Các Kiểu Cấu·tạo Từ Tiếng Việt

--- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Các Bộ Phân Của Cây Dừa, Các Giống Dừa
  • Đặc Điểm, Ý Nghĩa Và Cách Trồng Cây Dừa Cảnh
  • Thuốc Lá Điện Tử Không Giúp Người Nghiện Cai Thuốc Thành Công
  • Thước Lái, Bộ Đánh Lái Trên Ô Tô
  • Cấu Tạo Và Hoạt Động Của Hệ Thống Lái Trợ Lực Điện Eps
  • Các Kiểu Cấu Tạo Từ Tiếng Việt

    1. Từ đơn: là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập. Thí dụ: Nhà, xe, tập, viết, xanh,đỏ, vàng, tím,…

    – Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời. Một số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga,…

    – Xét về mặt ý nghĩa , từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội , các số đếm,…

    2. Từ ghép: là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa.

    Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể phân từ ghép ra làm 2 loại chính:

    2.1. Từ ghép đẳng lập:

    Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là:

    A. – Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng.

    B. – Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy:

    a.+ Hoặc các thành tố đồng nghĩa nhau, trong đó:

    * Có thể có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt. Ví dụ: bạn hữu, bụng dạ, máu huyết,…

    * Có thể cả hai yếu tố đều là Hán Việt. Ví dụ: tư duy, thổ địa, tiên lợi, cốt nhục,…

    * Có thể cả hai yếu tố đều là thuần Việt. Ví dụ: đợi chờ, máu mủ, xinh đẹp,…

    * Có thể có một yếu tố toàn dân và một yếu tố vố là từ địa phương. Ví dụ:Chân cẳng, bát đọi, chợ búa,…

    b.+ Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau. Thí dụ: thương nhớ, nhà cửa, áo quần, ăn uống, đi đứng,…

    c. + Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau. Thí dụ: đầu đuôi, sống chết, già trẻ, gần xa, trong ngoài,…

    C. – Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp ( tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát ).

    D. – Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp. Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập.

    E. – Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ là từ ghép đẳng lập gộp nghĩa, từ ghép đẳng lập đơn nghĩa và từ ghép đẳng lập hợp nghĩa.

    a. + Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa: bao gồm những từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A+B. Tức là loại mà nghĩa của từng thành tố cùng nhau gộp lại để biểu thị ý nghĩa khái quát chung của cả từ ghép, trong ý nghĩa chung đó có ý nghĩa riêng của từng thành tố. Chẳng hạn, từ quần áo chỉ đồ mặc nói chung, trong đó có cả quần lẫn áo.

    Một số ví dụ về từ ghép gộp nghĩa: điện nước, xăng dầu, tàu xe, xưa nay, chạy nhảy, học tập, nghe nhìn, thu phát, ăn uống, tốt đẹp, may rủi, hèn mọn,thầy trò, vợ con…

    b. + Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bao gồm từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A hoặc B. Tức là loại mà nghĩa khái quát chung của cả từ ghép tương ứng với ý nghĩa của một thành tố có mặt trong từ. Ví dụ: núi non, binh lính, thay đổi, tìm kiếm,…

    Do nghĩa của cả từ ghép tương đương với nghĩa của một thành tố nên thành tố còn lại có xu hướng bị mờ nghĩa hoặc bị mất nghĩa. Yếu tố này sẽ làm chỗ dựa cho ý nghĩa của cả từ ghép. Có thể nói sự mờ nghĩa của núc (bếp núc), búa ( chợ búa), pheo ( tre pheo) … chính là kết quả cực đoan của mô hình đơn nghĩa này.

    Một số ví dụ về từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bếp núc, chợ búa, đường sá, heo cúi, áo xống, ăn mặc, ăn nói, viết lách, …

    Chú ý về trật tự các thành tố trong từ ghép đẳng lập.

    Bàn về từ ghép đẳng lập, người ta thường bàn đến khả năng hoán vị giữa các thành tố. Tuy nhiên cần chú ý là khả năng ấy không xảy ra phổ biến đối với toàn bộ lớp từ ghép đẳng lập, và không phải xảy ra vô điều kiện trong mọi trường hợp. Về hiện tượng này có thể nêu mấy nhận xét chung như sau:

    d. + Có thể hoán vị được đối với một số từ ghép gộp nghĩa trường hợp không có yếu tố Hán – Việt. Thí dụ: quần áo – áo quần, rủi may – may rủi, tươi tốt – tốt tươi,…

    e. + Khả năng hoán vị ít xảy ra giữa các thành tố trong từ ghép đơn nghĩa, đặc biệt đối với trường hợp từ ghép có yếu tố mờ nghĩa, mất nghĩa.

    f. + Khả năng hoán vị bị sự khống chế của một số yêu cầu:

    * Không được phép làm thay đổi ý nghĩa của từ ghép ban đầu. Ví dụ: đi lại – lại đi ; cơm nước – nước cơm khác nghĩa.

    * Không đi ngược lại tập quán cổ truyền của dân tộc. Ví dụ: nam nữ – nữ nam; ông bà – bà ông, anh em – em anh, vua quan – quan vua,… không hoán vị được.

    * Không tạo nên những trật tự khó đọc. Chẳng hạn: sửa chữa dễ đọc hơn chữa sửa.

    2.2 Từ ghép chính phụ: Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp. Loại này có những đặc điểm sau:

    A. – Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hướng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể.

    B. – Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ tường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó.

    C. – Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép chính phụ thành hai tiểu loại:

    a. + Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật , hoạt động, đặc trưng, cụ thể. Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện tượng này là tác dụng phân loại. Thí dụ :

    • máy may, máy bay, máy bơm, máy nổ, máy tiện,…

    • làm việc, làm thợ , làm duyên, làm ruộng, làm dâu,…

    • vui tính, vui tai, vui mắt, vui miệng,…

    Chú ý, ở kiểu từ ghép này trật tự của các yếu tố trong từ ghép thuần Việt, hoặc Hán – Việt Việt hoá khác từ ghép Hán – Việt. ở hai trường hợp đầu, yếu tố chính thường đứng trước, ở trường hợp cuối, yếu tố phụ thường đứng trước. Ví dụ:

    • vùng biển, vùng trời, xe lửa, nhà thơ,…

    • hải phận, không phận, hỏa xa, thi sĩ,…

    b. + Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có tác bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa. Thí dụ , so sánh xanh lè với xanh và xanh biếc, …

    3. Từ láy:

    Cho đến nay, nhiều vấn đề của từ láy vẫn là những vấn đề còn để ngỏ.Về phương thức cấu tạo của từ láy, tồn tại hai ý kiến khác nhau: a.Từ láy là từ được hình thành do sự lặp lại của tiếng gốc có nghĩa ; b. Từ láy là từ được hình thành bằng cách ghép các tiếng dựa trên quan hệ ngữ âm giữa các thành tố. Theo ý kiến thứ nhất chỉ mới có thể lí giải được một số từ láy xác định được tiếng gốc, bên cạnh những từ ấy còn rất nhiều từ hiện không xác định được tiếng gốc (ví dụ: bâng khuâng, lẩm cẩm, bủn rủn, lã chã,…), hoặc những từ có dạng láy nhưng thực ra chúng vốn được tạo ra từ phương thức ghép ( ví dụ: hỏi han, chùa chiền, dông dài, tang tóc,…). Nhìn nhận từ láy theo ý kiến thứ hai lại không có tác dụng giúp ta thấy được những nét độc đáo về mặt ngữ nghĩa của kiểu cấu tạo từ này, không thấy được nét riêng của dân tộc ta trong việc sáng tạo những từ ngữ mới nhằm định danh sự vật mới một cách tiết kiệm mà lại có khả năng miêu tả sinh động, biểu cảm nhất. Có thể nói ý kiến thứ nhất đã nêu ra được những từ láy chân chính trong tiếng Việt. Tuy nhiên cần nhận thức được rằng ngôn ngữ không đứng yên mà luôn vận động, thay đổi theo sự phát triển của xã hội. Trong quá trình đó, những từ ghép có dạng láy và những từ láy chân chính đã hòa lẫn vào nhau mà ngay cả những nhà ngôn ngữ học cũng khó phát hiện và phân biệt được chúng trong nhiều trường hợp. Gần đây trong nhiều bài viết, các tác giả đã khôi phục được nghĩa của nhiều từ ghép có dạng láy bị mất nghĩa. Dẫu sao những từ này hiện nay cũng đã mang nhiều đặc điểm của từ láy ( về mặt ngữ nghĩa cũng như ngữ âm). Trong khi chờ đợi những cứ liệu lịch sử đầy đủ hơn nữa, có thể xem chúng là từ láy. Do vậy, đứng tên quan điểm đồng đại có thể nói từ láy là những từ gồm nhiều tiếng, giữa các tiếng có quan hệ ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa.

    3.1. Ðặc điểm của từ láy:

    A. – Giữa các tiếng trong từ láy có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm, biểu hiện ở một trong các dạng sau :

    + Hoặc giống nhau ở phần phụ âm đầu. Thí dụ: vắng vẻ, vui vẻ,…

    + Hoặc giống nhau ở phần vần. Thí dụ: co ro, lác đác, lung túng,…

    + Hoặc giống nhau ở cả phần phụ âm đầu lẫn phần vần. Thí dụ: đo đỏ, hao hao,…

    + Riêng thanh điệu, ở từ láy đôi thường tuân theo quy tắc biến thanh sau:

    Cao _ / ?

    Thấp . ~

    B. – Mối quan hệ về mặt ngữ âm trong từ láy tạo nên sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hóa ( Hoàng Văn Hành), tức là tạo ra một thứ ý nghĩa biểu trưng, ý nghĩa ấn tượng mà người bản ngữ tỏ ra nhạy cảm với nó hơn so với người không phải thuộc bản ngữ. Ðó là lí do giải thích vì sao trong tiếng Việt tồn tại nhiều từ láy rất khó lòng giải nghĩa, nhưng người bản ngữ nói chung vẫn cảm nhận được cái hay, vẫn dùng đúng và hiểu đúng, nhưng khó có thể giải thích tính đúng, tính hay đó cho người ngoại quốc học tiếng Việt. Chính vì vậy ở những từ ghép có các thành tố còn rõ nghĩa và có hiện tượng lặp âm ngẫu nhiên như tươi tốt, nam nữ, mặt mũi, hầm hố,…nhưng người bản ngữ không hề nghĩ đến chúng như là từ láy. ở đây ý nghĩa của từng thành tố trong từ còn quá rõ, chúng đã cản trở việc tạo ra một thứ ý nghĩa vốn mơ hồ, yếu ớt, mặc dù khá ổn định. Và ngược lại, khi trong từ ghép đẳng lập có xuất hiện yếu tố mờ nghĩa, người ta dễ cảm thụ chúng như là từ láy. Ðó là lí do giải thích tại sao những từ chùa chiền, hỏi han, đất đai, chim chóc, tuổi tác được nhiều người lĩnh hội như là từ láy.

    C. – Từ đó dẫn đến đặc điểm thứ ba, trong từ láy phải có ít nhất một yếu tố không độc (mờ nghĩa hay mất nghĩa). Như vậy, từ láy trong tiếng Việt có thể xảy ra hai trường hợp: a – Từ láy có một yếu tố độc lập ( hay tiếng gốc) và một yếu tố không độc lập ( hay tiếng láy); b – Từ láy có cả hai yếu tố đều không độc lập ( hay từ láy không có tiếng gốc).

