việc đạt được mục đích của chủ thể kia. Với nguyên nhân ấy thì sự xuất hiện mâu thuẫn giữa người và người có yếu tố chủ quan, vì con người có thể tự giác từ bỏ mục đích này để theo đuổi mục đích khác. Nhưng mục đích được hình thành trên cơ sở nhu cầu, mà người nào cũng phải có nhu cầu đặc biệt là nhu cầu vật chất. Vì thế, sự xuất hiện của mâu thuẫn giữa người và người có cả yếu tố khách quan.

3. Các loại mâu thuẫn giữa người và người

Có nhiều cách phân loại mâu thuẫn giữa người và người. Trước hết, đó là cách phân loại mâu thuẫn xã hội thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản. Nếu trong một cộng đồng có nhiều chủ thể và tương ứng có nhiều mâu thuẫn giữa các chủ thể, thì người ta có thể phân các mâu thuẫn ấy thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản. Ví dụ, trong một quốc gia nào đó có ba chủ thể là giai cấp tư sản, giai cấp vô sản và giai cấp tiểu tư sản, tương ứng có ba mâu thuẫn là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp tiểu tư sản, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tiểu tư sản. Trong ba mâu thuẫn ấy thì mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản là cơ bản; hai mâu thuẫn còn lại là không cơ bản. Mâu thuẫn cơ bản ở đây được hiểu là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, tồn tại cùng với sự vật, quyết định xu hướng vận động của sự vật, trong trường hợp ở đây là mâu thuẫn quy định bản chất của cộng đồng, tồn tại cùng với cộng đồng, quyết định xu hướng vận động của cộng đồng.

Quan hệ giữa hai chủ thể nào đó tại một thời điểm nào đó hoặc là thống nhất (không có mâu thuẫn) hoặc là vừa mâu thuẫn (có một mâu thuẫn hoặc có nhiều mâu thuẫn), vừa thống nhất (thống nhất ở một số mục đích này và mâu thuẫn ở một số mục đích khác). Khi có nhiều mâu thuẫn xuất hiện giữa hai chủ thể nào đó thì chúng ta có thể phân loại các mâu thuẫn ấy thành các mâu thuẫn quan trọng và các mâu thuẫn không quan trọng. Mâu thuẫn quan trọng ở đây được hiểu là mâu thuẫn về những mục đích quan trọng. Còn mâu thuẫn không quan trọng được hiểu là mâu thuẫn về những mục đích không quan trọng. Tuy nhiên, sự phân loại này là tương đối và không cố định, vì tính chất quan trọng hay không quan trọng của mục đích và do đó, của mâu thuẫn thay đổi theo hoàn cảnh bên ngoài và theo cả quan điểm của từng chủ thể về mức độ quan trọng của mục đích tranh chấp đối với bản thân mình. Chẳng hạn, mâu thuẫn giữa hai quốc gia trong việc giải quyết một vấn đề thương mại nào đó có thể là quan trọng hoặc không quan trọng tuỳ theo quan điểm của mỗi quốc gia trong việc xác định mục đích tranh chấp là quan trọng hay không quan trọng so với các mục đích khác. Quan điểm này có thể thay đổi từ chỗ cho mục đích tranh chấp là quan trọng đến chỗ cho mục đích tranh chấp là không quan trọng, hoặc ngược lại. Nếu mục đích càng được chủ thể coi là quan trọng thì hoạt động của chủ thể để đạt được mục đích càng mạnh mẽ.

