Cấu Tạo Nguyên Tử Và Bài Toán Các Hạt Cơ Bản

--- Bài mới hơn ---

  • Các Dạng Bài Tập Chương Cấu Tạo Nguyên Tử
  • Bấm Móng Tay Giúp Chị Em Có Được Bộ Móng Siêu Xinh
  • Bài 101: Sinh Học Phát Triển Của Tóc Và Móng
  • Cách Biết Sức Khoẻ Của Bản Thân Thông Qua Tình Trạng Móng Tay
  • Đốm Trắng Ở Móng Tay Báo Hiệu Bệnh Gì?
  • Chi tiết
    Chuyên mục: Chuyên đề 1. Cấu tạo nguyên tử, bảng tuần hoàn, liên kết hóa học
    Được viết ngày Chủ nhật, 08 Tháng 2 2022 10:17
    Viết bởi Nguyễn Văn Đàm

    Nguyên tử là các hạt vô cùng nhỏ bé nhưng nó lại có cấu tạo phức tạp.

    1. Cấu tạo nguyên tử

    Nguyên tử gồm 2 phần:

    – Hạt nhân nguyên tử: hầu hết đều được tạo thành từ proton và nơtron (trừ nguyên tử 1 H trong hạt nhân không có nơtron).

    2. Kích thước và khối lượng của nguyên tử

    – Nguyên tử có kích thước vô cùng nhỏ bé.

    – Khối lượng của nguyên tử tập trung chủ yếu ở hạt nhân (vì khối lượng của e rất nhỏ bé). Do đó một cách gần đúng có thể coi khối lượng nguyên tử là khối lượng của hạt nhân.

    3. Mối quan hệ giữa các loại hạt trong nguyên tử

    – Vì nguyên tử trung hòa về điện nên trong mọi nguyên tử luôn có: số p = số e.

    – Với nguyên tử bền: số p ≤ số n ≤ 1,5.số p (các nguyên tử có số p ≥ 82 thì không bền là những chất phóng xạ).

    4. Các đại lượng đặc trưng của nguyên tử và cách kí hiệu nguyên tử

    Nguyên tử có 2 đại lượng đặc trưng là số đơn vị điện tích hạt nhân (Z) và số khối (A).

    – Số đơn vị điện tích hạt nhân (Z) = số electron (E) = số proton (P) = số hiêu nguyên tử.

    – Số khối (A) = Z + N (số nơtron).

    5. Nguyên tố hóa học và đông vị

    – Nguyên tố hóa học là những nguyên tử có cùng điện tích hạt nhân.

    – Đồng vị là hiện tượng các nguyên tử có cùng số proton nhưng khác nhau về số nơtron, do đó số khối A của chúng khác nhau.

    – Số khối: A = Z + N.

    – Số khối A và số proton (số đơn vị điện tích hạt nhân, số hiệu nguyên tử) Z là 2 đại lượng đặc trưng cho nguyên tử.

    chúng tôi giới thiệu đến các bạn các bài tập về cấu tạo nguyên tử và bài toán các hạt cơ bản sau:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Của Nguyên Tử, Kích Thước Và Khối Lượng Của Electron Hạt Nhân
  • Móng Tay Chân Ở Người Có Tác Dụng Gì?
  • Từ Và Cấu Tạo Từ (Phần Cuối)
  • Thời Tiết Ở Huế Quanh Năm
  • Thời Tiết Huế Phú Lộc
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Học Thuyết Hình Thái Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Tài Liệu Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Sự Phát Triển Của Xã Hội
  • Ba Nấc Thang Phát Triển Lý Thuyết Về Vị Thế Và Vai Trò Của Con Người Trong Cấu Trúc Xã Hội
  • Hình Thức Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Bộ Máy Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
    1. A. Sản xuất vật chất – nền tảng của sự vận động, phát triển xã hội
    2. B. Biện chứng của sự phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất – quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển các phương thức sản xuất trong lịch sử.
    3. C Biện chứng của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng – quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển trong cơ cấu tổng thể của đời sống xã hội
    4. D. Cấu trúc hình thái kinh tế – xã hội và quá trình lịch sử – tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế – xã hội

    A. Sản xuất vật chất – nền tảng của sự vận động, phát triển xã hội

    Trên ý nghĩa bao quát nhất, khái niệm xã hội dùng để chỉ những cộng đồng người trong lịch sử; đó là những cộng đồng người có tổ chức nhằm thực hiện các mối quan hệ giữa con người với con người trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá, đạo đức, tôn giáo…

    Hình thức cộng đồng xã hội đầu tiên của nhân loại là cộng đồng thị tộc, bộ lạc với hình thức tổ chức cơ cấu xã hội giản dị nhất. Sự tiến hoá hơn nữa của lịch sử đã dẫn tới sự hình thành cơ cấu của cộng đồng bộ tộc và tiến dần lên hình thức xã hội có cơ cấu tổ chức cao hơn là hình thức tổ chức quốc gia – dân tộc. Ngày nay, do nhu cầu mới của lịch sử trong thời đại mới đã bắt đầu xuất hiện những hình thức tổ chức liên minh rộng lớn giữa các quốc gia – dân tộc thành các hình thức xã hội ở phạm vi khu vực và quốc tế.

    Trong bất cứ hình thức tổ chức của cộng đồng xã hội nào, dù đơn giản nhất cũng có sự thống nhất của ba quá trình sản xuất: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần, sản xuất và tái sản xuất ra con người cùng những quan hệ xã hội của nó. Sản xuất vật chất là quá trình liên kết con người dưới các hình thức tổ chức xã hội nhất định nhằm thực hiện mục đích cải biến môi trường tự nhiên, làm biến đổi các đối tượng vật chất tự nhiên theo nhu cầu sinh tồn và phát triển của con người. Sản xuất tinh thần là quá trình hoạt động nhằm sáng tạo ra các giá trị văn hoá tinh thần trên tất cả các lĩnh vực của xã hội, từ những giá trị tri thức cho tới những giá trị văn hoá nghệ thuật, đạo đức, tôn giáo, triết học… Cùng với những quá trình sản xuất ấy là quá trình sản xuất và không ngừng tái sản xuất ra chính bản thân con người và các quan hệ xã hội của họ trên hai mặt tự nhiên và xã hội của con người. Ba loại hình sản xuất đó luôn luôn tồn tại trong tính quy định, chi phổi và làm biến đổi lẫn nhau tạo nên tính chất sống động của đời sống xã hội, trơng đó sản xuất vật chất giũ vai trò quyết định.

    Tính quyết định của sản xuất vật chất đối với toàn bộ đời sống xã hội xuất phát từ tiền đề khách quan là: “người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”. Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa. Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thoả mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất” . Sự thật khách quan đó cũng cho thấy: tiền đề xuất phát để nghiên cứu về lịch sử con người và lịch sử nhân loại phải được bắt đầu từ việc nghiên cứu về hành vi lao động sản xuất vật chất của con người. Mác khẳng định: “Bản thản con người bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình” . Với ý nghĩa đó, có thể khẳng định phương thức đặc trưng cho sự sinh tồn và phát triển của con người là hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất. Phương thức ấy là cái phân biệt căn bản giữa con người và động vật, khiến cho nó trở thành con người và tự mình làm ra lịch sử của chính mình.

    Lao động sản xuất vật chất là hoạt động của con người với mục đích cải biến các đối tượng vật chất tự nhiên, cải biến giới tự nhiên. Hoạt động đó không thể là những hành vi độc lập của mỗi con người đơn lẻ mà nhất định phải trên cơ sở liên kết những cá nhân thành cộng đồng có tổ chức, tức thành những cộng đồng xã hội nhất định theo yêu cầu tất yếu của việc cải biến giới tự nhiên như thế nào, ở trình độ nào. Mác khẳng định: “Trong sản xuất người ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên. Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được, người ta phải có mối quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất chỉ diễn ra trong khuôn khổ những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó” .

    “Mối quan hệ nhất định với nhau” trong quá trình sản xuất ấy chính là những quan hệ sản xuất hay những quan hệ kinh tế của xã hội; tức những quan hệ liên kết giữa những con người nhằm thực hiện các lợi ích vật chất có được nhờ quá trình sản xuất vật chất đó. Trên cơ sở những quan hệ này, tất yếu làm nảy sinh tất cả những quan hệ xã hội khác giữa con người với con người trên các lĩnh vực chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo… Sự nảy sinh những quan hệ ấy, suy đến cùng chỉ là sự phản ánh nhu cầu tất yếu cần phải có để đảm bảo cho những quan hệ sản xuất có thể được xác lập và thực, thi, nhờ đó quá trình sản xuất vật chất, tức cải biến giới tự nhiên, mới có thể thực hiện được. Như vậy, những quan hệ sản xuất của xã hội không phải là những quan hệ mang tính chủ quan; tuỳ tiện mặc dù nó được thiết lập bởi chính con người, nó có thể mang những hình thức đạo đức; tập tục như trong xã hội nguyên thủy hay những hình thức pháp lí trong các xã hội được tổ chức theo hình thức nhà nước, mà là những quan hệ có cơ sở khách quan của nó, tức có tính vật chất của nó, từ nhu cầu khách quan của công việc sản xuất, từ trình độ kĩ thuật công nghệ thực tế trong mỗi điều kiện lịch sử của công việc sản xuất ấy.

    Cách tiếp cận duy vật về xã hội của Mác đã cho thấy: sản xuất vật chất nhất định phải là nền tảng của toàn bộ đời sống xã hội, là cơ sở cuối cùng để giải thích mọi biến thiên của lịch sử; mọi sự biến đổi, phát triển của các quan hệ xã hội giữa con người với con người, của sự phát triển từ hình thức tổ chức xã hội này lên hình thức tổ chức xã hội cao hơn trong lịch sử nhân loại. Phương pháp luận duy vật của Mác trong việc nghiên cứu về xã hội và lịch sử cho thấy: lịch sử tiến hoá văn minh của nhân loại có cơ sở quyết định từ lịch sử phát triển của trình độ văn minh trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất của xã hội; do vậy cũng cần phải nghiên cứu trình độ phát triển nói chung của xã hội, trên mọi lĩnh vực của nó, từ trình độ phát triển thực tế của nền sản xuất vật chất ấy, mà suy đến cùng thì trình độ phát triển ấy lại phụ thuộc vào trình độ phát triển của phương thức sản xuất – tức là những cách thức mà xã hội sử dụng để tiến hành quá trình sản xuất ra của cải vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định.

    Mỗi quá trình sản xuất vật chất đều được tiến hành theo những phương thức nhất định trên hai mặt – đó là phương thức kĩ thuật, công nghệ của quá trình sản xuất và phương thức tổ chức kinh tế của quá trình sản xuất ấy; trong đó, phương thức tổ chức kinh tế phụ thuộc tất yếu vào trình độ phương thức kĩ thuật, công nghệ hiện có của xã hội. Như vậy, suy đến cùng thì chính trình độ phát triển của phương thức kĩ thuật, công nghệ nói riêng và trình độ phát triển nói chung của toàn bộ lực lượng sản xuất là nhân tổ quyết định trình độ phát triển của nền sản xuất vật chất của xã hội, và do đó nó cũng chính là nhân tố quyết định trình độ phát triển của toàn bộ đời sống xã hội trên tất cả các mặt khác nhau của nó.

    Có thể nhận rõ sự khác nhau căn bản giữa phương thức sản xuất của xã hội nông nghiệp truyền thống (điển hình là phương thức sản xuất trong các xã hội phong kiến thời trung cổ) và phương thức sản xuất công nghiệp hiện đại (tiêu biểu trong các xã hội tư bản đương đại). Trong phương thức sản xuất nông nghiệp truyền thống, phương thức tổ chức kinh tế thường theo quy mô nhỏ với cách thức hoạt động tự sản – tự tiêu, hay “tự cấp tự túc” mang tính chất quy trình khép kín của quá trình tái sản xuất giản đơn. Cách thức tổ chức kinh tế ấy dựa trên tính chất sở hữu tư nhân nhỏ đối với các tư liệu sản xuất. Các tư liệu sản xuất đó cũng như lao động được sử dụng trong quá trình sản xuất căn bản đều ở trình độ thủ công, được tích luỹ bởi kinh nghiệm mang tính truyển thừa của những người lao động trong phạm vi tương đối hẹp. Ngược lại, với phương thức sản xuất đó, phương thức sản xuất công nghiệp hiện đại mà tiẽn thân của nó là phương thức sản xuất công nghiệp truyền thống tư bản chủ nghĩa ra đời từ sau các cuộc cách mạng tư sản ở các nước Tây Âu (thế ki XVIII). Trong phương thức sản xuất công nghiệp hiện đại, cách thức tổ chức kinh tế trong toàn xã hội (trong phạm vi một quốc gia hay giữa các quốc gia liên minh) là phương thức tổ chức kinh té thị trường hiện đại với sự tham gia là ba chủ thể kinh tế: tư nhân, các hộ gia đình và nhà nước. Cách thức tổ chức kinh tế đó dựa trên sự kết hợp của nhiều loại hình sở hữu các giá trị tư bản được vận hành trong các quá trình sản xuất của xã hội. Về phương diện kĩ thuật công nghệ của quá trình sản xuất, phương thức sản xuất công nghiệp hiện đại căn bản dựa trên trình độ phát triển của kỹ thuật, công nghệ cao, công nghệ hiện đại trong quá trình sản xuất. Vì thế, phương thức sản xuất này cũng được gọi là “phương thức công nghiệp – thị trường hiện đại”, tức là sự thống nhất của hai mặt của phương thức sản xuất vật chất của các xã hội đã đạt được trình độ tiên tiến từ khoảng nửa cuối thế kỉ XX đến nay.

    Tương ứng với quá trình chuyển từ phương thức sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phương thức sản xuất công nghiệp là quá trình biến đổi và cách mạng của hàng loạt các quan hệ giữa con người với con người trên các lĩnh vực tổ chức chính trị, pháp luật, văn hoá, đạo đức, tôn giáo… Đúng như Mác nhận định: “Việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp và chính, mỗi một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định của một dân tộc hay một thời đại tạo ra một cơ sở, từ đó mà người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cả những quan niệm tôn giáo của con người ta” .

    Với việc phát hiện ra vai trò quyết định của phương thức sản xuất trong nền sản xuất vật chất, cũng do đó nó quyết định trình độ phát triển của toàn bộ đời sống xã hội và sự vận động phát triển của toàn bộ lịch sử nhân loại, Mác đã tiến hành phác hoạ lịch sử phát triển của xã hội loài người qua lịch sử phát triển, thay thế lẫn nhau của các phương thức sản xuất từ trình độ tháp đến cao. Theo tư tưởng của Mác trong tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị (xuất bản năm 1859), thì về đại thể, có thể coi các phương thức sản xuất châu Á, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của các hình thái kinh tế – xã hội.

    Khái niệm “phương thức sản xuất châu Á” là khái niệm được Mác sử dụng để chỉ một loại hình phương thức sản xuất đặc biệt mang tính quá độ từ phương thức sản xuất nguyên thủy lên phương thức sản xuất cao hơn đã tồn tại kéo dài trong lịch sử các xã hội thuộc phương Đông vùng châu Á mà hình thức tiêu biểu của nó là mô hình tổ chức “công xã nông thôn” ở Ấn Độ, trong đó tính chất “sở hữu kép” về ruộng đất – tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội nông nghiệp dựa trên trình độ lao động thủ công chưa phát triển – được Mác coi là “chiếc chìa khoá” để nghiên cứu “những bí mật” của xã hội Ấn Độ nói riêng và các xã hội vùng phương Đông châu Á nói chung.

    B. Biện chứng của sự phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất – quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển các phương thức sản xuất trong lịch sử.

    Bất cứ một quá trình sản xuất, vật chất nào cũng diễn ra với sự tồn tại “song trùng” của hai mối quan hệ cơ bản, đó là: mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên và mối quan hệ giữa con người với nhau. Khái niệm lực lượng sản xuất và khái niệm quan hệ sản xuất phản ánh hai mối quan hệ song trùng ấy, trong đó khái niệm lực lượng sản xuất phản ánh trình độ con người chinh phục giới tự nhiên trong quá trình sản xuất, còn khái niệm quan hệ sản xuất phản ánh sự liên kết giữa những con người theo yêu cầu khách quan của sự chinh phục giới tự nhiên ở một trình độ phát triển nhất định.

    – Khái niệm “lực lượng sản xuất” phản ánh mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, biểu hiện trình độ con người chinh phục tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất. Đó là mối quan hệ vật chất giữa con người với giới tự nhiên. Mối quan hệ đó được thực hiện thông qua quá trình lao động sản xuất vật chất, con người cải biến giới tự nhiên bằng sức mạnh thực tiễn. Vì vậy xét về thực chất, khái niệm “lực lượng sản xuất” dùng để chỉ năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người. Năng lực đó được tạo ra trong đời sống hiện thực bằng sự kết hợp giữa sức lao động (sức lực vật chất và tinh thần – đặc biệt là yếu tố tri thức) của con người với những tư liệu sản xuất trong quá trình lao động của họ.

    Do đó, có thể định nghĩa vắn tắt: Lực lượng sản xuất là toàn bộ các yếu tố vật chất và tinh thần của con người, tạo thành năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên theo mục đích của quá trình sản xuất vật chất.

    Trình độ phát triển của năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người, tức trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản sau đây:

    Một là, trình độ phát triển của các tư liệu sản xuất; trong đó, trình độ phát triển của công cụ lao động thể hiện tập trung trình độ phát triển của các tư liệu sản xuất.

    Hai là, trình độ phát triển của năng lực lao động thực tế của con người, tức của sức lao động, bao gồm trong đó toàn bộ sức lực vật chất và sức lực tinh thần (kĩ năng, kinh nghiệm…) của người lao động.

    Ba là, phương thức kết hợp các yếu tố trong quá trình sản xuất. Cùng một trình độ phát triển của tư liệu sản xuất và sức lao động của con người nhưng phương thức phân công hợp tác phối kết hợp khác nhau có thể tạo ra chất lượng, trình độ phát triển khác nhau của lực lượng sản xuất, do đó trong thực tế chúng cũng có giá trị hiện thực khác nhau, thể hiện trình độ nặng lực thực tiễn khác nhau trong quá trình sản xuất.

    Trong các yếu tố tư liệu sản xuất và người lao động (tức con người có khả năng lao động được tạo nên bởi các yếu tố vật chất và tinh thần của chính bản thân họ) thì nhân tố người lao động là yếu tố cơ bản nhất. Bởi vì, suy đến cùng thì trình độ phát triển của tư liệu sản xuất chỉ là kết tinh giá trị lao động của con người, là sản phẩm lao động của con người, phản ánh trình độ lao động của con người; đổng thời, giá trị thực tế tạo nên năng lực thực tiễn trong quá trình sản xuất phụ thuộc vào trình độ lao động thực tế của người lao động khi họ sử dụng nhũng tư liệu đó.

    Nếu xem xét quá trình lao động sản xuất không phải với tư cách trực quan là quá trình lao động sản xuất đơn lẻ, riêng biệt của mỗi cá nhân độc lập mà là tổng thể quá trình lao động của một xã hội thì các yếu tố tư liệu sản xuất và người lao động cần phải được phân tích là tổng thể kết hợp giữa các loại và trình độ phát triển của tư liệu sản xuất cũng như giữa các loại và trình độ phát triển của người lao động trong tính toàn thể xã hội của nó. Trong đó có sự kết hợp giữa các loại lao động phát triển ở những trình độ khác nhau (lao động trí óc và lao động chân tay, lao động trực tiếp và gián tiếp…). Cách hiểu đó mới có thể cho thấy sự phát triểr của lực lượng sản xuất của thời đại ngày nay.

    Một trong những đặc điểm lớn của thời đại ngày nay là có sự phát triển hết sức nhanh chóng của các ngành khoa học tự nhiên gắn kết với các quá trình phát minh sáng chế kĩ thuật mới, từ đó làm xuất hiện và phát triển rất nhanh chóng của các ngành công nghệ cao như: công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ… Các ngành công nghệ đó ngày càng đóng vai trò then chốt, trụ cột trong sự phát triển của lực lượng sản xuất ở các nước có nền công nghiệp hiện đại. Với sự phát triển đó, tất yếu đòi hỏi quá trình phát triển trình độ ngày càng cao của người lao động trong xã hội công nghiệp hiện đại. Xu hướng sử dụng trình độ lao động có đào tạo và được đào tạo ở trình độ chuyên môn cao và theo chiều sâu của sự chuyên môn hoá để có thể thích ứng với việc sử dụng sản phẩm kĩ thuật mới ngày càng được coi trọng, thay thế dần cho trình độ lao động căn bản dựa trên những kĩ năng kinh nghiệm lao động thông thường không cần trải qua quá trình đào tạo chuyên sâu. Những sự phát triển đó của lực lượng sản xuất trong xã hội công nghiệp hiện đại đã thể hiện khuynh hướng gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa hai quá trình sản xuất vật chất và tinh thần của xã hội, thể hiện khuynh hướng khoa học kĩ thuật ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp mà Mác đã dự báo từ thế kỉ XIX. Biểu hiện cao nhất của quá trình đó là sự ra đời và phát triển của các khu công nghệ cao, trong đó có sự liên kết chặt chẽ giữa những nhà sản xuất và những nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu khoa học, các trường đại học đào tạo nguổn nhân lực có chất lượng cao phù hợp với nhu cầu phát triển của nền công nghiệp hiện đại.

