Một Số Mô Hình Cấu Tạo Từ Ghép Chính Phụ Trong Tiếng Việt

--- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Nhận Biết Từ Đơn, Từ Ghép, Từ Láy
  • Từ Láy Là Gì? Các Loại Từ Láy
  • Cách Phân Biệt Từ Ghép, Từ Láy Dễ Lẫn Lộn
  • Cách Ghép Từ Trong Tiếng Trung Và 500 Từ Ghép Thông Dụng Nhất ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Các Loại Từ Ghép Trong Tiếng Trung
  • TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

    KHOA NGỮ VĂN

    HOÀNG THỦY TIÊN

    MỘT SỐ MÔ HÌNH CẤU TẠO TỪ GHÉP

    CHÍNH PHỤ TRONG TIẾNG VIỆT

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

    Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. LÊ THỊ LAN ANH

    HÀ NỘI – 2022

    TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

    KHOA NGỮ VĂN

    HOÀNG THỦY TIÊN

    MỘT SỐ MÔ HÌNH CẤU TẠO TỪ GHÉP

    CHÍNH PHỤ TRONG TIẾNG VIỆT

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

    Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐỖ THỊ THU HƢƠNG

    HÀ NỘI – 2022

    MỤC LỤC

    LỜI CẢM ƠN ……………………………………………………………………………………… 4

    LỜI CAM ĐOAN ………………………………………………………………………………… 5

    MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………….. 6

    1. Lý do chọn đề tài ………………………………………………………………………………. 6

    2. Lịch sử vấn đề ………………………………………………………………………………….. 7

    3. Nhiệm vụ nghiên cứu ………………………………………………………………………… 7

    4. Phạm vi nghiên cứu …………………………………………………………………………… 7

    5. Mục đích nghiên cứu …………………………………………………………………………. 7

    6. Phƣơng pháp nghiên cứu ……………………………………………………………………. 7

    7. Đóng góp …………………………………………………………………………………………. 8

    8. Cấu trúc khóa luận ……………………………………………………………………………. 8

    CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ……………………………………………………………. 9

    1.1. Định nghĩa từ Tiếng Việt ………………………………………………………………… 9

    1.1.1. Từ Tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng) ………………………………… 9

    1.1.2. Từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết………………………………. 9

    1.2. Đặc điểm từ tiếng Việt ………………………………………………………………….. 10

    1.3. Đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt …………………………………………………… 6

    1.3.1. Đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt …………………………………………………….. 6

    1.3.2. Phương thức cấu tạo từ tiếng Việt ……………………………………………. 9

    1.3.3. Các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt ………………………………………………… 10

    1.4. Phân biệt từ ghép với cụm từ tự do …………………………………………………. 21

    1.4.1. Dựa vào đặc điểm nghĩa và mối quan hệ giữa các yếu tố………………… 21

    1.5. Các tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt …………………. 23

    1.5.1. Cấu tạo theo một phƣơng thức nhất định và mang một ý nghĩa

    nhất định …………………………………………………………………………………………… 23

    1.5.2. Hiện tƣợng chuyển di kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt ……………………. 24

    CHƢƠNG 2: CÁC KIỂU CẤU TẠO TỪ GHÉP CHÍNH PHỤ TRONG

    TIẾNG VIỆT ……………………………………………………………………………………… 19

    2.1. Kết quả thống kê ………………………………………………………………………….. 19

    2.2. Miêu tả các mô hình ghép chính phụ trong tiếng Việt ……………………….. 20

    2.2.1. Hình vị chính kết hợp với hình vị phụ chỉ màu sắc ……………………. 20

    2.2.2. Hình vị chính kết hợp hình vị phụ chỉ hình dáng …………………….. 24

    2.2.3. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp với hình vị phụ chỉ

    mùi vị ………………………………………………………………………………………………… 30

    2.2.4. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp hình vị phụ chỉ nguyên

    liệu cấu tạo …………………………………………………………………………………. 32

    2.2.5. Mô hình ghép hình phụ vị chính kết hợp hình vị phụ chỉ đặc điểm

    tính chất ……………………………………………………………………………………… 34

    2.2.6. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp hình vị phụ chỉ đặc

    điểm vận hành ……………………………………………………………………………… 36

    2.2.7. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp thành vị phụ chỉ đặc

    điểm chức năng ……………………………………………………………………………. 31

    2.2.8. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp với hình vị phụ chỉ

    địa danh ……………………………………………………………………………………… 40

    2.2.9. Mô hình ghép chính phụ hình vị chính kết hợp với hình vị phụ vay

    mượn tiếng nước ngoài………………………………………………………………….. 35

    KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………….. 39

    TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………………. 40

    LỜI CẢM ƠN

    Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi chân thành cảm ơn cô giáo – Tiến sĩ

    Đỗ Thị Thu Hƣơng, đã tận tình, trực tiếp hƣớng dẫn tôi hoàn thành khóa luận

    này.

    Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu trƣờng Đại học Sƣ

    phạm Hà Nội 2, Phòng Quản lý khoa học, Phòng đào tạo, các thầy cô giáo

    trong khoa Ngữ văn cùng các phòng ban chức năng đã giúp đỡ tôi trong quá

    trình nghiên cứu.

    Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã có nhiều cố gắng nhƣng

    không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong và nhận đƣợc ý

    kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn độc giả, để cho khóa luận đƣợc

    hoàn thiện hơn.

    Hà Nội, tháng 05 năm 2022

    Sinh viên

    Hoàng Thủy Tiên

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan khóa luận này đƣợc hoàn thành là kết quả nghiên cứu

    của riêng tôi dƣới sự giúp đỡ của TS. Đỗ Thị Thu Hƣơng.

    Khóa luận này chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nghiên

    cứu khác.

    Hà Nội, tháng 05 năm 2022

    Sinh viên

    Hoàng Thủy Tiên

    MỞ ĐẦU

    1. Lí do chọn đề tài

    Nhƣ chúng ta biết, tiếng Việt vô cùng phong phú và đa dạng (bao gồm:

    từ đơn, từ phức, trong từ đơn lại có đơn âm và đơn đa âm, trong từ phức có từ

    ghép và từ láy, trong từ ghép và từ láy lại có những hệ thống nhỏ hơn,…). Do

    đó, việc tìm hiểu về từ trong tiếng Việt là rất rộng. Trong khóa luận này

    chúng tôi tìm hiểu về: Một số mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ trong tiếng

    Việt.

    Trong số phƣơng thức ghép tiếng Việt, từ ghép chính phụ có khả năng

    sản sinh cao, mô hình cấu tạo từ chính phụ có khả năng đáp ứng nhu cầu giao

    tiếp của ngƣời Việt Nam.

    Việc sử dụng từ ghép chính phụ đạt hiệu quả cao trong nhu cầu giao

    tiếp luôn là mối quan tâm của mỗi chúng ta. Để hiểu đúng – hiểu trúng ý của

    ngƣời nói – ngƣời nghe, ngƣời viết với bạn đọc, trƣớc hết ngƣời giao tiếp phải

    giải nghĩa đƣợc các từ ghép chính phụ ấy. Do vậy, việc mở rộng vốn từ nâng

    cao sự hiểu biết về nghĩa của từ vựng tiếng Việt nói chung, từ ghép và từ ghép

    chính phụ nói riêng có vai trò rất quan trọng trong quá trình giao tiếp.

    Để đáp ứng nhu cầu giao tiếp của ngƣời Việt cũng nhƣ việc tìm hiểu về từ

    ghép từ ghép chính phụ và ý nghĩa của nó cho đến nay vẫn là một câu hỏi đối

    với chúng ta. Trƣớc thực trạng đó, ngƣời viết đi vào tìm hiểu đề tài này với

    mong muốn đƣợc học hỏi, nâng cao tri thức cho bản thân đồng thời để mọi

    ngƣời thấy đƣợc cái hay, cái đẹp của từ ghép – từ ghép chính phụ trong tiếng

    Việt, thấy đƣợc rõ mô hình cấu tạo của từ ghép chính phụ trong tiếng Việt ta.

    2. Lịch sử vấn đề

    Tìm hiểu về “từ ghép” là đề tài lớn đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên

    cứu và có những công trình nghiên cứu khác nhau. Các công trình này tập

    trung nghiên cứu phƣơng diện lý thuyết của từ ghép.

    Nói đến từ ghép chính phụ có thể kể đến một số công trình nghiên cứu

    nổi tiếng nhƣ: “Ngữ pháp tiếng Việt – Từ ghép – Đoản ngữ” tập hợp một số

    bài giảng về ngữ pháp tiếng Việt hiện đại cho sinh viên chuyên ngành ngôn

    1

    ngữ khoa Ngữ Văn Đại học tổng hợp Hà Nội, trong thời gian 1961 – 1969 của

    giáo sƣ Nguyễn Tài Cẩn. Hay cuốn giáo trình “Từ vựng ngữ nghĩa” của giáo

    sƣ Đỗ Hữu Châu. Công trình nghiên cứu của Đỗ Việt Hùng “Nhận thức cộng

    đồng người Việt về thế giới thông qua phương thức định danh sự vật hiện

    tượng của từ ghép chính phụ”. Bên cạnh đó không thể không kể đến cuốn “Từ

    điển tiếng Việt” của tác giả Hoàng Phê chủ biên. Ngoài ra còn một số công

    trình nghiên cứu về từ ghép trong tác phẩm văn học.

    Nhƣ vậy việc tìm hiểu từ ghép chính phụ còn chƣa nhiều và nó vẫn là

    một đề tài mới mẻ khơi nguồn cho nhiều cây bút.

    Có thể nói việc nghiên cứu từ ghép chính phụ trong tiếng Việt là đề tài

    chƣa ai bàn tới. Để hiểu rõ và thấy đƣợc cái hay của từ ghép, ngƣời viết xin

    phép đƣợc tìm hiểu về một số mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ trong tiếng

    Việt.

    3. Nhiệm vụ nghiên cứu

    Nắm vững vấn đề lí thuyết về từ trong tiếng Việt, đặc điểm về từ Tiếng

    Việt, đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt.

    Khảo sát thống kê các mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ trong tiếng Việt.

    Phân tích các mô hình ghép chính phụ trong tiếng Việt.

    4. Phạm vi nghiên cứu

    Khóa luận tập trung nghiên cứu về một số mô hình cấu tạo từ ghép chính

    phụ trong tiếng Việt. Ngữ liệu phục vụ cho mục đích nghiên cứu đƣợc thống kê

    trong từ điển tiếng Việt. Ngoài ra, để thấy đƣợc sự phát triển của từ ghép chính

    phụ tiếng Việt, chúng tôi còn thống kê ngữ liệu trong một số tờ báo nhƣ Tạp

    chí ngôn ngữ và đời sống…Các từ ghép chính phụ đƣợc thống kê là những từ

    ghép đƣợc cấu tạo từ 2 đến 3 hình vị.

    5. Mục đích nghiên cứu

    Khóa luận này tập trung nghiên cứu về các mô hình từ ghép chính phụ

    trong tiếng Việt. Qua nghiên cứu từ ghép nói chung và từ ghép chính phụ nói

    riêng để thấy đƣợc cách định danh sự vật và lối suy nghĩ của ngƣời Việt trong

    cách gọi tên sự vật.

    6. Phƣơng pháp nghiên cứu

    2

    Trong khóa luận này chúng tôi sử dụng một số phƣơng pháp sau đây:

    – Phƣơng pháp thống kê, phân loại

    – Phƣơng pháp phân tích – tổng hợp

    – Phƣơng pháp so sánh – đối chiếu

    7. Đóng góp

    7.1. Đóng góp về lý luận

    Đề tài góp phần miêu tả một số mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ

    trong tiếng Việt, từ đó giúp cho việc nghiên cứu và phân tích từ ghép thêm

    đầy đủ hơn. Qua việc phân tích các mô hình ghép chính phụ, dề tài góp phần

    thấy đƣợc cách định danh sự vật của ngƣời Việt.

    7.2. Đóng góp về thực tiễn

    Các kết quả nghiên cứu của đề tài là một nguồn tƣ liệu bổ ích đối với

    hoạt động dạy và học từ vựng nói chung, từ ghép nói riêng.

    8. Cấu trúc khóa luận

    Ngoài phần Mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận gồm 2 chƣơng:

    Chƣơng 1: Cơ sở lý luận

    Chƣơng 2: Các kiểu cấu tạo từ ghép chính phụ trong Tiếng Việt.

    3

    CHƢƠNG 1

    CƠ SỞ LÍ LUẬN

    1.1. Định nghĩa từ Tiếng Việt

    Cho đến nay, trong ngôn ngữ cách định nghĩa về từ đƣợc đặt ra rất

    nhiều. Các định nghĩa ấy, về mặt này hay mặt khác đều đúng, nhƣng đều

    không đủ và không bao gồm đƣợc hết tất cả các đơn vị đƣợc coi là từ trong

    các ngôn ngữ và ngay cả trong từng ngôn ngữ cũng vậy. Trong khóa luận này

    tác giả đã tìm hiểu đƣợc một số định nghĩa về từ tiếng Việt của một số nhà

    nghiên cứu tên tuổi.

    1.1.1. Từ Tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng)

    Tiêu biểu cho khuynh hƣớng này là M.B.Emenneu, Cao Xuân Hạo,

    Nguyễn Thiện Giáp.

    Theo Emeneaus định nghĩa: Từ bao giờ cũng tự do về mặt âm vị học,

    nghĩa là có thể miêu tả bằng những danh từ của sự phân phối các âm vị và

    bằng những thanh điệu .