    3.2 . Phân loại từ láy:

    Kết hợp tiêu chí số lượng tiếng với các bộ phận giống nhau trong từ, có thể phân từ láy thành các loại sau:

    A. – Từ láy đôi là từ láy gồm có 2 tiếng. Có các dạng cấu tạo láy đôi sau:

    a. + Từ láy bộ phận: Từ giống nhau ở phần vần hoặc phụ âm đầu.

    b. + Từ láy hoàn toàn: Ngoại trừ những từ láy bộ phận, còn lại là các từ láy hoàn toàn. Cụ thể gồm các dạng sau:

    * Giống cả phần vần, phụ âm đầu và thanh điệu.

    Thí dụ: đùng đùng, lù lù, vàng vàng,…

    * Giống phần vần, phụ âm đầu, khác nhau thanh điệu.

    Thí dụ: đu đủ, cỏn con, đo đỏ, tím tím,…

    * Giống nhau phụ âm đầu và âm chính, khác nhau ở thanh điệu và phụ âm cuối do sự chi phối của quy luật dị hóa.

    Thí dụ: đèm đẹp, bàng bạc,sành sạch, tôn tốt,…

    Dạng biến đổi này xảy ra trong các trường hợp các tiếng gốc có phụ âm cuối là -p, -t, -k ( thể hiện trên chữ viết là c và ch ). Trong trường hợp này, thanh điệu cũng biến đổi theo quy luật vừa nói trên. Còn phụ âm cuối biến đổi theo quy luật là tiếng gốc tận cùng bằng các phụ âm tắc-vô thanh sẽ được chuyển thành các phụ âm mũi-hữu thanh ở tiếng láy. Cụ thể:

    Tiếng gốc Tiếng láy

    ( Âm tắc, vô thanh) ( Âm mũi – hữu thanh)

    ăm ấp – p – m

    phơn phớt – t – n

    bàng bạc, sành sạch – k – ng ( thể hiện trên chữ ng và nh)

    B. – Từ láy ba và láy tư:

    Từ láy ba: chủ yếu dựa trên cơ chế láy hoàn toàn.

    Từ láy ba có kiểu phối thanh thường gặp là:

    -Tiếng thứ hai mang thanh bằng (thường xuất hiện thanh huyền hơn thanh ngang).

    -Tiếng thứ nhất và tiếng thứ ba đối lập nhau về bằng / trắc hoặc về âm vực cao / thấp.

    Ví dụ cho trường hợp thứ nhất: dửng dừng dưng, cỏn còn con, sạch sành sanh, khỏe khòe khoe,…

    Ví dụ cho trường hợp thứ hai: khít khìn khịt, sát sàn sạt, xốp xồm xộp,…

    Từ láy ba dạng láy bộ phận chiếm số lượng rất ít. Ví dụ: tơ lơ mơ, tù lù mù,…

    Từ láy tư: Phần lớn từ láy dựa trên cơ sở từ láy đôi, một số ít có phần gốc là từ ghép.

    + Láy bộ phận kết hợp với đổi vần -a, -à hay -ơ.

    Ví dụ: ấm ớ — ấm a ấm ớ

    hì hục — hì hà hì hục

    sớn sát — sớn sơ sớn sát

    + Láy toàn bộ kết hợp với biến thanh.

    Ví dụ: bồi hồi — bổi hổi bồi hồi

    lảm nhảm — lảm nhảm làm nhàm

    + Láy bộ phận kết hợp với tách, xen .

    Ví dụ: thơ thẩn — lơ thơ lẩn thẩn

    nhồm nhoàm — lồm nhồm loàm nhoàm

    + Láy toàn bộ kết hợp với tách, xen

    Ví dụ: hăm hở — hăm hăm hở hở

    vội vàng — vội vội vàng vàng

    3 3. ý nghĩa của từ láy.

    ở đây, ta chủ yếu bàn về từ láy đôi.

    Xét tác dụng của các tiếng tham gia cấu tạo nghĩa của từ láy, có thể chia từ láy nói chung thành 3 nhóm :

    A. Từ láy phỏng thanh: là từ láy trong đó không xác định được tiếng gốc, các tiếng được hình thành và được ghép lại dựa vào sự mô phỏng âm thanh của các sự sật, hiện tượng trong thực tế. Cụ thể, đấy có thể là sự nhại lại âm thanh của đối tượng. Ví dụ: oa oa, gâu gâu, đùng đùng,…; hay dựa vào mô phỏng âm thanh để định danh cho đối tượng. Thí dụ: con bìm bịp, xe cút kít, chim tu hú,…

    B. Từ láy sắc thái hóa: là những từ mà trong đó có một yếu tố gốc và một hoặc hơn một yếu tố láy . Yếu tố gốc chi phối nghĩa của toàn bộ từ láy, yếu tố còn lại có tác dụng bổ sung một sắc thái nghĩa nào đó khiến cho từ láy khác với phần gốc khi nó đứng một mình và khác với từ láy khác có cùng yếu tố gốc. Ví dụ, so sánh bối rối với rối rắc rối, rối ren, rối rít; dễ dãi với dễ, dễ dàng; xanh xanh với xanh và xanh xao,…Xét về mặt phạm vi biểu vật của từ láy so với tiếng gốc, cần phân biệt hai trường hợp: thứ nhất là từ láy phi cá thể hóa – những từ mà ý nghĩa biểu thị phạm vi sự vật rộng hơn so với tiếng gốc; thứ hai là từ láy cụ thể hóa những từ mà ý nghĩa biểu thị phạm vi sự vật hẹp hơn so với tiếng gốc. Ví dụ cho trường hợp thứ nhất như: chim chóc, mùa màng, hội hè,…Ví dụ cho trường hợp thứ hai như: dễ dàng, dễ dãi, bối rối, rắc rối, rối rít, xanh xanh, xanh xao,…

    Có thể nêu ra một số mô hình ngữ nghĩa tương đối thuần nhất của một số kiểu láy như sau:

    – Kiểu từ láy toàn bộ:

    + Tiếng gốc gốc tính từ, kiểu L( láy).G( gốc).

    * L. có thanh bằng: thường diễn đạt tính chất hoặc đặc điểm mang ý nghĩa giảm nhẹ. Ví dụ: kha khá, đo đỏ, tôn tốt,…

    * L. có thanh trắc: thường diễn đạt tính chất hoặc đặc điểm có cường độ gia tăng. Ví dụ: cỏn con, tẻo teo,…

    + Tiếng gốc gốc động từ: thường diễn đạt các hành động lặp đi lặp lại một cách đều đặn và kèm với quá trình lặp lại đó, cường độ của hành động mang tính chất giảm nhẹ. Ví dụ: gật gật, lắc lắc, rung rung,…

    + Tiếng gốc gốc danh từ: thường diễn tả sự lặp đi lặp lại của các sự kiện, hiện tượng. Ví dụ: ngày ngày, người người, nhà nhà,…

    – Kiểu láy âm:

    * Kiểu G. L( -ăn): thường diễn tả tính chất hoặc đặc điểm đạt chuẩn mực. Ví dụ: đầy đặn, vuông vắn, ngay ngắn, thẳng thắn,…

    * Kiểu L (-âp). G ( gốc động từ) : thường diễn tả hành động không ổn định tại chỗ hoặc diễn ra theo tình thế hiện ra biến mất. Ví dụ: lấp ló, thập thò, nhấp nháy,…

    C. Từ láy âm cách điệu: là từ láy không chứa bộ phận còn đủ rõ nghĩa từ vựng, hoặc vẫn có thể chứng minh nghĩa của một bộ phận nào đó nhưng nó không còn tác dụng làm cơ sở nghĩa của toàn từ nữa. Ví dụ: bâng khuâng, linh tinh, thình lình,…Lọai này hiện chiếm một số lượng khá lớn trong tiếng Việt. Theo Diệp Quang Ban, đây là kiểu láy thuần khiết nhất, tiêu biểu cho toàn bộ từ láy – một kiểu cấu tạo từ lấy sự hòa phối ngữ âm tạo ý nghĩa biểu trưng làm cơ sở. Về mô hình ngữ nghĩa của kiểu từ láy này vẫn là một vấn đề còn đang để ngỏ. Phi Tuyết Hinh trong bài Từ láy không rõ thành tố gốc và vấn đề biểu trưng ngữ âm trong từ biểu tượng tiếng Việt đã cố gắng mô hình hóa nghĩa của kiểu từ này dựa vào các đặc điểm cấu âm – âm học của chúng.

    4. Từ ngẫu hợp : Ngoại trừ các trường hợp trên, còn lại là các từ ngẫu hợp. Ðấy là trừơng hợp mà giữa các tiếng không có quan hệ ngữ âm hay ngữ nghĩa. Thí dụ: cà phê, a xít, a pa tít,…cổ hũ, mè nheo, ba láp, ba hoa, bồ hóng,…

    • Chú ý:

    1. Hiện tượng chuyển di kiểu cẩu tạo từ trong tiếng Việt:

    Không kể từ đơn và từ ngẫu hợp, tiếng Việt có 3 kiểu cấu tạo từ cơ bản cùng với các kiểu nhỏ là:

    – Từ ghép đẳng lập: gộp nghĩa, hợp nghĩa, đơn nghĩa.

    – Từ ghép chính phụ: dị biệt, sắc thái hoá.

    – Từ láy: phỏng thanh, sắc thái hóa, cách điệu.

    Xét các đơn vị trên trục đồng đại hay lịch đại, ở bình diện ngôn ngữ hay lời nói, việc nhận thức về kiểu cấu tạo lớn nhỏ của chúng có thể di chuyển khá phức tạp, làm cho con đường phân giới giữa chúng có thể bị nhòe đi. Trong những trường hợp đó, nếu thiên về mặt này thì từ đang xét được xếp vào kiểu cấu tạo này, nhưng nếu thiên về mặt khác thì nó thuộc kiểu cấu tạo khác.

    Chẳng hạn từ chùa chiền, đất đai, hỏi han, xét về mặt lịch sử chúng là từ ghép đẳng lập, tuy nhiên do sự tác động của phương thức cấu tạo từ và mô hình ngữ nghĩa ( nghĩa khái quát của A+B = A hoặc B) đã làm cho nghĩa của một trong hai yếu tố bị mờ nghĩa. Ngoài ra do sự trùng hợp ngẫu nghiên về mặt ngữ âm đã làm cho người bản ngữ hiện đại nhận diện chúng như là những từ láy. Xuất phát từ đặc điểm vừa nêu, trong tiếng Việt ngày nay tồn tại nhiều từ có thể có hai hướng nhìn nhận như học hành, hình hài, nhăn nheo, chăm chú, đền đài,…Như vậy, để biện luận kiểu cấu tạo của một từ, cần dựa vào một tiêu chí rõ ràng, dứt khoát. Trong khi chờ đợi những phát hiện mới mẻ hơn nữa của ngôn ngữ học lịch sử, ta có thể dựa vào tiêu chí đồng đại để xác định kiểu cấu tạo của từ.

