Top 21 # Xem Nhiều Nhất Màng Sinh Chất Và Cấu Trúc Bên Ngoài Màng Sinh Chất / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Màng Sinh Chất (Màng Tế Bào) / 2023

Năm 1972,Singơ(Singer) và Nicolson (Nicolson) đã đưa ra mô hình cấu tạo màng sinh chất được gọi là mô hình khảm động. Theo mô hình này, màng sinh chất có cấu tạo gồm 2 thành phần chính là phôtpholipit và prôtêin. Ngoài ra, ở các tế bào động vật và người, màng sinh chất còn có nhiều phân tử colestêron làm tăng độ ổn định của màng sinh chất. Các prôtêin của màng tế bào có tác dụng như những kênh vận chuyển các chất ra vào tế bào cũng như các thụ thể tiếp nhận các thông tin từ bên ngoài. Có thể nói, màng sinh chất như bộ mặt của tế bào và các thành phần của màng sinh chất như prôtêin, glicôlipit và glicôprôtêin làm nhiệm vụ như các giác quan (thụ thể), cửa ngõ (kênh) và những dấu chuẩn nhận biết đặc trưng cho từng loại tế bào (hình 10.2). 

Hình 10.2. Cấu trúc màng sinh chất theo mô hình khảm động

b) Chức năng của màng sinh chất

Với thành phần cấu tạo chủ yếu là phôtpholipit và prôtêin nên màng sinh chất có các chức năng chính sau đây :

– Trao đổi chất với môi trường một cách có chọn lọc : Lớp phôtpholipit chỉ cho những phân tử nhỏ tan trong dầu mỡ (không phân cực) đi qua. Các chất phân cực và tích điện đều phải đi qua những kênh prôtêin thích hợp mới ra vào được tế bào. Với đặc tính chi cho một số chất nhất định ra vào tế bào nên người ta thường nói càng sinh chất có tính bán thấm.– Màng sinh chất còn có các prôtêin thụ thể thu nhận thông tin cho tế bào. Tế bào là một hệ mở luôn thu nhận các thông tin lí hoá học từ bên ngoài và đưa ra vững đáp ứng thích hợp trước sự thay đổi của điều kiện ngoại cảnh. Ví dụ, màng sinh chất của tế bào thần kinh ở người có các thụ thể nhận tín hiệu là các chất dẫn truyền xung thần kinh từ tế bào phía trước giải phóng ra, nhờ vậy xung thần kinh được truyền từ tế bào thần kinh này sang tế bào thần kinh khác.

– Màng sinh chất có các “dấu chuẩn” là glicôprôtêin đặc trưng cho từng loại tế bào. Nhờ vậy, các tế bào của cùng một cơ thể có thể nhận biết nhau và nhận biết các tế bào “lạ” (tế bào của cơ thể khác). 

Protein Màng Cấu Trúc – Chức Năng / 2023

 KHÁI NIỆM

 Protein trong màng sinh chất chiếm 25 – 75%. Tùy dạng tế bào mà hàm lượng và bản chất protein có thể khác nhau và thực hiện các chức năng rất đa dạng, phong phú: hoạt tính enzyme, vận chuyển các chất qua màng…

Tùy theo cách sắp xếp của protein trong màng mà chia làm 2 loại protein:

+ Protein xuyên màng

+ Protein rìa màng (bám ở phía ngoài của màng hoặc phía trong màng).

Protein xuyên màng:

– Các protein xuyên màng thường liên kết với hydratcacbon tạo nên các glicoproteit nằm ở phía ngoài màng.

– Những protein này nằm xuyên qua chiều dày của màng và liên kết rất chặt chẽ với lớp kép lipit qua chuỗi axit béo.

– Phần nằm trong màng là kỵ nước và liên kết với đuôi kỵ nước của lớp kép lipit.

– Các đầu của phân tử protein thò ra phía rìa ngoài và rìa trong là ưa nước và có thể là tận cùng nhóm amine hoặc carboxyl.

