Thương Mại Quốc Tế Và Lợi Ích Của Thương Mại Quốc Tế

--- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Thương Mại Quốc Tế Và Quá Trình Hình Thành Phát Triển Của Thương Mại Quốc Tế.
  • Thương Mại Quốc Tế Là Gì ?
  • Bài Giảng Kinh Tế Quốc Tế (Nâng Cao): Chương 4
  • Vai Trò Của Thương Mại Quốc Tế Đối Với Sự Phát Triển Kinh Tế Thế Giới
  • Son Môi Giúp Ích Gì Cho Bạn Gái
  • Thực tiễn hoạt động buôn bán giữa các nước trên thế giới hiện nay đã cho thấy xu hướng tự do hóa thương mại toàn cầu và vai trò của thương mại quốc tế ngày càng quan trọng đối với sự tăng trưởng trong nền kinh tế của những nước tham gia.

    Thương mại quốc tế đã trở thành một lĩnh vực quan trọng tạo điều kiện cho các nước tham gia vào sự phân công lao động cũng như mở rông thị trường trên thế giới và phát triển kinh tế nội địa của những nước tham gia vào thương mại quốc tế.

    Thương mại quốc tế ngày nay không chỉ mang lại không mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà nó thể hiện được yếu tố các quốc gia phân bố lao động, công việc, công nghệ… trên quốc tế.

    Thương mại quốc tế được coi là một tiền đề một nhân tố phát triển kinh tế nội địa của các nước tham gia và tối ưu hóa sản phẩm cạnh tranh trên quốc tế và phát triển công nghệ của những công ty tham gia thương mại quốc tế mang tính chuyên nghiệp và chuyên môn hóa cao.

    Định nghĩa:

    Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ, công nghệ, công việc, lao động… giữa các nước thông qua buôn bán, hợp tác, chuyển giao công nghệ… nhằm giảm chi phí đầu tư kinh doanh và tăng lợi nhuận kinh doanh.

    Các lợi ích:

    Thương mại quốc tế được coi là một quá trình kinh tế và được coi là một ngành kinh tế. Với một ngành của quá trình phát triển kinh tế được hiểu là một quá trình kinh tế thương mại được thực hiện từ vĩ mô tới vi mô tới các khâu điều tra thị trường và phát triển thị trường thương mại quốc tế, phân phối lưu thông hàng hóa, tiêu dùng, văn hóa đặc trưng của vùng địa lý… được diễn ra với quy mô lớn và tốc độ nhanh hơn. Ngành kinh tế thương mại quốc tế là một lĩnh vực chuyên môn hóa cao, có tổ chức, có phân công, hợp tác chuyển giao công nghệ, lao động, cơ sở hạ tầng, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất hàng hóa…

    Thương mại quốc tế có ý nghĩa lợi ích đối với các nước tham gia vì các quốc gia tham gia được phân phối và phát triển thị trường rộng bán hàng và sản xuất với số lượng lớn hơn, phát triển nhiều mặt hàng phong phú hơn chất lượng hơn với sự so sánh sản phẩm của người tiêu dùng với sự cạnh tranh tăng cao trên thị trương quốc tế.

    Thương mại quốc tế thúc đấy các nước tham gia nỗ lực phát triển hàng hóa và công nghệ nhằm tăng tỷ lệ canh tranh và nâng cao chất lượng sản phẩm để tồn tại trên thị trường quốc tế, nó có tác động trực tiếp tới nhà sản xuất ở các nước tham gia vào thị trường thương mại quốc tế, từ đó các doanh nghiệp phát huy được thế mạnh những tiềm năng của thị trường và tiềm năng của đất nước mà doanh nghiệp đang kinh doanh.

    Các doanh nghiệp tham gia được giao lưu trao đổi nhân công, khoa học kỹ thuật thông qua hợp tác lao động và chuyển giao công nghệ làm tăng quá trình phát triển công nghệ và trình độ lao động của nhân công… Bên cạnh đó thương mại quốc tế thúc đẩy quá trình liên kết nên kinh tế giữa các quốc gia tham gia thị trường ngày càng chặt chẽ và mở rộng hơn, điều đó giúp ổn định tình hình nền kinh tế – chính trị của những quốc gia tham gia thương mại quốc tế.

    Thương mại quốc tế làm tăng mức sống của người dân, tạo ra nhiều việc làm và làm tăng hiệu suất trong nền kinh tế, góp phần làm ổn định an ninh kinh tế, ngoài ra thương mại quốc tế góp phần làm tăng những nguồn vốn đầu tư, mở rộng các mối quan hệ quốc tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Quyết Mâu Thuẫn Về Lợi Ích Tại Chợ Gốm Bát Tràng: Hiệu Quả Từ Đối Thoại
  • Cải Tạo Chung Cư Cũ: Gỡ Vướng Mâu Thuẫn Về Lợi Ích
  • Những Mâu Thuẫn Về Lợi Ích Của Mỹ Và Châu Âu Với Trung Quốc
  • Chính Phủ Mở Giúp Xóa Mâu Thuẫn Lợi Ích Và Tham Nhũng
  • Vấn Đề Mâu Thuẫn Lợi Ích Giữa Chủ Doanh Nghiệp Và Người Lao Động Ở Việt Nam
  • Lợi Ích Khi Doanh Nghiệp Tham Gia Thương Mại Điện Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Thương Mại Điện Từ Là Gì Có Lợi Ích Gì
  • Kinh Doanh Thương Mại Điện Tử Và Những Lợi Ích Chưa Chắc Ai Cũng Biết
  • Bán Hàng Trên Sàn Thương Mại Điện Tử Có Lợi Ích Gì?
  • Bán Hàng Trên Các Trang Thương Mại Điện Tử Có Những Lợi Ích Gì?
  • Lợi Ích Của Thương Mại Điện Tử Mang Lại Cho Truyền Thông Việt Nam
  • Doanh nghiệp có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, nhất là khi nước ta đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Để doanh nghiệp hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, yếu tố hàng đầu để đạt được là doanh nghiệp phải phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT). (Giao diện trang Web sàn giao dịch thương mại điện tử Bắc Giang, địa chỉ chúng tôi Ảnh:Trần Anh ) .

    CNTT có thể đem lại cho doanh nghiệp nhiều tiện ích, nhưng để có lợi ích cao nhất thì doanh nghiệp phải tham gia vào thương mại điện tử (TMĐT). Tham gia vào môi trường TMĐT toàn cầu, doanh nghiệp có cơ hội được tiếp cận với nguồn thông tin đa dạng và khổng lồ, qua đó lựa chọn các thông tin phù hợp nhất cho hoạt động củadoanh nghiệp mình.

    Khi doanh nghiệp tham gia vào TMĐT sẽ mang lại nhiều lợi ích. Trước hết, TMĐT giúp giảm chi phí sản xuất. Đó là giảm chi phí văn phòng, các văn phòng không giấy tờ chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếm, in ấn tài liệu hầu như được bỏ hẳn. Bằng phương tiện Internet/web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất nhiều khách hàng, làm giảm thấp chi bán hàng và chi phí tiếp thị. TMĐT qua Internet/web giúp người tiêu thụ và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch. Thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax và bằng 0,5%o thời gian giao dịch qua bưu điện chuyển phát nhanh, chi phí thanh toán điện tử qua Internet bằng từ 10% đến 20% chi phí thanh toán theo lối thông thường. Trong những yếu tố cắt giảm, yếu tố thời gian là đáng kể nhất, làm cho thông tin hàng hóa tiếp cận người tiêu thụ một cách nhanh chóng mà không phải qua khâu trung gian. Chính việc giao dịch nhanh chóng, sớm nắm bắt được nhu cầu của thị trường càng có ý nghĩa khi kinh doanh các mặt hàng rau quả, hàng tươi sống, đòi hỏi tính thời gian trong giao dịch. Thực tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp quy mô hoạt động rất nhỏ, chỉ có một website bán hàng với vài nhân viên, trụ sở có thể đặt tại một phòng làm việc ở bất cứ nơi đâu. Doanh nghiệp quảng bá website bán hàng của mình ra thị trường thế giới để tìm kiếm các bạn hàng, thiết lập một hệ thống các nhà sản xuất cung cấp sản phẩm cho khách hàng sau khi ký hợp đồng. Điều này giúp doanh nghiệp phát triển rất nhanh vì đã cắt giảm được rất nhiều chi phí trong hoạt động kinh doanh, quảng bá tiếp thị và giao dịch. TMĐT làm tăng chất lượng dịch vụ khách hàng, trên cơ sở cung cấp cho khách hàng bảng giá, hợp đồng một cách gần như tức thời, bên cạnh đó với website bán hàng của mình, doanh nghiệp tạo điều kiện cho khách hàng có cơ hội lựa chọn sản phẩm phù hợp với đầy đủ thông tin mà không cần phải tới tận trụ sở hay xưởng sản xuất của doanh nghiệp. TMĐT là thị trường không biên giới nên giúp cho doanh nghiệp có cơ hội quảng bá thông tin sản phẩm ra thị trường toàn cầu, qua đó giúp doanh nghiệp tăng khách hàng và tăng doanh thu. TMĐT tạo ra thế cạnh tranh của doanh nghiệp, nếu như không có TMĐT thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ rất khó khăn trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn vì khoảng cách về vốn, thị trường, nhân lực, khách hàng. Khi ứng dụng TMĐT, khoảng cách này bị thu hẹp do bản thân doanh nghiệp đó có thể cắt giảm nhiều chi phí, hơn thế nữa với lợi thế của kinh doanh trên mạng sẽ giúp cho doanh nghiệp tạo ra sắc thái riêng về một phương thức kinh doanh khác với hình thức kinh doanh truyền thống. Chính những điều này sẽ tạo nên lợi thế cạnh tranh, giúp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ đặc biệt các doanh nghiệp nhỏ cạnh tranh với đối thủ của mình.

