Top 11 # Xem Nhiều Nhất Nêu Đặc Điểm Của Adn Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Nêu Đặc Điểm Cấu Tạo Hóa Học Của Adn

ADN được biết đến là một đại phân tử hữu cơ có cấu tạo theo nguyên tắc đa phân, với các đơn phân bao gồm các nucleotit. Phân tử ADN thường hai chuỗi polinucleotit được liên kết với với nhau theo nguyên tắc bổ sung. Bên cạnh đó, ADN còn có chức năng là bảo quản, mang và truyền đạt thông tin di truyền. Vậy nên, trong bài viết này, chúng tôi sẽ nêu đặc điểm cấu tạo hóa học của ADN để mọi người có thể hiểu rõ hơn về phân tử này.

Một số đặc điểm cấu tạo hóa học của ADN

Như đã đề cập ở trên, ADN là một đại phân tử được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân với các đơn phân là nucleotit. Trong mỗi nucleotit cấu tạo sẽ gồm có 3 thành phần :

– Một gốc axit photphoric là H3PO4H3PO4

– Một gốc bazơ nitơ gồm có T, A, G, X

– Một gốc đường đêoxiribôzơ là C5H10O4C5H10O4

Vì các loại nucleotit chỉ khác nhau ở mỗi bazo nito nên các chuyên gia đặt tên các loại nucleotit theo tên của bazo nito.

Do nằm liền nhau nên liên kết với nhau bằng liên kết hóa trị, từ đó tạo nên chuỗi polinucleotit.

Liên kết hóa trị là liên kết giữa gốc axit photphoric (H3PO4H3PO4) với gốc của nucleotit khác đường đêoxiribôzơ (C5H10O4C5H10O4).

*** Tìm hiểu qua về cấu trúc không gian của phân tử ADN

Vì mỗi phân tử ADN sẽ gồm có hai chuỗi polinucleotit ở song song ngược chiều nhau ( chẳng hạn như chiều 5’→→3′ và 3’→→5′) . Các nucleotit của hai mạch sẽ liên kết với nhau theo nguyên tắc bổ sung.

– A – T thực hiện liên kết với nhau bằng 2 liên kết H

– G – X thực hiện liên kết với nhau bằng 3 liên kết H

Từ kết quả của nguyên tắc bổ sung thì chúng ta có thể suy ra được thành phần của nucleotit và số lượng nucleotit ở mạch còn lại.

– Đường kính của vòng xoắn được tính là 20 A0

– Khoảng cách giữa hai cặp bazo đo được là 3,4A0

– Một chu kì vòng xoắn có thể có 10 cặp nucleotit ( 20 nucleotit)

Nắm giữ chức năng truyền đạt, lưu giữ và bảo quản thông tin di truyền giữa các thế hệ với nhau.

Bốn loại nuclêôtit trên thường liên kết với nhau theo chiều dọc, và tuỳ theo số lượng của chúng mà có thể xác định chiều dài ADN. Đồng thời, chúng còn có thể sắp xếp theo nhiều kiểu khác nhau nhằm tạo ra được vô số loại phân tử ADN khác nhau. Các phân tử ADN phân biệt với nhau không chỉ bởi trình tự sắp xếp mà còn cả về số lượng và thành phần các nuclêôtit.

Tính đặc thù và tính đa dạng của ADN là cơ sở cho tính đa dạng cũng như tính đặc thù của các loài sinh vật. ADN trong tế bào chủ yếu tập trung trong nhân và thường có khối lượng ổn định, mang tính đặc trưng cho mỗi loài.

Đặc Điểm Và Cấu Tạo Hóa Học Của Adn

Mỗi gốc nucleotit trong ADN được cấu tạo từ 3 thành phần: Đường deoxiribozo (C5H10O4), axit photphoric (H3PO4), một gốc bazơ nitơ (A, T, G, X). Trong đó, các gốc bazơ nitơ T, X có kích thước bé còn A, G có kích thước lớn hơn.

Vì các nucleotit chỉ khác nhau ở các bazơ nitơ nên người ta gọi tên các gốc này theo tên của bazơ nitơ tức A, T, G, X. Sự liên kết giữa các nucleotit được thực hiện bằng liên kết hóa trị từ đó tạo nên các chuỗi polinucleotit. Đây là liên kết giữa các gốc đường C5H10O4 với của nucleotit này với gốc H3PO4 của nucleotit khác.

ADN được cấu tạo từ chuỗi xoắn kép gồm 2 mạch polinucleotit xoắn đều quanh một trục. Chuỗi này xoắn theo chiều từ trái sang phải, trong đó, mỗi vòng xoắn gồm 10 cặp nucleotit với độ dài 34 Angstron, đường kính 20 Angstron.

