1 Gen Quy Định Cấu Trúc Của Một Polipeptit

--- Bài mới hơn ---

  • Gen, Mã Di Truyền Và Quá Trình Nhân Đôi Adn, Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 12
  • Cấu Trúc P53 (Protein), Chức Năng, Chu Kỳ Tế Bào Và Bệnh Tật / Sinh Học
  • Phát Hiện Gen P53 Kiềm Chế Sự Phát Triển Của Các Tế Bào Ung Thư
  • Tìm Hiểu Về Tế Bào Prokaryote, Prokaryotes
  • Điều Hòa Hoạt Động Biểu Hiện Gen Ở Prokaryote
  • 1 Gen Quy Định Cấu Trúc Của Một Polipeptit, Quy Định Số 1262-qĐ/tu Ngày 09/9/2009 Của Thành ủy Tp Hcm Xác Định: “chi Bộ Khu Phố, ấp Trực Thuộc ., Quy Định Bàn Giao Ca Trực, Quy Dinh Doi Tuong Truc Ban Noi Vu, Quyết Định Có Cấu Trúc Là Gì, Quyết Định Có Cấu Trúc, Câu Thơ Ra Thế Lượm ơi Có Cấu Trúc Gì Đặc Biệt Nêu Tác Dụng Của Cấu Trúc , Chương 7 Quy Định Về Kiến Trúc Đô Thị, Kiến Trúc Đình Làng Nam Bộ, Quy Định Chức Trách Của Trực Ban Nội Vụ, Định Lý Đường Trung Trực, Quy Dinh Truc Ban Noi Vu Trong Quan Doi, Quy Định An Toàn Cần Trục Tháp, Định Nghĩa Đường Trung Trực, Qui Dịnh Chức Trách Nhiệm Vụ Của Trực Ban Nội Vụ, Kiến Trúc Cung Đình Thời Lý, Quyết Định Chuẩn Y Cấp ủy Chi Bộ Trực Thuộc, Quy Định Bàn Giao Ca Trực Trong Cand, Xem Mẫu Quyết Định Công An Viên Thường Trực, Quyết Định Bổ Nhiệm Công An Thường Trực, Nhận Định Nào Sau Đây Không Đúng Khi Nói Về Cấu Trúc Của Virut, Nghị Định Dịch Vụ Công Trực Tuyến, Quyết Định Đặt Phòng Khách Sạn Trực Tuyến, Quyết Định Bổ Nhiệm Công An Viên Thường Trực, Mau Quyet Dinh Bo Nhiem Cong An Vien Thường Truc Xa, Yếu Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Đặt Phòng Trực Tuyến Của Khách Du Lịch Nội Địa, Nhiệm Vụ Của Cán Bộ, Chiến Sĩ Trực Chữa Cháy, Cnch Quy Định Trong Thông Tư 50/2017/tt-bca?, Quyết Định Phân Công Trực Tiếp Giám Sát, Giáo Dục Người Chấp Hành án, Phân Tích ưu Nhược Điểm Của Kiến Trúc Tập Trung Và Kiến Trúc Không Tập Trung, Truc Trach Truc Ban, Đơn Đề Nghị Về Việc Xác Nhận Hộ Gia Đình Cá Nhân Trực Tiếp Sản Xuất Nôn, Thông Tư Số 50/2017/tt-bca Ngày 01/11/2017 Của Bộ Trưởng Bộ Công An Quy Định Về Thường Trực Sẵn Sàng, Thông Tư Số 50/2017/tt-bca, Ngày 01/11/2017 Của Bộ Công An Quy Định Về Thường Trực Sẵn Sàng Chữa Chá, Thông Tư Số 50/2017/tt-bca, Ngày 01/11/2017 Của Bộ Công An Quy Định Về Thường Trực Sẵn Sàng Chữa Chá, Quyết Dinh Phan Cong Người Trực Tiếp Giam Sát Giao Dục Giúp Do Người Chấp Hành Xong An Phát Tu Tại H, Quyết Định Phân Công Người Trực Tiếp Giám Sát, Giáo Dục Người Chấp Hành án Cải Tạo Không Giam Giữ, Giá Đỡ Trục, Cấu Trúc Vốn, Mẫu Đơn Xin Đổi Ca Trực, Cấu Trúc Của 1 Đề án, Trúc Gấu, Trục Láp, Nui Ve Ung Truc Con So, Đơn Xin Đổi Ca Trực, Mẫu Số Hóa Đơn Sai Cấu Trúc, Trực Hồi Sức Cấp Cứu, Trục Cán, Cần Trục, Hệ Trục Tọa Độ Lớp 10, Đồ án ổ Đỡ Trục, Cấu Trúc 1 Đề án, Đồ án Giá Đỡ Trục, Cấu Trúc 1 Đồ án, Mẫu Hóa Đơn Sai Cấu Trúc, Đồ án Gối Đỡ Trục, ổ Đỡ Trục, Thủ Tục Mua Sắm Trực Tiếp, Thủ Tục Mua Hóa Đơn Trực Tiếp, âm Học Kiến Trúc, Trục Lợi Bảo Hiểm, Xem Trực Theo Ca Kip, Đồ án Trục Khuỷu, Gia Phả Trực Tuyến, Mua Sắm Trực Tuyến, Don Xin Hoan Truc Dem, Mua Hóa Đơn Trực Tiếp, Mẫu Hóa Đơn Trực Tiếp, Đáp án ôn Tập Trực Tuyến, Mau Don Tu Truc To Truong Dan Pho, Tải Mẫu Hóa Đơn Trực Tiếp, Quản Lý Dự Trưc, Mau Don Xin Di Dai Con Diên Trúc Nha, Xã Hội Học Kiến Trúc, Luận Văn Tối ưu Hóa Cấu Trúc Vốn, Kiến Trúc, Yếu Tố Văn Hóa Của Kiến Trúc Hà Nội, Mẫu Hồ Sơ Mua Sắm Trực Tiếp, Máy ép Đùn Cám Viên Trục Vít, Mẫu Hồ Sơ Yêu Cầu Mua Sắm Trực Tiếp, Kiến Trúc Bản Địa, Mẫu Hóa Đơn Đỏ Trực Tiếp, So Ban Giao Ca Truc , Đề Thi Môn âm Học Kiến Trúc, Mau Ban Giao Ca Truc Tet, Bien Ban Noi Ve Truc Con So, Chỉ Huy Trực Tiếp, Hồ Sơ Kiến Trúc, Hồ Sơ Yêu Cầu Mua Sắm Trực Tiếp, Sổ Tay Kiến Trúc, Hóa Đơn Trực Tiếp, Kiến Trúc Bản Địa Là Gì, Đơn Xin Miễn Trực, Đồ án âm Học Kiến Trúc, Cấu Trúc Của 1 Bài Thu Hoạch, Đối Tượng Trực Ban Đại Đội, Cấu Trúc 1 Bài Báo Cáo Thực Tập, Đơn Xin Rút Học Bạ Đại Học Kiến Trúc, Bản Sắc Kiến Trúc, Đồ án Kiến Trúc, Cấu Trúc Dữ Liệu,

    1 Gen Quy Định Cấu Trúc Của Một Polipeptit, Quy Định Số 1262-qĐ/tu Ngày 09/9/2009 Của Thành ủy Tp Hcm Xác Định: “chi Bộ Khu Phố, ấp Trực Thuộc ., Quy Định Bàn Giao Ca Trực, Quy Dinh Doi Tuong Truc Ban Noi Vu, Quyết Định Có Cấu Trúc Là Gì, Quyết Định Có Cấu Trúc, Câu Thơ Ra Thế Lượm ơi Có Cấu Trúc Gì Đặc Biệt Nêu Tác Dụng Của Cấu Trúc , Chương 7 Quy Định Về Kiến Trúc Đô Thị, Kiến Trúc Đình Làng Nam Bộ, Quy Định Chức Trách Của Trực Ban Nội Vụ, Định Lý Đường Trung Trực, Quy Dinh Truc Ban Noi Vu Trong Quan Doi, Quy Định An Toàn Cần Trục Tháp, Định Nghĩa Đường Trung Trực, Qui Dịnh Chức Trách Nhiệm Vụ Của Trực Ban Nội Vụ, Kiến Trúc Cung Đình Thời Lý, Quyết Định Chuẩn Y Cấp ủy Chi Bộ Trực Thuộc, Quy Định Bàn Giao Ca Trực Trong Cand, Xem Mẫu Quyết Định Công An Viên Thường Trực, Quyết Định Bổ Nhiệm Công An Thường Trực, Nhận Định Nào Sau Đây Không Đúng Khi Nói Về Cấu Trúc Của Virut, Nghị Định Dịch Vụ Công Trực Tuyến, Quyết Định Đặt Phòng Khách Sạn Trực Tuyến, Quyết Định Bổ Nhiệm Công An Viên Thường Trực, Mau Quyet Dinh Bo Nhiem Cong An Vien Thường Truc Xa, Yếu Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Đặt Phòng Trực Tuyến Của Khách Du Lịch Nội Địa, Nhiệm Vụ Của Cán Bộ, Chiến Sĩ Trực Chữa Cháy, Cnch Quy Định Trong Thông Tư 50/2017/tt-bca?, Quyết Định Phân Công Trực Tiếp Giám Sát, Giáo Dục Người Chấp Hành án, Phân Tích ưu Nhược Điểm Của Kiến Trúc Tập Trung Và Kiến Trúc Không Tập Trung, Truc Trach Truc Ban, Đơn Đề Nghị Về Việc Xác Nhận Hộ Gia Đình Cá Nhân Trực Tiếp Sản Xuất Nôn, Thông Tư Số 50/2017/tt-bca Ngày 01/11/2017 Của Bộ Trưởng Bộ Công An Quy Định Về Thường Trực Sẵn Sàng, Thông Tư Số 50/2017/tt-bca, Ngày 01/11/2017 Của Bộ Công An Quy Định Về Thường Trực Sẵn Sàng Chữa Chá, Thông Tư Số 50/2017/tt-bca, Ngày 01/11/2017 Của Bộ Công An Quy Định Về Thường Trực Sẵn Sàng Chữa Chá, Quyết Dinh Phan Cong Người Trực Tiếp Giam Sát Giao Dục Giúp Do Người Chấp Hành Xong An Phát Tu Tại H, Quyết Định Phân Công Người Trực Tiếp Giám Sát, Giáo Dục Người Chấp Hành án Cải Tạo Không Giam Giữ, Giá Đỡ Trục, Cấu Trúc Vốn, Mẫu Đơn Xin Đổi Ca Trực, Cấu Trúc Của 1 Đề án, Trúc Gấu, Trục Láp, Nui Ve Ung Truc Con So, Đơn Xin Đổi Ca Trực, Mẫu Số Hóa Đơn Sai Cấu Trúc, Trực Hồi Sức Cấp Cứu, Trục Cán, Cần Trục, Hệ Trục Tọa Độ Lớp 10, Đồ án ổ Đỡ Trục,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phôi Cá Mút Đá Tái Cấu Trúc Hệ Gen
  • Sinh Học 12: Gen Và Cấu Trúc Của Gen
  • Bài 21. Đột Biến Gen
  • Đột Biến Gen, Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 12
  • Cấu Trúc Và Bộ Gen Của Hiv
  • Một Gen Cấu Trúc Có 4050 Liên Kết Hydro, Hiệu Số Giữa Nu Loại G Với Loại Nu Khác Chiếm 20%. Sau Đột Biến Chiều Dài Gen K?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bai 1 : Gen,mã Di Truyền ,nhân Đôi Adn Bai1 Ppt
  • Rối Loạn Tổng Hợp Protein Do Gen Cấu Trúc Và Gen Điều Hòa
  • Phương Pháp Giải Dạng Bài Tập Tính Số Liên Kết Hóa Học Trong Cấu Trúc Của Gen Sinh Học 12
  • Thiền Giúp Thay Đổi Cấu Trúc Gen Gây Đau Nhức
  • Sinh Học 12/điều Hòa Hoạt Động Gen
  • ID [65934]

    Một gen cấu trúc có 4050 liên kết hydro, hiệu số giữa nu loại G với loại nu khác chiếm 20%. Sau đột biến chiều dài gen không đổi.

    Cho các phát biểu sau:

    (1) Gen ban đầu có số lượng từng loại nucleotit là: A = T = 450, G = X = 1050.

    (2) Nếu sau đột biến tỉ lệ A/G của gen đột biến xấp xỉ 42,90% thì đây là dạng đột biến thay thế 1 cặp G-X bằng 1 cặp A-T.

    (3) Nếu sau đột biến tỉ lệ A/G xấp xỉ 42,72% thì đây là dạng đột biến thay thế 1 cặp A-T bằng 1 cặp G-X.

    (4) Dạng đột biến thay thế 1 cặp A-T bằng 1 cặp G-X sẽ làm thay đổi 1 axit amin trong chuỗi polipeptit.

    (5) Nếu sau đột biến tỉ lệ G/A xấp xỉ 2,340. Khi gen đột biến nhân đôi 4 lần thì nhu cầu về Nu tự do loại A giảm 30 nucleotit.

    Số phát biểu đúng là:

    Ta có: H = 2A + 3G = 4050 và G – A = 20% . Giải ra ta có A = 450 và G = 1050. Đáp án B

    (1) đúng.

    (2) sai. Đột biến chiều dài gen không đổi là đột biến dang thay thế cặp nucleotide. Tỷ lệ A/G = 42,86%. đột biến thay thế 1 cặp G – X bằng 1 cặp A -T → tỷ lệ A/G sau đột biến = 451/1049 =42,99.

    (3) đúng.Đột biến thay thế 1 cặp A – T bằng 1 cặp G – X → tỷ lệ A/G của gen đột biến = 449/1051 = 42,72.

    (4)sai. Dạng đột biến thay thế A-T bằng 1 cặp G-X có thể thay đổi 1 acid amine hoặc không thay đổi acid amine nào.

    (5)sai. Sau đột biến tỉ lệ G/A xấp xỉ 2,349 (đột biến thay thế A-T bằng cặp G-X). Gen đột biến có A = T = 449; G = X = 1051.

    Gen nhân đôi 4 lần → nhu cầu về nucleotide tự do của A = (2^4-1) = 15.

    Vậy chỉ có (1), (3) đúng.

    → Đáp án B.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Và Cấu Trúc Của Gen
  • 26 Câu Đột Biến Gen Sinh Học 12 Bài 4 Có Đáp Án File Word
  • Trường Hợp Gen Cấu Trúc Bị Đột Biến Thay Thế 1 Cặp G
  • Bài 4. Đột Biến Gen
  • Bài Tập Tự Luận Về Cấu Trúc Adn Hay
  • Cấu Trúc Dạ Dày Của Một Con Bò

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Và Cấu Trúc Dạ Dày
  • Cấu Trúc Của Dạ Dày Và Chức Năng Của Nó
  • 120 Cấu Trúc Ngữ Pháp Tiếng Hàn Sơ Cấp
  • Smile: Cấu Trúc, Có Nghĩa Là, Hình Ảnh, Ngôn Ngữ, Có Hiệu Lực
  • Quan Hệ Nghĩa Và Cấu Trúc Trong Việc Phân Tích Câu Tiếng Việt
  • Một con bò là một động vật rất có giá trị và phổ biến trong gia đình và các trang trại. Nó được trồng để lấy sữa và thịt. Để có năng suất cao, bò nên được cho ăn đúng cách và tốt. Để tránh các vấn đề với hệ thống tiêu hóa, điều quan trọng là phải biết cấu trúc dạ dày của con bò và lý do khiến anh ta ngừng công việc, điều thường xảy ra. Đọc về nó trong bài viết.

