Phương Pháp Dạy Học Nghiên Cứu Tình Huống, Giải Quyết Vấn Đề

--- Bài mới hơn ---

  • Tuyển Chọn 10 Tình Huống Sư Phạm Thường Gặp Ở Tiểu Học Và Cách Giải Quyết Hay Nhất Cho Giáo Viên
  • Giáo Dục & Phương Pháp Giáo Dục Học Sinh
  • Phương Pháp Dạy Học Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề
  • Đổi Mới Phương Pháp Giáo Dục Kỉ Luật Tích Cực Bao Cao Gdkltc Hung Ppt
  • Học Liên Thông Là Gì? Lợi Ích Của Việc Học Liên Thông
  • PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    Trong thực tế làm việc , học viên thường phải tiếp xúc với các “tình huống”, “vấn đề” (những khó khăn cần giải quyết…); nhưng khi học tập, Học viên chỉ được dạy các theo các môn học riêng rẽ, ít có dịp luyện tập giống như trong thực tế, các năng lực đòi hỏi lồng ghép nhiều kiến thức, kỹ năng, thái độ thuộc các lĩnh vực khác nhau. Nhiều vấn đề thực tiễn không giống như khi học, hoặc chưa có giải pháp khuôn mẫu, nên học viên sau tốt nghiệp thường lúng túng, nhất là trong ra quyết định xử lý tình huống.

    I. DẠY HỌC QUA NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG

    a) Tình huống là những sự kiện, vụ việc, hoàn cảnh có mâu thuẫn, có vấn đề cần được giải quyết.

    b) Tình huống “có vấn đề”: là trở ngại về trí tuệ của con người, xuất hiện khi ta chưa biết cách giải thích hiện tượng, sự việc hay một quá trình nào đó của thực tế.

    c) Tình huống dạy học: mô tả những sự kiện, hoàn cảnh có thực hoặc hư cấu nhằm đạt những mục tiêu, mục đích dạy học.

    d) Dạy học qua (bằng) nghiên cứu tình huống: dạy học dựa trên tình huống có thật hoặc giống như thật, đòi hỏi người học phải tìm hiểu, suy nghĩ, đề ra được quyết định thích hợp nhất.

    Nghiên cứu tình huống còn gọi là nghiên cứu trường hợp điển hình (case study) là một trong những phương pháp dạy học chủ động, được sử dụng ngày càng phổ biến, nhằm khắc phục tình trạng thực tế là trong quá trình học tập, người học không được tự ra các quyết định; nên khi ra thực tiễn sẽ lúng túng, thiếu suy nghĩ, cân nhắc, không đề ra được quyết định hợp lý khi thực hiện nhiệm vụ theo chức trách đảm nhiệm.

    2. Yêu cầu khi biên soạn tình huống, phân loại tình huống

    a. Yêu cầu khi biên soạn tình huống

    Tình huống được biên soạn cần đảm bảo các yêu cầu sau:

    + Tình huống phải mang tính thời sự, sát với thực tế; phải chứa đựng thông tin đầy đủ, buộc người học phải sử dụng thông tin trong tình huống để giải quyết vấn đề. Trong tình huống phải cung cấp đầy đủ các dữ liệu cần thiết như thời gian, địa điểm, những nguyên nhân phát sinh sự kiện, vấn đề.

    + Tình huống đưa ra phải thể hiện những thách thức thực sự đối với người học, phải tạo ra khả năng để người học đưa ra nhiều giải pháp, để thu hút sự chú ý, kích thích tư duy, tình huống phải “có vấn đề” và không có câu trả lời duy nhất đúng cho vấn đề đó. Các nhân vật, sự kiện trong tình huống có tính hiện thực.

    + Tình huống đưa ra phải có tính phức tạp vừa đủ, buộc người học phải suy nghĩ, vận dụng khả năng trí tuệ để giải quyết. Một tình huống có thể rất dài, phức tạp hoặc rất ngắn gọn và đơn giản. Độ dài và độ phức tạp của tình huống không phụ thuộc vào mục tiêu giảng dạy mà giảng viên đề ra. Nói chung, độ dài của tình huống không quyết định mức độ phức tạp của tình huống. Tuy nhiên, giảng viên có thể tạo ra các nhân vật, sự kiện, bổ sung thông tin để phục vụ cho mục tiêu giảng dạy của mình.

    Có nhiều loại tình huống và mục đích sử dụng khác nhau. Có thể xếp các loại tình huống theo mức độ phức tạp dần như sau:

    Các tình huống chứng minh;

    Tình huống đề cập tới một vụ việc.

    Tình huống nêu ra vấn đề phải giải quyết.

    Tình huống có tính chất tổng hợp.

    Tình huống có tính chất tham gia trình diễn.

    Tình huống chứng minh: là một câu chuyện được đặt ra, không dựa vào một hoàn cảnh hoàn toàn có thực, mà chỉ có mục đích nói lên một sự thực mà tác giả muốn diễn tả. Những tình huống này không có gì để bàn cãi, vì người học hoặc chấp nhận sự thật hoặc không.

    Tình huống nêu ra vấn đề phải giải quyết: khác với tình huống về một vụ việc ở chỗ, vấn đề không được nói rõ ra. Việc đầu tiên của người học là phải tìm ra vấn đề. Với loại tình huống nêu vấn đề, thông thường người học được chỉ định thực hành những điều do tình huống đưa ra.

    Tình huống trình diễn: là loại tình huống tổng hợp, trình bày thông qua các vai diễn. Người học và giảng viên đều tham dự vào việc đóng các vai của tổ chức đã thể hiện, trở thành những người trong cuộc.

    Để thực hiện phương pháp dạy học bằng nghiên cứu tình huống, cần có các điều kiện sau:

    a) Người học đã được chuẩn bị trước về kiến thức, đã được học hay tự học về nội dung cơ bản của tình huống nghiên cứu và cách ra quyết định khi nghiên cứu tình huống.

    b) Người viết, hướng dẫn sử dụng nghiên cứu tình huống phải nắm vững kiến thức cơ bản chung về nội dung của nghiên cứu tình thuống, tốt nhất là đã gặp và giải quyết tốt tình huống được nêu để đảm bảo tình huống đó có đầy đủ các dữ kiện và giống như trong thực tế đã có (tình huống phải sát với thực tế).

    c) Dữ kiện phải đủ thông tin (không thừa, không thiếu, không “bẫy” người học). Tình huống phải được viết, in, phát cho từng người (hoặc chiếu toàn bộ lên màn hình) để người học có thể tự học, có điều kiện suy nghĩ, nghiên cứu, cân nhắc khi ra quyết định; không thể yêu cầu người học chỉ nghe đọc thoáng qua mà ra ngay quyết định.

    4. Cách tiến hành dạy học bằng nghiên cứu tình huống

    b) Xác định mục tiêu học tập.

    d) Nêu câu hỏi (để học viên ra quyết định). Có thể thực hiện theo hai cách:

    Câu hỏi mở: Yêu cầu người học tự đề ra biện pháp để giải quyết vấn đề trong nghiên cứu tình huốn, giúp cho người học được chủ động, thoải mái hơn.

    Câu hỏi đóng: Đề ra sẵn một số biện pháp để người học chọn ra biện pháp đúng, thích hợp nhất sau khi đã nghiên cứu, suy nghĩ trên các dữ kiện của tình huống đã cho.

    Câu hỏi đóng thường được trình bày theo hai dạng:

    – Đề ra hay 5 biện pháp, chọn lấy 1.

    f) Tổng kết (theo mục tiêu học tập).

    5. Quy trình biên soạn và dạy học theo phương pháp nghiên cứu tình huống

    – Xác định rõ mục tiêu học tập.

    – Để khoảng 50% thời gian giới thiệu lý thuyết hoặc những nguyên tắc cơ bản của nội dung bài học (có thể hướng dẫn cho học viên tự học, giảng viên khái quát lại).

    – Khoảng 10% thời gian, giảng viên tổng kết buổi trao đổi, củng cố nâng cao phần đã học.

    6. Trường hợp vận dụng phương pháp dạy học bằng nghiên cứu tình huống.

    – Dạy kỹ năng ra quyết định.

    – Dạy kỹ năng giải quyết vấn đề.

    7. Lợi ích của việc dạy học bằng nghiên cứu tình huống

    – Người học có điều kiện vận dụng kiến thức đã học để giải quyết tình huống, sự việc cụ thể xảy ra trên thực tế.

    – Giúp người học làm quen với cách giải quyết tình huống cụ thể ngay trong quá trình học tập ở trường.

    Nguồn: nhà xuất bản quân đội nhân dân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Qunr Lí Lớp Học Bằng Kỉ Luật Tích Cực
  • 4 Lợi Ích Bất Ngờ Mà Nghề Lập Trình Viên Mang Lại Trong Ngành Cntt
  • Những Lý Do Có Lợi Khi Học Lập Trình Sớm
  • 8 Lợi Ích Của Việc Cho Trẻ Học Lập Trình Robot Từ Nhỏ
  • Lợi Ích Của Việc Học Lập Trình Dành Cho Trẻ Em
  • Giảng Dạy Học Phần Luật Môi Trường Bằng Phương Pháp Tình Huống

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghiên Cứu Tình Huống Và Việc Áp Dụng Trong Giảng Dạy Sinh Viên Ngành Thư Viện
  • Học Liên Thông Là Gì? Lợi Ích Của Việc Học Liên Thông – Tìm Việc Làm Và Các Kỹ Năng Nơi Công Sở
  • Những Lợi Ích Khi Học Liên Thông Cao Đẳng Lên Đại Học
  • Liên Thông Là Gì? Lợi Ích Của Việc Học Liên Thông
  • 4 Lợi Ích Của Việc Liên Thông Cao Đẳng Dược Lên Đại Học Dược
  • Giảng dạy học phần Luật Môi trường bằng phương pháp tình huống đáp ứng chuẩn đầu ra, qua thực tiễn tại trường Đại học Luật, Đại học Huế

    Tóm tắt:

    Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mang đến những biến chuyển mạnh mẽ cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng tốt hơn những nhu cầu của con người. Tuy vậy, cơ chế thị trường cạnh tranh mạnh mẽ buộc người lao động thay vì chỉ cần đáp ứng yêu cầu về trình độ, kiến thức đơn thuần mà buộc họ phải sở hữu những hiểu biết nền tảng về kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp. Đây không chỉ là thách thức đối với người lao động mà là vấn đề chung mà các cơ sở đào tạo Đại học. Với phương châm nâng cao chất lượng đào tạo, Trường Đại học Luật, Đại học Huế đang nghiên cứu việc đưa phương thức dạy học bằng tình huống vào thực tiễn. Trong phạm vi bài viết, tác giả nghiên cứu thực tiễn áp dụng tình huống vào giảng dạy học phần Luật Môi trường, từ đó đưa ra những đề xuất giúp mô hình này phát huy tính hiệu quả, đáp ứng chuẩn đầu ra.

    1. Phương pháp giảng dạy bằng tình huống trong học phần Luật Môi trường đáp ứng chuẩn đầu ra

    Phương pháp giảng dạy bằng tình huống (Case-based teaching method) mang bản chất là tiến hành việc giảng dạy bằng cách sử dụng các tình huống điển hình, được Trường Đại học Stanford áp dụng vào năm 1994′, trong đó người học được đặt vào vị trí của chủ thể trong tình huống để tự đưa ra cách thức giải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất, bảo vệ cho quyền lợi của chính mình. Phương thức này trong xã hội hiện tại đã dần chứng minh được tính hiệu quả của nó, đặc biệt phù hợp với phương thức đào tạo theo học chế tín chi, lấy người học làm trung tâm, còn người giảng dạy đóng vai trò là người gợi mở vấn đề. Xuất phát từ ưu điểm này, phương thức giảng dạy bằng tình huống được biết đến là một công cụ hữu hiệu, được các cơ sở đào tạo Đại học lớn cả ở trong và ngoài nước áp dụng nhằm thay thế phương thức giảng dạy thụ động truyền thống. Với phương pháp nghiên cứu tình huống, học tập bằng tình huống, điểm hạn chế lớn nhất của phương thức giảng dạy “đọc – chép” hay “nghe – chép” truyền thống là tính chủ động của đối tượng thu nhận kiến thức – người học được cải thiện đáng kể. Giảng dạy bằng tình huống trong các cơ sở đào tạo nhân lực chuyên ngành pháp lý thể hiện sự phù hợp đặc biệt. Pháp luật được sinh ra, trở thành công cụ quan trọng trong việc vận hành, tổ chức, quản lý nhà nước và xã hội theo một trật tự, định hướng trong khuôn mẫu thống nhất được thừa nhận trở thành quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung đối với tất cả công dân trong xã hội. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế – xã hội, các quan hệ xã hội cũng biến chuyển theo hướng ngày càng phức tạp hơn. Điều này đặt ra yêu cầu cơ bản phải thường xuyên thay đổi, cập nhật hệ thống pháp lý để đảm bảo cơ chế vận hành, quản lý xã hội đáp ứng xu hướng thời đại và mang tính hiệu quả. Xu hướng này đặt ra không ít những thách thức đối với người học trong việc nắm bắt, cập nhật kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật, trên cơ sở đó vận dụng kiến thức lý luận nền tảng để giải quyết vấn đề phát sinh. Mỗi ngành luật trong hệ thống pháp luật lại hướng đến điều chỉnh một hoặc một số các quan hệ xã hội đặc trưng với các phương pháp vận hành khác nhau. Phương pháp học tập thông qua tình huống điển hình sẽ giúp sinh viên trang bị được kỹ năng làm việc chủ động, sáng tạo để tìm kiếm, lập luận, áp dụng các quy phạm pháp luật vào thực tiễn giải quyết tình huống. Bên cạnh đó, khi tham gia với vai trò là chủ thể trực tiếp trong tình huống, kỹ năng tư duy, lập luận nhạy bén của sinh viên cũng có cơ hội được tiếp cận, rèn giũa một cách tự nhiên và hiệu quả.