    1.1.2. Từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết:

    Theo Trƣơng Văn Chình, Nguễn Hiến Lê: Từ là âm có nghĩa, dùng

    trong ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân

    tích ra đƣợc.

    Ví dụ: Bàn, ghế, thợ, thuyền, gia đình,…

    4

    Theo Nguyễn Văn Tu: Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức

    vạt chất, (vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính chất biện chứng và

    lịch sử.

    Theo Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách

    khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối

    hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa từ vựng, ngữ pháp và chức năng ngữ pháp.

    Theo Hồ Lê: Từ là đơn vị ngữ ngôn có chức năng định danh phi liên

    kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự

    do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa .

    Tóm lại, đứng từ các góc độ nghiên cứu đồng đại hay lịch đại khác

    nhau, do cách hiểu về khái niệm hình vị trong ngôn ngữ học đại cƣơng khác

    nhau, dẫn đến cách chọn đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt của các tác giả khác

    nhau, và theo đó, quan niệm về từ và cách xác định các kiểu cấu tạo từ cũng

    khác nhau. Phần tổng kết trên đã phần nào khái quát lên đƣợc tính phức tạp

    của tình hình nghiên cứu về từ trong tiếng Việt. Cho đến nay quan niệm có

    tính chất dung hòa nhất, phổ biến nhất, đƣợc nhiều ngƣời tán đồng, đặc biệt là

    phù hợp với chƣơng trình giảng dạy ở phổ thông là ý kiến của các tác giả

    thuộc nhóm 2.

    Trong đề tài này chúng tôi đồng quan điểm với GS.Đỗ Hữu Châu

    1.2. Đặc điểm của từ tiếng Việt

    Từ tiếng Việt có những đặc điểm sau đây:

    Từ tiếng Việt có thể biến thể ngữ âm hoặc ngữ nghĩa nhƣng không có

    biến thể hình thái học. Trong các ngôn ngữ Ấn – Âu, có thể biến thể về mặt

    hình thái. Thí dụ: to go có thể có các biến thể goes, going, gone, went theo

    các quan hệ ngữ pháp khác nhau trong câu. Nhƣng trong tiếng Việt không có

    5

    biến thể hình thái học. Đi, học, nói … bất biến trong mọi quan hệ ngữ pháp và

    chức năng ngữ pháp trong câu. Ngƣời miền Nam có thể nói trăng, trời uốn

    lƣỡi, trong khi ngƣời miền Bắc nói giăng, giời, nhƣng đấy không phải là biến

    thể hình thái học mà chỉ là sự biến âm do thói quen phát âm của địa phƣơng.

    Ý nghĩa ngữ pháp của từ không đƣợc biểu hiện trong nội bộ từ, mà

    đƣợc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ trong câu. Trong các ngôn ngữ biến

    hình, nhìn vào hình thái của từ, ngƣời ta có thể xác định đƣợc ý nghĩa ngữ

    pháp của chúng (thí dụ: danh từ, dựa vào các hậu tố nhƣ -ion, -er, -ment…;

    tính từ dựa vào ive, -ful, -al…). Trong tiếng Việt, từ không có những dấu hiệu

    hình thức giúp xác định ý nghĩa ngữ pháp mà phải dựa vào các loại từ hay

    phó từ nhƣ con, cái, chiếc (đối với danh từ), đã, đang, sẽ, rất, hơi, khá…(đối

    với động từ và tính từ).

    Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có quan hệ chặt chẽ. Chẳng hạn,

    ý nghĩa từ vựng của từ võng khác nhau trong những câu sau đây:

    a. Võng anh đi trước, võng nàng theo sau.

    b. Người ta võng anh ấy đến bệnh viện

    c. Tấm ván võng xuống

    1.3. Đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt

    1.3.1. Đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt

    1.3.1.1. Xác định đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt, chúng tôi chọn “tiếng”

    làm đơn vị cấu tạo từ của tiếng Việt. Về mặt phát âm, mỗi tiếng đƣợc tạo ra

    do một luồng hơi phát ra tự nhiên, kèm theo một thanh điệu nhất định. Về mặt

    văn tự, mỗi tiếng đồng nhất với một chữ. Ví dụ: ăn học, nhà, cao, cửa, rộng,

    thiên, địa, đại, tiểu, vô, hữu… Có thể chọn tiếng làm đơn vị cơ sở cấu tạo từ

    trong tiếng Việt bởi các lý do sau:

    Tiếng là đơn vị dễ nhận diện, quen thuộc đối với ngƣời Việt. Nói theo

    Nguyễn Thiện Giáp, đấy là đơn vị tâm lý ngôn ngữ học. Đối với ngƣời Việt,

    6

    việc xác định số lƣợng âm tiết hay tiếng trong một câu văn, câu thơ không

    phải là một việc làm khó khăn.

    Ví dụ câu thơ:

    Trong đầm gì đẹp bằng sen,

    Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng

    Chúng ta dễ dàng xác định đƣợc ngay 14 tiếng bằng cách dựa vào số

    lần luồng hơi đi ra, hay dựa vào số lƣợng thanh điệu.

    Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập, âm tiết tính. Về hình thức, hầu hết

    những đơn vị nhỏ nhất có nghĩa trong tiếng Việt (tƣơng đƣơng một hình vị

    trong các ngôn ngữ ấn – Âu) đều trùng với âm tiết. Thí dụ: nhà xe, tập, viết,…

    quốc, gia, sơn, hữu, vô… Kể cả các trƣờng hợp nhƣ dàng trong dễ dàng, dãi

    trong dễ dãi, xao trong xanh xao, xắn trong xinh xắn… ta đều có thể giải thích

    đƣợc ý nghĩa của chúng.

    Nghĩa của những đơn vị nhƣ: nhà xe, tập, viết,… ta dễ dàng xác định

    đƣợc. Còn nghĩa của quốc, gia, sơn, hữu, vô,… (những yếu tố Hán – Việt), ta

    có thể xác định đƣợc bằng cách đối chiếu từng đơn vị với hàng loạt từ có

    cùng yếu tố cấu tạo. Thí dụ đối chiếu quốc kì, quốc gia, tổ quốc, ái quốc,… ta

    xác định được quốc có nghĩa là nước; gia đình, tư gia, gia thất, gia chủ…, ta

    xác định được gia có nghĩa là nhà. Đối với các trƣờng hợp nhƣ dàng, dãi

    trong dễ dàng, dễ dãi, tuy bản thân chúng không có nghĩa rõ rệt nhƣng ta có

    thể lí giải đƣợc nghĩa của chúng bằng phép trừ kết hợp với phƣơng pháp đối

    chiếu. Thí dụ: nếu cho nghĩa của dễ dãi là x, nghĩa của dễ dàng là y, nghĩa của

    dễ là z, thì có thể xác định nghĩa của dãi bằng sai số x – z, và nghĩa của dàng

    bằng sai số y – z. Riêng các đơn vị cà, phê, rem trong cà phê, cà rem là những

    tiếng tự thân đều vô nghĩa, và ngay cả khi đặt chúng vào trong mối quan hệ

    với cả từ cũng không giải thích đƣợc ý nghĩa của chúng. Đấy là những trƣờng

    hợp đƣợc vay mƣợn từ các ngôn ngữ Ấn – Âu hoặc một ngôn ngữ nào khác

    mà ta chƣa xác định rõ nguồn gốc. Xét về mặt số lƣợng, những trƣờng hợp

    7

    8

    Những tiếng không độc lập và tự thân không mang nghĩa từ vựng, chỉ

    kết hợp hạn chế với một hay vài yếu tố khác. Thí dụ: xôi trong xa xôi; sẽ

    trong sạch sẽ; a, xít trong a xít; mì, chính trong mì chính…

    Kết hợp tiêu chí ý nghĩa và tiêu chí ngữ pháp có thể tổng kết các loại

    tiếng trong tiếng Việt nhƣ sau:

    Tiếng độc lập

    Tiếng có nghĩa thực

    nhà (nhà cửa),…

    Tiếng không có nghĩa thực

    Tiếng không độc lập

    quốc (quốc phòng)

    dãi (dễ dãi), cà (cà phê)

    1.3.2. Phương thức cấu tạo từ tiếng Việt

    1.3.2.1 Các phương thức cấu tạo từ tiếng Việt.

    Phƣơng thức cấu tạo từ là phƣơng thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị để

    cho ta các từ. Từ tiếng Việt sử dụng ba phƣơng thức sau đây: Từ hóa hình vị ,

    ghép hình vị , láy hình vị .

    Từ hóa hình vị là phƣơng thức tác động vào bản thân một hình vị, làm

    cho nó có đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà

    không them bớt gì cả vào hình thức của nó. Những từ nhƣ: Nhà, xe, áo,

    người, mì chính, lốp (xe đạp)… là những từ hình thành do sự từ hóa các hình

    vị nhà, xe, lốp, mì chính…

    Hiện nay phƣơng thức này chỉ tác động vào các hình thức ngữ âm mô

    phỏng âm thanh và các yếu tố vay mƣợn.

    Ví dụ: Từ cạch vốn mô phỏng tiếng động không vang khi hai vật rắn va chạm

    vào nhau. Nay, thông qua phƣơng thức từ hóa mang ý nghĩa: ” bắn súng cối

    bằng cách thả đạn vào nòng súng” và mang đặc điềm ngữ pháp của các từ

    bắn, phóng, phát, lao… để trở thành một từ. Các từ khác nhƣ bịch (đấm vào

    ngực), đốp (đốp vào mặt) đét (đét cho một roi) đều thuộc trƣờng hợp này. Các từ

    nhƣ lốp, săm, phanh, ti vi, mì chính, căn…là do sự từ hóa các yếu tố nƣớc ngoài.

    Ghép là phƣơng thức tác động vào một hoặc hơn hai hình vị có nghĩa,

    kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới (mang đặc điểm ngữ pháp

    9

    10

    11

    thành tố. Thí dụ, đất nước không phải chỉ đất và nƣớc nói chung hay chỉ đất

    hoặc nƣớc, mà hai yếu tố đƣợc hợp lại để chỉ lãnh thổ của một quốc gia trong

    đó có những nét tiêu biểu là đất và nƣớc. Trƣờng hợp non sông, sông núi, sơn

    hà cũng vậy. Một ví dụ khác, ruột thịt không phải chỉ ruột hay thịt nói chung

    mà cả hai hợp lại hợp lại để chỉ quan hệ máu mủ, huyết thống. Hay gan dạ để

    chỉ sự mạnh mẽ, không lùi bƣớc trƣớc nguy hiểm cũng là một trƣờng hợp

    tƣơng tự.

    1.3.3.2.2. Từ ghép chính phụ: Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một

    thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức

    trong kiểu từ ghép này thƣờng có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt

    ngữ pháp. Loại này có những đặc điểm sau:

    Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hƣớng gợi lên các

    sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có

    khuynh hƣớng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể.

    Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thƣờng giữ vai trò chỉ loại sự

    vật, đặc trƣng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ thƣờng đƣợc dùng để cụ thể hóa

    loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trƣng đó.

    Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ

    ghép chính phụ thành hai tiểu loại:

    Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng

    phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trƣng lớn thành những loại sự vật, hoạt

    động, đặc trƣng, cụ thể. Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện

    tƣợng này là tác dụng phân loại. Thí dụ :

     Máy may, máy bay, máy bơm, máy nổ, máy tiện,…

     Làm việc, làm thợ, làm duyên, làm ruộng, làm dâu,…

     Vui tính, vui tai, vui mắt, vui miệng,…

    Chú ý, ở kiểu từ ghép này trật tự của các yếu tố trong từ ghép thuần

    Việt, hoặc Hán – Việt Việt hóa khác từ ghép Hán – Việt, ở hai trƣờng hợp đầu,

    12

    yếu tố chính thƣờng đứng trƣớc, ở trƣờng hợp cuối, yếu tố phụ thƣờng đứng

    trƣớc. Ví dụ:

     Vùng biển, vùng trời, xe lửa, nhà thơ,…

     Hải phận, không phận, hỏa xa, thi sĩ,…

    Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố

    phụ có tác bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiển cho cả từ ghép này khác

    với thành tố chính khi nó đứng một mình nhƣ một từ rời, hoặc khiến cho từ

    ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa. Thí dụ ,

    so sánh xanh lè với xanh và xanh biếc.

    1.3.3.3. Từ láy

    Cho đến nay, nhiều vấn đề về từ láy vẫn còn để ngỏ.Về phƣơng thức

    cấu tạo của từ láy, tồn tại hai ý khác nhau:

    Ý kiến thứ nhất: Từ láy là từ đƣợc hình thành do sự lặp lại của tiếng

    gốc có nghĩa.

    Ý kiến thứ hai: Từ láy là từ đƣợc hình thành bằng cách ghép các tiếng

    dựa trên quan hệ ngữ âm giữa các thành tố.