    Khuynh hướng phát triển của lực lượng sản xuất trong các xã hội công nghiệp hiện đại cũng tất yếu thúc đẩy tiến trình “xã hội hoá của lực lượng sản xuất mà biểu hiện tiêu biểu cho tiến trình đó là sự phụ thuộc tất yếu ngày càng tăng về mặt trình độ phát triển của kĩ thuật, công nghệ được sử dụng vào mỗi quá trình sản xuất công nghiệp. Sự tiến bộ về mặt kĩ thuật, công nghệ của ngành sản xuất này tất yếu đòi hỏi phải có sự phát triển tương ứng về mặt kĩ thuật, công nghệ của ngành khác, nhờ đó mới có thể tạo ra sản phẩm toàn vẹn của quá trình sản xuất. Cũng do đó, sự thay thế trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở trình độ này bằng một trình độ mới cao hơn giữa các ngành sản xuất diễn ra với một tốc độ và chu kì đổi mới hết sức nhanh chóng không chỉ trong phạm vi nền sản xuất của một quốc gia. Như vậy, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở ngành này lại phụ thuộc vào trình độ phát triển của ngành khác, trong đó xét về tổng thể là mối quan hệ phụ thuộc về trình độ phát triển kĩ thuật – công nghệ trong lực lượng sản xuất thuộc cơ cấu giữa ba ngành công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ không chỉ trong phạm vi mỗi quốc gia riêng biệt.

    – Khái niệm “quan hệ sản xuất ” dùng để khái quát mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất vật chất của một xã hội nhất định.

    Mỗi quá trình sản xuất và tái sản xuất vật chất chỉ có thể diễn ra được với sự kết hợp của tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người, trong đó mối quan hệ về mặt kĩ thuật, công nghệ mà nhờ đó có thể trực tiếp làm biến đổi các đối tượng vật chất tự nhiên thuộc về “lực lượng sản xuất”, còn mối quan hệ về mặt xã hội giữa con người với con người trong quá trình đó thuộc về “quan hệ sản xuất”; trong đó, nội dung chính của nó là mối quan hệ kinh tế, mặc dù mối quan hệ kinh tế nào trong xã hội được tổ chức dưới hình thức nhà nước cũng cán có nội dung pháp lí để đảm bảo tính thực thi của nó vón thuộc về thượng tầng kiến trúc của xã hội. Mối quan hệ kinh tế là mối quan hệ liên kết giữa con người với con người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất nhằm mục đích thực hiện lợi ích vật chất có được trong quá trình đó.

    Từ sự phân tích trên, có thể định nghĩa vắn tắt: Quan hệ sản xuất là mối quan hệ kinh tế giữa con người với con người nảy sinh trong quá trình sản xuất và tái sản xuất vật chất của xã hội.

    Quan hệ sản xuất bao gồm ba mặt là: quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức – quản lí quá trình sản xuất và quan hệ phân phối kết quả của quá trình sản xuất ấy. Ba mặt đó của quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định.

    Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa con người với nhau trong việc xác định các tư liệu sản xuất thuộc về ai với nội dung cơ bản là tập hợp của các quyền: chiếm hữu, sử dụng, mua bán, chuyển nhượng… Tập hợp các quyền đó có thể mang một hình thức pháp lí nhất định được bảo hộ bởi quyền lực quản lí của nhà nước hoặc theo thông lệ tập tục truyển thống trong các xã hội chưa có sự ra đời của bộ máy nhà nước.

    Xét theo tính chất cơ bản của sở hữu, trong lịch sử nhân loại đã từng tồn tại hai loại quan hệ sở hữu, đó là sở hữu tư nhân và sở hữu cộng đồng xã hội về tư liệu sản xuất. Mỗi loại sở hữu đó lại có thể tồn tại với những hình thức phù hợp với mỗi điều kiện lịch sử – cụ thể.

    Trong các quốc gia có sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại có sự tồn tại của nhiều loại hình sở hữu đan xen hỗn hợp tạo thành một hệ thống cơ cấu sở hữu thống nhất trong tính đa dạng của nó: sở hữu tư nhân, tư bản (quy mô lớn và nhỏ), sở hữu tư nhân của những người sản xuất nhỏ, sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu hỗn hợp trong các tập đoàn kinh tế, các công ty cổ phần…

    Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở hình thành quan hệ tổ chức – quản lí quá trình sản xuất và quan hệ phân phối kết quả của quá trình đó. Hai loại hình quan hệ này luôn có tác động trở lại quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất. Sự tác động đó có thể theo những chiều hướng khác nhau, tạo những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với các quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất.

    Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa nội dung vật chất và hình thức kinh tế của quá trình sản xuất; đó cũng là mối quan hệ thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, trên cơ sở quyết định của lực lượng sản xuất, tạo thành nguốn gốc và động lực cơ bản của quá trình vận động, phát triển các phương thức sản xuất trong lịch sử. Đó cũng chính là nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” – quy luật cơ bản nhất của qúa trình phát triển xã hội.

    Thứ nhất, sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai phương diện cơ bản, tất yếu của mỗi phương thức sản xuất – mỗi quá trình sản xuất nhất định, do đó chúng tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, chi phối lẫn nhau trong quá trình sản xuất của xã hội. Nói cách khác, mỗi phương thức sản xuất hay mỗi quá trình sản xuất không thể tiến hành được nếu như thiếu một trong hai phương diện đó, trong đó lực lượng sản xuất chính là nội dung vật chất, kĩ thuật, công nghệ của quá trình này, còn quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thức kinh tế của quá trình đó. Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chính là mối quan hệ tất yếu giữa nội dung vật chất và hình thức kinh tế của cùng một quá trình sản xuất khách quan của xã hội. Thứ hai, vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuât Trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất đóng vai trò quỵết định đối với quan hệ sản xuất. Nói cách khác, quan hệ sản xuất phụ thuộc tất yếu vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tính quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất được thể hiện trên hai mặt thống nhất với nhau: lực lượng sản xuất nào thì quan hệ sản xuất ấy và cũng do đó, khi lực lượng sản xuất có những thay đổi thì cũng tất yếu sẽ đòi hỏi phải có những thay đổi nhất định đối với quan hệ sản xuất trên các phương diện sở hữu, tổ chức – quản lí và phân phổi. Sự thay đổi này có thể diễn ra với sự nhanh chậm khác nhau, mức độ khác nhau, phạm vi khác nhau… nhưng tất yéu sẽ diễn ra những thay đổi nhất định bởi vì những quan hệ sản xuất chỉ là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất, còn lực lượng sản xuất đóng vai trò là nội dung vật chất của quá trình đó.

    Thứ ba, vai trò tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượngsản xuất

    Với tư cách là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất, quan hệ sản xuất luôn có khả năng tác động trở lại, ảnh hưởng trở lại đối vói việc bảo tồn, khai thác – sử dụng, tái tạo và phát triển lực lượng sản xuất. Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất thể hiện rõ nhất trên phương diện các quan hệ tổ chức, quản lí quá trình sản xuất của xã hội. Quá trình tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất có thể diễn ra với hai khả năng: tác động tích cực hoặc tác động tiêu cực. Khi mà quan hệ sản xuất phù hợp với nhu cầu khách quan của việc bảo tồn, khai thác – sử dụng, tái tạo và phát triển của lực lượng sản xuất thì nó có tác dụng tích cực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; ngược lại, nếu trái với nhu cẫu khách quan đó thì nhất định sẽ diễn ra quá trình tác động tiêu cực.

    Trong đời sống hiện thực kinh tế, có 3 tiêu thức cơ bản để nhận định sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất: 1) lực lượng sản xuất hiện có của xã hội cũng như của mỗi chủ thể tham gia hoạt động trong nền kinh tế có được bảo tồn – duy trì hay không; 2) lực lượng sản xuất của xã hội, của mỗi chủ thể kinh tế có được huy động tối đa (về lượng) và sử dụng có hiệu quả (về chất) hay không; 3) do đó, lực lượng sản xuất đó có được thường xuyên tái tạo và phát triển hay không. Trong thực tiễn kinh tế, các tiêu thức cơ bản này lại có thể được chi tiết hoá và có thể có những thước đo hoặc các chỉ số đánh giá cụ thể; thí dụ, có thể dùng chì số tăng trưởng kinh tế (GDP) hoặc các chỉ số khác như: GNP, HDI… để xác định theo các thời kì nhất định của mỗi quốc gia, chẳng hạn theo chu kì mỗi năm.

    Thứ tư, sự vận động của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất – nguồn gốc, động lực cơ bản của sự vận động, phát triển các phương thức sản xuất trong lịch sử

    Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thuộc phạm trù “mâu thuẫn” trong phép biện chứng duy vật, tức là mối quan hệ thống nhất của hai xu hướng có khả năng vận động trái ngược nhau. Sự vận động của mâu thuẫn này là đi từ sự thống nhất đến những khác biệt căn bản và dẫn đến sự xung đột giữa nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển đó, khi đó bắt đầu nhu cầu của những cuộc cải cách, hoặc cao hơn là một cuộc cách mạng, nhằm thực hiện sự cải biến những quan hệ sản xuất hiện thời theo hướng làm cho nó phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, nhờ đó tái thiết lập sự phù hợp mới của quan hệ sản xuất với ỉực lượng sản xuất.

    Khi phân tích sự vận động của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, Mác nhận định: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có, hay – đây chỉ là biểu hiện pháp lí của những quan hệ sản xuất đó – mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ sản xuất đó trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại của những cuộc cách mạng” .

    Sở dĩ mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất của các mặt đối lập là vì có sự khác nhau về tính chất biến đổi của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất có xu hướng “động”, còn quan hệ sản xuất thì ngược lại có xu hướng “tĩnh”. Xu hướng động và tĩnh của hai phương diện lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đều là khách quan. Trong điều kiện bình thường thì chỉ có trong sự ổn định tương đối của những hình thức kinh tế nhất định, lực lượng sản xuất mới có thể được duy trì, khai thác – sử dụng, tái tạo và phát triển. Nhưng chính sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất trong phạm vi ổn định của quan hệ sản xuất lại tất yếu dẫn đến khả năng ngày càng bộc lộ sự xung đột với những hình thức kinh tế hiện thời và tất yếu đòi hỏi phải có những thay đổi nhất định của quan hệ sản xuất mà lâu nay lực lượng sản xuất phát triển trong đó thì mới có thể có được sự phát triển hơn nữa của lực lượng sản xuất. Như vậy, sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là đi từ sự thống nhất đến xung đột và một khi xung đột đó được giải quyết thì lại tái thiết lập sự thống nhất mới; quá trình này lặp đi lặp lại trong lịch sử tạo ra quá trình vận động và phát triển của phương thức sản xuất – của nền sản xuất xã hội và sự phát triển của lịch sử xã hội loài người.

    Sự vận động của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cho thấy: chỉ trong sự thống nhất, phù hợp của nhũng quan hệ sản xuất hiện thực với trình độ phát triển thực tế của các lực lượng sản xuất hiện có mới có thể tạo ra được những điều kiện thích hợp cho sự phát triển của lực lượng sản xuất; tuy nhiên, sự phù hợp giữa chúng chỉ là tương đối, tạm thời trong một giai đoạn phát triển nhất định, còn khuynh hướng vận động tuyệt đối của lực lượng sản xuất lại phá vỡ sự phù hợp đó, tạo ra khả năng tái thiết lập sự phù hợp trong giai đoạn phát triển mới.

    C Biện chứng của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng – quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển trong cơ cấu tổng thể của đời sống xã hội

    Xét về tổng thể, đời sống xã hội là một hệ thống cơ cấu tổ chức hết sức phức tạp bao gồm trong đó những mối quan hệ chi phối lẫn nhau, từ lĩnh vực của những quan hệ kinh tế đến lĩnh vực của những quan hệ chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo… Vậy, giữa chúng có mối quan hệ thế nào và sự biến đổi, phát triển của cơ cấu tổng thể ấy tuân theo quy luật cơ bản nào?

    Với phương pháp tiếp cận duy vật trong nghiên cứu về xã hội, Mác đã chỉ ra mối quan hệ quyết định của lĩnh vực kinh tế đối với các lĩnh vực khác thuộc thượng tầng kiến trúc chính trị, pháp luật… của xã hội; cũng tức là nói quy luật về sự phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng vào tính chất và trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng của xã hội. Mác khẳng định: “Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy… hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lí, chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó” .

    – Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.

    Theo tư tưởng nói trên của Mác, có thể hiểu: trong học thuyết hình thái kinh tế – xã hội, khái niệm cơ sở hạ tầng dùng để chi toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội; còn khái niệm kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ toàn bộ hệ thống kết cầu các quan hệ tư tưởng xã hội (chính trị, pháp quyền, tôn giáo…) cùng với các thiết chế chính trị – xã hội tương ứng (chính đảng, nhà nước, giáo hội…) được hình thành trên một cơ sở hạ tầng kinh tế nhất định.

    Cơ sở hạ tầng của một xã hội, trong toàn bộ sự vận động của nó, được tạo nên bởi các quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mới tồn tại dưới hình thái mầm mống, đại biểu cho sự phát triển của xã hội tương lai; trong đó, quan hệ sản xuất thống trị chiếm địa vị chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác, định hướng sự phát triển của đời sống kinh tế – xã hội và giữ vai trò là đặc trưng cho chế độ kinh tế của một xã hội nhất định. Sự tồn tại của ba loại hình quan hệ sản xuất cấu thành cơ sở hạ tầng của một xã hội phản ánh tính chất vận động, phát triển liên tục của lực lượng sản xuất với các tính chất kế thừa, phát huy và phát triển.

    Như vậy, hệ thống quan hệ sản xuất của một xã hội đóng vai trò “kép”: một mặt, với lực lượng sản xuất, nó giữ vai trò là hình thức kinh tế – xã hội cho sự duy trì, phát huy và phát triển lực lượng sản xuất; mặt khác, với các quan hệ chính trị – xã hội, nó đóng vai trò là cơ sở hình thành kết cầu kinh tế, làm cơ sở hiện thực cho sự thiết lập một hệ thống kiến trúc thượng tầng của xã hội.

    Kiến trúc thượng tầng của mỗi xã hội là một kết cấu phức tạp, có thể được phân tích từ những giác độ khác nhau, từ đó cho thấy mối quan hệ đan xen và chi phối lẫn nhau của chúng. Từ giác độ chung nhất, có thể thấy kiến trúc thượng tầng của một xã hội bao gồm: hệ thống các hình thái ý thức xã hội (hình thái ý thức chính trị, pháp quyền, tôn giáo…) và các thiết chế chính trị – xã hội tương ứng của chúng, là cơ sở hình thành hệ thống các tổ chức chính trị – xã hội (như bộ máy nhà nước, tổ chức chính đảng, các tổ chức tôn giáo…).

    Trong xã hội có giai cấp, đặc biệt là trong các xã hội hiện đại, hình thái ý thức chính trị và pháp quyền cùng hệ thống thiết chế, tổ chức chính đảng và nhà nước là hai thiết chế, tổ chức quan trọng nhất trong hệ thống kiến trúc thượng tầng của xã hội.

    Nhà nước là một bộ máy tổ chức quyền lực và thực thi quyền lực đặc biệt của xã hội trong điều kiện xã hội có đối kháng giai cấp. Về danh nghĩa, nhà nước là hệ thống tổ chức đại biểu cho quyền lực chung của xã hội để quản lí, điều khiển mọi hoạt động của xã hội và công dân, thực hiện chức năng chính trị và chức năng xã hội cùng chức năng đối nội và đối ngoại của quốc gia. Về bản chất, bất cứ nhà nước nào cũng là công cụ quyền lực thực hiện chuyên chính giai cấp của giai cấp thống trị, tức giai cấp nắm giữ được những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, nó chính là chủ thể thực sự của quyền lực nhà nước.

    – Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội

    Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai phương diện cơ bản của đời sống xã hội – đó là phương diện kinh tế và phương diện chính trị – xã hội, giữa chúng có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau. Trong đó, cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng và đồng thời kiến trúc thượng tầng thường xuyên có sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng.

    Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng được thể hiện trên nhiều phương diện: tương ứng với một cơ sở hạ tầng sẽ sản sinh ra một kiến trúc thượng tầng phù hợp, có tác dụng bảo vệ cơ sở hạ tầng đó. Những biến đổi trong cơ sở hạ tầng tạo ra nhu cầu khách quan phải có sự biến đổi tương ứng trong kiến trúc thượng tầng. Tính chất mâu thuẫn trong cơ sở hạ tầng được phản ánh thành mâu thuẫn trong hệ thống kiến trúc thượng tầng. Sự đấu tranh trong lĩnh vực ý thức hệ xã hội và những xung đột lợi ích chính trị – xã hội có nguyên nhân sâu xa từ mâu thuẫn và cuộc đấu tranh giành lợi ích trong cơ sở kinh tế của xã hội. Giai cấp nắm giữ quyền sở hữu tư liệu sản xuất của xã hội, đồng thời cũng là giai cấp nắm được quyền lực nhà nước, còn các giai cấp và tầng lớp xã hội khác ở vào địa vị phụ thuộc đối với quyền lực nhà nước. Các chính sách và pháp luật của nhà nước, suy đến cùng là sự phản ánh nhu cầu thống trị về kinh tế của giai cấp nắm giữ quyền sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội…

    Tính chất phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng vào cơ sở hạ tầng có nguyên nhân từ tính tất yếu kinh tế đối với toàn bộ các lĩnh vực sinh hoạt của xã hội, dù đó là lĩnh vực thực tiễn chính trị, pháp luật… hay lĩnh vực sinh hoạt tinh thần của xã hội. Tính tất yếu kinh tế lại phụ thuộc vào tính tất yếu của nhu cầu duy trì và phát triển các lực lượng sản xuất khách quan của xã hội.

    Với tư cách là các hình thức phản ánh và được xác lập do nhu cầu phát triển của kinh tế, các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng có vị trí độc lập tương đối của nó và thường xuyên có vai trò tác động trở lại cơ sở hạ tầng.

    Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đỗi với cơ sở hạ tầng có thể thông qua nhiều phương thức. Điều đó tuỳ thuộc vào bản chất của mỗi nhân tố trong kiến trúc thượng tầng, phụ thuộc vào vị trí, vai trò của nó và những điều kiện cụ thể. Tuy nhiên, trong điều kiện kiến trúc thượng tầng có yếu tố nhà nước thì phương thức tác động của các yếu tố khác tối cơ sở kinh tế của xã hội thường phải thông qua nhân tố nhà nước mới có thể thực sự phát huy mạnh mẽ vai trò thực tế của nó. Nhà nước là nhân tố có tác động trực tiếp nhất và mạnh mẽ nhất tối cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội.

    Sự tác động của các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng có thể diễn ra theo nhiều xu hướng, thậm chí các xu hướng không chỉ khác nhau mà còn có thể đối lập nhau, Điều đó phản ánh tính chất mâu thuẫn lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp xã hội khác nhau và đối lập nhau: có sự tác động nhằm duy trì cơ sở kinh tế hiện tại, tức xu hướng duy trì chế độ xã hội hiện thời; lại có sự tác động theo xu hướng xoá bỏ cơ sở kinh tế này và có xu hướng đấu tranh cho việc xác lập một cơ sở kinh tế khác, xây dựng một chế độ xã hội khác…

    Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng có thể diễn ra theo xu hướng tích cực hoặc tiêu cực, điều đó phụ thuộc vào sự phù hợp hay không phù hợp của các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng đối với nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế; nếu phù hợp nó sẽ có tác dụng tích cực, ngược lại sẽ có tác dụng tiêu cực, kìm hãm và phá hoại sự phát triển kinh tế trong một phạm vi và mức độ nhất định. Tuy nhiên, sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng dù diễn ra với nhũng xu hướng khác nhau, mức độ khác nhau nhưng cũng không thể giữ vai trò quyết định đối với cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội; cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội vẫn tự mở đường đi cho nó theo tính tất yếu kinh tế của nó.