    2. Thực tiễn áp dụng phương pháp giảng dạy bằng tình huống tại Trường Đại học Luật, Đại học Huế

    Trường Đại học Luật, Đại học Huế từ lâu đã xem chất lượng nguồn nhân lực là nền tảng cốt lõi tư duy đào tạo của nhà trường. Với mục tiêu này, phương pháp giảng dạy bằng tình huống điển hình đang được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ, không riêng gì trong học phần Luật Môi trường mà các học phần trước đó như Luật Lao động, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Dân sự… đã tiến hành giảng dạy thử nghiệm thông qua phương pháp giảng dạy thông qua tình huống điển hình đáp ứng yêu cầu của chuẩn đầu ra. Mô hình này được triển khai cụ thể như sau:

    2.1. Mô hình giảng dạy thông qua tình huống

    Thứ nhất: Về nguồn của tình huống

    Việc sử dụng bộ tình huống vào quá trình giảng dạy học phần Luật Môi trường để đảm bảo tính hiệu quả, việc lựa chọn các tình huống cần có tính cân nhắc kỹ lưỡng, thông qua tình huống sinh viên có cơ hội thực hành việc giải quyết dựa trên các nền tảng lý luận đã được trang bị. Nhằm cung cấp cho sinh viên yếu tố “chân thực” nhất, giúp sinh viên có cái nhìn tổng thể đối với các vấn đề pháp lý có khả năng này sinh cao trên thực tế, các tình huống ưu tiên sử dụng chất liệu thực tế từ đời sống, là bản án, quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thông qua cách thức này, sinh viên tự rèn luyện khả năng tư duy độc lập, làm việc nhóm, vận dụng các kiến thức lý luận đã được trang bị để giải quyết vấn đề. Trên cơ sở này, đối chiếu, so sánh với cách thức giải quyết của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tự rút ra kinh nghiệm giải quyết thực tiễn cho bản thân. Tuy vậy, các bản án về môi trường tại Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại nếu có chi mang bản chất là giải quyết bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường (được giải quyết như bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong quan hệ pháp luật dân sự), các quyết định đa phần là quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường không phản ánh hết được bản chất kinh tế của quan hệ này. Vì vậy, tiến hành lồng ghép thêm các tình huống giả định có chọn lọc để sinh viên tiếp cận mô hình học tập bằng tình huống hiệu quả, bao quát hơn.

    Thứ hai: Về cấp độ tình huống

    Các tình huống được bố cục theo các nội dung cơ bản như kiểm soát ô nhiễm môi trường, đánh giá môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, giải quyết tranh chấp môi trường theo các cấp độ vận dụng từ thấp đến cao. Để đảm bảo hiệu quả giảng dạy bằng tình huống, hạn chế tình trạng tình huống yêu cầu tính vận dụng, tư duy logic quá sâu không phù hợp với toàn bộ sinh viên, gây ra tình trạng chán nản trong học tập, các tình huống được bố trí theo hướng vận dụng từ thấp đến cao. Ở cấp độ đơn giản, sinh viên có thể thông qua tình huống để áp dụng quy phạm pháp luật phù hợp để giải quyết, trong khi đó ở mức độ cao hơn, đòi hỏi sinh viên phải trải qua quá trình cân nhắc, lựa chọn quy phạm phù hợp để giải quyết, điển hình tách biệt được các yêu cầu trong giải quyết tranh chấp môi trường gồm thiệt hại về giá trị môi trường và thiệt hại về quyền lợi của người dân. Việc lựa chọn quy phạm buộc phải diễn ra chính xác, làm căn cứ xác định chủ thể được trao quyền trong khởi kiện, giải quyết tranh chấp môi trường.

    Thứ ba: Mục đích của bộ tình huống

    Tập trung giải quyết các hạn chế cơ bản của phương pháp giảng dạy truyền thống, phương pháp giảng dạy bằng tình huống, đồng thời hướng đến việc truyền đạt kiến thức cho sinh viên và tạo môi trường rèn luyện kỹ năng cho sinh viên. Như đã trình bày ở phần đầu, phương pháp giảng dạy bằng tình huống đề cao vai trò của người học. Chuyển từ vai trò của giảng viên, sinh viên là chủ thể trung tâm của hoạt động học tập, tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp thu kiến thức. Thông qua các tình huống được giảng viên đưa ra, sinh viên trải qua quá trình tư duy độc lập, hoạt động nhóm để xác định vấn đề pháp lý cần điều chinh từ đó mà giải quyết vấn đề trên thực tiễn. Quá trình này giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận hơn với các quy định pháp luật trong bảo vệ môi trường, từ đó mà việc ghi nhớ kiến thức cũng dễ dàng, hiệu quả hơn so với cách thức ghi nhớ để phục vụ kỳ thi kết thúc học phần vốn đã quen thuộc. Tham gia vào mô hình học tập này, sinh viên không thể trông chờ vào sự hỗ trợ từ đầu đến cuối của giảng viên mà phải tự vận động để lĩnh hội vấn đề. Đây là nền tảng quan trọng để sinh viên dần rèn luyện được các khả năng nền tảng của nghề luật như kỹ năng phân tích vấn đề, kỹ năng lập luận, trình bày quan điểm cá nhân và rút ra kinh nghiệm cho bản thân mình.

    2.2. Lợi ích của phương pháp giảng dạy qua tình huống

    Mô hình giảng dạy thông qua phương pháp tình huống bước đầu ghi nhận những kết quả khả quan đáng khích lệ. Những yếu tố tích cực được ghi nhận ở cả người học – sinh viên và người giảng dạy – giảng viên

    Thứ nhất, đối với sinh viên

    Cùng một tình huống đưa ra tuy nhiên mỗi sinh viên lại có thể lựa chọn một hướng đi riêng biệt trong việc áp dụng kiến thức vào giải quyết tình huống. Đây chính là nền tảng cho việc phát triển khả năng tư duy phản biện cho sinh viên, yếu tố nền tảng cần trang bị cho sinh viên ngành Luật. Mỗi quan điểm, cách thức giải quyết vấn đề mang lại một góc nhìn tiếp cận mới mẻ về vấn đề, giúp việc khai thác tình huống triệt để và trở nên hiệu quả hơn. Với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, một quan điểm cá nhân đưa ra không nên đặt nặng tính đúng, sai mà quan trọng hơn là việc tận dụng hiệu quả, giúp sinh viên học hỏi từ chính những quan điểm đó. Các quan điểm cá nhân sinh viên được đưa ra giúp cho kỹ năng phản biện, tư duy, lý luận của sinh viên được trang bị, rèn luyện hiệu quả, đồng thời giúp không khí lớp học trở nên năng động và hiệu quả hơn. Thực tiễn áp dụng mô hình này vào giảng dạy cho thấy, sinh viên được tạo cơ hội “nói” lên các quan điểm của riêng mình nên tự tin, mạnh dạn hơn trong việc xung phong phát biểu, trình bày, thuyết phục để bảo vệ cho quan điểm của mình, đồng thời phân tích, phản biện ngược lại quan điểm của các sinh viên khác giúp cho việc khai thác, phân tích vấn đề hiệu quả nhất.

    Thứ hai, đối với giảng viên

    Với phương thức giảng dạy truyền thống, sinh viên luôn ở thế bị động, luôn trong tâm thế là người nghe, người ghi chép và tiếp thu toàn bộ các quan điểm của giảng viên đưa ra đôi khi lại không thực sự hiệu quả. Hệ thống nền tảng lý luận trong góc độ pháp lý rất rộng lớn, kể cả trong lĩnh vực chuyên môn phụ trách giảng dạy, giảng viên cũng không thể chắc chắn việc nắm bắt toàn bộ các kiến thức. Điều này lại càng có căn cứ trong học phần Luật Môi trường vốn dĩ có phạm vi điều chỉnh rất rộng, mặc dù có tính độc lập nhưng cơ chế độc lập lại tương đối khi để thực hiện mục đích chính của ngành Luật này là bảo vệ môi trường cần đến sự hỗ trợ của các ngành luật khác vào quá trình thực thi. Với phương pháp giảng dạy bằng tình huống, giảng viên cụ thể hóa vai trò là người định hướng, người dẫn dắt, gợi mở vấn đề, phù hợp với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ. Trên cơ sở các định hướng chung, sinh viên sẽ tự tiếp cận, làm rõ và đưa ra định hướng giải quyết vấn đề. Tính đa dạng hóa trong cách thức tiếp cận, nhìn nhận vấn đề của sinh viên dẫn đến các cách thức giải quyết vấn đề khác nhau giúp giảng viên hoàn thiện hơn góc độ tiếp cận của mình. Nói cách khác, phương thức này đòi hỏi ở giảng viên phải luôn thường xuyên tiếp cận, trau dồi, nâng cao trình độ, chuyên môn để có hướng tiếp cận phong phú, đa diện hơn. Một khi việc tiếp cận vấn đề được rộng mở sẽ dễ dàng cân nhắc trong việc chọn lựa phương thức giải quyết cho vấn đề, đặt các vấn đề trong mối tương quan đối sánh lẫn nhau sẽ dễ dàng hơn trong việc làm nổi bật góc độ tiếp cận. Từ đó, dễ dàng hơn trong việc đánh giá tính hợp lý của các quan điểm, trên cơ sở đó, chọn lựa phương thức tối ưu nhất vừa đảm bảo các quy định của pháp luật, vừa mang tính linh hoạt, hiệu quả trên thực tế.

    2.3. Một số hạn chế, bất cập

    Với những yếu tố tác động tích cực, không quá khó hiểu khi phương thức giảng dạy bằng tình huống đang được nghiên cứu, phân tích kỹ lưỡng và áp dụng vào hoạt động giảng dạy trên thực tiễn tại Trường Đại học Luật, Đại học Huế. Tuy vậy, phương thức này trên thực tiễn áp dụng vẫn còn bộc lộ một số các hạn chế, vướng mắc có thể tiếp cận thông qua các vấn đề sau:

    Thứ nhất, số lượng sinh viên tham gia vào mô hình giảng dạy bằng tình huống chưa có sự đồng đều

    Mặc dù ghi nhận tính tích cực của sinh viên tham gia vào hoạt động học tập bằng tình huống, tuy nhiên điều này không báo quát toàn bộ sinh viên trong lớp học. Với bản chất là giai đoạn thử nghiệm, thay thế dần phương thức giảng dạy truyền thống, phương pháp này có thể xem là khá mới mẻ đối với cả giảng viên và sinh viên. Xét dưới góc độ sinh viên, vốn dĩ đã quá quen với phương thức học tập bị động theo phương thức cũ nên đòi hỏi sinh viên phải thay đổi, chuyển hoàn toàn sang thế chủ động nắm bắt mọi vấn đề, đưa ra, trình bày, phân tích, làm sáng tỏ, thậm chí phản biện lại các quan điểm khác là yêu cầu khá đột ngột. Phương thức giảng dạy thụ động vô hình chung đã làm triệt tiêu khả năng tư duy, sáng tạo, thể hiện quan điểm của sinh viên, từ đó cũng hạn chế đáng kể các kỹ năng phản biện, kỹ năng trình bày, lập luận cho quan điểm của mình trước đám đông khiến không ít các sinh viên “sợ” khi tham gia vào phương thức này, luôn có tâm trạng lo lắng khi giảng viên mời trình bày quan điểm, hướng giải quyết vấn đề sẽ không giải quyết được, ở một góc độ nhất định sẽ làm ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp cận kiến thức, khiến hiệu quả giảng dạy không đạt được như mong muốn của giảng viên.

    Thứ hai, giảng dạy bằng tình huống chưa thực sự rõ nét

    Như đã trình bày ở trên, bản chất việc giảng dạy tình huống là việc đưa ra các tình huống phát sinh từ thực tiễn đời sống cho sinh viên, buộc sinh viên muốn giải quyết hiệu quả vấn đề pháp lý phát sinh phải tự đặt mình vào trong tình huống được đưa ra. Với phương thức này, giảng viên chỉ dừng ở giai đoạn định hướng vấn đề, việc khai thác, đưa ra hướng giải quyết vấn đề thuộc về sinh viên. Tuy vậy, thực tiễn áp dụng cho thấy với thời gian trên lớp hạn chế cùng với việc thích nghi với phương pháp giảng dạy bằng tình huống còn khá chậm khiến trong một số trường hợp buổi học đã kết thúc nhưng sinh viên vẫn chưa tự giải quyết được vấn đề. Về lâu dài, xu hướng này khiến cho việc tiếp cận vấn đề lý luận và thực tiễn không mang tính liền mạch, ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo. Chưa kể đến trường hợp một tình huống đưa ra, sinh viên mất thời gian quá lâu để giải quyết sẽ khiến cho việc kiểm soát thời lượng các nội dung lý luận bị ảnh hưởng, tệ hơn có thể xảy ra tình trạng “đầu voi, đuôi chuột”, tiếp cận kỹ về các vấn đề ở đầu chương trình và sơ lược, để sinh viên tự tìm hiểu toàn bộ các nội dung cuối chương trình do không đủ thời gian. Để giải quyết vấn đề này, đôi khi để tiết kiệm thời gian, giảng viên sẽ tiếp tục gợi mở cho sinh viên cho đến khi sinh viên tự giải quyết được vấn đề. Trong một số trường hợp, cách thức này lại đi vào lối truyền thống với phương thức truyền đạt bị động khi giảng viên tự giải quyết vấn đề từ đầu đến cuối. Tựu chung lại, vấn đề này xảy ra do cơ chế thích nghi với phương thích giảng dạy bằng tình huống chưa đảm bảo đối với sinh viên và sự thiếu kinh nghiệm thực tế trong sử dụng phương pháp tình huống vào giảng dạy thực tiễn khiến đôi khi giảng viên gặp khó khăn trong kiểm soát “nhịp độ” của buổi dạy. Đối với các sinh viên không có mục đích học tập, giảng dạy bằng tình huống có thể là “cơ hội tốt” cho việc nghỉ ngơi, giải lao hoặc làm các công việc cá nhân, sự tập trung của nhóm sinh viên này chỉ quay trở lại khi có sự nhắc nhở từ giảng viên hoặc khi có quan điểm được đưa ra bởi các sinh viên khác và muốn ghi chép lại.

    Thứ ba, giảng dạy bằng tình huống có thể gây nên sự hoài nghi về năng lực của cơ quan nhà nước

    Các tình huống được lựa chọn đưa vào giảng dạy là các tình huống điển hình thay vì lựa chọn tràn lan. Yếu tố thực tiễn của tình huống được ưu tiên lựa chọn giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận với các văn bản đặc thù trong lĩnh vực pháp lý, tạo tính thực tế trong quá trình tiếp cận so với các tình huống giả định. Các tình huống trong học phần Luật Môi trường cũng ưu tiên sử dụng nội dung các bản án, quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho sinh viên tự giải quyết bằng quan điểm của mình, sau đó đối chiếu với cách thức giải quyết vấn đề của các văn bản có hiệu lực pháp lý được ban hành để xem xét tính đúng, sai của vấn đề. Ở góc độ tích cực, sinh viên trước nhất sẽ rèn luyện được kỹ năng tư duy độc lập để làm sáng tỏ vấn đề, sau đó dựa trên nội dung bản án, quyết định có hiệu lực đã ban hành để đối chiếu tính hợp lý/ bất hợp lý trong quan điểm giải quyết của bản thân, kết quả là học hỏi, rút kinh nghiệm cho bản thân khá hiệu quả. Tuy vậy, nhìn nhận ở góc độ ngược lại, một số bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền “có vấn đề”, có xảy ra sai trái trong các văn bản đó được ban hành, gây ảnh hưởng đến xã hội, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ. Xu hướng này có khả năng dễ dẫn đến hệ quả là sự hoài nghi của sinh viên đối với hệ thống pháp luật cũng như năng lực của các cán bộ trong các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi ban hành ra các bản án, quyết định có vấn đề, gây ảnh hưởng xấu đến nhận thức của sinh viên, đặc biệt là sinh viên chuyên ngành pháp lý đang đào tạo.