– Có loại protein xuyên màng 1 lần hoặc nhiều lần

PROTEIN RÌA MÀNG:

– Thường liên kết với lớp lipit kép bằng liên kết hóa trị với 1 phân tử photpholipit

– xếp ở rìa ngoài (rìa tiếp xúc với môi trường ngoại bào), hoặc rìa trong của màng (rìa tiếp xúc với tế bào chất).

– Các protein rìa ngoài thường liên kết với gluxit tạo nên các glycoproteit.

– Protein rìa trong thường liên kết với các protein tế bào chất như ankyrin và qua ankyrin liên hệ với bộ xương tế bào tạo nên hệ thống neo màng và điều chỉnh hình dạng tế bào.

    CHỨC NĂNG CỦA PROTEIN MÀNG

    2.1. Chức năng vận chuyển

    2.1.1 Khuếch tán và thẩm thấu

    2.1.2. Vận chuyển nhờ protein chuyên chở

    Hình : Các sơ đồ mô tả hoạt động của các protein vận chuyển màng

    PROTEIN CHUYÊN CHỞ

    – Bơm protein (pumps):

    Các máy bơm ATP (hay đơn giản là bơm ) là các ATPase sử dụng năng lượng của quá trình thủy phân ATP để di chuyển các ion hoặc các phân tử nhỏ qua một màng chống lại gradient nồng độ hóa học hoặc điện thế gọi là vận chuyển tích cực

    Các máy bơm này duy trì nồng độ ion Ca2+và Na+ ở hầu như tất cả các tế bào động vật so với môi trường, và tạo ra độ pHthấp bên trong các tế bào động vật lysosomes, các tế bào thực vật và lumen của dạ dày.hành năng lượng.

    – Kênh protein (channels):

    Các protein kênh vận chuyển nước hoặc các loại ion cụ thể giảm nồng độ hoặc gradient điện tiềm năng, một phản ứng thuận lợi hăng hái

    Chúng tạo thành một đường dẫn protein dẫn qua màng nhờ đó nhiều phân tử nước hoặc ion di chuyển cùng một lúc, với tốc độ rất nhanh – lên đến 10 8/giây.

    – Protein mang (carriers)

    2.1.2 Cơ chế hoạt động của protein mang

    – Vận chuyển qua các protein mang không có tính chất Enzyme

    Hình thức vận chuyển: thụ động theo lối khuếch tán.

    Chất được vận chuyển: chất hữu cơ có kích thước lớn như glucose, acid amin.

    Cơ chế: chất được vận chuyển gắn vào protein mang làm cho proten mang thay đổi cấu hình và mở ra ở phía bên kia màng. Do lực liên kết giữa các chất được vận chuyển và protein mang yếu nên chuyển động nhiệt của chất được vận chuyển sẽ tách nó ra khỏi protein màng và giải phóng vào phía đối diện.

    VẬN CHUYỂN QUA  CÁC PROTEIN CÓ TÍNH CHẤT ENZYME

    Hình thức vận chuyển: chủ động theo lối sơ cấp

    Chất được vận chuyển: Na+, K+, Ca2+, H+, Cl-

    Cơ chế: protein mang vừa đóng vai trò là chất chuyên chở để chất được vận chuyển gắn vào vừa đóng vai trò là 1 Enzyme thủy phân ATP để lấy năng lượng. Năng lượng đó sẽ làm thay đổi cấu hình của protein mang giúp chúng bơm các chất được vận chuyển qua màng.

    Tốc độ vận chuyển: Khi nồng độ chất được vận chuyển thấp, tốc độ vận chuyển tỉ lệ thuận với nồng độ chất được vận chuyển qua màng. Ở nồng độ cao, sự vận chuyển đạt mức tối đa (Vmax) (bão hòa).

    PHỐI HỢP QUA CÁC PROTEIN CÓ VÀ KHÔNG CÓ TÍNH CHẤT ENZYME

    Hình thức: vận chuyển chủ động theo lối sơ cấp.

    Chất được vận chuyển: glucose, acid amin, và các ion.