    Sự phân tích mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cho thấy đây là mối quan hệ biện chứng được thực hiện theo nguyên tắc kiến trúc thượng tầng phải phù hợp với cơ sở hạ tầng; chính trị, pháp luật cũng như các mặt khác của đời sống văn hoá xã hội phụ thuộc tất yếu vào tính chất và trình độ phát triển của kinh tế, cần phải có sự phù hợp của kiến trúc thượng tầng chính trị, pháp luật… với cơ sở kinh tế của xã hội. Tuy nhiên, sự phù hợp ấy chỉ là tương đối, tạm thời trong những giai đoạn lịch sử nhất định và với những điều kiện nhất định. Giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũng như giữa các yếu tố trong mỗi lĩnh vực đó luôn luôn có sự vận động và do đó có khả năng làm xuất hiện nhũng mâu thuẫn. Mâu thuẫn này biểu hiện ở cuộc đấu tranh giữa các quan điểm thuộc ý thức hệ xã hội, đặc biệt là cuộc đấu tranh giữa các ý thức hệ chính trị và pháp quyền mà suy đến cùng đó chỉ là biểu hiện của mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất không phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, được thể hiện ở mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa các lực lượng chính trị đại biểu cho các giai cấp khác nhau, những khuynh hướng phát triển khác nhau trong một xã hội. Việc giải quyết những mâu thuẫn ấy thường chỉ được thực hiện thông qua thực tiễn chính trị đấu tranh giai cấp trong xã hội, đó là những cuộc cải cách xã hội trên từng lĩnh vực mà đỉnh cao là những cuộc cách mạng xã hội. Thông qua những cuộc cải cách hoặc những cuộc cách mạng xã hội mà mâu thuẫn giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng được khắc phục, tái tạo sự thống nhất phù hợp của kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng.

    D. Cấu trúc hình thái kinh tế – xã hội và quá trình lịch sử – tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế – xã hội

    – Cấu trúc hình thái kinh tế – xã hội

    Theo phương pháp tiếp cận duy vật của Mác, xã hội là tổng thể của rất nhiều mối quan hệ phức tạp nhưng có thể thực hiện sự trừu tượng hoá các quan hệ sản xuất của xã hội, tức là những quan hệ kinh tế tồn tại khách quan, tất yếu không phụ thuộc vào ý chí con người, tiến hành “giải phẫu” những quan hệ đó và đồng thời phân tích những quan hệ đó trong mối quan hệ phụ thuộc của nó với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện thực và phân tích những quan hệ đó trong mối quan hệ với toàn bộ những quan hệ xã hội khác, tức với những quan hệ thuộc kiến trúc thượng tầng chính trị – xã hội. Sự phân tích đó cho thấy rõ xã hội là một hệ thống cấu trúc với ba lĩnh vực cơ bản tạo thành là: 1) toàn bộ các lực lượng sản xuất phát triển ở một trình độ nhất định; 2) quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất; 3) kiến trúc thượng tầng được xác lập trên cơ sở những quan hệ sản xuất đó.

    Mác đã mô tả mối quan hệ kết cấu tổng thể giữa ba lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội như sau: ‘Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phụ thuộc vào một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lí và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó. Phương thức sản xuất ra đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thẫn nói chung” .

    Theo mô tả đó của Mác, có thể xác định khái niệm hình thái kinh tế-xã hội, với tư cách là một phạm trù cơ bản của hệ thống quan điểm duy vật về lịch sử, được dùng để chỉ mỗi xã hội cụ thể trong tiến trình phát triển của nó, được đặc trưng bởi một kiểu quan hệ sản xuất, phù hợp vái một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất và một kiến trúc thượng tâng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy.

    Với khái niệm về xã hội theo cấu trúc “hình thái” như vậy đã đem lại một phương pháp luận khoa học về cấu trúc cơ bản của xã hội, cho phép phân tích đời sống hết sức phức tạp của xã hội để chỉ ra những mối quan hệ biện chứng giữa các lĩnh vực cơ bản của nó và đi tới quan niệm vễ “Sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên” .

    – Quá trình lịch sử – tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế- xã hội. Quá trình lịch sử – tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế – xã hội là chỉ quá trình vận động, phát triển của xã hội tuân theo quy luật khách quan của nó dưới sự tác động của các nhân tố chủ quan trong các điều kiện lịch sử nhất định. Quá trình đó biểu hiện ở các nội dung chính sau đây:

    Một là, sự vận động và phát triển của xã hội không tuân theo ý chí chủ quan của con người mà tuân theo các quy luật khách quan; đó là các quy luật của chính bản thân cấu trúc hình thái kinh tế – xã hội, là hệ thống các quy luật xã hội thuộc các linh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học… mà trước hết và cơ bản nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật kiến trúc thượng ỉẩng phù hợp với cơ sở hạ tầng.

    Nguổn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại, của mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội, suy đến cùng đều có nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ sự phát triển của lực lượng sản xuất. Lênin từng nhấn mạnh rằng: “Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên” .

    Hai là, quá trình phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội, tức quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội ở trình độ cao hơn trong lịch sử nhân loại, và do đó là sự phát triển của lịch sử xã hội loài người có thể do sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan nhưng nhân tố giữ vai trò quyết định là sự tác động của các quy luật khách quan. Dưới sự tác động của quy luật khách quan mà lịch sử nhân loại, xét trong tính chất toàn bộ của nó, là quá trình thay thế tuần tự của các hình thái kinh tế – xã hội từ trình độ thấp đến trình độ cao hơn.

    Ba là, quá trình phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội không chỉ tuân theo quy luật khách quan mà còn chịu sự tác động của rất nhiều nhân tố khác; đó là các nhân tố thuộc về điều kiện địa lí, tương quan lực lượng chính trị của các giai cấp, tầng lớp xã hội, truyền thống văn hoá của mỗi cộng đồng người, điều kiện tác động của tình hình quốc tế đối với tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người trong lịch sử… Chính do sự tác động của các nhân tố này mà tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người nhất định có thể diễn ra với những con đường, hình thức và bước đi khác nhau, tạo nên tính phong phú, đa dạng trong sự phát triển của lịch sử nhân loại. Tính phong phú, đa dạng của sự phát triển đó được thể hiện tiêu biểu ở các “phương thức phát triển rút gọn” hay “rút ngắn” tiến trình lịch sử của một quốc gia, dân tộc trong các điều kiện lịch sử đặc thù của nó. Chẳng hạn, có thể tiến trình phát triển của một quốc gia, dân tộc với các điều kiện khách quan và chủ quan nhất định, không nhất thiết phải tuần tự phát triển qua đầy đủ các hình thái kinh tế – xã hội từ thấp đến cao mà có thể “bỏ qua” một hay một số hình thái kinh tế – xã hội nhất định để tiến thẳng lên hình thái kinh tế – xã hội cao hơn. Trong tiến trình đó, xét về mặt phương thức sản xuất, cũng có thể là một sự phát triển tuần tự, nhưng cũng có thể có sự đan xen nhất định giữa các yếu tố thuộc các phương thức sản xuất khác nhau và rút gọn về mặt thời gian các giai đoạn phát triển của một phương thức sản xuất nhất định để nhanh chóng tiến tới một phương thức sản xuất cao hơn. Các quốc gia, dân tộc châu Á (kể cả Trung Quốc và Ấn Độ thời cổ đại, về căn bản chưa từng trải qua phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ). Hoặc trong thời kì cận – hiện đại, một số quốc gia, dân tộc vùng châu Á, chỉ trong một thời kì lịch sử mấy chục năm đã hoàn thành phương thức sản xuất công nghiệp và thị trường tư bản theo kiểu phương thức sản xuất tư bản đặc thù vùng châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc…) trong khi các nước phương Tây và Mĩ trước đây đã phải mất một thời kì lịch sử khoảng một trăm năm. Đổng thời, sau cuộc cách mạng vô sản giành chính quyền ở Việt Nam và Trung Quốc ở những thập niên giữa thế ki XX với những điều kiện lịch sử mới đã và đang tiến hành tiến trình phát triển bỏ qua giai đoạn phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với tư cách là phương thức sản xuất thống trị…

    Như vậy, lịch sử nhân loại nói chung, lịch sử phát triển của mỗi cộng đồng người nói riêng vừa tuân theo tính tất yếu quy luật xã hội, vừa chịu sự tác động đa dạng của các nhân tố khác nhau, trong đó có cả nhân tổ hoạt động chủ quan của con người; từ đó, cho thấy lịch sử phát triển của xã hội được biểu hiện ra là lịch sử thống nhất trong tính đa dạng và đa dạng trong tính thông nhất của nó.

    Tài liệu tham khảo

    V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ. Mátxcơva, 1974, t.12, tr.163.

    V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ. Mátxcơva, 1974, t.23, tr.133.

    V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ. Mátxcơva, 1974, t.1, tr.173.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đảm Bảo Người Dân Được Thụ Hưởng Đầy Đủ Các Chế Độ Bảo Hiểm Xã Hội
  • Cải Cách Hành Chính Bảo Hiểm Xã Hội: Người Dân Và Doanh Nghiệp Hài Lòng
  • #1 Bảo Hiểm Xã Hội Là Gì?
  • Từ Đổi Mới Tư Duy Lý Luận Đến Biến Đổi Cấu Trúc Kinh Tế
  • Cấu Trúc Và Quá Trình Trong Nghiên Cứu Biến Đổi Xã Hội* (I)
  • Cấu Tạo Vỏ Nguyên Tử: Lý Thuyết Và Các Dạng Bài Tập Cơ Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Xác Định Thành Phần Nguyên Tử Hay, Chi Tiết
  • Bài Tập Hóa Học Lớp 10: Nguyên Tử
  • Lý Thuyết Ôn Tập Chương Nguyên Tử Hóa 10
  • Tiên Đề Bo Về Các Trạng Thái Dừng, Vật Lý Phổ Thông
  • Bài 33. Mẫu Nguyên Tử Bo
  • Trong nguyên tử, electron chuyển động quanh hạt nhân tạo nên vỏ nguyên tử.

    Sự chuyển động của các electron trong nguyên tử

    • Những năm đầu của thế kỉ XX người ta cho rằng các electron chuyển động xung quanh hạt nhân nguyên tử theo những quỹ đạo tròn hay bầu dục, như quỹ đạo của các hành tinh quay xung quanh Mặt Trời. Đó là mô hình mẫu hành tinh nguyên tử của Rơ-dơ-pho, Bo (N.Bohr) và Zom-mơ-phen.
    • Mô hình này có tác dụng rất lớn đến sự phát triển lý thuyết cấu tạo nguyên tử, nhưng không đầy đủ để giải thích mọi tính chất của nguyên tử.
    • Các electron chuyển động rất nhanh (tốc độ hàng nghìn km/s) trong khu vực xung quanh hạt nhân nguyên tử không theo những quỹ đạo xác định tạo nên vỏ nguyên tử. Số electron ở vỏ nguyên tử của một nguyên tố đúng bằng số proton trong hạt nhân nguyên tử và cũng bằng số hiệu nguyên tử (Z) hay số thứ tự của nguyên tố đó trong bảng tuần hoàn. Chẳng hạn, vỏ của nguyên tử hiđro (Z = 1) có 1 electron, vỏ của nguyên tử clo (Z = 17) có 17 electron, vỏ của nguyên tử vàng (Z = 79) có tới 79 electron.

    Lớp electron và phân lớp electron

    • Các electron trong nguyên tử ở trạng thái cơ bản lần lượt chiếm các mức năng lượng từ thấp đến cao và sắp xếp thành từng lớp. Các electron ở gần nhân hơn liên kết bền chặt hơn với hạt nhân. Vì vậy, electron ở lớp trong có mức năng lượng thấp hơn so với ở các lớp ngoài.
    • Các electron trên cùng một lớp có mức năng lượng gần bằng nhau.
    • Xếp theo thứ tự mức năng lượng từ thấp đến cao, các lớp electron này được ghi bằng các số nguyên theo thứ tự n = 1, 2, 3,4 … với tên gọi: K, L, M, N,…
    • Mỗi lớp electron lại chia thành các phân lớp.
    • Các electron trên cùng một phân lớp có mức năng lượng bằng nhau.
    • Các phản lớp được kí hiệu bằng các chữ cái thường s, p, d, f.
    • Số phân lớp trong mỗi lớp bằng số thứ tự của lớp đó.
    • Lớp thứ nhất (lớp K, n = 1) có một phân lớp, đó là phân lớp 1s
    • Lớp thứ hai (lớp L, n = 2) có hai phân lớp, đó là các phân lớp 2s và 2p
    • Lớp thứ ba (lớp M, n = 3) có ba phân lớp, đó là các phân lớp 3s, 3p và 3d
    • Các electron ở phân lớp s được gọi là các electron s, ở phân lớp p được gọi là các electron p…

    Số electron tối đa trong một phân lớp, một lớp

    Số electron tối đa trong một phân lớp như sau :

    • Phân lớp s chứa tối đa 2 electron
    • Phân lớp p chứa tối đa 6 electron
    • Phân lớp d chứa tối đa 10 electron
    • Phân lớp f chứa tối đa 14 electron

    Phân lớp electron đã có đủ số electron tối đa gọi là phân lớp electron bão hoà. Từ đó suy ra số electron tối đa trong một lớp :

    • Lớp thứ nhất (lớp K, n = 1) có 1 phân lớp 1s, chứa tối đa 2 electron.
    • Lớp thứ hai (lớp L, n = 2) có 2 phân lớp 2s và 2p :
    • Phân lớp 2s chứa tối đa 2 electron
    • Phân lớp 2p chứa tối đa 6 electron

    Ví dụ 1:

    Vậy, lớp thứ hai chứa tối đa 8 electron.

    Cách giải:

    Các dạng bài tập về cấu tạo vỏ nguyên tử lớp 10

    1. Thế nào là lớp và phân lớp electron? Sự khác nhau giữa lớp và phân lớp electron?
    2. Tại sao lớp N chứa tối đa 32 electron.
      Lớp: Cho biết số nguyên tố trong cùng chu kì.

    Phân lớp: Cho biết số obitan và số electron tối đa trong một phân lớp.

    Lớp và phân lớp khác nhau ở điểm: Lớp cho biết số nguyên tố trong chu kì, còn phân lớp cho biết số obitan và số electron tối đa.

    Cách giải:

    2. Lớp N là lớp thứ 4 có các phân lớp s, p, d, f có số electron tối đa tương ứng các phân lớp là 2, 6, 10, 14 (([…]4s^{2}4p^{6}4d^{10}4f^{14})) nên số electron tối đa là 32.

    Ví dụ 2: Các electron của nguyên tử nguyên tố X được phân bố trên 3 lớp, lớp thứ ba có 6 electron. Số đơn vị điện tích hạt nhân của nguyên tử X là bao nhiêu?

    Các electron của nguyên tử nguyên tố X được phân bố trên 3 mức năng lượng, lớp thứ 3 có 6 electron, như vậy có sự phân bố như sau (1s^{2}2s^{2}2p^{6}3s^{2}3p^{4}).

    Cách giải:

    Số đơn vị điện tích hạt nhân của nguyên tử X là 16+.

    Ví dụ 3: Số đơn vị điện tích hạt nhân của nguyên tử flo là 9. Trong nguyên tử flo, số electron ở mức năng lượng cao nhất là:

    Vậy flo có 5 electron ở mức năng lượng cao nhất.

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài Tập Môn Hóa Học Lớp 10 Bài 4: Cấu Tạo Vỏ Nguyên Tử
  • Giải Bài Tập Hóa 10 Bài 6: Luyện Tập: Cấu Tạo Vỏ Nguyên Tử
  • Giải Bài Tập Hóa 10 Bài 6 Luyện Tập Cấu Tạo Vỏ Nguyên Tử Hay Nhất
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 10 Bài 6: Luyện Tập: Cấu Tạo Vỏ Nguyên Tử
  • Giải Bài Tập Trang 22 Sgk Hóa Học Lớp 10: Cấu Tạo Vỏ Nguyên Tử
  • Hocthue.net: Những Nội Dung Cơ Bản Của Học Thuyết Hình Thái Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu 5: Khái Niệm Và Kết Cấu Hình Thái Kinh Tế
  • Cơ Sở Hạ Tầng Là Gì & Kiến Trúc Thượng Tầng Là Gì
  • Câu Điều Kiện If Và Toán Tử Điều Kiện (If Statements And Conditional Operator)
  • If I Were You I Wouldn’t Ask Him For Advice
  • Nói Về “giả Định Không Có Thật” Sử Dụng Câu Điều Kiện Loại 2
    1. A. Sản xuất vật chất – nền tảng của sự vận động, phát triển xã hội
    2. B. Biện chứng của sự phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất – quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển các phương thức sản xuất trong lịch sử.
    3. C Biện chứng của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng – quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển trong cơ cấu tổng thể của đời sống xã hội 
    4. D. Cấu trúc hình thái kinh tế – xã hội và quá trình lịch sử – tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế – xã hội

     

    A. Sản xuất vật chất – nền tảng của sự vận động, phát triển xã hội

    Trên ý nghĩa bao quát nhất, khái niệm xã hội dùng để chỉ những cộng đồng người trong lịch sử; đó là những cộng đồng người có tổ chức nhằm thực hiện các mối quan hệ giữa con người với con người trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá, đạo đức, tôn giáo…

    Hình thức cộng đồng xã hội đầu tiên của nhân loại là cộng đồng thị tộc, bộ lạc với hình thức tổ chức cơ cấu xã hội giản dị nhất. Sự tiến hoá hơn nữa của lịch sử đã dẫn tới sự hình thành cơ cấu của cộng đồng bộ tộc và tiến dần lên hình thức xã hội có cơ cấu tổ chức cao hơn là hình thức tổ chức quốc gia – dân tộc. Ngày nay, do nhu cầu mới của lịch sử trong thời đại mới đã bắt đầu xuất hiện những hình thức tổ chức liên minh rộng lớn giữa các quốc gia – dân tộc thành các hình thức xã hội ở phạm vi khu vực và quốc tế.

    Trong bất cứ hình thức tổ chức của cộng đồng xã hội nào, dù đơn giản nhất cũng có sự thống nhất của ba quá trình sản xuất: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần, sản xuất và tái sản xuất ra con người cùng những quan hệ xã hội của nó. Sản xuất vật chất là quá trình liên kết con người dưới các hình thức tổ chức xã hội nhất định nhằm thực hiện mục đích cải biến môi trường tự nhiên, làm biến đổi các đối tượng vật chất tự nhiên theo nhu cầu sinh tồn và phát triển của con người. Sản xuất tinh thần là quá trình hoạt động nhằm sáng tạo ra các giá trị văn hoá tinh thần trên tất cả các lĩnh vực của xã hội, từ những giá trị tri thức cho tới những giá trị văn hoá nghệ thuật, đạo đức, tôn giáo, triết học… Cùng với những quá trình sản xuất ấy là quá trình sản xuất và không ngừng tái sản xuất ra chính bản thân con người và các quan hệ xã hội của họ trên hai mặt tự nhiên và xã hội của con người. Ba loại hình sản xuất đó luôn luôn tồn tại trong tính quy định, chi phổi và làm biến đổi lẫn nhau tạo nên tính chất sống động của đời sống xã hội, trơng đó sản xuất vật chất giũ vai trò quyết định.

    Tính quyết định của sản xuất vật chất đối với toàn bộ đời sống xã hội xuất phát từ tiền đề khách quan là: “người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”. Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa. Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thoả mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất” . Sự thật khách quan đó cũng cho thấy: tiền đề xuất phát để nghiên cứu về lịch sử con người và lịch sử nhân loại phải được bắt đầu từ việc nghiên cứu về hành vi lao động sản xuất vật chất của con người. Mác khẳng định: “Bản thản con người bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình” . Với ý nghĩa đó, có thể khẳng định phương thức đặc trưng cho sự sinh tồn và phát triển của con người là hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất. Phương thức ấy là cái phân biệt căn bản giữa con người và động vật, khiến cho nó trở thành con người và tự mình làm ra lịch sử của chính mình.

    Lao động sản xuất vật chất là hoạt động của con người với mục đích cải biến các đối tượng vật chất tự nhiên, cải biến giới tự nhiên. Hoạt động đó không thể là những hành vi độc lập của mỗi con người đơn lẻ mà nhất định phải trên cơ sở liên kết những cá nhân thành cộng đồng có tổ chức, tức thành những cộng đồng xã hội nhất định theo yêu cầu tất yếu của việc cải biến giới tự nhiên như thế nào, ở trình độ nào. Mác khẳng định: “Trong sản xuất người ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên. Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được, người ta phải có mối quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất chỉ diễn ra trong khuôn khổ những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó” .