    3. Kiến nghị nâng cao hiệu quả giảng dạy bằng phương pháp tình huống trong giáo dục Đại học

    Với các tiếp cận đã làm sáng tỏ cho thấy phương pháp giảng dạy bằng tình huống đang chứng minh tính phù hợp là phương pháp thay thế phương thức đào tạo truyền thống, coi người học là trung tâm của hoạt động giảng dạy và tiếp nhận tri thức trên cơ sở định hướng, dẫn dắt của người giảng dạy. Trong tương lai, mô hình này cần được tiếp tục phát triển trên cơ sở giải quyết các vấn đề cốt lõi còn tồn tại như sau:

    Thứ nhất, đối với giảng viên

    Trong quá trình đưa nội dung các tình huống vào quá trình giảng dạy, giảng viên cần hiểu rõ vai trò, tầm quan trọng phương thức giảng dạy bằng tình huống điển hình đối với học phần Luật Môi trường, trên cơ sở này khoanh vùng nội dung những kiến thức trọng tâm muốn truyền dạy đến sinh viên trong từng buổi học để có sự lựa chọn nội dung tình huống hợp lý. Với hoạt động này, giảng viên sẽ đảm bảo được tính hiệu quả bước đầu của giảng dạy bằng tình huống khi lựa chọn chính xác vấn đề pháp lý cần giải quyết, giúp sinh viên nắm được các vấn đề trọng tâm, tránh lan man, dàn trải, ảnh hưởng đến hiệu quả học tập, giúp sinh viên cũng dễ dàng hơn trong việc khoanh vùng trọng tâm về đối tượng điều chỉnh của các văn bản pháp lý để lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp cũng dễ dàng hơn, đảm bảo hiệu quả giải quyết vấn đề.

    Giảng viên cần thực hiện tốt vai trò gợi mở các vấn đề, định hướng giải quyết vấn đề từ tình huống cho sinh viên, giúp hoạt động học tập của sinh viên từ tình ống có sự thu hẹp về phạm vi và tác động trực tiếp vào vấn đề, tránh lan man để tiết kiệm thời gian hạn hẹp trên giảng đường. Giảng viên cần giải thích chi tiết về tình huống cũng như làm rõ vai trò của sinh viên khi tham gia vào giải quyết tình huống. Tuy nhiên, cần lưu ý đến vai trò định hướng giải quyết vấn đề của giảng viên, kể cả hoạt động giải thích chi tiết tình huống cũng chỉ nhằm mục đích định hướng, thu gọn phạm vi nghiên cứu các văn bản pháp luật cho sinh viên khi xác định đúng vấn đề, giúp tiết kiệm thời gian cho việc đưa ra các quan điểm và lập luận cá nhân để làm rõ vấn đề thay vì làm thay cho sinh viên. Ngoài ra, để giúp việc giảng dạy bằng tình huống hiệu quả hơn, giảng viên cần tự trau dồi kinh nghiệm khi thực hiện phương pháp này để giải quyết, kiểm soát tốt hoạt động giảng dạy, đảm bảo hiệu quả truyền đạt.

    Thứ hai, đối với sinh viên

    Điểm mấu chốt tạo nên sự thành công cho phương thức giảng dạy bằng tình huống là sự nỗ lực của bản thân sinh viên. Bởi lẽ, cho dù giảng dạy bằng tình huống hay giảng dạy theo phương thức truyền thống qua thực tiễn cho thấy, sinh viên mới chính là chủ thể quyết định đến hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực. Phương pháp giảng dạy tiên tiến, hiệu quả đóng vai trò tạo lập nền tảng, môi trường, cơ hội cho sinh viên tham gia, thử thách và rèn luyện chính mình về kiến thức, kỹ năng chứ không thể quyết định được hàm lượng kiến thức, số lượng, chất lượng kỹ năng sinh viên nắm giữ mà phụ thuộc hoàn toàn vào sinh viên. Sinh viên cần tự nhận thức rõ về mục đích học tập của mình, tạo động lực cho việc thực hiện các hoạt động của giảng dạy bằng tình huống như đọc trước tình huống, phân tích, làm sáng tỏ vấn đề; tư duy, lý luận độc lập; phản biện quan điểm và kết thúc vấn đề. Để thực hiện được mục đích học tập đặt ra, sinh viên nhất thiết phải loại bỏ tư duy hưởng thụ, ỷ lại, tư duy hưởng thụ thành quả lao động của sinh viên khác, mà thay vào đó là quan điểm, suy nghĩ của cá nhân. Cho dù là quan điểm đúng hay sai cũng là thành quả lao động đáng được ghi nhận, trường hợp chưa chính xác, bản thân sinh viên cũng đã thành công trong việc học hỏi kinh nghiệm từ những lỗi sai đó để hoàn thiên tốt hơn. Có được nhận thức đúng đắn, sinh viên sẽ trở nên chủ động, tích cực trong các buổi học, tham gia hợp tác có hiệu quả với giảng viên trong hoạt động giảng dạy.

    4. Kết luận

    Không phải bàn luận nhiều về tính hiệu quả của việc giảng dạy bằng phương thức truyền thống khi không phải nói quá về việc xem đây là bước ngoặt đáng ghi nhận trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Thực tiễn áp dụng phương pháp này vào việc giảng dạy học phần Luật Môi trường tại Trường Đại học Luật, Đại học Huế giúp nhìn nhận những ưu điểm và cả những hạn chế của việc giảng dạy bằng tình huống trên thực tiễn nhằm đưa ra những giải pháp cơ bản đối với cả giảng viên và sinh viên trong hoạt động giảng dạy, giúp phát huy tối đa tính hiệu quả mà phương thức này mang lại./.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Quyết định số 206/QĐ-ĐHL-ĐT ban hành ngày 29/5/2017 về việc điều chinh và ban hành chuẩn đầu ra đào tạo trình độ đại học ngành Luật.
    2. Quyết định số 207/QĐ-ĐHL-ĐT ban hành ngày 29/5/2017 về việc điều chinh và ban hành chuẩn đầu ra đào tạo trình độ đại học ngành Luật Kinh tế.
    3. Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Học tập học phần Luật Môi trường, Nxb Công an nhân dân./.

    Phan Vĩnh Tuấn Anh – ThS. Giảng Viên Đại học Luật, Đại học Huế.

    Share by Fanpage Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn

    Chia sẻ bài viết:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ứng Dụng Phương Pháp Giảng Dạy Tình Huống Trong Đào Tạo Ngành Luật
  • Những Lợi Ích Khi Cho Trẻ Em Học Lập Trình Sớm – Hourofcode Vietnam
  • Trường Chuyên, Lớp Chọn
  • Tại Sao Cần Phải Học, Không Học Thì Làm Được Gì
  • 8 Cách Học Kanji Hiệu Quả Vèo Vèo, Tiến Bộ Chỉ Sau 3 Ngày!
  • Ứng Dụng Phương Pháp Giảng Dạy Tình Huống Trong Đào Tạo Ngành Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Giảng Dạy Học Phần Luật Môi Trường Bằng Phương Pháp Tình Huống
  • Nghiên Cứu Tình Huống Và Việc Áp Dụng Trong Giảng Dạy Sinh Viên Ngành Thư Viện
  • Học Liên Thông Là Gì? Lợi Ích Của Việc Học Liên Thông – Tìm Việc Làm Và Các Kỹ Năng Nơi Công Sở
  • Những Lợi Ích Khi Học Liên Thông Cao Đẳng Lên Đại Học
  • Liên Thông Là Gì? Lợi Ích Của Việc Học Liên Thông
  •  

    Ths. Vũ Thị Thúy

    Giảng viên khoa Luật hình sự, Trường Đại học Luật TP.HCM

    Tạp chí khoa học pháp lý, năm 2010.

     

    1. Đặt vấn đề

    Ngày nay, trên thế giới tồn tại hai triết lý giáo dục: thứ nhất, giáo dục trang bị cho người học một lượng kiến thức tối đa làm nền tảng vững chắc cho các hoạt động nghề nghiệp sau này. Thứ hai, giáo dục cung cấp cho người học kỹ năng xử lý các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, công việc hơn là cung cấp kiến thức cho người học hơn là chỉ chú trọng việc trang bị tri thức cho người học. Phương pháp dạy và học bằng tình huống phần nào đáp ứng được yêu cầu đó.

    Phương pháp dạy và học bằng tình huống lần đầu tiên được phát triển tại đại học MacMaster ở Hamilton, Canada từ đầu thế kỷ 20. Việc sử dụng các tình huống như một phương pháp giảng dạy mới trong khoa học xã hội đã được phát triển bởi nhà xã hội học Barney Glaser và Anselm Strauss vào năm 1967. Tuy nhiên, phương pháp giảng dạy tình huống chỉ được áp dụng phổ biến trong vài thập niên gần đây, nhất là trong lình vực giảng dạy kinh doanh và luật. (2) Tình huống là những thông tin trong đó có chứa đựng mâu thuẫn nhận thức (muốn biết mà chưa biết) không thể giải quyết chỉ bằng sự tái hiện.

    1. Những ưu điểm và hạn chế của phương pháp giảng dạy tình huống

    Với tư cách là một phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm trung tâm, giảng dạy bằng tình huống có những ưu điểm sau đây:

    Thứ hai, phương pháp giảng dạy bằng tình huống giúp người học nâng cao khả năng tư duy độc lập, sáng tạo. Nếu trong phương pháp giảng dạy truyền thống, quá trình tiếp nhận thông tin diễn ra gần như một chiều giữa giảng viên và sinh viên, trong đó giảng viên là người truyền đạt tri thức và sinh viên là người tiếp nhận tri thức đó thì phương pháp giảng dạy tình huống tạo ra một môi trường học tích cực có sự tương tác giữa học viên và giảng viên, giữa các học viên với nhau. Trong đó, học viên được đặt vào trong một hoàn cảnh buộc họ phải ra quyết định để giải quyết tình huống và họ phải dùng hết khả năng tư duy, kiến thức vốn có của mình để lập luận bảo vệ quết định đó. Họ không bị phụ thuộc vào ý kiến và quyết định của giảng viên khi giải quyết một tình huống cụ thể mà có thể đưa ra các phương án giải quyết sáng tạo. Bên cạnh đó, dạy học bằng tình huống còn giúp người học có thể chia sẻ tri thức, kinh nghiệm cho nhau; học được những ý kiến, quan điểm, thông tin từ những bạn học khác làm phong phú hơn vốn tri thức của họ.

    Thứ ba, dạy và học bằng tình huống giúp người học có cơ hội để liên kết, vận dụng các kiến thức đã học được. Để giải quyết một tình huống, học viên có thể phải vận dụng đến nhiều kiến thức lý thuyết khác nhau trong cùng một môn học hoặc của nhiều môn học khác nhau. Ví dụ, để giải quyết một tình huống thực tế về vụ một nhóm người chưa thành niên có hành vi dùng dao và gậy cố ý gây thương tích cho người khác, người học phải vận dụng các kiến thức về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, lỗi, đồng phạm, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, xử lý các công cụ, phương tiện phạm tội…

    Thứ tư, nghiên cứu tình huống giúp người học có thể phát hiện ra những vấn đề cuộc sống đặt ra nhưng chưa có căn cứ pháp lý hoặc cơ sở lý thuyết để áp dụng giải quyết. Cuộc sống vốn đa dạng và phong phú nên không loại trừ khả năng phát sinh những sự kiện mà nhà làm luật hoặc các nhà nghiên cứu chưa dự liệu được. Trong tình huống này, khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của người học được vận dụng, phát huy tối đa và không loại trừ khả năng người học sẽ tìm ra được những cách lý giải mới.

    Thứ năm, phương pháp giảng dạy tình huống giúp cho người học có thể rèn luyện một số kỹ năng cơ bản như kỹ năng làm việc nhóm, tranh luận và thuyết trình. Đây là những kỹ năng quan trọng giúp cho người học có thể thành công, nhất là đối với sinh viên luật. Học bằng tình huống giúp người học dễ dàng nhận ra những ưu điểm và hạn chế của bản thân khi họ luôn có môi trường thuận lợi để so sánh với các học viên khác trong quá trình giải quyết tình huống. Từ đó họ sẽ có cơ hội học hỏi kỹ năng làm việc nhóm, tranh luận và thuyết trình từ những học viên khác. Phương pháp học bằng tình huống cũng giúp người học phát triển các kỹ năng phát biểu trước đám đông một cách khúc chiết, mạch lạc, dễ hiểu; phân tích vấn đề một cách logic; hiểu biết thực tế sâu rộng, biết vận dụng linh hoạt lý thuyết để giải quyết các tình huống thực tế; biết phản biện, bảo vệ quan điểm cá nhân, đồng thời có khả năng thương lượng và dễ dàng chấp nhận các ý kiến khác biệt, biết lắng ghe và tôn trọng ý kiến của người khác để làm phong phú hơn vốn kiến thức của mình.

    Nếu mục tiêu của giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay là dạy kiến thức, kỹ năng và thái độ thì phương pháp giảng dạy tình huống nếu được áp dụng tốt có thể đạt được cả ba mục tiêu này.

    Cuối cùng, giảng viên, với vai trò là “điều phối viên” trong một lớp học bằng tình huống vừa có thể hướng dẫn, chia sẻ tri trức, kinh nghiệm cho sinh viên, đồng thời họ cũng có thể học hỏi được những kinh nghiệm, thông tin, giải pháp mới từ học viên để làm giàu vốn tri thức và phong phú hơn bài giảng của mình, nhất là từ những học viên đã có quá trình công tác thực tiễn. Qua quá trình hướng dẫn sinh viên nghiên cứu tình huống, giảng viên cũng có thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót của tình huống và có những điều chỉnh nội dung tình huống sao cho phù hợp.

    Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, phương pháp dạy và học bằng tình huống còn có một số điểm hạn chế nhất định.

    Thứ hai, phương pháp học bằng tình huống đòi hỏi tinh thần tự học, thái độ làm việc nghiêm túc và khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, năng động. Tuy nhiên, hiện nay có khá nhiều học viên, sinh viên không quen với phương pháp học bằng tình huống, họ không có kỹ năng làm việc nhóm, thụ động, không hợp tác nên làm giảm hiệu quả của phương pháp giảng dạy bằng tình huống.

    Thứ ba, phương pháp dạy và học bằng tình huống tốn nhiều thời gian của người học. Trong phương pháp học truyền thống, trong một khoảng thời gian nhất định, giảng viên có thể cung cấp một lượng kiến thức tương đối hoàn chỉnh, hệ thống, logic cho sinh viên. Cùng lượng kiến thức đó, trong phương pháp học bằng tình huống, sinh viên phải tự mình tìm kiếm và đọc tài liệu, xử lý thông tin nên sẽ tốn thời gian hơn gấp nhiều lần so với phương pháp học truyền thống.