    Vận tốc vận chuyển: tương tự vận chuyển chủ động sơ cấp.

    Cơ chế: protein mang thứ nhất có tính chất Enzyme hoạt động theo cơ chế vận chuyển chủ động sơ cấp tạo ra bậc thang của nồng độ ion. Năng lượng dược giải phóng từ bậc thang cho phép protein thứ 2 không có tính chất vận chuyển ion theo bậc thang nồng độ và các chất cùng vận chuyển khác ngược bậc thang nồng độ.

    2.2 Chức năng trao đổi thông tin

     2.2.1 Tiếp nhận thông tin qua màng

    – Trên màng tế bào có protein thụ quan tiếp nhận thông tin → điều chỉnh hoạt động sống

    -Thông tin dưới dạng những tín hiệu hóa học (nội tiết-hormone; cận tiết – tế bào phát thông tin và tế bào nhận thông tin cạnh nhau; tự tiết)

    -Thụ quan là những pro xuyên màng, có đầu ngoài khớp với các phân tử tín hiệu, đầu trong hướng vào môi trường nội bào

    -Cơ chế: phântử tín hiệu + đầu ngoài thụ quan, dẫn đến biến đổi đầu trong làm hoạt động của tế bào thay đổi

    -Ý nghĩa: Thực vật tạo ra tính hướng. Động vật tiếp nhận tín hiệu điều khiển, điều hòa của thần kinh, hormone, nhận biết được chất lạ để sản sinh ra kháng thể đặc hiệu… Các tế bào đứng gần nhau có thể trao đổi thông tin, nhận ra nhau trên cơ sở đó tạo thành mô và cơ quan

    2.2.2 Các chất hòa tan trong nước

    Chất gắn (VD hormone adrenarin) liên kết với thụ quan màng đặc trưng.

    Thông tin được truyền qua chất trung gian là protein G khu trú trong màng kèm với thụ quan (có tên gọi là G bởi vì protein này được hoạt hóa bởi GTP – guanozintriphotphat).

    Hoạt động thu nhận thông tin và truyền thông tin nhờ các thụ quan màng được tế bào điều chỉnh để thích nghi với trạng thái của tế bào cũng như với thay đổi của môi trường.

    2.2.3 Các chất hòa tan trong lipid

    Các chất mang thông tin là các chất hòa tan trong lipid (hormone steroid, vitamin D, retinoid…) sẽ được vận chuyển qua màng vào tế bào chất. Ở đây chúng sẽ liên kết với các thụ quan nội bào tạo thành phức hệ hormone – thụ quan nội bào.

    Phức hệ này sẽ đi vào nhân tế bào và có tác động hoạt hóa các gen.

    Share this:

    Twitter

    Facebook

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

Phình Động Màng Phổi Và Rối Loạn Của Khoang Màng Phổi / 2023

Sự tích tụ chất lỏng hoặc không khí trong không gian màng phổi làm suy yếu nghiêm trọng việc thở

Một tràn dịch màng phổi là sự tích tụ chất lỏng dư thừa trong khoang màng phổi, không gian chứa đầy dịch xung quanh phổi. Đây là một trong một số rối loạn ảnh hưởng đến khoang màng phổi và một trong những tác nhân có thể trực tiếp can thiệp vào sự giãn nở của phổi và khả năng thở của một người.

Cấu tạo của khoang màng phổi

Hốc màng phổi là khoảng trống nằm giữa màng phổi , hai màng mỏng nằm dọc và bao quanh phổi. Hốc màng phổi chứa một lượng nhỏ chất lỏng được gọi là dịch màng phổi , cung cấp dầu bôi trơn khi phổi mở rộng và co lại trong quá trình hô hấp.

Hốc màng phổi bao gồm màng phổi đỉnh gắn vào thành ngực và màng phổi nội tạng gắn vào phổi. Trong không gian màng phổi là giữa 15 và 20 ccs chất lỏng (khoảng 3-4 muỗng canh) tiết ra bởi màng phổi. (Ngược lại, với tràn dịch màng phổi, không gian này có thể mở rộng để chứa vài lít chất lỏng, chất lỏng mà sau đó có thể hoạt động để nén phổi bên dưới.)