    “Mối quan hệ nhất định với nhau” trong quá trình sản xuất ấy chính là những quan hệ sản xuất hay những quan hệ kinh tế của xã hội; tức những quan hệ liên kết giữa những con người nhằm thực hiện các lợi ích vật chất có được nhờ quá trình sản xuất vật chất đó. Trên cơ sở những quan hệ này, tất yếu làm nảy sinh tất cả những quan hệ xã hội khác giữa con người với con người trên các lĩnh vực chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo… Sự nảy sinh những quan hệ ấy, suy đến cùng chỉ là sự phản ánh nhu cầu tất yếu cần phải có để đảm bảo cho những quan hệ sản xuất có thể được xác lập và thực, thi, nhờ đó quá trình sản xuất vật chất, tức cải biến giới tự nhiên, mới có thể thực hiện được. Như vậy, những quan hệ sản xuất của xã hội không phải là những quan hệ mang tính chủ quan; tuỳ tiện mặc dù nó được thiết lập bởi chính con người, nó có thể mang những hình thức đạo đức; tập tục như trong xã hội nguyên thủy hay những hình thức pháp lí trong các xã hội được tổ chức theo hình thức nhà nước, mà là những quan hệ có cơ sở khách quan của nó, tức có tính vật chất của nó, từ nhu cầu khách quan của công việc sản xuất, từ trình độ kĩ thuật công nghệ thực tế trong mỗi điều kiện lịch sử của công việc sản xuất ấy.

    Cách tiếp cận duy vật về xã hội của Mác đã cho thấy: sản xuất vật chất nhất định phải là nền tảng của toàn bộ đời sống xã hội, là cơ sở cuối cùng để giải thích mọi biến thiên của lịch sử; mọi sự biến đổi, phát triển của các quan hệ xã hội giữa con người với con người, của sự phát triển từ hình thức tổ chức xã hội này lên hình thức tổ chức xã hội cao hơn trong lịch sử nhân loại. Phương pháp luận duy vật của Mác trong việc nghiên cứu về xã hội và lịch sử cho thấy: lịch sử tiến hoá văn minh của nhân loại có cơ sở quyết định từ lịch sử phát triển của trình độ văn minh trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất của xã hội; do vậy cũng cần phải nghiên cứu trình độ phát triển nói chung của xã hội, trên mọi lĩnh vực của nó, từ trình độ phát triển thực tế của nền sản xuất vật chất ấy, mà suy đến cùng thì trình độ phát triển ấy lại phụ thuộc vào trình độ phát triển của phương thức sản xuất – tức là những cách thức mà xã hội sử dụng để tiến hành quá trình sản xuất ra của cải vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định.

    Mỗi quá trình sản xuất vật chất đều được tiến hành theo những phương thức nhất định trên hai mặt – đó là phương thức kĩ thuật, công nghệ của quá trình sản xuất và phương thức tổ chức kinh tế của quá trình sản xuất ấy; trong đó, phương thức tổ chức kinh tế phụ thuộc tất yếu vào trình độ phương thức kĩ thuật, công nghệ hiện có của xã hội. Như vậy, suy đến cùng thì chính trình độ phát triển của phương thức kĩ thuật, công nghệ nói riêng và trình độ phát triển nói chung của toàn bộ lực lượng sản xuất là nhân tổ quyết định trình độ phát triển của nền sản xuất vật chất của xã hội, và do đó nó cũng chính là nhân tố quyết định trình độ phát triển của toàn bộ đời sống xã hội trên tất cả các mặt khác nhau của nó.

    Có thể nhận rõ sự khác nhau căn bản giữa phương thức sản xuất của xã hội nông nghiệp truyền thống (điển hình là phương thức sản xuất trong các xã hội phong kiến thời trung cổ) và phương thức sản xuất công nghiệp hiện đại (tiêu biểu trong các xã hội tư bản đương đại). Trong phương thức sản xuất nông nghiệp truyền thống, phương thức tổ chức kinh tế thường theo quy mô nhỏ với cách thức hoạt động tự sản – tự tiêu, hay “tự cấp tự túc” mang tính chất quy trình khép kín của quá trình tái sản xuất giản đơn. Cách thức tổ chức kinh tế ấy dựa trên tính chất sở hữu tư nhân nhỏ đối với các tư liệu sản xuất. Các tư liệu sản xuất đó cũng như lao động được sử dụng trong quá trình sản xuất căn bản đều ở trình độ thủ công, được tích luỹ bởi kinh nghiệm mang tính truyển thừa của những người lao động trong phạm vi tương đối hẹp. Ngược lại, với phương thức sản xuất đó, phương thức sản xuất công nghiệp hiện đại mà tiẽn thân của nó là phương thức sản xuất công nghiệp truyền thống tư bản chủ nghĩa ra đời từ sau các cuộc cách mạng tư sản ở các nước Tây Âu (thế ki XVIII). Trong phương thức sản xuất công nghiệp hiện đại, cách thức tổ chức kinh tế trong toàn xã hội (trong phạm vi một quốc gia hay giữa các quốc gia liên minh) là phương thức tổ chức kinh té thị trường hiện đại với sự tham gia là ba chủ thể kinh tế: tư nhân, các hộ gia đình và nhà nước. Cách thức tổ chức kinh tế đó dựa trên sự kết hợp của nhiều loại hình sở hữu các giá trị tư bản được vận hành trong các quá trình sản xuất của xã hội. Về phương diện kĩ thuật công nghệ của quá trình sản xuất, phương thức sản xuất công nghiệp hiện đại căn bản dựa trên trình độ phát triển của kỹ thuật, công nghệ cao, công nghệ hiện đại trong quá trình sản xuất. Vì thế, phương thức sản xuất này cũng được gọi là “phương thức công nghiệp – thị trường hiện đại”, tức là sự thống nhất của hai mặt của phương thức sản xuất vật chất của các xã hội đã đạt được trình độ tiên tiến từ khoảng nửa cuối thế kỉ XX đến nay.

    Tương ứng với quá trình chuyển từ phương thức sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phương thức sản xuất công nghiệp là quá trình biến đổi và cách mạng của hàng loạt các quan hệ giữa con người với con người trên các lĩnh vực tổ chức chính trị, pháp luật, văn hoá, đạo đức, tôn giáo… Đúng như Mác nhận định: “Việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp và chính, mỗi một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định của một dân tộc hay một thời đại tạo ra một cơ sở, từ đó mà người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cả những quan niệm tôn giáo của con người ta” .

    Với việc phát hiện ra vai trò quyết định của phương thức sản xuất trong nền sản xuất vật chất, cũng do đó nó quyết định trình độ phát triển của toàn bộ đời sống xã hội và sự vận động phát triển của toàn bộ lịch sử nhân loại, Mác đã tiến hành phác hoạ lịch sử phát triển của xã hội loài người qua lịch sử phát triển, thay thế lẫn nhau của các phương thức sản xuất từ trình độ tháp đến cao. Theo tư tưởng của Mác trong tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị (xuất bản năm 1859), thì về đại thể, có thể coi các phương thức sản xuất châu Á, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của các hình thái kinh tế – xã hội.

    Khái niệm “phương thức sản xuất châu Á” là khái niệm được Mác sử dụng để chỉ một loại hình phương thức sản xuất đặc biệt mang tính quá độ từ phương thức sản xuất nguyên thủy lên phương thức sản xuất cao hơn đã tồn tại kéo dài trong lịch sử các xã hội thuộc phương Đông vùng châu Á mà hình thức tiêu biểu của nó là mô hình tổ chức “công xã nông thôn” ở Ấn Độ, trong đó tính chất “sở hữu kép” về ruộng đất – tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội nông nghiệp dựa trên trình độ lao động thủ công chưa phát triển – được Mác coi là “chiếc chìa khoá” để nghiên cứu “những bí mật” của xã hội Ấn Độ nói riêng và các xã hội vùng phương Đông châu Á nói chung.

    B. Biện chứng của sự phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất – quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển các phương thức sản xuất trong lịch sử.

    Bất cứ một quá trình sản xuất, vật chất nào cũng diễn ra với sự tồn tại “song trùng” của hai mối quan hệ cơ bản, đó là: mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên và mối quan hệ giữa con người với nhau. Khái niệm lực lượng sản xuất và khái niệm quan hệ sản xuất phản ánh hai mối quan hệ song trùng ấy, trong đó khái niệm lực lượng sản xuất phản ánh trình độ con người chinh phục giới tự nhiên trong quá trình sản xuất, còn khái niệm quan hệ sản xuất phản ánh sự liên kết giữa những con người theo yêu cầu khách quan của sự chinh phục giới tự nhiên ở một trình độ phát triển nhất định.

    – Khái niệm “lực lượng sản xuất” phản ánh mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, biểu hiện trình độ con người chinh phục tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất. Đó là mối quan hệ vật chất giữa con người với giới tự nhiên. Mối quan hệ đó được thực hiện thông qua quá trình lao động sản xuất vật chất, con người cải biến giới tự nhiên bằng sức mạnh thực tiễn. Vì vậy xét về thực chất, khái niệm “lực lượng sản xuất” dùng để chỉ năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người. Năng lực đó được tạo ra trong đời sống hiện thực bằng sự kết hợp giữa sức lao động (sức lực vật chất và tinh thần – đặc biệt là yếu tố tri thức) của con người với những tư liệu sản xuất trong quá trình lao động của họ.

    Do đó, có thể định nghĩa vắn tắt: Lực lượng sản xuất là toàn bộ các yếu tố vật chất và tinh thần của con người, tạo thành năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên theo mục đích của quá trình sản xuất vật chất.

    Trình độ phát triển của năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người, tức trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản sau đây:

    Một là, trình độ phát triển của các tư liệu sản xuất; trong đó, trình độ phát triển của công cụ lao động thể hiện tập trung trình độ phát triển của các tư liệu sản xuất.

    Hai là, trình độ phát triển của năng lực lao động thực tế của con người, tức của sức lao động, bao gồm trong đó toàn bộ sức lực vật chất và sức lực tinh thần (kĩ năng, kinh nghiệm…) của người lao động.

    Ba là, phương thức kết hợp các yếu tố trong quá trình sản xuất. Cùng một trình độ phát triển của tư liệu sản xuất và sức lao động của con người nhưng phương thức phân công hợp tác phối kết hợp khác nhau có thể tạo ra chất lượng, trình độ phát triển khác nhau của lực lượng sản xuất, do đó trong thực tế chúng cũng có giá trị hiện thực khác nhau, thể hiện trình độ nặng lực thực tiễn khác nhau trong quá trình sản xuất.

    Trong các yếu tố tư liệu sản xuất và người lao động (tức con người có khả năng lao động được tạo nên bởi các yếu tố vật chất và tinh thần của chính bản thân họ) thì nhân tố người lao động là yếu tố cơ bản nhất. Bởi vì, suy đến cùng thì trình độ phát triển của tư liệu sản xuất chỉ là kết tinh giá trị lao động của con người, là sản phẩm lao động của con người, phản ánh trình độ lao động của con người; đổng thời, giá trị thực tế tạo nên năng lực thực tiễn trong quá trình sản xuất phụ thuộc vào trình độ lao động thực tế của người lao động khi họ sử dụng nhũng tư liệu đó.

    Nếu xem xét quá trình lao động sản xuất không phải với tư cách trực quan là quá trình lao động sản xuất đơn lẻ, riêng biệt của mỗi cá nhân độc lập mà là tổng thể quá trình lao động của một xã hội thì các yếu tố tư liệu sản xuất và người lao động cần phải được phân tích là tổng thể kết hợp giữa các loại và trình độ phát triển của tư liệu sản xuất cũng như giữa các loại và trình độ phát triển của người lao động trong tính toàn thể xã hội của nó. Trong đó có sự kết hợp giữa các loại lao động phát triển ở những trình độ khác nhau (lao động trí óc và lao động chân tay, lao động trực tiếp và gián tiếp…). Cách hiểu đó mới có thể cho thấy sự phát triểr của lực lượng sản xuất của thời đại ngày nay.

    Một trong những đặc điểm lớn của thời đại ngày nay là có sự phát triển hết sức nhanh chóng của các ngành khoa học tự nhiên gắn kết với các quá trình phát minh sáng chế kĩ thuật mới, từ đó làm xuất hiện và phát triển rất nhanh chóng của các ngành công nghệ cao như: công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ… Các ngành công nghệ đó ngày càng đóng vai trò then chốt, trụ cột trong sự phát triển của lực lượng sản xuất ở các nước có nền công nghiệp hiện đại. Với sự phát triển đó, tất yếu đòi hỏi quá trình phát triển trình độ ngày càng cao của người lao động trong xã hội công nghiệp hiện đại. Xu hướng sử dụng trình độ lao động có đào tạo và được đào tạo ở trình độ chuyên môn cao và theo chiều sâu của sự chuyên môn hoá để có thể thích ứng với việc sử dụng sản phẩm kĩ thuật mới ngày càng được coi trọng, thay thế dần cho trình độ lao động căn bản dựa trên những kĩ năng kinh nghiệm lao động thông thường không cần trải qua quá trình đào tạo chuyên sâu. Những sự phát triển đó của lực lượng sản xuất trong xã hội công nghiệp hiện đại đã thể hiện khuynh hướng gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa hai quá trình sản xuất vật chất và tinh thần của xã hội, thể hiện khuynh hướng khoa học kĩ thuật ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp mà Mác đã dự báo từ thế kỉ XIX. Biểu hiện cao nhất của quá trình đó là sự ra đời và phát triển của các khu công nghệ cao, trong đó có sự liên kết chặt chẽ giữa những nhà sản xuất và những nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu khoa học, các trường đại học đào tạo nguổn nhân lực có chất lượng cao phù hợp với nhu cầu phát triển của nền công nghiệp hiện đại.

    Khuynh hướng phát triển của lực lượng sản xuất trong các xã hội công nghiệp hiện đại cũng tất yếu thúc đẩy tiến trình “xã hội hoá của lực lượng sản xuất mà biểu hiện tiêu biểu cho tiến trình đó là sự phụ thuộc tất yếu ngày càng tăng về mặt trình độ phát triển của kĩ thuật, công nghệ được sử dụng vào mỗi quá trình sản xuất công nghiệp. Sự tiến bộ về mặt kĩ thuật, công nghệ của ngành sản xuất này tất yếu đòi hỏi phải có sự phát triển tương ứng về mặt kĩ thuật, công nghệ của ngành khác, nhờ đó mới có thể tạo ra sản phẩm toàn vẹn của quá trình sản xuất. Cũng do đó, sự thay thế trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở trình độ này bằng một trình độ mới cao hơn giữa các ngành sản xuất diễn ra với một tốc độ và chu kì đổi mới hết sức nhanh chóng không chỉ trong phạm vi nền sản xuất của một quốc gia. Như vậy, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở ngành này lại phụ thuộc vào trình độ phát triển của ngành khác, trong đó xét về tổng thể là mối quan hệ phụ thuộc về trình độ phát triển kĩ thuật – công nghệ trong lực lượng sản xuất thuộc cơ cấu giữa ba ngành công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ không chỉ trong phạm vi mỗi quốc gia riêng biệt.

    – Khái niệm “quan hệ sản xuất ” dùng để khái quát mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất vật chất của một xã hội nhất định.

    Mỗi quá trình sản xuất và tái sản xuất vật chất chỉ có thể diễn ra được với sự kết hợp của tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người, trong đó mối quan hệ về mặt kĩ thuật, công nghệ mà nhờ đó có thể trực tiếp làm biến đổi các đối tượng vật chất tự nhiên thuộc về “lực lượng sản xuất”, còn mối quan hệ về mặt xã hội giữa con người với con người trong quá trình đó thuộc về “quan hệ sản xuất”; trong đó, nội dung chính của nó là mối quan hệ kinh tế, mặc dù mối quan hệ kinh tế nào trong xã hội được tổ chức dưới hình thức nhà nước cũng cán có nội dung pháp lí để đảm bảo tính thực thi của nó vón thuộc về thượng tầng kiến trúc của xã hội. Mối quan hệ kinh tế là mối quan hệ liên kết giữa con người với con người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất nhằm mục đích thực hiện lợi ích vật chất có được trong quá trình đó.

    Từ sự phân tích trên, có thể định nghĩa vắn tắt: Quan hệ sản xuất là mối quan hệ kinh tế giữa con người với con người nảy sinh trong quá trình sản xuất và tái sản xuất vật chất của xã hội.

    Quan hệ sản xuất bao gồm ba mặt là: quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức – quản lí quá trình sản xuất và quan hệ phân phối kết quả của quá trình sản xuất ấy. Ba mặt đó của quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định.

    Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa con người với nhau trong việc xác định các tư liệu sản xuất thuộc về ai với nội dung cơ bản là tập hợp của các quyền: chiếm hữu, sử dụng, mua bán, chuyển nhượng… Tập hợp các quyền đó có thể mang một hình thức pháp lí nhất định được bảo hộ bởi quyền lực quản lí của nhà nước hoặc theo thông lệ tập tục truyển thống trong các xã hội chưa có sự ra đời của bộ máy nhà nước.

    Xét theo tính chất cơ bản của sở hữu, trong lịch sử nhân loại đã từng tồn tại hai loại quan hệ sở hữu, đó là sở hữu tư nhân và sở hữu cộng đồng xã hội về tư liệu sản xuất. Mỗi loại sở hữu đó lại có thể tồn tại với những hình thức phù hợp với mỗi điều kiện lịch sử – cụ thể.

    Trong các quốc gia có sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại có sự tồn tại của nhiều loại hình sở hữu đan xen hỗn hợp tạo thành một hệ thống cơ cấu sở hữu thống nhất trong tính đa dạng của nó: sở hữu tư nhân, tư bản (quy mô lớn và nhỏ), sở hữu tư nhân của những người sản xuất nhỏ, sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu hỗn hợp trong các tập đoàn kinh tế, các công ty cổ phần…

    Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở hình thành quan hệ tổ chức – quản lí quá trình sản xuất và quan hệ phân phối kết quả của quá trình đó. Hai loại hình quan hệ này luôn có tác động trở lại quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất. Sự tác động đó có thể theo những chiều hướng khác nhau, tạo những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với các quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất.

    Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa nội dung vật chất và hình thức kinh tế của quá trình sản xuất; đó cũng là mối quan hệ thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, trên cơ sở quyết định của lực lượng sản xuất, tạo thành nguốn gốc và động lực cơ bản của quá trình vận động, phát triển các phương thức sản xuất trong lịch sử. Đó cũng chính là nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” – quy luật cơ bản nhất của qúa trình phát triển xã hội.

    Thứ nhất, sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai phương diện cơ bản, tất yếu của mỗi phương thức sản xuất – mỗi quá trình sản xuất nhất định, do đó chúng tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, chi phối lẫn nhau trong quá trình sản xuất của xã hội. Nói cách khác, mỗi phương thức sản xuất hay mỗi quá trình sản xuất không thể tiến hành được nếu như thiếu một trong hai phương diện đó, trong đó lực lượng sản xuất chính là nội dung vật chất, kĩ thuật, công nghệ của quá trình này, còn quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thức kinh tế của quá trình đó. Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chính là mối quan hệ tất yếu giữa nội dung vật chất và hình thức kinh tế của cùng một quá trình sản xuất khách quan của xã hội. Thứ hai, vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuât Trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất đóng vai trò quỵết định đối với quan hệ sản xuất. Nói cách khác, quan hệ sản xuất phụ thuộc tất yếu vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tính quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất được thể hiện trên hai mặt thống nhất với nhau: lực lượng sản xuất nào thì quan hệ sản xuất ấy và cũng do đó, khi lực lượng sản xuất có những thay đổi thì cũng tất yếu sẽ đòi hỏi phải có những thay đổi nhất định đối với quan hệ sản xuất trên các phương diện sở hữu, tổ chức – quản lí và phân phổi. Sự thay đổi này có thể diễn ra với sự nhanh chậm khác nhau, mức độ khác nhau, phạm vi khác nhau… nhưng tất yéu sẽ diễn ra những thay đổi nhất định bởi vì những quan hệ sản xuất chỉ là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất, còn lực lượng sản xuất đóng vai trò là nội dung vật chất của quá trình đó.

    Thứ ba, vai trò tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượngsản xuất

    Với tư cách là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất, quan hệ sản xuất luôn có khả năng tác động trở lại, ảnh hưởng trở lại đối vói việc bảo tồn, khai thác – sử dụng, tái tạo và phát triển lực lượng sản xuất. Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất thể hiện rõ nhất trên phương diện các quan hệ tổ chức, quản lí quá trình sản xuất của xã hội. Quá trình tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất có thể diễn ra với hai khả năng: tác động tích cực hoặc tác động tiêu cực. Khi mà quan hệ sản xuất phù hợp với nhu cầu khách quan của việc bảo tồn, khai thác – sử dụng, tái tạo và phát triển của lực lượng sản xuất thì nó có tác dụng tích cực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; ngược lại, nếu trái với nhu cẫu khách quan đó thì nhất định sẽ diễn ra quá trình tác động tiêu cực.