    Hệ tiêu hóa

    Bò là động vật ăn cỏ, dạ dày trong quá trình tiến hóa đã thích nghi với quá trình tiêu hóa thức ăn có hàm lượng chất xơ thực vật cao. Đồng thời với các cơ quan, vi khuẩn có môi trường sống là đường tiêu hóa phát triển.

    Các vi sinh vật đã phát triển hệ sinh thái nguyên sinh động vật, nấm và vi khuẩn, cùng tồn tại hoàn hảo với vật chủ của chúng. Ví dụ, trong phần đầu của dạ dày bò (dạ cỏ), nhiều loại vi khuẩn và động vật nguyên sinh sống với số lượng lớn. Đầu tiên có 60 món, thứ hai – 30. Thành phần của hệ thống tiêu hóa của một con bò bao gồm khoang miệng, thực quản, ruột và dạ dày.

    Dạ dày hoạt động như thế nào?

    Nhiều người quan tâm đến việc có bao nhiêu con bò có dạ dày? Một số người tin rằng bốn. Nhưng nó không phải là. Cơ quan này giống như ở các động vật khác, nhưng nó có cấu trúc phức tạp. Dạ dày của bò, theo cấu trúc giải phẫu, có bốn phần, nhưng nước dạ dày chỉ ở phần sau. Ba khoang đầu tiên là các điểm trung gian nơi xảy ra quá trình chuẩn bị và lên men thức ăn mà bò đã nhai. Đừng ngạc nhiên về số lượng các phần của dạ dày. Tất cả chúng đều rất quan trọng, và mỗi loại thực hiện chức năng của nó, bởi vì động vật phân bổ 100-200 lít nước bọt mỗi ngày, cần có không gian lưu trữ.

    Tiêu hóa là một quá trình chậm. Một con bò có thể nhai thức ăn trong sáu đến tám giờ trước khi nó nằm trong dạ dày. Ở đây thực phẩm ăn là một vài giờ hoặc hơn hai ngày, nó phụ thuộc vào lượng cellulose có trong thực phẩm.

    Đây là phần đầu tiên hoặc ban đầu của dạ dày bò, nó có kích thước lớn nhất. Tất cả những gì cô ấy đã ăn, và đây thực tế là thực phẩm chưa được nấu chín, nó rơi vào đây. Phần ban đầu của dạ dày của một con bò lưu trữ 80% khối lượng của tất cả các loại thực phẩm ăn. Nói chung, nó chứa 150 kg thức ăn.

    Các bức tường của phần ban đầu của dạ dày của con bò khá dày, vì vậy chúng không bị ảnh hưởng bởi các miếng thức ăn rau cứng, mà con bò nhai rất tệ. Cứ sau một lần mỗi phút, các bức tường được thu nhỏ lại, trộn cỏ để phân phối đồng đều các enzyme. Đồng thời, thân cây cứng được giã nhỏ, làm mềm.

    Điều kiện chính để nuôi một con bò là chăn gia súc. Ăn cỏ vào thời điểm này nằm trong phần đầu của dạ dày bò. Nhưng sau khi chăn thả, thức ăn bắt đầu ợ ra từng phần nhỏ và nhai lại những con vật. Khối này được gọi là kẹo cao su. Làm mềm dưới ảnh hưởng của enzyme, nó được chà xát cẩn thận bởi răng và một lần nữa bị bò nuốt. Nhưng đã ở một bộ phận khác của dạ dày, trong cuốn sách.

    Các bức tường của dạ cỏ được bao phủ với sự tăng trưởng nhỏ. Nhiệm vụ của họ là hấp thụ càng nhiều chất dinh dưỡng từ thực phẩm càng tốt, là sản phẩm của quá trình lên men, được thực hiện với sự tham gia của nước bọt và một số lượng lớn vi khuẩn có ích cho cơ thể. Số của họ là 150 tỷ.

    Trong số các phần của dạ dày của con bò, thứ hai là một lưới bao gồm một số lượng lớn các tế bào. Đây là một trong những khoa nhỏ nhất (thể tích lên tới 10 lít), kết nối với vết sẹo. Điều này tiếp tục các quá trình như tiêu hóa và lên men. Các bức tường của bộ phận này có cơ bắp mạnh mẽ, có khả năng trộn các nội dung của dạ dày, tạo điều kiện cho một quá trình khác – lên men các chất dinh dưỡng. Lưới, giống như một mạng tinh thể, không cho phép các thân cây lớn đi qua, đến vị trí của các phần mềm hơn của dạ dày, có thể bị tổn thương bởi thức ăn thô.

    Lần đầu tiên thức ăn nhai, nằm trong dạ cỏ, tái sinh, một lần nữa đi vào khoang miệng để tiếp tục nghiến răng. Điều này xảy ra khi thô, khó tiêu hóa đối với các sợi cellulose vi khuẩn với một lượng nhất định tích lũy trong dạ dày. Nhưng nếu có các hạt lớn trong thực phẩm, lưới sẽ trì hoãn chúng trong 20-48 giờ. Trong quá trình lưu trữ trong phần này của dạ dày, nội dung của nó được sửa đổi hoàn toàn. Thực phẩm trở nên phù hợp để nghiền tiếp trước khi nó đi vào bộ phận tiếp theo.

    Một trong những phần của dạ dày của một con bò là rennet. Nó được thiết kế để thực hiện một số lượng lớn các chức năng. Dung tích của nó là 15 lít thức ăn, cuối cùng đã được chuẩn bị cho tiêu hóa. Phần này thực hiện chức năng của một dạ dày thông thường. Ở đây, thức ăn đã trải qua quá trình lên men trong ba phần đầu tiên được tiêu hóa do tác động của axit và các enzyme của chính động vật.

    Có bao nhiêu dạ dày bò? Con vật có một cơ quan, nhưng cấu trúc của nó rất phức tạp. Trong phần cuối cùng, thức ăn ở dạng khô, được hấp thụ chủ yếu trong sách. Rennet dạ dày của một con bò có cấu trúc tương tự như một cơ quan của con người. Thành của nó có một số lượng lớn các tuyến tiết ra nước trái cây, được gọi là dạ dày. Ở đây chỉ số lớn nhất về độ axit, so với các bộ phận khác.

    Trong bụng, thức ăn cuối cùng được tách ra. Sau khi khối chuẩn bị đi vào ruột, từ các hạt nhỏ, tất cả các chất cần thiết cho dinh dưỡng sẽ được hấp thụ vào cơ thể. Trong ruột, quá trình hấp thu mạnh hơn nhiều. Từ lúc thức ăn vào dạ dày và cho đến khi được tiêu hóa hoàn toàn, phải mất hai đến ba ngày.

    Hệ thống tiêu hóa của một con bò rất phức tạp. Burenka phải liên tục ăn. Không nên nghỉ giữa các lần cho ăn, nếu không sức khỏe của động vật bị đe dọa.

    Tại sao dạ dày dừng lại ở bò?

    Những lý do phổ biến nhất khiến dạ dày không chịu hoạt động như sau:

    • Cho ăn thức ăn chất lượng thấp, đó là điều hoàn toàn không thể chấp nhận được. Thức ăn phải tươi và được băm nhỏ, nếu không khi tiêm vào thực quản, bò cảm thấy khó chịu, có sự ứ đọng trong ruột. Nếu con vật được cho rau, chúng cần được xay hoặc băm nhỏ bằng dao. Khi cho ăn bằng ngô, cần được làm sạch. Với suy dinh dưỡng thường xuyên, một con bò trong khi cho ăn nuốt thức ăn nhanh chóng và trong các phần lớn, dẫn đến ngừng dạ dày.
    • Lý do dừng nội tạng có thể là một sự giật mình đột ngột, trong đó thực quản bị thu hẹp. Nó cũng có thể xảy ra nếu một con bò bị bệnh bạch cầu, bệnh lao hoặc rối loạn thần kinh.
    • Dạ dày có thể dừng lại nếu con bò đã nuốt một vật lạ có tính nhất quán rắn, ví dụ như một hòn đá, một cái đinh.

    Dừng dạ dày của một con bò – làm thế nào để chạy?

    Nếu nguyên nhân là một vật lạ trong thực quản, bạn có thể tự xử lý nó mà không cần sự giúp đỡ của bác sĩ thú y. Để làm điều này, con bò phải được buộc vào một cái cây và một cái nêm chèn vào giữa răng để hàm không đóng lại. Sau đó quấn tay bằng khăn và lấy đồ.

    Điều này có thể được thực hiện bằng cách sử dụng đầu dò được đưa vào thực quản của động vật. Một vật bị nuốt dễ dàng bị đẩy. Để đầu dò được tự do đi qua, bất kỳ loại dầu thực vật nào cũng phải được đổ vào yết hầu. Bạn có thể đổ nước cùng một lúc. Nếu đầu dò không có trong tay, bạn có thể sử dụng ống cao su có đường kính không quá 3,5 cm, miễn là các cạnh của nó tròn. Bạn không thể sử dụng một cây gậy, nó có thể gây thương tích cho thực quản.

    Với nội dung trong nước, bạn có thể buộc con vật rút lưỡi ra. Khi điều này xảy ra, làm phiền anh ta, gây nôn. Có lẽ một con vật bị nuốt sẽ nhổ nó ra. Nếu con bò không làm việc dạ dày do sử dụng thức ăn chưa qua chế biến, nó chỉ ra rằng tuyến tụy ngừng hoạt động. Trong trường hợp này, liên hệ với bác sĩ thú y của bạn.

    Chạy các bài thuốc dân gian

    Nếu không thể đẩy qua vật nuốt hoặc loại bỏ nguyên nhân ngừng dạ dày do bò sử dụng thức ăn kém chất lượng, do thiếu thuốc trong bộ dụng cụ sơ cứu, họ đã sử dụng các biện pháp dân gian. Bí quyết của một số trong số họ:

    • Nấm men với số lượng 100 gram phải được hòa tan trong một cốc nước ấm, để nó ủ trong 30 phút. Thêm vodka và đường với số lượng 200 ml và 100 gram. Khối lượng thu được của bò lỏng nên uống hai lần trong ngày. Tincture để tưới nước cho động vật trong vài ngày.
    • Chuẩn bị thuốc sắc của yarrow, Hypericum, hạt lanh và cho chúng một con bò hai lần một ngày. Dạ dày sẽ hoạt động trở lại.
    • Mua trong một dược phẩm cher bohnaya cồn, pha loãng với 0,5 lít nước và đổ bò vào miệng.

    Nuôi gì?

    Để thức ăn của bò được tiêu hóa tốt và không gây hại cho dạ dày, động vật phải được cho ăn đúng cách. Chế độ ăn uống được coi là cân bằng nếu nó bao gồm hàng ngày của các thành phần sau:

    • Bột xơ, rất giàu cỏ tươi, cỏ khô, ủ chua.
    • Các loại hạt ngô, yến mạch, lúa mạch, đậu nành, việc sử dụng để nạp năng lượng cho cơ thể bò.
    • Sản phẩm phụ được sản xuất bởi ngành công nghiệp thực phẩm: bột giấy của cam và củ cải đường, mật rỉ.

    Ruột non

    Ruột già

    Tiếp theo, thức ăn đi vào trong manh tràng. Cecum là phần đầu tiên của đại tràng. Đây là một hồ chứa khác (cũng như dạ dày lưới), nằm cách xa đường tiêu hóa chính. Sau khi thức ăn trải qua quá trình thoái hóa hóa học ở vùng bụng và ruột non, nó cũng trải qua quá trình lên men vi sinh vật trong manh tràng. Ở một con bò trưởng thành, vai trò của quá trình lên men trong dạ dày võng mạc là không đáng kể, nhưng, ví dụ, ở những động vật nuôi như ngựa và thỏ, giá trị của quá trình lên men trong manh tràng là rất cao. Đại tràng (đại tràng 2) được chia thành các phần gần và xoắn ốc. Vai trò của đại tràng trong quá trình tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng là không đáng kể. Chức năng chính của nó là sự hình thành phân. Các bức tường bên trong của đại tràng không có các thiết bị papillae để hấp thụ chất dinh dưỡng, nhưng việc hấp thụ nước và muối khoáng trong ruột kết khá thành công. Ruột già kết thúc với lỗ hậu môn.

    Do đó, một bộ máy tiêu hóa phức tạp và mạnh mẽ của một con bò đóng vai trò là một đơn vị rất hoàn hảo, nhờ đó, một động vật nhai lại có thể sử dụng không chỉ cái gọi là mạnh (cám và bánh dầu), mà còn là thức ăn thô thông thường (cỏ xanh và cỏ khô). Những thức ăn như vậy rất nghèo protein, nhưng tuy nhiên, từ bò, chúng tạo ra cả protein của cơ bắp (tức là cuối cùng là một thân thịt lớn) và protein, là một phần của sữa được giải phóng dồi dào.

    Cấu tạo của bò, dạ dày bò

    1. Lưới – có thể được gọi là bộ điều khiển. Tên này được đặt cho anh ta vì thực tế là anh ta giúp tách những miếng thức ăn lớn ra khỏi những miếng nhỏ đã được nhai kỹ. Lưới nhặt những miếng thức ăn lớn và đưa chúng trở lại dạ cỏ để chúng có thể được xử lý lại. Trong phần này không có tuyến nào cả. Các bức tường của lưới bao gồm củ nhỏ. Chức năng chính ở nơi này là tế bào, giúp xác định các hạt thức ăn được xử lý tốt như thế nào với vết sẹo.
    2. Một cuốn sách là bộ phận tiêu hóa nhai lại thứ ba. Cuốn sách được chia thành các khoang hẹp và có hình dạng gấp lại. Đó là trong những nếp gấp và là thực phẩm chế biến. Trong phần này, các quá trình tiêu hóa tiếp tục. Thức ăn được chế biến bằng nước bọt và bắt đầu lên men. Trong cuốn sách, các hạt thức ăn được tiêu hóa, lan vào các nếp gấp của bộ phận và bắt đầu mất nước. Hấp thụ độ ẩm từ sách thực phẩm cho phép cấu trúc đặc biệt của nó. Nhìn vào đặc điểm của phần thứ ba, có thể hiểu rằng anh ta chịu trách nhiệm cho sự hấp thụ. Khối lượng của phần tiêu hóa này khá nặng, nhưng đồng thời nó không lớn lắm.
    3. Abomasum – Đây là phần cuối cùng, thứ tư của hệ thống tiêu hóa của bò. Abomasum có cấu trúc tương tự như dạ dày của động vật có vú thông thường. Màng nhầy của bộ phận này có một số lượng lớn các tuyến có khả năng tiết ra dịch dạ dày chua. Cấu trúc abomasum của một con bò đơn giản hơn đáng kể so với cấu trúc của các bộ phận khác. Các mô cơ bụng được trình bày dưới dạng các rãnh dọc. Và các bức tường abomasum bao gồm một màng nhầy với vỏ hình lăng trụ. Trong các bức tường là các tuyến môn vị và tim. Niêm mạc của khoa tạo thành 13 nếp gấp 14. Bộ phận này chiếm ưu thế, bởi vì trong đó các quá trình tiêu hóa chính xảy ra, sự hấp thụ các nguyên tố vi lượng có lợi và nhiều hơn nữa.
    • Lên men (lên men) – Với sự trợ giúp của vi khuẩn đặc biệt nằm trong các tế bào, giai đoạn tiêu hóa ban đầu xảy ra. Điều này cho phép bạn phá vỡ thức ăn vào cơ thể, sử dụng việc sản xuất carbon dioxide và metan. Nếu con bò không ợ khí như vậy, thì có thể, tình trạng trướng bụng sẽ xảy ra, điều này sẽ làm xấu đi công việc tiêu hóa và các cơ quan khác của hệ thống này.
    • Trộn. Cơ sẹo cung cấp khả năng trộn thức ăn và nhổ ra để làm cho nó nhai lại. Các bức tường của dạ cỏ có thành phần nhỏ, có sự xuất hiện của mụn cóc, với sự giúp đỡ của chúng, và là sự hấp thụ các nguyên tố vi lượng có lợi và vitamin từ thực phẩm.
    • Chức năng chuyển đổi. Dạ cỏ chứa hơn 150 tỷ vi khuẩn và vi khuẩn khác nhau cho phép chuyển đổi carbohydrate trong cơ thể động vật thành axit béo, gần bằng 70% lượng năng lượng cung cấp cho động vật nhai lại. Những sinh vật như vậy bao gồm vi khuẩn và nấm. Vi khuẩn có trong dạ cỏ, hoạt động như một chất chuyển đổi của ketoacids và amoniac.