    1.3. Nguyên tắc và kỹ năng viết tình huống luật

    Khi xây dựng một hệ thống các tình huống để giảng dạy cho một môn học cụ thể, người viết tình huống cần cân nhắc một số vấn đề như: lựa chọn tình huống nào, những chi tiết nào trong tình huống đó được giữ lại, chi tiết nào nên loại bỏ để đạt được mục tiêu của bài giảng. Qua kinh nghiệm giảng dạy môn Luật hình sự và quá trình nghiên cứu và xây dựng các tình huống cho môn Lý luận định tội, chúng tôi rút ra một số kinh nghiệm về nguyên tắc và kỹ năng viết tình huống luật như sau:

    Thứ hai, người xây dựng tình huống cần lưu ý tới tính chất thực tế của của vụ án để làm cho người tiếp nhận các sự kiện trong tình huống đó có cảm giác họ đang nghiên cứu một vụ án có thật. Khi xây dựng tình huống luật, chúng ta không chỉ nêu chi tiết, cụ thể các sự kiện diễn ra trong vụ án mà cần đưa ra những thông tin xác thực về thời gian phạm tội, địa điểm vụ án diễn ra cũng như tên bị can, bị cáo, người bị hại… Người viết tình huống cần tránh đưa ra những thông tin mang tính chất giả định như: “Anh A trộm cắp tài sản của B ở tỉnh X vào đầu năm 2009”, mà cần cụ thể hoá thông tin như: “Khoảng 3 giờ sáng ngày 03/01/2009, Nguyễn Văn Hạnh lẻn vào nhà anh Mai Văn Lâm ở số nhà 123/15, đường Bùi Đình Túy, Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh trộm cắp xe gắn máy….”. Việc đưa ra thông tin “thật” này tạo cho người học tâm lý như họ đang nghiên cứu về một vụ án có thật, với những người thật, việc thật và họ được đặt vào trong hoàn cảnh giống như đang được giao một trọng trách với một vai trò cụ thể như thẩm phán, luật sư hay kiểm sát viên trong việc giải quyết vụ án đó. Khi đó họ sẽ cảm thấy hứng thú và có trách nhiệm với những quyết định, lập luận và giải thích của họ trong quá trình nghiên cứu tình huống.

    Thứ tư, một tình huống có thể phục vụ để giảng dạy cho một môn học, một bài học hoặc một phần nội dung của bài học. Khi xây dựng tình huống, người viết tình huống cần xác định rõ mục tiêu của việc nghiên cứu tình huống đó để lựa chọn một lượng thông tin vừa đủ cung cấp cho người học. Người viết tình huống cần đặt những câu hỏi như: Tình huống này được sử dụng để giảng dạy bài nào? Mục tiêu của việc nghiên cứu tình huống này là gì? Thông qua việc nghiên cứu tình huống này, sinh viên có thể học được kiến thức lý thuyết gì? Những kỹ năng nào sinh viên có thể đạt được khi nghiên cứu tình huống đó?… Những thông tin đưa ra trong tình huống chỉ cần ở mức độ vừa và đủ để giúp học viên có thể đạt được mục tiêu của bài học. Nếu lượng thông tin đưa ra quá nhiều, có sự kết hợp nhiều nội dung trong một tình huống sẽ gây ra sự nhàm chán, mất thời gian và có thể vấn đề không được giải quyết triệt để, sẽ phá vỡ kết cấu bài giảng. Ví dụ, khi đưa ra một tình huống giúp sinh viên nghiên cứu bài “Quyết định hình phạt”, người viết tình huống đưa ra các tình tiết rắc rối khiến sinh viên tranh luận sôi nổi về vấn đề người thực hiện hành vi trong tình huống đó có lỗi hay không? Đó là lỗi gì? Người đó có phạm tội không?… trên cơ sở đó mới có căn cứ để quyết định hình phạt. Sự tranh luận sa đà vào những vấn đề nêu trên sẽ làm cho sinh viên không hiểu được nhiệm vụ của họ là đang nghiên cứu bài “Quyết định hình phạt” và hệ quả là sinh viên sẽ không nắm được những kiến thức lý thuyết cũng như các kỹ năng của bài “Quyết định hình phạt”. Ngược lại, nếu tình huống quá đơn giản, những thông tin mà tình huống cung cấp không đủ để giải quyết vấn đề sẽ làm cho người học cảm giác như bị đánh đố và họ không có đủ dữ liệu để giải quyết tình huống này. Khi đó, mục tiêu của bài học sẽ không đạt được.

    Thứ năm, người viết tình huống cần có sự hiểu biết sâu sắc về người học để xây dựng tình huống phù hợp với khả năng của học viên. Tình huống quá khó sẽ làm cho học viên cảm thấy công việc quá sức và cảm giác tự ti sẽ làm cho người học không còn hứng thú với môn học. Ngược lại, tình huống quá dễ sẽ làm học viên thấy môn học tẻ nhạt, buồn chán, không hữu ích. Vấn đề khó khăn của người viết tình huống là cần hiểu rõ năng lực của học viên, đặt mình vào địa vị của người học để xây dựng những tình huống ở mức độ từ dễ đến khó trong khả năng của phần lớn học viên để họ có thể thực hiện nhiệm vụ của mình được đặt ra trong tình huống và họ thấy hứng thú với môn học.

    1.4. Nguồn thông tin dữ liệu giúp xây dựng ngân hàng tình huống

    Để đảm bảo độ chân thực của tình huống, chúng ta không nên tự sáng tạo ra các tình huống mà cần lấy “chất liệu” từ cuộc sống. Vì vậy, tìm kiếm nguồn thông tin có vai trò quan trọng giúp chúng ta có thể xây dựng được tình huống tốt. Thông tin dữ liệu xây dựng ngân hàng tình huống có thể khai thác từ các nguồn sau:

    – Từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

    Các bản án và quyết định của Toà án hoặc hồ sơ giải quyết vụ việc của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là nguồn thông tin quan trọng giúp chúng ta xây dựng ngân hàng tình huống. Ưu điểm của nguồn thông tin này là chúng ta có một bộ hồ sơ hoàn chỉnh về quá trình giải quyết vụ việc từ khi bắt đầu đến khi kết thúc. Vì vậy, người viết tình huống có nguồn dữ liệu dồi dào và khả năng lựa chọn rộng. Họ có thể khai thác nhiều vấn đề trong cùng một hồ sơ vụ án để phục vụ cho nhiều nội dung giảng dạy khác nhau trong chương trình. Khi chúng ta xây dựng tình huống để giảng dạy cho một môn học hoặc một bài học, chúng ta nên lấy dữ liệu từ một hồ sơ vụ án hoàn chỉnh; khi xây dựng tình huống cho một bài học hoặc một nội dung trong bài học, chúng ta có thể chọn lọc một phần dữ liệu trong hồ sơ đó phù hợp với mục đích và yêu cầu của bài giảng. Nguồn dữ liệu từ các cơ quan nhà nước phản ánh một cách chân thực và sống động nhất thực tế xã hội. Thông qua hồ sơ vụ án, người viết tình huống còn có thể biết được quan điểm của cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết vụ việc đó và phát hiện độ “vênh” giữa lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, có một điểm hạn chế đáng kể trong việc khai thác nguồn dữ liệu từ các cơ quan có thẩm quyền là chúng ta khó tiếp cận thông tin. Khó khăn này xuất phát từ việc các cơ quan nhà nước thường không muốn cung cấp thông tin cho người nghiên cứu hoặc có thể một phần các dữ liệu từ các hồ sơ vụ việc đó là những thông tin thuộc bí mật nhà nước hoặc bí mật công tác nên chúng ta không thể tiếp cận và sử dụng làm tình huống để giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

    – Từ hoạt động thực tiễn của giảng viên

    Ngoài nhiệm vụ chính là giảng dạy tại các trường đại học, ngày nay có rất nhiều giảng viên là cộng tác viên, tư vấn cho các doanh nghiệp, văn phòng luật sư, công ty luật hoặc hội thẩm nhân dân tại các tòa án. Trong quá trình hoạt động thực tiễn này, giảng viên sẽ có một vốn tri thức và kinh nghiệm phong phú về lĩnh vực giảng dạy của mình và đây sẽ trở thành một nguồn thông tin quan trọng cho họ khi xây dựng các tình huống phục vụ cho hoạt động giảng dạy. Những kinh nghiệm từ hoạt động thực tiễn này có ưu điểm là được rút ra từ chính những vụ việc mà họ phải giải quyết nên người viết tình huống không những có nguồn thông tin khá đầy đủ mà họ còn có sự hiểu biết sâu sắc về vụ việc.

    – Từ người học

    – Từ báo chí            

    Báo chí cung cấp một nguồn thông tin phong phú và đa dạng cho người viết tình huống. Thông thường, những vụ việc được nêu lên trên báo chí đều là những tình huống “có vấn đề” do cuộc sống đặt ra. Điều quan trọng là người viết tình huống cần nhìn thấy được “vấn đề” pháp lý được nêu ra trong một số vụ việc bị báo chí đưa tin và khai thác nội dung thông tin một cách hiệu quả. Người nghiên cứu tình huống luật có thể khai thác thông tin từ các tờ báo như Tuổi Trẻ, Thanh Niên; các trang web như chúng tôi chúng tôi hoặc các tạp chí chuyên ngành như tạp chí Tòa án, Luật học, Khoa học Pháp lý, Nhà nước và Pháp luật… Tuy nhiên, những thông tin từ báo chí thường được tóm tắt ngắn gọn hoặc được nhìn nhận qua “lăng kính” chủ quan của người viết nên gây một số khó khăn nhất định cho người khai thác tình huống. Vì vậy, người viết tình huống cần có những chỉnh sửa hợp lý để phù hợp với nội dung và yêu cầu của bài giảng.

    Có ý kiến cho rằng giảng viên có thể sử dụng các tình huống có sẵn từ các tài liệu nước ngoài, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Các tình huống này được chuẩn bị hết sức chuyên nghiệp bởi các chuyên gia. Tuy nhiên, đôi khi các dữ kiện trong tình huống này rất xa lạ với môi trường kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam, khi các tiền đề về thị trường, doanh nghiệp và khách hàng còn rất khác biệt. Quan trọng hơn cả là các tình huống này không phù hợp với hệ thống pháp luật của Việt Nam. Vì vậy, chúng ta có thể nghiên cứu các tình huống của nước ngoài để học hỏi cách thức xây dựng tình huống mà không nên lấy nguyên mẫu tình huống của nước ngoài để giảng dạy luật ở Việt Nam

    Nguồn thông tin là yếu tố rất quan trọng để xây dựng một tình huống tốt. Những thông tin này có thể được so sánh với nguyên liệu của quá trình sản xuất. Người viết tình huống không thể ngồi nghĩ ra các tình huống mà không xuất phát từ cuộc sống. Vì vậy, việc lựa chọn nguồn thông tin để khai thác tình huống sẽ giúp người viết tình huống tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức, đồng thời có những tình huống hay, sinh động và đạt được các mục đích, yêu cầu của bài giảng.

    1.5. Tổ chức giảng dạy bằng tình huống

    Một trong những nhân tố quan trọng đóng góp vào sự thành công trong phương pháp giảng dạy tình huống là hoạt động tổ chức giảng dạy. Khác với phương pháp thuyết giảng, giảng viên là người diễn thuyết đóng vai trò là diễn viên và sinh viên đóng vai trò là các khán giả thì trong phương pháp giảng dạy tình huống, giảng viên đóng vai trò như một người quản trò, một người tổ chức hoạt động giảng dạy. Vì vậy, nếu trong một lớp thuyết giảng, có thể một giảng viên giảng dạy đồng thời cho hàng trăm sinh viên thì trong lớp học bằng phương pháp tình huống, giảng viên chỉ có thể kiểm soát và tổ chức hoạt động giảng dạy cho một số lượng sinh viên hạn chế. Hơn nữa, nếu trong phương pháp thuyết giảng, giảng viên gần như đóng vai trò là người độc thoại nên sự giao tiếp, tương tác giữa người dạy và người học không nhiều thì trong phương pháp giảng dạy tình huống, sự trao đổi giữa người dạy và người học diễn ra thường xuyên. Vì vậy, người dạy cần phải tạo ra được sự cởi mở trong môi trường học tập ngay từ đầu giữa học viên và giảng viên. Ngay từ đầu khoá học, giảng viên nên dành thời gian để làm quen với học viên, đồng thời trao đổi về cách thức làm việc trong toàn khóa học.

    Có nhiều cách thức để vận dụng các tình huống vào hoạt động giảng dạy. Các tình huống đơn giản, chúng ta có thể dùng làm các ví dụ minh họa và mở rộng vấn đề cho từng đề mục lý thuyết. Một số tình huống tương đối phức tạp hơn, giảng viên có thể sử dụng để giảng dạy xuyên suốt cả một môn học. Mỗi buổi học đều dùng tình huống này nhưng triển khai ở các bước khác nhau, khai thác các nội dung khác nhau trong cùng tình huống đó. Đây là cách giảng viên cung cấp tính liên kết các nội dung cho người học. Những tình huống phức tạp, có thể giao cho nhóm sinh viên giải quyết trong một học kỳ. Các tình huống lớn có tính chất liên môn học – điều này hiện nay một trường ở Mỹ đã làm, chúng ta có thể làm dưới hình thức một môn học tổng hợp chỉ dạy bằng tình huống hoặc thay hẳn cách làm hiện nay đối với thực tập tốt nghiệp Ngô Tứ Thành, “Giải pháp đổi mới phương pháp giảng dạy ở các trường Đại học ICT hiện nay”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học xã hội và nhân văn 24 (2008), tr. 237-242.

    http://en.wikipedia.org/wiki/Case_study#Case_selection

    PGS. TS. Lê Phước Lộc, “Dạy học tình huống và vận dụng trong dạy học thiên văn”, Kỷ yếu Hội nghị Cải tiến Phương pháp dạy học Đại học, Khoa Sư phạm Đại học Cần Thơ, năm 2000, tr. 29-35.

    Nguyễn Quang Vinh, “Đào tạo theo Phương pháp nghiên cứu tình huống”, http://www.baovietnhantho.com.vn/newsdetail.asp?websiteId=3&newsId=633&catId=33&lang=VN

    Ths. Vũ Thế Dũng, Khoa quản lý công nghiệp, Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh, “Phương pháp nghiên cứu tình huống trong giảng dạy”, http://diendan.edu.net.vn/forums/thread/8809.aspx.