    Để ứng dụng và phát triển TMĐT, các doanh nghiệp cần lưu ý một số yếu tố sau: Trước hết là yếu tố nhân lực cho TMĐT gồm hai loại. Thứ nhất là nhân lực về nghiệp vụ: Là bộ phận sẽ ứng dụng TMĐT vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, bộ phận này phải am hiểu các kiến thức về nghiệp vụ, thương mại, ngoại thương, sử dụng tốt ngoại ngữ trong giao dịch với đối tác nước ngoài và am hiểu các kiến thức về TMĐT cũng như sử dụng tốt các ứng dụng của CNTT truyền thông vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình. Thứ hai là nhân lực kỹ thuật: Là bộ phận có khả năng khắc phục các sự cố và phát triển các tiện ích, công cụ kỹ thuật mới đáp ứng các đòi hỏi ngày càng cao của hoạt động giao dịch thông qua các phương tiện điện tử. Cùng với nhân lực để ứng dụng và phát triển TMĐT phải có hạ tầng CNTT truyền thông và hạ tầng pháp lý. Do TMĐT hoạt động dựa trên các phương tiện điện tử nên hạ tầng cơ sở CNTT có vai trò nền tảng cho ứng dụng của TMĐT. Một doanh nghiệp không thể quảng bá website bán hàng của mình một cách rộng rãi và khai thác các tiện ích cũng như đáp ứng các yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng nếu như đường truyền Internet không được bảo đảm hoạt động ổn định, vậy ở một nơi nào đó chưa có đường truyền Internet thì chưa thể nghĩ tới TMĐT. Mặt khác khi doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực TMĐT cùng với việc hiểu biết pháp luật thương mại truyền thống còn phải nắm được các văn bản pháp luật như: Luật Giao dịch điện tử, Luật Dân sự, Luật về bảo vệ quyền và sở hữu trí tuệ, hải quan… Cuối cùng là hệ thống thanh toán điện tử và an ninh, an toàn. Đây là yếu tố quan trọng trong phát triển TMĐT, song đây cũng là khâu yếu của nước ta hiện nay.

    Nguỵ Phan Sơn

    (Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông)

    Nguồn Báo Bắc Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Giảng Thương Mại Điện Tử Chương 1
  • Lợi Ích Thương Mại Điện Tử Đối Với Người Tiêu Dùng
  • Sàn Giao Dịch Thương Mại Điện Tử Là Gì? Và Những Điều Cần Biết?
  • Sàn Giao Dịch Thương Mại Điện Tử
  • Lợi Ích Của Sàn Giao Dịch Thương Mại Điển Tử
  • Ích Lợi Từ Thương Mại Là Gì? Tìm Hiểu Thương Mại Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Môi Trường Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Môi Trường Tự Nhiên
  • Quản Lý Môi Trường Là Gì? Cơ Hội Với Sinh Viên Quản Lý Môi Trường
  • Phân Tích 5 Chức Năng Của Môi Trường Đối Với Con Người
  • Môi Trường Là Gì? Tại Sao Phải Bảo Vệ Môi Trường?
  • 10 Lợi Ích Của Mít ⋆ Hồng Ngọc Hospital
  • Ích lợi từ thương mại hay mối lợi từ thương mại (gains from trade) là những cái lợi về sản xuất và tiêu dùng mà các nước có thể thu được nhờ tham gia vào nền thương mại quốc tế. Cũng như cá nhân, doanh nghiệp và khu vực trong một quốc gia, các nước buôn bán với nhau trước hết nhằm thu được các mối lợi từ chuyên môn hóa. Bằng cách trao đổi một số sản phẩm của mình lấy sản phẩm của nước khác, một nước có thể nhận được nhiều hàng hóa đa dạng và rẻ hơn so với trường hợp tự sản xuất tất cả những thứ cần thiết. Quá trình phân công lao động quốc tế, trong đó mỗi nước chuyên môn hóa vào một số sản phẩm mà nó có lợi thế so sánh, làm cho sản lượng thế giới tăng, qua đó góp phần nâng cao mức sống thực tế của các nước.

    Việc lựa chọn hàng hóa để chuyên môn hóa sản xuất phụ thuộc chủ yếu vào lợi thế tương đối của một nước so với nước bạn hàng của nó.

    Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các quốc gia. Hình thức thương mại này thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế thế giới, trong đó giá cả, cung và cầu, tác động và bị tác động bởi các sự kiện toàn cầu. Ví dụ, thay đổi chính trị ở châu Á có thể dẫn đến sự gia tăng chi phí nhân công, do đó làm tăng chi phí sản xuất cho một công ty giày của Mỹ có trụ sở tại Malaysia, dẫn đến tăng giá một đôi giày tennis tại trung tâm mua sắm nơi bạn ở. Trái lại, việc giảm chi phí lao động sẽ khiến giá đôi giày của bạn rẻ hơn.

    Thương mại toàn cầu tạo cơ hội cho người tiêu dùng và các nước được tiếp xúc với hàng hoá, dịch vụ mà nước họ không có. Hầu như tất cả các loại sản phẩm bạn cần đều được tìm thấy trên thị trường quốc tế: thực phẩm, quần áo, phụ tùng, dầu, đồ trang sức, rượu vang, cổ phiếu, tiền tệ và nước. Các dịch vụ cũng được giao dịch như du lịch, ngân hàng, tư vấn và vận tải. Khi một sản phẩm được bán ra thị trường thế giới được gọi là xuất khẩu, và khi một sản phẩm được mua từ thị trường thế giới được gọi là nhập khẩu. Nhập khẩu và xuất khẩu được hạch toán vào tài khoảng vãng laiong cán cân thanh toán của một quốc gia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mâu Thuẫn Giữa Người Với Người: Một Số Nội Dung Cơ Bản
  • Mâu Thuẫn Lợi Ích Trong Luật Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Mâu Thuẫn Lợi Ích Giữa Chủ Doanh Nghiệp Và Người Lao Động Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Mâu Thuẫn Lợi Ích Và Tham Nhũng
  • Câu Chuyển : Ý Nghĩa Của Lục Hòa Kính
  • Lợi Ích Từ Thương Mại Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Thương Mại Quốc Tế Và Ảnh Hưởng Của Nó Đến Nền Kinh Tế Thế Giới
  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Môn Thương Mại Điện Tử. Phần 1: Câu Hỏi Từ Bài Giảng (1)
  • Lợi Ích Của Việc Uống Cà Phê
  • Lợi Ích Vượt Trội Của Cà Phê Đen Không Đường
  • Cà Phê Nguyên Chất, Xu Hướng Uống Cafe Nguyên Chất Thời 4.0
  • Thương mại quốc tế là một trong những hình thức chủ yếu của hoạt động kinh doanh quốc tế. Đó là hoạt động mua bán, hoặc trao đổi hàng hóa và dịch vụ vượt ra khỏi biên giới các quốc gia. Trong những thập kỷ vừa qua, khi xu hướng toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, thương mại quốc tế đóng vai trò ngày càng tăng đối với hầu hết các nền kinh tế trên thế giới. Thương mại quốc tế mở ra cơ hội cho tất cả các doanh nghiệp và người tiêu dùng trên toàn thế giới. Nhờ có thương mại quốc tế mà các doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất, đáp ứng không chỉ cho thị trường nội địa mà cho cả thị trường nước ngoài. Thương mại quốc tế mang lại cho người tiêu dùng tại các nước sự lựa chọn đa dạng hơn về hàng hóa và dịch vụ. Chẳng hạn, do có khí hậu lạnh nên Phần Lan không trồng được bông. Tuy nhiên, Phần Lan vẫn có thể bán giấy và các sản phẩm khác từ gỗ (là mặt hàng sẵn có tại Phần Lan) sang Hoa Kỳ và dùng số tiền mua được để mua bông từ nước này. Do vậy mà người dân Phần Lan vẫn có bông để sử dụng. Tuy Hoa Kỳ là nước giàu tài nguyên rừng nhưng những sản phẩm gỗ của Phần Lan có thể thích hợp với người tiêu dùng Hoa Kỳ về mặt giá cả, hoặc có thể giải quyết sự thiếu hụt trên thị trường Hoa Kỳ. Việc nhập khẩu những mặt hàng này từ Phần Lan còn giúp cho các công nhân Hoa Kỳ có thể chuyển sang làm việc ở những ngành khác với mức lương cao hơn. Hay trường hợp Ecuador xuất khẩu hoa hồng sang Hoa Kỳ vì có lợi thế về điều kiện khí hậu và chi phí nhân công rẻ hơn nhiều so với việc trồng loại hoa này tại Hoa Kỳ (tại bang Florida). Còn Hoa Kỳ lại có lợi thế hơn Ecuador về sản xuất và xuất khẩu máy vi tính. Thương mại tự do cũng mang lại lợi ích cho những người xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ vào Ecuador. Khi mà nền kinh tế của Ecuador ngày càng mạnh lên nhờ xuất khẩu được hoa hồng, người dân nước này có thể mua được nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn. Các nhà kinh tế lập luận rằng về dài hạn tự do thương mại sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống của người dân khắp nơi trên thế giới.

    Những lập luận kinh tế xung quanh những lợi ích và chi phí của tự do hóa thương mại về hàng hóa và dịch vụ không phải là những lập luận mang tính hàn lâm trừu tượng. Lý thuyết về thương mại quốc tế đã định hình nên chính sách kinh tế của nhiều quốc gia trong vòng 50 năm qua. Đó chính là động lực đằng sau việc hình thành Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và các tổ chức thương mại khu vực ví dụ như Liên minh Châu Âu (EU) và Hiệp định thương mại tự do Bắc Hoa Kỳ (NAFTA). Đặc biệt, thập kỷ 90 của thế kỷ trước chứng kiến toàn thế giới vận động mạnh mẽ về hướng tự do hóa nhiều hơn. Do đó, điều quan trọng là chúng ta phải hiểu được những lý thuyết thương mại đó là gì và tại sao chúng lại thành công trong việc định hình chính sách kinh tế của nhiều nước trên thế giới cũng như hiểu được môi trường trong đó các doanh nghiệp quốc tế cạnh tranh gay gắt với nhau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Ưu Và Nhược Điểm Của Thương Mại Điện Tử (Tmdt)?
  • Thẻ Visa Là Gì? Tác Dụng Của Thẻ Visa
  • Thẻ Visa Là Gì? Lợi Ích Của Thẻ Visa
  • Vay Ngang Hàng Là Gì? Lợi Ích Của Vay Ngang Hàng
  • 5 Lợi Ích Tuyệt Vời Của Việc Vay Trả Góp Trong Ngày
  • Thương Mại Quốc Tế Là Gì? Đặc Điểm Và Khái Quát Về Thương Mại Quốc Tế?