    Trong đời sống hiện thực kinh tế, có 3 tiêu thức cơ bản để nhận định sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất: 1) lực lượng sản xuất hiện có của xã hội cũng như của mỗi chủ thể tham gia hoạt động trong nền kinh tế có được bảo tồn – duy trì hay không; 2) lực lượng sản xuất của xã hội, của mỗi chủ thể kinh tế có được huy động tối đa (về lượng) và sử dụng có hiệu quả (về chất) hay không; 3) do đó, lực lượng sản xuất đó có được thường xuyên tái tạo và phát triển hay không. Trong thực tiễn kinh tế, các tiêu thức cơ bản này lại có thể được chi tiết hoá và có thể có những thước đo hoặc các chỉ số đánh giá cụ thể; thí dụ, có thể dùng chì số tăng trưởng kinh tế (GDP) hoặc các chỉ số khác như: GNP, HDI… để xác định theo các thời kì nhất định của mỗi quốc gia, chẳng hạn theo chu kì mỗi năm.

    Thứ tư, sự vận động của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất – nguồn gốc, động lực cơ bản của sự vận động, phát triển các phương thức sản xuất trong lịch sử

    Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thuộc phạm trù “mâu thuẫn” trong phép biện chứng duy vật, tức là mối quan hệ thống nhất của hai xu hướng có khả năng vận động trái ngược nhau. Sự vận động của mâu thuẫn này là đi từ sự thống nhất đến những khác biệt căn bản và dẫn đến sự xung đột giữa nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển đó, khi đó bắt đầu nhu cầu của những cuộc cải cách, hoặc cao hơn là một cuộc cách mạng, nhằm thực hiện sự cải biến những quan hệ sản xuất hiện thời theo hướng làm cho nó phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, nhờ đó tái thiết lập sự phù hợp mới của quan hệ sản xuất với ỉực lượng sản xuất.

    Khi phân tích sự vận động của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, Mác nhận định: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có, hay – đây chỉ là biểu hiện pháp lí của những quan hệ sản xuất đó – mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ sản xuất đó trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại của những cuộc cách mạng” .

    Sở dĩ mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất của các mặt đối lập là vì có sự khác nhau về tính chất biến đổi của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất có xu hướng “động”, còn quan hệ sản xuất thì ngược lại có xu hướng “tĩnh”. Xu hướng động và tĩnh của hai phương diện lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đều là khách quan. Trong điều kiện bình thường thì chỉ có trong sự ổn định tương đối của những hình thức kinh tế nhất định, lực lượng sản xuất mới có thể được duy trì, khai thác – sử dụng, tái tạo và phát triển. Nhưng chính sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất trong phạm vi ổn định của quan hệ sản xuất lại tất yếu dẫn đến khả năng ngày càng bộc lộ sự xung đột với những hình thức kinh tế hiện thời và tất yếu đòi hỏi phải có những thay đổi nhất định của quan hệ sản xuất mà lâu nay lực lượng sản xuất phát triển trong đó thì mới có thể có được sự phát triển hơn nữa của lực lượng sản xuất. Như vậy, sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là đi từ sự thống nhất đến xung đột và một khi xung đột đó được giải quyết thì lại tái thiết lập sự thống nhất mới; quá trình này lặp đi lặp lại trong lịch sử tạo ra quá trình vận động và phát triển của phương thức sản xuất – của nền sản xuất xã hội và sự phát triển của lịch sử xã hội loài người.

    Sự vận động của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cho thấy: chỉ trong sự thống nhất, phù hợp của nhũng quan hệ sản xuất hiện thực với trình độ phát triển thực tế của các lực lượng sản xuất hiện có mới có thể tạo ra được những điều kiện thích hợp cho sự phát triển của lực lượng sản xuất; tuy nhiên, sự phù hợp giữa chúng chỉ là tương đối, tạm thời trong một giai đoạn phát triển nhất định, còn khuynh hướng vận động tuyệt đối của lực lượng sản xuất lại phá vỡ sự phù hợp đó, tạo ra khả năng tái thiết lập sự phù hợp trong giai đoạn phát triển mới.

    C Biện chứng của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng – quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển trong cơ cấu tổng thể của đời sống xã hội 

    Xét về tổng thể, đời sống xã hội là một hệ thống cơ cấu tổ chức hết sức phức tạp bao gồm trong đó những mối quan hệ chi phối lẫn nhau, từ lĩnh vực của những quan hệ kinh tế đến lĩnh vực của những quan hệ chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo… Vậy, giữa chúng có mối quan hệ thế nào và sự biến đổi, phát triển của cơ cấu tổng thể ấy tuân theo quy luật cơ bản nào?

    Với phương pháp tiếp cận duy vật trong nghiên cứu về xã hội, Mác đã chỉ ra mối quan hệ quyết định của lĩnh vực kinh tế đối với các lĩnh vực khác thuộc thượng tầng kiến trúc chính trị, pháp luật… của xã hội; cũng tức là nói quy luật về sự phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng vào tính chất và trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng của xã hội. Mác khẳng định: “Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy… hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lí, chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó” .

    – Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.

     Theo tư tưởng nói trên của Mác, có thể hiểu: trong học thuyết hình thái kinh tế – xã hội, khái niệm cơ sở hạ tầng dùng để chi toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội; còn khái niệm kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ toàn bộ hệ thống kết cầu các quan hệ tư tưởng xã hội (chính trị, pháp quyền, tôn giáo…) cùng với các thiết chế chính trị – xã hội tương ứng (chính đảng, nhà nước, giáo hội…) được hình thành trên một cơ sở hạ tầng kinh tế nhất định.

    Cơ sở hạ tầng của một xã hội, trong toàn bộ sự vận động của nó, được tạo nên bởi các quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mới tồn tại dưới hình thái mầm mống, đại biểu cho sự phát triển của xã hội tương lai; trong đó, quan hệ sản xuất thống trị chiếm địa vị chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác, định hướng sự phát triển của đời sống kinh tế – xã hội và giữ vai trò là đặc trưng cho chế độ kinh tế của một xã hội nhất định. Sự tồn tại của ba loại hình quan hệ sản xuất cấu thành cơ sở hạ tầng của một xã hội phản ánh tính chất vận động, phát triển liên tục của lực lượng sản xuất với các tính chất kế thừa, phát huy và phát triển.

    Như vậy, hệ thống quan hệ sản xuất của một xã hội đóng vai trò “kép”: một mặt, với lực lượng sản xuất, nó giữ vai trò là hình thức kinh tế – xã hội cho sự duy trì, phát huy và phát triển lực lượng sản xuất; mặt khác, với các quan hệ chính trị – xã hội, nó đóng vai trò là cơ sở hình thành kết cầu kinh tế, làm cơ sở hiện thực cho sự thiết lập một hệ thống kiến trúc thượng tầng của xã hội.

    Kiến trúc thượng tầng của mỗi xã hội là một kết cấu phức tạp, có thể được phân tích từ những giác độ khác nhau, từ đó cho thấy mối quan hệ đan xen và chi phối lẫn nhau của chúng. Từ giác độ chung nhất, có thể thấy kiến trúc thượng tầng của một xã hội bao gồm: hệ thống các hình thái ý thức xã hội (hình thái ý thức chính trị, pháp quyền, tôn giáo…) và các thiết chế chính trị – xã hội tương ứng của chúng, là cơ sở hình thành hệ thống các tổ chức chính trị – xã hội (như bộ máy nhà nước, tổ chức chính đảng, các tổ chức tôn giáo…).

    Trong xã hội có giai cấp, đặc biệt là trong các xã hội hiện đại, hình thái ý thức chính trị và pháp quyền cùng hệ thống thiết chế, tổ chức chính đảng và nhà nước là hai thiết chế, tổ chức quan trọng nhất trong hệ thống kiến trúc thượng tầng của xã hội.

    Nhà nước là một bộ máy tổ chức quyền lực và thực thi quyền lực đặc biệt của xã hội trong điều kiện xã hội có đối kháng giai cấp. Về danh nghĩa, nhà nước là hệ thống tổ chức đại biểu cho quyền lực chung của xã hội để quản lí, điều khiển mọi hoạt động của xã hội và công dân, thực hiện chức năng chính trị và chức năng xã hội cùng chức năng đối nội và đối ngoại của quốc gia. Về bản chất, bất cứ nhà nước nào cũng là công cụ quyền lực thực hiện chuyên chính giai cấp của giai cấp thống trị, tức giai cấp nắm giữ được những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, nó chính là chủ thể thực sự của quyền lực nhà nước.

    – Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội

    Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai phương diện cơ bản của đời sống xã hội – đó là phương diện kinh tế và phương diện chính trị – xã hội, giữa chúng có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau. Trong đó, cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng và đồng thời kiến trúc thượng tầng thường xuyên có sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng.

    Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng được thể hiện trên nhiều phương diện: tương ứng với một cơ sở hạ tầng sẽ sản sinh ra một kiến trúc thượng tầng phù hợp, có tác dụng bảo vệ cơ sở hạ tầng đó. Những biến đổi trong cơ sở hạ tầng tạo ra nhu cầu khách quan phải có sự biến đổi tương ứng trong kiến trúc thượng tầng. Tính chất mâu thuẫn trong cơ sở hạ tầng được phản ánh thành mâu thuẫn trong hệ thống kiến trúc thượng tầng. Sự đấu tranh trong lĩnh vực ý thức hệ xã hội và những xung đột lợi ích chính trị – xã hội có nguyên nhân sâu xa từ mâu thuẫn và cuộc đấu tranh giành lợi ích trong cơ sở kinh tế của xã hội. Giai cấp nắm giữ quyền sở hữu tư liệu sản xuất của xã hội, đồng thời cũng là giai cấp nắm được quyền lực nhà nước, còn các giai cấp và tầng lớp xã hội khác ở vào địa vị phụ thuộc đối với quyền lực nhà nước. Các chính sách và pháp luật của nhà nước, suy đến cùng là sự phản ánh nhu cầu thống trị về kinh tế của giai cấp nắm giữ quyền sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội…

    Tính chất phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng vào cơ sở hạ tầng có nguyên nhân từ tính tất yếu kinh tế đối với toàn bộ các lĩnh vực sinh hoạt của xã hội, dù đó là lĩnh vực thực tiễn chính trị, pháp luật… hay lĩnh vực sinh hoạt tinh thần của xã hội. Tính tất yếu kinh tế lại phụ thuộc vào tính tất yếu của nhu cầu duy trì và phát triển các lực lượng sản xuất khách quan của xã hội.

    Với tư cách là các hình thức phản ánh và được xác lập do nhu cầu phát triển của kinh tế, các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng có vị trí độc lập tương đối của nó và thường xuyên có vai trò tác động trở lại cơ sở hạ tầng.

    Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đỗi với cơ sở hạ tầng có thể thông qua nhiều phương thức. Điều đó tuỳ thuộc vào bản chất của mỗi nhân tố trong kiến trúc thượng tầng, phụ thuộc vào vị trí, vai trò của nó và những điều kiện cụ thể. Tuy nhiên, trong điều kiện kiến trúc thượng tầng có yếu tố nhà nước thì phương thức tác động của các yếu tố khác tối cơ sở kinh tế của xã hội thường phải thông qua nhân tố nhà nước mới có thể thực sự phát huy mạnh mẽ vai trò thực tế của nó. Nhà nước là nhân tố có tác động trực tiếp nhất và mạnh mẽ nhất tối cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội.

    Sự tác động của các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng có thể diễn ra theo nhiều xu hướng, thậm chí các xu hướng không chỉ khác nhau mà còn có thể đối lập nhau, Điều đó phản ánh tính chất mâu thuẫn lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp xã hội khác nhau và đối lập nhau: có sự tác động nhằm duy trì cơ sở kinh tế hiện tại, tức xu hướng duy trì chế độ xã hội hiện thời; lại có sự tác động theo xu hướng xoá bỏ cơ sở kinh tế này và có xu hướng đấu tranh cho việc xác lập một cơ sở kinh tế khác, xây dựng một chế độ xã hội khác…

    Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng có thể diễn ra theo xu hướng tích cực hoặc tiêu cực, điều đó phụ thuộc vào sự phù hợp hay không phù hợp của các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng đối với nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế; nếu phù hợp nó sẽ có tác dụng tích cực, ngược lại sẽ có tác dụng tiêu cực, kìm hãm và phá hoại sự phát triển kinh tế trong một phạm vi và mức độ nhất định. Tuy nhiên, sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng dù diễn ra với nhũng xu hướng khác nhau, mức độ khác nhau nhưng cũng không thể giữ vai trò quyết định đối với cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội; cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội vẫn tự mở đường đi cho nó theo tính tất yếu kinh tế của nó.

    Sự phân tích mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cho thấy đây là mối quan hệ biện chứng được thực hiện theo nguyên tắc kiến trúc thượng tầng phải phù hợp với cơ sở hạ tầng; chính trị, pháp luật cũng như các mặt khác của đời sống văn hoá xã hội phụ thuộc tất yếu vào tính chất và trình độ phát triển của kinh tế, cần phải có sự phù hợp của kiến trúc thượng tầng chính trị, pháp luật… với cơ sở kinh tế của xã hội. Tuy nhiên, sự phù hợp ấy chỉ là tương đối, tạm thời trong những giai đoạn lịch sử nhất định và với những điều kiện nhất định. Giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũng như giữa các yếu tố trong mỗi lĩnh vực đó luôn luôn có sự vận động và do đó có khả năng làm xuất hiện nhũng mâu thuẫn. Mâu thuẫn này biểu hiện ở cuộc đấu tranh giữa các quan điểm thuộc ý thức hệ xã hội, đặc biệt là cuộc đấu tranh giữa các ý thức hệ chính trị và pháp quyền mà suy đến cùng đó chỉ là biểu hiện của mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất không phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, được thể hiện ở mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa các lực lượng chính trị đại biểu cho các giai cấp khác nhau, những khuynh hướng phát triển khác nhau trong một xã hội. Việc giải quyết những mâu thuẫn ấy thường chỉ được thực hiện thông qua thực tiễn chính trị đấu tranh giai cấp trong xã hội, đó là những cuộc cải cách xã hội trên từng lĩnh vực mà đỉnh cao là những cuộc cách mạng xã hội. Thông qua những cuộc cải cách hoặc những cuộc cách mạng xã hội mà mâu thuẫn giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng được khắc phục, tái tạo sự thống nhất phù hợp của kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng.

    D. Cấu trúc hình thái kinh tế – xã hội và quá trình lịch sử – tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế – xã hội

    – Cấu trúc hình thái kinh tế – xã hội

    Theo phương pháp tiếp cận duy vật của Mác, xã hội là tổng thể của rất nhiều mối quan hệ phức tạp nhưng có thể thực hiện sự trừu tượng hoá các quan hệ sản xuất của xã hội, tức là những quan hệ kinh tế tồn tại khách quan, tất yếu không phụ thuộc vào ý chí con người, tiến hành “giải phẫu” những quan hệ đó và đồng thời phân tích những quan hệ đó trong mối quan hệ phụ thuộc của nó với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện thực và phân tích những quan hệ đó trong mối quan hệ với toàn bộ những quan hệ xã hội khác, tức với những quan hệ thuộc kiến trúc thượng tầng chính trị – xã hội. Sự phân tích đó cho thấy rõ xã hội là một hệ thống cấu trúc với ba lĩnh vực cơ bản tạo thành là: 1) toàn bộ các lực lượng sản xuất phát triển ở một trình độ nhất định; 2) quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất; 3) kiến trúc thượng tầng được xác lập trên cơ sở những quan hệ sản xuất đó.

    Mác đã mô tả mối quan hệ kết cấu tổng thể giữa ba lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội như sau: ‘Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phụ thuộc vào một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lí và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó. Phương thức sản xuất ra đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thẫn nói chung” .

    Theo mô tả đó của Mác, có thể xác định khái niệm hình thái kinh tế-xã hội, với tư cách là một phạm trù cơ bản của hệ thống quan điểm duy vật về lịch sử, được dùng để chỉ mỗi xã hội cụ thể trong tiến trình phát triển của nó, được đặc trưng bởi một kiểu quan hệ sản xuất, phù hợp vái một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất và một kiến trúc thượng tâng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy.

    Với khái niệm về xã hội theo cấu trúc “hình thái” như vậy đã đem lại một phương pháp luận khoa học về cấu trúc cơ bản của xã hội, cho phép phân tích đời sống hết sức phức tạp của xã hội để chỉ ra những mối quan hệ biện chứng giữa các lĩnh vực cơ bản của nó và đi tới quan niệm vễ “Sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên” .

    – Quá trình lịch sử – tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế- xã hội. Quá trình lịch sử – tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế – xã hội là chỉ quá trình vận động, phát triển của xã hội tuân theo quy luật khách quan của nó dưới sự tác động của các nhân tố chủ quan trong các điều kiện lịch sử nhất định. Quá trình đó biểu hiện ở các nội dung chính sau đây: 

    Một là, sự vận động và phát triển của xã hội không tuân theo ý chí chủ quan của con người mà tuân theo các quy luật khách quan; đó là các quy luật của chính bản thân cấu trúc hình thái kinh tế – xã hội, là hệ thống các quy luật xã hội thuộc các linh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học… mà trước hết và cơ bản nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật kiến trúc thượng ỉẩng phù hợp với cơ sở hạ tầng.

    Nguổn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại, của mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội, suy đến cùng đều có nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ sự phát triển của lực lượng sản xuất. Lênin từng nhấn mạnh rằng: “Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên” .

    Hai là, quá trình phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội, tức quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế – xã hội ở trình độ cao hơn trong lịch sử nhân loại, và do đó là sự phát triển của lịch sử xã hội loài người có thể do sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan nhưng nhân tố giữ vai trò quyết định là sự tác động của các quy luật khách quan. Dưới sự tác động của quy luật khách quan mà lịch sử nhân loại, xét trong tính chất toàn bộ của nó, là quá trình thay thế tuần tự của các hình thái kinh tế – xã hội từ trình độ thấp đến trình độ cao hơn.

    Ba là, quá trình phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội không chỉ tuân theo quy luật khách quan mà còn chịu sự tác động của rất nhiều nhân tố khác; đó là các nhân tố thuộc về điều kiện địa lí, tương quan lực lượng chính trị của các giai cấp, tầng lớp xã hội, truyền thống văn hoá của mỗi cộng đồng người, điều kiện tác động của tình hình quốc tế đối với tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người trong lịch sử… Chính do sự tác động của các nhân tố này mà tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người nhất định có thể diễn ra với những con đường, hình thức và bước đi khác nhau, tạo nên tính phong phú, đa dạng trong sự phát triển của lịch sử nhân loại. Tính phong phú, đa dạng của sự phát triển đó được thể hiện tiêu biểu ở các “phương thức phát triển rút gọn” hay “rút ngắn” tiến trình lịch sử của một quốc gia, dân tộc trong các điều kiện lịch sử đặc thù của nó. Chẳng hạn, có thể tiến trình phát triển của một quốc gia, dân tộc với các điều kiện khách quan và chủ quan nhất định, không nhất thiết phải tuần tự phát triển qua đầy đủ các hình thái kinh tế – xã hội từ thấp đến cao mà có thể “bỏ qua” một hay một số hình thái kinh tế – xã hội nhất định để tiến thẳng lên hình thái kinh tế – xã hội cao hơn. Trong tiến trình đó, xét về mặt phương thức sản xuất, cũng có thể là một sự phát triển tuần tự, nhưng cũng có thể có sự đan xen nhất định giữa các yếu tố thuộc các phương thức sản xuất khác nhau và rút gọn về mặt thời gian các giai đoạn phát triển của một phương thức sản xuất nhất định để nhanh chóng tiến tới một phương thức sản xuất cao hơn. Các quốc gia, dân tộc châu Á (kể cả Trung Quốc và Ấn Độ thời cổ đại, về căn bản chưa từng trải qua phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ). Hoặc trong thời kì cận – hiện đại, một số quốc gia, dân tộc vùng châu Á, chỉ trong một thời kì lịch sử mấy chục năm đã hoàn thành phương thức sản xuất công nghiệp và thị trường tư bản theo kiểu phương thức sản xuất tư bản đặc thù vùng châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc…) trong khi các nước phương Tây và Mĩ trước đây đã phải mất một thời kì lịch sử khoảng một trăm năm. Đổng thời, sau cuộc cách mạng vô sản giành chính quyền ở Việt Nam và Trung Quốc ở những thập niên giữa thế ki XX với những điều kiện lịch sử mới đã và đang tiến hành tiến trình phát triển bỏ qua giai đoạn phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với tư cách là phương thức sản xuất thống trị…

    Như vậy, lịch sử nhân loại nói chung, lịch sử phát triển của mỗi cộng đồng người nói riêng vừa tuân theo tính tất yếu quy luật xã hội, vừa chịu sự tác động đa dạng của các nhân tố khác nhau, trong đó có cả nhân tổ hoạt động chủ quan của con người; từ đó, cho thấy lịch sử phát triển của xã hội được biểu hiện ra là lịch sử thống nhất trong tính đa dạng và đa dạng trong tính thông nhất của nó.