    Theo ý kiến thứ nhất chỉ có thể lý giải đƣợc một số từ láy xác định

    đƣợc tiếng gốc, bên cạnh những từ ấy còn rất nhiều từ hiện không xác định

    đƣợc tiếng gốc ( ví dụ: bâng khuâng, lẩm cẩm, lã chã,…), hoặc những từ có

    dạng láy nhƣng thật ra chúng vốn đƣợc tạo ra từ phƣơng thức ghép ( ví dụ

    như hỏi han, chùa chiền, dông dài, tang tóc,…).Nhìn từ láy theo ý kiến thứ hai

    lại không có tác dụng giúp ta thấy đƣợc những nét độc đáo về mặt ngữ nghĩa

    của cấu tạo từ này, không thấy đƣợc nét riêng của dân tộc ta trong việc sáng

    tạo những từ ngữ mới nhằm định danh sự vật mới một cách tiết kiệm mà lại

    có khả năng miêu tả sinh động ,biểu cảm nhất. Có thể nói ý kiến thứ nhất đã

    nêu đƣợc những từ láy chân chính trong tiếng Việt. Tuy nhiên cần nhận thức

    đƣợc rằng ngôn ngữ khong đứng yên mà luôn vận động, thay đổi theo sự phát

    triển của xã hội. Trong quá trình đó, những từ ghép có dạng láy cũng khó phát

    13

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vị Trí Của Danh Từ Trong Câu
  • Từ Phức Là Gì? Phân Biệt Từ Phức Với Từ Ghép Như Thế Nào?
  • Luyện Từ Và Câu Lớp 4: Từ Đơn Và Từ Phức
  • Bài 1. Từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt
  • Bếp Điện Từ Công Nghiệp Công Suất Lớn Cho Nhà Hàng Khách Sạn
  • Từ Và Cấu Tạo Từ Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Từ Và Cấu Tạo Từ (Phần Đầu)
  • Giải Bài Tập Sinh Học 6
  • Sơ Lược Về Cấu Trúc Của Tai Người
  • Tụ Điện Là Gì ? Cấu Tạo
  • Vậy Hãy Xem Cấu Tạo Ups, Bộ Lưu Điện Gồm Có Các
  • Cô Nguyễn Hải (HOCMAI) sẽ giới thiệu cho các em học sinh trong về từ phân loại theo cấu tạo, trong đó có từ đơn và từ phức trong bài học hôm nay.

    Một bài văn được tạo nên từ các đoạn văn. Và hình thành các đoạn văn chính là những câu văn. Trong mỗi câu văn lại là các từ, các cụm từ ghép với nhau để thành một câu hoàn chỉnh. Mỗi từ lại được tạo nên từ các tiếng. Để tìm hiểu về từ và cấu tạo của từ, cô Nguyễn Hải chia bài học thành hai nội dung chính:

    Tham khảo bài giảng chi tiết của cô Nguyễn Hải (Khóa HM6 – Tổng Ôn kiến thức) tại: https://hocmai.vn/bai-giang-truc-tuyen/83513/bai-01-tu-va-cau-tao-tu.html

    Câu thơ “Trong lời mẹ hát” của Trương Nam Hương

    “Thời gian chạy qua tóc mẹ

    Một màu trắng đến nôn nao”.

      Hai dòng thơ có 12 tiếng và 9 từ (Thời gian, chay, qua, tóc, mẹ, một, màu trắng, đến, nôn nao)

    2) Ghi nhớ

    • Từ là ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu
    • Đơn vị cấu tạo từ là tiếng.

    3) Phân biệt “Từ” và “Tiếng”

    +/ Tiếng dùng để cấu tạo từ

    +/ Từ dùng để đặt câu

      Một từ có thể gồm một hoặc nhiều tiếng.

    4) Từ phân loại theo cấu tạo

    • Từ đơn là từ có 1 tiếng
    • Từ phức là từ có 2 tiếng trở lên
    • Từ đơn đơn âm tiết
    • Từ đơn đa âm tiết
    • Từ ghép là loại từ phức được tạo nên bằng cách ghép các tiếng có mối quan hệ về nghĩa
    • Từ láy là loại từ phức được tạo nên bằng cách phối hợp các tiếng có âm đầu, vần hoặc cả âm đầu và vần giống nhau.
    • Từ ghép tổng hợp (VD: Trong xanh – Hai tiếng “Trong” và “xanh” bình đẳng nhau về nghĩa)
    • Từ ghép phân loại (VD: Xanh rì – Hai tiếng “xanh” và “rì”, “xanh” là tiếng chính, “rì” là tiếng phụ, bổ sung ý nghĩa cho tiếng chính.
    • Từ láy toàn bộ (VD: Xanh xanh. Hai tiếng giống nhau hoàn toàn)
    • Từ láy bộ phận (VD: Xanh xao. Hai tiếng giống nhau về âm đầu)

    II/Từ đơn và từ phức

    1)Từ đơn

    VD: Cây (Danh từ), đọc (động từ), cao (tính từ),…

    • Từ đơn đơn âm tiết: Từ đơn chỉ có một tiếng
    • Từ đơn đa âm tiết: Từ đơn được tạo nên từ nhiều âm tiết
    • Tên một số loài vật: Ba ba, chuồn chuồn, châu chấu,…
    • Từ mượn tiếng nước ngoài: Ti vi, cà phê, in-ter-net,…

    2) Từ phức

    VD: Sạch sẽ, sạch sành sanh, lúng ta lúng túng,..

      Từ ghép: Loại từ phức được tạo nên bằng cách ghép các tiếng có mối quan hệ về nghĩa.

    VD: Cao lớn (Có mối quan hệ ngang hàng bình đẳng về nghĩa) , cao vút (Có mối quan hệ với nhau về nghĩa, từ “cao” là tiếng chính, “vút” là tiếng phụ bổ sung nghĩa cho tiếng chính)

      Từ láy: Loại từ phức được tạo nên bằng cách phối hợp các tiếng giống nhau về âm đầu, vần hoặc cả âm đầu và vần.

    VD: Đo đỏ (Hai tiếng giống nhau về cả âm đầu và vần) , lao xao (hai tiếng giống nhau về vần) , xôn xao (Hai tiếng giống nhau về âm đầu)

    c) Một số trường hợp dễ “nhầm lẫn” giữa “từ đơn” và “từ phức”.

      Nhầm lẫn “từ đơn đa âm tiết” và “Từ láy”.

    Dấu hiệu nhận biết: Từ láy có giá trị biểu cảm. Từ đơn là danh từ, để gọi tên sự vật, không có giá trị biểu cảm.

    VD: Các từ ba ba, thuồng luồng, châu chấu là từ đơn đa âm tiết, dù về hình thức có các tiếng giống nhau về âm đầu, vần, cả âm đầu và vần. Không phải từ láy.

    VD: “Cà chua quá!”. Câu này gồm 3 từ. “Cà” và “chua” là hai từ đơn độc lập, không phải từ phức.

    Là giáo viên trường THCS Archimedes, cô Nguyễn Hải có rất nhiều kinh nghiệm giảng dạy và luyện thi vào lớp 6 môn Tiếng Việt. Bài học “Từ và cấu tạo từ”, nằm trong khóa học “HM6 – Tiếng Việt” của cô. Qua bài học, các em dễ dàng nắm bắt những phần kiến thức trọng tâm cần phải ghi nhớ. Đặc biệt, là những nội dung nâng cao không có trong sách giáo khoa là “Từ đơn đa âm tiết”.

    Để tăng tốc cho kì thi vào lớp 6 và giành được thành tích tốt, giải pháp “HM6 – Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh” là một sự hỗ trợ toàn diện dành cho tất cả các em học sinh. Với những kinh nghiệm và thành tựu đạt được trong lĩnh vực luyện thi vào 6, đây chắc chắn là một gói giải pháp đầy chất lượng khi bao quát tất cả nội dung kiến thức cần ôn luyện và hướng dẫn luyện đề, giải đề thi hiệu quả.

    Phụ huynh và học sinh tham khảo về chương trình tại: http://bit.ly/Giải-pháp-toàn-diện-ôn-thi-vào-6

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Tim Và Những Điều Thú Vị
  • Tìm Hiểu Tất Tần Tật Về Cấu Tạo Của Tim Người
  • Cấu Tạo Của Hệ Tim Mạch Và Các Vai Trò Quan Trọng
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tim
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tim Người (Phần 1)
  • Từ Và Cấu Tạo Từ Của Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • 1,nêu Các Kiểu Câu Xét Theo Cấu Tạo Ngữ Pháp Và Lấy Ví Dụ Minh Họa Nêu Đặc Điểm Của Câu Ghép Phân Biệt Câu Ghép Với Câu Mở Rộng Thành Phâ
  • Cấu Tạo Và Phương Thức Định Danh Của Hệ Thống Từ Ngữ Nghề Chè
  • Cấu Tạo Của Chứ Hán Trong Tiếng Nhật
  • Tính Chất Hoá Học Của Sắt 2, Sắt 3 Oxit Sắt Từ Và Hợp Chất Của Sắt
  • Công Thức Hóa Học Nào Sau Đây Là Của Oxit Sắt Từ?
  • I. – CỦNG CỐ VÀ MỞ RỘNG KIẾN THỨC

    1. Khái niệm: Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu.

    – về chức năng: Từ là đơn vị dùng để đặt câu. Nhờ đặc điểm này mà phân biệt từ với tiếng. Tiếng chỉ có chức năng cấu tạo từ. Những tiếng có thể dùng độc lập để đặt câu được gọi là từ đơn.

    Ví dụ: từ học sinh gồm hai tiếng: học + sinh.

    – về cấu trúc: trong số các đon vị dùrig để đặt câu, từ là đon vị nhỏ nhất. Nhờ đặc điểm này mà phân biệt từ với đơn vị bậc trên nó là cụm từ.

    Ví dụ: Trong câu: Sáng sáng, em đi học. gồm có 4 từ: sáng sáng, em, đi, học.

    – Đa số các tiếng trong tiếng Việt có nghĩa, ví dụ: nhà, mẹ, vui, hoa…, cũng có những tiếng không có nghĩa, ví dụ: loắt (trong từ loắt choắt), xắn (trong từ xinh xắn),…

    3. Phân loại từ theo cấu tạo ngữ pháp: dựa vào số lượng tiếng trong từ, có các loại từ sau:

    – Từ đơn: từ chỉ gồm một tiếng (ví dụ: cá, thóc, vua, mèo,…).

    – Từ phức: từ gồm hai hoặc nhiều tiếng (ví dụ: sách giáo khoa, con cháu, lom khom,…).

    Từ phức được phân thành từ ghép và từ láy.

    + Từ ghép: từ được tạo ra bằng cách ghép các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa (ví dụ: ông bà, con cháu, hoa quả, xe đạp,…).

    + Từ láy: từ có quan hệ láy âm giữa các tiếng (ví dụ: ỉoắt choắt, lác đác, sạch sành sanh,…).

    – Tìm hiểu về từ ghép, cần chú ý mối quan hệ ý nghĩa giữa các tiếng trong từ:

    + Các tiếng trong từ có quan hệ bình đẳng, tạo ra ý nghĩa tổng họp, khái quát hơn ý nghĩa của mỗi tiếng tạo thành (ví dụ: thầy trò, sách vở, học hành,…).

    + Các tiếng trong từ có quan hệ chính phụ, tạo ra ý nghĩa cụ thể hơn ý nghĩa của tiếng chính (ví dụ: hoa hồng, đỏ thắm, bánh trôi,…).

    – Tìm hiểu về từ láy, cần chú ý quan hệ láy âm giữa các tiếng trong từ:

    + Láy lại toàn bộ tiếng, có thể có sự biến đổi về thanh điệu hoặc phụ âm cuối (ví dụ: đo đỏ, hun hút, xanh xanh).

    + Láy lại bộ phận phụ âm đầu của các tiếng (ví dụ: lạnh lẽo, buồn bã,…).

    + Láy lại bộ phận vần của các tiếng (ví dụ: lóc cóc, lềnh bềnh,…).

    II. – LUYỆN TẬP Bài tập

    1. Vẽ sơ đồ các loại từ tiếng Việt xét về cấu tạo.

    2. Đọc kĩ đoạn thơ sau và thực hiện yêu cầu ở dưới:

    a) Phân loại các từ trong đoạn thơ theo các nhóm: từ đơn, từ láy, từ ghép.

    b) Nêu hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong đoạn thơ.

    c) Trong những từ láy vừa tìm, từ láy nào gợi tả hình dáng con người?

    d) Tìm thêm những từ láy khác miêu tả hình dáng của con ngưòi.

    a) Tạo 5 từ ghép có tiếng nhỏ.

    b) Tạo 5 từ láy có tiếng nhỏ.

    4. Đọc kĩ đoạn văn sau và thực hiện yêu cầu ở dưới:

    Thuỷ Tinh đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo đòi cướp Mị Nương. Thần hô mưa, gọi gió làm thành dông bão rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn đánh Son Tinh. Nước ngập ruộng đồng, nước ngập nhà cửa, nước dâng lên lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước.

    (Sơn Tinh, Thuỷ Tinh)

    a) Tìm từ láy trong đoạn văn trên.

    b) Nêu hiệu quả của việc sử dụng các từ láy trong đoạn văn.

    c) Hãy viết lại câu văn sau bằng cách thêm vào một số từ láy:

    Nước ngập ruộng đồng, nước ngập nhà cửa, nước dâng lên lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu như nổi lềnh bềnh trên một biến nước.

    5. Xanh và trắng là hai tiếng chỉ màu sắc, em hãy tạo ra những từ láy và từ ghép có tiếng xanh và tiếng trắng.

    6. Viết đoạn văn (tối đa 10 dòng) nêu ý nghĩa của truyền thuyết Bánh chưng, bánh giầy. Sau đó, phân loại các từ theo các loại: từ đơn, từ ghép, từ láy.

    Gợi ý

    2. a) Phân loại các từ trong đoạn thơ theo các nhóm:

    – Từ đơn: cái, xắc, chân, đầu, đội, lệch, mồm, huýt, sáo, vang, như, con, nhảy, trên, đường, vàng.

    -Từ láy: loắt choắt, xinh xinh, thoăn thoắt, nghênh nghênh.