    Việc nhận thức các tiểu loại trong từ ghép đẳng lập cũng không nhất thành bất biến nếu xét từ ở bình diện ngôn ngữ hay lời nói. Trong sử dụng có thể xảy ra hiện tượng chuyển di từ tiểu loại này sang tiểu loại khác đối với những từ cụ thể. Ví dụ:

    – Cửa hàng ăn uống ( gộp nghĩa); ở đây ăn uống khá thật ( rất có thể là đơn nghĩa, chỉ nói về ăn đối với các nhà ăn tập thể).

    – Cơm nước đã sẵn sàng ( gộp nghĩa); cơm nước chán quá ( rất có thể đơn nghĩa).

    – Ăn ở dơ dáy ( gộp nghĩa); ăn ở với nhau được hai mụn con ( chỉ sự chung sống với nhau ), ăn ở chí tình sự ( chỉ sự cư xử với nhau trong xã hội). Hai trường hợp sau này chúng được chuyển nghĩa trên cơ sở nghĩa thứ nhất. Do đó muốn xác định được kiểu cấu tạo của chúng ta phải dựa vào ngữ cảnh cụ thể và biện luận rõ ràng.

    2. Các tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt.

    Như ta đã biết, vốn từ tiếng Việt vô cùng phong phú, mỗi từ đều được cấu tạo theo một phương thức nhất định và mang một ý nghĩa nhất định. Các kiểu cấu tạo từ giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nên nội dung ý nghĩa của từ. Chính vì vậy, trong chương trình Tiếng Việt ở bậc phổ thông cơ sở và trung học, nội dung xác định các kiểu cấu tạo từ rất được những nhà giáo dục quan tâm. Tuy nhiên ở các cấp học này vấn đề tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ không phải đã sáng rõ, đặc biệt là ranh giới giữa từ láy và từ ghép. Ðể có thể xác định các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt một cách nhất quán, cần dựa trên những tiêu chí rõ ràng. Dựa vào những vấn đề có tính chất lí thuyết về các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt đã nêu, ta có thể nêu lên và áp dụng một cách tuần tự các tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt sau dây:

    – Về góc nhìn, trong khi chờ đợi những cứ liệu lịch sử đủ rõ, ta có thể xét từ tiếng Việt dựa trên quan điểm đồng đại, tức dựa vào sự nhận thức chung của người bản ngữ đương đại về nghĩa của các yếu tố cấu tạo từ.

    – Dựa vào số lượng tiếng trong từ. Nếu từ có một tiếng ( dĩ nhiên là tiếng độc lập) thì đó là từ đơn. Nếu từ có hơn một tiếng thì đó là từ phức.

    – ở những từ phức, để xác định cụ thể các kiểu cấu tạo từ, ta lại tiếp tục dựa vào quan hệ giữa các thành tố.

    + Nếu giữa các thành tố trong từ phức có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm, đồng thời trong đó có yếu tố không độc lập và không mang nghĩa thực thì đó là từ láy ( Ví dụ: vắng vẻ, dễ dàng, sạch sẽ,…). Tiêu chí này sẽ loại trừ các trường hợp các từ ghép có quan hệ ngẫu nhiên về mặt ngữ âm ( như hầm hố, máu mủ, tốt tươi,…). ở những từ láy ta lại tiếp tục dựa vào số lượng tiếng, dựa vào các bộ phận giống nhau trong từ để xác định các từ láy đôi, láy ba, các từ láy bộ phận hay hoàn toàn, láy âm hay láy vần.

    + Nếu giữa các thành tố trong từ phức có quan hệ với nhau về mật ngữ nghĩa thì đó là từ ghép. ở từ ghép, ta lại tiếp tục dựa vào các mô hình ngữ nghĩa cụ thể của từng từ để xác định các kiểu cấu tạo cụ thể. Nếu một tổ hợp tiếng gợi lên các sự vật mang ý nghĩa khái quát, tổng loại thì đó là từ ghép đẳng lập. Còn nếu một tổ hợp nêu lên một phạm vi sự vật mang ý nghĩa cụ thể thì đó là từ ghép chính- phụ.

    + Nếu giữa các thành tố không có quan hệ ngữ âm hoặc ngữ nghĩa thì đó là từ ngẫu hợp.

    Nguồn:

    http://cadao.org/index.php?option=com_content&view=article&id=841:cac-kiu-cu-to-t-ting-vit&catid=63:th-ng&Itemid=91

    Bình chọn

    Chia sẻ:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Đèn Huỳnh Quang Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Nó
  • Đèn Huỳnh Quang Là Gì? Cấu Tạo Của Đèn Ống Huỳnh Quang…
  • Cáp Quang Là Gì? Cấu Tạo Và Ứng Dụng Cáp Quang
  • Cáp Quang Là Gì? Cấu Tạo Và Ứng Dụng Của Cáp Quang Như Thế Nào?
  • Tổng Hợp Lý Thuyết Hoá Hữu Cơ Phần Hiđrocacbon Đầy Đủ Nhất
  • Các Kiểu Cấu Tạo Từ Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • 6.2 Kết Cấu Và Thông Số Hình Học Của Dao Phay – Lập Trình Vận Hành Máy Cnc
  • Dao Phay Là Gì? Dao Phay Mặt Đầu
  • Tên Gọi Và Cách Sử Dụng Dao Phay Trong Gia Công Cnc
  • Đá Thạch Anh Là Gì? 10 Tác Dụng Trong Đời Sống & Phong Thủy
  • 3 Công Nghệ Sản Xuất Đá Thạch Anh Nhân Tạo Tốt Nhất Hiện Nay
  • 1. TỪ ĐƠN

     Từ đơn là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập. Thí dụ: Nhà, xe, tập, viết, xanh, đỏ, vàng, tím,…

    – Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời. Một số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga,…

    – Xét về mặt ý nghĩa , từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội , các số đếm,…

    2. TỪ GHÉP

    Từ ghéplà những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa.

    Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể phân từ ghép ra làm 2 loại chính:

    2.1. Từ ghép đẳng lập:

    Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là:

    – Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng.

    – Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy:

    + Hoặc các thành tố đồng nghĩa nhau, trong đó:

    Có thể có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt. Ví dụ: bạn hữu, bụng dạ, máu huyết,…

    Có thể cả hai yếu tố đều là Hán Việt. Ví dụ: tư duy, thổ địa, tiện lợi, cốt nhục,…

    Có thể cả hai yếu tố đều là thuần Việt. Ví dụ: đợi chờ, máu mủ, xinh đẹp,…

    Có thể có một yếu tố toàn dân và một yếu tố vố là từ địa phương. Ví dụ: chân cẳng, bát đọi, chợ búa,…

    + Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau. Thí dụ: thương nhớ, nhà cửa, áo quần, ăn uống, đi đứng,…

    + Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau. Thí dụ: đầu đuôi, sống chết, già trẻ, gần xa, trong ngoài,…

    – Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp (tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát).

    – Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp. Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập.

    – Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ là từ ghép đẳng lập gộp nghĩa, từ ghép đẳng lập đơn nghĩa và từ ghép đẳng lập hợp nghĩa.

    + Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa: bao gồm những từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A+B. Tức là loại mà nghĩa của từng thành tố cùng nhau gộp lại để biểu thị ý nghĩa khái quát chung của cả từ ghép, trong ý nghĩa chung đó có ý nghĩa riêng của từng thành tố. Chẳng hạn, từ quần áo chỉ đồ mặc nói chung, trong đó có cả quần lẫn áo.

    Một số ví dụ về từ ghép gộp nghĩa: điện nước, xăng dầu, tàu xe, xưa nay, chạy nhảy, học tập, nghe nhìn, thu phát, ăn uống, tốt đẹp, may rủi, hèn mọn,thầy trò, vợ con…

    + Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bao gồm từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A hoặc B. Tức là loại mà nghĩa khái quát chung của cả từ ghép tương ứng với ý nghĩa của một thành tố có mặt trong từ. Ví dụ: núi non, binh lính, thay đổi, tìm kiếm,…

    Do nghĩa của cả từ ghép tương đương với nghĩa của một thành tố nên thành tố còn lại có xu hướng bị mờ nghĩa hoặc bị mất nghĩa. Yếu tố này sẽ làm chỗ dựa cho ý nghĩa của cả từ ghép. Có thể nói sự mờ nghĩa của núc (bếp núc), búa (chợ búa), pheo (tre pheo) … chính là kết quả cực đoan của mô hình đơn nghĩa này.

    Một số ví dụ về từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bếp núc, chợ búa, đường sá, áo xống, ăn mặc, ăn nói, viết lách, …

    Chú ý về trật tự các thành tố trong từ ghép đẳng lập.

    Bàn về từ ghép đẳng lập, người ta thường bàn đến khả năng hoán vị giữa các thành tố. Tuy nhiên cần chú ý là khả năng ấy không xảy ra phổ biến đối với toàn bộ lớp từ ghép đẳng lập, và không phải xảy ra vô điều kiện trong mọi trường hợp. Về hiện tượng này có thể nêu mấy nhận xét chung như sau:

    + Có thể hoán vị được đối với một số từ ghép gộp nghĩa trường hợp không có yếu tố Hán – Việt. Thí dụ: quần áo – áo quần, rủi may – may rủi, tươi tốt – tốt tươi,…

    + Khả năng hoán vị ít xảy ra giữa các thành tố trong từ ghép đơn nghĩa, đặc biệt đối với trường hợp từ ghép có yếu tố mờ nghĩa, mất nghĩa.

    + Khả năng hoán vị bị sự khống chế của một số yêu cầu:

    Không được phép làm thay đổi ý nghĩa của từ ghép ban đầu. Ví dụ: đi lại – lại đi ; cơm nước – nước cơm khác nghĩa.

    Không đi ngược lại tập quán cổ truyền của dân tộc. Ví dụ: nam nữ – nữ nam; ông bà – bà ông, anh em – em anh, vua quan – quan vua,… không hoán vị được.

    Không tạo nên những trật tự khó đọc. Chẳng hạn: sửa chữa dễ đọc hơn chữa sửa.

    2.2. Từ ghép chính phụ:

    Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp. Loại này có những đặc điểm sau:

    – Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hướng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể.

    – Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ tường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó.

    – Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép chính phụ thành hai tiểu loại:

    + Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật , hoạt động, đặc trưng, cụ thể. Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện tượng này là tác dụng phân loại. Thí dụ :

    • máy may, máy bay, máy bơm, máy nổ, máy tiện,…

    • làm việc, làm thợ , làm duyên, làm ruộng, làm dâu,…

    • vui tính, vui tai, vui mắt, vui miệng,…

    Chú ý, ở kiểu từ ghép này trật tự của các yếu tố trong từ ghép thuần Việt, hoặc Hán – Việt Việt hoá khác từ ghép Hán – Việt. ở hai trường hợp đầu, yếu tố chính thường đứng trước, ở trường hợp cuối, yếu tố phụ thường đứng trước. Ví dụ:

    • vùng biển, vùng trời, xe lửa, nhà thơ,…

    • hải phận, không phận, hỏa xa, thi sĩ,…

    + Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có tác bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa. Thí dụ , so sánh xanh lè với xanh và xanh biếc, …

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

     

    Trang: 1 2 3

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Kiểu Câu Vị Ngữ Danh Từ Tiếng Việt
  • Trang Chuyên Ngôn Ngữ Học
  • Khái Niệm Về Hình Học Của Dao Tiện Và Dao Phay – Phần Mềm Kỹ Thuật
  • Tìm Hiểu Về Dao Tiện Trong Gia Công Cnc
  • 1.1. Thành Phần Kết Cấu Của Dao Tiện (Dao Cắt Đơn) – Lập Trình Vận Hành Máy Cnc
  • Nêu Cấu Tạo Của Từ Hán Việt?nêu Cấu Tạo Của Từ Láy?nêu Cấu Tạo Của

    --- Bài mới hơn ---

  • Bai Soạn Lớp 7: Từ Hán Việt
  • Tiết 3: Từ Và Cấu Tạo Từ Tiếng Việt Tit3 Doc
  • Các Phương Thức Cấu Tạo Từ Mới
  • Top 6 Bài Soạn “từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt” Lớp 6 Hay Nhất
  • Bộ Đề Thi Hsg Lớp 5 Môn Tiếng Việt Cực Hay
  • – Khái niệm: từ láy là từ đc tạo bởi các tiếng giống nhau về vần, tiếng đứng trước hoặc tiếng đứng sau. Trong các tiếng đó có 1 tiếng có nghĩa hoặc tất cả đều không có nghĩaVí dụ: Từ “bảnh bao” là từ láy có âm đầu “b” giống nhau, trong đó có từ “bảnh” là có nghĩa, còn từ “bao” là từ không có nghĩa.- Có hai loại từ láy: từ láy toàn bộ, từ láy bộ phận+ Từ láy toàn bộ, các tiếng lặp lại với nhau hoàn toàn; nhưng có một số trường hợp tiếng trước biển đổi thanh điệu hoặc phụ âm cuối (để tạo ra sự hài hòa về âm thanh)Ví dụ: thăm thẳm, thoang thoảng…+ Từ láy bộ phận, giữa các tiếng có sự giống nhau về phụ âm đầu hoặc phần vần. Có hai loại từ láy bộ phận là láy âm và láy vầnVí dụ:+ Từ láy âm: chậm chạp, chần chừ, mếu máo đều là từ láy có âm đầu giống nhau+ Từ láy vần: liêu xiêu, bỡ ngỡ, bứt dứt đều là từ láy có vần giống nhau

    – Khái niệm: Từ ghép là những từ được tạo ra bằng cách ghép các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa.Ví dụ: tiếng “bàn” và “ghế” đều có quan hệ với nhau về nghĩa là đều chỉ loại đồ dùng và đikèm với nhau nên tạo thành từ ghép là “bàn ghế”- Phân loại từ ghép:+) Từ ghép chính phụ (còn gọi là từ ghép phân loại): Từ ghép chính phụ có tiếng chính và tiếng phụ bổ sung nghĩa cho tiếng chính. tiếng chính đứng trước, tiếng phụ đứng sau. Từ ghép chính phụ có tính chất phân nghĩa. Nghĩa của từ ghép chính phụ hẹp hơn nghĩa của tiếng chính.Ví dụ: từ “hoa hồng” có tiếng chính là “hoa”, tiếng phụ là tiếng “hồng” bổ sung cho tiếng chính. Nghĩa của từ “hoa hồng” hẹp hơn nghĩa của từ “hoa”+) Từ ghép đẳng lập (còn gọi là từ ghép tổng hợp): Từ ghép đẳng lập có các tiếng bình đẳng về mặt ngữ pháp ( không phân ra tiếng chính, tiếng phụ). Từ ghép đẳng lập có tính chất hợp nghĩa. Nghĩa của từ ghép đẳng lập khái quát hơn nghĩa của các tiếng tạo nên nó.Ví dụ: từ “nhà cửa” có tiếng “nhà” và tiếng “cửa” bình đẳng về mặt ngữ pháp, nghĩa khái quát hơn nghĩa của các tiếng tạo nên tiếng “nhà cửa”+ Tác dụng: dùng để định danh sự vật, hiện tượng, để nêu đặc điểm, tính chất, trạng thái của sự vật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Lý Hoạt Động Của Idling Stop Trên Xe Honda, Các Hư Hỏng Và Cách Khắc Phục
  • Nguyên Lý Hoạt Động Của Hệ Thống Khởi Động Acg Trên Xe Honda
  • Động Cơ Một Chiều Không Chổi Than
  • Nguyên Tắc Hoạt Động Của Máy Đề
  • Nắm Vững Cấu Trúc Phó Từ, Không Lo Mắc Bấy Bài Thi Ngữ Pháp
  • Những Điều Cần Biết Về Cấu Trúc Đề Thi Toeic Kiểu Mới 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Trúc Đề Thi Toeic Format Mới
  • Thực Hư Cấu Trúc Đề Thi Toeic Có Độ Khó Tăng Cao Và Những Lưu Ý Khi Ôn Thi!
  • Những Điều Cần Biết Về Cấu Trúc Đề Thi Toeic Cũ Và Mới 2022
  • Cấu Trúc Đề Thi Toeic 2022 Bạn Không Thể Bỏ Qua
  • Cấu Trúc Đề Thi Toeic 2022 Và Những Điều Bạn Cần Biết
  • Vào ngày 15/8/2018, tổ chức giáo dục IIG Việt Nam – đại diện quốc gia của Viện Khảo thí giáo dục Hoa Kỳ (ETS) đã đưa ra thông báo chính thức về việc cập nhật cấu trúc đề thi TOEIC mới tại Việt Nam:

    “Thông báo về việc cập nhật cấu trúc bài thi TOEIC tại Việt Nam

    Kính gửi Quý khách hàng,

    Tổ chức giáo dục IIG Việt Nam – đại diện quốc gia của Viện Khảo thí giáo dục Hoa Kỳ (ETS) xin thông báo bài thi TOEIC sẽ chính thức được cập nhật cấu trúc mới từ ngày 15/02/2019 tại Việt Nam. Theo đó, những câu hỏi trong bài thi TOEIC sẽ được thiết kế bám sát xu hướng sử dụng tiếng Anh mới trong môi trường làm việc và giao tiếp thường ngày tại các vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới. Ngoài ra sẽ không có bất cứ sự thay đổi khác biệt nào về thang điểm, mức độ khó dễ, số lượng và độ dài các phần thi.

    Để có sự chuẩn bị và ôn tập tốt nhất cho bài thi TOEIC theo format mới, thí sinh có thể download bài thi mẫu

    Trân trọng thông báo!

    *UPDATE: Theo thông báo mới nhất của Viện Khảo thí Giáo dục Hoa Kỳ (ETS), tại Việt Nam thời gian chính thức áp dụng bài thi TOEIC cập nhật sẽ bắt đầu từ ngày 01/06/2019, thay vì ngày 15/02/2019 như đã thông báo trước đây.

    Tổ chức giáo dục IIG Việt Nam – Đại diện độc quyền của ETS tại Việt Nam”

    -Số lượng câu hỏi trong một bài thi TOEIC mới vẫn giữ nguyên, tuy nhiên số câu hỏi sẽ được chuyển dịch giữa các phần khác nhau, đồng thời sẽ có thêm một số thay đổi tùy theo từng Part khác nhau. Cụ thể như sau:

    1. Part 1: Mô tả tranh

    -Số lượng câu hỏi: 6 (cũ: 10 câu)

    -Với mỗi câu hỏi, thí sinh sẽ xem một bức tranh trong cuốn đề thi và nghe 4 câu miêu tả ngắn, được nói một lần. Những câu miêu tà này không có trong đề thi, vì vậy thí sinh phải chú ý lắng nghe để hiểu nội dung. Khi nghe, thí sinh nhìn vào hình ảnh trong cuốn đề thi và chọn câu miêu tả phù hợp nhất với hình ảnh, sau đó tô vào phương án trả lời tương ứng trong bản Answer Sheet.

    Lưu ý: Part 1 TOEIC chỉ thay đổi số lượng câu hỏi và chưa hề có các dạng bài tập mới. Tuy nhiên, đây lại là một trong những phần khá dễ lấy điểm đối với cấu trúc đề thi TOEIC từ 2022 về trước thì nay số lượng câu đã giảm đi khá nhiều nên sẽ khó khăn hơn cho các bạn phải ôn luyện theo dạng đề mới này.

    2. Part 2: Hỏi – đáp

    -Số lượng câu hỏi: 25 (cũ: 30 câu)

    – Mỗi câu hỏi trong phần này sẽ có 3 phương án trả lời. Các câu hỏi và trả lời sẽ chỉ được nói một lần và không có trong cuốn đề thi, vì vậy thí sinh phải chú ý lắng nghe để hiểu nội dung. Đối với mỗi câu hỏi thí sinh chỉ được phép chọn một phương án trả lời duy nhất.

    Lưu ý: Việc thay đổi sẽ gây khó khăn cho các bạn học theo mẹo, hay những bạn ôn luyện phần nghe chưa thực sự tốt, cụ thể:

    • Bài nghe Part 2 sẽ có thêm các câu không đầy đủ chủ ngữ – vị ngữ (Yes, in a minute…).

    3. Part 3: Đoạn hội thoại

    -Số lượng câu hỏi: 39 (cũ: 30 câu)

    -Trong phần này, thí sinh sẽ nghe 13 đoạn hội thoại ngắn, không được in trong cuốn đề thi và chỉ đươc nói một lần. Vì vậy, thí sinh phải chú ý lắng nghe để hiểu được nội dung của các đoạn hội thoại.

    -Đối với mỗi đoạn hội thoại sẽ có 3 câu hỏi và mỗi câu hỏi có 4 phương án trả lời được in trong cuốn đề thi. Thí sinh sẽ chọn một phương án trả lời đúng nhất và tô vào chữ cái tương ứng trong bản Answer Sheet.

    Lưu ý:

    • Một số đoạn hội thoại sẽ có 3 người nói chuyện (cũ chỉ 2 người).
    • Một vài câu hỏi sẽ yêu cầu thí sinh hiểu được ngụ ý của câu hỏi trong các ngữ cảnh nhất định.
    • Có thêm câu hỏi yêu cầu thí sinh cần có sự liên kết giữa thông tin nghe được với biểu đồ, bảng biểu trong bài.
    • Bài nghe có thêm các câu không đầy đủ chủ ngữ – vị ngữ (Yes, in a minute…).

    4. Part 4: Bài nói chuyện ngắn

    -Số lượng câu hỏi: 30 – giữ nguyên

    -Trong phần này, thí sinh sẽ nghe 10 bài nói chuyện ngắn, được nói một lần và không in trong cuốn đề thi. Vì vậy, thí sinh phải chú ý lắng nghe để hiểu rõ nội dung.

    -Mỗi bài nói chuyện sẽ có 3 câu hỏi. Mỗi câu hỏi sẽ có 4 phương án trả lời được in trong cuốn đề thi. Thí sinh sẽ chọn phương án đúng nhất và tô vào chữ cái tương ứng trong bản Answer Sheet.

    Lưu ý:

    • Một vài câu hỏi sẽ yêu cầu thí sinh hiểu được ngụ ý của câu hỏi trong các ngữ cảnh nhất định.
    • Có thêm câu hỏi yêu cầu thí sinh cần có sự liên kết giữa thông tin nghe được với biểu đồ, bảng biểu trong bài.

    -Số lượng câu hỏi: 30 (cũ: 40 câu)

    – Phần này bao gồm các câu chưa hoàn thành với 4 từ hoặc cụm từ được đánh dấu tương ứng A, B, C, hoặc D. Thí sinh sẽ lựa chọn một trong số những từ hoặc cụm từ phù hợp nhất, sau đó tô vào phương án trả lời tương ứng trong bản Answer Sheet.