    Tài liệu tham khảo

    V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ. Mátxcơva, 1974, t.12, tr.163.

    V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ. Mátxcơva, 1974, t.23, tr.133.

    V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ. Mátxcơva, 1974, t.1, tr.173.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thi Thpt Quốc Gia: Cấu Trúc Đề Thi Được Phân Bổ Như Thế Nào? – Phòng Công Tác Sinh Viên
  • Cấu Trúc Đề Thi Thpt Quốc Gia 2022 Theo Từng Môn Học
  • Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam Trong Tiến Trình Đổi Mới Và Phát Triển Đất Nước
  • Hệ Thống Pháp Luật Xhcn
  • Truyền Thống Pháp Luật Xhcn Tại Việt Nam: Đôi Điều Suy Ngẫm
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Của Luật Dân Quân Tự Vệ Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Rủi Ro Và Những Khái Niệm Liên Quan Trong Bảo Hiểm
  • Rom Là Gì? Chức Năng Của Rom? Sự Khác Nhau Giữa Rom Và Ram?
  • Chất Rắn Là Gì? Những Cách Phân Loại Chất Rắn Bạn Đã Biết Chưa
  • Hướng Dẫn Giải Lý 10: Bài Tập Trang 154
  • Cổng Ttđt Tài Năng Trẻ Quốc Gia
  • Để xây dựng lực lượng Dân quân Tự vệ (DQTV) vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi có chiến tranh; cùng với Quân đội nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ QP, QS, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 22-11-2019, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV đã biểu quyết thông qua Luật DQTV số 48/2019/QH14 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2020, thay thế Luật DQTV năm 2009. So với Luật DQTV năm 2009, luật năm 2022 có sự kế thừa, phát triển với nhiều điểm mới.

    Dân quân xã Trùng Khánh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia tuần tra biên giới. Ảnh: DƯƠNG NGUYÊN

    Luật DQTV năm 2022, gồm: 8 chương, 50 điều (so với Luật năm 2009, giảm 1 chương, 16 điều). 

    1. Về vị trí, chức năng, Điều 3, Luật DQTV năm 2022 đã bổ sung hoàn chỉnh địa vị pháp lý về vị trí, chức năng của DQTV là thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân; là lực lượng bảo vệ Đảng, chính quyền, tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của cơ quan, tổ chức ở địa phương, cơ sở; làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi có chiến tranh.

    2. Về thành phần DQTV. Điều 6, Luật quy định, gồm DQTV tại chỗ; DQTV cơ động; dân quân thường trực; DQTV biển; DQTV phòng không, pháo binh, trinh sát, thông tin, công binh, phòng hóa, y tế. Như vậy, Luật này đã quy định dân quân thường trực là một trong những thành phần của DQTV, không luân phiên trong dân quân cơ động để khẳng định địa vị pháp lý của dân quân thường trực, phù hợp với thực tế hiện nay các địa phương đã và đang thực hiện.

    3. Về nguyên tắc tổ chức, hoạt động. Điều 4, Luật DQTV năm 2022, đã bổ sung quy định về nguyên tắc tổ chức, hoạt động, đó là: Sự chỉ huy của Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và người chỉ huy đơn vị quân đội vào trong nguyên tắc tổ chức, hoạt động của DQTV để bảo đảm chặt chẽ nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với DQTV và phù hợp với thực tế.

    4. Về nhiệm vụ của DQTV. So với Luật DQTV năm 2009, tại Điều 5 của Luật này kế thừa và bổ sung nhiệm vụ “Tham gia thực hiện các biện pháp về chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng theo quy định của pháp luật, quyết định của cấp có thẩm quyền” để thống nhất với Luật Quốc phòng (năm 2022), đáp ứng yêu cầu hoạt động của DQTV trong tình hình mới, các hình thái chiến tranh mới trong tương lai, phù hợp với khả năng của DQTV. Vì đây là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác, có điều kiện tiếp cận với khoa học công nghệ nên có đủ khả năng để thực hiện nhiệm vụ trên.

    5. Về độ tuổi, thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV trong thời bình. Điều 8 của Luật năm 2022, quy định thời hạn tham gia dân quân thường trực là 2 năm; đồng thời, bổ sung quy định đối với dân quân biển, tự vệ và chỉ huy đơn vị DQTV được kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia đến hết 50 tuổi đối với nam, đến hết 45 tuổi đối với nữ để khắc phục tình trạng một số địa phương, cơ quan tổ chức thiếu người để tổ chức hoạt động của lực lượng DQTV. Tại Điều 9, bổ sung quy định lồng ghép đăng ký công dân thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV với đăng ký nghĩa vụ quân sự, nhằm cải cách hành chính, tiết kiệm thời gian, nguồn lực của công dân và cơ quan, tổ chức.

    6. Về tạm hoãn, miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV trong thời bình; thôi thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV trước thời hạn; các hành vi bị nghiêm cấm về DQTV. 

    So với Luật DQTV năm 2009, Điều 11 của Luật này mở rộng đối tượng được tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV trong thời bình, để tương thích với Luật Nghĩa vụ quân sự, phù hợp với thực tế và bảo đảm bình đẳng giới, như: Nam giới một mình nuôi con dưới 36 tháng tuổi; công nhân quốc phòng; có chồng hoặc vợ là cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; hộ cận nghèo; người phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; người trong hộ gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra; vợ hoặc chồng, một con của thương binh, bệnh binh, người bị nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%; người đang lao động, học tập, làm việc ở nước ngoài… Đồng thời, Luật cũng mở rộng một số đối tượng được miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV, như: Quân nhân dự bị đã được sắp xếp vào đơn vị dự bị động viên; người làm công tác cơ yếu.

    Điều 12, Luật năm 2022 đã bổ sung quy định thôi thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV trước thời hạn trong trường hợp, như: DQTV nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, DQTV nam một mình nuôi con dưới 36 tháng tuổi; hoàn cảnh gia đình khó khăn đột xuất không có điều kiện tiếp tục thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV; có lệnh gọi nhập ngũ hoặc lệnh gọi thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân; có giấy báo và vào học ở cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; người có giấy báo và đi lao động, học tập, làm việc ở nước ngoài… Đồng thời, quy định đưa ra khỏi danh sách DQTV, để khắc phục những vướng mắc, bất cập của Luật năm 2009, nâng cao chất lượng tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng DQTV.

    8. Về tổ chức DQTV. Điều 15, Luật DQTV năm 2022, bổ sung quy định các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển tổ chức hải đội dân quân thường trực, nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước thực hiện đối sách đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới. Đồng thời, quy định thôn đội trưởng kiêm tiểu đội trưởng hoặc trung đội trưởng dân quân tại chỗ ở thôn, để thể chế Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII) nhằm tinh gọn, nâng cao hiệu quả hoạt động của dân quân ở thôn. Qua đó, đã giảm trên 130.000 dân quân ở thôn.

    9. Về tổ chức tự vệ trong doanh nghiệp. Chỉ thành lập tự vệ trong các doanh nghiệp khi có yêu cầu của nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong khu vực phòng thủ của địa phương và phù hợp với tổ chức sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Điều 17, quy định: Xem xét, quyết định thành lập đơn vị tự vệ khi có đủ các điều kiện sau đây: (1). Bảo đảm sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự quản lý của ủy ban nhân dân các cấp và sự chỉ huy của cơ quan quân sự địa phương cấp tỉnh, cấp huyện. (2). Theo yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đề án, kế hoạch tổ chức DQTV của địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động và phù hợp với tổ chức sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. (3). Đã hoạt động từ đủ 24 tháng trở lên. (4). Có số lượng người lao động đủ tiêu chuẩn tuyển chọn thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV để tổ chức ít nhất 1 tiểu đội tự vệ.

    10. Về hệ thống chỉ huy DQTV; về chức vụ chỉ huy DQTV; ban chỉ huy quân sự cấp xã, thôn đội trưởng; ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức (từ Điều 18 đến Điều 21). Trong đó, Mục 1, Điều 20, quy định: Ban chỉ huy Quân sự cấp xã là cơ quan thường trực công tác quốc phòng ở cấp xã; gồm: Chỉ huy trưởng là Ủy viên Ủy ban nhân dân cấp xã, sĩ quan dự bị; trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, tình trạng chiến tranh được gọi vào phục vụ tại ngũ theo quy định của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và tiếp tục đảm nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự cấp xã; Chính trị viên do Bí thư cấp ủy cấp xã đảm nhiệm; Chính trị viên phó do Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cấp xã đảm nhiệm; Phó chỉ huy trưởng là người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

    Để bảo đảm chất lượng, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ, Điều 26, Luật DQTV năm 2022 quy định: Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự cấp xã phải được đào tạo Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự cấp xã ngành quân sự cơ sở trình độ trung cấp, cao đẳng hoặc đại học tại nhà trường quân đội.

    11. Hoạt động của DQTV, được quy định tại Chương IV, gồm 4 điều (từ Điều 29 đến Điều 32), quy định gọn hơn và cụ thể hơn về: Hoạt động sẵn sàng chiến đấu; hoạt động chiến đấu, phục vụ chiến đấu; hoạt động phối hợp của DQTV; thẩm quyền điều động DQTV. Trong đó, hoạt động sẵn sàng chiến đấu của DQTV, tại Mục 3 và Mục 4, Điều 29, quy định: Làm nòng cốt xây dựng thôn, xã, phường, thị trấn chiến đấu; tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, khu vực phòng thủ, nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân ở địa phương. Tham gia thực hiện các biện pháp về chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng và hoạt động khác.

    12. Về chế độ, chính sách đối với DQTV. Được quy định tại Chương V, gồm 7 điều (từ Điều 33 đến Điều 39), quy định về: chế độ phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với các chức vụ chỉ huy DQTV; chế độ, chính sách đối với DQTV khi làm nhiệm vụ; chế độ, chính sách đối với DQTV bị ốm, bị tai nạn, bị chết, bị thương, hy sinh… Đây là một trong những chính sách mới được bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của lực lượng DQTV trong tình hình mới, phù hợp với thực tế các địa phương đã và đang thực hiện. Theo đó, từ ngày 1-7-2020, dân quân thường trực sẽ được: Trợ cấp ngày công lao động; bảo đảm tiền ăn (trước đây chỉ bố trí nơi ăn, nghỉ); hưởng chế độ khi làm nhiệm vụ từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau, ngày nghỉ, ngày lễ khi thực hiện công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; trợ cấp ngày công lao động tăng thêm trong trường hợp kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ DQTV; hưởng trợ cấp 1 lần khi được công nhận hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại ngũ trong thời bình; hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế như hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội đang tại ngũ.

    Ngoài những nội dung cơ bản nêu trên, Điều 49, quy định về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2022, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật về quốc phòng.

    Sự ra đời của Luật DQTV năm 2022 là cơ sở pháp lý quan trọng, bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của lực lượng này, góp phần thực hiện công tác QP, QSĐP, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quảng Cáo Là Gì? Các Hình Thức Quảng Cáo Phổ Biến Nhất Hiện Nay
  • Đặc Điểm Hợp Đồng Nhượng Quyền Thương Mại
  • Chủ Nghĩa Đế Quốc (Imperialism)
  • Cổ Phiếu Là Gì ? Đặc Điểm Và Vai Trò Của Cổ Phiếu Mà Bạn Nên Biết
  • Cổ Phiếu Là Gì? 5+ Đặc Điểm & 10 Điều Lớn Phải Biết Về Cổ Phiếu! – Cophieux
  • Mâu Thuẫn Giữa Người Với Người: Một Số Nội Dung Cơ Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Ích Lợi Từ Thương Mại Là Gì? Tìm Hiểu Thương Mại Quốc Tế
  • Môi Trường Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Môi Trường Tự Nhiên
  • Quản Lý Môi Trường Là Gì? Cơ Hội Với Sinh Viên Quản Lý Môi Trường
  • Phân Tích 5 Chức Năng Của Môi Trường Đối Với Con Người
  • Môi Trường Là Gì? Tại Sao Phải Bảo Vệ Môi Trường?
  • Nguyễn Ngọc Hà PGS, TS., Phó viện trưởng Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Tạp chí Triết học

    03:55′ CH – Thứ năm, 11/11/2010

    Để làm rõ một số nội dung cơ bản của mâu thuẫn giữa người với người, trong bài viết này, tác giả đưa ra để trao đổi với độc giả về những đặc trưng cơ bản của mâu thuẫn này, về nguyên nhân xuất hiện của nó, về các loại mâu thuẫn giữa người với người, về vai trò của các chủ thể trong mâu thuẫn này đối với sự phát triển xã hội, về kết quả và phương thức giải quyết mâu thuẫn này. Theo tác giả, mặc dù mâu thuẫn này là hiện tượng bình thường trong xã hội, song đó là một hiện tượng cần được quan tâm nghiên cứu, bởi nó không chỉ giúp chúng ta xác định đúng mâu thuẫn, mà còn lựa chọn đúng đắn phương thức giải quyết mâu thuẫn vì lợi ích con người và xã hội.

    Mở đầu

    Mâu thuẫn giữa người và người là một hiện tượng tồn tại phổ biến trong xã hội và thường xuyên được nói đến trong sách báo chính trị – xã hội cũng như trong sinh hoạt hàng ngày. Nghiên cứu để làm rõ bản chất của hiện tượng này là nhiệm vụ của triết học xã hội. Trong các sách giáo khoa về phép biện chứng duy vật, một số mâu thuẫn giữa người và người được nói đến như là ví dụ để chứng minh thêm cho quy luật mâu thuẫn. Nhưng, với tư cách một khái niệm của triết học xã hội, mâu thuẫn giữa người và người còn ít được quan tâm nghiên cứu.

    1. Đặc trưng cơ bản của mâu thuẫn giữa người và người

    Khi nói đến mâu thuẫn giữa người và người, trước hết chúng ta phải xác định đặc trưng cơ bản phân biệt nó với các hiện tượng xã hội khác. Như chúng ta đã biết, hoạt động của con người là hoạt động có mục đích; khi hoạt động mỗi người có thể nhằm đạt được nhiều mục đích khác nhau (chẳng hạn, đạt mục đích A để đạt mục đích B, đạt mục đích B để đạt mục đích C); nhưng mục đích cuối cùng mà mỗi người muốn đạt được bao giờ cũng là lợi ích, tức là cái để đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình. Thông qua hoạt động tìm kiếm cái đáp ứng những nhu cầu, con người có quan hệ với môi trường tự nhiên và quan hệ với nhau.(*)Quan hệ giữa người với người là sự tác động qua lại giữa các chủ thể (giữa cá nhân với cá nhân, giữa tập thể với tập thể, giữa cộng đồng với cộng đồng, giữa cá nhân với tập thể hoặc cộng đồng). Sự tác động qua lại này có thể là mâu thuẫn nhau (cản trở lẫn nhau, bài trừ lẫn nhau, đấu tranh lẫn nhau) hoặc là thống nhất với nhau (hỗ trợ lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, hợp tác với nhau). Như vậy, mâu thuẫn giữa người với người là sự tác động qua lại giữa người với người (giữa chủ thể này với chủ thể khác) theo hướng cản trở lẫn nhau, bài trừ lẫn nhau, đấu tranh lẫn nhau(1).

    2. Nguyên nhân xuất hiện mâu thuẫn giữa người với người

    Sự tác động qua lại giữa hai chủ thể, như đã nói ở trên, có thể là mâu thuẫn nhau (cản trở lẫn nhau, bài trừ lẫn nhau, đấu tranh lẫn nhau) hoặc thống nhất nhau (hỗ trợ lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, hợp tác với nhau). Nhưng hoạt động lại do mục đích chỉ đạo. Vì thế, sự mâu thuẫn và sự thống nhất giữa người với người về hoạt động phải có nguyên nhân ở quan hệ giữa hai mục đích mà hai chủ thể theo đuổi. Mục đích mà hai chủ thể theo đuổi có thể thuộc một trong ba trường hợp: mâu thuẫn, thống nhất và khác nhau.

    Khi hai chủ thể theo đuổi một mục đích thống nhất thì họ sẽ cùng đạt được hoặc cùng không đạt được mục đích của mình (nếu chủ thể này đạt được thì chủ thể kia cũng đạt được, nếu chủ thể này không đạt được thì chủ thể kia cũng không đạt được). Trong trường hợp này, giữa họ không có mâu thuẫn. Ví dụ, nếu hai người cùng vận động cho một ứng viên vào một chức vụ nào đó thì có nghĩa là họ theo đuổi một mục đích thống nhất và do đó, họ sẽ cùng đạt được hoặc cùng không đạt được mục đích của mình. Sự thống nhất giữa hai chủ thể về mục đích sẽ dẫn đến sự thống nhất giữa họ trong hoạt động, tức là họ sẽ hỗ trợ lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, hợp tác với nhau.

    Khi hai chủ thể theo đuổi hai mục đích mâu thuẫn thì họ không thể cùng đạt được mục đích của mình. Ví dụ, nếu hai người nào đó vận động cho hai ứng viên khác nhau vào một chức vụ thì họ đang theo đuổi hai mục đích mâu thuẫn và do đó, họ không thể cùng đạt được mục đích của mình (nếu người này đạt được thì người kia không đạt được). Sự mâu thuẫn giữa hai chủ thể về mục đích sẽ dẫn đến sự mâu thuẫn giữa họ trong hành động, tức là họ sẽ đấu tranh với nhau, bài trừ nhau, cản trở nhau.( 1)

    Trong trường hợp hai chủ thể theo đuổi hai mục đích khác nhau (không mâu thuẫn và cũng không thống nhất) thì họ có thể cùng đạt được hoặc không cùng đạt được hai mục đích này. Ví dụ, những người trồng lúa và những người dệt vải là hai chủ thể theo đuổi hai mục đích khác nhau và do đó, họ có thể cùng đạt được hoặc không cùng đạt được mục đích của mình. Sự khác nhau về mục đích tuy không trực tiếp dẫn đến sự mâu thuẫn hay sự thống nhất trong hành động, nhưng gián tiếp và ít hay nhiều cũng sẽ dẫn đến sự mâu thuẫn hay sự thống nhất trong hành động. Bởi vì, mọi người trong xã hội đều có liên hệ với nhau; hoạt động của mỗi người dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp cũng đều có tác động đến hoạt động của tất cả những người khác, mà sự tác động này có thể là mâu thuẫn hoặc thống nhất. Chẳng hạn, những người trồng lúa và những người dệt vải trong quá trình thực hiện mục đích của mình nhất định có sự tác động qua lại với nhau theo cả chiều hướng mâu thuẫn và chiều hướng thống nhất (sự tác động đó có thể là tự phát, nằm ngoài ý thức của họ). Họ có sự tác động lẫn nhau theo chiều thống nhất, vì những người trồng lúa thì cần vải, còn những người dệt vải thì cần lúa. Họ có tác động lẫn nhau theo chiều mâu thuẫn, vì cả hai bên đều cần ruộng đất để sản xuất, cần thị trường để tiêu thụ sản phẩm trong khi ruộng đất và thị trường để tiêu thụ sản phẩm lại có hạn; hoặc vì những người dệt vải gây ô nhiễm môi trường, từ đó cản trở hoạt động của những người trồng lúa.

    Như vậy, nguyên nhân xuất hiện mâu thuẫn giữa người và người là do hai chủ thể theo đuổi hai mục đích mà việc đạt được mục đích của chủ thể này tất nhiên sẽ loại trừ hoàn toàn hoặc một phần việc đạt được mục đích của chủ thể kia. Với nguyên nhân ấy thì sự xuất hiện mâu thuẫn giữa người và người có yếu tố chủ quan, vì con người có thể tự giác từ bỏ mục đích này để theo đuổi mục đích khác. Nhưng mục đích được hình thành trên cơ sở nhu cầu, mà người nào cũng phải có nhu cầu đặc biệt là nhu cầu vật chất. Vì thế, sự xuất hiện của mâu thuẫn giữa người và người có cả yếu tố khách quan.