Một cách phân loại khác đối với mâu thuẫn giữa người và người là cách phân loại thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng. Căn cứ của cách phân loại này là gì? Có ý kiến căn cứ vào lợi ích tranh chấp là cơ bản hay không cơ bản. Theo đó, mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn về lợi ích cơ bản, còn mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn về lợi ích không cơ bản. Có ý kiến thì căn cứ vào phương thức giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực hay không bằng bạo lực. Theo đó, thuẫn đối kháng là mâu thuẫn được giải quyết bằng bạo lực; còn mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn được giải quyết không phải bằng bạo lực. Cách phân loại sau (căn cứ vào phương thức giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực hay không bằng bạo lực) cụ thể hơn và do đó, có ý nghĩa thực tiễn hơn. Nếu mục đích tranh chấp giữa hai chủ thể nào đó có ý nghĩa lớn đối với sự tồn tại và phát triển của cả hai chủ thể thì hai chủ thể này thường chọn hình thức bạo lực để giải quyết mâu thuẫn giữa họ, làm cho mâu thuẫn giữa họ có tính đối kháng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, tuy mục đích tranh chấp là không có ý nghĩa lớn đối với sự tồn tại và phát triển của hai bên, nhưng mâu thuẫn giữa hai bên vẫn có tính đối kháng, vì họ vẫn chọn hình thức bạo lực để giải quyết mâu thuẫn. Việc lựa chọn hình thức bạo lực hay không bạo lực để giải quyết mâu thuẫn không chỉ phụ thuộc ý nghĩa lớn hay không lớn của mục đích tranh chấp đối với hai chủ thể, mà còn phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của hai chủ thể. Vì thế, tính đối kháng hay không đối kháng của mâu thuẫn không cố định: mâu thuẫn có thể chuyển từ đối kháng thành không đối kháng hoặc từ không đối kháng thành đối kháng (nếu hai chủ thể mâu thuẫn thay đổi phương thức giải quyết mâu thuẫn từ bằng bạo lực sang không bằng bạo lực hoặc ngược lại).

Mâu thuẫn giữa người với người có thể được phân loại thành mâu thuẫn về kinh tế, mâu thuẫn về chính trị – xã hội, mâu thuẫn về tư tưởng. Nếu mục đích tranh chấp giữa hai chủ thể là mục đích kinh tế thì mâu thuẫn giữa họ là mâu thuẫn về kinh tế. Tương tự, nếu mục đích tranh chấp giữa hai chủ thể là mục đích chính trị – xã hội thì mâu thuẫn giữa họ là mâu thuẫn về chính trị – xã hội. Còn nếu mục đích tranh chấp giữa hai chủ thể là mục đích tư tưởng thì mâu thuẫn giữa họ là mâu thuẫn về tư tưởng. Mâu thuẫn về kinh tế, mâu thuẫn về chính trị – xã hội, mâu thuẫn về tư tưởng có mối quan hệ với nhau và do đó, khi hai chủ thể có mâu thuẫn về kinh tế thì giữa hai chủ thể ấy ít hay nhiều sẽ nảy sinh mâu thuẫn về chính trị – xã hội và mâu thuẫn về tư tưởng. Do vậy, tuy có nhiều nguyên nhân khác nhau làm nảy sinh mâu thuẫn về chính trị – xã hội và mâu thuẫn về tư tưởng giữa hai chủ thể (đặc biệt giữa hai giai cấp, giữa hai dân tộc), nhưng trong số các nguyên nhân đó, nhất định có nguyên nhân sâu xa là mâu thuẫn về kinh tế giữa họ.

(1) Hiện tượng cản trở lẫn nhau, bài trừ lẫn nhau, đấu tranh lẫn nhau giữa người với người là hiện tượng tồn tại khách quan và phổ biến trong xã hội mà ai cũng có thể dễ dàng nhận thấy. Tuy nhiên, đối với những người không thừa nhận học thuyết của phép biện chứng về mâu thuẫn thì mâu thuẫn (trong đó có mâu thuẫn xã hội) không tồn tại trong hiên thực, chỉ tồn tại trong tư duy và là biểu hiện của tư duy sai lầm. Mặc dù thừa nhận có hiện tượng cản trở lẫn nhận, bài trừ lẫn nhau, đấu tranh lẫn nhau giữa người với người, nhưng họ lại không gọi hiện tượng đó là mâu thuẫn. Có thể vì thế mà trong một số từ điển tiếng Anh, tuy có thuật ngữ contracdition (mâu thuẫn), social conflict (xung đột xã hội), nhưng không hề có thuật ngữ social contracdition (mâu thuẫn xã hội).