    – Từ ghép: chú bé, ca lô, chim chích.

    b) Hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong đoạn thơ: góp phần làm cho cách diễn đạt sinh động, tăng sức gợi hình, gợi cảm. Làm hiện lên trước mắt người đọc một chú bé liên lạc nhỏ bé, nhanh nhẹn, tinh nghịch, hồn nhiên, đáng yêu.

    c) Trong những từ láy vừa tìm, từ láy gợi tả hình dáng con người là: loắt choắt.

    d) Một số từ láy khác miêu tả hình dáng của con người như: lom khom, lêu đêu, lòngkhòng,…

    3. a) Tạo 5 từ ghép có tiếng nhỏ: nhỏ bé, nhỏ nhẹ, nhỏ tí, nhỏ xíu, nhỏ xinh.

    b) Tạo 5 từ láy có tiếng nhỏ: nhỏ nhắn, nhỏ nhặt, nhỏ nhoi, nhỏ nhen, nho nhỏ.

    4. a) Từ láy trong đoạn văn: đùng đùng, cuồn cuộn, lềnh bềnh.

    b) Hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong đoạn văn: góp phần làm cho cách diễn đạt sinh động, tăng sức gợi hình gợi cảm. Diễn tả cụ thể và chi tiết quang cảnh trận chiến giữa hai vị thần.

    c) Viết lại câu văn bằng cách thêm vào một số từ láy:

    Nước ngập ruộng đồng mênh mông, nước ngập nhà cửa lênh láng, nước dâng ào ạt lên lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước.

    5. Những từ láy và từ ghép có tiếng xanh và tiếng trắng:

    + Từ láy: xanh xanh, xanh xao,…

    + Từ ghép: xanh đỏ, xanh rì, xanh biếc,…

    + Từ láy: trắng trẻo, trăng trắng,…

    + Từ ghép: đen trắng, trắng tinh, trắng toát, trắng bạch,…

    + HS viết đúng một đoạn văn (bắt đầu từ chữ cái đầu tiên viết hoa lùi vào một ô và kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng).

    + Đọạn văn không dài quá 10 dòng.

    – Yêu cầu về nội dung: Nêu ý nghĩa của truyền thuyết Bánh chưng, bánh giầy . HS có thể hướng đến những ý sau:

    + Truyền thuyết lí giải nguồn gốc ra đời của hai thứ bánh gắn với văn hoá dân tộc: bánh chưng, bánh giầy.

    + Hình ảnh bánh chưng tượng trưng cho đất; bánh giầy tượng trưng cho trời; đậu xanh, lá dong, thịt mỡ tượng trưng cho cây cỏ, cầm thú muôn loài.

    + Gửi gắm lòng hiếu thảo, biết ơn tổ tiên; tình yêu lao động, yêu quê hương, ruộng đồng và sự quý trọng nghề nông.

    Sau khi viết xong đoạn văn, HS phân loại từ theo các loại: từ đơn, từ ghép, từ láy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Từ Trong Tiếng Việt (Phần Ba)
  • Từ Láy Trong Tiếng Việt
  • Luyện Từ Và Câu Lớp 5: Ôn Tập Về Từ Và Cấu Tạo Từ
  • Tiếng Việt Lớp 5 Luyện Từ Và Câu: Ôn Tập Về Từ Và Cấu Tạo Từ
  • Vẽ Sơ Đồ Tư Duy Cấu Tạo Từ Tiếng Việt
  • Từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Thế Nào Là Chủ Ngữ, Vị Ngữ, Trạng Ngữ, Bổ Ngữ, Định Ngữ
  • Thế Là Nào Chủ Ngữ, Vị Ngữ, Trạng Ngữ
  • Phương Pháp Làm Dạng Bài Về Chủ Ngữ, Vị Ngữ Trong Câu Kể “ai Làm Gì”
  • Bai Tap Tu Luan Ve Anken
  • Giải Bài Tập Hóa 11 Bài 29: Anken (Olefin)
  • Từ và cấu tạo của từ tiếng Việt

    1- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

    1. Thế nào là từ?

    Từ là một yếu tố của ngôn ngữ (tiếng Việt) có hai đặc điểm rất cơ bản, đó là:

    b) Được dùng độc lập để tạo câu

    Ví dụ, các từ trên có thể được dùng riêng biệt để tạo những câu như sau:

    – Trăm trứng nở ra một trăm người con hồng hào, đẹp đẽ lạ thường. – Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mủi khôi ngô, khỏe mạnh như thần. c) Từ một tiếng và từ nhiều tíếng

    Nàng sinh ra một cái bọc trăm trứng.

    Trong số các từ trên, có từ chỉ là một tiếng. Ví dụ: nàng; sinh, nở; bọc, trứng; trăm, nghìn. Nhưng cũng có từ gồm hai tiếng. Ví dụ: hồng hào, đẹp đẽ; bú mớm, kho ẻ mạnh,…

    2. Đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt

    Đơn vị cấu tạo nên từ trong tiếng Việt là tiếng.

    – Từ phức (dựa vào mối quan hệ giữa các tiếng: có láy âm hay không láy âm) lại có thể chia nhỏ ra thành:

    + Từ ghép là những từ giữa các tiếng không có quan hệ láy âm. Ví dụ: khỏe mạnh, yêu mến, lạ thường, dòng họ,…

    + Từ láy là những từ giữa các tiếng có quan hệ láy âm với nhau. Ví dụ: hồng hào, đẹp đẽ, thỉnh thoảng, khoẻ khoắn,…

    Các em có thể hình dung các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt qua sơ đồ sau:

    II – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

    1. a) Để tìm được kiểu cấu tạo từ của một từ nào đó, các em có thể lần lượt tiến hành theo trật tự sau:

    – Xem xét số lượng tiếng có trong các từ. Nếu từ một tiếng thì đó là từ đơn, còn nhiều tiếng thì đó là từ phức.

    – Nếu là từ phức, các em cần tiếp tục tìm hiểu sâu hơn để biết từ đó được cấu tạo theo kiểu ghép hay kiểu láy:

    + Sẽ là từ láy nếu các tiếng có quan hệ láy âm.

    + Sẽ là từ ghép nếu các tiếng không có quan hệ láy âm mà có quan hệ về nghĩa.

    b) Từ đổng nghĩa với một từ nào đấy là những từ có nghĩa giống hoặc gần giống với từ đó.

    Để tìm những từ đồng nghĩa với từ nguồn gốc trong câu trên, các em có thể:

    – Dựa vào cách hiểu của mình về nghĩa của từ.

    – Tra từ điển đồng nghĩa.

    Dựa vào nghĩa này, các em có thể tìm thấy các từ đồng nghĩa với từ nguồn gốc là: ngọn nguồn, cội nguồn.

    c) Để tìm được các từ ghép như mẫu con cháu, anh chị, ông bà, các em có thể dùng các từ đơn chỉ quan hệ thân thuộc như cha, chú, cô, bác, cậu, mợ, dì, anh, chị, em… rồi ghép theo những mối quan hệ nghĩa kiểu như:

    Theo thứ bậc trên, dưới: cha chú, anh chị, con cháu, cháu chắt,…

    – Theo giới tính: ông bà, bố mẹ, chú dì, chú thím, cậu mợ,…

    2. Các từ ghép chỉ quan hệ họ hàng thân thuộc trong gia đình người Việt Nam có một số cách ghép chính như sau:

    – Theo quan hệ giới tính (trai gái, gái trai)

    Ví dụ: ông bà, bố mẹ, anh chị; cô chủ, cô cậu,…

    – Theo quan hệ thứ bậc trên dưới

    Ví dụ: cha con, con cháu, cháu chắt,…

    – Theo quan hệ nội ngoại

    3. Để thực hiện được yêu cầu của bài tập này, các em cần lấy một từ đơn chỉ cách chế biến, chỉ chất liệu, chỉ tính chất hoặc chỉ hình dáng của bánh và ghép vào sau yếu tố bánh, các em sẽ được những từ ghép cần tìm. Theo công thức bánh + X, các em sẽ tạo được những từ ghép có nghĩa cụ thể hơn (chỉ một loại bánh) so với nghĩa của từ đơn bánh (chỉ chung các loại bánh).

    Ví dụ:

    – Nêu cách chế biến của bánh: bánh rán, bánh nướng, bánh hấp, bánh nhúng, bánh tráng,…

    – Nêu tên chất liêu của bánh: bánh nếp, bánh tôm, bánh tẻ, bánh khoai, bánh ngô, bánh bột lọc, bánh đậu xanh,…

    – Nêu tính chất của bánh: bánh dẻo, bánh xốp, bánh phồng,…

    – Nêu hình dáng của bánh: bánh gối, bánh tai voi, bánh quấn thừng,…

    4. Thút thít là từ láy tượng thanh. Đây là từ dùng để tả tiếng khóc nhỏ, không liên tục, xen với tiếng xịt mũi.

    Những từ láy khác có cùng tác dụng ấy: sụt sùi, sụt sịt, tấm tức, rưng rức,..

    5. Các từ láy tả tiếng cười: khúc khích, tủm tỉm, khanh khách, sằng sặc, sặc sụa, hô hố, hềnh hệch, ha hả, rinh rích, toe toét,…

    – tả dáng điệu: mềm mại, lả lướt, thướt tha, lừ đừ, ngột ngưỡng, nghênh ngang, lóng ngóng, loay hoay, hí hoáy, lù đù, co ro, xiêu xiêu,:..

    III – THAM KHẢO

    1. Từ ghép có yếu tố “mạnh”: mạnh khỏe, mạnh giỏi, mạnh bạo, mạnh miệng, mạnh mồm, mạnh tay, mạnh dạn,…

    Mai Thu

    2. Từ ghép có yếu tố “học”: /học sinh, học tập, học bạ, học kì, học cụ, học dường, học bổng, học vấn, học trò, học hỏi, học lực, học phí,…

    3. Một số từ láy tượng hình: khúc khuỷu, khúm núm, lệt bệt, lững lờ, lả lả, xiêu xiêu, lùng bùng, nhoè nhoẹt, thoăn thoắt, nghênh nghênh, thoi thóp,…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Phân Tử, Đồng Đẳng, Đồng Phân, Liên Kết Đơn, Liên Kết Đôi Trong Hợp Chất Hữu Cơ
  • Tính Chất Hóa Học, Công Thức Cấu Tạo Của Ankan Và Bài Tập
  • Ankadien Tính Chất Hóa Học, Tính Chất Vật Lý Và Công Thức Cấu Tạo Của Ankadien
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Gen
  • Hộp Gen Là Gì? Kích Thước Hộp Gen (Hộp Kỹ Thuật) Nhà Vệ Sinh Chuẩn
  • Các Kiểu Cấu·tạo Từ Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Các Bộ Phân Của Cây Dừa, Các Giống Dừa
  • Đặc Điểm, Ý Nghĩa Và Cách Trồng Cây Dừa Cảnh
  • Thuốc Lá Điện Tử Không Giúp Người Nghiện Cai Thuốc Thành Công
  • Thước Lái, Bộ Đánh Lái Trên Ô Tô
  • Cấu Tạo Và Hoạt Động Của Hệ Thống Lái Trợ Lực Điện Eps
  • Các Kiểu Cấu Tạo Từ Tiếng Việt

    1. Từ đơn: là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập. Thí dụ: Nhà, xe, tập, viết, xanh,đỏ, vàng, tím,…

    – Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời. Một số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga,…

    – Xét về mặt ý nghĩa , từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội , các số đếm,…

    2. Từ ghép: là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa.

    Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể phân từ ghép ra làm 2 loại chính:

    2.1. Từ ghép đẳng lập:

    Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là:

    A. – Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng.

    B. – Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy:

    a.+ Hoặc các thành tố đồng nghĩa nhau, trong đó:

    * Có thể có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt. Ví dụ: bạn hữu, bụng dạ, máu huyết,…

    * Có thể cả hai yếu tố đều là Hán Việt. Ví dụ: tư duy, thổ địa, tiên lợi, cốt nhục,…

    * Có thể cả hai yếu tố đều là thuần Việt. Ví dụ: đợi chờ, máu mủ, xinh đẹp,…

    * Có thể có một yếu tố toàn dân và một yếu tố vố là từ địa phương. Ví dụ:Chân cẳng, bát đọi, chợ búa,…

    b.+ Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau. Thí dụ: thương nhớ, nhà cửa, áo quần, ăn uống, đi đứng,…

    c. + Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau. Thí dụ: đầu đuôi, sống chết, già trẻ, gần xa, trong ngoài,…

    C. – Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp ( tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát ).

    D. – Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp. Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập.

    E. – Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ là từ ghép đẳng lập gộp nghĩa, từ ghép đẳng lập đơn nghĩa và từ ghép đẳng lập hợp nghĩa.

    a. + Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa: bao gồm những từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A+B. Tức là loại mà nghĩa của từng thành tố cùng nhau gộp lại để biểu thị ý nghĩa khái quát chung của cả từ ghép, trong ý nghĩa chung đó có ý nghĩa riêng của từng thành tố. Chẳng hạn, từ quần áo chỉ đồ mặc nói chung, trong đó có cả quần lẫn áo.

    Một số ví dụ về từ ghép gộp nghĩa: điện nước, xăng dầu, tàu xe, xưa nay, chạy nhảy, học tập, nghe nhìn, thu phát, ăn uống, tốt đẹp, may rủi, hèn mọn,thầy trò, vợ con…

    b. + Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bao gồm từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A hoặc B. Tức là loại mà nghĩa khái quát chung của cả từ ghép tương ứng với ý nghĩa của một thành tố có mặt trong từ. Ví dụ: núi non, binh lính, thay đổi, tìm kiếm,…

    Do nghĩa của cả từ ghép tương đương với nghĩa của một thành tố nên thành tố còn lại có xu hướng bị mờ nghĩa hoặc bị mất nghĩa. Yếu tố này sẽ làm chỗ dựa cho ý nghĩa của cả từ ghép. Có thể nói sự mờ nghĩa của núc (bếp núc), búa ( chợ búa), pheo ( tre pheo) … chính là kết quả cực đoan của mô hình đơn nghĩa này.