    --- Bài mới hơn ---

  • Hợp Đồng Thương Mại Là Gì? Đặc Điểm Của Hợp Đồng Thương Mại?
  • Đại Lý Thương Mại Là Gì? Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Đại Lý Thương Mại
  • Dịch Vụ Thương Mại Là Gì? Đặc Trưng Của Dịch Vụ Thương Mại
  • Ngân Hàng Thương Mại Là Gì? Đặc Điểm Của Ngân Hàng Thương Mại?
  • Thương Mại Điện Tử Là Gì? Khái Niệm Và Các Đặc Trưng Cơ Bản
  • Thương mại quốc tế tức là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên. Đối với phần lớn các nước, nó tương đương với một tỷ lệ lớn trong GDP. Thương mại quốc tế phát triển mạnh cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá, giao thông vận tải, toàn cầu hóa, công ty đa quốc gia và xu hướng thuê nhân lực bên ngoài. Để phục vụ cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu và áp dụng cho khách hàng Luật Dương Gia xin giới thiệu bài viết “Thương mại quốc tế là gì? Đặc điểm và khái quát về thương mại quốc tế?”.

    1. Sự hình thành của thương mại quốc tế

    So với trong nước, thương mại quốc tế ra đời muộn hơn. Điều này có nghĩa là thương mại quốc tế chỉ hình thành khi các quốc gia đã ra đời, các quốc gia đã tham gia vào các mối quan hệ thương mại và các quốc gia thấy cần thiết phải có các quy định điều chỉnh các mối quan hệ quốc tế về thương mại nhằm thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế. Để điều chỉnh các mối quan hệ về thương mại, các quốc gia phải cùng nhau xây dựng các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật quốc tế để quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể đối với nhau trong mối quan hệ quốc tế. Sự hình thành thương mại quốc tế là yêu cầu có tính khách quan. Mặc dù thương mại quốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người, tầm quan trọng kinh tế, xã hội và chính trị của nó mới được để ý đến một cách chi tiết trong vài thế kỷ gần đây.

    2. Sự phát triển của thương mại quốc tế

    Sự phát triển của thương mại quốc tế tùy thuộc vào sự phát triển của các mối quan hệ thương mại phát sinh ở phạm vi quốc tế. Thương mại quốc tế, về quy mô, phát triển từ cấp độ song phương rồi đến cấp độ khu vực và sau cùng là ở quy mô toàn cầu. Về nội dung, thương mại quốc tế lúc mới hình thành chỉ bao gồm các giao dịch về thương mại hàng hóa. Cùng với sự phát triển của quan hệ thương mại quốc tế, nội dung của hoạt động thương mại quốc tế đã mở rộng sang cả lĩnh vực thương mại dịch vụ, đầu tư, tài chính, sở hữu trí tuệ,… Về mặt tính chất, hoạt động thương mại quốc tế, khi mới hình thành, mang tính “đóng” do vì dựa chủ yếu trên nguyên tắc bảo hộ mậu dịch, và ở một số nhóm nước hay một số khu vực, hoạt động thương mại quốc tế bảo vệ các quan hệ dựa trên nguyên tắc độc quyền của Nhà nước về thương mại quốc tế nói chung và về ngoại thương nói riêng.

    Cho đến nay chưa có một định nghĩa hay một cách hiểu thống nhất về hoạt động thương mại quốc tế. Người ta mới chỉ thống nhất ở điểm: thương mại quốc tế là tổng hợp các hoạt động, giao dịch hàng hóa và dịch vụ trong quan hệ thương mại quốc tế. Điểm chưa thống nhất là ở chỗ tham gia vào các quan hệ thương mại quốc tế thì đối tượng tham gia gồm nhiều chủ thể khác nhau. Có quan hệ thương mại quốc tế phát sinh giữa các quốc gia (kể cả các nước, vũng lãnh thổ) nhưng cũng có quan hệ thương mại quốc tế phát sinh giữa các doanh nghiệp, các công ty thương mại của các nước khác nhau với nhau. Quan hệ thương mại quốc tế cũng có thể có sự tham gia của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) hoặc của cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc như Uỷ ban pháp luật thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNCITRAL)…

    Thứ nhất, đối tượng của hoạt động thương mại quốc tế là các quan hệ phát sinh giữa các quốc gia khi tham gia vào thương mại quốc tế.

    Ở mỗi lĩnh vực hay hoạt động này, các quốc gia thường cùng nhau đàm phán để xây dựng những thỏa thuận quốc tế, những mối quan hệ trong từng lĩnh vực cụ thể. Do đặc điểm của từng lĩnh vực hoạt động, các hoạt động thương mại quốc tế về từng lĩnh vực cũng có nhiều điểm khác nhau. Chẳng hạn, những quan hệ quan hệ quân sự quốc tế khác với quan hệ chính trị hay quan hệ kinh tế.

    Thứ hai, phạm vi của các quan hệ thương mại quốc tế rộng hay hẹp tùy thuộc vào cách hiểu về hoạt động thương mại ở phạm vi quốc gia cũng như ở phạm vi quốc tế qua từng thời kỳ.

    Thứ ba, ngày nay hoạt động thương mại quốc tế được hiểu theo khái niệm hiện đại, khái niệm rộng và do đó đối tượng của hoạt động thương mại quốc tế ngày càng đa dạng và phức tạp.

    Ý nghĩa và vai trò của thương mại quốc tế không phải mới được nhận thấy trong những thập kỷ gần đây mà đã được nhận thấy từ thế kỷ thứ 18 với hai học thuyết nổi tiếng: Thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo. Trước các nhà kinh tế học này đã tồn tại học thuyết gọi là thuyết “trọng thương”, theo đó hàng năm phải bán cho nước ngoài một giá trị hàng hoá lớn hơn giá trị mà chúng ta mua của họ. Quan điểm này bị các tác giả của hai thuyết trên coi là sai lầm bởi vì:

    Tài sản là tiền tích lũy có thể gây lạm phát và làm giảm sự cạnh tranh quốc tế của một đất nước. Điều này đã được kiễm chứng bằng thực tiễn thương mại hiện đại. Một quốc gia xuất siêu như vậy sẽ tích lũy được nhiều ngoại tệ, mỗi khi ngoại tệ quá nhiều hơn mức cần thiết sẽ dẫn đến tỷ giá giữa ngoại tệ và nội tệ bị hạ thấp và như vậy giá thành sản phẩm sẽ tăng lên dẫn đến hàng hoá khó cạnh tranh với hàng hoá của nước ngoài. Như vậy để nền kinh tế quốc dân phát triển bình thường cán cân thương mại quốc tế lúc nào cũng phải ở thế cân bằng.

    Như vậy thương mại quốc tế không những góp phần tạo ra nhiều hàng hoá hơn nhờ mỗi quốc gia phát huy được thế mạnh của mình mà còn thu nhập cho các chủ thể khác. Người vận chuyển, thương gia…. Không ai có thể phủ nhận vai trò của thương mại quốc tế. Việc tăng cường thương mại quốc tế thường được xem như ý nghĩa cơ bản của “toàn cầu hoá”. Thương mại quốc tế với tư cách là một khoa học cũng là một nhánh của kinh tế học. Thương mại quốc tế hợp cùng tài chính quốc tế tạo thành ngành kinh tế học quốc tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoạt Động Thương Mại Là Gì Và Mang Những Đặc Điểm Gì?
  • Bạn Đã Biết Về Các Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp Từ 1.0 Đến 4.0?
  • Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 Là Gì?
  • Tốc Độ Là Đặc Điểm Nổi Bật Của Cách Mạng Công Nghiệp 4.0?
  • Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 Là Gì?
  • Thương Mại Quốc Tế Là Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Giảng Kinh Tế Quốc Tế (Nâng Cao): Chương 4
  • Vai Trò Của Thương Mại Quốc Tế Đối Với Sự Phát Triển Kinh Tế Thế Giới
  • Son Môi Giúp Ích Gì Cho Bạn Gái
  • 10 Lợi Ích Của Mít
  • Những Lợi Ích Sức Khỏe Của Mít
  • Nếu như bạn bước vào một siêu thị và có thể mua chuối Nam Mỹ, cà phê Brazil và một chai rượu vang Nam Phi, điều này có nghĩa là bạn đang được hưởng những lợi ích từ thương mại quốc tế.

    Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các quốc gia. Hình thức thương mại này thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế thế giới, trong đó giá cả, cung và cầu, tác động và bị tác động bởi các sự kiện toàn cầu. Ví dụ, thay đổi chính trị ở châu Á có thể dẫn đến sự gia tăng chi phí nhân công, do đó làm tăng chi phí sản xuất cho một công ty giày của Mỹ có trụ sở tại Malaysia, dẫn đến tăng giá một đôi giày tennis tại trung tâm mua sắm nơi bạn ở. Trái lại, việc giảm chi phí lao động sẽ khiến giá đôi giày của bạn rẻ hơn.

    Thương mại toàn cầu tạo cơ hội cho người tiêu dùng và các nước được tiếp xúc với hàng hoá, dịch vụ mà nước họ không có. Hầu như tất cả các loại sản phẩm bạn cần đều được tìm thấy trên thị trường quốc tế: thực phẩm, quần áo, phụ tùng, dầu, đồ trang sức, rượu vang, cổ phiếu, tiền tệ và nước. Các dịch vụ cũng được giao dịch như du lịch, ngân hàng, tư vấn và vận tải. Khi một sản phẩm được bán ra thị trường thế giới được gọi là xuất khẩu, và khi một sản phẩm được mua từ thị trường thế giới được gọi là nhập khẩu. Nhập khẩu và xuất khẩu được hạch toán vào tài khoảng vãng laiong cán cân thanh toán của một quốc gia.

    Thương mại quốc tế cho phép các nước giàu sử dụng nguồn lực của họ hiệu quả hơn- dù là lao động, công nghệ hay vốn. Các quốc gia đều có thế mạnh về các tài sản và tài nguyên thiên nhiên khác nhau (đất đai, lao động, vốn và công nghệ), vì lí do đó nên một số nước có khả năng sản xuất một số hàng hóa nhất định có cùng chất lượng với sản phẩm của các nước khác, nhưng chi phí thấp hơn, do đó giá bán cũng rẻ hơn. Nếu một quốc gia không thể sản xuất hiệu quả một loại hàng hóa, nó có thể mua từ một quốc gia khác. Điều này được gọi là chuyên môn hóa trong thương mại quốc tế.