    2. Part 6: Hoàn thành đoạn văn

    -Số lượng câu hỏi: 12 (cũ: 16 câu)

    -Phần này sẽ có 4 bài đọc ngắn, mỗi bài đọc có 3 chỗ trống cần điền từ hoặc cụm từ. Mỗi chỗ trống là một câu hỏi và có 4 phương án trả lời là những từ hoặc cụm từ được đánh dấu A, B, C, hoặc D tương ứng. Trong 4 từ hoặc cụm từ đó, thí sinh sẽ lựa chọn một từ hoặc cụm từ phù hợp nhất để điền vào chỗ trống và tô vào phương án trả lời tương ứng trong bản Answer Sheet.

    Lưu ý:

      Dạng câu hỏi sẽ yêu cầu thí sinh điền một câu vào chỗ trống thay vì chỉ một từ, cụm từ như trước.

    3. Part 7: Đọc hiểu văn bản

    -Số lượng câu hỏi: 25 (cũ: 20 câu)

    Lưu ý:

    • Thêm bài đọc có 3 đoạn văn nhỏ.
    • Có thêm bài đọc dạng tin nhắn điện thoại, tin nhắn chat…
    • Một số câu hỏi sẽ yêu cầu thí sinh hiểu ngụ ý của câu hỏi trong những ngữ cảnh nhất định.
    • Thêm dạng câu hỏi yêu cầu thí sinh điền câu cho sẵn vào 1 trong 4 chỗ trống trong bài đọc sao cho phù hợp.

    1. Part 3 – Đoạn hội thoại có 3 người nói chuyện

    -Khác biệt so với Part 3 trong đề thi TOEIC cũ, đoạn hội thoại sẽ có 3 người nói chuyện thay vì 1 nam 1 nữ như trước.

    -Dạng bài này khá khó trong việc phân biệt được giọng của 2 người đàn ông với 1 phụ nữ, hay 2 người phụ nữ với 1 người đàn ông, do vậy bạn cần hết sức tập trung để biết được ai là người đang nói chuyện. Tuy nhiên, khi bạn đã đủ quen để nắm rõ được những khác biệt này, bạn cũng chỉ cần làm dạng bài này như dạng bài có 2 người nói chuyện vậy.

    2. Part 3, 4 – Hiểu ngụ ý của câu hỏi trong các ngữ cảnh nhất định

    -Riêng với phần này thì bạn cần nghe hiểu được các thông tin phía trước và sau câu hỏi để có thể suy luận được đáp án.

    -Kết quả của câu hỏi sẽ phụ thuộc vào ngữ cảnh bạn nghe được nên bạn cần hết sức chú ý trong kiểu câu hỏi này.

    -Ví dụ như một câu hỏi “Bạn đi làm không?”, tùy thuộc việc đặt câu hỏi trong hoàn cảnh nào, nó sẽ mang một ý nghĩa nhất định:

    • Đơn thuần hỏi người nghe có đi làm hay không.
    • Hỏi để có thể rủ người nghe đi chơi.
    • Hỏi để nhờ người nghe làm việc gì đó giúp mình.

    -Đối với dạng bài này, bạn cũng chỉ cần làm bài tương tự như bài đọc đoạn văn đơn hay kép. Tuy nhiên, do cấu trúc 3 đoạn văn khá dài nên việc phân bổ thời gian cần hợp lý tránh trường hợp quá tập trung làm bài phần này mà bỏ qua các câu hỏi dễ lấy điểm khác.

    Bộ đề thi TOEIC mới được dựa trên các tiêu chí:

    • Giảm số lượng các câu hỏi dễ, làm mẹo mà không đáp ứng tiêu chí phân loại thí sinh.
    • Tăng số câu hỏi khó, đòi hỏi khả năng tổng hợp thông tin tốt nhằm xác định trình độ thí sinh một cách rõ ràng.

    Tóm lại, với cấu trúc đề thi mới là học thật – thi thật, những bạn thực sự bỏ tâm huyết, công sức để ôn tập thì không thấy thay đổi nhiều, tuy nhiên sẽ rất khó khăn cho các bạn chỉ ôn luyện mẹo – đặc biệt những bạn sinh viên chỉ muốn mức điểm 450 TOEIC đủ để ra trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Đề Thi Toeic 2022
  • Thay Đổi Cấu Trúc Đề Thi Toeic 2022 Và Cách Ứng Phó
  • Tổng Hợp Cấu Trúc Đề Thi Toeic 2022
  • Cấu Trúc Đề Thi Toeic 2022
  • Cấu Trúc Đề Thi Toeic 2022 Theo Iig (The Ets Toeic Test Format)
  • Từ Và Cấu Tạo Từ (Phần Đầu)

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Sinh Học 6
  • Sơ Lược Về Cấu Trúc Của Tai Người
  • Tụ Điện Là Gì ? Cấu Tạo
  • Vậy Hãy Xem Cấu Tạo Ups, Bộ Lưu Điện Gồm Có Các
  • Cấu Tạo Bộ Lưu Điện Ups Và Những Điều Bạn Phải Biết Trước Khi Sử Dụng
  • 1. Vấn đề định nghĩa từ

    1.a. Mỗi chúng ta, đã tiếp thu và nhận ra cái gọi là từ thông qua thực tiễn học tập và sử dụng ngôn ngữ.

    Cái khó là ở chỗ phải nên ra một định nghĩa có tính lí thuyết về từ. Cho đến nay, trong ngôn ngữ học, các định nghĩa về từ đã được đưa ra không ít. Các định nghĩa ấy, ở mặt này hay mặt kia đều đúng, nhưng đều không đủ và không bao gồm hết được tất cả các sự kiện được coi là từ trong ngôn ngữ và ngay cả trong một ngôn ngữ cũng vậy. Chẳng hạn:

    Từ là một tổ hợp âm có nghĩa chăng? Từ là một tổ hợp các âm phản ánh khái niệm chăng? Từ là một đơn vị tiềm tàng khả năng trở thành câu chăng? Từ là một kí hiệu ngôn ngữ ứng với một khái niệm chăng?…

    Tình trạng phức tạp của việc định nghĩa từ, do chính bản thân từ trong các ngôn ngữ, không phải trường hợp nào cũng như nhau. Chúng có thể khác về:

    – Kích thước vật chất

    – Loại nội dung được biểu thị và các biểu thị

    – Cách thức tổ chức trong nội bộ cấu trúc

    – Mối quan hệ với các đơn vị khác trong hệ thống ngôn ngữ như hình vị, câu…

    – Năng lực và chức phận khi hoạt động trong câu nói

    Xét hai từ hợp tác xãnếu trong tiếng Việt làm ví dụ, ta sẽ thấy:

    Từ thứ nhất có kích thước vật chất lớn hơn nhiều so với từ thứ hai; và cấu trúc nội tại của nói cũng phức tạp hơn nhiều.

    Từ thứ nhất biểu thị một khái niệm, có khả năng hoạt động độc lập trong câu, làm được chủ ngữ, bổ ngữ, định ngữ… trong câu; còn từ thứ hai lại không biểu thị khái niệm, không có được năng lực để thể hiện những chức phận như từ thứ nhất…

    1.b. Vì những lẽ đó, không hiếm nhà ngôn ngữ học (kể cả F. de Saussure, S. Bally, G. Glison…) đã chối bỏ khái niệm từ, hoặc nếu thừa nhận khái niệm này thì họ cũng lảng tránh việc đưa ra một khái niệm chính thức.

    Lại có nhà nghiên cứu xuất phát từ một lĩnh vực cụ thể nào đó, đã đưa ra những định nghĩa từng mặt một như từ âm vị học, từ ngữ pháp học, từ chính tả, từ từ điển

    Dù sao, từ vẫn là đơn vị tồn tại tự nhiên trong ngôn ngữ; và chính nó là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ; bởi vì, đối với mỗi chúng ta, nói như ý của E.Sapir thì việc nhận thức từ như là cái gì đấy hiện thực về mặt tâm lí, chẳng có khó khăn gì đáng kể.

    1.c. Mong muốn của các nhà ngôn ngữ học đưa ra một định nghĩa chung, khái quát, đầy đủ về từ cho tất cả mọi ngôn ngữ, tiếc thay, cho đến nay vẫn chưa đạt được và có lẽ sẽ không thể đạt được. Chúng ta có thể đồng tình với L.Serba khi ông cho rằng từ trong ngôn ngữ khác nhau, sẽ khác nhau…, và không thể có được một khái niệm về từ nói chung.

    Tuy thế, để có cơ sở tiện lợi cho việc nghiên cứu, người ta vẫn thường chấp nhận một khái niệm nào đó về từ tuy không có sức bao quát toàn thể nhưng cũng chỉ để lọt ra ngoài phạm vi của nó một số lượng không nhiều những trường hợp ngoại lệ. Chẳng hạn:

    Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu. Quan niệm này gần với quan niệm của B.Golovin trong cuốn sách “Dẫn luận ngôn ngữ học” của ông. Nó cũng có nhiều nét gần với quan niệm của L.Bloomfield, coi từ là một ” hình thái tự do nhỏ nhất “. Có nghĩa rằng từ là một hình thái nhỏ nhất có thể xuất hiện độc lập được.

    1.d. Ngay cả những quan điểm như thế, sự thực cũng không phải là áp dụng được cho tất cả mọi ngôn ngữ và tất cả mọi kiểu từ. Chẳng hạn từ nếu vừa nói bên trên cũng như từ và, với, thì, ư… trong tiếng Việt; từ and, up, in, of … của tiếng Anh không thoả mãn được điều kiện “tái hiện tự do” trình bày trong quan niệm này.

    Gặp những trường hợp như vậy (trường hợp của những cái mà ta vẫn gọi là từ hư) người ta phải có những biện luận riêng.

    – Trước hết, tất cả chúng đề có nghĩa của mình ở dạng này hay dạng khác, thể hiện bằng cách này hay cách khác.

    – Thứ hai, khả năng “tái hiện tự do” của chúng được thể hiện “một cách không tích cực”. Cần nhớ là trong ngôn ngữ, chỉ có những đơn vị cùng cấp độ thì mới trực tiếp kết hợp với nhau. Xét hai câu bình thường trong tiếng Việt và tiếng Anh.

    – Em sống với bố và mẹ

    – He will leave here after lunch at two o’clock

    Ở đây, em, bố, mẹ, sống, he, leave, here, lunch, two, c’clock chắc chắn là các các từ. Vậy thì với, và, will, after, at cũng phải là từ.

    – Thứ ba, không hiếm từ hư trong một số ngôn ngữ đã được chứng minh là có nguồn gốc từ từ thực. Sự hao mòn ngữ nghĩa cùng với sự biến đối về chức năng của chúng đã xẩy ra. Tuy vậy, không vì thế mà tư cách từ của chúng bị xoá đi. Ví dụ: trong tiếng Hindu: me (trong) < madhya (khoảng giữa); ke arth (để, vì) < artha (mục đích) của Sanskrit… trong tiếng Hausa: bisan (trên) < bisa (đỉnh, chóp); gaban (trước) < gaba (ngực)… trong tiếng Việt: của < của (danh từ); phải < phải (động từ); bị < bị (động từ)…

    Việc xét tư cách từ cho những trường hợp như: nhà lá, áo len, đêm trắng, chó mực, cao hổ cốt … trong tiếng Việt còn phức tạp hơn nhiều. Trong các ngôn ngữ khác cũng không phải là không có tình hình tương tự.