Vai trò của khoang màng phổi là để đệm mở rộng và co lại của phổi trong khi đảm bảo nó làm rất trơn tru với sự trợ giúp của chất lỏng bôi trơn. Nó cũng hoạt động như một chân không, với sự khác biệt về áp lực giữa phổi và khoang màng phổi tạo ra lực đẩy và kéo cần thiết để hít vào và trục xuất không khí.

Sự hiện diện của chất lỏng dư thừa, không khí, hoặc khí trong khoang màng phổi có thể ảnh hưởng đến khả năng thở của chúng ta. Trong số các điều kiện ảnh hưởng xấu đến khoang màng phổi:

Suy tim sung huyết (CHF) có thể gây tràn dịch màng phổi do tăng áp lực mao mạch trong phổi.

Gan hydrothorax được sử dụng để mô tả truyền dịch màng phổi gây ra bởi xơ gan . Nó là kết quả của sự chuyển động của dịch cổ trướng thừa từ khoang bụng đến khoang màng phổi.

Sự tràn dịch màng phổi ác tính là một biến chứng xảy ra trong khoảng 30% người bị ung thư phổi. Sự truyền dịch ác tính cũng có thể xảy ra với ung thư vú di căn, bệnh bạch cầu, u lympho và hội chứng myelodysplastic (một căn bệnh của tế bào tủy xương).

Nhiễm trùng như viêm phổi và lao (TB) cũng có thể gây tích tụ dịch trong khoang màng phổi. Mặc dù ít phổ biến hơn ở Mỹ và thế giới phát triển, lao được coi là nguyên nhân chính gây ra tràn dịch màng phổi ở các nước đang phát triển.

Pneumothorax (một phổi bị sụp đổ) đề cập đến sự tích tụ không khí trong không gian màng phổi có thể nén phổi và, trong những trường hợp nghiêm trọng, cản trở khả năng mở rộng của phổi. Nếu xảy ra tràn khí màng phổi, nó có thể là một quá trình dần dần hoặc, thay vào đó, một quá trình nhanh chóng nén phổi bên dưới lớp lót (một tràn khí màng phổi căng thẳng.)

Hemothorax là sự tích tụ máu trong không gian màng phổi, thường là do chấn thương ngực hoặc do phẫu thuật ngực.

Chẩn đoán và điều trị các cuộc tấn công màng phổi

Một tràn dịch màng phổi thường được chẩn đoán bằng một thủ thuật gọi là chọc ngực, trong đó một kim tiêm và ống tiêm được sử dụng để loại bỏ dịch từ khoang màng phổi. Dịch màng phổi sau đó được phân tích dưới kính hiển vi để xác định nguyên nhân.

Nếu chất lỏng hoặc không khí vẫn còn trong không gian màng phổi, tương ứng với một ống ngực hoặc kim ngực , có thể được sử dụng giải nén phổi.

Nếu các triệu chứng vẫn tồn tại, các bác sĩ phẫu thuật có thể xem xét loại bỏ màng phổi và không gian màng phổi hoàn toàn trong một thủ thuật được gọi là cắt màng phổi.

Related Content

Fresh articles

Intresting articles

Cấu Trúc Vốn Là Gì? Các Yếu Tố Bên Trong Và Bên Ngoài Nào Ảnh Hưởng Đến Cấu Trúc Vốn? / 2023

Cấu trúc vốn được cấu thành từ hai từ, “Cấu trúc” và “Vốn”. Từ “Vốn” dùng để chỉ sự đầu tư của các quỹ vào kinh doanh trong khi “Cấu trúc” có nghĩa là sắp xếp các thành phần khác nhau theo tỷ lệ thích hợp. Cấu trúc vốn có nghĩa là “hỗn hợp tài chính”. Nó đề cập đến tỷ lệ giữa các chứng khoán khác nhau được huy động bởi một công ty cho tài chính dài hạn.