    Hãy lấy một ví dụ đơn giản. Quốc gia A và B đều sản xuất áo len và rượu vang. Nước A sản xuất 10 áo len và 6 chai rượu vang một năm trong khi Quốc gia B sản xuất 6 áo len và 10 chai rượu vang một năm. Cả hai đều có thể sản xuất tổng cộng 16 đơn vị hàng hóa. Tuy nhiên, quốc gia A mất 3 giờ để sản xuất 10 áo len và 2 giờ để sản xuất 6 chai rượu vang (tổng cộng mất năm giờ). Quốc gia B, mất 1giờ để sản xuất 10 áo len và 3 giờ để sản xuất 6 chai rượu vang (tổng cộng bốn giờ).

    Hai quốc gia này nhận ra rằng họ có thể sản xuất nhiều hơn bằng cách tập trung vào những sản phẩm mà họ có lợi thế so sánh. Quốc gia A bắt đầu chỉ sản xuất rượu vang và Quốc gia B chỉ sản xuất áo len . Do đó, mỗi quốc gia có thể tạo ra 20 đơn vị hàng hóa mỗi năm và tỉ lệ trao đổi thương mại của hai loại sản phẩm là bằng nhau. Như vậy, mỗi quốc gia được sử dụng đến 20 đơn vị hàng hóa.

    Chúng ta có thể thấy rằng đối với cả hai quốc gia, chi phí cơ hội của sản xuất cả hai sản phẩm này là lớn hơn chi phí khi sản xuất chuyên môn hóa. Cụ thể hơn, đối với mỗi quốc gia, chi phí cơ hội sản xuất 16 đơn vị cả hai áo len và rượu vang là 20 đơn vị của cả hai sản phẩm (sau hoạt động trao đổi quốc tế). Chuyên môn hóa làm giảm chi phí cơ hội và do đó tối đa hóa hiệu quả sản xuất và giao dịch hàng hóa cần thiết. Với nguồn cung cấp lớn hơn, giá của mỗi sản phẩm sẽ giảm, làm tăng lợi ích của người tiêu dùng cuối cùng.

    Lưu ý rằng, trong ví dụ trên, quốc gia B có thể sản xuất cả rượu vang và bông hiệu quả hơn Quốc gia A (ít thời gian hơn). Đây được gọi là lợi thế tuyệt đối, và Nước B có lợi thế này có thể là do trình độ công nghệ cao hơn. Tuy nhiên, theo lý thuyết thương mại quốc tế, ngay cả khi một quốc gia có một lợi thế tuyệt đối so với quốc gia khác thì nó vẫn có thể được hưởng lợi từ việc chuyên môn hóa.

    Thương mại quốc tế không chỉ làm tăng hiệu quả sản xuất toàn cầu mà còn cho phép các nước tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, khuyến khích các cơ hội đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đó là số tiền mà các cá nhân đầu tư vào các công ty và các tài sản khác ở nước ngoài. Về lý thuyết, nhờ vậy các nền kinh tế mới có thể tăng trưởng hiệu quả hơn và dễ dàng trở thành nền kinh tế cạnh tranh.

    Đối với nước tiếp nhận, họ nhận được ngoại tệ cũng như các bí quyết, công nghệ thông qua nguồn vốn FDI, nhờ đó nâng cao trình độ lao động, và theo lý thuyết, dẫn đến tăng trưởng tổng giá trị sản phẩm quốc nội. Đối với nhà đầu tư, vốn FDI giúp họ rộng và phát triển công ty, đồng nghĩa với tăng doanh thu.

    Cũng như với các lý thuyết khác, tồn tại những quan điểm đối lập. Thương mại quốc tế được nhìn nhận dưới hai quan điểm trái ngược nhau về mức độ kiểm soát trong thương mại: thương mại tự do và chính sách bảo hộ. Lí thuyết về Thương mại tự do là lí thuyết đơn giản hơn trong hai lí thuyết: thuyết tự do kinh tế ( laissez-faire) cho rằng không nên có hạn chế về thương mại. Sự tự điều chỉnh cung và cầu trên phạm vi toàn cầu sẽ đảm bảo cho hiệu quả sản xuất. Vì vậy, không cần thiết phải đưa ra bất kỳ chính sách nào về bảo hộ hay kích thích thương mại và tăng trưởng, các yếu tố thị trường sẽ tự động điều chỉnh.

    Mở ra cơ hội cho sự chuyên môn hóa, giúp sử dụng các nguồn lực hiệu quả hơn, thương mại quốc tế có khả năng tối đa hóa năng lực sản xuất của một quốc gia, qua đó tối đa hóa lượng hàng hóa, dịch vụ mà quốc gia đó nhận được. Tuy nhiên, những người phản đối thương mại tự do cho rằng nó có thể đem lại những tổn hại cho các nước đang phát triển. Chắc chắn là rằng nền kinh tế toàn cầu luôn thay đổi không ngừng, và cùng với sự phát triển của nó, mỗi quốc gia phải trở thành một thành viên trong đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Thương Mại Quốc Tế Và Quá Trình Hình Thành Phát Triển Của Thương Mại Quốc Tế.
  • Thương Mại Quốc Tế Và Lợi Ích Của Thương Mại Quốc Tế
  • Giải Quyết Mâu Thuẫn Về Lợi Ích Tại Chợ Gốm Bát Tràng: Hiệu Quả Từ Đối Thoại
  • Cải Tạo Chung Cư Cũ: Gỡ Vướng Mâu Thuẫn Về Lợi Ích
  • Những Mâu Thuẫn Về Lợi Ích Của Mỹ Và Châu Âu Với Trung Quốc
  • Khái Niệm Về Thương Mại Quốc Tế Và Quá Trình Hình Thành Phát Triển Của Thương Mại Quốc Tế.

    --- Bài mới hơn ---

  • Thương Mại Quốc Tế Là Gì ?
  • Bài Giảng Kinh Tế Quốc Tế (Nâng Cao): Chương 4
  • Vai Trò Của Thương Mại Quốc Tế Đối Với Sự Phát Triển Kinh Tế Thế Giới
  • Son Môi Giúp Ích Gì Cho Bạn Gái
  • 10 Lợi Ích Của Mít
  • Quá trình hình thành và phát triển của thương mại quốc tế.

    Lịch sử phát triển của loài người gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, mà một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển đó là sự phân công lao động xã hội. Theo học thuyết Mác - Lênin về phân công lao động xã hội thì phân công lao động là sự tách biệt các loại hoạt động, lao động khác nhau trong nền sản xuất xã hội. Điều kiện ra đời của phân công lao động xã hội là sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và ngược lại, khi phân công lao động xã hội đạt đến sự hoàn thiện nhất định , lại trở thành nhân tố thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, vì nó tạo điều kiện cho người lao động tích luỹ kinh nghiệm, kỹ năng sản xuất, nâng cao tri thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng quản lý và hoàn thiện công cụ lao động. Nói cách khác, phân công lao động xã hội góp phần thúc dẩy nhanh sự phát triển của tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ mà tiến bộ khoa học công nghệ lại chính là một yếu tố cấu thành quan trọng của lực lượng sản xuất xã hội, do đó phân công lao động xã hội là một động lực thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội.

    Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội loài người đã trải qua các giai đoạn phân công lao động xã hội lớn :

    * Giai đoạn 1: Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt. Các bộ lạc chăn nuôi mang thịt sữa đổi ngũ cốc, rau quả của các bộ lạc trồng trọt. Đó là mầm mống ra đời của quan hệ sản xuất - trao đổi hàng hoá giản đơn.

    * Giai đoạn 2: Nghề thủ công tách rời khỏi nghề nông. Sản xuất chuyên môn hoá bắt đầu phát triển, dẫn đến sự ra đời của ngành công nghiệp. Đặc biệt, với sự xuất hiện vai trò tiền tệ đã khiến cho quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hoá tiền tệ ra đời, thay thế quan hệ sản xuất trao đổi hàng hoá giản đơn.

    * Giai đoạn 3: Tầng lớp thương nhân xuất hiện, lưu thông hàng hoá tách ra khỏi lĩnh vực sản xuất, khiến cho các quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hoá - tiền tệ trở nên phức tạp, ngày càng mở rộng, tạo điều kiện cho ngoại thương của từng quốc gia phát triển và thương mại quốc tế ra đời.

    Trải qua các hình thái kinh tế xã hội có sự thống trị của các chế độ Nhà nước khác nhau, từ chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, đến chế độ chiếm tư bản chủ nghĩa và kể cả chế độ xã hội chủ nghĩa mới hình thành từ đầu thế kỷ này, các quan hệ sản xuất, trao đổi hàng hoá - tiền tệ đã phát triển trên phạm vi toàn thế giới, hình thành nên sự đa dạng, phức tạp của các mối quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó, sôi động nhất và cũng chiếm vị trí, vai trò, động lực quan trọng nhất cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế mở của mỗi quốc gia và cho cả nên kinh tế thế giới là các hoạt động thương mại quốc tế.

    Như vậy, phân công lao động quốc tế là biểu hiện của giai đoạn phát triển cao của phân công lao động xã hội, là quá trình tập trung hoá sản xuất và cung cấp một loại hoặc một số loại sản phẩm và dịch vụ vào một quốc gia nhất định, dựa trên cơ sở những ưu thế của quốc gia đó về điều kiện tự nhiên, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, công nghệ và xã hội để đáp ứng nhu cầu của các quốc gia khác, thông qua các hoạt động kinh tế đối ngoại, trong đó thương mại quốc tế đóng vai trò trọng tâm.

    Lịch sử phát triển kinh tế quốc tế thế giới cho đến nay đã có 3 kiểu phân công lao động quốc tế điển hình là : phân công lao động quốc tế tư bản chủ nghĩa, phân công lao động quốc tế xã hội chủ nghĩa và phân công lao động toàn thế giới. Do những biến động phức tạp trong đời sống chính trị - xã hội thế giới, kể từ sau năm 1991 với sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, thế giới đương đại chỉ còn tồn tại và phát triển hai kiểu là phân công lao động xã hội và phân công lao động toàn thế giới. Nếu gạt bỏ những sắc thái riêng biệt nhất định, ngày nay ta dễ nhận thấy sự vận động, phát triển của cả hai kiểu phân công lao động quốc tế này đang có xu hướng tiến tới một thể thống nhất, mặc dù vẫn luôn chứa đựng nhiều mâu thuẫn phức tạp do tính đa dạng của nền kinh tế thế giới tạo ra. Cùng với quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế thế giới, là những tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế đạt tới trình độ sâu rộng chưa từng thấy. Chuyên môn hoá càng phát triển thì quan hệ hiệp tác càng bền chặt, đó là đặc trưng cơ bản của phân công lao động quốc tế ngày nay.