Trong phân tử ADN có các sự liên kết sau: liên kết trong một mạch đơn và liên kết giữa hai mạch đơn. Liên kết trong một mạch đơn chính là liên kết hóa trị đã giới thiệu ở trên. Liên kết giữa hai mạch đơn là liên kết hóa trị. Đây là liên kết giữa các cặp nucleotit ở hai mạch đối diện với nhau, thực hiện theo nguyên tắc bổ sung (A liên kết với T, G liên kết với X).

Nhờ nguyên tắc bổ sung, khi biết trình tự sắp xếp của nucleotit trên mạch đơn này, chúng ta có thể tìm ra trình tự sắp xếp của mạch còn lại. Bên cạnh đó, với mỗi phân tử ADN của mỗi loài, tỉ số (A+T)/(G+X) là một hằng số.

Với cấu tạo hóa học của ADN mang tính đặc thù, vì vậy, mỗi loài sẽ có số lượng thành phần cũng như trình tự sắp xếp các nucleotit theo trật tự riêng. Và sự đặc thù này mang tính nghiêm ngặt, mỗi loài có một trình tự và thành phần riêng. Do đó, ADN mang tính đặc trưng cho từng loài.

Bên cạnh đó, ADN còn có tính đa dạng. Khi bạn thay đổi cách sắp xếp của các nucleotit bạn sẽ có được các chuỗi ADN khác nhau. Hai tính chất này của ADN chính là cơ sở để tạo nên sự đặc thù và đa dạng cho các loài sinh vật trên Trái Đất hiện nay.

Chức năng của ADN

Do mang tính đặc thù và đa dạng cho từng loài, ADN có ý nghĩa quan trọng trong di truyền. Đây là bộ phận đóng vai trò lưu trữ, bảo quyển và truyền đạt thông tin di truyền trong cơ thể sinh vật. Các cấu trúc phân tử và protein đẻ được truyền thông qua phân tử ADN nhờ vậy, cấu trúc ADN quy định tính trạng cơ thể sinh vật.

Kiến thức về ADN và cấu tạo hóa học của ADN là kiến thức sinh học không thể thiếu trong sự phát triển của khoa học công nghệ hiện nay. Những kiến thức và phân tích về phân tử này giúp con người ứng dụng nhiều trong việc chẩn đoán tính di truyền, pháp y, đa dạng loài, phát triển hệ sinh thái,….

Việc xét nghiệm ADN có thể thực hiện khi lấy các mẫu như mẫu máu, mẫu nước bọt, mẫu móng tay móng chân, mẫu tóc,… Kết quả xét nghiệm ADN là chính xác nhất nếu muốn thử mối quan hệ huyết thống.

Nêu Đặc Điểm Tự Nhiên Của Châu Âu?

Đặc điểm địa hình

Về mặt địa hình, châu Âu là một nhóm các bán đảo kết nối với nhau. Hai bán đảo lớn nhất là châu Âu “lục địa” và bán đảo Scandinavia ở phía bắc, cách nhau bởi Biển Baltic. Ba bán đảo nhỏ hơn là ( Iberia, Ý và bán đảo Balkan) trải từ phía nam lục địa tới Địa Trung Hải, biển tách châu Âu với châu Phi. Về phía đông, châu Âu lục địa trải rộng trông như miệng phễu tới tận biên giới với châu Á là dãy Ural.

Bề mặt địa hình trong châu Âu khác nhau rất nhiều ngay trong một phạm vi tương đối nhỏ. Các khu vực phía nam địa hình chủ yếu là đồi núi, trong khi về phía bắc thì địa thế thấp dần từ các dãy Alps, Pyrene và Karpati, qua các vùng đồi, rồi đến các đồng bằng rộng, thấp phía bắc, và khá rộng phía đông. Vùng đất thấp rộng lớn này được gọi là Đồng bằng Lớn Âu Châu, và tâm của nó nằm tại Đồng bằng Bắc Đức. Một vùng đất cao hình vòng cung nằm ở biên giới biển phía tây bắc, bắt đầu từ quần đảo Anh phía tây và dọc theo trục cắt fjord có nhiều núi của Na Uy.

Mô tả này đã được giản lược hóa. Các tiểu vùng như Iberia và Ý có tính chất phức tạp riêng như chính châu Âu lục địa, nơi mà địa hình có nhiều cao nguyên, thung lũng sông và các lưu vực đã làm cho miêu tả địa hình chung phức tạp hơn. Iceland và quần đảo Anh là các trường hợp đặc biệt. Iceland là một vùng đất riêng ở vùng biển phía bắc được coi như nằm trong châu Âu, trong khi quần đảo Anh là vùng đất cao từng nối với lục địa cho đến khi địa hình đáy biển biến đổi đã tách chúng ra.