    Một số ví dụ về từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bếp núc, chợ búa, đường sá, heo cúi, áo xống, ăn mặc, ăn nói, viết lách, …

    Chú ý về trật tự các thành tố trong từ ghép đẳng lập.

    Bàn về từ ghép đẳng lập, người ta thường bàn đến khả năng hoán vị giữa các thành tố. Tuy nhiên cần chú ý là khả năng ấy không xảy ra phổ biến đối với toàn bộ lớp từ ghép đẳng lập, và không phải xảy ra vô điều kiện trong mọi trường hợp. Về hiện tượng này có thể nêu mấy nhận xét chung như sau:

    d. + Có thể hoán vị được đối với một số từ ghép gộp nghĩa trường hợp không có yếu tố Hán – Việt. Thí dụ: quần áo – áo quần, rủi may – may rủi, tươi tốt – tốt tươi,…

    e. + Khả năng hoán vị ít xảy ra giữa các thành tố trong từ ghép đơn nghĩa, đặc biệt đối với trường hợp từ ghép có yếu tố mờ nghĩa, mất nghĩa.

    f. + Khả năng hoán vị bị sự khống chế của một số yêu cầu:

    * Không được phép làm thay đổi ý nghĩa của từ ghép ban đầu. Ví dụ: đi lại – lại đi ; cơm nước – nước cơm khác nghĩa.

    * Không đi ngược lại tập quán cổ truyền của dân tộc. Ví dụ: nam nữ – nữ nam; ông bà – bà ông, anh em – em anh, vua quan – quan vua,… không hoán vị được.

    * Không tạo nên những trật tự khó đọc. Chẳng hạn: sửa chữa dễ đọc hơn chữa sửa.

    2.2 Từ ghép chính phụ: Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp. Loại này có những đặc điểm sau:

    A. – Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hướng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể.

    B. – Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ tường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó.

    C. – Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép chính phụ thành hai tiểu loại:

    a. + Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật , hoạt động, đặc trưng, cụ thể. Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện tượng này là tác dụng phân loại. Thí dụ :

    • máy may, máy bay, máy bơm, máy nổ, máy tiện,…

    • làm việc, làm thợ , làm duyên, làm ruộng, làm dâu,…

    • vui tính, vui tai, vui mắt, vui miệng,…

    Chú ý, ở kiểu từ ghép này trật tự của các yếu tố trong từ ghép thuần Việt, hoặc Hán – Việt Việt hoá khác từ ghép Hán – Việt. ở hai trường hợp đầu, yếu tố chính thường đứng trước, ở trường hợp cuối, yếu tố phụ thường đứng trước. Ví dụ:

    • vùng biển, vùng trời, xe lửa, nhà thơ,…

    • hải phận, không phận, hỏa xa, thi sĩ,…

    b. + Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có tác bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa. Thí dụ , so sánh xanh lè với xanh và xanh biếc, …

    3. Từ láy:

    Cho đến nay, nhiều vấn đề của từ láy vẫn là những vấn đề còn để ngỏ.Về phương thức cấu tạo của từ láy, tồn tại hai ý kiến khác nhau: a.Từ láy là từ được hình thành do sự lặp lại của tiếng gốc có nghĩa ; b. Từ láy là từ được hình thành bằng cách ghép các tiếng dựa trên quan hệ ngữ âm giữa các thành tố. Theo ý kiến thứ nhất chỉ mới có thể lí giải được một số từ láy xác định được tiếng gốc, bên cạnh những từ ấy còn rất nhiều từ hiện không xác định được tiếng gốc (ví dụ: bâng khuâng, lẩm cẩm, bủn rủn, lã chã,…), hoặc những từ có dạng láy nhưng thực ra chúng vốn được tạo ra từ phương thức ghép ( ví dụ: hỏi han, chùa chiền, dông dài, tang tóc,…). Nhìn nhận từ láy theo ý kiến thứ hai lại không có tác dụng giúp ta thấy được những nét độc đáo về mặt ngữ nghĩa của kiểu cấu tạo từ này, không thấy được nét riêng của dân tộc ta trong việc sáng tạo những từ ngữ mới nhằm định danh sự vật mới một cách tiết kiệm mà lại có khả năng miêu tả sinh động, biểu cảm nhất. Có thể nói ý kiến thứ nhất đã nêu ra được những từ láy chân chính trong tiếng Việt. Tuy nhiên cần nhận thức được rằng ngôn ngữ không đứng yên mà luôn vận động, thay đổi theo sự phát triển của xã hội. Trong quá trình đó, những từ ghép có dạng láy và những từ láy chân chính đã hòa lẫn vào nhau mà ngay cả những nhà ngôn ngữ học cũng khó phát hiện và phân biệt được chúng trong nhiều trường hợp. Gần đây trong nhiều bài viết, các tác giả đã khôi phục được nghĩa của nhiều từ ghép có dạng láy bị mất nghĩa. Dẫu sao những từ này hiện nay cũng đã mang nhiều đặc điểm của từ láy ( về mặt ngữ nghĩa cũng như ngữ âm). Trong khi chờ đợi những cứ liệu lịch sử đầy đủ hơn nữa, có thể xem chúng là từ láy. Do vậy, đứng tên quan điểm đồng đại có thể nói từ láy là những từ gồm nhiều tiếng, giữa các tiếng có quan hệ ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa.

    3.1. Ðặc điểm của từ láy:

    A. – Giữa các tiếng trong từ láy có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm, biểu hiện ở một trong các dạng sau :

    + Hoặc giống nhau ở phần phụ âm đầu. Thí dụ: vắng vẻ, vui vẻ,…

    + Hoặc giống nhau ở phần vần. Thí dụ: co ro, lác đác, lung túng,…

    + Hoặc giống nhau ở cả phần phụ âm đầu lẫn phần vần. Thí dụ: đo đỏ, hao hao,…

    + Riêng thanh điệu, ở từ láy đôi thường tuân theo quy tắc biến thanh sau:

    Cao _ / ?

    Thấp . ~

    B. – Mối quan hệ về mặt ngữ âm trong từ láy tạo nên sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hóa ( Hoàng Văn Hành), tức là tạo ra một thứ ý nghĩa biểu trưng, ý nghĩa ấn tượng mà người bản ngữ tỏ ra nhạy cảm với nó hơn so với người không phải thuộc bản ngữ. Ðó là lí do giải thích vì sao trong tiếng Việt tồn tại nhiều từ láy rất khó lòng giải nghĩa, nhưng người bản ngữ nói chung vẫn cảm nhận được cái hay, vẫn dùng đúng và hiểu đúng, nhưng khó có thể giải thích tính đúng, tính hay đó cho người ngoại quốc học tiếng Việt. Chính vì vậy ở những từ ghép có các thành tố còn rõ nghĩa và có hiện tượng lặp âm ngẫu nhiên như tươi tốt, nam nữ, mặt mũi, hầm hố,…nhưng người bản ngữ không hề nghĩ đến chúng như là từ láy. ở đây ý nghĩa của từng thành tố trong từ còn quá rõ, chúng đã cản trở việc tạo ra một thứ ý nghĩa vốn mơ hồ, yếu ớt, mặc dù khá ổn định. Và ngược lại, khi trong từ ghép đẳng lập có xuất hiện yếu tố mờ nghĩa, người ta dễ cảm thụ chúng như là từ láy. Ðó là lí do giải thích tại sao những từ chùa chiền, hỏi han, đất đai, chim chóc, tuổi tác được nhiều người lĩnh hội như là từ láy.

    C. – Từ đó dẫn đến đặc điểm thứ ba, trong từ láy phải có ít nhất một yếu tố không độc (mờ nghĩa hay mất nghĩa). Như vậy, từ láy trong tiếng Việt có thể xảy ra hai trường hợp: a – Từ láy có một yếu tố độc lập ( hay tiếng gốc) và một yếu tố không độc lập ( hay tiếng láy); b – Từ láy có cả hai yếu tố đều không độc lập ( hay từ láy không có tiếng gốc).

    3.2 . Phân loại từ láy:

    Kết hợp tiêu chí số lượng tiếng với các bộ phận giống nhau trong từ, có thể phân từ láy thành các loại sau:

    A. – Từ láy đôi là từ láy gồm có 2 tiếng. Có các dạng cấu tạo láy đôi sau:

    a. + Từ láy bộ phận: Từ giống nhau ở phần vần hoặc phụ âm đầu.

    b. + Từ láy hoàn toàn: Ngoại trừ những từ láy bộ phận, còn lại là các từ láy hoàn toàn. Cụ thể gồm các dạng sau:

    * Giống cả phần vần, phụ âm đầu và thanh điệu.

    Thí dụ: đùng đùng, lù lù, vàng vàng,…

    * Giống phần vần, phụ âm đầu, khác nhau thanh điệu.

    Thí dụ: đu đủ, cỏn con, đo đỏ, tím tím,…

    * Giống nhau phụ âm đầu và âm chính, khác nhau ở thanh điệu và phụ âm cuối do sự chi phối của quy luật dị hóa.

    Thí dụ: đèm đẹp, bàng bạc,sành sạch, tôn tốt,…

    Dạng biến đổi này xảy ra trong các trường hợp các tiếng gốc có phụ âm cuối là -p, -t, -k ( thể hiện trên chữ viết là c và ch ). Trong trường hợp này, thanh điệu cũng biến đổi theo quy luật vừa nói trên. Còn phụ âm cuối biến đổi theo quy luật là tiếng gốc tận cùng bằng các phụ âm tắc-vô thanh sẽ được chuyển thành các phụ âm mũi-hữu thanh ở tiếng láy. Cụ thể:

    Tiếng gốc Tiếng láy

    ( Âm tắc, vô thanh) ( Âm mũi – hữu thanh)

    ăm ấp – p – m

    phơn phớt – t – n

    bàng bạc, sành sạch – k – ng ( thể hiện trên chữ ng và nh)

    B. – Từ láy ba và láy tư:

    Từ láy ba: chủ yếu dựa trên cơ chế láy hoàn toàn.

    Từ láy ba có kiểu phối thanh thường gặp là:

    -Tiếng thứ hai mang thanh bằng (thường xuất hiện thanh huyền hơn thanh ngang).

    -Tiếng thứ nhất và tiếng thứ ba đối lập nhau về bằng / trắc hoặc về âm vực cao / thấp.

    Ví dụ cho trường hợp thứ nhất: dửng dừng dưng, cỏn còn con, sạch sành sanh, khỏe khòe khoe,…

    Ví dụ cho trường hợp thứ hai: khít khìn khịt, sát sàn sạt, xốp xồm xộp,…

    Từ láy ba dạng láy bộ phận chiếm số lượng rất ít. Ví dụ: tơ lơ mơ, tù lù mù,…

    Từ láy tư: Phần lớn từ láy dựa trên cơ sở từ láy đôi, một số ít có phần gốc là từ ghép.

    + Láy bộ phận kết hợp với đổi vần -a, -à hay -ơ.

    Ví dụ: ấm ớ — ấm a ấm ớ

    hì hục — hì hà hì hục

    sớn sát — sớn sơ sớn sát

    + Láy toàn bộ kết hợp với biến thanh.

    Ví dụ: bồi hồi — bổi hổi bồi hồi

    lảm nhảm — lảm nhảm làm nhàm

    + Láy bộ phận kết hợp với tách, xen .

    Ví dụ: thơ thẩn — lơ thơ lẩn thẩn

    nhồm nhoàm — lồm nhồm loàm nhoàm

    + Láy toàn bộ kết hợp với tách, xen

    Ví dụ: hăm hở — hăm hăm hở hở

    vội vàng — vội vội vàng vàng

    3 3. ý nghĩa của từ láy.

    ở đây, ta chủ yếu bàn về từ láy đôi.

    Xét tác dụng của các tiếng tham gia cấu tạo nghĩa của từ láy, có thể chia từ láy nói chung thành 3 nhóm :

    A. Từ láy phỏng thanh: là từ láy trong đó không xác định được tiếng gốc, các tiếng được hình thành và được ghép lại dựa vào sự mô phỏng âm thanh của các sự sật, hiện tượng trong thực tế. Cụ thể, đấy có thể là sự nhại lại âm thanh của đối tượng. Ví dụ: oa oa, gâu gâu, đùng đùng,…; hay dựa vào mô phỏng âm thanh để định danh cho đối tượng. Thí dụ: con bìm bịp, xe cút kít, chim tu hú,…

    B. Từ láy sắc thái hóa: là những từ mà trong đó có một yếu tố gốc và một hoặc hơn một yếu tố láy . Yếu tố gốc chi phối nghĩa của toàn bộ từ láy, yếu tố còn lại có tác dụng bổ sung một sắc thái nghĩa nào đó khiến cho từ láy khác với phần gốc khi nó đứng một mình và khác với từ láy khác có cùng yếu tố gốc. Ví dụ, so sánh bối rối với rối rắc rối, rối ren, rối rít; dễ dãi với dễ, dễ dàng; xanh xanh với xanh và xanh xao,…Xét về mặt phạm vi biểu vật của từ láy so với tiếng gốc, cần phân biệt hai trường hợp: thứ nhất là từ láy phi cá thể hóa – những từ mà ý nghĩa biểu thị phạm vi sự vật rộng hơn so với tiếng gốc; thứ hai là từ láy cụ thể hóa những từ mà ý nghĩa biểu thị phạm vi sự vật hẹp hơn so với tiếng gốc. Ví dụ cho trường hợp thứ nhất như: chim chóc, mùa màng, hội hè,…Ví dụ cho trường hợp thứ hai như: dễ dàng, dễ dãi, bối rối, rắc rối, rối rít, xanh xanh, xanh xao,…

    Có thể nêu ra một số mô hình ngữ nghĩa tương đối thuần nhất của một số kiểu láy như sau:

    – Kiểu từ láy toàn bộ:

    + Tiếng gốc gốc tính từ, kiểu L( láy).G( gốc).