    Trong quá trình tái sản xuất mở rộng, do yêu cầu khách quan của việc xã hội hoá lực lượng sản xuất, các nước ngày càng quan hệ chặt chẽ với nhau, lệ thuộc vào nhau. Sự giao lưu tư bản, trao đổi mậu dịch, do đó, ngày càng phong phú. Sự phát triển của hệ thống thông tin hiện đại, đặc biệt là kỹ thuật thông tin vi điện tử và sự phát triển của giao thông vận tải đã tạo điều kiện cho phân công lao động quốc tế gày càng phát triển, làm tăng quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và đời sống của các dân tộc. Sự phát triển mạnh mẽ của các Công ty xuyên quốc gia càng làm nổi bật tính thống nhất của nền sản xuất thế giới.

    Quốc tế hoá nền sản xuất tất yếu dẫn tới các loại liên kết kinh tế. Sự phát triển của khoa học - công nghệ cùng với sự chuyển dịch vốn, kỹ thuật từ các nước công nghiệp phát triển sang các nước đang phát triển đã giúp cho nhiều nước trở thành nước công nghiệp mới có đủ tiềm lực kinh tế quay trở lại cạnh tranh với các nước công nghiệp phát triển. Sự ra đời của hàng loạt các liên minh kinh tế Nhà nước ở các khu vực, các tổ chức kinh tế ở khắp các Châu lục, cũng như sự hiệp tác và liên minh kinh tế dưới nhiều hình thức khác đã đánh dấu sự phân công lao động sâu sắc và mở rộng quy mô phát triển chưa từng có. Hệ quả trực tiếp là sự tốc độ phát triển ngoại thương, đặc biệt là xuất khẩu của hầu hết các nước tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế đều đã tăng mạnh và liên tục trong các thập niên gần đây và hiện nay.Năm 1950, tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới còn ở mức 59,7 tỷ USD nhưng đến năm 1990 nghĩa là 4 thập niên sau đã lên đến con số 3.332 tỷ USD, tăng 57,6 lần bình quân hàng năm tăng 10,5 %. Điều lưu ý là suốt thời kỳ dài, từ sau thế chiến thứ hai đến nay, nền kinh tế thế giới nói chung và thương mại quốc tế nói riêng, mặc dù đã trải qua những bước thăng trầm trong sự phát triển, nhưng nhìn chung tốc độ tăng của thương mại quốc tế đều tăng nhanh hơn tốc độ tăng của sản xuất thế giới.

    Lý giải về sự tăng nhanh của thương mại quốc tế có thể bằng nhiều nguyên nhân khác nhau, song phải thấy có một nguyên nhân cơ bản là nhờ đạt được hiệu quả kinh tế do quá trình phân công lao động quốc tế mang lại. Thực tế cho thấy những lợi nhuận thu được từ thương mại quốc tế nhờ khai thác sự chênh lệch về giá cả tương đối giữa các nước, tuy rất quan trọng nhưng còn ít hơn nhiều so với lợi nhuận thu được nhờ tăng cường tính đa dạng và chuyên môn hoá theo nhãn hiệu của từng loại sản phẩm sản xuất ở nhiều quốc gia khác nhau. Thương mại trong ngành không chỉ tạo ra các khả năng mở rộng tiêu dùng, thoả mãn nhu cầu của người mua, mà đã trở thành yếu tố cơ bản, quyết định động thái tăng trưởng kim ngạch ngoại thương hầu hết các nước thuộc mọi khu vực khác nhau trong nền kinh tế thế giới. Thương mại trong ngành là biểu hiện phát triển cao độ của sản xuất chuyên môn hoá trong giai đoạn hiện nay. Nó không giải thích vì sao nước Anh xuất khẩu xe hơi sang Hông Kông nhưng lại có thể giải thích một hiện tượng thực tế nảy sinh mà David Ricardo đã không làm được là vì sao Anh xuất khẩu xe hơi (như Rovers, Jaguars…) sang Đức, nhưng lại nhập xe hơi (như Mercedes, Andis…) từ Đức. Điều dễ hiểu là mặc dù đều là xe hơi nhưng tất cả các loại xe hơi do Anh sản xuất đều có những đặc điểm khác so với tất cả các loại xe hơi do Đức sản xuất. Tương tự như vậy, Nhật là cường quốc về sản xuất tivi chất lượng cao bởi các nhãn hiệu nổi tiếng như Sony, JVC, Sanyo… nhưng vẫn không ít người Nhật thích dùng tivi với các nhãn hiệu khác của nước ngoài như Philip cuả Hà Lan, Sam Sung, Deawoo của Hàn Quốc… Lý do chính khiến cho sự trao đổi thương mại giữa các nước về cùng một loại sản phẩm là sự đa dạng của các nhãn hiệu khác nhau về loại sản phẩm đó, sẽ mang lại những thoả mãn về nhu cầu của người tiêu dùng, do có sự khác nhau về hình thức, mẫu mã, giá cả… Đối với cả người sản xuất với người tiêu dùng đều có thể tìm thấy những lợi ích cơ bản sau đây của việc phát triển thương mại trong ngành.

    * Thứ nhất, người tiêu dùng thoả mãn được nhu cầu lựa chọn trong số nhiều nhãn hiệu khác nhau của cùng một loại sản phẩm trong ngành.

    * Thứ hai, thương mại trong ngành mang lại lợi thế kinh tế đáng kể nhờ mức độ mở rộng quy mô chuyên môn hoá sản xuất của mỗi quốc gia về một loại nhãn hiệu sản phẩm trong ngành, sau đó đem chúng trao đổi với nhau qua thương mại quốc tế, thay cho tình trạng trước đây, mỗi quốc gia đều phải cố gắng sản xuất những lượng nhỏ của tất cả các nhãn hiệu trong ngành.

    Lợi ích của thương mại quốc tế đối với mỗi quốc gia.

    Buôn bán nói chung và buôn bán quốc tế nói riêng là hoạt động kinh tế trao đổi hàng hoá - tiền tệ đã có từ lâu đời và sự phát triển của nó luôn luôn gắn liền với sự phát triển văn minh của xã hội loài ngươì. Như vậy là con người đã sớm tìm thấy lợi ích của thương mại quốc tế, nhưng để giải thích một cách khoa học về nguồn gốc của những lợi ích thương mại quốc tế thì đó đã không phải là vấn đề đơn giản. Quá trình nghiên cứu của các trường phái kinh tế khác nhau trong lịch sử phát triển tư tưởng kinh tế thế giới đã đưa ra những lý thuyết để lý giải vấn đề này, khẳng định tác động tích cực của thương mại quốc tế đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế theo trình tự nhận thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ phiến diện đến toàn diện, từ hiện tượng đến bản chất.

    * Lý thuyết trọng thương.

    Lý thuyết trọng thương ở Châu Âu đã phát triển từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII, với nhiều đại biểu khác nhau: Jean Bodin, Melon, Jully, Colbert (Pháp), Thomas Mrm, Josias, Chhild, James Stewart (Anh)…

    Nội dung chính của thuyết này là: Mỗi quốc gia muốn đạt được sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ bằng phát triển ngoại thương và mỗi quốc gia chỉ có thể thu được lợi ích từ ngoại thương nếu cán cân thương mại mang dấu dương (hay giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu). Được lợi là vì thặng dư của xuất khẩu so với nhập khẩu được thanh toán bằng vàng, bạc và chính vàng, bạc là tiền tệ, là biểu hiện của sự giàu có. Đối với một quốc gia không có mỏ vàng hay bạc chỉ còn cách duy nhất là trông cậy vào phát triển ngoại thương.

    Lý thuyết trọng thương mặc dù có nội dung rất sơ khai và còn chứa đựng nhiều yếu tố đơn giản, phiến diện, chưa cho phép phân tích bản chất bên trong của các sự vật hiện tượng kinh tế, song đó đã là những tư tưởng đầu tiên của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển nghiên cứu về hiện tượng và lợi ích của ngoại thương. ý nghĩa tích cực của học thuyết này là đối lập với tư tưởng phong kiến lúc bấy giờ là coi trọng kinh tế tự cung, tự cấp. Ngoài ra, những người trọng thương cũng sớm nhận thức được vai trò qua trọng của nhà nước trong quản lý, điều hành trực tiếp các hoạt động kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế quan, bảo hộ mậu dịch trong nước… để bảo hộ các ngành sản xuất non trẻ, kiểm soát nhập khẩu, thúc đẩy xuất khẩu.

    * Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.

    Trong nhiều tác phẩm của mình, trong đó nổi tiếng nhất là cuốn sách “nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc giàu có của các quốc gia”, Adam Smith đã đề cao vai trò của thương mại , đặc biệt là ngoại thương đã có tác dụng thúc đẩy nhanh sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của các nước, song khác với sự phiến diện của trọng thương đã tuyệt đối hoá quá mức vai trò ngoại thương, ông cho rằng ngoại thương có vai trò rất to lớn nhưng không phải nguồn gốc duy nhất của sự giàu có. Sự giàu có không phải do ngoại thương mà là do công nghiệp, tức là do hoạt động sản xuất đem lại chứ không phải do hoạt động lưu thông. Theo ông, hoạt động kinh tế (bao gồm cả hoạt động sản xuất và lưu thông) phải được tiến hành một cách tự do, do quan hệ cung cầu và biến động giá cả thị trường quy định. Sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? Đó là câu hỏi cần được giải quyết ở thị trường.

    Theo Adam Smith, sức mạnh làm cho nền kinh tế tăng trưởng là do sự tự do trao đổi giữa các quốc gia, do đó mỗi quốc gia cần chuyên môn vào những ngành sản xuất có lợi thế tuyệt đối, nghĩa là phải biết dựa vào những ngành sản xuất có thể sản xuất ra những sản phẩm có chi phí sản xuất nhỏ hơn so với quốc gia khác, nhưng lại thu được lượng sản phẩm nhiều nhất, sau đó đem cân đối với mức cầu ở mức giá lớn hơn giá cân bằng. Chính sự chênh lệch giá nhờ mức cầu tăng lên ở quốc gia khác làm cho nền kinh tế tăng trưởng.