     

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Lợi Ích Khi Cho Trẻ Em Học Lập Trình Sớm – Hourofcode Vietnam
  • Trường Chuyên, Lớp Chọn
  • Tại Sao Cần Phải Học, Không Học Thì Làm Được Gì
  • 8 Cách Học Kanji Hiệu Quả Vèo Vèo, Tiến Bộ Chỉ Sau 3 Ngày!
  • Kanji – Khó Khăn Hóa Lợi Thế! Tại Sao Nên Học Kanji?|Kênh Du Lịch Locobee
  • Phương Pháp Dạy Học Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Giáo Dục Kỉ Luật Tích Cực Bao Cao Gdkltc Hung Ppt
  • Học Liên Thông Là Gì? Lợi Ích Của Việc Học Liên Thông
  • Liên Thông Cao Đẳng Y Dược Là Gì? Lợi Ích Của Việc Học Liên Thông Cao Đẳng Y Dược
  • Lợi Ích Của Việc Học Liên Thông Kế Toán Tại Utm
  • Những Lợi Ích Mà Việc Học Toán Mang Lại
  • Từ những năm 1960, GV đã làm quen với thuật ngữ “dạy học nêu vấn đề”, nhưng cho đến nay vẫn chưa vận dụng thành thạo. Cho người cho rằng thuật ngữ “nêu vấn đề” có thể gây hiểu lầm là GV nêu ra vấn đề để HS giải quyết, do đó đề nghị thay “nêu vấn đề” bằng “gợi vấn đề”. Thực ra, trước hết cần tập dượt cho HS khả năng phát hiện vấn đề từ một tình huống trong học tập hoặc trong thực tiễn. Đây là một khả năng có ý nghĩa rất quan trọng đối với một người và không phải dễ dàng mà có được. Mặt khác, sự thành đạt trong cuộc đời không chỉ tùy thuộc vào năng lực phát hiện kịp thời những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn mà bước quan trọng tiếp theo là giải quyết hợp lí những vấn đề được đặt ra. Vì vậy, ngày nay người ta có xu hướng dùng thuật ngữ “dạy học giải quyết vấn đề” hoặc “dạy học đặt và giải quyết vấn đề” hoặc “dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề”.

    Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là PPDH trong đó GV tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác. Đặc trưng cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là “tình huống gợi vấn đề” vì “Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề” (Rubinstein).

    Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một tình huống gợi ra cho HS những khó khăn về lí luận hay thực hành mà họ thấy cần có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có.

    Bước 1. Phát hiện hoặc thâm nhập vấn đề

    • Phát hiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề
    • Giải thích và chính xác hóa tình huống (khi cần thiết) để hiểu đúng vấn đề được đặt ra
    • Phát biểu vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó

    Bước 2: Tìm giải pháp

    Tìm cách giải quyết vấn đề, thường được thực hiện theo sơ đồ sau:

    Giải thích sơ đồ

    • Phân tích vấn đề: làm rõ mối liên hệ giữa cái đã biết và cái cần tìm (dựa vào những tri thức đã học, liên tưởng tới kiến thức thích hợp)
    • Hướng dẫn HS tìm chiến lược giải quyết vấn đề thông qua đề xuất và thực hiện hướng giải quyết vấn đề. Cần thu thập, tổ chức dữ liệu, huy động tri thức; sử dụng những phương pháp, kĩ thuật nhận thức, tìm đoán suy luận như hướng đích, quy lạ về quen, đặc biệt hóa, chuyển qua những trường hợp suy biến, tương tự hóa, khái quát hóa, xem xét những mối liên hệ phụ thuộc, suy xuôi, suy ngược tiến, suy ngược lùi,… Phương hướng đề xuất có thể được điều chỉnh khi cần thiết. Kết quả của việc đề xuất và thực hiện hướng giải quyết vấn đề là hình thành được một giải pháp.
    • Kiểm tra tính đúng đắn của giải pháp: Nếu giải pháp đúng thì kết thúc ngay, nếu không đúng thì lặp lại từ khâu phân tích vấn đề cho đến khi tìm được giải pháp đúng. Sau khi đã tìm ra một giải pháp, có thể tiếp tục tìm thêm những giải pháp khác, so sánh chúng với nhau để tìm ra giải pháp hợp lí nhất.

    Bước 3. Trình bày giải pháp

    HS trình bày lại toàn bộ từ việc phát biểu vấn đề tới giải pháp. Nếu vấn đề là một đề bài cho sẵn thì có thể không cần phát biểu lại vấn đề.

    Bước 4. Nghiên cứu sâu giải pháp

    • Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả
    • Phương pháp này góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy sáng tạo cho HS. Trên cơ sở sử dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có HS sẽ xem xét, đánh giá, thấy được vấn đề cần giải quyết.
    • Thông qua việc giải quyết vấn đề, HS được lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức (“giải quyết vấn đề” không còn chỉ thuộc phạm trù phương pháp mà đã trở thành một mục đích dạy học, được cụ thể hóa thành một mục tiêu là phát triển năng lực giải quyết vấn đề, một năng lực có vị trí hàng đầu để con người thích ứng được với sự phát triển của xã hội)
    • Phương pháp này đòi hỏi GV phải đầu tư nhiều thời gian và công sức, phải có năng lực sư phạm tốt mới suy nghĩ để tạo ra được nhiều tình huống gợi vấn đề và hướng dẫn tìm tòi để phát hiện và giải quyết vấn đề.
    • Việc tổ chức tiết học hoặc một phần của tiết học theo phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề đòi hỏi phải có nhiều thời gian hơn so với các phương pháp thông thường. Hơn nữa, theo Lecne: “Chỉ có một số tri thức và phương pháp hoạt động nhất định, được lựa chọn khéo léo và có cơ sở mới trở thành đối tượng của dạy học nêu vấn đề”.

    Lecne khẳng định rằng: “Số tri thức và kĩ năng được HS thu lượm trong quá trình dạy học nêu vấn đề sẽ giúp hình thành những cấu trúc đặc biệt của tư duy. Nhờ những tri thức đó, tất cả những tri thức khác mà HS đã lĩnh hội không phải trực tiếp bằng những PPDH nêu vấn đề, sẽ được chủ thể chỉnh đốn lại, cấu trúc lại”. Do đó, không nên yêu cầu HS tự khám phá tất cả các tri thức quy định trong chương trình.

    • Cho HS phát hiện và giải quyết vấn đề đối với một bộ phận nội dung học tập, có thể có sự giúp đỡ của GV với mức độ nhiều ít khác nhau. HS được học không chỉ ở kết quả mà điều quan trọng hơn là cả quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề.
    • HS chỉnh đốn lại, cấu trúc lại cách nhìn đối với bộ phận tri thức còn lại mà họ đã lĩnh hội không phải bằng con đường phát hiện và giải quyết vấn đề, thậm chí có thể cũng không phải nghe GV thuyết trình phát hiện và giải quyết vấn đề. Tỉ trọng các vấn đề người học phát hiện và giải quyết vấn đề so với chương trình tùy thuộc vào đặc điểm của môn học, vào đối tượng HS và hoàn cảnh cụ thể. Tuy nhiên, phương hướng chung là: Tỉ trọng phần nội dung được dạy theo cách để phát hiện và giải quyết vấn đề không choán hết toàn bộ môn học những cũng phải đủ để người học biết cách thức, có kĩ năng giải quyết vấn đề và có khả năng cấu trúc lại tri thức, biết nhìn toàn bộ nội dung còn lại dưới dạng đang trong quá trình hình thành và phát triển theo cách phát hiện và giải quyết vấn đề.
      Các vấn đề/ tình huống đưa ra để HS xử lí, giải quyết cần thoả mãn các yêu cầu sau:

      • Phù hợp với trình độ nhận thức của HS
      • Vấn đề/ tình huống phải gần gũi với cuộc sống thực của HS
      • Vấn đề/ tình huống có thể diễn tả bằng kênh chữ hoặc kênh hình, hoặc kết hợp cả hai kênh chữ và kênh hình hay qua tiểu phẩm đóng vai của HS
      • Vấn đề/ tình huống cần có độ dài vừa phải
      • Vấn đề/ tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết, gợi ra cho HS nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề.
      Tổ chức cho HS giải quyết, xử lí vấn đề/ tình huống cần chú ý:

      • Các nhóm HS có thể giải quyết cùng một vấn đề/ tình huống hoặc các vấn đề/ tình huống khác nhau, tuỳ theo mục đích của hoạt động.
      • HS cần xác định rõ vấn đề trước khi đi vào giải quyết vấn đề.
      • Cần sử dụng phương pháp động não để HS liệt kê các cách giải quyết có thể có.
      • Cách giải quyết tối ưu đối với mỗi HS có thể giống hoặc khác nhau.
      GV cần tìm hiểu đúng cách tạo tình huống gợi vấn đề và tận dụng các cơ hội để tạo ra tình huống đó, đồng thời tạo điều kiện để HS tự lực giải quyết vấn đề. Một số cách thông dụng để tạo tình huống gợi vấn đề là:

      • Dự đoán nhớ nhận xét trực quan, thực hành hoặc hoạt động thực tiễn
      • Lật ngược vấn đề
      • Xét tương tự
      • Khái quát hóa
      • Khai thác kiến thức cũ, đặt vấn đề dẫn đến kiến thức mới
      • Giải bài tập mà chưa biết thuật giải trực tiếp
      • Tìm sai lầm trong lời giải
      • Phát hiện nguyên nhân sai lầm và sửa chữa sai lầm,
    Trong dạy học, các cơ hội như vậy rất nhiều, do đó PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề có khả năng được áp dụng rộng rãi trong dạy học nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS.

    Mức độ Tổ chức và thực hiện hoạt động của GV và HS

    Tạo tình huống Phát hiện vấn đề Tìm giải pháp Thực hiện giải pháp Kết luận, phát triển vấn đề

    Phần đông GV chúng ta mới vận dụng dạy học đặt – giải quyết vấn đề ở mức 1 và 2. Phải phấn đấu để trong nhiều trường hợp có thể đạt tới mức 3 và 4, từ đó làm cho dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trở thành phổ biến.

    7.1. Ví dụ về môn Toán

    7.2. Ví dụ về môn Sinh

    1. Xác định, nhận dạng vấn đề/tình huống
    2. – Liệt kê các cách giải quyết có thể có;

      – Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết (tích cực, hạn chế, cảm xúc, giá trị) ;

      – So sánh kết quả các cách giải quyết;

      – Lựa chọn cách giải quyết tối ưu;

    3. Thực hiện theo cách giải quyết đã lựa chọn
    4. Rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác
      Modul số 18: Phương pháp dạy học tích cực; Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GV khối THPT; Vụ Giáo dục Trung học; 2013

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục & Phương Pháp Giáo Dục Học Sinh
  • Tuyển Chọn 10 Tình Huống Sư Phạm Thường Gặp Ở Tiểu Học Và Cách Giải Quyết Hay Nhất Cho Giáo Viên
  • Phương Pháp Dạy Học Nghiên Cứu Tình Huống, Giải Quyết Vấn Đề
  • Qunr Lí Lớp Học Bằng Kỉ Luật Tích Cực
  • 4 Lợi Ích Bất Ngờ Mà Nghề Lập Trình Viên Mang Lại Trong Ngành Cntt
  • Tình Huống 62: Làm Việc Nhóm

    --- Bài mới hơn ---

  • Bỏ Việc Nhà Nước Có Nên Không? Lợi
  • “3 Năm Làm Nhà Nước, Mình Đã Từ Bỏ Để Ra Làm Ngoài…”
  • Chăm Chỉ Làm Bài Tập Ở Nhà Tạo Cơ Hội Thành Công Tương Lai?
  • Lợi Ích Và Tác Hại Của Việc Giao Bài Tập Về Nhà Cho Trẻ
  • Bài Tập Về Nhà – Nên Hay Không?
  • Tình huống 62: Làm việc nhóm – Tiếng Anh công sở (Việt – Anh), 281, Vinhnguyen,

    , 24/12/2013 09:39:06

    611/ Team spirit is the most important factor to win victory. Tinh thần đồng đội là yếu tố quan trọng nhất để chiến thắng. 612/ The members of a team should work towards a common objective. Các thành viên của đội lên làm việc cho cùng một mục đích. 613/ The team helps inpiduals develop within the team. Cả đội sẽ giúp cho mọi cá nhân cùng phát triển. 614/ A wise team leader extremely emphasizes team

    611/ Team spirit is the most important factor to win victory.

    Tinh thần đồng đội là yếu tố quan trọng nhất để chiến thắng.

    612/ The members of a team should work towards a common objective.

    Các thành viên của đội lên làm việc cho cùng một mục đích.

    613/ The team helps inpiduals develop within the team.

    Cả đội sẽ giúp cho mọi cá nhân cùng phát triển.

    614/ A wise team leader extremely emphasizes team spirit.

    Một đội trưởng khôn ngoan luôn nhấn mạnh tinh thần đồng đội.

    615/ Team members should co-operative fully with each other.

    Các thành viên của đội nên hoàn toàn hợp tác với nhau.

    616/ Good teamwork means that you can get more done during work time.

    Làm việc nhóm tốt đồng nghĩa với việc anh hoàn thành được nhiều việc hơn trong cùng một thời gian.

    617/ Teamwork is a very important skill to have and be able to use in a modern working environment.

    Làm việc nhóm là một kĩ năng rất quan trọng và thường được dùng ở các môi trường làm việc hiện đại.

    618/ Effective teamwork will make any company more efficient profitable.

    Làm việc nhóm hiệu quả sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn cho công ty.

    619/ The inpiduals of a team should learn to cooperate with each other.

    Các cá nhân trong đội nên học cách hợp tác với nhau.

    620/ If we brainstorm about a problem, we can get many different new ideas and find a solution.

    Nếu cùng động não về một vấn đề, chúng ta sẽ có được nhiều ý tưởng khác nhau và tìm được cách giải quyết.

    Tình huống 62: Làm việc nhóm – Tiếng Anh công sở (Việt – Anh)

    Tiếng anh công sở, Tiếng Anh Giao Tiếp

    Đăng bởi Vinhnguyen

    Tags:

    giao tiếp, làm việc nhóm, tiếng anh công sở, đàm thoại

    Tags: 1000 câu tình huống

    --- Bài cũ hơn ---

  • Yoga Là Gì? Lợi Ích Của Việc Tập Yoga
  • Bản Chất Xung Đột Lao Động Và Cách Khắc Phục
  • Công Dụng Thần Kỳ Của Cây Xoài: Từ Rễ Đến Ngọn Đều Chữa Được Bệnh
  • Lợi Ích Của Phương Pháp Học Tập Chủ Động
  • Cân Bằng Lợi Ích Kinh Tế Và Môi Trường: Bài Toán “Sống Còn” Của Ngành Giấy
  • Tuyển Chọn 10 Tình Huống Sư Phạm Thường Gặp Ở Tiểu Học Và Cách Giải Quyết Hay Nhất Cho Giáo Viên

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục & Phương Pháp Giáo Dục Học Sinh
  • Phương Pháp Dạy Học Phát Hiện Và Giải Quyết Vấn Đề
  • Đổi Mới Phương Pháp Giáo Dục Kỉ Luật Tích Cực Bao Cao Gdkltc Hung Ppt
  • Học Liên Thông Là Gì? Lợi Ích Của Việc Học Liên Thông
  • Liên Thông Cao Đẳng Y Dược Là Gì? Lợi Ích Của Việc Học Liên Thông Cao Đẳng Y Dược
  • 1. Tình huống sư phạm thường gặp: Cha mẹ đánh học sinh trước mặt giáo viên

    Hướng giải quyết:

    Đầu tiên cố gắng giảm bớt căng thẳng trong không khí gia đình, sau đó giải thích cho phụ huynh học sinh đó rằng bạn đến nhà để thông báo kết quả không tốt của em ấy không phải là để cho phụ huynh đánh con. Rồi nêu lý do mà bạn đến nhà đầu tiên là để thăm gia đình còn thứ 2 là để kết hợp cùng với gia đình nhằm giáo dục tốt cho em học sinh này, từ đó giúp em cố gắng vươn lên để đạt kết quả học tập cao hơn.