Các yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cấu trúc vốn được chia thành hai loại: Yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài.

i. Quy mô và bản chất của kinh doanh:

Quy mô kinh doanh có tác động lớn đến cấu trúc vốn của nó. Những mối quan tâm giao dịch gia tăng vốn bằng cách phát hành vốn cổ phần cũng như cổ phiếu ưu đãi vì chúng đòi hỏi nhiều vốn lưu động hơn. Các công ty nhỏ bị hạn chế khả năng để huy động vốn từ các nguồn bên ngoài. Các công ty lớn sở hữu các khoản đầu tư lớn; do đó họ có thể phát hành các khoản nợ bằng cách phát hành trái khoán của các tài sản cố định như đất đai, nhà cửa, máy móc, v.v.

Các công ty đó thích huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu vốn chủ sở hữu cùng với các trái khoán.

ii. Tỷ trọng vốn vay:

Tỷ lệ giữa vốn nợ (lãi cố định) và vốn chủ sở hữu (cổ tức thay đổi) được gọi là tỷ trọng vốn vay. Tỷ trọng sẽ cao khi tỷ lệ vốn nợ cao hơn vốn cổ phần, còn tỷ trọng sẽ thấp khi tỷ lệ vốn nợ thấp so với vốn cổ phần. Để bảo vệ lợi ích của các cổ đông vốn, công ty thường kết hợp một cách hợp lý các loại chứng khoán khác nhau trong cấu trúc vốn của mình.

iii. Yêu cầu về vốn:

iv. Thu nhập phù hợp và tình hình tiền mặt:

Các công ty đã phát triển với thu nhập ổn định (dòng tiền ổn định) sử dụng lượng lớn vốn nợ trong cơ cấu vốn của họ vì họ có khả năng trả lãi suất cố định được.

Các công ty có thu nhập không ổn định (dòng tiền không dự đoán được) không nên lựa chọn vốn nợ trong cơ cấu vốn của họ vì họ có thể gặp khó khăn trong việc trả số tiền lãi cố định.

vi. Thời kỳ tài chính:

vii. Giao dịch trên vốn chủ sở hữu:

Nếu lãi suất của khoản nợ thấp hơn mức thu nhập của công ty, các cổ đông vốn chủ sở hữu được chia cổ tức bổ sung. Điều này làm tăng uy tín tín dụng của công ty và công ty có thể tăng thêm khoản vay với lãi suất thấp hơn.

Mặt khác, nếu thu nhập của công ty không đủ, nó có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính vì khoản tiền lãi từ nợ phải trả ngay cả khi thua lỗ. Toàn bộ thu nhập có thể trở nên cạn kiệt bởi việc thanh toán lãi. Trong trường hợp này, không có cổ tức nào được công ty tuyên bố. Nếu không có cổ tức được trả cho cổ phiếu vốn, nó sẽ ảnh hưởng xấu đến uy tín tín dụng của công ty.

Do đó, giao dịch trên vốn chủ sở hữu là con dao hai lưỡi. Nó có thể làm tăng thu nhập của cổ đông nếu mọi thứ đi theo một hướng thích hợp. Mặt khác, nó cũng làm tăng nguy cơ mất mát trong điều kiện không thuận lợi.

viii. Thái độ của bộ máy quản lý:

Cơ cấu vốn bị ảnh hưởng bởi thái độ của những người thuộc bộ máy quản lý. Nếu bộ máy quản lý muốn có quyền kiểm soát độc quyền, họ sẽ huy động vốn thông qua cổ phiếu ưu đãi và vốn nợ. Vì người nắm giữ cổ phiếu đó không được hưởng bất kỳ quyền biểu quyết nào, họ không thể can thiệp vào việc quản lý công ty.

ix Tăng trưởng của công ty kinh doanh:

Yêu cầu về vốn của một công ty phụ thuộc vào giai đoạn phát triển. Ở giai đoạn đầu, nguồn tài chính chủ yếu là cổ phiếu vốn và các khoản vay ngắn hạn. Khi giai đoạn tiến triển, yêu cầu tăng lên và tiền được mua bằng cách phát hành các khoản nợ và cổ phiếu ưu đãi.