    * L. có thanh bằng: thường diễn đạt tính chất hoặc đặc điểm mang ý nghĩa giảm nhẹ. Ví dụ: kha khá, đo đỏ, tôn tốt,…

    * L. có thanh trắc: thường diễn đạt tính chất hoặc đặc điểm có cường độ gia tăng. Ví dụ: cỏn con, tẻo teo,…

    + Tiếng gốc gốc động từ: thường diễn đạt các hành động lặp đi lặp lại một cách đều đặn và kèm với quá trình lặp lại đó, cường độ của hành động mang tính chất giảm nhẹ. Ví dụ: gật gật, lắc lắc, rung rung,…

    + Tiếng gốc gốc danh từ: thường diễn tả sự lặp đi lặp lại của các sự kiện, hiện tượng. Ví dụ: ngày ngày, người người, nhà nhà,…

    – Kiểu láy âm:

    * Kiểu G. L( -ăn): thường diễn tả tính chất hoặc đặc điểm đạt chuẩn mực. Ví dụ: đầy đặn, vuông vắn, ngay ngắn, thẳng thắn,…

    * Kiểu L (-âp). G ( gốc động từ) : thường diễn tả hành động không ổn định tại chỗ hoặc diễn ra theo tình thế hiện ra biến mất. Ví dụ: lấp ló, thập thò, nhấp nháy,…

    C. Từ láy âm cách điệu: là từ láy không chứa bộ phận còn đủ rõ nghĩa từ vựng, hoặc vẫn có thể chứng minh nghĩa của một bộ phận nào đó nhưng nó không còn tác dụng làm cơ sở nghĩa của toàn từ nữa. Ví dụ: bâng khuâng, linh tinh, thình lình,…Lọai này hiện chiếm một số lượng khá lớn trong tiếng Việt. Theo Diệp Quang Ban, đây là kiểu láy thuần khiết nhất, tiêu biểu cho toàn bộ từ láy – một kiểu cấu tạo từ lấy sự hòa phối ngữ âm tạo ý nghĩa biểu trưng làm cơ sở. Về mô hình ngữ nghĩa của kiểu từ láy này vẫn là một vấn đề còn đang để ngỏ. Phi Tuyết Hinh trong bài Từ láy không rõ thành tố gốc và vấn đề biểu trưng ngữ âm trong từ biểu tượng tiếng Việt đã cố gắng mô hình hóa nghĩa của kiểu từ này dựa vào các đặc điểm cấu âm – âm học của chúng.

    4. Từ ngẫu hợp : Ngoại trừ các trường hợp trên, còn lại là các từ ngẫu hợp. Ðấy là trừơng hợp mà giữa các tiếng không có quan hệ ngữ âm hay ngữ nghĩa. Thí dụ: cà phê, a xít, a pa tít,…cổ hũ, mè nheo, ba láp, ba hoa, bồ hóng,…

    • Chú ý:

    1. Hiện tượng chuyển di kiểu cẩu tạo từ trong tiếng Việt:

    Không kể từ đơn và từ ngẫu hợp, tiếng Việt có 3 kiểu cấu tạo từ cơ bản cùng với các kiểu nhỏ là:

    – Từ ghép đẳng lập: gộp nghĩa, hợp nghĩa, đơn nghĩa.

    – Từ ghép chính phụ: dị biệt, sắc thái hoá.

    – Từ láy: phỏng thanh, sắc thái hóa, cách điệu.

    Xét các đơn vị trên trục đồng đại hay lịch đại, ở bình diện ngôn ngữ hay lời nói, việc nhận thức về kiểu cấu tạo lớn nhỏ của chúng có thể di chuyển khá phức tạp, làm cho con đường phân giới giữa chúng có thể bị nhòe đi. Trong những trường hợp đó, nếu thiên về mặt này thì từ đang xét được xếp vào kiểu cấu tạo này, nhưng nếu thiên về mặt khác thì nó thuộc kiểu cấu tạo khác.

    Chẳng hạn từ chùa chiền, đất đai, hỏi han, xét về mặt lịch sử chúng là từ ghép đẳng lập, tuy nhiên do sự tác động của phương thức cấu tạo từ và mô hình ngữ nghĩa ( nghĩa khái quát của A+B = A hoặc B) đã làm cho nghĩa của một trong hai yếu tố bị mờ nghĩa. Ngoài ra do sự trùng hợp ngẫu nghiên về mặt ngữ âm đã làm cho người bản ngữ hiện đại nhận diện chúng như là những từ láy. Xuất phát từ đặc điểm vừa nêu, trong tiếng Việt ngày nay tồn tại nhiều từ có thể có hai hướng nhìn nhận như học hành, hình hài, nhăn nheo, chăm chú, đền đài,…Như vậy, để biện luận kiểu cấu tạo của một từ, cần dựa vào một tiêu chí rõ ràng, dứt khoát. Trong khi chờ đợi những phát hiện mới mẻ hơn nữa của ngôn ngữ học lịch sử, ta có thể dựa vào tiêu chí đồng đại để xác định kiểu cấu tạo của từ.

    Việc nhận thức các tiểu loại trong từ ghép đẳng lập cũng không nhất thành bất biến nếu xét từ ở bình diện ngôn ngữ hay lời nói. Trong sử dụng có thể xảy ra hiện tượng chuyển di từ tiểu loại này sang tiểu loại khác đối với những từ cụ thể. Ví dụ:

    – Cửa hàng ăn uống ( gộp nghĩa); ở đây ăn uống khá thật ( rất có thể là đơn nghĩa, chỉ nói về ăn đối với các nhà ăn tập thể).

    – Cơm nước đã sẵn sàng ( gộp nghĩa); cơm nước chán quá ( rất có thể đơn nghĩa).

    – Ăn ở dơ dáy ( gộp nghĩa); ăn ở với nhau được hai mụn con ( chỉ sự chung sống với nhau ), ăn ở chí tình sự ( chỉ sự cư xử với nhau trong xã hội). Hai trường hợp sau này chúng được chuyển nghĩa trên cơ sở nghĩa thứ nhất. Do đó muốn xác định được kiểu cấu tạo của chúng ta phải dựa vào ngữ cảnh cụ thể và biện luận rõ ràng.

    2. Các tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt.

    Như ta đã biết, vốn từ tiếng Việt vô cùng phong phú, mỗi từ đều được cấu tạo theo một phương thức nhất định và mang một ý nghĩa nhất định. Các kiểu cấu tạo từ giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nên nội dung ý nghĩa của từ. Chính vì vậy, trong chương trình Tiếng Việt ở bậc phổ thông cơ sở và trung học, nội dung xác định các kiểu cấu tạo từ rất được những nhà giáo dục quan tâm. Tuy nhiên ở các cấp học này vấn đề tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ không phải đã sáng rõ, đặc biệt là ranh giới giữa từ láy và từ ghép. Ðể có thể xác định các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt một cách nhất quán, cần dựa trên những tiêu chí rõ ràng. Dựa vào những vấn đề có tính chất lí thuyết về các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt đã nêu, ta có thể nêu lên và áp dụng một cách tuần tự các tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt sau dây:

    – Về góc nhìn, trong khi chờ đợi những cứ liệu lịch sử đủ rõ, ta có thể xét từ tiếng Việt dựa trên quan điểm đồng đại, tức dựa vào sự nhận thức chung của người bản ngữ đương đại về nghĩa của các yếu tố cấu tạo từ.

    – Dựa vào số lượng tiếng trong từ. Nếu từ có một tiếng ( dĩ nhiên là tiếng độc lập) thì đó là từ đơn. Nếu từ có hơn một tiếng thì đó là từ phức.

    – ở những từ phức, để xác định cụ thể các kiểu cấu tạo từ, ta lại tiếp tục dựa vào quan hệ giữa các thành tố.

    + Nếu giữa các thành tố trong từ phức có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm, đồng thời trong đó có yếu tố không độc lập và không mang nghĩa thực thì đó là từ láy ( Ví dụ: vắng vẻ, dễ dàng, sạch sẽ,…). Tiêu chí này sẽ loại trừ các trường hợp các từ ghép có quan hệ ngẫu nhiên về mặt ngữ âm ( như hầm hố, máu mủ, tốt tươi,…). ở những từ láy ta lại tiếp tục dựa vào số lượng tiếng, dựa vào các bộ phận giống nhau trong từ để xác định các từ láy đôi, láy ba, các từ láy bộ phận hay hoàn toàn, láy âm hay láy vần.

    + Nếu giữa các thành tố trong từ phức có quan hệ với nhau về mật ngữ nghĩa thì đó là từ ghép. ở từ ghép, ta lại tiếp tục dựa vào các mô hình ngữ nghĩa cụ thể của từng từ để xác định các kiểu cấu tạo cụ thể. Nếu một tổ hợp tiếng gợi lên các sự vật mang ý nghĩa khái quát, tổng loại thì đó là từ ghép đẳng lập. Còn nếu một tổ hợp nêu lên một phạm vi sự vật mang ý nghĩa cụ thể thì đó là từ ghép chính- phụ.

    + Nếu giữa các thành tố không có quan hệ ngữ âm hoặc ngữ nghĩa thì đó là từ ngẫu hợp.

    Nguồn:

    http://cadao.org/index.php?option=com_content&view=article&id=841:cac-kiu-cu-to-t-ting-vit&catid=63:th-ng&Itemid=91

    Bình chọn

    Chia sẻ:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Đèn Huỳnh Quang Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Nó
  • Đèn Huỳnh Quang Là Gì? Cấu Tạo Của Đèn Ống Huỳnh Quang…
  • Cáp Quang Là Gì? Cấu Tạo Và Ứng Dụng Cáp Quang
  • Cáp Quang Là Gì? Cấu Tạo Và Ứng Dụng Của Cáp Quang Như Thế Nào?
  • Tổng Hợp Lý Thuyết Hoá Hữu Cơ Phần Hiđrocacbon Đầy Đủ Nhất
  • Các Kiểu Cấu Tạo Từ Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • 6.2 Kết Cấu Và Thông Số Hình Học Của Dao Phay – Lập Trình Vận Hành Máy Cnc
  • Dao Phay Là Gì? Dao Phay Mặt Đầu
  • Tên Gọi Và Cách Sử Dụng Dao Phay Trong Gia Công Cnc
  • Đá Thạch Anh Là Gì? 10 Tác Dụng Trong Đời Sống & Phong Thủy
  • 3 Công Nghệ Sản Xuất Đá Thạch Anh Nhân Tạo Tốt Nhất Hiện Nay
  • 1. TỪ ĐƠN

     Từ đơn là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập. Thí dụ: Nhà, xe, tập, viết, xanh, đỏ, vàng, tím,…

    – Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời. Một số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga,…

    – Xét về mặt ý nghĩa , từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội , các số đếm,…

    2. TỪ GHÉP

    Từ ghéplà những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa.

    Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể phân từ ghép ra làm 2 loại chính:

    2.1. Từ ghép đẳng lập:

    Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là:

    – Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng.

    – Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy:

    + Hoặc các thành tố đồng nghĩa nhau, trong đó:

    Có thể có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt. Ví dụ: bạn hữu, bụng dạ, máu huyết,…

    Có thể cả hai yếu tố đều là Hán Việt. Ví dụ: tư duy, thổ địa, tiện lợi, cốt nhục,…

    Có thể cả hai yếu tố đều là thuần Việt. Ví dụ: đợi chờ, máu mủ, xinh đẹp,…

    Có thể có một yếu tố toàn dân và một yếu tố vố là từ địa phương. Ví dụ: chân cẳng, bát đọi, chợ búa,…

    + Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau. Thí dụ: thương nhớ, nhà cửa, áo quần, ăn uống, đi đứng,…

    + Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau. Thí dụ: đầu đuôi, sống chết, già trẻ, gần xa, trong ngoài,…

    – Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp (tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát).

    – Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp. Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập.

    – Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ là từ ghép đẳng lập gộp nghĩa, từ ghép đẳng lập đơn nghĩa và từ ghép đẳng lập hợp nghĩa.

    + Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa: bao gồm những từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A+B. Tức là loại mà nghĩa của từng thành tố cùng nhau gộp lại để biểu thị ý nghĩa khái quát chung của cả từ ghép, trong ý nghĩa chung đó có ý nghĩa riêng của từng thành tố. Chẳng hạn, từ quần áo chỉ đồ mặc nói chung, trong đó có cả quần lẫn áo.

    Một số ví dụ về từ ghép gộp nghĩa: điện nước, xăng dầu, tàu xe, xưa nay, chạy nhảy, học tập, nghe nhìn, thu phát, ăn uống, tốt đẹp, may rủi, hèn mọn,thầy trò, vợ con…

    + Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bao gồm từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A hoặc B. Tức là loại mà nghĩa khái quát chung của cả từ ghép tương ứng với ý nghĩa của một thành tố có mặt trong từ. Ví dụ: núi non, binh lính, thay đổi, tìm kiếm,…

    Do nghĩa của cả từ ghép tương đương với nghĩa của một thành tố nên thành tố còn lại có xu hướng bị mờ nghĩa hoặc bị mất nghĩa. Yếu tố này sẽ làm chỗ dựa cho ý nghĩa của cả từ ghép. Có thể nói sự mờ nghĩa của núc (bếp núc), búa (chợ búa), pheo (tre pheo) … chính là kết quả cực đoan của mô hình đơn nghĩa này.