    Còn với cách giáo dục của gia đình, bạn cần nêu lên quan điểm như sau: “Tôi thấy hành động này là không ổn. Mỗi lần như thế lại đánh em không những ảnh hưởng về thân thể mà nó còn ảnh hưởng rất lớn về mặt tâm lý của các em nữa. Vì vậy tôi mong gia đình cần tìm ra cách giáo dục khác tốt hơn, phù hợp với tâm lý của em để dạy bảo.”

    2. Tình huống sư phạm thường gặp: Nhận thấy một học sinh trung bình yếu có điểm cao bất ngờ

    Tình huống:

    Khi chấm bài kiểm tra hôm nay của học sinh, bạn cảm thấy bất ngờ vì có một trường hợp đột xuất, đó là bài làm của một học sinh có mức học trung bình yếu của lớp nhưng lại tốt đến kinh ngạc. Đến hôm trả bài nếu là bạn, bạn sẽ làm những gì trong tình huống này?

    Hướng giải quyết:

    Điều đầu tiên mà bạn không thể bỏ qua đó chính là khen ngợi bài làm của học sinh đó trước lớp vì em ấy đã có cách làm hay và độc đáo. Song song với việc đó bạn cần khéo léo xem xét xem bài làm đó có thực sự là của em đó hay không bằng cách gọi em ấy có thể lên bảng nói cách chữa bài và nói về cách làm của mình để các bạn khác trong lớp cùng nhau học tập theo, việc đó còn có thể giúp em ấy chứng minh được sự tiến bộ của mình và làm sáng tỏ việc mà bạn đang băn khoăn. Chắc chắn lúc này sẽ xảy ra 2 trường hợp:

    TH1: Em học sinh này nói một cách trơn tru và làm tốt mọi thứ mà bạn yêu cầu. Từ đó chứng minh được em đã thực sự tiến bộ

    TH2: Em ấy lúng túng không nói rõ ràng được thì bạn cũng đừng vội phê bình em ấy ngay trước lớp, mà hãy làm điều này thật tế nhị có thể sau giờ học bạn nói chuyện riêng với em ấy. Và điểm đó bạn chưa nên ghi vội mà có thể để xem thời gian tới em ấy thể hiện thế nào.

    3. Tình huống sư phạm thường gặp: Chủ nhiệm phải một lớp trầm

    Tình huống:

    Khi BGH phân công cho bạn chủ nhiệm một lớp. Sau khi nhận lớp, bạn cảm thấy không khí học tập và các phong trào của lớp rất trầm. Trong lớp rất ít khi học sinh phát biểu bài, có ngày chẳng có học sinh nào phát biểu, các hoạt động của lớp cũng không hang hái. Trước tình trạng này bạn cẩn làm gì để khuấy động phong trào của lớp mà mình chủ nhiệm?

    Hướng giải quyết:

    Bạn cần tìm hiểu lý do vì sao các phong trào của lớp lại trầm như vậy. Sau khi đã tìm hiểu rõ được phần nào nguyên nhân thì sau đó hãy tiếp tục đưa ra hướng giải quyết. Chẳng hạn như :

    Động viên khuyến khích tinh thần của các em khi làm được việc tốt.

    Tổ chức thêm một số các hoạt động ngoại khóa, các trò chơi chung để các em em hòa đồng và năng động hơn.

    Cần có những khích lệ khi các học sinh tham gia các hoạt động của trường.

    Tổ chức thi đua giữa các nhóm trong lớp, biểu dương khen thưởng cho các học sinh và các nhóm.

    Ngoài việc làm sôi nổi phong trào trong lớp thì các hoạt động như thế này còn làm siết chặt thêm tình bạn giữa các học sinh trong lớp nữa.

    4. Tình huống sư phạm thường gặp: học sinh bị mất tiền

    Tình huống:

    Bạn vào lớp dạy khoảng 10 phút thì có một em học sinh đứng lên hốt hoảng nói với bạn rằng em mang tiền đi đóng quỹ lớp nhưng sau giờ ra chơi vào đã không thấy đâu. Nếu trong tình huống này, bạn sẽ xử lý như thế nào?

    Hướng giải quyết:

    Điều đầu tiên mà bạn cần phải làm đó chính là trấn an học sinh đó để em không quá hốt hoảng và lo lắng. Sau đó bạn tiếp tục bài giảng của mình và vào cuối tiết học thì dành thời gian giải quyết vấn đề:

    Trước tiên bạn nên khuyên học sinh đó xem lại thật kỹ tiền còn ở trong túi em hay không và có phải mất ở lớp thật không.

    Nếu thật sự mất ở lớp, bạn cần giữ cho mình một thái độ điềm tĩnh, ôn tồn để nói chuyện với các em học sinh trong lớp: bạn động viên tinh thần tự giác của các em trước, rồi giải thích cho học sinh và mở ra nhiều hướng cho em nào đã trót lấy tiền của bạn có cơ hội trả lại mà không ai biết mình đã lấy.

    Nếu có học sinh trong lớp lấy thì bạn không nên mạt sát học sinh mà hãy tế nhị yêu cầu học sinh đó gặp riêng cô giáo để giải quyết.

    Hãy đưa ra lời khuyên đối với học sinh làm mất tiền, với học sinh lấy tiền của bạn và toàn bộ học sinh trong lớp.

    5. Tình huống sư phạm thường gặp: Phụ huynh xin cho con thôi học

    Tình huống:

    Trong lớp bạn chủ nhiệm có một học sinh học rất kém, lại thường xuyên đi học muộn, trong giờ học lại hay ngủ gật, không chú ý nghe giảng. Khi bạn đến gặp phụ huynh của em ấy để trao đổi về tình hình học tập của em và muốn phối hợp cùng với gia đình để giúp đỡ em học tốt hơn thì mẹ của em lại xin cho con thôi học. Lý do được đưa ra là vì bố em mất sớm, em lại có em nhỏ, thế nên mẹ em muốn xin cho em thôi học, ở nhà trông em để mẹ đi làm kiếm tiền nuôi các con. Trước tình huống này, là một giáo viên bạn phải làm gì để giúp đỡ cho học sinh?

    Hướng giải quyết:

    Trước tình huống này, bạn cần trao đổi thêm với phụ huynh học sinh, động viên gia đình tạo mọi điều kiện cho em được học tiếp. Phối hợp với hội phụ huynh của lớp, trường và địa phương để có thể giúp đỡ gia đình em vượt qua khó khăn.

    Nếu mẹ của em đó tỏ ý lo lắng rằng con mình kém cỏi, có đi học cũng chẳng theo được các bạn hay cũng chẳng có lợi ích gì, thì bạn cần khéo léo, tế nhị nói rằng em ấy học chưa tốt chứ không phải vì em ấy kém mà chỉ vì em ấy chưa có thời gian và chưa thực sự tập trung vào việc học của mình. Như vậy, gia đình học sinh vừa tin tưởng con mình, lại vừa không phải cảm thấy xấu hổ vì kết quả học tập của con. Bạn hãy yêu cầu gia đình tạo mọi điều kiện cho em đó tập trung học và bạn cũng hứa sẽ quan tâm, khích lệ để em học tốt hơn. Bạn có thể phân công những em học sinh khác giỏi hơn kèm cặp cũng như giúp đỡ cho học sinh đó.

    Nếu gia đình học sinh muốn em ấy ở nhà giúp việc vì hoàn cảnh khó khăn. Trong trường hợp này, bạn nên nhẹ nhàng động viên gia đình cho em đi học tiếp vì chính tương lai của em và cũng vì em còn quá nhỏ. Bạn có thể cắt cử học sinh ngoài giờ học thay phiên nhau đến giúp đỡ việc nhà cho em học sinh đó ấy có thời gian đi học. Bạn nên phối hợp với hội phụ huynh của lớp, trường và địa phương để có thể giúp đỡ gia đình em vượt qua khó khăn này. Bạn cũng có thể động viên gia đình cho em nhỏ của học sinh đi gửi nhà trẻ để mẹ em có thể yên tâm đi làm mà em học sinh đó vẫn được tiếp tục được đi học.

    6. Tình huống sư phạm thường gặp: giáo viên chủ nhiệm đưa học sinh phạm lỗi về nhà

    Tình huống:

    Lớp bạn đang chủ nhiệm có một học sinh vi phạm nghiêm trọng nội quy của nhà trường. BGH yêu cầu bạn phải đưa em đó về tận nhà để nói chuyện với bố mẹ. Nhưng khi chưa kịp để giáo viên trình bày tường tận mọi việc, bố của em học sinh đó đã đứng dậy tát em học sinh tới tấp vì đã làm “xấu mặt” gia đình. Vào địa vị của người giáo viên chủ nhiệm này, bạn xử lý tình huống này sao đây?

    Hướng giải quyết:

    Trong tình huống này, bạn thực sự đã gặp phải một thách thức lớn vì phụ huynh quá nóng tính và cư xử có phần hơi thô lỗ, đánh con ngay trước mặt giáo viên. Bạn có thể giữ im lặng vì nghĩ đó là quyền giáo dục con của gia đình, chỉ là một giáo viên chủ nhiệm thế nên bạn không có quyền can thiệp. Sẽ có nhiều người lựa chọn phương án xử lý này vì dù sao thì đó cũng là hình phạt thích đáng dành cho một cậu học trò nghịch ngợm.

    Thế nhưng liệu học sinh sẽ nghĩ gì về thái độ “thờ ơ”, phó mặc đó của giáo viên chủ nhiệm của mình? Biết đâu em ấy sẽ nghĩ rằng chính việc “tố cáo” của bạn là nguyên nhân đã khiến em phải chịu một trận đòn ngay trước mặt “người ngoài”. Và sự bực tức, thậm chí coi thường cô giáo sẽ ngấm ngầm hình thành trong em ấy và những lời dạy bảo về sau của bạn sẽ trở nên vô tác dụng. Dù học sinh có mắc khuyết điềm thế nào đi chăng nữa thì không một giáo viên nào lại muốn học sinh phải chịu những trận đòn chí mạng. Vì trách nhiệm với học sinh cưa mình, bạn sẽ không thể chọn một giải pháp chỉ vì sự “an toàn” của bản thân được.

    Đứng trước tình huống khó xử này bạn nên thật bình tĩnh và khéo léo. Trước hết bạn cần tìm cách chấm dứt ngay hành động đánh con của phụ huynh và phân tích để phụ huynh nhận ra rằng trong việc giáo dục con cái bằng bạo lực không bao giờ đem lại kết quả tốt đẹp mà đôi khi việc đó còn phản tác dụng.

    Sau khi phụ huynh đó có vẻ bình tĩnh trở lại, bạn nên bắt đầu câu chuyện của mình một cách thật nhẹ nhàng, cởi mở. Bạn phải giải thích cho phụ huynh hiểu rằng nhà trường luôn coi trọng vai trò của gia đình trong việc phối hợp để giáo dục các em học sinh, nhất là khi chúng phạm lỗi. Dù đó có thể là một học sinh nghịch ngợm, hay thường vi phạm nội quy của trường, lớp nhưng nhà trường không bao giờ mong muốn gia đình lại giáo dục em bằng bạo lực. Vì các em đang ở độ tuổi còn quá nhỏ và mọi thứ chỉ như vừa mới bắt đầu đối với các em, thế nên sự nhẹ nhàng, ân cần nhưng tuyệt đối nghiệm khắc mới có tác dụng khi chúng có lỗi. Bạo lực hay sự xúc phạm quá đáng chỉ khiến chúng dễ nảy sinh tâm lý chống đối và trở nên ương ngạnh hơn mà thôi.

    Những cố gắng của bạn sẽ có ý nghĩa hơn chỉ khi thẳng thắn đề xuất với gia đình những biện pháp thật cụ thể để cùng giúp đỡ em học sinh đó trở nên tiến bộ. Sự điềm tĩnh, khéo léo cũng như tình thương yêu, trách nhiệm với học trò chính là điều kiện quan trọng để bạn xử lý thành công tình huống này.

    7. Tình huống sư phạm thường gặp: học sinh phá hoại tài sản nhà trường

    Tình huống:

    Nếu có một học sinh của lớp bạn đang chủ nhiệm tham gia vào việc phá hoại tài sản của nhà trường. Đến khi bạn hỏi về sự việc này thì lại không có em nào nhận lỗi và bạn cũng không có bằng chứng chính xác về việc em đó đã làm? Trong tình huống này, bạn sẽ xử lý như thế nào?

    Hướng giải quyết:

    Vào giờ sinh hoạt lớp, bạn hãy nói với các em rằng: ” Tài sản của nhà trường không chỉ có riêng các em sở hữu mà nó là của chung, điều này các em cũng đã biết. Nếu các em biết gìn giữ thì nó sẽ luôn đẹp để chúng ta có thể sử dụng trong rất nhiều năm mà nó vẫn như mới Nếu lớp mình có bạn nào đã chót tham gia vào việc phá hoại tài sản của nhà trường thì hãy đứng lên nhận lỗi và các em chỉ bị phạt nhẹ.

    Nếu bây giờ các em mà sợ hay ngại không nhận thì sau giờ có thể gặp riêng cô để thú nhận về việc mình đã làm. Cô sẽ không nói ra tên người làm trước lớp. Các em mà không thú nhận lỗi lầm mình đã gây ra thì nhà trường vẫn có cách tìm ra và đưa ra các quyết định kỷ luật đến em đó vì đã vi phạm quy định nhà trường mà không trung thực, không dám chịu trách nhiệm về hành vi của mình và như thế các em sẽ không bao giờ có thể tiến bộ được ”. Đảm bảo khi nói với học sinh như vậy thì chắc chắn các em sẽ nhận ra lỗi mà mình đã gậy ra và thú nhận về việc mình đã làm.

    8. Tình huống sư phạm thường gặp: Phát hiện chữ ký giả mạo trong sổ liên lạc của học sinh

    Tình huống:

    Một lần cô (thầy) giáo trả sổ liên lạc cho học sinh, yêu cầu các em mang về nhà cho bố mẹ xem và ký tên. Thế nhưng, khi cô (thầy) giáo thu lại sổ phát hiện chữ ký trong sổ liên lạc của một em học sinh có chữ kí giả mạo. Nếu bạn là cô (thầy) giáo đó thì bạn sẽ làm gì ?