B. Yếu tố bên ngoài:

Các phương pháp tài chính khác nhau nên được xem xét tùy thuộc vào các điều kiện thị trường hiện hành. Nếu thị trường cổ phiếu đang trong tình trạng suy giảm, công ty nên huy động vốn bằng cách phát hành các khoản nợ.

Mặt khác, ở giai đoạn tăng trưởng trong thị trường cổ phiếu, công ty nên huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu vốn chủ sở hữu.

ii. Thái độ của các nhà đầu tư:

Thái độ của các nhà đầu tư cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định cấu trúc vốn. Nếu các nhà đầu tư thích mạo hiểm và mong đợi thu được lợi nhuận cao hơn, họ sẽ đầu tư vào cổ phiếu vốn chủ sở hữu. Nếu các nhà đầu tư muốn kiếm thu nhập an toàn, đảm bảo và không sẵn sàng chấp nhận rủi ro, họ sẽ đầu tư vào cổ phiếu ưu đãi và/hoặc ghi nợ.

iii. Các quy tắc và quy định của chính phủ:

Theo SEBI, tỷ lệ vốn chủ sở hữu nợ thông thường là 2:1. Tuy nhiên, trong trường hợp các dự án thâm dụng vốn lớn, tỷ lệ cho phép là 3:1. Chính phủ cung cấp viện trợ và nhượng bộ cho các dự án công nghiệp nhỏ để tăng thêm vốn nợ.

iv. Tỷ lệ lãi suất:

v. Cạnh tranh:

Công ty phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt nên huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu vốn chủ sở hữu vì thu nhập của họ không nhất định và đầy đủ.

Tuy nhiên, công ty có vị thế độc quyền trên thị trường có thể phát hành vốn nợ vì sự chắc chắn của thu nhập.

vi. Chi phí vốn:

Chi phí vốn là lợi nhuận tối thiểu dự kiến ​​của nhà cung cấp/nhà đầu tư. Lợi nhuận kỳ vọng thu được phụ thuộc vào mức độ rủi ro. Trong trường hợp của chủ nợ, lãi suất được cố định và khoản vay được hoàn trả trong khoảng thời gian quy định. Một mức độ rủi ro cao được giả định bởi các cổ đông vốn chủ sở hữu thay vì bởi các chủ nợ. Trong trường hợp của các cổ đông, tỷ lệ cổ tức không cố định và vốn của họ chỉ được hoàn trả khi công ty bị thanh lý. Vì vậy, nợ là một nguồn vốn rẻ hơn vốn chủ sở hữu. Vốn cổ phần ưu đãi cũng rẻ hơn nhưng không rẻ bằng nợ.

Tuy nhiên, công ty không thể giảm thiểu chi phí vốn bằng cách chỉ sử dụng nợ. Lý do là vì nợ trở nên đắt đỏ hơn một mức nhất định do rủi ro nợ quá mức gia tăng.

vii. Thái độ của các tổ chức tài chính:

Thái độ của các tổ chức tài chính sẽ được xem xét trong khi xác định cấu trúc vốn. Nếu các tổ chức tài chính quy định các điều khoản cho vay cao, thì công ty nên chuyển sang nguồn tài chính khác.

Tuy nhiên, nếu các tổ chức tài chính quy định các điều khoản cho vay một cách dễ dàng, công ty nên lấy tiền từ các tổ chức đó.

viii. Thuế:

Tiền lãi trả cho nợ là khoản chi miễn thuế trong khi cổ tức thì không được coi là khoản chi miễn thuế cho công ty.

Do đó, việc phát hành vốn nợ được ưu tiên hơn việc phát hành vốn cổ phần. Các công ty có thuế cao hơn sử dụng vốn nợ vì đây là một khoản chi phí miễn thuế.