    Tại sao một số người nghĩ rằng một con bò có bốn dạ dày?

    Theo nhiều cách, kiến ​​thức của một cư dân nông thôn chưa thành công trong khoa học giáo dục bị hạn chế và phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân của anh ta. Và dân làng có nhiều kinh nghiệm trong việc giết mổ gia súc để lấy thịt hơn bất kỳ người dân thành phố nào. Sau khi giết mổ gia súc, bạn có thể thấy bằng mắt của mình rằng khá khó để trả lời câu hỏi về số lượng dạ dày, vì bốn phần khác nhau có thể nhìn thấy rõ. Đây là một người đàn ông đứng yên.

    Tiêu hóa bò, tính năng đặc biệt của nó

    Инстинкт самосохранения диктует животному как можно скорее съесть большое количество травы и зелени, а вот процесс переваривания лучше совершить в другом месте, более безопасном для этого. Самым масштабным отделом желудка называют рубец, именно в это место проникают все не пережёванные части растений, которые поступили в организм животного. Hầu hết các thức ăn hồi lại vào miệng để nhai kỹ hơn. Khi nuốt lại thức ăn không còn vào vết sẹo, mà vào lưới.

    Đôi khi, một số chuyên gia không nhận ra vết sẹo, lưới và đặt các phòng ban đầy đủ và gọi chúng là đạn, vì bước quan trọng nhất trong tiêu hóa là sẹo. Nhưng chỉ có một câu trả lời đúng – bò chỉ có một dạ dày, bao gồm 4 phần được liên kết với nhau.

    Đặc điểm của tiêu hóa bò

    Bò có một hệ thống tiêu hóa thú vị – loài động vật này nuốt toàn bộ thức ăn, hầu như không làm lại bằng răng, và sau đó, khi nghỉ ngơi, otrygivaya các bộ phận của nó và nhai cẩn thận. Đây là lý do tại sao một con bò thường có thể được nhìn thấy nhai. Cơ chế hồi quy và nhai thức ăn từ dạ dày được gọi là nhai kẹo cao su. Nếu một con bò có quá trình này, nó có nghĩa là có gì đó không ổn với nó.

    Hệ thống tiêu hóa của một con bò có cấu trúc như sau:

    1. Miệng – môi, răng và lưỡi. Họ phục vụ để nắm bắt thức ăn, nuốt và chế biến.
    2. Thực quản. Tổng chiều dài của nó là khoảng nửa mét, nó kết nối dạ dày với hầu họng.
    3. Ruột già. Từ ruột non, khối thức ăn đi vào ruột già, nơi diễn ra quá trình lên men thực phẩm và các chất được hấp thụ vào máu.

    Cấu trúc dạ dày của một con bò và các bộ phận của nó

    Cấu trúc dạ dày của một con bò cũng được quan tâm – cơ quan này bao gồm 4 buồng:

    Dạ dày thực sự theo nghĩa đầy đủ của từ này là abomasum, các buồng khác được sử dụng để chế biến trước thức ăn, chúng được gọi là foregutts. Các cicatrix, cuốn sách và lưới điện không có các tuyến sản xuất nước dạ dày, chỉ có abomasum được cung cấp với họ. Nhưng trong foregut có một quá trình lên men, phân loại và chế biến cơ học của thức ăn. Hãy xem xét các phần của dạ dày của một con bò một cách chi tiết.

    Sẹo là phần đầu tiên của dạ dày của một con bò. Nó có thể tích lớn nhất so với các máy ảnh khác – khoảng 200 lít! Nó nằm trong khoang bụng bên trái. Thực phẩm nuốt vào pRAric này. Vết sẹo chứa đầy vi sinh vật cung cấp cho chế biến thực phẩm chính.

    Giúp Dạ cỏ chứa một số lượng lớn vi sinh vật, tổng trọng lượng của chúng là khoảng 3 kg. Chúng thúc đẩy sự tổng hợp vitamin B và protein trong cơ thể động vật.

    Sẹo bao gồm một lớp cơ đôi và được chia thành 2 phần bởi một máng nhỏ. Màng nhầy của dạ dày trước được cung cấp với u nhú mười cm. Đó là trong dạ cỏ rằng sự phân hủy các hợp chất tinh bột và cellulose thành đường đơn giản xảy ra. Thông qua quá trình này, động vật nhận được năng lượng cần thiết.

    Phần này của dạ dày có khối lượng nhỏ hơn nhiều so với phần trước. Dung tích của nó không quá 10 lít. Lưới nằm ở ngực, một trong những khu vực của nó liền kề với cơ hoành. Chức năng chính của mạng là phân loại thức ăn. Các phần nhỏ của thức ăn di chuyển từ đây đến phần tiếp theo của dạ dày, trong khi những phần lớn hơn ợ và rơi vào miệng của con bò, nơi chúng được nhai. Lưới khi nó lọc thức ăn, đi qua thức ăn của hệ thống tiêu hóa, đã qua quá trình xử lý chính.

    Những miếng thức ăn nhỏ đang di chuyển vào cuốn sách – phần thứ ba của dạ dày. Ở đây thực phẩm được nghiền nát cơ học, do cấu trúc đặc biệt của màng nhầy. Nó bao gồm các nếp gấp, giống như lá. Trong cuốn sách có thêm một quá trình xử lý sợi xơ thô và sự hấp thụ nước và axit.

    Rennet là bộ phận duy nhất trong dạ dày của một con bò được cung cấp các tuyến để tiết dịch tiết dạ dày. Nó nằm ở khu vực giữa 9 và 12 xương sườn bên phải. Thể tích của nó ở người lớn đạt 15 lít.

    Ở bê, abomasum hoạt động, trong khi phần còn lại của dạ dày không được sử dụng cho đến gần ba tuần tuổi. Vết sẹo họ có ở vị trí gấp và sữa ngay lập tức đi vào ổ bụng thông qua máng, bỏ qua lưới và cuốn sách.

    Bệnh lý thường gặp

    Bò thường bị bất thường của hệ thống tiêu hóa. Chúng đại diện cho một mối nguy hiểm nghiêm trọng đối với cuộc sống của động vật nhai lại. Vấn đề tiêu hóa thường gặp ở bò:

    Tympania hoặc đầy hơi là một tình trạng rất nguy hiểm phát sinh do sự thay đổi mạnh mẽ trong chế độ ăn của bò, ăn một lượng lớn thức ăn ở động vật, góp phần tăng sự hình thành khí. Tympania có thể xảy ra do tắc nghẽn thực quản. Triệu chứng:

    1. Từ chối ăn.
    2. Một cái bụng mở rộng.
    3. Không có kẹo cao su.
    4. Lo lắng
    5. Trong trường hợp nghiêm trọng, khó thở, xanh xao của màng nhầy.

    Chú ý! Tình trạng này là nguy hiểm cho cuộc sống của con bò, vì vết sẹo đã tăng thể tích ép mạnh cơ hoành, ngăn không cho động vật thở bình thường. Nếu bạn không cung cấp hỗ trợ, con bò sẽ chết vì thiếu oxy.

    Các phương pháp giúp giảm sưng bao gồm:

    1. Loại bỏ một cơ thể nước ngoài từ thực quản bằng một đầu dò linh hoạt.
    2. Kích thích dạ dày để bắt đầu nó.
    3. Việc sử dụng các loại thuốc ngăn chặn sự hình thành và lên men khí – Tympanol, magiê cháy, than hoạt tính, ichthyol.
    4. Trong trường hợp khẩn cấp, viện đến vết sẹo của trocar.

    Bạn có thể bắt đầu dạ dày với sự trợ giúp của massage. Nó được thực hiện ở phía bên trái của khoang bụng, trong khu vực của fossa đói với một nắm tay. Thường giúp đổ khu vực này bằng nước lạnh. Một con bò cần phải chạy cho dạ dày của cô ấy để làm việc.

    Quá trình tiêu hóa thường dừng lại ở bò do cho ăn không đúng cách, ví dụ, nếu tập trung chiếm ưu thế trong chế độ ăn hoặc động vật đã ăn cỏ khô. Bắt dạ dày cũng xảy ra khi thực quản bị chặn. Triệu chứng bệnh lý: mất kẹo cao su và thèm ăn, trầm cảm chung. Nếu một con bò có dạ dày, điều này có thể được kiểm tra. Bạn cần phải nghiêng nắm đấm của mình trong khu vực của fossa đói và lắng nghe xem có giảm bớt không.

    Điều trị bệnh lý này bắt đầu ngay lập tức. Điều đầu tiên cần làm là giữ cho động vật ăn kiêng trong một ngày. Trong tương lai, thức ăn dễ tiêu hóa dần dần được giới thiệu – ủ chua, một lượng nhỏ cây trồng gốc, cỏ khô chất lượng cao.

    Để bắt đầu dạ dày được sử dụng:

    1. Thuốc hóa học.
    2. Rửa dạ dày.
    3. Bên trong cho uống nước muối, rượu vodka hoặc pha tại nhà (có thể pha loãng với dầu thực vật).
    4. Massage sẹo.

    Đôi khi việc dừng dạ dày xảy ra do tắc nghẽn cuốn sách. Điều này xảy ra khi thức ăn khô, cám hoặc chất thải ngũ cốc chi phối chế độ ăn của động vật. Nguyên nhân của bệnh lý có thể là cát hoặc bụi bẩn trong thức ăn. Các triệu chứng tắc nghẽn của cuốn sách tương tự như các triệu chứng quan sát thấy khi ngừng dạ dày. Rất khó để xác định nguyên nhân thực sự của việc chấm dứt tiêu hóa. Đối với chẩn đoán sử dụng một vết đâm của dạ dày bằng kim. Nếu cô ấy bước vào khó khăn, điều đó có nghĩa là chúng ta đang nói về sự tắc nghẽn.

    Kể từ khi bò nuốt thức ăn ở dạng chưa qua chế biến, điều thường xảy ra là các vật nguy hiểm như dây, đinh, mảnh vụn và đá sắc nhọn cũng vào bên trong cùng với thức ăn. Các cơ quan nước ngoài như vậy có thể gây thương tích nghiêm trọng cho động vật – đâm thủng dạ dày hoặc đâm thủng tường của nó. Chấn thương lưới thường xuyên cắt ngang, các vật sắc nhọn có thể chạm vào các cơ quan gần đó – tim, lá lách, phổi.

    Triệu chứng viêm võng mạc do chấn thương:

    1. Lo lắng, chán ăn.
    2. Kéo cổ về phía trước.
    3. Con bò có tư thế không tự nhiên – bị gù.
    4. Đôi khi nhiệt độ tăng lên 0,5-1 độ.
    5. Con vật cảm thấy đau khi ấn vào vùng xương ức.

    Việc điều trị nhằm mục đích loại bỏ dị vật ra khỏi dạ dày. Các vật thể kim loại được loại bỏ bằng đầu dò từ tính. Nếu bạn không thể kéo đối tượng ra, phải dùng đến phẫu thuật hoặc con vật bị giết.

    Tất cả các bộ phận của dạ dày của động vật nhai lại thực hiện chức năng của chúng. Nếu ít nhất một trong số họ ngừng hoạt động, toàn bộ hệ thống tiêu hóa bị ảnh hưởng. Điều quan trọng là chẩn đoán sự phát triển của bệnh lý kịp thời và bắt đầu điều trị.

    Một con bò trong nước có bao nhiêu dạ dày?

    Động vật có vú có cơ quan tiêu hóa với cấu trúc và nguyên tắc hoạt động tương tự. Tuy nhiên, điều này không áp dụng cho gia súc. Có bao nhiêu con bò có dạ dày? Câu trả lời cho câu hỏi này khá đơn giản. Những con vật này chỉ có một dạ dày. Tuy nhiên, nó bao gồm 4 phần: dạ cỏ, sách, lưới và abomasum.

    Nó sẽ cho phép bạn xem có bao nhiêu con bò có dạ dày, hình ảnh được trình bày trong tài liệu này. Khi xem xét xác động vật trong phần này, người ta có thể tin rằng nó không chỉ là một túi cơ bắp rắn chắc, giống như ở động vật có vú ăn tạp hay ăn thịt, mà là một hệ thống phức tạp của các buồng tiêu hóa riêng lẻ. Dạ dày, bao gồm một số phần, cho phép động vật ăn thức ăn khá thô có hàm lượng thực vật, chiết xuất từ ​​nó lượng chất dinh dưỡng tối đa.

    Tiếp theo, xem xét chi tiết hơn có bao nhiêu dạ dày ở bò. Hãy để chúng tôi kiểm tra cấu trúc của các bộ phận khác nhau của hệ thống tiêu hóa của vật nuôi.

    Nhai và nước bọt

    Trong miệng gia súc chỉ có răng ở hàm dưới. Điều này cho phép động vật bắt và xé thực vật hiệu quả hơn. Mặc dù thực tế là miệng của con bò rất phù hợp để nhổ cỏ, trong quá trình nhai thức ăn bị nghiền nát một cách thẳng thắn.

    Dựa trên những điều đã nói ở trên, trong quá trình tiêu hóa, con bò phải nhai cái gọi là kẹo cao su – khối lượng được tiêu hóa một nửa, định kỳ hồi sinh trở lại cổ họng. Điều này cho phép động vật xay thức ăn chất lượng cao để phân hủy tốt hơn trong dạ dày.

    Có bao nhiêu con bò có dạ dày? Đầu tiên, hãy nói về bộ phận đầu tiên và lớn nhất của hệ thống tiêu hóa của vật nuôi – dạ cỏ. Ở đây, khối tiêu hóa đến từ thực quản, là enzyme chế biến chính và enzyme.

    Sẹo bao gồm 3 phần riêng biệt: vùng lưng, sọ và vùng bụng. Khối lượng cơ bắp của các túi chức năng này giảm sau mỗi 60 giây, điều này dẫn đến việc nghiền thức ăn. Do đó, trong dạ dày của một con bò, giai đoạn đầu tiên của quá trình tiêu hóa kết thúc.