    Hướng giải quyết:

    Trong trường hợp này, bạn nên gặp riêng em học sinh đó yêu cầu giải thích : “tại sao em lại làm như vậy? ” và phân tích cho học sinh đó hiểu rằng việc làm của em là hoàn toàn sai, khuyên nhủ em lần sau không được tái phạm nữa. Sau đó, thông báo sự việc với phụ huynh và cùng phối với gia đình để giáo dục học sinh tốt hơn.

    9. Tình huống sư phạm thường gặp: Gặp trường hợp bất ngờ khi đang giảng bài

    Tình huống:

    Giáo viên đang say sưa giảng bài, bỗng có một vị phụ huynh xồng xộc chạy vào lớp và đòi đưa con của mình về đánh vì tội đám lấy trộm tiền ở nhà. Nếu là giáo viên trong tình huống này, bạn sẽ xử sự như thế nào?

    Hướng giải quyết:

    Bạn nên đề nghị phụ huynh bình tỉnh và chưa cho đón con về ngay mà mời phụ huynh vào văn phòng làm việc. Trước khi làm việc, bạn nên xin phép phụ huynh để bạn tìm hiểu sự việc:

    Nếu như trẻ lấy trộm tiền là vì muốn mua một đồ vật nào đó, cha mẹ cần phải nghĩ cách lý giải cho trẻ ưng thuận, dau đó tiến hành chỉ dẫn, để trẻ biết rõ là việc “lấy trộm” là không được làm. Nếu như dùng phương pháp thô bạo như “bắt giữ phạm nhân”, thì điều đó sẽ làm tổn thương lòng tự trọng của trẻ.

    Đồng thời, nhất định phải nghĩ biện pháp để biết được nguyên nhân vì sao trẻ lấy trộm tiền, mới có thể tìm ra phương pháp ngăn chặn hành vi này một cách triệt để.

    Bên cạnh đó, bạn cũng cần giải thích rõ cho phụ huynh biết việc vào trường, xồng xộc chạy vào lớp học khi trong giờ học như vậy là không đúng, không được phép, yêu cầu phụ huynh có bất cứ việc gì cũng cần gặp giáo viên để giải quyết.

    10. Tình huống sư phạm thường gặp: học sinh bị trêu chọc

    Tình huống:

    Giả sử trong lớp bạn chủ nhiệm có một học sinh nghèo, bố mẹ thì li hôn, hay bị các bạn chế diễu, trêu chọc. Là giáo viên chủ nhiệm của lớp, bạn sẽ làm gì trong tình huống này?

    Hướng giải quyết:

    Đầu tiên, bạn cần tìm hiểu xem em nào hay trêu chọc bạn.

    Sau đó, yêu cầu học sinh chấm dứt việc trêu chọc bạn đồng thời phân tích một cách rõ ràng để cả lớp chia sẻ nỗi mất mát về tinh thần của học sinh đó để kịp thời giúp đỡ, chia sẻ với em ấy, giao trách nhiệm dìu dắt nhau cùng tiến bộ.

    Gặp riêng phụ huynh của em để trao đổi và yêu cầu phụ huynh động viên học sinh vươn lên bằng nghị lực của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Nghiên Cứu Tình Huống, Giải Quyết Vấn Đề
  • Qunr Lí Lớp Học Bằng Kỉ Luật Tích Cực
  • 4 Lợi Ích Bất Ngờ Mà Nghề Lập Trình Viên Mang Lại Trong Ngành Cntt
  • Những Lý Do Có Lợi Khi Học Lập Trình Sớm
  • 8 Lợi Ích Của Việc Cho Trẻ Học Lập Trình Robot Từ Nhỏ
  • Lợi Ích Từ Việc Giảm Cân Bằng Phương Pháp Ăn Chay

    --- Bài mới hơn ---

  • 7 Lợi Ích Không Tưởng Từ Thói Quen Ăn Chay
  • Những Lợi Ích Của Việc Ăn Chay Để Bạn Sống Khỏe Mỗi Ngày
  • Ăn Chay Có Bị Yếu Sinh Lý Không? Giải Đáp Cùng Chuyên Gia
  • Lợi Và Hại Đến Từ Việc Ăn Chay
  • Những Sự Lợi Ích Thật Sự Của Việc Ăn Chay
  • Giảm đáng kể tình trạng thừa cân, béo phì

    Các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng, những người ăn chay có tỉ lệ béo phì của họ cũng thấp hơn đáng kể so với người ăn thịt (9.4% so với 33.3%). Ngoài ra, ngay cả các bệnh nhân mắc chứng béo phì thì việc sử dụng phương pháp ăn chay hoàn toàn sẽ giảm lượng mỡ thừa nhiều và nhanh hơn so với việc giảm cân có kèm ăn thịt mặc dù khẩu phần ăn và lượng calo giống nhau.

    Bên cạnh đó, các hiệp hội nghiên cứu cho thấy những người ăn chay thường có ít khả năng mắc hội chứng chuyển hóa – một hội chứng thường dẫn đến các loại béo phì, đột quỵ và nhồi máu cơ tim.

    Bảo vệ sức khỏe tim mạch

    Chất béo bão hòa đến chủ yếu từ thịt và các sản phẩm từ sữa sẽ làm tăng lượng cholesterol trong máu, dễ dẫn đến các bệnh tim mạch. Không sử dụng thịt trong khẩu phẩn ăn sẽ lập tức loại bỏ lượng chất béo bão hòa trong cơ thể và giúp bạn giảm khả năng mắc các bệnh về tim một cách đáng kể đấy.

    Ngăn ngừa tình trạng tăng huyết áp

    So với sử dụng thịt, ăn chay luôn giúp bạn có số đo huyết áp thấp hơn. Các nhà nghiên cứu cho biết rằng, lí do là vì trọng lượng của một người ăn chay luôn thấp hơn, chưa kể đến khẩu phần ăn bổ dưỡng của họ chỉ bao gồm trái cây và rau củ.

    Giảm khả năng mắc bệnh ung thư

    Ăn chay không những giúp giảm cân mà còn giúp chúng ta giảm khả năng mắc các loại bệnh ung thư trong đó có ung thư kết trực tràng hoặc những căn bệnh ung thư thường xảy ra ở phụ nữ như ung thư vú…

    Bụng của bạn sẽ luôn dễ chịu hơn

    Ăn nhiều rau củ và các loại đậu sẽ cung cấp nhiều chất xơ cho cơ thể, giúp điều trị táo bón và cải thiện hệ tiêu hóa nói chung. Khi hệ tiêu hóa luôn hoạt động tốt và bụng ít bị trướng, bạn sẽ luôn cảm thấy mình nhẹ nhàng, tràn đầy năng lượng và khỏe đẹp hơn.

    “Nâng cấp” làn da

    Ăn chay là một trong những phương pháp hữu dụng giúp cho bạn có làn da đẹp hơn vì ăn nhiều trái cây, rau quả và các sản phẩm làm từ lúa nguyên hạt sẽ cung cấp những chất chống oxy hóa làn da. Những chất này sẽ ngăn chặn những gốc tự do làm làn da của bạn bị nếp nhăn, đốm nâu hoặc các dấu hiệu khác của tuổi tác.

    Khác biệt trong mùi hương của cơ thể và tâm trạng

    Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng ăn chay sẽ làm cơ thể bạn có mùi hương dễ chịu và hấp dẫn người khác phái hơn. Ngoài ra, sử dụng nhiều trái cây và rau quả trong khẩu phần ăn cũng giúp tâm trạng của bạn trở nên tốt hơn rất nhiều đấy.

    Cơ thể tràn đầy năng lượng

    Ăn nhiều rau bina, cải xoắn, đậu và các loại thực phẩm chứa nhiều chất nitơ sẽ đem nhiều lợi ích cho các cơ, hạ huyết áp và giúp nâng cao khả năng tập thể dục cho chúng ta. Những loại thức ăn này giúp mở rộng mạch máu, đưa oxy vào cơ thể và giúp cơ thể hoạt động hăng hái và luôn tràn đầy sức sống.

    *Lưu ý: Không áp dụng phương pháp này nếu bạn vẫn còn trong độ tuổi phát triển. Bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng trước khi áp dụng phương pháp này, họ có thể đưa ra lời khuyên chính xác cho thể trạng của bạn cũng như thực đơn ăn chay hợp lý và an toàn cho sức khỏe.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Lợi Ích Của Việc Ăn Chay Mà Bạn Không Nên Bỏ Qua
  • Điểm Danh 13 Món Ăn Chay Ngon Và Dễ Làm
  • Những Lợi Ích Bất Ngờ Của Những Món Chay Ngày Vu Lan Đối Với Cơ Thể
  • Tác Hại Của Việc Ăn Chay Không Đúng Cách
  • Sai Lầm Và Tác Hại Của Việc Ăn Chay Thiếu Khoa Học Sai Lầm Và Tác Hại Của Việc Ăn Chay Thiếu Khoa Học
  • ​giải Quyết Khó Khăn Khi Học Tiếng Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Tiếng Pháp Mang Lại Những Cơ Hội Gì?
  • Ưu Nhược Điểm Của Lớp Học Tiếng Anh Online Và Lớp Học Tiếng Anh Offline
  • Lợi Ích Và Tác Hại Của Việc Thủ Dâm
  • Những Lợi Ích Của Việc Học Bơi Dành Cho Mọi Lứa Tuổi
  • Những Ích Lợi Và Sự Cần Thiết Của Việc Học Bơi
  • Trước tiên, chúng ta hãy tìm xem mục đích học tiếng Pháp của mình là gì. Mục đích trước mắt của bạn có thể là để phục vụ cho nhu cầu nghe nhạc hay xem phim gì đó , mục đích chính sẽ là sử dụng được Tiếng Pháp một cách thông thạo trong đời sống cũng như công việc phải không nào.

    Học tiếng Pháp sẽ đem lại nhiều lợi ích

    Một trong những sai lầm khá phổ biến là chúng ta có xu hướng chuyển từ tiếng Pháp sang tiếng Việt rồi mới nói. Việc đó lập tức sẽ tạo ra một rào cản ngăn cách ngôn ngữ rất lớn. Nếu chúng ta suy nghĩ bằng tiếng Pháp, chúng ta sẽ bao giờ gặp phải vấn đề đó và sẽ có nhiều cách diễn đạt các cuộc hội thoại bằng tiếng Pháp hấp dẫn hơn nhiều. Hãy tập suy nghĩ trực tiếp bằng tiếng Pháp rồi nói ra luôn, như vậy dần dần sẽ tạo cho bạn một phản xạ cực nhanh khi nói chuyện bằng tiếng Pháp với người khác.

    Bạn nên nghe thật nhiều những bài hát Pháp, điều đó sẽ đem lại cho bạn nhiều lợi ích hơn bạn tưởng đấy, nhất là khi nhạc Pháp nghe cực hay và lãng mạng nữa đó . Nếu bạn hát thật nhiều lần các bài hát tiếng Pháp, vô hình chung bạn sẽ nhớ được kha khá các từ cũng như các từ tiếng Pháp dễ nghe. Hát các bài hát tiếng Pháp còn giúp bạn nói tiếng Pháp một cách hay hơn và luyện tập phát âm tiếng Pháp tốt hơn, nhất là khi người các bạn học theo là những ca sĩ, họ có giọng hát cực hay và cách phát âm chuẩn, bay bổng.

    Mục đích chính của hoạt động nhóm sẽ là giúp cho mọi người có cơ hội nêu ra những câu hỏi, đưa ra ý kiến riêng của mình và nhận định của bản thân. Bạn sẽ trở thành một thành viên tích cực trong nhóm khi bạn hăng say tham gia các hoạt động nhóm để cùng nói tiếng Pháp thật nhiều nhằm tiến bộ kỹ năng nói của chính mình, cũng như phát triển thêm cho mình nhiều kĩ năng mềm.

    Học tiếng Pháp chăm chỉ sẽ đem lại kết quả tốt

    Bạn có thể gọi điện cho bạn bè để tán dóc nói đủ chuyện trên trời từ học tập cho tới tình yêu. Các cuộc nói chuyện đôi khi kéo dài chỉ vài phút, nhưng cũng là một cơ hội để bạn có thể phát triển thực hành học tiếng Pháp. Kết quả là bạn có thể nâng cao khả năng nghe và hiểu mà không cần gặp trực tiếp mọi người. Cách học tiếng Pháp này giúp bạn luyện tập phản xạ suy nghĩ bằng tiếng Pháp, nghe, nói Tiếng Pháp. Khi bạn áp dụng những phương pháp học tiếng Pháp trên một cơ sở hợp lý, chắc chắn bạn sẽ đạt được những thành công vượt bậc trong quá trình học tiếng Pháp để giao tiếp.

    Chúng ta không bao giờ có thể hiểu hết được tiếng Pháp vì luôn luôn có những thứ mới, những điều mà bạn chưa từng biết được. Vì vậy bạn càng cần phải liên tục học tập tiếp thu thêm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3Pl Viết Tắt Của Từ Gì? Lợi Ích Của 3Pl Trong Hoạt Động Logistics Tại Doanh Nghiệp
  • Đâu Là Những Lợi Ích Cho Doanh Nghiệp Khi Hợp Tác Với Nhà Cung Ứng Nội Địa?
  • Pbl Là Gì? Những Vấn Đề Liên Quan Đến Pbl
  • Du Học Mỹ Ngành Y Những Điều Bạn Nên Biết
  • Những Lợi Ích Khi Theo Học Ngành Dược
  • Toán Tư Duy Bằng Tiếng Anh: Lợi Ích Và Phương Pháp Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Lợi Ích Tuyệt Vời Khi Cho Trẻ Học Toán Tư Duy Khi Còn Nhỏ
  • Mối Quan Hệ Giữa Học Và Hành, Từ “bàn Luận Về Phép Học” Của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp
  • Từ Bài “bàn Luận Về Phép Học” Của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Hãy Nêu Suy Nghĩ Về Mối Quan Hệ Giữa “học” Và “hành”
  • Từ Bài Bàn Luận Về Phép Học Hãy Nêu Suy Nghĩ Về Mối Quan Hệ Giữa Học Và Hành
  • Từ Bài Bàn Luận Về Phép Học Của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Hãy Nêu Suy Nghĩ Về Mối Quan Hệ Của Học Và Hành
  • Học toán tư duy bằng tiếng Anh đang trở thành xu hướng trên thị trường giáo dục hiện nay. Lý do là bởi học toán tư duy bằng tiếng Anh không chỉ giúp các em học được toán tư duy mà còn nâng cao vốn tiếng Anh. Thế nhưng, nhiều bậc phụ huynh vẫn cảm thấy lo lắng vì sợ con học toán tư duy bằng tiếng Anh sẽ rất nặng và áp lực cho các bé. Vậy cần phải có những phương pháp học như thế nào? Lợi ích của việc học là gì?