    3. Các loại mâu thuẫn giữa người và người

    Có nhiều cách phân loại mâu thuẫn giữa người và người. Trước hết, đó là cách phân loại mâu thuẫn xã hội thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản. Nếu trong một cộng đồng có nhiều chủ thể và tương ứng có nhiều mâu thuẫn giữa các chủ thể, thì người ta có thể phân các mâu thuẫn ấy thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản. Ví dụ, trong một quốc gia nào đó có ba chủ thể là giai cấp tư sản, giai cấp vô sản và giai cấp tiểu tư sản, tương ứng có ba mâu thuẫn là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp tiểu tư sản, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tiểu tư sản. Trong ba mâu thuẫn ấy thì mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản là cơ bản; hai mâu thuẫn còn lại là không cơ bản. Mâu thuẫn cơ bản ở đây được hiểu là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, tồn tại cùng với sự vật, quyết định xu hướng vận động của sự vật, trong trường hợp ở đây là mâu thuẫn quy định bản chất của cộng đồng, tồn tại cùng với cộng đồng, quyết định xu hướng vận động của cộng đồng.

    Quan hệ giữa hai chủ thể nào đó tại một thời điểm nào đó hoặc là thống nhất (không có mâu thuẫn) hoặc là vừa mâu thuẫn (có một mâu thuẫn hoặc có nhiều mâu thuẫn), vừa thống nhất (thống nhất ở một số mục đích này và mâu thuẫn ở một số mục đích khác). Khi có nhiều mâu thuẫn xuất hiện giữa hai chủ thể nào đó thì chúng ta có thể phân loại các mâu thuẫn ấy thành các mâu thuẫn quan trọng và các mâu thuẫn không quan trọng. Mâu thuẫn quan trọng ở đây được hiểu là mâu thuẫn về những mục đích quan trọng. Còn mâu thuẫn không quan trọng được hiểu là mâu thuẫn về những mục đích không quan trọng. Tuy nhiên, sự phân loại này là tương đối và không cố định, vì tính chất quan trọng hay không quan trọng của mục đích và do đó, của mâu thuẫn thay đổi theo hoàn cảnh bên ngoài và theo cả quan điểm của từng chủ thể về mức độ quan trọng của mục đích tranh chấp đối với bản thân mình. Chẳng hạn, mâu thuẫn giữa hai quốc gia trong việc giải quyết một vấn đề thương mại nào đó có thể là quan trọng hoặc không quan trọng tuỳ theo quan điểm của mỗi quốc gia trong việc xác định mục đích tranh chấp là quan trọng hay không quan trọng so với các mục đích khác. Quan điểm này có thể thay đổi từ chỗ cho mục đích tranh chấp là quan trọng đến chỗ cho mục đích tranh chấp là không quan trọng, hoặc ngược lại. Nếu mục đích càng được chủ thể coi là quan trọng thì hoạt động của chủ thể để đạt được mục đích càng mạnh mẽ.

    Một cách phân loại khác đối với mâu thuẫn giữa người và người là cách phân loại thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng. Căn cứ của cách phân loại này là gì? Có ý kiến căn cứ vào lợi ích tranh chấp là cơ bản hay không cơ bản. Theo đó, mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn về lợi ích cơ bản, còn mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn về lợi ích không cơ bản. Có ý kiến thì căn cứ vào phương thức giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực hay không bằng bạo lực. Theo đó, thuẫn đối kháng là mâu thuẫn được giải quyết bằng bạo lực; còn mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn được giải quyết không phải bằng bạo lực. Cách phân loại sau (căn cứ vào phương thức giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực hay không bằng bạo lực) cụ thể hơn và do đó, có ý nghĩa thực tiễn hơn. Nếu mục đích tranh chấp giữa hai chủ thể nào đó có ý nghĩa lớn đối với sự tồn tại và phát triển của cả hai chủ thể thì hai chủ thể này thường chọn hình thức bạo lực để giải quyết mâu thuẫn giữa họ, làm cho mâu thuẫn giữa họ có tính đối kháng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, tuy mục đích tranh chấp là không có ý nghĩa lớn đối với sự tồn tại và phát triển của hai bên, nhưng mâu thuẫn giữa hai bên vẫn có tính đối kháng, vì họ vẫn chọn hình thức bạo lực để giải quyết mâu thuẫn. Việc lựa chọn hình thức bạo lực hay không bạo lực để giải quyết mâu thuẫn không chỉ phụ thuộc ý nghĩa lớn hay không lớn của mục đích tranh chấp đối với hai chủ thể, mà còn phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của hai chủ thể. Vì thế, tính đối kháng hay không đối kháng của mâu thuẫn không cố định: mâu thuẫn có thể chuyển từ đối kháng thành không đối kháng hoặc từ không đối kháng thành đối kháng (nếu hai chủ thể mâu thuẫn thay đổi phương thức giải quyết mâu thuẫn từ bằng bạo lực sang không bằng bạo lực hoặc ngược lại).

    Mâu thuẫn giữa người với người có thể được phân loại thành mâu thuẫn về kinh tế, mâu thuẫn về chính trị – xã hội, mâu thuẫn về tư tưởng. Nếu mục đích tranh chấp giữa hai chủ thể là mục đích kinh tế thì mâu thuẫn giữa họ là mâu thuẫn về kinh tế. Tương tự, nếu mục đích tranh chấp giữa hai chủ thể là mục đích chính trị – xã hội thì mâu thuẫn giữa họ là mâu thuẫn về chính trị – xã hội. Còn nếu mục đích tranh chấp giữa hai chủ thể là mục đích tư tưởng thì mâu thuẫn giữa họ là mâu thuẫn về tư tưởng. Mâu thuẫn về kinh tế, mâu thuẫn về chính trị – xã hội, mâu thuẫn về tư tưởng có mối quan hệ với nhau và do đó, khi hai chủ thể có mâu thuẫn về kinh tế thì giữa hai chủ thể ấy ít hay nhiều sẽ nảy sinh mâu thuẫn về chính trị – xã hội và mâu thuẫn về tư tưởng. Do vậy, tuy có nhiều nguyên nhân khác nhau làm nảy sinh mâu thuẫn về chính trị – xã hội và mâu thuẫn về tư tưởng giữa hai chủ thể (đặc biệt giữa hai giai cấp, giữa hai dân tộc), nhưng trong số các nguyên nhân đó, nhất định có nguyên nhân sâu xa là mâu thuẫn về kinh tế giữa họ.

    (1) Hiện tượng cản trở lẫn nhau, bài trừ lẫn nhau, đấu tranh lẫn nhau giữa người với người là hiện tượng tồn tại khách quan và phổ biến trong xã hội mà ai cũng có thể dễ dàng nhận thấy. Tuy nhiên, đối với những người không thừa nhận học thuyết của phép biện chứng về mâu thuẫn thì mâu thuẫn (trong đó có mâu thuẫn xã hội) không tồn tại trong hiên thực, chỉ tồn tại trong tư duy và là biểu hiện của tư duy sai lầm. Mặc dù thừa nhận có hiện tượng cản trở lẫn nhận, bài trừ lẫn nhau, đấu tranh lẫn nhau giữa người với người, nhưng họ lại không gọi hiện tượng đó là mâu thuẫn. Có thể vì thế mà trong một số từ điển tiếng Anh, tuy có thuật ngữ contracdition (mâu thuẫn), social conflict (xung đột xã hội), nhưng không hề có thuật ngữ social contracdition (mâu thuẫn xã hội).

    (2) Trong các tác phẩm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin không có câu “mâu thuẫn là động lực của sự phát triển”. Ph.Ăngghen có viết: “Động lực của toàn bộ lịch sử hiện đại, ít nhất là ở trong hai nước tiên tiến nhất nói trên” (tức là Anh và Pháp), chính là cuộc đấu tranh của ba giai cấp lớn đó (tức là giai cấp tư sản, giai cấp vô sản, giai cấp quý tộc địa chủ) và những xung đột về lợi ích của họ (Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.21. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.439). “Động lực của lịch sử” nói ở đây cần được hiểu là động lực của sự vận động xã hội, chứ không phải là động lực của sự phát triển xã hội.

    (3) Việc xác định một mục đích nào đó là tiến bộ hay không tiến bộ phải căn cứ vào nhiều tiêu chuẩn khách quan của sự tiến bộ, chứ không thể căn cứ vào sự tuyên bố của chủ thể theo đuổi mục đích ấy. Bởi vì, khi theo đuổi mục đích nào thì chủ thể theo đuổi mục đích ấy bao giờ cũng cố chứng minh mục đích mà mình theo đuổi là tiến bộ.

    Thống kê truy cập

    Tổng số người truy cập: .

    Số người đang trực tuyến: .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mâu Thuẫn Lợi Ích Trong Luật Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Mâu Thuẫn Lợi Ích Giữa Chủ Doanh Nghiệp Và Người Lao Động Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Mâu Thuẫn Lợi Ích Và Tham Nhũng
  • Câu Chuyển : Ý Nghĩa Của Lục Hòa Kính
  • Sáu Pháp Lục Hòa Kính Là Gì
  • Nguyên Tử Và Kiến Thức Cơ Bản Nhất Về Hạt Nhân Nguyên Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1. Thành Phần Nguyên Tử Cau Tao Vo Nguyen Tu T1 Pptx
  • Bài 1: Thành Phần Nguyên Tử Giao An Hoa 10 Tiet 3 Doc
  • Giáo Án Hóa Học 10 Cơ Bản
  • On Tap Hoc Ki 1 On Tap Hk1Tam Ppt
  • Bai Giang Dien Tu Bai 4. Cau Tao Vo Nguyen Tu
  • Trong khi nghiên cứu, nhiều nhà khoa học đã tìm ra được nguyên tử có vai trò cấu tạo nên nhiều vật thể khác nhau. Vậy nguyên tử là gì, cấu tạo nguyên tử như thế nào và những đặc điểm của nguyên tử nữa

    Nguyên tử và cấu tạo hạt nhân nguyên tử

    Nguyên tử là những hạt siêu nhỏ ở tầm vi mô. Nguyên tử chứa các hạt mang điện tích và các hạt không mang điện tạo cấu tạo nên một nguyên tử gồm hạt nhân nguyên tử gọi là lõi và lớp bên ngoài nguyên tử gọi là lớp electron.

    Định nghĩa nguyên tử

    Nguyên tử là những hạt vô cùng nhỏ có cấu tạo trung hòa điện và nguyên tử cấu tạo nên mọi vật thể trong tự nhiên.

    Cấu tạo nguyên tử

    Nguyên tử được chia thành 2 phần là lớp vỏ nguyên tử và phần hạt nhân nguyên tử

    Lớp vỏ nguyên tử là một khoảng không bao bên ngoài hạt nhân nguyên tử mà tại đó có các hạt Electron chuyển động hỗn loạn. Số electron sẽ phụ thuộc vào số Proton trong hạt nhân nguyên tử và khi nguyên tử trung hòa về điện thì Ký hiệu: e số e bằng số p

    Hạt Electron có những tính chất gì?

    Vận tốc chuyển động của Electron được tính bằng công thứchay e

    Khối lượng electron: 9.109×10-31 Kg

    Điện tích electron: 1 hoặc -1.602×10-19 C. do chuyển động của Electron là chuyển động tròn đều có lực điện hướng tâm.

    Một số chỉ số electron cần lưu ý:

    Hạt nhân nguyên tử

    Hạt nhân nguyên tử hiện nay các nhà vẫn còn nghiên cứu tiếp do chúng có những cấu tạo, đặc điểm, tính chất còn nhiều bí ẩn mà con người chưa nghiên cứu hết được. Tuy nhiên, trong nội dung chương trình học cần chúng ta ghi nhớ những điểm sau:

    Hạt nhân nguyên tử là phần lõi, trung tâm trong 1 nguyên tử được bao bọc bởi những lớp electron có các hạt electron chuyển động ở bên ngoài.

    Cấu tạo nên hạt nhân nguyên tử gồm có hai loại hạt cơ bản là Hạt Proton, Hạt Nơtron.

    + Hạt Proton là hạt mang điện tích

    Ký hiệu: P

    Proton mang điện tích dương. Điện tích mỗi prôtôn là +e = + 1,6.10 – 19 C.+ Hạt Nơtron là hạt không mang điện tích

    Ký hiệu: N

    Khối lượng proton bằng 1.67262158 × 10 −27 kg

    Số proton trong hạt nhân nguyên tử cũng là số thứ tự của nguyên tố ấy trong bảng tuần hoàn Hóa Học. Proton bền vĩnh cửu tuy nhiên thì khoa học hiện đại vẫn còn đang nghiên cứu thêm về quan niệm trên.

    Nơtron có khối lượng bằng 1.67492716 × 10 −27 kg nặng hơn hạt Proton một chút.

    Nơtron cho phép chúng ta phân loại những nguyên tố hóa học thành những đồng vị khác nhau.

    Nơtron tự do có thời gian sống khoảng 10-15 phút sau đó sẽ bị phân rã thành 1 proton, 1 điện tử electron và 1 phản nơtrino.

    Khối lượng của một nguyên tử

    Nguyên tử tuy là những hạt vô cùng nhỏ, nhưng nguyên tử lại có những tính chất phù hợp với nghiên cứu vật lý hiện đại. Dựa vào những biến đổi tính chất vật lý mà những nhà khoa học đã có thể tính được khối lượng từng hạt trong nguyên tử như hạt Electron có khối lượng xấp xỉ 9.109×10-31 Kg, Hạt proton có khối lượng 1.67262158 × 10 −27 kg và hạt Nơtron có khối lượng 1.67492716 × 10 −27 kg.

    Nếu so sánh khối lượng giữa Proton và Nơtron với khối lượng của Electrong chúng ta thấy khối lượng hạt nhân gấp gần 2000 lần khối lượng vỏ hạt nhân. Do vậy, khối lượng nguyên tử sẽ là tổng khối lượng các hạt Proton và Nơtron có trong hạt nhân nguyên tử.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 5. Cấu Hình Electron Nguyên Tử
  • Lý Thuyết Và Bài Tập Cấu Tạo Vỏ Nguyên Tử
  • Giải Bài Tập Sgk Hóa 10 Bài 5: Cấu Tạo Electron Nguyên Tử
  • Bài Tập Cấu Tạo Vỏ Nguyên Tử
  • Bài 4. Cấu Tạo Vỏ Nguyên Tử
  • Những Nội Dung Cơ Bản Về Tổ Chức Và Quản Lý Kênh Phân Phối

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Kiểm Thử Phần Mềm
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kiểm Thử Phần Mềm
  • Chương 1 Các Yếu Tố Cơ Bản Của Kiểm Thử
  • Giáo Trình Sinh Học Phân Tử
  • Thiết Kế Mồi Cho Phản Ứng Pcr
  • Hệ thống phân phối mang tính chất dài hạn, không thể dễ dàng thay đổi trong thời gian ngắn. Chiến lược phân phối tập trung vào tổ chức và điều hành kênh phân phối của doanh nghiệp trên thị trường để tiêu thụ sản phẩm. Đặc biệt với xu hướng tiếp cận tới từng điểm bán lẻ như hiện nay thì việc tối ưu năng suất hệ thống phân phối là vấn đề doanh nghiệp cần đặt nặng.

    • Nhận dạng nhu cầu thiết kế kênh.
    • Xác định và phối hợp kênh phân phối.
    • Phân loại công việc phân phối.
    • Phát triển các cấu trúc thiết kế kênh.
    • Đánh giá các biến số ảnh hưởng đến cấu trúc kênh.
    • Lựa chọn cấu trúc kênh tốt nhất.
    • Tìm kiếm các thành viên kênh.

    Tuỳ vào mục đích thiết kế kênh là để phát triển, mở rộng tại những khu vực thị trường mới hay để hoàn thiện hệ thống kênh hiện tại mà người quản lý sẽ có những quyết định quản lý kênh riêng. Ở đây chúng ta xem xét việc thiết kế kênh dưới góc độ “Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối” thông qua việc xác định các mối quan hệ giữa các biến số của công ty, tuyên truyền mục tiêu và chiến lược Marketing với việc thiết kế kênh phân phối.

    Thị trường mục tiêu và việc thiết kế kênh

    Thiết kế hệ thống kênh phân phối là nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu và ước muốn của thị trường mục tiêu. Do vậy nhà quản lý cần xem xét các biến số của thị trường một cách cẩn thận, từ đó có những quyết định sáng suốt. Có hàng loạt những yếu tố ảnh hưởng đến kênh phân phối:

    Cd: Chi phí của kênh trực tiếp

    d : Chi phí giảm dần theo quy mô do sự tham gia của các trung gian chuyên môn hoá tại các khu vực thị trường lớn.

    Theo sơ đồ trên, ban đầu, chi phí cho một đơn vị là cao do chi phí giao dịch cao và do dự trữ cho kênh lớn. Nếu quy mô thị trường là nhỏ thì sẽ rất khó cho việc tạo lập kênh đó. Nhưng khi quy mô thị trường tăng lên, chi phí cho việc tạo lập kênh đối với một khối lượng lớn khách hàng sẽ giảm xuống.

    Tại điểm C: chi phí của kênh trực tiếp cân bằng với kênh có sử dụng trung gian. Nhưng với khối lượng khách hàng lớn thì chi phí của các trung gian sẽ thấp hơn. Do vậy, sự gia tăng đáng kể về số lượng người mua trên một khu vực thị trường sẽ là cơ sở để nhà quản lý kênh xem xét đánh giá hệ thống kênh phân phối hiện tại từ đó đề xuất nhu cầu thiết kế kênh trong tương lai.

    Thứ ba là: sự ảnh hưởng của mật độ thị trường đến việc thiết kế kênh. Đó là khối lượng khách hàng và khách hàng tiềm năng trên một đơn vị địa lý. Khi mật độ thị trường là lớn thì điều kiện tốt cho việc vận chuyển hàng hoá và lượng tồn kho sẽ thấp. Ngược lại, nếu mật độ thị trường nhỏ thì hàng hoá sẽ được vận chuyển ít hơn và lượng tồn kho sẽ nhiều hơn.

    Thứ tư là : sự ảnh hưởng của hành vi thị trường, các yếu tố hành vi thị trường là:

    – Thị trường mua khi nào?

    – Thị trường mua ở đâu?

    – Thị trường mua như thế nào?

    – Ai mua?

    Nhiệm vụ của các thành viên kênh là phải đảm bảo sự có mặt của hàng hoá trên thị trường bất kỳ lúc nào khách hàng muốn. Tuy nhiên nhà quản lý cần phải làm sao cho lượng tồn kho của các thành viên kênh là nhỏ nhất mà vẫn đảm bảo được tính sẵn có của hàng hoá. Đây là yêu cầu của việc thiết kế kênh.

    Sự thích thú trong thay đổi mua sắm của khách hàng quyết định thị trường mua sắm như thế nào?

    – Mua với khối lượng lớn.

    – Mua tại nhà.

    – Yêu cầu dịch vụ hay không…

    Đáp ứng từng loại hành vi trên mà nhà quản lý phải thiết kế một mạng lưới kênh phân phối đa dạng và phong phú.

    + Ai mua? Đây cũng là vấn đề khá quan trọng. Với những mặt hàng như may mặc… thì chủ yếu là người tiêu dùng, người sử dụng sản phẩm là người mua. Vì thế, thông qua hệ thống kênh phân phối, công ty phải thể hiện rõ được uy tín, hình ảnh của mình trước khách hàng.

    Các yếu tố của công ty và thiết kế kênh

    Các yếu tố bên trong công ty chính là sức mạnh để công ty quyết định mình có thể vươn tới các thị trường mục tiêu hay không và vươn tới đó bằng cách nào để đạt được hiệu quả cao nhất.

    – Quy mô của công ty: sẽ quyết định đến kiểu kênh, quyết định việc phân phối tối ưu các công việc phân phối cho các thành viên kênh.

    – Khả năng tài chính: đây là một trong những lý do mà công ty phải sử dụng trung gian. Khả năng tài chính tốt thì công ty ít phải phụ thuộc vào các thành viên kênh và vì vậy cấu trúc kênh của công ty lựa chọn sẽ khác với các công ty có khả năng như mình.

    – Sự trợ giúp về quản lý: đây là một bằng chứng tích cực thể hiện sự quan tâm của nhà sản xuất. Các thành viên kênh luôn muốn biến nhà sản xuất có trợ giúp họ trong việc quản lý kinh doanh không. Sự trợ giúp này được thể hiện trên nhiều mặt: đào tạo, phân tích tài chính, phân tích thị trường.

    Chiến lược Marketing và thiết kế kênh

    Chiến lược kênh phân phối luôn phải đặt trong chiến lược Marketing chung của toàn doanh nghiệp. Việc phối hợp tốt các yếu tố Marketing – Mix sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thiết kế kênh. Như chúng ta đã biết, mục tiêu của bất kỳ một doanh nghiệp nào, của bất kỳ hệ thống Marketing hay hệ thống kênh phân phối nào cũng là nhằm đạt được lợi nhuận, thế lực và an toàn trong kinh doanh. Mục tiêu đó sẽ được thực hiện khi và chỉ khi có sự cố gắng, phối hợp nhịp nhàng, ăn ý của các bộ phận trong hệ thống Marketing – Mix và các thành viên trong hệ thống kênh phân phối.