    Sau khi giảm từng phần của vết sẹo, thức ăn sẽ hồi sinh vào miệng bò và nhai lại. Kẹo cao su hình thành xâm nhập ngay vào phần thứ ba của dạ dày – một cuốn sách, nơi nó được xử lý tăng cường các enzyme.

    Xem xét số lượng dạ dày của một con bò, hãy nói về phần tiếp theo, được gọi là một cuốn sách. Nó được kết nối với lưới với máng xối đặc biệt. Bộ phận chứa các phân vùng mỏng trông giống như các trang của một cuốn sách. Từ đây cũng lạ tên như vậy đi.

    Trong cuốn sách, một khối thức ăn thô xanh được nghiền nát được lên men bởi vi khuẩn. Nguyên tắc tiêu hóa này cho phép cơ thể động vật hấp thụ lượng chất xơ tối đa. Trong phần này, khoáng chất và chất lỏng cũng được hấp thụ vào máu. Vì trong cuốn sách có những thao tác phức tạp, trong quá trình tiêu hóa, chỉ có khoảng 5% tổng khối lượng thức ăn thô xanh đến đây.

    Có bao nhiêu con bò có dạ dày? Dạ dày có điều kiện thứ tư được gọi là rennet. Tại đây một số lượng lớn các tuyến được tập trung, tạo ra một lượng lớn chất lỏng có tính axit.

    Trong abomasum, khối lượng còn lại của thực phẩm chưa tiêu hóa được chế biến bằng nước ép dạ dày. Điều này cho phép bạn tách chất xơ thành protein được cơ thể hấp thụ. Tất cả chất thải tái chế được chuyển đến trực tràng của động vật do giảm các vòng cơ dọc.

    Kết luận

    Vì vậy, chúng tôi đã tìm ra có bao nhiêu dạ dày có bò. Như bạn có thể thấy, cơ quan này là một trong chăn nuôi. Tuy nhiên, nó bao gồm một số phòng ban, mỗi bộ phận đóng một vai trò cụ thể.

    Cuối cùng, điều đáng chú ý là thức ăn đã ăn vào cơ thể động vật trong vài ngày. Để chất xơ được hấp thụ nhanh hơn, thức ăn của bò trang trại thường được trộn với các chất phụ gia vi khuẩn đặc biệt cho phép hệ thống tiêu hóa đối phó tốt hơn với sự phá vỡ các cấu trúc phức tạp trong thành phần của thức ăn. Bắt buộc trong chế độ ăn của bò là rơm hoặc cỏ khô. Thức ăn khô là lý tưởng cho sự hình thành của một kẹo cao su buổi tối dày đặc, sự hình thành cho phép động vật đối phó tốt hơn với sự đồng hóa của thức ăn ủ chua, thức ăn thực vật, thức ăn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biến Chứng Của Cấu Trúc Niêm Mạc Dạ Dày Lạc Chỗ
  • Thời Tiết Trong Tiếng Anh
  • Từ Vựng Tiếng Anh Lớp 5 Cập Nhật Theo Chương Trình
  • Thực Vật Hạt Kín Và Sự Phát Triển Của Thực Vật Hạt Kín
  • Cấu Trúc Của Trạng Từ Trong Tiếng Anh: Vị Trí Và Cách Dùng
  • Sinh Học 12: Gen Và Cấu Trúc Của Gen

    --- Bài mới hơn ---

  • Phôi Cá Mút Đá Tái Cấu Trúc Hệ Gen
  • 1 Gen Quy Định Cấu Trúc Của Một Polipeptit
  • Gen, Mã Di Truyền Và Quá Trình Nhân Đôi Adn, Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 12
  • Cấu Trúc P53 (Protein), Chức Năng, Chu Kỳ Tế Bào Và Bệnh Tật / Sinh Học
  • Phát Hiện Gen P53 Kiềm Chế Sự Phát Triển Của Các Tế Bào Ung Thư
  • Nêu khái niệm và cấu trúc của gen

    Gen là một đoạn của phân tử ADN mang thông tin mã hóa cho một sản phẩm xác định (chuỗi pôlipeptit hoặc ARN)

    – Ở một số chủng virut, gen có cấu trúc mạch đơn ADN hoặc ARN mạch đơn.

    – Ở sinh vật nhân thực, gen có cấu trúc xoắn kép được cấu tạo từ 4 loại nuclêôtit theo nguyên tắc bổ sung.

    – Các gen khác nhau có số lượng và trình tự các nuclêôtit khác nhau.

    – Mỗi gen mã hóa cho prôtêin điển hình gồm 3 vùng trình tự nuclêôtit. Vùng điều hòa nằm ở đầu 3′ mạch mã gốc của gen mang tín hiệu khởi động và kiểm soát phiên mã. Tiếp theo là vùng mã hóa mang thông tin mã hóa cho các axit amin. Vùng kết thúc nằm ở đầu 5′ mạch mã gốc của gen, mang tín hiệu kết thúc phiên mã.

    – Vùng mã hóa có cấu trúc phân mảnh hoặc không phân mảnh tùy thuộc vào sinh vật. Các gen của sinh vật nhân sơ có vùng mã hóa liên tục. Phần lớn các gen của sinh vật nhân thực có vùng mã hóa không liên tục. Xen kẽ giữa các đoạn mã hóa axit amin (exon) là các đoạn không mã hóa axit amin (intron). Các gen như vậy gọi là gen phân mảnh. Số lượng exon và intron của các gen khác nhau là khác nhau.

    – Ví dụ ovalbumin của gè có tới 7 intron xen kẻ giữa 8 exon, còn gen beta-globulin lại có 2 intron xen kẽ 3 exon.

    Phân biệt gen của nhân sơ và nhân thực, gen trong nhân và ngoài nhân.

    – ADN xoắn kép, mạch vòng, trần

    – Có gen ngoài nhân là các plasmit.

    – ADN xoắn kép, mạch thẳng, liên kết với prôtêin loại histon

    – Gen phân mảnh, xen giữa các đoạn exon là đoạn intron

    – Gen ngoài nhân là gen trong ti thể và lạp thể. Chỉ mới phát hiện một loại nấm men có plasmit.

    Gen trong ti thể và lục lạp của sinh vật nhân thực giống cấu trúc gen của sinh vật nhân sơ.

    Plasmit của sinh vật nhân sơ có số lượng lớn, dạng vòng, kích thước nhỏ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 21. Đột Biến Gen
  • Đột Biến Gen, Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 12
  • Cấu Trúc Và Bộ Gen Của Hiv
  • Giải Vở Bài Tập Sinh Học 9
  • Bài Tập Cấu Trúc Adn (Gen)
  • Bài Tập Cấu Trúc Adn (Gen)

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vở Bài Tập Sinh Học 9
  • Cấu Trúc Và Bộ Gen Của Hiv
  • Đột Biến Gen, Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 12
  • Bài 21. Đột Biến Gen
  • Sinh Học 12: Gen Và Cấu Trúc Của Gen
  • Bài tập 1 : Tổng số liên kết hóa trị Đ – P của một gen là 2998. Gen này có số G = 2/3 số A.

    a. Tìm số nuclêôtit của gen.

    b. Tính số liên kết hyđrô của gen.

    Bài tập 2: Một gen có số nuclêôtit loại xitôzin là 1050 và số nuclêôtit loại guanin chiếm 35% tổng số nuclêôtit của gen.

    a. Tính chiều dài của gen bằng micromét

    b. Tìm tỉ lệ % của các loại nuclêôtit còn lại.

    Bài tập 3: Một phân tử ADN chứa 650000 nu loại X, số nu loại T bằng 2 lần số nu loại X.

    a. Tính chiều dài của phân tử ADN đó (m)

    b. Tính số nu mỗi loại của ADN?

    Bài tập 4: Cho một gen có chiều dài 0,408µm, trong đó A chiếm 30%.

    a) Tính số nu mỗi loại của gen.

    b) Tính số liên kết hiđrô và khối lượng của gen.

    1= G2 + X2 N1 = N2 ; N =N1 +N2 = 2N1 = 2N2 1. TỔNG SỐ NU CỦA ADN (N) Tính theo số lượng: N= 2A + 2G (1) A + G = Tính theo %: %A + %T + %G + %X = 100% (A% = ANx100; G% = GNx100) mà: %A = %T ; %G = %X %A + %G =%T + %X = 50% %A = %T = (%A1 + %A2 )/2= (%T1 + %T2 )/2= (%A1 + %T1 )/2= (%A2 + %T2 )/2 %G = %X = (%G1 + %G2 )/2= (%X1 + %X2 )/2= (%G1 + %X1 )/2= (%G2 + %X2 )/2 2. CHIỀU DÀI CỦA ADN (L) Chiều dài của 1 cặp nu là 3.4A0 nên chiều dài của ADN là: ( L1 = L2= L ) 3. KHỐI LƯỢNG CỦA ADN ( M) Mỗi nu nặng trung bình 300 đv.C (300 Dalton) nên khối lượng ADN là: M = N x 300 đv.C 4. LIÊN KẾT CỘNG HOÁ TRỊ Liên kết cộng hóa trị giữa các nu: HT = N - 2 Liên kết cộng hóa trị giữa đường và acid phosphoric (của gen): HT = 2N - 2 5. LIÊN KẾT HIDRO (H) Cứ mỗi cặp A - T có 2 lk Hidro và 1 cặp G - X có 3 lk Hidro nên số lk Hidro có trong ADN là: G = H - N Trong đó : N : tổng số nu của ADN L : chiều dài của ADN M : khối lượng của ADN HT : số liên kết hoá trị có trong ADN H : số liên kết hidro có trong ADN 6. SỐ VÒNG XOẮN (CHU KÌ XOẮN) (C) C = = Đổi đơn vị: 1mm = 103mm; 1mm = 106nm; 1mm = 107A0. II. BÀI TẬP ÁP DỤNG: Bài tập 1 : Tổng số liên kết hóa trị Đ - P của một gen là 2998. Gen này có số G = 2/3 số A. Tìm số nuclêôtit của gen. Tính số liên kết hyđrô của gen. Bài tập 2: Một gen có số nuclêôtit loại xitôzin là 1050 và số nuclêôtit loại guanin chiếm 35% tổng số nuclêôtit của gen. Tính chiều dài của gen bằng micromét Tìm tỉ lệ % của các loại nuclêôtit còn lại. Bài tập 3: Một phân tử ADN chứa 650000 nu loại X, số nu loại T bằng 2 lần số nu loại X. Tính chiều dài của phân tử ADN đó (mm) Tính số nu mỗi loại của ADN? Bài tập 4: Cho một gen có chiều dài 0,408µm, trong đó A chiếm 30%. Tính số nu mỗi loại của gen. Tính số liên kết hiđrô và khối lượng của gen. Bài tập 5: Cho 1 gen có 3900 liên kết hiđrô và A chiếm 20% Tính chiều dài của gen Tính số nu mỗi loại Bài tập 6: Cho 1 gen có chiều dài 0,51µm và 3900 liên kết hiđrô Tính số nu mỗi loại Tính số vòng xoắn và khối lượng của gen. Bài tập 7: Cho một gen có khối lượng 72.104đvC, trong đó A/G = 2/3. Tính chiều dài của gen (µm). Tính số nu mỗi loại của gen. Bài tập 8: Cho 1 gen có 2998 liên kết hóa trị giữa các nuclêôtit và có hiêu của A với nu không bổ sung là 10%. Tính chiều dài của gen Tính số nu mỗi loại Bài tập 9: Cho 1 gen có 120 vòng xoắn, trong đó số nu của A nhiều hơn nu khác là 600. Tính chiều dài Tính số nu mỗi loại. Bài tập 10: Cho 1 gen có chiều dài 0,255µm. Hãy tính số nu mỗi loại trong các trường hợp sau: Tổng % của 2 loại nu là 80%. Hiệu % của A với nu khác là 20%. Tích % của A với nu không bổ sung là 6% A/G = 3/2 Bài tập 11: Tế bào X mang cặp gen Bb có tổng 5396 liên kết hóa trị giữa các nuclêôtit và số liên kết hóa trị của gen B nhiều hơn gen b là 600. Gen B có A+T =60%, gen b có X - A = 10% Tính chiều dài của 2 gen Tính số nu mỗi loại của 2 gen. Bài tập 12: Số liên kết hyđrô giữa 2 mạch đơn ADN là 8.105. Phân tử ADN này có số cặp nu loại G - X nhiều gấp 2 lần số cặp A -T. Tính số nu mỗi loại. Tính chiều dài (micrômet). Bài tập 13: Trong phân tử ADN, số nu loại Timin là 100000 và chiếm 20% tổng số nu. Tính số nu các loại A, X và G Tính chiều dài của phân tử ADN bằng micromet Bài tập 14: Một gen có khối lượng là 540000 đvC và có số nu loại G bằng 30% tổng số nuclêôtit của gen. Tính số nu mỗi loại và số liên kết hyđrô của gen Trên mạch đơn thứ nhất của gen có 10% ađênin và 40% guanin. Xác định số nu từng loại nu trên mỗi mạch đơn của gen. Bài tập 15: Một gen có chiều dài 0,408µm và có chứa 780 ađênin Xác định khối lượng phân tử và số liên kết hóa trị của gen Tính số lượng và tỉ lệ mỗi loại nu của gen Trên một mạch của gen có 520 timin và 240 xitozin. Xác định số lượng từng loại nu trên mỗi mạch đơn. Bài tập 16: Trên mạch 1 của một gen có A = 40%, T = 30%, G = 20% và X = 150 nuclêôtit. Tính chiều dài của gen Tính số nu mỗi loại của gen Bài tập 17: Số liên kết hiđrô giữa 2 mạch đơn của 1 phân tử ADN bằng 8.105. Phân tử ADN này có số cặp loại G - X nhiều gấp 2 lần số cặp A - T. Tính số nu mỗi loại của gen Xác định số nu mỗi loại trên 2 mạch đơn. Biết rằng mạch 1 của phân tử ADN ban đầu có 40000A và bằng ½ số G ở mạch 2. Bài tập 18: Một gen ở tế bào nhân sơ dài 5100A0, có tổng số phần trăm của A và T ở mạch 1 chiếm 60% số nu của mạch, có hiệu số % ở mạch 2 giữa X với G bằng 10% và tỉ lệ phần trăm của A gấp 2 lần tỉ lệ của G. Xác định tỉ lệ phần trăm từng loại nu của gen Xác định số liên kết hiđrô của gen Xác định số nu trên 2 mạch đơn của gen Bài tập 19: Hai gen đều có chiều dài bằng nhau là 3060A0. Trên mạch thứ nhất của gen I có A: T: G: X lần lượt có số lượng phân chia theo tỉ lệ 1: 2 : 3 : 4. Trên mạch thứ 2 của gen II có số lượng A = 2T = 3G = 4X. Xác định số lượng từng loại nu trên mỗi mạch đơn của mỗi gen. Bài tập 20: Một gen có hiệu số Guanin với một loại nu khác bằng 15% và có 2862 liên kết hyđrô. Trên mạch thứ nhất của gen có tổng số giữa G và A bằng 40% và hiệu số giữa G với A bằng 20%. Xác định từng loại nuclêôtit của gen Số lượng từng loại nu trên mỗi mạch của gen. Bài tập 21: trên mạch thứ nhất của gen có 15% ađenin, 25% timin, 35% guanin. Gen đó có 3276 liên kết hyđrô. Xác định tỷ lệ và số lượng từng loại nu của gen. Xác định số lượng từng loại nu trên 2 mạch của gen. Chiều dài và khối lượng của gen Tỉ lệ và số lượng từng loại nu của gen. Bài tập 23: Trên mạch thứ nhất của gen có 300 xitôzin, hiệu số giữa X với A là 10% và hiệu số G với X bằng 20% số nu của mạch. Trên mạch 2 của gen có hiệu số A với G là 10% số nu của mạch. Số lượng từng loại nu trên mỗi mạch của gen. Xác định từng loại nuclêôtit của gen Bài tập 24: Một gen có 630A và trên mạch 1 có tỉ lệ các gen như sau: A : T : G : X lần lượt là 4 : 3 : 2 : 1. Xác định số lượng từng loại nu trên 2 mạch của gen Xác định tỷ lệ và số lượng từng loại nu của gen. Bài tập 25: Một đoạn ADN gồm 2 gen M và N. Gen M có chiều dài 0,204mm và số liên kết hyđrô của gen là 1560. Gen N có số liên kết hyđrô ít hơn số liên kết hyđrô của gen M là 258, trên mạch 1 của gen N có G = 36% và X = 12%. Tìm số nuclêôtit từng loại của gen M Tính chiều dài gen N Tính số nuclêôtit từng loại của đoạn ADN. Bài tập 26: Một gen có A + G = 900 nuclêôtit và X = 2/3 T. Mạch thứ nhất của gen có T = ¼ A của gen, mạch thứ hai có X = ¼ G của gen. Tính số nuclêôtit từng loại của gen. Suy ra % từng loại nuclêôtit của gen. Tính số nuclêôtit từng loại của mỗi mạch. Gen thứ hai có số liên kết hyđrô bằng số liên kết hyđrô của gen nói trên nhưng chiều dài ngắn hơn 204A0. Hãy tính số nuclêôtit từng loại của gen hai. Tìm % từng loại nuclêôtit của mỗi mạch. Gen nói trên có chiều dài 0,255mm . Khối lượng phân tử của 1 nuclêôtit A hoặc G là 400đvC, của 1 nuclêôtit loại T hoặc X là 300đvC. Tính khối lượng của gen. Đoạn ADN mang gen nói trên có số liên kết hyđrô là 6000. Đoạn ADN này gồm 2 gen, gen thứ hai dài gấp đôi gen 1 nói trên. Hãy tính số nuclêôtit từng loại của gen hai. Bài tập 28: Một phân tử ADN có 360 chu kì xoắn, trên một mạch đơn của phân tử này có các nucleotit loại A, T, G, X lần lượt tỉ lệ với 1, 2, 3, 4. a. Chiều dài của phân tử ADN bằng bao nhiêu micrômet? b. Tính số nuclêôtit mỗi loại trên mạch đơn và của phân tử ADN? Bài tập 29: Có 2 gen dài bằng nhau. Gen thứ nhất có tỉ lệ G = 15% tổng số nuclêôtit và số liên kết hyđrô của gen là 1725. Gen thứ hai có số liên kết hydrô nhiều hơn gen thứ nhất là 225. Tìm chiều dài của mỗi gen Tính % nuclêôtit từng loại của gen 2 Trên mạch thứ 2 của gen 1 có tích A với T bằng 12% (A<T) và hiệu % giữa G và X bằng 10%. Trên mạch thứ nhất của gen hai có hiệu % giữa G với X bằng 20% và thương số giữa A với T bằng 1/3. Tính số nuclêôtit từng loại của mỗi mạch và cả gen của gen 1 và gen 2. Bài tập 30: Một phân tử ADN chứa 11000 liên kết hydro và có khối lượng phân tử là 27.105 đvC. ADN này chứa 5 gen có chiều dài lần lượt hơn nhau 255A0. Số nuclêôtit loại A của 5 gen đều bằng nhau. Trong mạch thứ nhất của gen 1 có A = 10%; G = 20%. Trong mạch thứ nhất của gen 2 có A = 200; G = 300. Trong mạch thứ nhất của gen 3 có A = 300; G = 400. Trong mạch thứ nhất của gen 4 có A = 350; G = 400. Trong mạch thứ nhất của gen 5 có A = 500; G = 450. Biết chiều dài của gen 1 < gen 2 < gen 3 < gen 4 < gen 5 và khối lượng phân tử của 1 nuclêôtit là 300 đvC. Tính chiều dài của mỗi gen. Tính số nuclêôtit mỗi loại của từng gen. Tính số nuclêôtit mỗi loại của từng mạch của các gen. BÀI TẬP PHÂN BÀO I. CÁC CÔNG THỨC THƯỜNG DÙNG 1. Nguyên phân: - Số tế bào con tạo ra sau nguyên phân: Gọi x là số lần nguyên phân bằng nhau của a tế bào ban đầu: + Số tế bào con được tạo thành: a*2x + Số tế bào con lần lượt xuất hiện trong quá trình nguyên phân: (2x + 1 - 2)*a - Số thoi vô sắc được hình thành trong quá trình nguyên phân: (2x - 1)*a - Số nhiễm sắc thể trong các tế bào con: 2x*a*2n - Số nhiễm sắc thể môi trường cung cấp cho quá trình nguyên phân: Nếu có a tế bào mẹ (2n) nguyên phân x lần bằng nhau: + Nguyên liệu tương đương với số NST môi trường cung cấp: (2x - 1)*a*2n + Số NST hoàn toàn mới trong các tế bào con: (2x - 2)*a*2n - Số NST, số tâm động và số crômatit trong mỗi tế bào ở các kỳ khác nhau của nguyên phân: Kỳ Cấu trúc Trung gian Đầu Giữa Sau Cuối TB chưa tách TB đã tách Số NST Trạng thái Số tâm động Số Crômatit 2n Kép 2n 4n 2n Kép 2n 4n 2n Kép 2n 4n 4n Đơn 4n 0 4n Đơn 4n 0 2n Đơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu So Sánh Trong Tiếng Trung: Cấu Trúc, Mẫu Câu Và Cách Dùng Chuẩn Nhất ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Ngữ Pháp Tiếng Trung Quyển 2: Giáo Trình Hán Ngữ Nâng Cao ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Các Lỗi Khi Lập Báo Cáo Thuế Trên Phần Mềm Htkk Và Cách Xử Lý
  • Tìm Hiểu Cấu Trúc Xml Của File Docx Và Tùy Biến Lại Gem Docxtor
  • Bhxh báo Lỗi Không Có Tập Tin Hoặc Sai Cấu Trúc
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Gen