    Mặc dù các nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm tòi những tiêu chí cơ bản, phổ biến để nhận diện từ (như: tính định hình hoàn chỉnh, tính thành ngữ, do A.Smirnitskij đưa ra chẳng hạn) nhưng khi đi vào từng ngôn ngữ cụ thể, người ta vẫn phải đưa ra hàng loạt tiêu chí khác nữa, có thể cụ thể hơn, khả dĩ sát hợp với thực tế từng ngôn ngữ hơn, và thậm chí có cả những biện luận riêng.

    Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 136-138.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Từ Và Cấu Tạo Từ Tiếng Việt
  • Cấu Tạo Tim Và Những Điều Thú Vị
  • Tìm Hiểu Tất Tần Tật Về Cấu Tạo Của Tim Người
  • Cấu Tạo Của Hệ Tim Mạch Và Các Vai Trò Quan Trọng
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tim
  • Từ Và Cấu Tạo Từ (Phần Cuối)

    --- Bài mới hơn ---

  • Móng Tay Chân Ở Người Có Tác Dụng Gì?
  • Cấu Tạo Của Nguyên Tử, Kích Thước Và Khối Lượng Của Electron Hạt Nhân
  • Cấu Tạo Nguyên Tử Và Bài Toán Các Hạt Cơ Bản
  • Các Dạng Bài Tập Chương Cấu Tạo Nguyên Tử
  • Bấm Móng Tay Giúp Chị Em Có Được Bộ Móng Siêu Xinh
  • 2. Cấu tạo từ

    2.a. Từ được cấu tạo nhờ các hình vị. Nói cách khác, từ được tạo ra nhờ một hoặc một số hình vị kết hợp với nhau theo những nguyên tắc nhất định. Ví dụ:

    Vậy hình vị là gì?

    Quan niệm thường thấy về hình vị, được phát biểu như sau:

    Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa và/hoặc có giá trị (chức năng) về mặt ngữ pháp.

    Quan niệm này xuất phát từ truyền thống ngôn ngữ học châu Âu vốn rất mạnh về hình thái học, dựa trên hàng loạt các ngôn ngữ biến hình. Chẳng hạn, trong dạng thức played của tiếng Anh người ta thấy ngay là: play-ed. Hình vị thứ nhất gọi tên, chỉ ra khái niệm về một hành động, còn hình vị thứ hai biểu thị thời của hành động đặt trong mối quan hệ với các từ khác trong câu mà played xuất hiện.

    Các hình vị được phân chia thành những loại khác nhau. Trước hết là sự phân loại thành các hình vị tự dohình vị hạn chế (bị ràng buộc).

    Hình vị tự do là những hình vị mà tự nó có thể xuất hiện với tư cách những từ độc lập. Ví dụ: house, man, black, sleep, walk… của tiếng Anh; nhà, người, đẹp, tốt, đi, làm … của tiếng Việt.

    Hình vị hạn chế là những hình vị chỉ có thể xuất hiện trong tư thế đi kèm, phụ thuộc vào hình vị khác. Ví dụ: -ing, -ed, -s, -ity… của tiếng Anh; ом, uх, е … của tiếng Nga.

    Trong nội bộ các hình vị hạn chế, người ta còn chia thành hai loại nữa: các hình vị biến đổi dạng thức (các biến tố) và các hình vị phái sinh.

    Hình vị biến tố là những hình vị làm biến đổi dạng thức của từ để biểu thị quan hệ giữa từ này với từ khác trong câu. Ví dụ:

    Hình vị phái sinh là những hình vị biến bổi một từ hiện có cho một từ mới.

    kind – kind ness; merry – merr yly, (to) work – work er… của tiếng Anh hoặc như trường hợp дом – дом ; nucать – nucат елъ của tiếng Nga.

    Lĩnh vực nghiên cứu về cấu tạo từ chú ýe trước hết đến các hình vị tự do và hình vị tái sinh.

    Nếu căn cứ vào vị trí của hình vị trong từ, người ta có thể phân chúng thành hai loại lớn: gốc từ (cái mang ý nghĩa từ vựng chân thực, riêng cho từng từ) và phụ tố (cái mang ý nghĩa ngữ pháp, chung cho từng lớp, nhiều từ). Tuỳ theo phụ tố đứng ở trước gốc từ, trong gốc từ hay sau gốc từ, người ta gọi chúng lần lượt là tiền tố, trung tố và hậu tố.

    2.b Từ trong các ngôn ngữ được cấu tạo bằng một số phương thức khác nhau. Nói khác đi, người ta có những cách khác nhau trong khi sử dụng các hình vị để tạo từ.

    1+ Dùng một hình vị tạp thành một từ. Phương thức này thực chất là người ta cấp cho một hìnhvị cái tư cách đầy đủ của một từ, vì thế, cũng không có gì khác nếu ta gọi đây là phương thức từ hoá hình vị. Ví dụ các từ: nhà, người, đẹp, ngon, viết, ngủ,… của tiếng Việt; các từ: đây, tức, phle, kôn,… của tiếng Khmer, các từ: in, of, with, and,… của tiếng Anh là những từ được cấu tạo theo phương thức này.

    (Thật ra, nói “dùng một hình vị tạo thành một từ” hoặc “từ hoá hình vị” là không hoàn toàn chặt chẽ về logic, vì điều đó ngụ ý rằng hình vị phải là cái có trước từ. Trong khi đó, xét tới ngọn nguồn và tổng thể ngôn ngữ thì từ phải là cái có trước, còn đơn vị mang tư cách hình vị và những “hình vị được từ hoá” chỉ là các kết quả có được ở hậu kì. Do vậy, đây chỉ là cách nói cho giản tiện trong việc phân loại và miêu tả mà thôi).

    2+ Tổ hợp hai hay nhiều hình vị để tạo thành từ.

    2.a. Phương thức phụ gia

    a.1. Phụ thêm tiền tố vào gốc từ hoặc một từ có sẵn.

    Ví dụ: tiền tố y- npu- беэ-… trong tiếng Nga: бежать – убежать, npuбежать; лететь – npu лететь…

    Tiền tố anti-, im-, un-… trong tiếng Anh: foreign – antiforeign, possible – im possible

    Tiền tố ch, -m trong tiếng Khmer: (trên) – chlơ (đặt lên trên); hôp (ăn) – m hôp (thức ăn)…

    a.2. Phụ thêm hậu tố

    Ví dụ: Hậu tố -uк, -ка, -шuк… của tiếng Nga trong các từ дом , студент ка, каме ншuк.

    Hậu tố -er, -ness, -less, -li, -ity… của tiếng Anh trong các từ play er, kind ness, home less

    a.3. Phụ thêm trung tố

    Ví dụ: Trung tố -uзн-, -uв- của tiếng Nga trong các từ бол uзна, крас ый… Trung tố -n của tiếng Khmer trong các từ kout (thắt, buộc) – kh nout (cái nút), back (chia) – ph nack (phần bộ phận)… Trung tố -el, -em trong tiếng Indonesia ở các từ gembung (căng, phồng lên) – g elembung (mụn nước, cái bong bóng) guruh (sấm, sét) Œ g em uruh (oang oang)…

    2.b. Ghép các yếu tố (hình vị) gốc từ

    Phương thức này cũng gọi là phương thức hợp thành.

    Ví dụ:

    trong tiếng Anh: homeland, newspaper, inkpot

    trong tiếng Việt: đường sắt, cá vàng, sân bay

    Ở đây không phải chỉ kể những trường hợp ghép các hình vị thực gốc từ, mà còn kể cả trường hợp ghép các hình vị vốn hiện diện là những từ hư, những “từ ngữ pháp” như bởi vì, cho nên … trong tiếng Việt.

    2.c. Phương thức láy

    Thực chất của phương thức này là lặp lại toàn bộ một phần của từ, hình vị ban đầu trong một số lần nào đó theo quy tắc cho phép, để cho một từ mới. Ví dụ như những từ:

    co ro, lúng túng, giỏi giang, vành vạnh… của tiếng Việt.

    thmây thây, thlay thla, srâu sro … của tiếng Khmer.

    Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 139-142.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thời Tiết Ở Huế Quanh Năm
  • Thời Tiết Huế Phú Lộc
  • Thời Tiết Ở Huế Vào Ngày Mai
  • Dự Báo Thời Tiết Phú Lộc Huế
  • Dự Báo Thời Tiết Ở Huế Vào Ngày Mai
  • Luyện Tập: Từ Và Cấu Tạo Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Từ Đơn Là Gì, Từ Phức Là Gì? Ví Dụ Và Phân Biệt
  • Lý Thuyết Luyện Từ Và Câu: Ôn Tập Về Từ Và Cấu Tạo Từ, Ôn Tập Về Câu Tiếng Việt 5
  • Luyện Thi Đại Học, Cao Đẳng Tiếng Anh Các Khối D, Khối A1
  • Kiem Tra 1Tiet Giua Ki 2 Rat Hay Kiem Tra 1 Tiet Vl12 Doc
  • Quang Trở Là Gì? Cấu Tạo, Nguyên Lý, Ưu Nhược Điểm Và Một Số Ứng Dụng
  • 1. BT trong SGK

    Bài 3. Trang 15 SGK

    + Cách chế biến: bánh rán, nướng, hấp, nhúng, tráng

    + Chất liệu làm bánh: nếp, tẻ, khoai, ngô, sắn, đậu xanh

    + Tính chất của bánh: dẻo, xốp, phồng

    + Hình dáng của bánh: gối, quấn thừng, tai voi

    – Miêu tả tiếng khóc của người

    – Những từ láy cùng tác dụng: nức nở, sụt sùi, rưng rức…

    Ruộng nương, ruộng rẫy, nương rẫy, ruộng vườn, vườn tược, nương náu, đền chùa, đền đài, miếu mại, lăng tẩm, lăng kính, lăng loàn, lăng nhăng.

    * Từ láy: Lăng loàn, lăng nhăng, miếu mạo, ruộng rẫy.

    * Từ ghép: Ruộng nương, nương rẫy, vườn tược, đình chùa, lăng tẩm, lăng kính

    Bài 2: Cho trước tiếng: Làm

    Hãy kết hợp với các tiếng khác để tạo thành 5 từ ghép 5 từ láy.

    * 5 từ ghép: làm việc, làm ra, làm ăn, làm việc, làm cho

    *5 từ láy: Làm lụng, làm lành, làm lẽ, làm lấy, làm liếc

    Bài 3: Phân loại từ trong đoạn văn

    Tỉnh dậy, Lang Liêu mừng thầm. Càng ngẫm nghĩ, chàng càng thấy lời thầm nói đúng. Chàng bèn chẹn chọn thứ gạo nếp thơm lừng trắng tinh. Hạt nào hạt nấy tròn mẩy đem vo thật sạch, lấy đậu xanh, thịt lợn làm nhân dùng lá dong trong vườn gói thành hònh vuông, nấu một ngày một đêm thật nhừ.