(2) Trong các tác phẩm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin không có câu “mâu thuẫn là động lực của sự phát triển”. Ph.Ăngghen có viết: “Động lực của toàn bộ lịch sử hiện đại, ít nhất là ở trong hai nước tiên tiến nhất nói trên” (tức là Anh và Pháp), chính là cuộc đấu tranh của ba giai cấp lớn đó (tức là giai cấp tư sản, giai cấp vô sản, giai cấp quý tộc địa chủ) và những xung đột về lợi ích của họ (Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.21. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.439). “Động lực của lịch sử” nói ở đây cần được hiểu là động lực của sự vận động xã hội, chứ không phải là động lực của sự phát triển xã hội.

(3) Việc xác định một mục đích nào đó là tiến bộ hay không tiến bộ phải căn cứ vào nhiều tiêu chuẩn khách quan của sự tiến bộ, chứ không thể căn cứ vào sự tuyên bố của chủ thể theo đuổi mục đích ấy. Bởi vì, khi theo đuổi mục đích nào thì chủ thể theo đuổi mục đích ấy bao giờ cũng cố chứng minh mục đích mà mình theo đuổi là tiến bộ.

Thống kê truy cập

Tổng số người truy cập: .

Số người đang trực tuyến: .

Cấu Tạo Của Vỏ Electron Nguyên Tử / 2023

I. Sự chuyển động của Electron

 

 - Các electrron chuyển động rất nhanh (tốc độ hàng nghìn km/s) trong khu vực xung quanh hạt nhân nguyên tử không theo những quỹ đaọ xác định tạo nên vỏ nguyên tử.

 - Mỗi electron có một mức năng lượng xác định.

 - Các electron ở gần hạt nhân có mức năng lượng thấp hơn các electron ở xa hạt nhân và electron ở lớp ngoài cùng có mức năng lượng cao nhất và quyết định tính chất của một nguyên tố.

 

II. Lớp electron và phân lớp electron

 

1. Lớp e

 - Các electron trên cùng 1 lớp có mức năng lượng gần bằng nhau và xếp theo thứ tự mức năng lượng từ thấp đến cao, các lớp e này được ghi bằng các số nguyên tử theo thứ tự n = 1, 2, 3, 4… với tên gọi : K, L, M,N…

 

2. Phân lớp electron

 - Mỗi lớp electron lại chia thành các phân lớp  - Các electron trên cùng một phân lớp có mức năng lượng bằng nhau  - Các phân lớp được kí hiệu bằng các chứ cái thường s, p, d, f  - Số phân lớp trong mỗi lớp bằng số thứ tự của lớp đó

III. Số electron tối đa trong một phân lớp, một lớp

1. Số electron tối đa trong một phân lớp

 - Phân lớp s chứa tối đa 2 electron  - Phân lớp p chứa tối đa 6 electron  - Phân lớp d chứa tối đa 10 electron  - Phân lớp f chứa tối đa 14 electron Phân lớp electron đã có đủ số electron tối đa gọi là phân lớp electron bão hòa.  

2. Số electron tối đa trong một lớp

  – Lớp K có n = 1 có số e tối đa là 2 = 2.12

  – Lớp L có n = 2 có số e tối đa là 8 = 2.22

 

  – Lớp n có số thứ tự của lớp n thì số e tối đa là 2.n2

 

Lớp electron đã có đủ số electron tối đa gọi là lớp electron bão hòa.

 

Trung tâm luyện thi, gia sư – dạy kèm tại nhà NTIC Đà Nẵng

 

 

LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN CHI TIẾT

ĐÀO TẠO NTIC  

Địa chỉ: Đường nguyễn lương bằng, P.Hoà Khánh Bắc, Q.Liêu Chiểu, Tp.Đà Nẵng Hotline: 0905540067 - 0778494857 

Email: daotaontic@gmail.com