    Một số ví dụ về từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bếp núc, chợ búa, đường sá, áo xống, ăn mặc, ăn nói, viết lách, …

    Chú ý về trật tự các thành tố trong từ ghép đẳng lập.

    Bàn về từ ghép đẳng lập, người ta thường bàn đến khả năng hoán vị giữa các thành tố. Tuy nhiên cần chú ý là khả năng ấy không xảy ra phổ biến đối với toàn bộ lớp từ ghép đẳng lập, và không phải xảy ra vô điều kiện trong mọi trường hợp. Về hiện tượng này có thể nêu mấy nhận xét chung như sau:

    + Có thể hoán vị được đối với một số từ ghép gộp nghĩa trường hợp không có yếu tố Hán – Việt. Thí dụ: quần áo – áo quần, rủi may – may rủi, tươi tốt – tốt tươi,…

    + Khả năng hoán vị ít xảy ra giữa các thành tố trong từ ghép đơn nghĩa, đặc biệt đối với trường hợp từ ghép có yếu tố mờ nghĩa, mất nghĩa.

    + Khả năng hoán vị bị sự khống chế của một số yêu cầu:

    Không được phép làm thay đổi ý nghĩa của từ ghép ban đầu. Ví dụ: đi lại – lại đi ; cơm nước – nước cơm khác nghĩa.

    Không đi ngược lại tập quán cổ truyền của dân tộc. Ví dụ: nam nữ – nữ nam; ông bà – bà ông, anh em – em anh, vua quan – quan vua,… không hoán vị được.

    Không tạo nên những trật tự khó đọc. Chẳng hạn: sửa chữa dễ đọc hơn chữa sửa.

    2.2. Từ ghép chính phụ:

    Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp. Loại này có những đặc điểm sau:

    – Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hướng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể.

    – Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ tường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó.

    – Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép chính phụ thành hai tiểu loại:

    + Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật , hoạt động, đặc trưng, cụ thể. Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện tượng này là tác dụng phân loại. Thí dụ :

    • máy may, máy bay, máy bơm, máy nổ, máy tiện,…

    • làm việc, làm thợ , làm duyên, làm ruộng, làm dâu,…

    • vui tính, vui tai, vui mắt, vui miệng,…

    Chú ý, ở kiểu từ ghép này trật tự của các yếu tố trong từ ghép thuần Việt, hoặc Hán – Việt Việt hoá khác từ ghép Hán – Việt. ở hai trường hợp đầu, yếu tố chính thường đứng trước, ở trường hợp cuối, yếu tố phụ thường đứng trước. Ví dụ:

    • vùng biển, vùng trời, xe lửa, nhà thơ,…

    • hải phận, không phận, hỏa xa, thi sĩ,…

    + Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có tác bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa. Thí dụ , so sánh xanh lè với xanh và xanh biếc, …

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

     

    Trang: 1 2 3

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Kiểu Câu Vị Ngữ Danh Từ Tiếng Việt
  • Trang Chuyên Ngôn Ngữ Học
  • Khái Niệm Về Hình Học Của Dao Tiện Và Dao Phay – Phần Mềm Kỹ Thuật
  • Tìm Hiểu Về Dao Tiện Trong Gia Công Cnc
  • 1.1. Thành Phần Kết Cấu Của Dao Tiện (Dao Cắt Đơn) – Lập Trình Vận Hành Máy Cnc
  • Tiết 3: Từ Và Cấu Tạo Từ Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Ài Giảng Môn Học Ngữ Văn Lớp 7
  • Soạn Bài Từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt Lớp 6
  • Soạn Bài Từ Và Cấu Tạo Từ Của Tiếng Việt
  • Bài 17. Ôn Tập Tiếng Việt
  • Dạy Ôn Văn Hè Lớp 5 Lên Lớp 6
  • Tiết 3:

    Từ và cấu tạo từ Tiếng Việt

    I. Kết quả cần đạt:

    1. Củng cố và nâng cao kiến thức về tiếng và từ đã học ở bậc Tiểu học.

    Cụ thể:

    – Tiếng là đơn vị tạo nên từ.

    – Từ là đơn vị tạo nên câu.

    – Phân biệt được từ và tiếng. Nắm rõ cấu tạo của từ gồm : Từ đơn và từ phức. Từ phức bao gồm : Từ láy và Từ ghép.

    2. Tích hợp với phần Văn ở truyền thuyết: ” Con Rồng cháu Tiên” và ” Bánh chưng, bánh giầy”.

    3. Luyện kĩ năng nhận diện ( xác định) từ và sử dụng từ. Kĩ năng dùng từ để đặt câu và tạo lập văn bản.

    II. Chuẩn bị:

    Giáo viên: SGK, Giáo án, Bảng phụ.

    Học sinh: Sách giáo khoa và vở ghi bài.

    III. Tiến trình dạy học:

    Ổn định trật tự lớp:

    Kiểm tra bài cũ:

    Bài mới:

    Lời dẫn: Ở bậc Tiểu học chúng mình đã được học về từ. Vậy buổi học ngày hôm nay cô sẽ giúp các em củng cố và nâng cao kiến thức không chỉ về khái niệm của từ mà còn về cấu tạo của từ Tiếng Việt. Chúng ta mở sách, ghi bài.

    Hoạt động của giáo viên

    Học sinh

    Nội dung cần đạt

    Hoạt động 1: Từ là gì ?

    – Gọi học sinh đọc ví dụ 1 SGK trang 13.

    – Giáo viên treo bảng phụ:

    (?) Câu trên có bao nhiêu từ và bao nhiêu tiếng ?

    ĐH: Có 9 từ và 12 tiếng.

    (?) Dựa vào đâu mà em biết được điều đó ?

    ĐH’: Dấu gạch ngang.

    (?) Theo em : Tiếng là gì ?

    ĐH: Tiếng là đơn vị cấu tạo nên từ.

    Giáo viên: Một tiếng có nghĩa thì được gọi là từ, từ có thể là một tiếng hoặc cũng có thể do 2 hoặc 3 tiếng tạo thành.

    Ví dụ: Yêu – là một từ có một tiếng

    ” Vất vả”- là một từ có 2 tiếng, không thể tách ra mà có cùng ý nghĩa được.

    Như vậy: Ví dụ trên gồm có 9 từ và 9 từ này đã kết hợp với nhau để tạo nên một đơn vị trong văn bản ” Con Rống , cháu Tiên” . Đơn vị trong văn bản ấy được gọi là gì ?

    ĐH: Đơn vị đó gọi là câu.

    Giáo viên chốt: Như vậy, Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu.

    – Đọc

    – Trả lời

    – Trả lời.

    – Đọc

    I. Từ là gì ?

    1. Xét ví dụ:

    Thần / dạy / dân / cách / trồng trọt / chăn nuôi / và / cách / ăn / cách / ở.

    → Gồm 9 từ và 12 tiếng.

    2.Nhận xét:

    – Tiếng là đơn vị cấu tạo nên từ.

    – Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu.

    3. Ghi nhớ: ( SGK -13)

    Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu các kiểu cấu tạo từ.

    Giáo viên: Từ gồm có 2 loại từ đơn và từ phức. Để hiểu rõ về hai loại từ này ta sang phần II.

    – Gọi học sinh đọc ví dụ 1- ở mục II. ( SGK -13)

    – Giáo viên treo bảng phân loại.

    (?) Các em hãy điền vào bảng phân loại ?

    Từ bảng phân loại hãy cho biết:

    (?) Từ đơn khác từ phức như thế nào ?

    ĐH’: – Từ đơn có một tiếng

    Từ phức gồm 2 hoặn nhiều tiếng.

    (?) Từ láy và từ ghép có điểm gì giống và khác nhau ?

    ĐH:

    – Giống: đều gồm 2 tiếng trở lên.

    – Khác:

    + Từ ghép: Từ phức được tạo bằng cách ghép các tiếng có quan hệ về nghĩa.

    + Từ láy: Từ phức được có quan hệ láy âm giữa các tiếng .

    – Gọi học sinh đọc ghi nhớ.

    II. Từ đơn và từ ghép:

    1.Xét ví dụ :

    Từ/đấy/nước/ta/chăm/nghề/trồngtrọt/chăn nuôi/và/có/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 6
  • Giáo Án Bài Từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt
  • Bản Đồ Tư Duy Dành Cho Văn 6, 7, 8, 9
  • Cụm Từ Cố Định: Phân Loại
  • Cụm Từ Cố Định: Khái Niệm
  • Bài 1. Từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Luyện Từ Và Câu Lớp 4: Từ Đơn Và Từ Phức
  • Từ Phức Là Gì? Phân Biệt Từ Phức Với Từ Ghép Như Thế Nào?
  • Vị Trí Của Danh Từ Trong Câu
  • Một Số Mô Hình Cấu Tạo Từ Ghép Chính Phụ Trong Tiếng Việt
  • Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Nhận Biết Từ Đơn, Từ Ghép, Từ Láy
  • Ngày soạn:15/8/2015

    Ngày dạy: 17/8/2015

    Tiết 1: TỪ VÀ CẤU TẠO CỦA TỪ TIẾNG VIỆT

    I.Mục tiêu cần đạt

    1. Kiến thức

    – Khái niệm về từ, các loại từ TV xét theo cấu tạo ngữ pháp

    2. Kỹ năng

    – Xác định được từ đơn, từ phức

    – Biết sử dụng từ thích hợp

    3. Thái độ

    – Có ý thức sử dụng từ tiếng việt

    II. Chuẩn bị

    – GV: bài giảng, bảng phụ

    – HS: bài soạn

    III. Tiến trình dạy học

    1.Kiểm tra bài cũ: Gv kiềm tra sự chuẩn bị bài của Hs.

    2. Bài mới: Gv giới thiệu bài

    Hoạt động của GV

    Hướng dẫn hs tìm hiểu nội dung bài học

    – Gv gọi hs đọc ví dụ sgk

    – Em hãy cho biết trong câu đó có bao nhiêu từ, bao nhiêu tiếng? ( hs tb, yếu)

    .

    ? Tiếng và từ có gì khác nhau?

    ? Khi nào tiếng đó trở thành từ? (hs khá, giỏi)

    -Từ là gì?( hs tb, yếu)

    – Gv gọi hs đọc mục I phần II, và cho hs điền từ vào bảng kẻ sẵn

    – Em hiểu thế nào là từ đơn, từ phức? ( hs tb , yếu)

    – Từ ghép và từ láy có gì giống và khác nhau? ( hs khá, giỏi)

    Nội dung cần đạt

    I/ Từ là gì?

    1.Ví dụ: sgk

    2. Nhận xét

    -Trong câu có 12 tiếng, 9 từ. Mỗi tiếng được phát ra thành một hơi, khi viết được viết thành một chữ và có một khoảng cách nhất định. Mỗi từ được dùng bằng một dấu chéo.

    – Tiếng là đơn vị ngôn ngữ dùng để tạo nên từ, từ là đơn vị ngôn ngữ dùng để đặt câu.

    – Khi tiếng đó có nghĩa dùng để đặt câu. Từ đó có thể do một hoặc hai tiếng kết hợp nhau tạo thành nghĩa

    3. Kết luận

    – Từ là đơn vị ngôn ngữ có nghĩa dùng để đặt câu.

    * Ghi nhớ : sgk

    II/Từ đơn, từ phức

    1. Ví dụ (sgk)

    2. Nhận xét

    * Điền vào bảng phân loại:

    – Cột từ đơn: từ, đấy, , ta….

    – Cột từ ghép: chăn nuôi

    – Cột từ láy: trồng trọt.

    -Từ đơn:là từ chỉ có một tiếng có nghĩa.

    – Từ phức: là từ có hai hoặc hơn hai tiếng ghép lại tạo nên nghĩa(từ ghép, từ láy)

    * Phân biệt từ láy- từ ghép

    – Giống: Đều là từ phức(có hai hoặc hơn hai tiếng)

    – Khác: +Từ ghép là kiểu ghép hai hoặc hơn hai tiếng tạo thành nghĩa nên từ

    + Từ láy: Các tiếng trong từ được lặp lại một bộ phận của tiếng.

    3. Kết luận

    *Ghi nhớ: sgk/14.

    *. Củng cố: Nội dung bài học.

    3.Dặn dò

    – Nắm vững nội dung bài học

    – Chuẩn bị bài: Từ và cấu tạo của từ tiếng Việt ( phần luyện tập).

    Ngày soạn:16 /8/2015

    Ngày dạy: 14/8/2015

    Tiết 2: TỪ VÀ CẤU TẠO CỦA TỪ TIẾNG VIỆT ( tiếp theo)

    I.Mục tiêu cần đạt

    1. Kiến thức

    – Nắm chắc định nghĩa về từ, cấu tạo của từ.

    – Biết phân biệt các kiểu cấu tạo từ

    2. Kỹ năng

    – Nhận diện, phân biệt được:

    + Từ và tiếng

    + Từ đơn và từ phức

    + Từ ghép và từ láy.

    – Phân tích cấu tạo của từ.