    *Từ ghép: mừng thầm, ngẫm nghĩ, gạo nếp, thơm lừng, trắng tinh, đậu xanh, thịt lợn, lá dong, hình vuông (chú ý/l hai tiếng khi đọc liền nhau)

    Xe, hoa -b) Hãy tạo ra từ ghép

    Bài 5: Viết một đoạn văn khác câu nêu cảm nhận của em về nguồn gốc dân tộc Việt Nam sau khi đọc truyện “Con Rồng cháu Tiên” trong đoạn văn có sử dụng từ láy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Thức Hóa Học Nào Sau Đây Là Của Oxit Sắt Từ?
  • Tính Chất Hoá Học Của Sắt 2, Sắt 3 Oxit Sắt Từ Và Hợp Chất Của Sắt
  • Cấu Tạo Của Chứ Hán Trong Tiếng Nhật
  • Cấu Tạo Và Phương Thức Định Danh Của Hệ Thống Từ Ngữ Nghề Chè
  • 1,nêu Các Kiểu Câu Xét Theo Cấu Tạo Ngữ Pháp Và Lấy Ví Dụ Minh Họa Nêu Đặc Điểm Của Câu Ghép Phân Biệt Câu Ghép Với Câu Mở Rộng Thành Phâ
  • Từ Và Cấu Tạo Từ Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Từ Và Cấu Tạo Từ (Phần Đầu)
  • Giải Bài Tập Sinh Học 6
  • Sơ Lược Về Cấu Trúc Của Tai Người
  • Tụ Điện Là Gì ? Cấu Tạo
  • Vậy Hãy Xem Cấu Tạo Ups, Bộ Lưu Điện Gồm Có Các
  • Cô Nguyễn Hải (HOCMAI) sẽ giới thiệu cho các em học sinh trong về từ phân loại theo cấu tạo, trong đó có từ đơn và từ phức trong bài học hôm nay.

    Một bài văn được tạo nên từ các đoạn văn. Và hình thành các đoạn văn chính là những câu văn. Trong mỗi câu văn lại là các từ, các cụm từ ghép với nhau để thành một câu hoàn chỉnh. Mỗi từ lại được tạo nên từ các tiếng. Để tìm hiểu về từ và cấu tạo của từ, cô Nguyễn Hải chia bài học thành hai nội dung chính:

    Tham khảo bài giảng chi tiết của cô Nguyễn Hải (Khóa HM6 – Tổng Ôn kiến thức) tại: https://hocmai.vn/bai-giang-truc-tuyen/83513/bai-01-tu-va-cau-tao-tu.html

    Câu thơ “Trong lời mẹ hát” của Trương Nam Hương

    “Thời gian chạy qua tóc mẹ

    Một màu trắng đến nôn nao”.

      Hai dòng thơ có 12 tiếng và 9 từ (Thời gian, chay, qua, tóc, mẹ, một, màu trắng, đến, nôn nao)

    2) Ghi nhớ

    • Từ là ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu
    • Đơn vị cấu tạo từ là tiếng.

    3) Phân biệt “Từ” và “Tiếng”

    +/ Tiếng dùng để cấu tạo từ

    +/ Từ dùng để đặt câu

      Một từ có thể gồm một hoặc nhiều tiếng.

    4) Từ phân loại theo cấu tạo

    • Từ đơn là từ có 1 tiếng
    • Từ phức là từ có 2 tiếng trở lên
    • Từ đơn đơn âm tiết
    • Từ đơn đa âm tiết
    • Từ ghép là loại từ phức được tạo nên bằng cách ghép các tiếng có mối quan hệ về nghĩa
    • Từ láy là loại từ phức được tạo nên bằng cách phối hợp các tiếng có âm đầu, vần hoặc cả âm đầu và vần giống nhau.
    • Từ ghép tổng hợp (VD: Trong xanh – Hai tiếng “Trong” và “xanh” bình đẳng nhau về nghĩa)
    • Từ ghép phân loại (VD: Xanh rì – Hai tiếng “xanh” và “rì”, “xanh” là tiếng chính, “rì” là tiếng phụ, bổ sung ý nghĩa cho tiếng chính.
    • Từ láy toàn bộ (VD: Xanh xanh. Hai tiếng giống nhau hoàn toàn)
    • Từ láy bộ phận (VD: Xanh xao. Hai tiếng giống nhau về âm đầu)

    II/Từ đơn và từ phức

    1)Từ đơn

    VD: Cây (Danh từ), đọc (động từ), cao (tính từ),…

    • Từ đơn đơn âm tiết: Từ đơn chỉ có một tiếng
    • Từ đơn đa âm tiết: Từ đơn được tạo nên từ nhiều âm tiết
    • Tên một số loài vật: Ba ba, chuồn chuồn, châu chấu,…
    • Từ mượn tiếng nước ngoài: Ti vi, cà phê, in-ter-net,…

    2) Từ phức

    VD: Sạch sẽ, sạch sành sanh, lúng ta lúng túng,..

      Từ ghép: Loại từ phức được tạo nên bằng cách ghép các tiếng có mối quan hệ về nghĩa.

    VD: Cao lớn (Có mối quan hệ ngang hàng bình đẳng về nghĩa) , cao vút (Có mối quan hệ với nhau về nghĩa, từ “cao” là tiếng chính, “vút” là tiếng phụ bổ sung nghĩa cho tiếng chính)

      Từ láy: Loại từ phức được tạo nên bằng cách phối hợp các tiếng giống nhau về âm đầu, vần hoặc cả âm đầu và vần.

    VD: Đo đỏ (Hai tiếng giống nhau về cả âm đầu và vần) , lao xao (hai tiếng giống nhau về vần) , xôn xao (Hai tiếng giống nhau về âm đầu)

    c) Một số trường hợp dễ “nhầm lẫn” giữa “từ đơn” và “từ phức”.

      Nhầm lẫn “từ đơn đa âm tiết” và “Từ láy”.

    Dấu hiệu nhận biết: Từ láy có giá trị biểu cảm. Từ đơn là danh từ, để gọi tên sự vật, không có giá trị biểu cảm.

    VD: Các từ ba ba, thuồng luồng, châu chấu là từ đơn đa âm tiết, dù về hình thức có các tiếng giống nhau về âm đầu, vần, cả âm đầu và vần. Không phải từ láy.

    VD: “Cà chua quá!”. Câu này gồm 3 từ. “Cà” và “chua” là hai từ đơn độc lập, không phải từ phức.

    Là giáo viên trường THCS Archimedes, cô Nguyễn Hải có rất nhiều kinh nghiệm giảng dạy và luyện thi vào lớp 6 môn Tiếng Việt. Bài học “Từ và cấu tạo từ”, nằm trong khóa học “HM6 – Tiếng Việt” của cô. Qua bài học, các em dễ dàng nắm bắt những phần kiến thức trọng tâm cần phải ghi nhớ. Đặc biệt, là những nội dung nâng cao không có trong sách giáo khoa là “Từ đơn đa âm tiết”.

    Để tăng tốc cho kì thi vào lớp 6 và giành được thành tích tốt, giải pháp “HM6 – Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh” là một sự hỗ trợ toàn diện dành cho tất cả các em học sinh. Với những kinh nghiệm và thành tựu đạt được trong lĩnh vực luyện thi vào 6, đây chắc chắn là một gói giải pháp đầy chất lượng khi bao quát tất cả nội dung kiến thức cần ôn luyện và hướng dẫn luyện đề, giải đề thi hiệu quả.

    Phụ huynh và học sinh tham khảo về chương trình tại: http://bit.ly/Giải-pháp-toàn-diện-ôn-thi-vào-6

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Tim Và Những Điều Thú Vị
  • Tìm Hiểu Tất Tần Tật Về Cấu Tạo Của Tim Người
  • Cấu Tạo Của Hệ Tim Mạch Và Các Vai Trò Quan Trọng
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tim
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tim Người (Phần 1)
  • Cấu Tạo Từ Hán Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Hình Vị Và Từ Ngữ Pháp Tiếng Hàn
  • Học Tiếng Hàn Hay Tiếng Nhật Dễ Hơn
  • Học Cách Viết Tiếng Hàn Với 3 Bí Quyết Siêu Dễ
  • Soạn Bài : Từ Hán Việt
  • Soạn Bài Từ Hán Việt
  • ( Dùng cho GV tham khảo để phân biệt với từ thuần Việt)

    A) Đặc điểm cấu tạo vần của từ Hán Việt :

    – Trong từ HV không có chữ nào mang vần: ắt, ấc, âng, ên, iêng, iếc, ít, uốt, uôn, ưt, ươt, ươn.

    – Từ HV chỉ có chữ mang vần:

    + ắc ( nam bắc, đắc lực, nghi hoặc,…);

    + ất ( nhất trí, tất yếu, bất tử, chủ nhật, tổn thất, sự thật,…);

    + ân ( ân nhân, chân thực, nhân dân, quân đội, kiên nhẫn,…)

    + ênh ( bệnh viện, pháp lệnh,…)

    + iết ( khúc triết, hào kiệt, oan nghiệt,…)

    + ich ( lợi ích, du kích, khuyến khích,…)

    + inh ( binh sĩ, bình định, kinh đô, huynh đệ, quang minh,…)

    + uông ( cuồng loạn, tình huống,…)

    + ưc ( chức vụ, đức độ, năng lực,…)

    + ương ( cương lĩnh, cường quốc,…)

    – Chỉ trong từ HV, vần iêt mới đi với âm đệm (viết là uyết: quyết, quyệt, tuyết, huyệt,…)

    – Từ HV có vần in chỉ có trong chữ tín (nghĩa là tin) (VD: tín đồ, tín cử, tín nhiệm, tín phiếu) và chữ thìn ( tuổi thìn).

    – Từ HV mang vần ơn rất hiếm, chỉ có vài tiếng : sơn (núi), đơn (một mình) và chữ đơn trong đơn từ, thực đơn.

    B) Mẹo tr / ch :

    – Khi gặp một chữ bắt đầu bằng ch, nếu thấy chữ đó mang dấu huyền ( ), dấu ngã (~) và dấu nặng (.) thì đấy là từ thuần Việt. Ngược lại, một chữ viết với tr nếu mang một trong ba dấu thanh nói trên thì chữ đó là chữ HV.

    Cụ thể: Tiếng HV mang một trong ba dấu huyền, ngã, nặng thì phụ âm đầu chỉ viết tr (không viết ch): trà, tràng, trào, trầm, trì, triều, trình, trù, trùng, truyền, trừ (12 chữ); trĩ, trữ (2 chữ), trạch, trại, trạm, trạng, trận, trập, trệ, trị, triện, triệt, triệu, trịnh, trọc, trọng, trợ, trụ, trục, truỵ, truyện, trực, trượng (21 chữ).

    – Trong tiếng HV, nếu sau phụ âm đầu là nguyên âm a thì hầu hết viết tr (không viết ch) : tra, trà, trá, trác, trách, trạch, trai, trại, trạm, trảm, trang, tràng, tráng, trạng, tranh, trào, trảo (18 chữ).

    – Trong tiếng HV, nếu sau phụ âm đầu là nguyên âm o hoặc ơ thì hầu hết viết tr (không viết ch): tróc, trọc, trọng, trở, trợ (5 chữ).

    – Trong tiếng HV, nếu sau phụ âm đầu là ư thì phần lớn viết tr : trừ, trữ, trứ, trực, trưng, trừng, trước, trương, trường, trưởng, trướng, trượng, trừu (13 chữ). Viết ch chỉ có : chư, chức, chứng, chương, chưởng, chướng (7 chữ).