    Trong quản lý Marketing, việc phát triển hệ thống Marketing – Mix về sản phẩm, giá cả, phân phối, xúc tiến liên hợp để đáp ứng nhu cầu của thị trường mục tiêu tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh có ý nghĩa rất lớn trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn khác nhau mà công ty có hướng đầu tư khác nhau. Nếu công ty đang xác định là mở rộng thị trường, phải đảm bảo tính sẵn sàng của sản phẩm thì lúc này công ty nên có sự ưu tiên trong hệ thống kênh phân phối. Song kênh phân phối chỉ là một bộ phận trong hệ thống Marketing – Mix, nó có quan hệ hữu cơ với các biến số khác. Sự thành công của hệ thống kênh phân phối gắn liền với sự thành công của hệ thống Marketing – Mix để thoả mãn tối đa nhu cầu của thị trường mục tiêu.

    Tuyển chọn thành viên kênh

    Xuất phát từ những điềukiện bên trong: khả năng tài chính, khả năng quản lý và những yếu tố bên ngoài, công ty đã xây dựng được những cấu trúc kênh phân phối phù hợp nhất cho mình để làm tăng thêm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Công việc tiếp theo mà các nhà quản lý cần thực hiện là tuyển chọn các thành viên kênh.

    Như chúng ta đã biết, để thiết kế được một hệ thống kênh phân phối có hiệu quả, công ty phải mất rất nhiều thời gian, công sức và tiền của. Nhưng bù vào đó, công ty có cả một lợi thế cạnh tranh trong dài hạn, góp phần vào việc hình thành nên hệ thống kênh phân phối đó là công tác tuyển chọn các thành viên kênh. Các thành viên của kênh mặc dù là các doanh nghiệp cá nhân độc lập nhưng đều là sự mở rộng của nhà sản xuất và các thành viên này sẽ có tác động trở lại nhà sản xuất. Chính vì vậy, bất kỳ một công ty nào cũng phải tuyển chọn các thành viên kênh một cách cẩn thận để họ có tác động tốt đến hoạt động kinh doanh của công ty cũng như uy tín của doanh nghiệp sau này.

    Tìm kiếm danh sách các thành viên kênh nhiều tiềm năng

    Có rất nhiều nguồn thông tin có giá trị giúp nhà quản lý kênh tìm kiếm được thành viên kênh đó là:

    – Tổ chức bán hàng theo khu vực: đây là lực lượng bán sẵn có của công ty trên thị trường. Họ sẽ cung cấp những nguồn thông tin về các trung gian của kênh, về các trung gian tiềm năng trong vùng. Những thông tin của họ là những thông tin cực kỳ có giá trị bởi họ là những người làm việc trong khu vực này, họ hiểu về thị trường trong khu vực đó và họ biết ai là người có năng lực, có thể đáp ứng được yêu cầu để trở thành thành viên chính thức của công ty.

    – Các nguồn tin thương mại.

    – Các khách hàng: Đây cũng là một nguồn thông tin quan trọng bởi khách hàng là người có ý kiến rất thực. Bởi vậy công ty có thể thực hiện các cuộc nghiên cứu đối với người tiêu dùng để tìm ra thành viên kênh tiềm năng.

    Ngoài ra công ty còn có thể sử dụng các nguồn khác như :

    – Tham gia hội chợ.

    – Thông qua báo chí, ngân hàng, tư vấn…

    Các tiêu chuẩn lựa chọn thành viên kênh

    Các tiêu chuẩn này được đặt ra theo yêu cầu của từng công ty. Tuy nhiên có một số tiêu chuẩn mà mọi công ty đều phải thông qua là:

    – Điều kiện tín dụng và tài chính: đây là tiêu chuẩn được lựa chọn nhiều nhất để chấp nhận các thành viên kênh trong tương lai. Do vậy các nhà sản xuất đều phải điều tra xem trong những thành viên tiềm năng, thành viên nào có đủ khả năng tài chính đáp ứng được yêu cầu của công ty.

    – Sức mạnh bán hàng: đây là tiêu chuẩn cực kỳ quan trọng của các thành viên kênh. Tiêu chuẩn này được đánh giá dựa vào các thước đo:

    + Chất lượng của lực lượng bán.

    + Số lượng người bán thực sự đang làm việc.

    + Khả năng hỗ trợ của lực lượng bán hàng.

    – Khả năng bao phủ thị trường: các nhà sản xuất luôn cố gắng để đạt được việc bao phủ thị trường với ít nhất sự trùng lặp. Chính vì vậy mà sử dụng các thành viên kênh có hiệu quả sẽ tránh được sự trùng lặp, tránh gây sung đột và sự lãng phí về tiền của.

    – Hoạt động bán: thông tin này cho biết về hoạt động bán hàng của các trung gian.

    – Khả năng quản lý: thành viên có giá trị là những thành viên có khả năng quản lý tốt. Nhiệm vụ của họ là phải quản lý một đội ngũ bán hàng của mình, tổ chức duy trì lực lượng bán, đào tạo và phân chia công việc cho họ để họ có được những kỹ năng trong công tác bán hàng.

    Khuyến khích các thành viên kênh

    Mối quan hệ giữa các thành viên kênh và nhà sản xuất là mối quan hệ hai chiều. Mối quan hệ đó càng mật thiết càng dễ đi đến mục tiêu chung của cả hệ thống. Muốn vậy nhà sản xuất phải thường xuyên nghiên cứu, tìm hiểu nhu cầu của các trung gian và có hướng giúp đỡ giải quyết.

    – Trợ giúp về dòng sản phẩm: nhà sản xuất đảm bảo cung cấp cho các thành viên kênh dòng sản phẩm tốt nhất, có khả năng bán được với doanh số cao, đạt được lợi nhuận cao.

    – Sự trợ giúp về quản lý: công ty nên đào tạo một lực lượng nhân viên bán hàng để họ có khả năng trong việc phân tích và xúc tiến thị trường.

    Ngoài các biện pháp trên, nhà sản xuất còn phải giúp đỡ họ khi họ gặp khó khăn về sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ cạnh tranh, về sự thay đổi của môi trường kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.

    Các nhà sản xuất phải để cho các nhân viên thấy rằng họ có được sự giúp đỡ khi họ tham gia vào hệ thống kênh phân phối của nhà sản xuất, đồng thời sự giúp đỡ này phải được tiến hành thường xuyên, liên tục trong suốt thời gian họ là thành viên của kênh. Nhà sản xuất phải thấy được rằng các trung gian chính là khách hàng của mình. Và khi đó việc thoả mãn nhu cầu, ước muốn của các trung gian là vô cùng cần thiết.

    Theo MC Vey “người trung gian thường hành động như một người mua hàng của họ rồi sau đó mới là người bán hàng thay cho người cung ứng của mình… họ quan tâm đến sản phẩm mà khách hàng của họ muốn mua”.

    Nhà sản xuất phải thường xuyên động viên, khuyến khích các trung gian. Song khuyến khích bằng cách nào để nó đem lại hiệu quả cao nhất là một vấn đề không đơn giản. Để có thể có những biện pháp khuyến khích thích hợp thì công ty phải thực sự hiểu được các thành viên trong hệ thống kênh phân phối. Bên cạnh những biện pháp khuyến khích đó, nhà quản lý cũng phải xây dựng những hình thức phạt thích hợp đối với các thành viên hoạt động không có hiệu quả. Biết kết hợp hài hoà giữa thưởng và phạt là một nghệ thuật trong quản lý.

    Đánh giá hoạt động của các thành viên kênh

    Bước cuối cùng của mỗi công việc là phải đánh giá kết quả. Với các thành viên kênh cũng vậy, việc đánh giá hoạt động của họ là rất quan trọng, mang tính thời kỳ và là sự xem xét tổng hợp.

    Mặc dù có rất nhiều các tiêu chuẩn để đánh giá các hoạt động của các thành viên kênh song hầu hết các nhà sản xuất sử dụng các yếu tố như: khối lượng bán, duy trì lượng tồn kho, khả năng cạnh tranh, thái độ của các thành viên trong kênh.

    – Hoạt động bán: đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất và hay được sử dụng nhất là để đánh giá hoạt động của các thành vên kênh. Thông thường người quản lý đánh giá hoạt động bán dựa trên:

    + Doanh số bán hiện tại của các thành viên kênh so với lượng bán hàng trong lịch sử.

    + So sánh khối lượng bán của mỗi thành viên kênh với tổng lượng bán của các thành viên kênh.

    + Lượng bán của từng thành viên kênh so với các chỉ tiêu đã được xác định trước.

    Từ kết quả so sánh nhà quản lý sẽ biết được thành viên nào hoạt động có hiệu quả, so sánh nó với những chi phí đã bỏ ra cho hoạt động kênh, cho từng thành viên kênh để từ đó có hướng đầu tư thích hợp.

    – Duy trì tồn kho: lượng tồn kho được thể hiện trong hợp đồng buôn bán của các thành viên kênh. Xác định một mức tồn kho đều đặn là cần thiết bởi nó đảm bảo cho tính sẵn có của hàng hoá trên thị trường. Hoạt động tồn kho được thể hiện bởi:

    + Mức tồn kho trung bình của các thành viên kênh là bao nhiêu?

    + Điều kiện và phương tiện tồn kho như thế nào?

    – Ngoài ra các nhà quản lý phải đánh giá hoạt động của các thành viên kênh dựa trên sức cạnh tranh của các thành viên đó.

    Thông qua hoạt động đánh giá, nhà quản lý biết được thành viên nào hoạt động có hiệu quả để từ đó có kế hoạch đầu tư hoặc loại bỏ kịp thời, tạo nên cấu trúc kênh tốt nhất đáp ứng được với sự đòi hỏi của thị trường

    Ứng dụng công nghệ đánh giá, quản lý hoạt động của các thành viên kênh

    Như đã nhấn mạnh ở trên, đánh giá hiệu quả các thành viên kênh là một yếu tố quan trọng trong hoạt động quản lý, phát triển kênh phân phối.

    Kênh phân phối nào đang hoạt động hiệu quả? Có bao nhiêu khách hàng đang thực sự hoạt động? Các khách hàng của doanh nghiệp tập trung ở đâu? Mỗi ngày hoạt động bán hàng tại các kênh diễn ra thế nào? Khi đặt ra các câu hỏi như vậy mà nhận về những cái lắc đầu thì đó là lỗi ở phân phối.

    Nhưng doanh nghiệp cũng không thể lúc được hỏi đến lại lôi sổ sách ra tính toán, lấy bản đồ ra khoanh vùng độ phủ khách hàng. Còn nhân viên bán hàng của bạn đang ở đâu? muốn biết lại phải gọi tới cả chục cú điện thoại,…. Doanh nghiệp đang phức tạp hóa hoạt động quản lý của mình.

    Lúc này, doanh nghiệp không thể phủ nhận và không nên còn nghi ngờ về mức độ cần thiết của các ứng dụng công nghệ trong quản lý kinh doanh. Một phần mềm DMS như MobiWork DMS có thể đơn giản hóa mọi hoạt động đánh giá, theo dõi và quản lý hiệu quả các kênh phân phối.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Và Tổ Chức Kênh Phân Phối
  • Cấu Trúc Các Kênh Phân Phối
  • Bài 2: Cấu Trúc Kênh Phân Phối
  • Cấu Trúc Kênh Phân Phối (Distribution Channel Structure) Là Gì?
  • Cấu Trúc Và Các Thành Viên Của Kênh Phân Phối
  • Cấu Tạo Của Vỏ Electron Nguyên Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Ê Tô Có Nghĩa Là Gì?
  • Fructozơ Là Gì? Định Nghĩa, Khái Niệm
  • Mosfet Là Gì ? Chức Năng Cấu Tạo Của Mosfet ?
  • Cấu Tạo Nguyên Lý Làm Việc Của Chống Sét Van (Lightning Arrester) Và Cầu Chì Tự Rơi Fco(Fuse Cut Out)
  • Fco Là Gì? Cấu Tạo, Thông Số Kỹ Thuật Cầu Chì Tự Rơi
  •  

     - Các electrron chuyển động rất nhanh (tốc độ hàng nghìn km/s) trong khu vực xung quanh hạt nhân nguyên tử không theo những quỹ đaọ xác định tạo nên vỏ nguyên tử.

     - Mỗi electron có một mức năng lượng xác định.

     - Các electron ở gần hạt nhân có mức năng lượng thấp hơn các electron ở xa hạt nhân và electron ở lớp ngoài cùng có mức năng lượng cao nhất và quyết định tính chất của một nguyên tố.

     

    II. Lớp electron và phân lớp electron

     

    1. Lớp e

     - Các electron trên cùng 1 lớp có mức năng lượng gần bằng nhau và xếp theo thứ tự mức năng lượng từ thấp đến cao, các lớp e này được ghi bằng các số nguyên tử theo thứ tự n = 1, 2, 3, 4… với tên gọi : K, L, M,N…

     

    2. Phân lớp electron

     - Mỗi lớp electron lại chia thành các phân lớp

     - Các electron trên cùng một phân lớp có mức năng lượng bằng nhau

     - Các phân lớp được kí hiệu bằng các chứ cái thường s, p, d, f

     - Số phân lớp trong mỗi lớp bằng số thứ tự của lớp đó

    III. Số electron tối đa trong một phân lớp, một lớp

    1. Số electron tối đa trong một phân lớp

     - Phân lớp s chứa tối đa 2 electron

     - Phân lớp p chứa tối đa 6 electron

     - Phân lớp d chứa tối đa 10 electron

     - Phân lớp f chứa tối đa 14 electron

    Phân lớp electron đã có đủ số electron tối đa gọi là phân lớp electron bão hòa.

     

    2. Số electron tối đa trong một lớp

      – Lớp K có n = 1 có số e tối đa là 2 = 2.12

      – Lớp L có n = 2 có số e tối đa là 8 = 2.22

     

      – Lớp n có số thứ tự của lớp n thì số e tối đa là 2.n2

     

    Lớp electron đã có đủ số electron tối đa gọi là lớp electron bão hòa.

     

    Trung tâm luyện thi, gia sư – dạy kèm tại nhà NTIC Đà Nẵng

     

     

    LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN CHI TIẾT

    ĐÀO TẠO NTIC  

    Địa chỉ: Đường nguyễn lương bằng, P.Hoà Khánh Bắc, Q.Liêu Chiểu, Tp.Đà Nẵng

    Hotline: 0905540067 - 0778494857 

    Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Giải Bài Tập Hóa 10 Chương Nguyên Tử Trang 30 Sgk
  • Vai Trò Của Thanh Quản Và Polype Thanh Quản Có Triệu Chứng Nào?
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Thanh Quản
  • Cấu Trúc Thanh Quản (Chuyên Sâu)
  • Dây Thần Kinh Sọ: Cấu Trúc Và Chức Năng
  • Thành Phần Cấu Tạo Nguyên Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 25. Kim Loại Kiềm Và Hợp Chất Quan Trọng Của Kim Loại Kiềm
  • Bài 28. Kim Loại Kiềm
  • Tính Chất Hoá Học Của Kim Loại Kiềm, Hợp Chất Của Kim Loại Kiềm Và Bài Tập
  • Tìm Hiểu Nguyên Lý Làm Việc Của Nhà Máy Điện Hạt Nhân
  • Nhà Máy Điện Hạt Nhân Có Kết Cấu Thế Nào?
  • I. Thành phần cấu tạo nguyên tử

    Từ những kết quả thực nghiệm, người ta chứng minh được xác định thành phần nguyên tử gồm có hạt nhân và lớp vỏ electron.

    1. Lớp vỏ electron

    Lớp vỏ electron gồm các hạt electron mang điện tích âm (-) chuyển động trong không gian xung quanh hạt nhân. Electron kí hiệu là e.

    • Khối lượng: me = 9,1094.10-31 kg
    • Điện tích: qe = -1,602.10-19 C (culông)
    • Điện tích của electron được kí hiệu là – eo và quy ước bằng 1-.

    2. Hạt nhân nguyên tử

    Hạt nhân nguyên tử gồm các hạt proton mang điện tích dương (+) và notron không mang điện. Hạt proton kí hiệu là p, hạt notron kí hiệu là n.

    • Khối lượng proton: mp = 1,6726.10-27 (kg)
    • Điện tích của proton: qp = + 1,602.10-19 C (culông)
    • Khối lượng notron: mn = 1,6748.10-27 (kg)
    • Điện tích của notron: qn = 0

    Như vậy, thành phần cấu tạo nguyên tử gồm:

    – Hạt nhân nguyên tử nằm ở tâm của nguyên tử gồm các hạt proton và notron.

    – Vỏ nguyên tử gồm các electron chuyển động xung quanh hạt nhân.

    Thành phần cấu tạo nguyên tử

    II. Kích thước và khối lượng của nguyên tử

    1. Kích thước nguyên tử

    • Kích thước của nguyên tử: mỗi nguyên tử có kích thước khoảng 10-10 m = 0,1 nm. Nguyên tử nhỏ nhất là nguyên tử H có bán kính r = 0,053 nm.
    • Đường kính của hạt nhân nguyên tử khoảng 10-5 nm.
    • Đường kính của e lectron và proton khoảng 10-8 nm.

    2. Khối lượng nguyên tử

    – Để biểu thị khối lượng của một nguyên tử, phân tử hay các hạt e, p, n, người ta dùng đơn vị khối lượng nguyên tử, kí hiệu là u. u còn được gọi là đvC.

    – 1u = 1/12 khối lượng của 1 nguyên tử đồng vị Cacbon 12. Nguyên tử này có khối lượng là 19,9265.10-27 kg.

    1u = 19,9265.10-27/12 ≈ 1,6605.10-27 kg

    Ví dụ:

    • Khối lượng của 1 nguyên tử H là 1,6738.10-27 ≈ 1u.
    • Khối lượng của 1 nguyên tử C là 9,9265.10-27 = 12 u.

    Bài tập về nguyên tử

    Bài 1. Các hạt cấu tạo nên hạt nhân của hầu hết các nguyên tử là:

    A. Electron và proton

    B. Proton và nơtron

    C. Nơtron và electron

    D. Electron, proton và nơtron

    Chọn đáp án đúng.

    Giải: chọn đáp án B

    Cấu tạo của hầu hết các hạt nhân nguyên tử là proton và nơtron, trừ hạt nhân nguyên tử của hiđro chỉ có proton.

    Bài 2. Các hạt cấu tạo nên hầu hết các nguyên tử là:

    A. Proton và electron

    B. Nơtron và electron

    C. Nơtron và proton

    D. Nơtron, proton và electron

    Giải: chọn đáp án D

    Các hạt cấu tạo nên hầu hết các nguyên tử là nơtron, proton và electron, trừ nguyên tử của hiđro chỉ có proton và electron.

    Bài 3. Nguyên tử có đướng kính lớn gấp khoảng 10 000 lần đường kính hạt nhân. Nếu ta phóng đại hạt nhân lên thành một quả bóng có đường kính 6 cm thì đường kính của nguyên tử sẽ là:

    A. 200 m

    B. 300 m

    C. 600 m

    D. 1200 m

    Giải: chọn đáp án C

    Đường kính nguyên tử sẽ là 6 x 10 000 = 60 000 cm = 600 m.

    Bài 4. Tìm tỉ số về khối lượng của electron sơ với proton và nơtron.

    Giải:

    Tỉ số về khối lượng của electron sơ với proton:

    (9,1095.10-31)/(1,6726.10-27) = 1/1836

    Tỉ số về khối lượng của electron sơ với nơtron:

    (9,1095.10-31)/(1,6748.10-27) = 1/1839

    Bài 5. Nguyên tử kẽm có bán kính r = 1,35.10-1 nm và có khối lượng nguyên tử là 65 u.

    a) Tính khối lượng riêng của nguyên tử kẽm.

    b) Thực tế hầu như toàn bộ khối lượng nguyên tử kẽm tập trung ở hạt nhân với bán kính r = 2.10-6 nm. Tính khối lượng riêng của hạt nhân nguyên tử kẽm.

    Cho biết V hình cầu = 4/3.π.r 3

    Giải:

    1 u = 1,6605.10-27 kg = 1,6605.10-24 g

    Lời Kết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Chuyên Đề Cấu Tạo Nguyên Tử (Lý Thuyết + Bài Tập)
  • Chuyên Đề: Cấu Tạo Nguyên Tử (P1)
  • Giải Sách Bài Tập Hóa Học 8
  • Cấu Tạo Của Kim Loại Và Vị Trí Của Kim Loại Trong Bảng Htth
  • Cách Giải Bài Tập Về Cấu Tạo Chất: Nguyên Tử, Phân Tử Cực Hay.
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100