    --- Bài mới hơn ---

  • Ankadien Tính Chất Hóa Học, Tính Chất Vật Lý Và Công Thức Cấu Tạo Của Ankadien
  • Tính Chất Hóa Học, Công Thức Cấu Tạo Của Ankan Và Bài Tập
  • Cấu Trúc Phân Tử, Đồng Đẳng, Đồng Phân, Liên Kết Đơn, Liên Kết Đôi Trong Hợp Chất Hữu Cơ
  • Từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt
  • Thế Nào Là Chủ Ngữ, Vị Ngữ, Trạng Ngữ, Bổ Ngữ, Định Ngữ
  • Chúng ta có thể điểm qua những mốc chính trong lịch sử nghiên cứu về gen như sau:

    Mendel (1865) là người đầu tiên đưa ra khái niệm nhân tố di truyền. Johansen (1909) đã đề xuất thuật ngữ gen (từ genos, nghĩa là sản sinh, nguồn gốc) để chỉ nhân tố di truyền xác định một tính trạng nào đó. Sau đó, Morgan trong những năm 1920 đã cụ thể hóa khái niệm về gen, khẳng định nó nằm trên nhiễm sắc thể và chiếm một locus nhất định, gen là đơn vị chức năng xác định một tính trạng.

    Vào những năm 1940, Beadle và Tatum đã chứng minh gen kiểm tra các phản ứng hóa sinh và nêu giả thuyết một gen-một enzyme. Tuy nhiên, trường hợp hemoglobin là một protein nhưng lại gồm hai chuỗi polypeptide do hai gen xác định, do đó giả thuyết trên buộc phải điều chỉnh lại là một gen-một polypeptide.

    Vào những năm 1950, DNA (deoxyribonucleic acid) được chứng minh là vật chất di truyền. Mô hình cấu trúc DNA của Watson và Crick được đưa ra và lý thuyết trung tâm (central dogma) ra đời. Gen được xem là một đoạn DNA trên nhiễm sắc thể mã hóa cho một polypeptide hay RNA.

    Cuối những năm 1970, việc phát hiện ra gen gián đoạn ở sinh vật eukaryote cho thấy có những đoạn DNA không mã hóa cho các amino acid trên phân tử protein. Vì thế, khái niệm về gen lại được chỉnh lý một lần nữa: Gen là một đoạn DNA đảm bảo cho việc tạo ra một polypeptide, nó bao gồm cả phần phía trước là vùng 5′ không dịch mã (5′ untranslation) hay còn gọi là vùng ngược hướng (upstream) và phía sau là vùng 3′ không dịch mã (3′ untranslation) hay còn gọi là vùng cùng hướng (downstream) của vùng mã hóa cho protein, và bao gồm cả những đoạn không mã hóa (intron) xen giữa các đoạn mã hóa (exon).

    Hiện nay, có thể định nghĩa gen một cách tổng quát như sau: Gen là đơn vị chức năng cơ sở của bộ máy di truyền chiếm một locus nhất định trên nhiễm sắc thể và xác định một tính trạng nhất định. Các gen là những đoạn vật chất di truyền mã hóa cho những sản phẩm riêng lẻ như các mRNA được sử dụng trực tiếp cho tổng hợp các enzyme, các protein cấu trúc hay các chuỗi polypeptide để gắn lại tạo ra protein có hoạt tính sinh học. Ngoài ra, gen còn mã hóa cho các tRNA, rRNA và snRNA…

    Cấu trúc không gian của chuỗi polypeptide được xác định bởi trình tự sắp xếp của các amino acid tức cấu trúc bậc một. Như vậy, mặc dù có nhiều mức độ cấu trúc không gian khác nhau, nhưng cấu trúc bậc một tức trình tự sắp xếp các amino acid chi phối toàn bộ các mức độ cấu trúc khác. Việc xác định di truyền phân tử protein ở trạng thái tự nhiên có đầy đủ hoạt tính sinh học chỉ quy tụ lại chủ yếu ở xác định cấu trúc bậc một là đủ.

    2. Các enzyme mất hoạt tính do đột biến

    Nhiều nghiên cứu cho thấy, việc mất hoạt tính enzyme nhiều khi không phải do vắng mặt của enzyme, mà chỉ do các biến đổi trên phân tử (modification). Có trường hợp đột biến dẫn đến những thay đổi tinh vi, enzyme vẫn có hoạt tính nhưng sẽ biểu hiện khác nếu thay đổi điều kiện. Chẳng hạn:

    Ở nấm mốc Neurospora crassa, enzyme tyrosinase do gen T xác định, xúc tác cho phản ứng chuyển hóa tyrosine thành dihydroxyphenylalanine. Alelle T+ của dòng hoang dại sản xuất tyrosinase có hoạt tính ở nhiệt độ bình thường và cả ở 60oC. Một đột biến TS sản xuất tyrosine có hoạt tính ở nhiệt độ bình thường, nhưng lại mất hoạt tính ở 60oC

    Như vậy, trong đa số trường hợp, đột biến của một gen không làm biến mất enzyme mà chỉ biến đổi cấu trúc dẫn đến thay đổi hoạt tính. Các đột biến của cùng một gen có thể gây ra những biến đổi khác nhau trên enzyme. Các hiện tượng đó chứng tỏ rằng cấu trúc của enzyme chịu sự kiểm soát trực tiếp của gen.

    3. Bản chất các biến đổi di truyền của protein

    Bản chất đó chính là quan hệ một gen-một polypeptide. Như đã nêu trên, người ta khám phá ở người có những gen tạo ra hemoglobin (Hb) khi biến dị sẽ tạo ra những hemoglobin bất thường do sai hỏng ở các chuỗi polypeptide α hoặc β (Bảng 3.2 và 3.3) và gây ra các bệnh di truyền.

    Đột biến được biểu hiện bởi sự thay thế vị trí của một amino acid này bằng một amino acid khác.

    4. Sự tương quan đồng tuyến tính gen-polypeptide

    4.1. Đột biến tryptophan synthetase-sự đồng tuyến tính giữa gen và chuỗi polypeptide

    Nghiên cứu trên enzyme tryptophan synthetase xúc tác cho phản ứng tổng hợp tryptophan của E. coli người ta nhận thấy có nhiều đột biến xảy ra trên cùng một gen mã hóa cho tryptophan synthetase.

    Thực hiện tái tổ hợp trong gen (nguyên tắc là gen ở các vị trí càng xa nhau trên nhiễm sắc thể càng dễ tái tổ hợp), người ta đã nhận được các dạng biến dị có tính chất khác nhau, và tính được khoảng cách tương đối giữa những điểm khác nhau của đột biến đã được xác định. Vị trí biến dị trên thể nhiễm sắc tương ứng với vị trí của amino acid trên chuỗi polypeptide. Như vậy, có thể cho rằng có sự đồng tuyến tính giữa gen và chuỗi polypeptide (Hình 3.1).

    Nhiều dạng đột biến của tryptophan synthethase đã được tạo ra. Bằng cơ chế tái tổ hợp, những khoảng cách tương đối giữa những điểm khác nhau của đột biến đã được xác định. Sản phẩm protein của mỗi dạng đột biến đã được phân tích, và những thay đổi các amino acid khác cũng được xác định. Người ta đã tìm thấy mối tương quan hoàn toàn giữa những khoảng cách của các đột biến được tìm thấy trên gen với khoảng cách của amino acid bị thay đổi trong phân tử protein.

    4.2. Đột biến

    4.2.1. Khái niệm

    Một gen (DNA) có 4 loại base và một phân tử protein có 20 loại amino acid1, nhưng giữa chúng có mối tương quan như thế nào. Đầu tiên, người ta cho rằng một base qui định một amino acid, nhưng những tính toán cho thấy không hợp lý. Vì chỉ có 4 base trong DNA và 20 amino acid trong protein, cho nên mỗi codon phải chứa ít nhất 3 base. Hai base cũng không thể làm thành một codon bởi vì chỉ có 42 = 16 cặp hợp lý của 4 base. Nhưng 3 base thì có thể bởi vì sẽ có 43 = 64 bộ ba hợp lý. Vì số lượng bộ ba hợp lý lớn hơn 20, cho nên sẽ có trường hợp một vài codon chỉ định cùng một amino acid. Ví dụ: UCU, UCC, UCA, UCG, AGU và AGC đều cùng mã hóa cho serine.

    Từ đó, người ta đưa ra khái niệm mã di truyền (tín hiệu di truyền). Mã di truyền cho phép đọc thứ tự trên DNA để biết thứ tự trên chuỗi polypeptide. Mã di truyền không mơ hồ, có nghĩa với một trình tự chẳng hạn ATA ta biết nó ghi mã cho một amino acid gì, và cũng thấy rằng có nhiều mã di truyền xác định cho một amino acid (Bảng 3.4).