    3. Thái độ

    – Có ý thức sử dụng từ tiếng việt

    II. Chuẩn bị

    – GV: bài giảng, bảng phụ

    – HS: bài soạn

    III. Tiến trình dạy học

    1.Kiểm tra bài cũ: Từ là gì? Thế nào là từ đơn và từ phức ? ( hs tb, yếu)

    2. Bài mới: Gv giới thiệu bài

    Hoạt động của GV và HS

    Thực hiện phần luyện tập

    – Gv cho hs thực hiện bài tập 1

    – Gv cho hs thực hiện bài tập 3

    ? Từ thút thít miêu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bếp Điện Từ Công Nghiệp Công Suất Lớn Cho Nhà Hàng Khách Sạn
  • Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Bếp Từ Công Nghiệp
  • Hé Lộ Lý Do : Vì Sao Giá Bếp Từ Công Nghiệp Lại Cao Như Vậy ?
  • Bếp Từ Công Nghiệp Tiết Kiệm Gần 50% Nhiệt Lượng So Với Dùng Bếp Gas
  • Cấu Tạo Của Bếp Điện Từ Công Nghiệp. Các Loại Bếp Từ Công Nghiệp
  • Soạn Bài: Từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Của Bếp Điện Từ Công Nghiệp. Các Loại Bếp Từ Công Nghiệp
  • Bếp Từ Công Nghiệp Tiết Kiệm Gần 50% Nhiệt Lượng So Với Dùng Bếp Gas
  • Hé Lộ Lý Do : Vì Sao Giá Bếp Từ Công Nghiệp Lại Cao Như Vậy ?
  • Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Bếp Từ Công Nghiệp
  • Bếp Điện Từ Công Nghiệp Công Suất Lớn Cho Nhà Hàng Khách Sạn
  • 1- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

    1. Thế nào là từ?

    Từ là một yếu tố của ngôn ngữ (tiếng Việt) có hai đặc điểm rất cơ bản, đó là:

    b) Được dùng độc lập để tạo câu

    Ví dụ, các từ trên có thể được dùng riêng biệt để tạo những câu như sau:

    Nàng sinh ra một cái bọc trăm trứng.

    – Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mủi khôi ngô, khỏe mạnh như thần. c) Từ một tiếng và từ nhiều tíếng

    – Trăm trứng nở ra một trăm người con hồng hào, đẹp đẽ lạ thường.

    Trong số các từ trên, có từ chỉ là một tiếng. Ví dụ: nàng; sinh, nở; bọc, trứng; trăm, nghìn. Nhưng cũng có từ gồm hai tiếng. Ví dụ: hồng hào, đẹp đẽ; bú mớm, kho ẻ mạnh,…

    2. Đặc điểm cấu tạo từ tiếng Việt

    Đơn vị cấu tạo nên từ trong tiếng Việt là tiếng.

    – Từ phức (dựa vào mối quan hệ giữa các tiếng: có láy âm hay không láy âm) lại có thể chia nhỏ ra thành:

    + Từ ghép là những từ giữa các tiếng không có quan hệ láy âm. Ví dụ : khỏe mạnh, yêu mến, lạ thường, dòng họ,…

    Các em có thể hình dung các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt qua sơ đồ sau:

    II – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

    1. a) Để tìm được kiểu cấu tạo từ của một từ nào đó, các em có thể lần lượt tiến hành theo trật tự sau:

    – Xem xét số lượng tiếng có trong các từ. Nếu từ một tiếng thì đó là từ đơn, còn nhiều tiếng thì đó là từ phức.

    – Nếu là từ phức, các em cần tiếp tục tìm hiểu sâu hơn để biết từ đó được cấu tạo theo kiểu ghép hay kiểu láy:

    + Sẽ là từ láy nếu các tiếng có quan hệ láy âm.

    + Sẽ là từ ghép nếu các tiếng không có quan hệ láy âm mà có quan hệ về nghĩa.

    b) Từ đổng nghĩa với một từ nào đấy là những từ có nghĩa giống hoặc gần giống với từ đó.

    Để tìm những từ đồng nghĩa với từ nguồn gốc trong câu trên, các em có thể:

    – Dựa vào cách hiểu của mình về nghĩa của từ.

    – Tra từ điển đồng nghĩa.

    Dựa vào nghĩa này, các em có thể tìm thấy các từ đồng nghĩa với từ nguồn gốc là : ngọn nguồn, cội nguồn.

    c) Để tìm được các từ ghép như mẫu con cháu, anh chị, ông bà, các em có thể dùng các từ đơn chỉ quan hệ thân thuộc như cha, chú, cô, bác, cậu, mợ, dì, anh, chị, em… rồi ghép theo những mối quan hệ nghĩa kiểu như :

    Theo thứ bậc trên, dưới: cha chú, anh chị, con cháu, cháu chắt,…

    – Theo giới tính : ông bà, bố mẹ, chú dì, chú thím, cậu mợ,…

    2. Các từ ghép chỉ quan hệ họ hàng thân thuộc trong gia đình người Việt Nam có một số cách ghép chính như sau :

    – Theo quan hệ giới tính (trai gái, gái trai)

    Ví dụ : ông bà, bố mẹ, anh chị; cô chủ, cô cậu,…

    – Theo quan hệ thứ bậc trên dưới

    Ví dụ : cha con, con cháu, cháu chắt,…

    – Theo quan hệ nội ngoại

    3. Để thực hiện được yêu cầu của bài tập này, các em cần lấy một từ đơn chỉ cách chế biến, chỉ chất liệu, chỉ tính chất hoặc chỉ hình dáng của bánh và ghép vào sau yếu tố bánh, các em sẽ được những từ ghép cần tìm. Theo công thức bánh + X, các em sẽ tạo được những từ ghép có nghĩa cụ thể hơn (chỉ một loại bánh) so với nghĩa của từ đơn bánh (chỉ chung các loại bánh).

    Ví dụ :

    – Nêu cách chế biến của bánh : bánh rán, bánh nướng, bánh hấp, bánh nhúng, bánh tráng,…

    – Nêu tên chất liêu của bánh : bánh nếp, bánh tôm, bánh tẻ, bánh khoai, bánh ngô, bánh bột lọc, bánh đậu xanh,…

    – Nêu tính chất của bánh : bánh dẻo, bánh xốp, bánh phồng,…

    – Nêu hình dáng của bánh : bánh gối, bánh tai voi, bánh quấn thừng,…

    4. Thút thít là từ láy tượng thanh. Đây là từ dùng để tả tiếng khóc nhỏ, không liên tục, xen với tiếng xịt mũi.

    Những từ láy khác có cùng tác dụng ấy : sụt sùi, sụt sịt, tấm tức, rưng rức,..

    5. Các từ láy tả tiếng cười : khúc khích, tủm tỉm, khanh khách, sằng sặc, sặc sụa, hô hố, hềnh hệch, ha hả, rinh rích, toe toét,…

    – tả dáng điệu : mềm mại, lả lướt, thướt tha, lừ đừ, ngột ngưỡng, nghênh ngang, lóng ngóng, loay hoay, hí hoáy, lù đù, co ro, xiêu xiêu,:..

    III – THAM KHẢO

    1. Từ ghép có yếu tố “mạnh”: mạnh khỏe, mạnh giỏi, mạnh bạo, mạnh miệng, mạnh mồm, mạnh tay, mạnh dạn,…

    2. Từ ghép có yếu tố “học”: /học sinh, học tập, học bạ, học kì, học cụ, học dường, học bổng, học vấn, học trò, học hỏi, học lực, học phí,…

    3. Một số từ láy tượng hình: khúc khuỷu, khúm núm, lệt bệt, lững lờ, lả lả, xiêu xiêu, lùng bùng, nhoè nhoẹt, thoăn thoắt, nghênh nghênh, thoi thóp,…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Hệ Tuần Hoàn Của Gia Súc
  • Cấu Tạo Của Hệ Tim Mạch Và Vai Trò Quan Trọng Của Chúng
  • Công Tắc Hẹn Giờ (Timer) 24H Tb 35
  • Cấu Tạo,tính Năng Của Sò Lạnh Và Timer Xả Đá Trong Tủ Lạnh
  • Đồng Hồ Thời Gian Tủ Lạnh , Cách Sửa ,cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Timer Tủ Lạnh .
  • Tiết 3: Từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt Dành Cho Học Sinh Lớp 6
  • Soạn Bài Từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt Sbt Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Các Dạng Bài Tập Về Danh Từ Lớp 4
  • Soạn Bài Luyện Tập Về Cấu Tạo Của Tiếng Trang 12
  • Cách Nhận Biết Từ Đơn
  • Ngày 5/9/2007 Tiết 3: Từ và cấu tạo của từ Tiếng Việt A. Mục tiêu: Giúp học sinh được từ và đặc điểm cấu tạo của từ Tiếng Việt: Kiến thức: – Khái niệm từ – Đơn vị cấu tạo từ, tiếng – Các kiểu cấu tạo từ (từ đơn, từ phức, từ ghép, từ láy). Kỹ năng: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng nhận biết về từ : từ đơn, từ phức… Sử dụng từ một cách chính xác Giáo dục: có ý thức sử dụng từ Tiếng Việt một cách có hiệu quả B. Chuẩn bị các phương tiện dạy học – Bảng phụ, máy chiếu, phiếu học tập C. Tổ chức các hoạt động dạy -học: ổn định tổ chức: Bài cũ: + Hãy kể lại truyện BCBG + Nêu cảm nghĩ của em về nhân vật Lang Liêu + Nhân dan ta sáng tác truyền thuyết BCBG nhằm mục đích gì? + Kiểm tra vở soạn bài: 2 em Giới thiệu bài: Tiến trình tổ chức các hoạt động: Hoạt động của thầy- Trò Yêu cầu đạt GV cho học sinh làm bài tập 1: Lập danh sách các từ và tiếng trong câu ? Các đơn vị vừa là từ, vừa là tiếng có gì khác nhau? ?Từ là gì? ? Hãy điền các từ trong câu ở bài tập 1 vào bảng phân loại? (SGK) VD 1: 6 từ đơn,3 từ phức ? Bài học gồm mấy phần chính? Hs đọc ghi nhớ và học thuộc Hs đọc bài tập 1 ? Từ: nguồn gốc, con cháu thuộc kiểu cấu tạo từ nào? ? Tìm từ đồng nghĩa với từ nguồn gốc ở câu trên? ? Tìm các từ ghép chỉ quan hệ thân thuộc theo kiểu: anh chị, ông bà? Hs đọc bài tập 2 và sắp xếp Hs đọc bài tập 3 GV hỏi: Từ láy in đậm trong bài tập 4 miêu tả cái gì? GV hỏi: Từ láy khác có tác dụng ấy? Từ là gì? – Tiếng:12; từ: 9 Có một số đơn vị vừa là từ, vừa là tiếng – Tiếng: Dùng để tạo từ – Từ: Dùng để tạo câu + Khi một tiếng dùng để tạo câu thì tiếng ấy trở thành từ * Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu Phân loại các từ: Từ đơn và từ phức: Bài tập: Từ đơn Từ láy Từ ghép – từ, đấy, nước, ta, chăm, nghề, và, có, tục, ngày, tết, làm, – Trồng trọt Chăn nuôi, bánh chưng, bánh giầy Phân tích đặc điểm cấu tạo của từ và xác định đơn vị cấu tạo từ Từ đơn Từ phức Từ láy Từ ghép Là từ gồm 1 tiếng Gồm hai hoặc nhiều tiếng Các tiếng có quan hệ láy âm Các tiếng có quan hệ về nghĩa ghép lại với nhau Hệ thống hoá kiến thức Ghi nhớ: SGK Luyện tập: Bài 1 a. nguồn gốc, con cháu: thuộc kiểu từ ghép b. Từ đồng nghĩa với nguồn gốc: cội nguồn, gốc gác. c. Từ ghép chỉ quan hệ thân thuộc: cậu mợ, cô gì, chú bác. Bài 2: – Theo giới tính… – Theo bậc (trên dưới) Bài 3: – Cách chế biến: bánh rán, bánh nướng, bánh hấp.. – Chất liệu: bánh nếp, bánh tẻ, bánh gai… – Tính chất: Bánh dẻo, bánh phồng – Hình dáng: bánh gối, bánh quấn từng, bánh tai voi… 4. Bài tập 4: – ” Thút thít” là từ tượng thanh, đây là từ dùng để tả tiếng khóc nhỏ không liên tục, xen với tiếng xịt mũi. – Ví dụ: sụt sùi, sụt sịt, tấm tức, rưng rức. 5. Bài 5: a. Tiếng cười: khúc khích. tủm tỉm. sằng sặc , ha hả, hô hố. b. Lí nhí, khe khẽ, sẽ sàng, thủ thỉ, ỏn ẻn (tiếng nói) c. Dáng điệu : mềm mại, thươt tha, ngật ngưỡng, co ro, lù đù. Hướng dẫn học bài: Bài tập bổ trợ : cho nhóm từ : ruộng nương, ruộng rẫy, ruộng vườn, vườn tược, nương náu, đền đài, lăng tẩm, lăng kính, lăng loàn, lăng nhăng, ngang ngược, ngang tàng . Tìm các từ láy, từ ghép trong nhóm nói trên? – HS làm các bài tập ở sách bài tập ngữ văn. – Nắm được khái niệm từ và cấu tạo từ. – Viết đoạn văn có từ láy, sử dụng để miêu tả âm thanh. – Chuẩn bị bài: giao tiếp, văn bản và phương thức biểu đạt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Bài Từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt
  • Luyện Tập Bài Từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt Trang 14 Sgk Văn 6
  • Tieng Viet 2 Tu Tieng Viet Tiep Doc
  • Giáo Trình Từ Vựng Tiếng Việt
  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt Đúng, Hay Và Đầy Đủ Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100