Do địa hình châu Âu có thể có một số tổng quát hóa nhất định nên cũng không ngạc nhiên lắm khi biết là trong lịch sử, vùng đất này là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc tách biệt trên các vùng đất tách biệt mà ít có pha trộn.

Nêu Đặc Điểm Các Nhóm Máu Ở Người

Máu con người được chia làm nhiều nhóm dựa theo một số chất cacbohydrat và protein đặc thù trên hồng cầu. Có khoảng 46 nhóm khác nhau, nhưng những nhóm chính là O, A, B và yếu tố Rhesus (Rh). Máu của mỗi nhóm có thể có kháng thể chống lại những nhóm kia. Do đó, khi truyền máu khác nhóm vào, kháng thể của người nhận có thể phá hủy máu gây tác hại cho cơ thể.

Kháng nguyên và kháng thể

Nói chung, kháng nguyên là “bất kỳ chất nào mà hệ thống miễn dịch có thể đáp ứng“. Màng của mỗi tế bào hồng cầu chứa hàng triệu kháng nguyên bị hệ thống miễn dịch bỏ qua, mặc dù hệ thống miễn dịch sẽ tấn công bất kỳ tế bào hồng cầu nào có chứa kháng nguyên khác với các tế bào tự kháng nguyên của chúng.

Kháng thể là các phân tử quan trọng mà hệ thống miễn dịch của chúng ta sản sinh ra để giúp bảo vệ cơ thể chống lại những tác nhân xâm nhập bên ngoài như vi khuẩn và virus. Các vi khuẩn và virus này cũng có thể được hình thành để đáp ứng các nhóm máu khác nhau.

Có khoảng 46 nhóm khác nhau, nhưng những nhóm chính là O, A, B và yếu tố Rhesus (Rh).

Yếu tố Rh

Hầu hết mọi người (khoảng 85% loài người) có một loại protein đặc biệt trên các tế bào máu, được gọi là yếu tố Rh. Những trường hợp này gọi là Rh+ (có nhóm máu dương tính Rh). Những người thiếu yếu tố Rh, được gọi là Rh- (có nhóm máu âm tính Rh).

Phụ nữ mang thai cần các xét nghiệm yếu tố Rh trong máu, thông qua đó để sàng lọc và phát hiện sự tương thích trong cơ thể mẹ và bé. Nếu người mẹ có Rh- và em bé là Rh+, cơ thể người mẹ sẽ phản ứng với máu của em bé như một chất bên ngoài. Cơ thể mẹ sẽ tạo ra kháng thể (protein) chống lại máu Rh+ của em bé. Rh không tương thích có thể gây ra các vấn đề khó khăn trong lần mang thai sau của người mẹ, khi kháng thể Rh có thể đi qua nhau thai và tấn công các tế bào hồng cầu của em bé dẫn đến tình trạng thiếu máu tan huyết ở em bé, nghĩa là các hồng huyết cầu bị phá hủy.

May mắn là nếu phát hiện sớm sự không tương thích trên, các bác sỹ sẽ áp dụng phương pháp điều trị trước khi sinh, giúp ngăn chặn bất kỳ vấn đề nào trước khi chúng nảy sinh.

Có những nhóm máu nào?

Nhóm máu A

Nhóm máu A được đặc trưng bởi sự hiện diện của kháng nguyên A trên các tế bào hồng cầu, và kháng thể B trong huyết tương.

Những người có nhóm máu A có thể an toàn hiến máu cho những người khác có cùng nhóm máu A, hoặc những người mang nhóm máu AB. Ngoài ra, những người có nhóm máu A cũng có thể nhận máu truyền của những người mang nhóm máu O.

Nhóm máu B

Nhóm máu này tương đối hiếm (chỉ đứng sau AB). Nó chứa các kháng nguyên B trên tế bào hồng cầu, và kháng thể A (để tấn công kháng nguyên A) trong huyết tương.

Những người có nhóm máu B có thể an toàn hiến tặng máu cho những người khác có cùng nhóm máu B, hoặc cho những người có nhóm máu AB. Ngoài ra, những người có máu B cũng có thể an toàn nhận truyền máu của những người mang nhóm máu O.

Nhóm máu O là nhóm máu phổ biến nhất.

Nhóm máu AB

Nhóm máu này không phổ biến. Nhóm máu AB được đặc trưng bởi có cả kháng nguyên A và B trên tế bào hồng cầu, và không có kháng thể trong huyết tương.

Những người có nhóm máu AB có thể chấp nhận máu từ bất cứ ai. Tuy nhiên, vì sự hiện diện của cả hai kháng nguyên trên tế bào hồng cầu loại AB, những người có nhóm máu AB chỉ có thể tặng máu cho những người có cùng nhóm máu AB với họ.

Nhóm máu O

Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn nhận nhầm nhóm máu?