    4.2.2. Đột biến điểm

    Là đột biến chỉ tác động một vị trí, nói rõ hơn đó là một base. Khi thay đổi một base trên DNA sẽ tạo ra sự thay đổi một amino acid (Hình 3.2).

    Đột biến dĩ nhiên xảy ra trên DNA và được sao lại trên mRNA trong phiên mã, rồi trên protein trong dịch mã.

    Bảng 3.4. Mã di truyền chung

    Những đơn vị mã (codon) được đọc theo chiều 5’→3′.

    STOP: codon kết thúc (còn gọi là vô nghĩa).

    Đột biến điểm có các dạng sau:

    – Đột biến sai nghĩa. Thay đổi một amino acid trong protein, có thể dẫn đến một trong ba kết quả sau:

    + Không hậu quả nào cả, vì amino acid không nằm trong vị trí hoạt động hoặc không có vai trò trong cấu trúc enzyme

    + Có biến đổi nhẹ ở chuỗi polypeptide sẽ tạo ra tính mẫn cảm yếu với nhiệt, làm giảm sự ổn định chuỗi polypeptide

    + Mất hẳn hoạt tính enzyme nếu đúng ngay vị trí hoạt động của enzyme đó.

    – Đột biến vô nghĩa. Thay đổi một base. Nếu đó là một codon vô nghĩa sẽ làm ngừng kéo dài (tổng hợp) chuỗi polypeptide ở vị trí amino acid này. Tức là nếu codon này nằm ở đầu sẽ không có chuỗi polypeptide hoạt động.

    – Đột biến acridine hoặc đột biến dịch khung. Đột biến này do chất acridine màu da cam tạo ra (hoặc còn gọi là đột biến dịch khung, frameshift, do thêm vào hoặc bớt đi một base) (Hình 3.2 E và D). Như vậy, một đột biến trên khung đọc khi thêm vào (C) hoặc mất đi (A) thường sẽ dẫn đến xuất hiện một codon stop làm ngừng chuỗi polypeptide và enzyme sẽ không có hoạt tính.

    4.2.3. Đột biến kìm hãm

    Đến nay, người ta nhận thấy mọi sai lệch trong việc tổng hợp protein nếu có đều xảy ra từ DNA, còn quá trình diễn ra từ RNA đến polypeptide luôn luôn đúng. Nghiên cứu một vài kiểu protein đột biến ta thấy:

    – Đột biến sai nghĩa. Làm xuất hiện một bất thường trong trình tự amino acid. Kết quả protein mất hoạt tính. Hoạt tính này có thể được phục hồi, hoặc do một đột biến ngược để cho lại protein cấu trúc ban đầu.

    – Đột biến vô nghĩa. Làm mất đi một phần chuỗi polypeptide, phần còn lại không có hoạt tính, và hoạt tính này có thể có lại được nhờ đột biến trong một codon đã bị đột biến.

    Thông thường, những gen kìm hãm đột biến vô nghĩa không nằm ở gần vị trí của đột biến ấy. Đó là những gen làm biến đổi hệ thống dịch mã khi tổng hợp protein.

    5. Lý thuyết trung tâm của sinh học phân tử

    Tổng hợp protein trong tế bào có các đặc điểm sau:

    – Các phân tử thông tin như nucleic acid và protein được tổng hợp theo khuôn. Tổng hợp theo khuôn vừa chính xác vừa ít tốn enzyme. Tuy nhiên, căn cứ vào hàng loạt tính chất hóa học các protein không thể làm khuôn mẫu cho sự tổng hợp của chính chúng. Vì vậy, khuôn mẫu để tổng hợp nên protein không phải là protein.

    – Sinh tổng hợp protein tách rời về không gian với chỗ chứa DNA. Nhiều nghiên cứu cho thấy tổng hợp protein có thể xảy ra khi không có mặt DNA. Sự kiện này thể hiện rõ ràng nhất ở những tế bào eukaryote. Trong những tế bào này, hầu như toàn bộ DNA tập trung ở nhiễm sắc thể trong nhân, còn tổng hợp protein chủ yếu diễn ra ở tế bào chất. Tảo xanh đơn bào Acetabularia khi bị cắt mất phần chứa nhân vẫn tổng hợp được protein và sống vài tháng nhưng mất khả năng sinh sản. Rõ ràng, nơi chứa DNA mang thông tin di truyền và chỗ sinh tổng hợp protein tách rời nhau về không gian.

    Hình 3.2. Các dạng đột biến điểm

    – DNA không phải là khuôn mẫu trực tiếp để tổng hợp protein, do đó phải có chất trung gian chuyển thông tin từ DNA ra tế bào chất và làm khuôn để tổng hợp protein. Chất đó phải có cả trong nhân và tế bào chất với số lượng phụ thuộc vào mức độ tổng hợp protein.

    – Chất trung gian đó được xem chính là RNA nhờ các đặc điểm sau:

    + RNA được tổng hợp ngay ở trong nhân có chứa DNA, sau đó nó đi vào tế bào chất cho tổng hợp protein.

    + Những tế bào giàu RNA tổng hợp protein nhiều hơn.

    + Về phương diện hóa học RNA gần giống DNA: chuỗi polyribo-nucleotide thẳng cũng chứa 4 loại ribonucleotide A, G, C và uracil (U). Nó có thể nhận được thông tin từ DNA qua bắt cặp bổ sung.

    Nói chung, trong tế bào không thể tìm thấy chất nào khác ngoài RNA có thể đóng vai trò trung gian cho tổng hợp protein. Mối quan hệ này chính là thông tin di truyền đi từ DNA qua RNA rồi đến protein và được biểu diễn ở hình 3.3. Mối quan hệ này còn được gọi là lý thuyết trung tâm (central dogma), được Crick đưa ra từ 1956 đến nay về căn bản vẫn đúng.

    Vào những năm 1970, người ta đã phát hiện quá trình phiên mã ngược từ RNA tổng hợp nên DNA nhờ enzyme reverse transcriptase. Đến nay, việc sao chép (tổng hợp) RNA trên khuôn mẫu RNA cũng đã được chứng minh ở nhiều loại virus. Ngoài ra, thông tin từ protein cũng có thể được truyền sang protein (prion của bệnh bò điên). Riêng dòng thông tin từ protein ngược về mRNA/DNA thì chưa được tìm thấy (Hình 3.4).

    6. DNA và mã di truyền

    Vấn đề tiếp theo là xác định chính xác các codon nào mã hóa cho từng amino acid. Nirenberg và Matthaei đã sử dụng enzyme để tổng hợp nhân tạo RNA. Khi dùng chỉ một loại nucleotide là U sẽ nhận được RNA là poly(U), nếu chỉ dùng A sẽ nhận được poly(A).

    Năm 1961, Nirenberg và Matthaei đã dùng poly(U) thay cho khuôn mẫu mRNA để tổng hợp protein trong hệ thống vô bào (có amino acid, enzyme tổng hợp protein, nhưng không có DNA…), sản phẩm thu được là chuỗi polypeptide polyphenylalanine chỉ chứa một loại amino acid là phenylalanine. Điều đó chứng tỏ codon UUU mã hóa cho phenylalanine. Đây là codon đầu tiên được xác định. Sau đó, họ cũng chứng minh được rằng AAA mã hóa cho lysine, GGG cho glycine và CCC cho proline.

    Hình 3.4. Những bổ sung mới vào lý thuyết trung tâm của Crick

    Bảng mã di truyền (Bảng 3.4) cho thấy trong 64 codon, có 3 codon UAA, UAG, UGA không mã hóa cho amino acid được gọi là vô nghĩa (non-sense), đồng thời là codon kết thúc (termination) tức dấu chấm câu, chấm dứt chuỗi polypeptide.

    Mã di truyền có tính suy biến (degeneration) tức một amino acid có nhiều codon mã hóa, chỉ trừ methionine và tryptophane chỉ có một codon (tương ứng là ATG và TGG). Các codon đồng nghĩa tức mã hóa cho cùng một amino acid thường có hai base đầu tiên giống nhau, nhưng khác nhau ở cái thứ ba. Ví dụ: CCU, CCC, CCA và CCG tất cả đều mã hóa cho proline. Trên thực tế, U và C luôn luôn tương đương nhau ở vị trí thứ ba, còn A và G tương đương nhau trong 14 trên 16 trường hợp.

    Trừ một số ngoại lệ, mã di truyền có tính phổ biến (universal) tức toàn bộ thế giới sinh vật có chung bộ mã di truyền.

    Khi nghiên cứu các quy luật di truyền Mendel và học thuyết di truyền nhiễm sắc thể, gen được quan niệm như một điểm trên nhiễm sắc thể, vừa là đơn vị chức năng xác định một tính trạng, vừa là đơn vị đột biến, vừa là đơn vị tái tổ hợp. Cùng với sự phát triển của di truyền học, khái niệm về gen được cụ thể hóa thêm, cấu trúc và chức năng của gen được hiểu chi tiết hơn.

    1. Cấu trúc gen

    Hoạt động của một gen được đánh giá thông qua quá trình phiên mã (tổng hợp mRNA) và quá trình dịch mã (tổng hợp protein). Hoạt động này được kiểm soát rất chặt chẽ bằng các cơ chế khác nhau ở mọi giai đoạn, như bắt đầu và kết thúc phiên mã, quá trình biến đổi mRNA, quyết định tính bền vững và kiểm tra lại thông tin di truyền trên các phân tử này… Do cấu trúc sắp xếp các gen prokaryote khác với gen eukaryote nên sự phối hợp giữa các cơ chế điều khiển mang tính chất riêng biệt cho từng loại genome.

    Các gen prokaryote thường sắp xếp nằm gần nhau và chịu sự điều khiển chung của một promoter, tức là chúng được phiên mã sang cùng một phân tử mRNA. Cấu trúc này được gọi là operon. Như vậy, một operon gồm hai hay nhiều gen nằm cạnh nhau trên một nhiễm sắc thể. Thông thường, đó là các gen cùng tham gia vào một con đường chuyển hóa, ví dụ như các gen mã hóa cho các enzyme cần thiết cho quá trình chuyển hóa glucose.

    Do có chung promoter điều khiển cho mọi gen nằm trong một operon cho nên chỉ có một loại phân tử mRNA được tổng hợp từ một operon (mang thông tin di truyền của tất cả các gen nằm trong đó). Nói cách khác, quá trình phiên mã của các gen trong một operon xảy ra đồng thời và phân tử mRNA đặc trưng cho operon được gọi là mRNApolycistron.

    Tuy nhiên, điều cần ghi nhớ là quá trình dịch mã trên các phân tử mRNApolycistron xảy ra hoàn toàn độc lập với nhau. Mỗi đoạn tương ứng với một gen trên phân tử này đều có vị trí bám của ribosome, có mã bắt đầu và kết thúc tổng hợp chuỗi polypeptide riêng biệt. Do đó, tốc độ tổng hợp các protein trên các phân tử mRNApolycistron hoàn toàn khác nhau (Hình 3.6).

    Khái niệm locus được đưa ra để chỉ vị trí của gen trên nhiễm sắc thể, là vị trí của tất cả các allele của dãy đa allele. Bản thân hiện tượng đa allele cho thấy gen có cấu tạo phức tạp, sự biến đổi của gen có thể dẫn đến nhiều trạng thái allele khác nhau.

    2.1. Hiện tượng allele giả

    Theo quan niệm cổ điển gen là đơn vị tái tổ hợp. Nếu cá thể mang hai allele lặn a1/a2 của một dãy đa allele sẽ tạo thành hai loại giao tử là a1 và a2, lai phân tích với bố mẹ đồng hợp tử lặn sẽ chỉ cho kiểu hình đột biến a1 và a2 mà không có dạng tái tổ hợp hoang dại. Ví dụ:

    Hình 3.6. Cấu trúc operon trong genome vi khuẩn. Một operon là một đơn vị phiên mã đơn bao gồm một chuỗi các gen cấu trúc (structural genes), một promoter và một operator.

    Ví dụ: Trường hợp locus mắt quả trám ở ruồi giấm, có 18 allele. Khi tăng số cá thể nghiên cứu lên nhiều lần, người ta phát hiện các allele xếp thành 3 nhóm A, B và C. Các allele của cùng một nhóm, khi lai lẫn nhau, không cho kiểu hình tái tổ hợp hoang dại mắt bình thường, mà chỉ có kiểu hình mắt quả trám. Nhưng lai allele của nhóm này với allele của nhóm khác sẽ có xuất hiện kiểu hình hoang dại do tái tổ hợp. Hiện tượng này được gọi là allele giả.

    Hiện tượng allele giả cho thấy gen phân chia nhỏ về mặt tái tổ hợp, có thể xảy ra tái tổ hợp giữa các phần trong gen. Lúc đầu, hiện tượng allele giả được coi là trường hợp ngoại lệ, nhưng khi tăng số cá thể nghiên cứu lên nhiều lần thì rõ ràng đó là hiện tượng phổ biến. Nó được tìm thấy ở nhiều đối tượng khác nhau như nấm men S. cerevisiae, ngô, bồ câu, chuột, bacteriophage

    2.2. Locus rII của bacteriophage T4

    Nghiên cứu chi tiết về các đột biến rII của bacteriophage T4 đã làm sáng tỏ hơn về cấu trúc gen. Bacteriophage T4 ở dạng hoang dại r+ có khả năng xâm nhiễm đồng thời hai chủng E. coli B và K, trong khi các đột biến rII chỉ xâm nhiễm chủng B mà không xâm nhiễm chủng K (Hình 3.7).

    Trước thí nghiệm của ông, rII được coi là một locus. Tuy nhiên, thí nghiệm của ông đã cho thấy các đột biến xếp thành hai nhóm rIIA và rIIB. Lai các đột biến rIIA × rIIB sẽ có r+, nhưng lai rIIA × rIIA và rIIB × rIIB thì kiểu hình đột biến là r.

    Cho đến nay, chúng ta định nghĩa một gen là nhờ dựa trên kiểu hình đột biến và vị trí trên bản đồ của nó. Bacteriophage là một mô hình di truyền đơn giản (genome của E. coli dài khoảng 4.600.000 bp, trong khi bacteriophage T4 là 165.000 bp và bacteriophage λ khoảng 46.500 bp), chúng có thể sinh sản một số lượng lớn rất nhanh (1010 hoặc hơn thế) và dễ dàng phân tích. Các thí nghiệm thực hiện với đột biến rII của T4 được thiết lập dựa trên cơ sở sau:

    – Các gen có một phạm vi và ranh giới hạn chế.

    – Các gen có thể chia được, có thể có sự tái tổ hợp giữa hai allele trong một gen đơn.

    – Hoạt động của gen có thể được phân tích bởi sự phân tích bổ sung.

    Kết quả thí nghiệm cho thấy, gen có thể phân chia nhỏ về mặt đột biến. Các đoạn rIIA và rIIB được gọi là cistron, đơn vị chức năng nhỏ nhất đảm bảo khả năng xâm nhiễm chủng K. Thuật ngữ cistron thực chất là gen, ngày nay nó chỉ có tính chất lịch sử, ít được sử dụng. Theo quan niệm hiện nay, rIIA và rIIB là hai locus. Hai khái niệm mới được đưa ra là muton-đơn vị đột biến và recon-đơn vị tái tổ hợp.