    C) Mẹo d / gi / r :

    – Phụ âm r không bao giờ xuất hiện trong một từ HV.

    – Các chữ HV mang dấu ngã (~) và dấu nặng (.) đều viết d ( dã man, dạ hội, đồng dạng, diễn viên, hấp dẫn, dĩ nhiên, dũng cảm).

    – Các chữ HV mang dấu sắc (/) và hỏi (?) đều viết gi ( giả định, giải thích, giảng giải, giá cả, giám sát, tam giác, biên giới)

    – Các chữ HV có phụ âm đầu viết là gi khi đứng sau nó là nguyên âm a, mang dấu huyền () và dấu ngang ( Gia đình, giai cấp, giang sơn). (Ngoại lệ có: ca dao, danh dự).

    – Chữ HV mang dấu huyền hoặc dấu ngang, âm chính không phải là nguyên âm a (mà là một nguyên âm khác) thì phải viết với d ( dân gian, tuổi dần, di truyền, dinh dưỡng, do thám).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đơn Vị Ngữ Pháp Gồm: Từ Tố, Từ, Cụm Từ Và Câu
  • Tìm Hiểu Cách Ghép Chữ Tiếng Trung
  • Cách Ghép Câu Trong Tiếng Trung
  • Các Loại Từ Ghép Trong Tiếng Trung
  • Cách Ghép Từ Trong Tiếng Trung Và 500 Từ Ghép Thông Dụng Nhất ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Cấu Tạo Khởi Động Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Contactor (Khởi Động Từ) Là Gì, Cấu Tạo Và Ứng Dụng Của Contactor
  • Khởi Động Từ (Contactor) Là Gì ? Cấu Tạo, Nguyên Lí Hoạt Động
  • Đấu Nối Khởi Động Từ Ba Pha ? Những Điều Bạn Cần Biết !
  • Cấu Tạo Khởi Động Từ Và Cách Đấu Khởi Động Từ Chuẩn Kỹ Thuật
  • Contactor (Khởi Động Từ) Là Gì
  • Khởi động từ-contactor là một loại khí cụ điện dùng để điều khiển từ xa việc đóng ngắt, đảo chiều và bảo vệ quá tải (nếu có lắp thểm rơle nhiệt) các động cơ không đồng bộ ba pha rôto lồng sóc.

    Khởi động từ có một Contactor gọi là khởi động từ đơn thường để đóng ngắt động cơ điện. Khởi động từ có hai Contactor là khởi động từ kép dùng để thay đổi chiều quay của động cơ gọi là khởi động từ đảo chiều. Muốn bảo vệ ngắn mạch phải lắp thêm cầu chì.

    Phân loại Contactor trong tủ điện tuỳ theo các đặc điểm sau:

    – Theo nguyên lý truyền động: ta có Contactor kiểu điện từ (truyền điện bằng lực hút điện từ), kiểu hơi ép, kiểu thuỷ lực. Thông thường trong tủ điện sử dụng Contactor kiểu điện từ.

    – Theo dạng dòng điện: Contactor một chiều và Contactor xoay chiều (Contactor 1 pha và 3 pha).

    Điện áp định mức của cuộn hây hút: 36V, 127V, 220V, 380V, 500V.

    – Kết cấu bảo vệ chống các tác động bởi môi trường xung quanh: hở, bảo vệ, chống bụi, nước nổ…

    – Khả năng làm biến đổi chiều quay động cơ điện: Không đảo chiều quay và đảo chiều quay.

    – Số lượng và loại tiếp điểm: Thường hở, thường đóng.

    3.Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động:

    a) Nam châm điện:

    Namchâm điện gồm có 4 thành phần:

    – Cuộn dây dùng tạo ra lực hút nam châm.

    – Lõi sắt (hay mạch từ) của nam châm gồm hai phần: Phần cố định và phần nắp di động. Lõi thép nam châm có thể có dạng EE, EI hay dạng CI.

    – Lò xo phản lực có tác dụng đẩy phần nắp di động trở về vị trí ban đầy

    b) Hệ thống dập hồ quang điện tủ điện điều khiển:

    Khi Contactor trong tủ điện chuyển mạch, hồ quang điện sẽ xuất hiện làm các tiếp điểm bị cháy, mòn dần. Vì vậy cần có hệ thống dập hồ quang gồm nhiều vách ngăn làm bằng kim loại đặt cạnh bên hai tiếp điểm tiếp xúc nhau, nhất là ở các tiếp điểm chính của Contactor trong tủ điện.

    c) Hệ thống tiếp điểm của Contactor trong tủ điện điều khiển.

    Hệ thống tiếp điểm của Contactor trong tủ điện liên hệ với phần lõi từ di động qua bộ phận liên động về cơ. Tuỳ theo khả năng tải dẫn qua các tiếp điểm, ta có thể chia các tiếp điểm cuẩn Contactor thành hai loại:

    – Tiếp điểm chính của Contactor trong tủ điện: Có khả năng cho dòng điện lớn đi qua (từ 10A đến vài nghìn A, thí dụ khoảng 1600A hay 2250A). Tiếp điểm chính là tiếp điểm thường hở đóng lại khi cấp nguồn vào mạch từ của Contactor trong tủ điện làm mạch từ Contactor hút lại.

    – Tiếp điểm phụ của Contactor trong tủ điện : Có khả năng cho dòng điện đi qua các tiếp điểm nhỏ hơn 5A. Tiếp điểm phụ có hai trạng thái: Thường đóng và thường hở của Contactor trong tủ điện .

    Tiếp điểm thường đóng là loại tiếp điểm ở trạng thái đóng (có liên lạc với nhau giữa hai tiếp điểm) khi cuộn dây nam châm trong Contactor trong tủ điện điều khiển ở trạng thái nghỉ (không được cung cấp điện). Tiếp điểm này hở ra khi Contactor ở trạng thái hoạt động. Ngược lại là tiếp điểm thường hở.

    Như vậy, hệ thống tiếp điểm chính tủ điện điều khiển thường được lắp trong mạch điện động lực, còn các tiếp điểm phụ sẽ lắp trong hệ thống mạch điều khiển của Contactor trong tủ điện (dùng điều khiển việc cung cấp điện đến các cuộn dây nam châm của các Contactor theo quy trình định trước).

    Theo một số kết cấu thông thường của Contactor trong tủ điện, các tiếp đỉểm phụ trong tủ điện có thể được liên kết cố định về số lượng trong mỗi bộ Contactor, tuy nhiên cũng có một vài nhà sản xuất chỉ bố trí cố định số tiếp điểm chính trên mỗi Contactor, còn các tiếp điểm phụ trong tủ điện được chế tạo thành những khối rời đơn lẻ. Khi cần sử dụng ta chỉ ghép thêm vào trên Contactor, số lượng tiếp điểm phụ trong trường hợp này có thể bố trí trong tủ điện tuỳ ý.

    Nguyên lý hoạt động:

    1.a) Khởi động từ và hai nút nhấn:

    Khi cung cấp điện áp cho cuộn dây bằng nhấn nút khởi động M, cuộn hây Contactor có điện hút lõi thép di động và mạch từ khép kín lại: Làm đóng các tiếp điểm chính để khởi động động cơ và đóng tiếp điểm phụ thường hở để duy trì mạch điều khiển khi buông tay khỏi nút nhấn khởi động. Khi nhấn nút dừng D, khởi động từ bị ngắt điện, dưới tác dụng của lò xo nén làm phần lõi di động trở về vị trí ban đầu; các tiếp điểm trở về trạng thái thường hở. Động cơ dừng hoạt động. Khi có sự cố quá tải động cơ, Rơle nhiệt sẽ thao tác làm ngắt mạch điện cuộn dây, do đó cũng ngắt khởi động từ và dừng động cơ điện.

      b) Khởi động từ đảo chiều và ba nút nhấn

    4.CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA CONTACTOR a. Điện áp định mức của Contactor trong tủ điện

    Điện áp định mức của Contactor Uđm là điện áp của mạch điện trong tủ điện điều khiển tương ứng mà tiếp điểm chính phải đóng ngắt, chính là điện áp đặt vào hai đầu cuộn dây của nam châm điện sao cho mạch từ hút lại.

    Cấp điện áp định mức trong tủ điện : 110V, 220V, 440V một chiều và 127V, 220V, 380V, 500V xoay chiều.

    b. Dòng điện định mức của Contactor trong tủ điện

    Dòng điện định mức của Contactor trong tủ điện Iđm là dòng điện định mức đi qua tiếp điểm chính trong chế độ làm việc lâu dài.

    Dòng điện định mức của Contactor trong tủ điện hạ áp thông dụng có các cấp là: 10A, 20A, 25A, 40A, 60A, 75A, 100A, 150A, 250A, 300A, 600A. Nếu đặt trong tủ điện thì dòng điện định mức phải lấy thấp hơn 10% vì làm kém mát, dòng điện cho phép qua Contactor còn phải lấy thấp hơn nữa trong chế độ làm việc dài hạn.

    Động cơ điện không đồng bộ ba pha có thể làm việc liên tục được hay không tuỳ thuộc vào mức độ tin cậy của khởi động từ. Do đó khởỉ động từ cần phải thoả mãn các yêu cầu kỹ thuật sau:

    – Tiếp điểm có độ bền chịu mài mòn cao.

    – Khả năng đóng – cắt cao.

    – Thao tác đóng – cắt dứt khoát.

    – Tiêu thụ công suất ít nhât.

    – Bảo vệ động cơ không bị quá tải lâu dài (có Rơle nhiệt).

    Hiện nay ở nước ta, động cơ không đồng bộ ba pha rôto lồng sóc có công suất từ 0,6 đến 100KW được sử dụng rộng rãi. Để điều khiển vận hành chúng, ta thường dùng khởi động từ. Vì vậy để thuận lợi cho việc lựa chọn khởi động từ, nhà sản xuất thường không những chỉ cho cường độ dòng điện suất định mức mà còn cho cả công suất của động cơ điện mà khởi động từ phục vụ ứng với các điện áp khác nhau.

    Để khởi động từ làm việc tin cậy, khi lắp đặt cần phải bắt chặt cứng khởi động từ trên một mặt phẳng đứng (độ nghiêng cho phép so với trục thẳng đứng 50), không cho phép bôi mỡ vào các tiếp điểm và các bộ phận động. Sau khi lắp đặt khởi động từ và trước khi vận hành, phải kiểm tra:

    – Cho các bộ phận chuyển động bằng tay không bị kẹt, vướng.

    – Điện áp điều khiển phải phù hợp điện áp định mức của cuộn dây.

    – Các tiếp điểm phải tiếp xúc đều và tốt.

    – Các dây đấu điện phải theo đúng sơ đồ điều khiển.

    – Rơle nhiệt phải đặt khởi động từ cần đặt kẻm theo cầu chì bảo vệ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm, Cấu Tạo Và Phân Loại Máy Biến Áp
  • Ecu Là Gì? Cấu Tạo Và Nguyên Lý Làm Việc Của Ecu
  • Động Cơ Bước Là Gì ? Cấu Tạo, Phân Loại Và Các Phương Pháp Điều Khiển
  • Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Động Cơ Bước
  • Động Cơ Bước Là Gì? Cấu Tạo Và Ứng Dụng Của Động Cơ Step
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100