    Quan điểm trên thể hiện nội dung cơ bản của lý thuyết lợi thế tuyệt đối trong thương mại quốc tế. Một nước được coi là có lợi thế tuyệt đối so với một nước khác trong việc chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá A khi cùng một nguồn lực có thể sản xuất được nhiều sản phẩm A hơn là nước thứ 2.

    * Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo.

    - Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế, bởi vì: phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước. Nguyên nhân chính là do chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm nhất định của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nước khác thông qua con đường thương mại quốc tế.

    - Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nước khác, vẫn có thể và có lợi khi tham gia vào phân công lao động và quốc tế, vì mỗi nước đều có những lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng khác.

    Vậy có thể kết luận rằng, một trong những điểm cốt yếu nhất của lý thuyết lợi thế so sánh là những lợi ích do chuyên môn hoá sản xuất và thương mại quốc tế phụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ không phải là lợi thế tuyệt đối. Lợi thế so sánh là điều kiện cần và đủ đối với lợi ích của thương mại quốc tế.

    Tóm lại là: Lợi ích thương mại quốc tế bắt nguồn từ sự khác nhau về lợi thế so sánh ở mỗi quốc gia, mà các lợi thế so sánh đó có thể được biểu hiện bằng các chi phí cơ hội khác nhau của mỗi quốc gia, do đó lợi ích của thương mại quốc tế cũng chính là bắt nguồn từ sự khác nhau về các chi phí cơ hội của mỗi quốc gia. Chi phí cơ hội cho ta biết chi phí tương đối (chi phí so sánh) để làm ra sản phẩm hàng hoá khác nhau của mỗi quốc gia, hay nói cách khác, khi các chi phí cơ hội ở tất cả các quốc gia đều giống nhau thì không có lợi thế so sánh và cũng không có khả năng nảy sinh các lợi ích do chuyên môn hoá và thương mại quốc tế. Đó cũng là nội dung cơ bản của quy luật lợi thế so sánh đã được David Ricardo khẳng định là: các nước sẽ có lợi khi chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà họ làm ra với chi phí cơ hội (chi phí so sánh) thấp hơn so với các nước khác. Quy luật này đã được nhiều nhà kinh tế khác tiếp tục phát triển, hoàn thiện, trở thành quy luật chi phối động thái phát triển của thương mại quốc tế.

    * Lý thuyết nguồn lực và Thương mại Hecksher - Ohlin.

    Như vậy, cơ sở lý luận khoa học của lý thuyết H-O vẫn chính là dựa vào lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, nhưng ở trình độ phát triển cao hơn là đã xác định được nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự ưu đãi về các yếu tố sản xuất mà kinh tế học phát triển đương đại vẫn gọi là nguồn lực sản xuất. Và do vậy, lý thuyết H-O còn được coi là lý thuyết lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có, hoặc vắn tắt hơn là lý thuyết nguồn lực sản xuất vốn có. Đó cũng chính là lý thuyết hiện đại về thương mại quốc tế. Sau này, nó còn được các nhà kinh tế học nổi tiếng khác như Paul Samuelson, james William… tiếp tục mở rộng và nghiên cứu tỷ mỉ hơn để khẳng định tư tưởng khoa học của định lý H-O hay còn gọi là quy luật H-O về tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất, trước đó đã được Hecksher-Ohlin đưa ra với nội dung: một nước sẽ sản xuất loại hàng hoá mà việc sản xuất nó cần sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn có của nước đó và nhập khẩu hàng hoá mà việc sản xuất nó cần nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm hơn của nước đó.

    Tuy còn có những khiếm khuyết lý luận trước thực tiễn phát triển phức tạp của thương mại quốc tế ngày nay, song quy luật này đang là quy luật chi phối động thái phát triển của thương mại quốc tế và có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn quan trọng đối với các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nước kém phát triển, vì vậy nó đã chỉ ra rằng đối với các nước này, đa số là những nước đông dân, nhiều lao động, nhưng nghèo vốn do đó trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá đất nước, cần tập trung xuất khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều vốn. Sự lựa chọn các sản phẩm xuất khẩu phù hợp với các lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có như vậy sẽ là điều kiện cần thiết để các nước kém và đang phát triển có thể nhanh chóng hội nhập vào sự phân công lao động và hợp tác quốc tế, và trên cơ sở lợi ích thương mại thu được sẽ thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở những nước này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thương Mại Quốc Tế Và Lợi Ích Của Thương Mại Quốc Tế
  • Giải Quyết Mâu Thuẫn Về Lợi Ích Tại Chợ Gốm Bát Tràng: Hiệu Quả Từ Đối Thoại
  • Cải Tạo Chung Cư Cũ: Gỡ Vướng Mâu Thuẫn Về Lợi Ích
  • Những Mâu Thuẫn Về Lợi Ích Của Mỹ Và Châu Âu Với Trung Quốc
  • Chính Phủ Mở Giúp Xóa Mâu Thuẫn Lợi Ích Và Tham Nhũng
  • Lợi Ích Khi Tham Gia Bảo Hiểm Y Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Hiểm Y Tế Là Gì? Quyền Lợi Bảo Hiểm Y Tế 2022
  • Bảo Vệ Môi Trường Là Trách Nhiệm Của Toàn Xã Hội
  • Lợi Ích Từ Bảo Vệ Môi Trường
  • Bảo Vệ Môi Trường Là Gì? Những Cách Bảo Vệ Môi Trường Đơn Giản Nhất
  • Môi Trường Là Gì ? Chúng Ta Cần Làm Gì Để Bảo Vệ Môi Trường ?
  • Bảo hiểm Y tế (BHYT) là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của cộng đồng, chia sẻ rủi ro bệnh tật và giảm bớt gánh nặng tài chính nặng của mỗi người khi ốm đau, bệnh tật, tạo nguồn tài chính hỗ trợ cho hoạt động y tế, thực hiện công bằng và nhân đạo trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Nhiều người nhờ vào BHYT mà vượt qua được giai đoạn khó khăn khi điều trị bệnh.

    Theo quy định hiện hành, người tham gia BHYT có những quyền lợi sau:

    – Tất cả trẻ em dưới 6 tuổi, những người trong diện hộ nghèo được cấp thẻ BHYT miễn phí; Nhà nước hỗ trợ 100% mức đóng phí BHYT đối với người thuộc hộ cận nghèo đang sinh sống tại các huyện nghèo và các huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao; Nhà nước hỗ trợ tối thiểu 70% phí BHYT cho người thuộc hộ cận nghèo; UBND tỉnh/thành phố có thể hỗ trợ mức đóng phí BHYT cho người cận nghèo của địa phương từ 10 – 30%…

    – Người có thẻ BHYT khi đi khám chữa bệnh được Quỹ BHYT trả toàn bộ hoặc một phần tiền khám, chữa bệnh (tỷ lệ chi trả phụ thuộc vào việc chữa bệnh đúng tuyến hay trái tuyến); được cán bộ có chuyên môn y tế khám bệnh, chữa bệnh; được chuyển đến bệnh viện tuyến trên khi bệnh nặng.

    – Trường hợp người có thẻ đang điều trị tại cơ sở khám chữa bệnh nhưng thẻ BHYT hết hạn thì Quỹ BHYT thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi quyền lợi và mức hưởng theo chế độ quy định cho đến khi ra viện hoặc hết đợt điều trị ngoại trú.

    – Theo Thông tư 39/2018/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành, người tham gia BHYT từ 5 năm liên tục trở lên, nếu khám chữa bệnh đúng tuyến và số tiền đồng chi trả trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở thì người bệnh tập hợp chứng từ đồng chi trả gửi cơ quan BHXH để được cấp giấy miễn đồng chi trả cho những lần sau trong năm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chi Phí Biên (Marginal Cost) Là Gì? Cách Tính Chi Phí Biên
  • Chi Phí Biên Là Gì? Ưu Điểm Chi Phí Biên?
  • Lợi Ích Bơi Lội Đối Với Bé
  • Lợi Ích Tuyệt Vời Từ Việc Bơi Lội Dành Cho Sức Khỏe
  • Lợi Ích Của Bơi Lội Cho Sức Khỏe Bạn Chưa Từng Biết
  • Nhiều Lợi Ích Khi Tham Gia Bảo Hiểm Y Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lợi Ích Khi Tham Gia
  • Môi Trường Là Gì? Chúng Ta Cần Làm Gì Để Bảo Vệ Môi Trường?
  • Lợi Ích Của Cây Xanh Trong Việc Bảo Vệ Môi Trường Và Sức Khỏe
  • Bảo Vệ Môi Trường Là Bảo Vệ Sức Khỏe Chính Mình Và Cộng Đồng
  • Môi Trường Là Gì? Những Biện Pháp Nào Giúp Bảo Vệ Môi Trường Hiệu Quả
  • Nhân Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam 1-7:

    Bảo hiểm y tế (BHYT) là loại hình bảo hiểm trong chăm sóc sức khỏe do Nhà nước tổ chức, thực hiện không vì mục đích lợi nhuận.

    Đồ họa thể hiện những lợi ích khi tham gia bảo hiểm y tế. (đồ họa: BẢO LỘC)

    TIN LIÊN QUAN

    • Hướng đến mục tiêu bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân

    Nhờ tham gia BHYT, nhiều người không may ốm đau, tai nạn, bệnh nhân nghèo, mắc các bệnh mạn tính, ung thư… có cơ hội điều trị bệnh lâu dài, được kéo dài sự sống, giảm đáng kể gánh nặng cho bản thân, gia đình và toàn xã hội.

    Nhờ tham gia BHYT, nhiều người không may ốm đau, tai nạn, bệnh nhân nghèo, mắc các bệnh mạn tính, ung thư… có cơ hội điều trị bệnh lâu dài, được kéo dài sự sống, giảm đáng kể gánh nặng cho bản thân, gia đình và toàn xã hội.