    Benzer đã tìm thấy 2.000 điểm đột biến trên đoạn gen được nghiên cứu, chúng phân bố không đều nhau, có những điểm tập trung nhiều đột biến hơn. Chiều dài gen khoảng 900 nucleotide. Đơn vị đột biến muton ở đây tương ứng với 900/2.000. Số đột biến ghi nhận có thể thấp hơn so với thực tế nên muton có thể tương ứng với một cặp nucleotide. Giống như vậy recon có thể tương ứng với một cặp nucleotide.

    Tóm lại, gen là đơn vị chức năng, có thể chia nhỏ bởi các đơn vị đột biến tái tổ hợp.

    Hình 3.7. Kiểu hình của các đột biến rII của phage T4

    3. Thử nghiệm chức năng allele

    Muốn nghiên cứu cấu trúc bên trong một gen, phải tìm hiểu nhiều allele của gen đó. Nhiều đột biến có kiểu hình giống nhau nhưng không allele với nhau. Thử nghiệm chức năng allele được sử dụng để xác định xem hai đột biến có allele với nhau không. Đây chính là thử nghiệm mà Benzer dùng để lập bản đồ locus rII.

    Thử nghiệm này còn được gọi là thử nghiệm bổ sung (complementary test) vì nó cho biết sai hỏng chức năng ở hai đột biến có bổ sung tức bù trừ cho nhau được không.

    Phương pháp thử này cũng được gọi là thử nghiệm đều-lệch (cis-trans test). Sở dĩ như vậy là vì phép thử nghiệm này so sánh hiệu quả kiểu hình của các gen đột biến ở hai vị trí khác nhau trên nhiễm sắc thể tương đồng. Ở vị trí lệch (trans) các đột biến nằm trên hai nhiễm sắc thể, còn ở vị trí đều (cis) các đột biến nằm trên cùng một nhiễm sắc thể. Trường hợp sai hỏng ở hai gen khác nhau nên có thể bổ sung được, còn trường hợp sai hỏng ở cùng một gen không bù đắp được sẽ dẫn đến kiểu hình đột biến.

    Thử nghiệm chức năng allele có thể được thực hiện dễ dàng trên các đối tượng vi sinh vật với các đột biến hóa sinh, thường là các đột biến khuyết dưỡng (auxotroph mutant: mất khả năng tổng hợp một chất nào đó). Ví dụ: Ở nấm mốc Neurospora crassa có nhiều đột biến mất khả năng tổng hợp adenine (Ade-). Các đột biến này dễ phát hiện vì có khuẩn lạc màu đỏ. Có hai dạng đột biến Adex và Adey, nếu dị hợp tử Adex/Adey có kiểu hình đột biến tức là cho khuẩn lạc màu đỏ, thì Adex và Adey là hai allele của một gen. Thử nghiệm chức năng allele cho thấy các đột biến Ade ở N. crassa tạo thành 9 nhóm. Điều đó chứng tỏ có 9 gen tổng hợp adenine ở loài nấm này: ade1, ade2, ade3… trong đó ade3 có hai locus nằm kề sát nhau là ade3A và ade3B (Hình 3.9).

    Hình 3.8. Thử nghiệm chức năng allele. I: có kiểu hình đột biến do sai hỏng cùng một gen nên không bù đắp được. II: có kiểu hình hoang dại do sai hỏng khác gen nên bù trừ được cho nhau. Hình 3.9. Vị trí các gen ade trên các nhiễm sắc thể của nấm mốc Neurospora crassa Nguồn: Giáo trình Sinh học phân tử – Nguyễn Hoàng lộc (chủ biên)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hộp Gen Là Gì? Kích Thước Hộp Gen (Hộp Kỹ Thuật) Nhà Vệ Sinh Chuẩn
  • Khái Niệm, Cấu Trúc Và Phân Loại Gen
  • Định Nghĩa Từ Láy Là Gì? Từ Ghép Là Gì
  • Từ Ghép Là Gì? 3 Cách Phân Biệt Từ Ghép, Từ Láy Nhanh Và Dễ Hiểu Nhất
  • Từ Ghép Là Gì? Các Loại Từ Ghép
  • Cấu Trúc Và Bộ Gen Của Hiv

    --- Bài mới hơn ---

  • Đột Biến Gen, Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 12
  • Bài 21. Đột Biến Gen
  • Sinh Học 12: Gen Và Cấu Trúc Của Gen
  • Phôi Cá Mút Đá Tái Cấu Trúc Hệ Gen
  • 1 Gen Quy Định Cấu Trúc Của Một Polipeptit
  • Cấu trúc

    Chuỗi hoàn chỉnh của bộ gen HIV-1, được chiết xuất từ virion truyền nhiễm, đã được giải quyết thành phân giải nucleotide đơn.

    HIV có cấu trúc khác với các retrovirus khác. Virion HIV có đường kính ~ 100 nm. Vùng trong cùng của nó bao gồm một lõi hình nón bao gồm hai bản sao của bộ gen ssRNA (cảm giác tích cực), enzyme phiên mã ngược, integrase và protease, một số protein nhỏ và protein lõi chính.

    HIV-1 bao gồm hai bản sao RNA đơn chuỗi không liên kết, không ghép nối, ý nghĩa dương được bao bọc bởi một capsid hình nón bao gồm protein p24 của virus, điển hình của lentivirus. Thành phần RNA dài 9749 nucleotide và có nắp 5 ‘ (Gppp), đuôi 3’ poly (A) và nhiều khung đọc mở (ORF). Nucleocapsid liên kết với RNA genomic (một phân tử trên hexamer) và bảo vệ RNA khỏi bị các nuclease tiêu hóa. Cũng nằm trong hạt virion là Vif, Vpr, Nef và protease virus. Một ma trận bao gồm sự liên kết của protein virut p17 bao quanh capsid, đảm bảo tính toàn vẹn của hạt virion. Điều này lần lượt được bao quanh bởi một phong bì có nguồn gốc tế bào chủ. Màng bọc được hình thành khi capsid chồi ra từ tế bào chủ, và lấy đi một số màng tế bào chủ. Màng bọc bao gồm glycoprotein gp120 và gp41, chịu trách nhiệm liên kết và xâm nhập vào tế bào chủ.

    Là protein duy nhất trên bề mặt của virus, glycoprotein bao (gp120 và gp41) là mục tiêu chính cho các nỗ lực chế tạo vắc-xin HIV. Việc xử lý bất thường và mật độ cao này có nghĩa là hầu như tất cả các kháng thể trung hòa rộng rãi đã được xác định cho đến nay (từ một tập hợp bệnh nhân đã bị nhiễm bệnh trong nhiều tháng đến nhiều năm) liên kết với hoặc được điều chỉnh để đối phó với các glycan bao này. và kính hiển vi điện tử cryo. Cái gọi là trimers SOSIP không chỉ tái tạo các đặc tính kháng nguyên của đột biến virus bản địa mà còn hiển thị cùng mức độ glycans chưa trưởng thành như được trình bày trên virus bản địa.

    Tham khảo

    1. Gallo RC, Sarin PS, Gelmann EP, Robert-Guroff M, Richardson E, Kalyanaraman VS, Mann D, Sidhu GD, Stahl RE, Zolla-Pazner S, Leibowitch J, Popovic M (tháng 5 năm 1983). “Isolation of human T-cell leukemia virus in acquired immune deficiency syndrome (AIDS)”. ^ Science 220 (4599): 865-7. Bibcode:1983Sci…220..865G. PMID 6601823. doi:10.1126/science.6601823.
    2. Churi, C.; Ross, M. W. (2015). Whelehan, P., biên tập. ^ The international encyclopedia of human sexuality. Wiley. ISBN 9781405190060. OCLC 949701914.
    3. Centers for Disease Control (tháng 6 năm 1981). “Pneumocystis pneumonia–Los Angeles”. ^ MMWR. Morbidity and Mortality Weekly Report 30 (21): 250-2. PMID 6265753.
    4. Centers for Disease Control (CDC) (tháng 7 năm 1981). ^ “Kaposi’s sarcoma and Pneumocystis pneumonia among homosexual men–New York City and California” (PDF). MMWR. Morbidity and Mortality Weekly Report 30 (25): 305-8. PMID 6789108. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2012.
    5. ^ a ă
    6. Singleton, P.; Sainsbury, D. biên tập (2006). ^ “Hiv”. Dictionary of microbiology & molecular biology (ấn bản 3). Hoboken, NJ: Wiley. ISBN 9780470035450. OCLC 71223221.
    7. ^ Montagnier, Luc (1999). “Human Immunodeficiency Viruses (Retroviridae)”. a ă Encyclopedia of Virology (ấn bản 2). tr. 763-774.
    8. Wain-Hobson S, Sonigo P, Danos O, Cole S, Alizon M (tháng 1 năm 1985). “Nucleotide sequence of the AIDS virus, LAV”. ^ Cell 40 (1): 9-17. PMID 2981635. doi:10.1016/0092-8674(85)90303-4.
    9. Ratner L, Haseltine W, Patarca R, Livak KJ, Starcich B, Josephs SF, Doran ER, Rafalski JA, Whitehorn EA, Baumeister K (1985). “Complete nucleotide sequence of the AIDS virus, HTLV-III”. ^ Nature 313 (6000): 277-84. Bibcode:1985Natur.313..277R. PMID 2578615. doi:10.1038/313277a0.
    10. “HIV (Human Immunodeficiency Virus)”. ^ Encyclopedia of Cancer 2 (ấn bản 2). 2002. tr. 407-415.
    11. ^ “Crystal structure of key HIV protein reveals new pvention, treatment targets” (Thông cáo báo chí). Ngày 17 tháng 6 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2006.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vở Bài Tập Sinh Học 9
  • Bài Tập Cấu Trúc Adn (Gen)
  • Câu So Sánh Trong Tiếng Trung: Cấu Trúc, Mẫu Câu Và Cách Dùng Chuẩn Nhất ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Ngữ Pháp Tiếng Trung Quyển 2: Giáo Trình Hán Ngữ Nâng Cao ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Các Lỗi Khi Lập Báo Cáo Thuế Trên Phần Mềm Htkk Và Cách Xử Lý
  • Cấu Tạo Và Độ Dày Của Sàn Nhựa Hàn Quốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Của Các Loại Sàn Gỗ Hiện Nay
  • Giá Sàn Nhựa Giả Gỗ 8Mm, 10Mm Cập Nhật Thường Xuyên 2022
  • Cấu Tạo Sàn Panel Lắp Ghép
  • Sàn Panel Lắp Ghép Là Gì? Báo Giá Thi Công Và Giá Bán Vật Tư
  • Ưu Điểm Nổi Bật Của Sàn Bê Tông Nhẹ Lắp Ghép
  • Bạn đã bao giờ tự hỏi cấu tạo và độ dày sàn nhựa là bao nhiêu? Nên mua sàn nhựa Hàn Quốc có độ dày bao nhiêu? Lắp đặt cho khu vực nào? Khu dân cư hay khu thương mại? Trước tiên bạn cần tìm hiểu về cấu tạo của sàn nhựa Hàn Quốc để có cái nhìn tổng quát hơn về sản phẩm này, trước khi xem xét đến độ dày của chúng.

    Sản phẩm đang là xu hướng hot nhất, được khách hàng yêu thích trong những năm gần đây. Sản phẩm có mức giá ngang tầm hoặc thấp hơn so với sàn gỗ công nghiệp đó chính là sàn nhựa giả gỗ đến từ Hàn Quốc. Sàn nhựa Hàn Quốc mang đến sự sang trọng và khá hoàn hảo không thua kém bất kỳ loại sàn gỗ tự nhiên nào.

    Cấu tạo của sàn nhựa giả gỗ Hàn Quốc

    Cấu tạo sàn nhựa Hàn Quốc

    – Lớp 1: Lớp bảo vệ PU, bảo vệ cho ván sàn không bị bám bẩn, chống trầy xước, chống phai bạc màu.

    – Lớp 2: Lớp mài mòn có bề mặt cứng, tăng sức căng của bề mặt. Giúp bề mặt chống mài mòn, chống trơn trượt, chống nấm mốc, bảo vệ lớp in nên sản phẩm không bị mất đi vân gỗ giúp sản phẩm có độ bền tương đối cao.

    – Lớp 3: Lớp Film: Màu sắc vân gỗ đa dạng và cũng tương tự như vân của sàn gỗ tự nhiên không kém phần tinh tế như vân gỗ thật. Có nhiều màu sắc khá phù hợp cho các công trình thiết kế nội thất.

    – Lớp 4: Lớp lõi: Được tạo thành từ hơn 90% nhựa PVC nên tính năng sản phẩm tập trung chủ yếu do lớp chính tạo thành: Sàn nhựa có khả năng chống cong vênh, co ngót khi nhiệt độ thay đổi, tính đàn hồi tốt, chống cháy lan, khả năng chịu lực tốt.

    – Lớp 5: Lớp đế: Thành phần chính là nhựa PVC có khả năng ngăn ngừa tuyệt đối độ ẩm từ nền đất nên mặt sàn. Tạo sự ổn định cho ván sàn.

    Ván sàn nhựa Hàn Quốc có nhiều độ dày khác nhau, sàn thường có độ dày từ 2 mm đến 8 mm +. Khi bạn mua sàn nhựa vân gỗ, bạn khó có thể quyết định loại nào phù hợp với bạn.

    Cũng giống như sàn gỗ, sàn nhựa càng dày thì càng chắc chắn, và càng tốt. Nhưng đây không phải là yếu tố chính quyết định độ bền. Khi chọn độ dày sàn nhựa, bạn cần lưu ý một số yếu tố.

    Lớp mài mòn là lớp ở trên lớp film và lớp lõi. Lớp này là một yếu tố quan trọng của việc bảo vệ bề mặt sàn nhà của bạn, giúp Sàn Đẹp mãi với thời gian.

    Nếu lớp mòn bị phá vỡ, Lớp film thiết kế in 3D sẽ bị hỏng và phai màu. Sàn nhựa Hàn Quốc tốt hơn có các lớp mài mòn bao gồm lớp phủ bảo vệ bề mặt trên cùng. Một lớp mài mòn dày hơn có khả năng chống trầy xước và làm việc tốt hơn. Sàn nhựa độ dày cao thường có chất lượng tốt hơn và xu hướng có lớp mài mòn cao nhưng đắt hơn.

    Sàn nhựa vân gỗ Hàn Quốc có lõi và lớp đế được làm bằng nhựa tổng hợp SPC, PVC hay WPC. Nó không phải là vật liệu được sản xuất từ gỗ mà nó được tổng hợp nhựa nhiệt dẻo và canxi cacbonat (bột đá). Loại sàn này không chứa phthalates và nó an toàn với gia đình bạn.

    Mỗi lớp sẽ có độ dày khác nhau, tùy thuộc vào độ dày của sàn nhựa. Sàn càng dày, độ mài mòn, lớp lõi, lớp đế sẽ càng có độ dày cao hơn.

    Các kích thước về độ dày của sàn nhựa Hàn Quốc đang được mọi người sử dụng phổ biến đó là:

    – Độ dày 2mm: 914.4 * 152.4 * 2(mm)

    – Độ dày 3mm: 914.4 * 152.4 * 3(mm)

    – Độ dày 4mm: 1219.2 * 152.2 * 4(mm)

    – Độ dày 6mm: 908 * 146 * 6 (mm)

    Tùy thuộc vào từng độ dày khác nhau mà các kĩ thuật thi công được áp dụng sao cho phù hợp nhất. Với độ dày 3mm chủ yếu sử dụng phương pháp dán keo để liên kết các tấm gỗ lại với nhau.