    1. 6 lợi ích của việc học toán tư duy bằng tiếng Anh

    Học toán tư duy bằng tiếng Anh mang đến cho người học nhiều lợi ích. Trong đó có 6 lợi ích nổi bật nhất sau đây

    Kích thích tư duy não bộ của trẻ

    Toán kết hợp với ngoại ngữ giúp trẻ phát triển trí tuệ

    Ngoại ngữ kết hợp với các môn khoa học là điều tốt cho sự phát triển trí tuệ của trẻ. Việc này giúp trẻ có thể định hướng, nhìn nhận vấn đề một cách chủ động và trình bày ý tưởng, quan điểm cá nhân rõ ràng, chính xác hơn. Học toán tư duy bằng tiếng Anh không chỉ giúp trẻ phát triển trí thông minh mà còn phát triển cả khả năng ngôn ngữ. Theo đó kích thích não bộ, giúp trẻ tư duy nhạy bén và toàn diện.

    Các bậc phụ huynh thường lo ngại việc học toán tư duy bằng tiếng Anh có thể sẽ gây áp lực với chương trình học nặng. Tuy nhiên, học toán tư duy bằng tiếng Anh qua phương pháp học phù hợp sẽ giảm bớt sự áp lực và khiến trẻ cảm thấy yêu thích học. Bên cạnh đó, học toán bằng tiếng Anh giúp tăng vốn từ và trẻ sẽ được tiếp cận với nhiều từ khơi dậy niềm yêu thích học.

    Phát triển tư duy toán học phương Tây

    Qua tìm hiểu thông tin báo đài, sách vở các bậc phụ huynh có thể thấy tư duy ngôn ngữ và toán học của trẻ ở Việt Nam vẫn có những điểm khác biệt lớn so với trẻ sinh sống ở nước ngoài. Nếu như học toán ở Việt Nam, người học sẽ học ghi nhớ các công thức, lý thuyết thì ngược lại toán nước ngoài sẽ chú trọng vào phát triển tư duy logic và áp dụng vào thực tế chứ không học lý thuyết suông. Chính vì vậy, người học được học toán tư duy bằng tiếng Anh thông qua các phương pháp học giúp phát triển tư duy và ứng dụng thực tế.

    Nâng cao khả năng ngoại ngữ

    Học toán bằng tiếng anh sẽ giúp bé tăng vốn từ vựng

    Như đã nói, học toán tư duy bằng tiếng Anh ngoài việc tốt cho việc học toán tư duy và thêm kiến thức về toán tư duy cũng như giúp phát triển não bộ, các em còn được trau dồi thêm các vốn từ, công thức viết bằng tiếng Anh. Từ đó, vốn từ tiếng Anh của người học trở nên phong phú, hỗ trợ việc nói tiếng Anh càng ngày càng tiến bộ.

    Có cơ hội tham gia các cuộc thi quốc tế

    Hiện nay, các kỳ thi toán của Việt Nam không chỉ dừng lại ở mức trong nước mà Việt Nam còn tham gia nhiều cuộc thi quốc tế. Có rất nhiều cuộc thi toán học quốc tế dành cho lứa tuổi tiểu học và trung học như: Toán tư duy quốc tế UCMAS, Olympic toán học quốc tế (IMO), kỳ thi toán học Úc (ACM)… Khi có cơ hội được tham gia các cuộc thi này, các em sẽ được thể hiện năng lực của bản thân, thêm nhiều trải nghiệm, gặp gỡ, giao lưu với bạn bè quốc tế và đặc biệt rút ra được kinh nghiệm cũng như các thành tích đạt được trong tương lai. Việc có được những giải thưởng lớn từ các cuộc thi nước ngoài sẽ góp phần quan trọng khi các em thi đại học, xét học bổng hoặc xin việc hay hơn nữa là đi du học.

    Cơ hội đi du học trong tương lai

    Định hướng đi du học cho trẻ với phương pháp học toán song ngữ

    Việc học toán tư duy bằng tiếng Anh sẽ là định hướng đúng đắn cho bạn nào có dự định sẽ đi du học. Thực tế, tiếng Anh cũng là một môn học không phải dễ mà đòi hỏi một quá trình học tập, rèn luyện liên tục. Học toán tư duy bằng tiếng Anh không chỉ giúp củng cố khả năng tiếng anh mà còn có tác dụng kích thích sự phát triển tư duy lâu bền, tạo nên một hành trang kiến thức vững chắc để trẻ có thể bổ sung, hoàn thiện việc học một cách có hiệu quả. Khi các em học tốt toán tư duy bằng tiếng Anh thì cánh cửa du học sẽ rộng mở và dễ dàng hơn.

    2. Phương pháp học toán tư duy bằng tiếng anh

    Việc học toán tư duy bằng tiếng Anh ban đầu có thể gây khó dễ và áp lực cho người học. Thế nhưng, khi biết cách học các em sẽ cảm thấy thích thú với môn học này.

    Học thuộc các thuật ngữ toán học căn bản bằng tiếng anh

    Ghi nhớ các từ ngữ chuyên ngành để việc học toán được dễ dàng hơn

    Có thể thấy rằng, việc học toán tư duy bằng tiếng Anh là học 2 trong 1. Các em vừa phải học toán vừa phải học tiếng Anh. Không những thế, học toán tư duy bằng tiếng Anh các em sẽ liên tục gặp phải các thuật ngữ toán học. Những thuật ngữ này ở dạng tiếng Việt thì rất dễ nhớ vì là tiếng mẹ đẻ. Thế nhưng, các thuật ngữ toán học bằng tiếng Anh sẽ khá khó nhớ. Chính vì vậy, việc học thuộc các thuật ngữ toán học căn bản bằng tiếng Anh ngay từ đầu là việc nên làm. Khi các em đã học được những thuật ngữ căn bản thì vào học các em sẽ cảm thấy dễ dàng, thậm chí khi học kiến thức với các thuật ngữ khó hơn sẽ không còn áp lực.

    Nắm vững các kiến thức về toán

    Học cùng bạn

    Có thể các em cảm thấy học một mình sẽ rất yên tĩnh và chăm chú hơn. Thế nhưng, việc có một người bạn học toán tư duy cùng lại là điểm lợi thế. Các em nên chọn một người bạn đồng hành để cùng nhau tìm hiểu và rèn luyện toán tư duy bằng tiếng Anh. Các em có thể cùng trao đổi với nhau và tìm ra đáp án đúng nhất. Thêm vào đó, khi các em cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng có thể cùng nhau trò chuyện hoặc chơi các trò chơi để giảm áp lực.

    Tự học và hỏi thầy cô giáo

    Ngoài những phương pháp học toán tư duy trên, các em có thể học toán tư duy bằng cách tự rèn luyện ở nhà. Việc tự học cũng có những ưu điểm riêng như: có không gian học riêng, tập trung hơn và tự mình có thể khám phá ra nhiều kiến thức hay. Thế nhưng, nếu việc tự học quá khó khăn hoặc loay hoay mãi không tìm được cách giải các em có thể liên hệ hỏi thầy cô giáo. Vì hơn hết thầy cô chính là người giảng dạy các em, có nhiều năm kinh nghiệm nên sẽ hiểu biết nhiều hơn các em.

    3. Các dạng bài tập toán tư duy bằng tiếng Anh

    Theo như khả năng tiếp nhận kiến thức theo độ tuổi, việc học toán tư duy bằng tiếng Anh hiệu quả sẽ rơi vào khoảng độ tuổi từ 4 đến 14 tuổi, nghĩa là học các lớp mầm non, tiểu học và trung học cơ sở. Do vậy, các dạng bài tập toán tư duy bằng tiếng Anh để các em rèn luyện sẽ có kiến thức phù hợp với giai đoạn vừa nói trên.

    • Số và chữ số trong phạm vi 10, phạm vi 100, phạm vi 1000;

    • Phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 10, phạm vi 100, phạm vi 1000;

    • Đại lượng và số đo đại lượng;

    • Hình học: hình tròn, hình tam giác, hình vuông…

    4. Sách toán tư duy bằng tiếng Anh

    Bộ sách toán phát triển tư duy bản tiếng Anh và tiếng Việt của tác giả Nguyễn Áng là bộ sách toán tư duy song ngữ khá nổi tiếng hiện nay.

    Bộ sách gồm 3 cuốn, cuốn thứ nhất dành cho lớp 1 và 2, phù hợp với lứa tuổi 6 – 8; cuốn thứ hai dành cho lớp 3 và 4, phù hợp với lứa tuổi 8-10; cuốn thứ ba dành cho lớp 5 và chuẩn bị vào lớp 6, phù hợp với lứa tuổi 10-11.

    Mỗi cuốn sách được chia thành hai phiên bản, một phiên bản tiếng Việt và một phiên bản tiếng Anh, cung cấp cho học sinh những kiến thức, kỹ năng tư duy toán học, đồng thời làm quen với Tiếng Anh, giúp các em sử dụng ngoại ngữ ngay từ khi còn nhỏ.

    Bộ sách toán phát triển tư duy bản tiếng Anh và tiếng Việt

    Hiện nay, có rất ít địa chỉ uy tín nào tích hợp dạy toán tư duy cùng với tiếng anh. Tuy nhiên, các vị phụ huynh có thể tham khảo 1 mô hình học toán tư duy uy tín khác là UCMAS.

    UCMAS là tổ chức đi đầu trong việc mang đến cho trẻ em toàn cầu có một não bộ khỏe mạnh, ổn định và tư duy phát triển tốt. Cho đến thời điểm hiện tại, UCMAS đã có mặt ở 78 quốc gia. Ở Việt Nam, UCMAS có một đại lý nhượng quyền duy nhất là UCMAS Việt Nam. Chương trình Bàn tính và Số học trí tuệ dành cho trẻ từ 4 đến 14 tuổi phù hợp với khả năng tư duy của trẻ, giúp trẻ có bộ não khỏe mạnh, bền bỉ, xử lý nhanh, học tập và làm việc hiệu quả, đồng thời giúp các em tăng khả năng tập trung, khả năng quan sát, hình dung tưởng tượng, khả năng ghi nhớ và tư duy logic.

    Các trung tâm của UCMAS còn thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại khóa và các khóa học tiếng Anh cho các bé. Việc được tham gia nhiều khóa tiếng Anh sẽ giúp bé học trau dồi thêm kiến thức ngoại ngữ ngay từ nhỏ và đặc biệt rất tốt cho việc học toán tư duy bằng tiếng Anh.

    Bên cạnh đó, các bé học ở UCMAS còn được tham gia các cuộc thi quốc tế. Đây là cơ hội để bé thể hiện tài năng học toán tư duy bằng tiếng Anh của mình và cũng là cơ hội để tăng khả năng ngoại ngữ.

    Bậc phụ huynh quan tâm đến UCMAS – chương trình đào tạo giúp các bé phát triển não bộ một cách toàn diện và khai thác tối đa những tiềm năng của bộ não, giúp bé học tốt toán tư duy bằng tiếng Anh hoặc có thắc mắc về toán tư duy bằng tiếng Anh hãy truy cập website https://ucmasvietnam.com/ hoặc gọi đến 0967868623 để được tư vấn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lợi Ích Khi Cho Trẻ Tiếp Xúc Sớm Với Toán Tư Duy
  • Lợi Ích To Lớn Của Việc Cho Trẻ Học Toán Tư Duy Từ Nhỏ
  • Con Gái Học Khối A Nên Thi Ngành Gì Để Dễ Xin Việc Sau Ra Trường?
  • Học Khối D Ra Trường Làm Gì? Những Lợi Ích Khi Học Khối D
  • Những Lợi Ích Tuyệt Vời Khi Trẻ Chơi Nhạc Cụ
  • Lợi Ích Của Phương Pháp Học Tập Chủ Động

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Dụng Thần Kỳ Của Cây Xoài: Từ Rễ Đến Ngọn Đều Chữa Được Bệnh
  • Bản Chất Xung Đột Lao Động Và Cách Khắc Phục
  • Yoga Là Gì? Lợi Ích Của Việc Tập Yoga
  • Tình Huống 62: Làm Việc Nhóm
  • Bỏ Việc Nhà Nước Có Nên Không? Lợi
  • Lợi ích của phương pháp học tập chủ động

    1 – Vì sao nên áp dụng phương pháp học tập chủ động

    Ngày nay, học sinh rất dễ dàng bị sao lãng. Các em không thể ngồi yên trong lớp và nghe bài giảng dài mà không kiểm tra tin nhắn, emails, và các phương tiện xã hội khác. Nếu chúng ta muốn khuyến khích các em học. Chúng ta cần giữ cho các em bận rộn và luôn động viên các em. Để cho sinh viên thấy giá trị của việc đưa nỗ lực vào học kiến thức. Thay vì ép buộc họ ngồi và nghe cái gì đó mà họ không quan tâm.

    Tác dụng của phương pháp đào tạo này

    Việc đọc bài giảng truyền thống không cho phép học sinh phát triển thành người có tư duy phê phán. Sinh viên thành người thu nhận tri thức thủ động từ các thầy cô. Nếu chúng ta muốn học sinh chủ động phân tích tài liệu. Chúng ta cần dùng phương pháp học chủ động.

    2 – Phần biệt giữa phương pháp học thụ động và chủ động

    a – Phương pháp học thụ động (truyền thống)

    Phương pháp học thụ động khuyến khích “tâm thế cố định”. Những điều thầy cô dạy là “khuôn vàng thước ngọc” mà học sinh phải tuân theo. Điều mà học sinh đọc từ tài liệu trên lớp bao giờ cũng là “Đúng”. Việc học tập chủ động khuyến khích tư duy độc lập và cho phép học sinh nghiên cứu lí thuyết, hỏi nhiều câu hỏi và phát triển “tâm thế tăng trưởng.” Chẳng hạn trong toán học bao giờ cũng có nhiều cách giải cho một đáp án. Không có khả năng nghĩ rộng, học sinh có thể không có khả năng đi xa hơn trong việc học của họ.

    b – Phương pháp học chủ động

    Cách thức triển khai phương pháp này

    3 – Kết quả khi áp dụng phương pháp

    Tôi đã dùng phương pháp học tập chủ động trong nhiều năm và thấy nó rất hữu dụng. Phần lớn các học sinh đều nói với tôi rằng: “Lúc ban đầu, họ không thích nó vì họ đã quen thụ động thay vì chủ động nhưng qua thời gian, phần lớn đã học tốt và hành tốt trong việc học của mình.”

    Bài viết này là kinh nghiệm của Giáo sư John Vu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cân Bằng Lợi Ích Kinh Tế Và Môi Trường: Bài Toán “Sống Còn” Của Ngành Giấy
  • 10 Lợi Ích Của Rau Luộc Mà Bạn Không Ngờ Tới
  • Món Rau Nào Cũng Luộc, Đừng Hỏi Tại Sao Bạn Ăn Mãi Không Khỏe
  • Bảo Vệ Rừng Có Lợi Ích Gì Mà Chúng Ta Nên Không Nên Thờ Ơ? – Farmerbox
  • Bảo Vệ Rừng Là Gì? Hãy Chứng Minh Rằng Bảo Vệ Rừng Là Bảo Vệ Cuộc Sống Của Chúng Ta
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100