    * “Bùa hộ mệnh” những lúc ốm đau

    Theo thống kê của cơ quan BHXH tỉnh, những năm qua, trên địa bàn tỉnh có nhiều người dân tham gia BHYT được quỹ khám, chữa bệnh BHYT chi trả hàng tỷ đồng mỗi năm. Riêng năm 2022, toàn tỉnh có 20 trường hợp được quỹ BHYT thanh toán số tiền khám, chữa bệnh từ 700 triệu đồng trở lên. Trong đó, có 7 trường hợp được thanh toán chi phí từ 1-2,1 tỷ đồng.

    Ngoài ra, còn có nhiều người dân tham gia BHYT khi không may mắc các bệnh như: suy tim, ung thư các loại, viêm tủy xương, viêm ruột, thiếu máu, viêm dạ dày xuất huyết cấp, tràn dịch màng phổi, đa tổn thương… cũng được quỹ BHYT chi trả số tiền khá lớn trong quá trình khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế có ký hợp đồng với cơ quan BHXH.

    Đồ họa thể hiện kết quả thực hiện chỉ tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn tỉnh từ năm 2022-2019 và 6 tháng đầu năm 2022. (đồ họa: HẠNH DUNG)

    Một trường hợp điển hình được quỹ khám, chữa bệnh BHYT chi trả với số tiền lớn nhất từ trước đến nay trong tỉnh là ông L.H.L. (ngụ xã Bình Lợi, H.Vĩnh Cửu). Trong vòng 4 năm, từ 2022-2019, ông L. được quỹ BHYT chi trả tổng số tiền hơn 5,4 tỷ đồng trong quá trình điều trị bệnh.

    Ông L. cho biết, ông mắc bệnh máu khó đông (thiếu yếu tố VIII di truyền) từ 20 năm trước. Đây là một trong những bệnh lý phải điều trị kéo dài và tốn kém nhất hiện nay. Những năm đầu mắc bệnh, do chưa hiểu về BHYT nên ông L. chưa tham gia BHYT khiến kinh tế gia đình ngày càng kiệt quệ.

    Mẹ ông L. nhớ lại: “Nhà có bao nhiêu tiền của đều dốc vào việc chữa trị, thuốc men cho con. Khi nhà hết tiền, tôi lại chạy vạy vay mượn khắp nơi, từ bà con hàng xóm đến anh em họ hàng, những người xung quanh. Nhưng mượn nhiều quá nên cũng không còn ai để mượn. Kinh tế gia đình ngày càng suy sụp, bản thân tôi không thể làm được công việc gì để có thu nhập vì thường xuyên phải túc trực ở bệnh viện cũng như ở nhà chăm lo cho con. Những ngày tháng trong bệnh viện, 2 mẹ con chỉ có gói mì chia làm tư để làm canh ăn qua ngày”.

    Vài năm sau đó, ông L. được hỗ trợ thẻ BHYT dành cho đối tượng người khuyết tật nặng, được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh BHYT. Nhờ đó, ông L. được điều trị đều đặn tại bệnh viện, bệnh tình thuyên giảm nhiều, giảm thiểu các biến chứng nguy hiểm như: biến dạng khớp, teo cơ…

    Bác sĩ Bệnh viện Đa khoa khu vực Long Khánh thăm khám cho bệnh nhân bị đột qụy có thẻ bảo hiểm y tế điều trị tại bệnh viện. Ảnh:H. Dung

    Ông L. bộc bạch: “Mỗi tháng tôi đến bệnh viện để điều trị một đợt, mỗi đợt từ 5-7 ngày. Số tiền điều trị cầm máu mỗi đợt khoảng 200-300 triệu đồng. Nếu bệnh có biến chứng thì các đợt điều trị kéo dài số ngày hơn và số tiền điều trị có khi lên tới hàng tỷ đồng. Nếu không được quỹ khám, chữa bệnh BHYT chi trả toàn bộ số tiền điều trị, tôi không biết mình có thể sống đến bây giờ hay không. Cũng nhờ có tham gia BHYT mà gia đình tôi cũng không còn phải trằn trọc, lo lắng, buồn khổ như trước nữa. Tôi thật sự rất biết ơn Nhà nước đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi và gia đình trong suốt những năm tháng qua”.

    Bà Nguyễn Thị Quy, Phó giám đốc BHXH tỉnh cho hay, ngoài hầu hết các dịch vụ thông thường trong khám, chữa bệnh được quỹ BHYT chi trả với tỷ lệ từ 80-100%, hiện nay, nhiều kỹ thuật cao như đặt stent mạch vành chữa bệnh tim mạch, đặt máy tạo nhịp… nhiều loại thuốc đắt tiền cũng đã được quỹ BHYT chi trả. Qua đó, giảm được nhiều chi phí cho bệnh nhân khi khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế.

    * Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh BHYT

    Phó giám đốc Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai Lê Thị Phương Trâm cho biết, những năm qua, bệnh viện đã thực hiện nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh BHYT cho bệnh nhân tại bệnh viện, từ khâu tiếp nhận, bố trí phòng khám đến nâng cao chất lượng đội ngũ y, bác sĩ, cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc. Hiện nay, trung bình mỗi ngày Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai tiếp nhận từ 4-6 ngàn lượt bệnh nhân đến khám bệnh ngoại trú và điều trị nội trú, hầu hết là bệnh nhân có thẻ BHYT, trong đó có rất nhiều bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính, ung thư, phải điều trị lâu dài.

    Các bệnh nhi bị bệnh tan máu bẩm sinh điều trị lâu dài tại Bệnh viện Nhi đồng Đồng Nai được bảo hiểm y tế chi trả. Ảnh: H.DUNG

    Còn theo BS Đỗ Trung Dũng, Trưởng khoa Ngoại lồng ngực – tim mạch Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất, từ cuối năm 2022 đến nay, bệnh viện đã thực hiện 43 ca phẫu thuật tim hở và nội soi cho bệnh nhân mắc bệnh tim. Mỗi ca phẫu thuật tim có chi phí trung bình từ 100-200 triệu đồng, thậm chí lên tới 400 triệu đồng tùy thuộc vào các vật liệu sử dụng trong ca phẫu thuật. Đây là số tiền rất lớn đối với bệnh nhân vì hầu hết các bệnh nhân mắc bệnh tim cần phẫu thuật tại bệnh viện là những người nghèo.

    “Rất may cả 43 trường hợp đã phẫu thuật tim tại bệnh viện đều có thẻ BHYT đúng tuyến nên được quỹ BHYT chi trả số tiền từ 60-80 triệu đồng. Bệnh nhân chỉ phải trả từ 40-120 triệu đồng, bệnh nhân nào quá khó khăn, bệnh viện đã vận động mạnh thường quân hỗ trợ để cuộc mổ diễn ra suôn sẻ, đem lại cơ hội sống cho bệnh nhân, giảm gánh nặng cho gia đình” – BS Dũng chia sẻ.

    Bà Đ.T.Q. (ngụ xã Trị An, H.Vĩnh Cửu), một trong số những bệnh nhân đã phẫu thuật tim hở thành công tại Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất nói: “Tôi đã từng chứng kiến nhiều người lúc còn khỏe mạnh, chưa phải đi bệnh viện rất chủ quan về sức khỏe của mình nên không mua thẻ BHYT. Đến khi bất ngờ bị tai nạn hoặc ốm đau, vào bệnh viện mới thấy tiếc vì không tham gia BHYT sớm nên phải chi trả viện phí quá lớn. Bản thân tôi và những người trong gia đình năm nào cũng mua thẻ BHYT, nhờ tham gia BHYT mà tôi có cơ hội điều trị bệnh tim, được trở về với cuộc sống đời thường, có thể sinh hoạt, làm việc phụ giúp chồng nuôi con”.

    Lãnh đạo nhiều cơ sở y tế trong tỉnh cho rằng, lợi ích của việc tham gia BHYT đối với bệnh nhân đã thấy rõ. Quy định về thông tuyến BHYT đối với các bệnh viện tuyến huyện cũng đem lại rất nhiều thuận lợi cho người dân. Người dân có quyền lựa chọn các bệnh viện hạng 3 trong toàn tỉnh, nơi nào có bác sĩ giỏi, thuận tiện trong việc di chuyển… để khám, chữa bệnh. Qua đó, bệnh viện cũng tự nhìn nhận và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, thái độ phục vụ của đội ngũ y, bác sĩ, nhân viên, hướng đến sự hài lòng của người bệnh.

    Phó giám đốc BHXH tỉnh Nguyễn Thị Quy cho hay, những năm qua, BHXH tỉnh đã phối hợp chặt chẽ với Sở Y tế, các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT trong tỉnh để đảm bảo việc khám, chữa bệnh BHYT của bệnh nhân theo đúng Luật BHYT.

    Để thực hiện nghiêm Luật BHYT nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHYT, BHXH Đồng Nai đã và đang rà soát kỹ việc ký hợp đồng với các cơ sở khám, chữa bệnh trong tỉnh. Theo đó, các cơ sở này phải đảm bảo đủ điều kiện về bác sĩ có trình độ chuyên môn, cận lâm sàng… Bên cạnh đó, đề nghị Sở Y tế chỉ đạo các cơ sở y tế trực thuộc rà soát, khắc phục tình trạng chỉ định xét nghiệm, cận lâm sàng không cần thiết, chỉ định thuốc, quy trình kỹ thuật chưa đúng hướng dẫn của Bộ Y tế… Qua đó, tránh thất thoát, lãng phí quỹ BHYT, ảnh hưởng đến dự toán quỹ BHYT của các đơn vị.

    Năm 2022, BHXH tỉnh Đồng Nai đã giám định và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT cho hơn 7,1 triệu lượt người với số tiền gần 2,3 ngàn tỷ đồng. Năm 2022, đã thực hiện giám định chi phí khám, chữa bệnh BHYT cho trên 7,5 triệu lượt người với số tiền hơn 2,6 ngàn tỷ đồng. Riêng 6 tháng đầu năm 2022, đã thực hiện giám định chi phí khám, chữa bệnh cho gần 3 triệu lượt người với số tiền hơn 1,1 ngàn tỷ đồng.