    Tuy nhiên với độ dày 4mm và 6mm thì sẽ thích hợp với việc thi công bằng các hèm khóa thông minh. Vì độ dày cao cần có sự liên kết chắc chắn để giữ được các tấm gỗ lâu hơn, tăng tuổi thọ cho sàn nhựa vân gỗ được lâu bền hơn.

    Lựa chọn xốp lót cũng là một phần rất quan trọng trong việc lựa chọn độ dày sàn nhựa vân gỗ. Nếu bạn có một lớp nền bê tông đẹp, bạn có thể lắp sàn nhựa có độ dày mỏng hơn. Kết hợp với lớp xốp lót dày 2mm – 3mm. Điều này sẽ phụ trợ cho nền nhà bạn thêm dầy hơn mà không cần mua sàn nhựa có độ dày cao hơn.

    Độ dày sàn nhựa lắp khu dân cư và thương mại

    Ván sàn vinyl lắp khu dân cư

    Yếu tố thứ 2 bạn cần đánh giá là nên mua sàn nhựa có độ dày bao nhiêu? Lắp đặt cho khu vực nào? Khu dân cư hay khu thương mại?

    Lắp khu dân cư hay thương mại bạn có thể chọn 4 loại như: sàn nhựa tự dán, sàn nhựa dán keo, sàn nhựa có hèm khóa, sàn nhựa cuộn. Mỗi loại sẽ có độ dày khác nhau.

    Tùy theo khu vực có thể lắp đặt các loại sàn khác.

    Sàn nhựa giả vân gỗ có quá nhiều chức năng, ứng dụng lên giá thành cũng đa dạng từ thấp đến cao.

    Với các khu vực dân cư do mật độ giao thông ít, có ít tác động bên ngoài nên không cần mua ván sàn nhựa quá dày. Độ dày trung bình thường là 2mm – 5mm.

    Với các khu thương mại thì ngược lại, nhất là khu trường học, hội trường hay bệnh viện… Cần mua sàn nhựa có độ dày cao hơn. Độ dày trung bình lắp khu thương mại thường là 3mm – 8mm.

    Như vậy sàn nhựa Hàn Quốc càng dày hơn sẽ cung cấp sự ổn định và thoải mái hơn khi đi lại. Vì vậy, nếu bạn lắp sàn nhựa cho phòng ngủ, sàn nhựa vinyl có độ dầy thấp sẽ phù hợp.

    Khi mua tấm ván nhựa vinyl giống như mua sàn gỗ bạn cần tham khảo các chỉ số của nó như độ dày, mức độ mài mòn (đối với sàn gỗ là chỉ số AC) và lớp lót kèm theo, các thông số kĩ thuật, thời gian sử dụng, đến chế độ bảo hành… trước khi đưa ra quyết định cuối cùng.

    Nếu độ bền là mối quan tâm chính của bạn, hãy tìm các tấm ván nhựa vinyl vì nó có lớp mòn cao nhất. Nhà bán lẻ của bạn nên cung cấp cho bạn tài liệu chi tiết các tính năng thông số này.

    Sàn nhựa có nhiều loại, sàn đắt tiền hơn chưa chắc đã là lựa chọn tốt nhất.. Hãy chắc chắn chọn đúng sản phẩm cần tuân thủ sức khỏe và mang theo các chứng nhận an toàn quốc tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Sàn Thể Thao
  • Cấu Tạo Của Sàn Nhựa Vân Gỗ Hàn Quốc Có Điểm Gì Khác Biệt?
  • Sàn Phẳng Vro: Kết Cấu, Sàn Phẳng, Lõi Rỗng, Vro
  • Thi Công Sàn Phẳng Không Dầm Nevo
  • Sàn Phẳng Không Dầm Nevo Áp Dụng Trong Thi Công Xây Dựng
  • Chức Năng Và Cấu Trúc Của Gen

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Gen Cấu Trúc Có 4050 Liên Kết Hydro, Hiệu Số Giữa Nu Loại G Với Loại Nu Khác Chiếm 20%. Sau Đột Biến Chiều Dài Gen K?
  • Bai 1 : Gen,mã Di Truyền ,nhân Đôi Adn Bai1 Ppt
  • Rối Loạn Tổng Hợp Protein Do Gen Cấu Trúc Và Gen Điều Hòa
  • Phương Pháp Giải Dạng Bài Tập Tính Số Liên Kết Hóa Học Trong Cấu Trúc Của Gen Sinh Học 12
  • Thiền Giúp Thay Đổi Cấu Trúc Gen Gây Đau Nhức
  • Chức năng và cấu trúc của

    gen

    1. Chức năng của gen

    Khái niệm gen được thay đổi theo sự phát triên của di truyền học. Mặc dù

    không đưa ra thuật ngữ gen nhưng chính Mendel lại là người đầu tiên đưa ra

    khái niệm nhân tố di truyền và mô tả nó như một dạng hạt vật chất tồn tại

    thành từng cặp trong tế bào bào cơ thể, không hòa trộn với nhau cùng quy

    định một đặc điểm của cơ thể (tính trạng). Như vậy, thực chất xét về mặt

    chức năng, chính khái niệm nhân tố di truyền của Mendel tương đương với

    khái niệm về gen hiện nay.

    Vào những năm 40 của thế kỉ XX, các công trình nghiên cứu khoa học của

    George Beadle và Edward Tatum đã làm sáng tỏ chức năng của gen và nhờ

    đó sau này họ đã nhận được giải thưởng Nobel. Beadle và Tatum đã tiến hành

    các công tình nghiên cứu trên nấm mốc đơn bội, Neurospora, và họ nhận thấy

    mỗi đột biến ở một gen đều làm ảnh hưởng đến chức năng của một enzim.

    Khi đó thuyết một gen – một enzim đã ra đời.

    Tuy nhiên,vì nhiều gen không quy định prôtêin là enzim là quy định prôtêin

    không phải enzim nên người ta thay đổi lại một gen – một prôtêin. Một

    prôtêin đơn giản nhất chỉ chứa một chuỗi polipeptit, nên quan niệm một gen –

    một prôtein lại được thay thế bằng một gen – một chuỗi polipeptit.

    Với sự phát triển của khoa học, hiện nay các nhà khoa học đã biết được cùng

    một gen ở sinh vật nhân thực nhưng lại có thể tạo ra những chuỗi polipeptit ở

    các môt khác nhau tùy thuộc vào quá trình ghép nối các exon của gen để tạo

    ra mARN. Như vậy, có thể nói chính xác hơn một chuỗi polipeptit – một gen.

    Ngoài ra, do có một số gen lại quy định các sản phẩm là ARN nhưng chúng

    lại không bao giờ được dịch mã vì vậy một định nghĩa khái quát về chức

    năng của gen sẽ không hề đơn giản. Quan niệm về gen dưới góc độ chức

    năng vẫn còn đang được thay đổi theo sự tiến bộ của khoa học. Tuy nhiên,

    chúng ta tạm thời chấp nhận quan niệm sau đây về gen:

    Gen là một đoạn của phân tử ADN mang thông tin quy định cho việc hình

    thành một sản phẩm có chức năng nhất định (sản phẩm đó có thể là một

    chuỗi polipeptit hay một phân tử ARN).

    Tuy nhiên, không phải bất cứ một đoạn trình tự nucleotit nào trong phân tử

    ADN mang thông tin quy định một sản phẩm nhất định đều có thể “chỉ dẫn”

    cho tế bào tạo ra sản phẩm đó khi cần thiết. Ngoài thông tin quy định về đặc

    điểm của sản phẩm, nơi sản phẩm được sử dụng gen còn phải chứa các

    thông tin khác để chỉ dẫn cho tế bào tạo ra sản phẩm vào lúc cần thiết cũng

    như với số lượng nhất định.

    2. Cấu trúc của gen

    Để có thể có đủ các thông tin chỉ dẫn cần thiết cho quá trình phiên mã và dịch

    mã nhằm tạo ra một sản phẩm nhất định thì một đoạn ADN trực tiếp mã hóa

    cho một sản phẩm là chưa đủ mà phải cần thêm các trình tự nucleotit khác

    nữa. Xét về mặt cấu trúc của gen, có thể nói một cách khái quát: Mỗi gen

    gồm 3 vùng trình tự nucleotit:

    1. Vùng điều hòa

    2. Vùng mã hóa

    3. Vùng kết thúc

    – Vùng điều hòa là trình tự nuclêôtit đặc biệt nằm ở đầu 3′ của sợi khuôn của

    gen, có chức năng điều hòa quá trình phiên mã. Tại vùng điều hòa có nhiều

    trình tự nuclêôtit với chức năng khác nhau như vùng liên kết với prôtêin hoạt

    hóa (CAP), vùng liên kết với ARN polimeraza (promoter – vùng khởi động),

    vùng liên kết với prôtêin ức chế (operator – vùng vận hành).

    – Vùng mã hóa là vùng chứa thông tin quy định sản phẩm của gen (chuỗi

    polipeptit hoặc ARN).

    – Vùng kết thúc chứa thông tin báo hiệu cho ARN polimeraza biết để dừng

    quá trình phiên mã cũng như các thông tin cần thiết khác.

    – Cấu trúc các vùng này ở các gen của sinh vật nhân sơ và nhân thực có nhiều

    điểm khác nhau. Cho đến năm 2007, các nhà khoa học ước tính con người có

    chừng 20500 gen (20488). Chương trình giải mã hệ gen người cho thấy 25%

    số lượng nuclêôtit của hệ gen là gen còn 75% nuclêotit còn lại không phải là

    gen. Trong số 25% nuclêotit của gen người thì chỉ có 1,5% làm nhiệm vụ mã

    hóa cho các sản phẩm còn có tời 24% số nucleotit của gen làm nhiệm vụ điều

    hòa hoặc thuộc vùng không mã hóa (intron). Như vậy, tính trung bình

    vùng thực sự mã hóa cho các sản phẩm của một gen chỉ chiếm khoảng 6%

    trình tự nucleotit của gen số còn lại là vùng ADN làm nhiệm vụ điều hòa hoạt

    động cũng như vùng ADN không mã hóa (intron).

    Dựa theo đặc điểm cấu trúc cũng như chức năng của gen mà người ta đặt ra

    tên gọi khac nhau cho các loại gen.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 26 Câu Đột Biến Gen Sinh Học 12 Bài 4 Có Đáp Án File Word
  • Trường Hợp Gen Cấu Trúc Bị Đột Biến Thay Thế 1 Cặp G
  • Bài 4. Đột Biến Gen
  • Bài Tập Tự Luận Về Cấu Trúc Adn Hay
  • Các Dạng Bài Tập Về Adn Lớp 10
  • Khái Niệm, Cấu Trúc Và Phân Loại Gen

    --- Bài mới hơn ---

  • Hộp Gen Là Gì? Kích Thước Hộp Gen (Hộp Kỹ Thuật) Nhà Vệ Sinh Chuẩn
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Gen
  • Ankadien Tính Chất Hóa Học, Tính Chất Vật Lý Và Công Thức Cấu Tạo Của Ankadien
  • Tính Chất Hóa Học, Công Thức Cấu Tạo Của Ankan Và Bài Tập
  • Cấu Trúc Phân Tử, Đồng Đẳng, Đồng Phân, Liên Kết Đơn, Liên Kết Đôi Trong Hợp Chất Hữu Cơ
  • Ngày nay những câu hỏi được đặt ra về gen là: Bản chất thực sự của gen là gì? Hoạt động của gen như thế nào? Gen chứa đựng thông tin di truyền gì? Và tất cả các gen về cơ bản có giống nhau không? Trong mục này chúng ta sẽ trả lời cho các câu hỏi đề cập ở trên.

    Gen là gì?

    Gen là một đoạn của phân tử ADN mang thông tin mã hóa một sản phẩm xác định (một chuỗi pôlipeptit hay một phân tử ARN).

    Cấu trúc của gen:

    Ở đây mình chỉ hướng dẫn các bạn tìm hiểu về cấu trúc của gen cấu trúc ( gen điều hòa cũng có cấu trúc tương tự gen cấu trúc). Cấu trúc chung của gen cấu trúc được chia làm 3 vùng trình tự nuclêôtit theo thứ tự sau:

    • Vùng điều hòa (vùng khởi đầu): nằm ở đầu gen, mang tín hiệu khởi động và kiểm soát quá trình phiên mã.
    • Vùng mã hóa: nằm ở giữa gen, mang thông tin mã hóa axit amin.
    • Vùng kết thúc: nằm ở cuối gen, mang tín hiệu kết thúc phiên mã.

    Phân loại gen:

    Người ta dựa vào vai trò của các sản phẩm gen người ta chia gen thành loại là gen cấu trúcgen điều hòa

    • Gen cấu trúc: mang thông tin mã hóa cho các sản phẩm tạo nên thành phần cấu trúc hay chức năng tế bào.
    • Gen điều hòa là gen tạo ra sản phẩm kiểm soát hoạt động của gen khác.

    Cũng có thể dựa vào cấu trúc vùng mã hóa của gen người ta chia ra hai loại gen là gen phân mảnhgen không phân mảnh.

    • Gen phân mảnh: có vùng mã hóa không liên tục, gồm các đoạn mã hóa axit amin (exon) và các đoạn không mã hóa aa (intron) xen kẻ nhau. Loại gen phân mảnh có ở sinh vật nhân thực
    • Gen không phân mảnh: có vùng mã hóa liên tục mã hóa axit amin. Loại gen không phân mảnh có ở sinh vật nhân sơ.

    Ở trên chỉ trình bày hai cách phân loại gen cơ bản thường gặp. Ngoài ra đâu đó các bạn cũng có thể nghe các tên gọi như: Gen gối (hay gen phủ lên nhau), gen nhảy,…

    Như vậy bản chất hóa học của gen chủ yếu là ADN. Do đó ADN là nơi lưu giữ thông tin di truyền với hai đặc điểm quan trọng là:

    1. Trong các nuclêôtit của ADN thì thành phần bazơ là yếu tố cấu trúc thông tin.
    2. Chuỗi các bazơ trong ADN là thông tin di truyền (từ “bazơ) và từ “nuclêôtit” được dùng như nhau khi xét về đặc điểm này).

    Một gen của sinh vật nhân sơ có độ lớn trung bình dao động từ 900 1500 cặp bazơ. Nhưng gen của sinh vật nhân thực thì có độ dài trung bình rất khó xác định, như trong bộ gen của người, người ta đã tìm thấy những gen có đến vài trăm ngàn nuclêôtit.

    Trình tự các nuclêôtit trong các gen sẽ cung cấp hai phương thức thông tin trong sự tổng hợp prôtêin.:

    • Phương thức thông tin thứ nhất dùng quy định các axit amin đặc trưng với bộ ba mã hóa của gen.
    • Phương thức thông tin thứ hai chính là vị trí sắp xếp của mỗi aa trong pôlipeptit

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Từ Láy Là Gì? Từ Ghép Là Gì
  • Từ Ghép Là Gì? 3 Cách Phân Biệt Từ Ghép, Từ Láy Nhanh Và Dễ Hiểu Nhất
  • Từ Ghép Là Gì? Các Loại Từ Ghép
  • Từ Ghép Là Gì ? Hướng Dẫn Cách Phân Biệt Từ Ghép Như Thế Nào
  • Cách Phân Biệt Từ Láy
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100