    Hạnh Dung

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Và Lợi Ích Thiết Thực Khi Tham Gia Bảo Hiểm Y Tế
  • Lợi Ích Của Bơi Lội Có Tác Dụng Gì Tốt Cho Sức Khỏe?
  • Người Lao Động Cần Nhận Thức Rõ Lợi Ích Của Chính Sách Bảo Hiểm Xã Hội
  • Quyền Lợi Khi Người Dân Tham Gia Bảo Hiểm Xã Hội Là Gì?
  • Những Điều Nhất Định Cần Hiểu Rõ Trước Khi Mua Bảo Hiểm Nhân Thọ
  • Lợi Ích Kinh Tế Từ Thương Mại Điện Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Lợi Ích Thiết Thực Từ Một Sáng Kiến Kinh Nghiệm
  • Giá Trị Thật Của Sáng Kiến Kinh Nghiệm Là Gì?
  • Phiếu Đánh Giá Mức Độ Ảnh Hưởng Của Sáng Kiến, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
  • Hiệu Quả Từ Những Sáng Kiến, Sáng Tạo
  • Hiệu Quả Kinh Tế Từ Những Sáng Kiến
  • Những tiến bộ nhanh chóng về công nghệ trong TMĐT đặt ra vấn đề đáng quan tâm: sự phổ biến của TMĐT và mạng Internet sẽ tác động như thế nào đến các nhân tố trong nền kinh tế và ảnh hưởng ra sao đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế? Vấn đề này có thể tiếp cận từ 2 góc độ: chi phí và thị trường. Hầu hết các nghiên cứu đã có về TMĐT đều xác định các công ty vừa và nhỏ (SMEs: Small and medium enterprises) là đối tượng hưởng lợi nhiều nhất từ quá trình này.

    Mặc dù vậy, đây chỉ là những đánh giá sơ khởi và có thể có nhiều yếu tố khác gây hiệu ứng ngược lại chưa được tính đến.

    Dòng thông tin được ví như hệ thống thần kinh của nền kinh tế. Thông tin có được cung cấp đầy đủ và kịp thời thì doanh nghiệp mới có thể xây dựng được chiến lược sản xuất – kinh doanh bắt kịp xu thế thị trường, nhà nước mới có thể đề ra chính sách quản lý đất nước phù hợp, còn người tiêu dùng thì có nhiều lựa chọn hơn. Internet và Web giống như một thư viện khổng lồ cung cấp một nguồn thông tin phong phú và dễ truy nhậpvới các công cụ tầm cứu (search) hiệu quả như Google, Infoseek, Webcrawler hay Alta Vista. Qua mạng Internet, chính phủ, doanh nghiệp và người tiêu dùng có thể giao tiếp trực tuyến liên tục với nhau mà không bị hạn chế bởi khoảng cách. Nhờ đó, cả sự hợp tác lẫn quản lý đều nhanh chóng và liên tục; các bạn hàng mới, các cơ hội kinh doanh được phát hiện nhanh chóng trên bình diện toàn quốc, khu vực và thế giới. Lợi ích này có ý nghĩa đặc biệt đối với các SMEs, vốn bị hạn chế về khả năng và tiềm lực trong tiếp cận và khảo sát thông tin thị trường. Hơn nữa, ” khả năng tiếp cận thông tin làm giảm thiểu sự bất ổn và các rủi ro khó dự đoán trong nền kinh tế”.

    Nhìn từ góc độ kinh tế vi mô, chi phí là một trong các yếu tố quyết định trực tiếp lợi nhuận của doanh nghiệp và hành vi của người tiêu dùng. Chi phí sản xuất kinh doanh bao gồm nhiều yếu tố từ sản xuất đến lưu thông, phân phối. Giữ nguyên các điều kiện khác, doanh nghiệp luôn có xu hướng tìm cách giảm chi phí sản xuất kinh doanh để tăng sức cạnh tranh và tăng lợi nhuận, còn người tiêu dùng luôn muốn mua hàng hóa với giá rẻ hơn. Suy rộng ra tầm vĩ mô, chi phí ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của cả nền kinh tế và cơ cấu kinh tế theo đó mà hình thành. TMĐT qua Internet tác động đến yếu tố chi phí trong chuỗi giá trị thị trường (value-chain), hướng nền kinh tế đến hiệu quả.

    TMĐT giúp giảm chi phí sản xuất, trước hết là chi phí văn phòng. Các văn phòng không có giấy tờ chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếm và chuyển giao tài liệu giảm nhiều lần, đặc biệt là trong khâu in ấn. Theo số liệu của hãng General Electricity của Mỹ, tiết kiệm trên hướng này đạt tới 30%.

    Từ quan điểm chiến lược, các nhân viên có năng lực được giải phóng khỏi nhiều công đoạn sự vụ có thể t9ập trung vào nghiên cứu phát triển, sẽ đưa đến những lợi ích to lớn lâu dài.

    TMĐT giúp giảm thấp chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị. Bằng phương tiện Internet, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất nhiều khách hàng. Catalogue điện tử trên Web phong phú hơn nhiều và thường xuyên cập nhật so với catalogue in ấn chỉ có khuôn khổ giới hạn và luôn lỗi thời. Theo số liệu của hãng máy bay Boeing của Mỹ, đã có tới 50% khách hàng đặt mua 9% phụ tùng qua Internet và các đơn hàng về lao vụ kỹ thuật theo phương thức này ngày càng tăng lên.

    Bảng 1 Tốc độ và chi phí truyền gửi bộ tài liệu 40 trang

    Nguồn: ITU, “Challenges to network”, 1997, Geneva

    Nguồn: http://www.forrester.com

    Trong hai yếu tố cắt giảm này, yếu tố thời gian có ý nghĩa lớn hơn vì tốc độ lưu thông có ý nghĩa sống còn trong kinh doanh và cạnh tranh. Bên cạnh đó, việc giao dịch nhanh chóng, sớm nắm bắt được nhu cầu còn giúp cắt giảm số lượng và thời gian hàng nằm lưu kho (inventory), cũng như kịp thời thay đổi phương án sản phẩm bám sát được nhu cầu của thị trường. Nhiều năm trước đây, rút ngắn chu thời sản xuất (cycle time) là một trong các nhân tố quan trọng nhất giúp các công ty Nhật Bản giành được thắng lợi trong cạnh tranh với các công ty Hoa Kỳ.

    Khả năng truy cập và phát tán (diffusion) thông tin nhanh chóng qua Internet với chi phí thấp là cơ hội lớn cho các SMEs gia nhập thị trường. Chi phí lập một cửa hàng ảo trên Internet (gồm các chi phí đầu tư thiết kế trang web, chi phí đăng ký và duy trì tên miền (domain name)) chỉ bằng một phần rất nhỏ so với việc lập một cửa hàng hữu hình nhưng trong nhiều trường hợp, hiệu quả đem lại có thể lớn hơn nhiều lần.

    Internet cho phép đưa thông tin đến từng cá nhân, vì thế chỉ cần một trang web bắt mắt với nhiều ý tưởng sáng tạo, doanh nghiệp có thể được đông đảo người tiêu dùng biết đến. Cửa hàng bán lẻ trực tuyến chúng tôi là một điển hình trong nhiều ví dụ. Điều đó cho thấy so với việc tạo lập danh tiếng trên thị trường theo phương cách truyền thống, TMĐT qua Internet rõ ràng có những lợi thế nhất định.

    Tính chất cạnh tranh trên thị trường một phần tùy thuộc vào số lượng đối thủ cạnh tranh có mặt trên thị trường đó. TMĐT không chỉ tạo điều kiện gia nhập thị trường dễ dàng mà còn tạo áp lực cho mọi doanh nghiệp phải “hiện hữu trực tuyến” (online psence). Tuy nhiên, khác với thị trường truyền thống, cạnh tranh trên thị trường TMĐT chủ yếu là cạnh tranh ở khả năng thông tin nhanh chóng và hiệu quả. Điều này tạo cơ hội đồng đều cho các thành phần tham gia cạnh tranh. Mặc dù trong môi trường mới, các doanh nghiệp lớn và danh tiếng có thể có một khởi đầu thuận lợi hơn so với những doanh nghiệp “sinh sau đẻ muộn” nhưng điều đó không có nghĩa là họ có lợi thế hơn trong việc nắm bắt thông tin để điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu thị trường.

    Chu thời sản xuất được rút ngắn trên cơ sở tiết kiệm thời gian và chi phí giao dịch tất yếu dẫn đến những điều chỉnh nhất định trong cách thức tổ chức doanh nghiệp và những thay đổi mới ở nhiều ngành kinh doanh. Lấy ngành vận tải du lịch làm một ví dụ; trước đây các công ty hàng không thường bán vé máy bay qua mạng lưới các đại lý phân phối vé được thiết lập khắp nơi, nhưng với TMĐT qua Internet, các công ty này có thể bán vé trực tiếp cho khách hàng và tiết kiệm được khoản hoa hồng phải trả cho đại lý. Điều này sẽ làm cho các công ty hàng không có xu hướng sáp nhập hoạt động bán vé vào trong hoạt động của mình, còn các đại lý có thể chuyển sang hình thức môi giới thông tin, so sánh giá cả và dịch vụ được cung cấp bởi các công ty khác nhau, vì khách hàng có khả năng sẽ trả một khoản tiền để có được thông tin theo yêu cầu.

    TMĐT phát triển dựa trên nền tảng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại. Do vậy, phát triển TMĐT sẽ tạo nên những nhu cầu đầu tư mới trong lĩnh vực hạ tầng cơ sở và dịch vụ công nghệ thông tin. Theo dự báo của OECD

    , phần đóng góp của công nghệ thông tin trong nền kinh tế toàn cầu sẽ đạt mức từ 3-5% thời kỳ 1993-2008. Ở các nước công nghiệp phát triển tỷ lệ này cao hơn rất nhiều ( ở Mỹ hiện nay khoảng 15% GDP). Các nhà nghiên cứu dự đoán kinh tế thế giới có xu hướng tiến đến “nền kinh tế số hóa” hay “nền kinh tế mới” lấy tri thức và thông tin làm nền tảng phát triển. Đây là khía cạnh mang tính chiến lược đối với các nước đang phát triển vì nó đem lại cả nguy cơ tụt hậu lẫn cơ hội tạo “bước nhảy vọt” (leap-frog) bắt kịp xu thế phát triển của nhân loại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Bài Tập Môn Kinh Tế Vĩ Mô (Có Đáp Án)
  • Bài Tập Kinh Tế Vĩ Mô
  • Tại Sao Nên Học Ngành Kinh Tế
  • Lợi Ích Của Học Cao Học Kinh Tế Tại Isb
  • Những Lợi Ích Của Việc Học Sau Đại Học Mà Bạn Cần Phải Biết
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100