Đặc Điểm Của Nền Kinh Tế Thị Trường

--- Bài mới hơn ---

  • Những Đặc Điểm, Tiêu Chí Cơ Bản, Phổ Biến Của Kinh Tế Thị Trường Hiện Đại Trong Điều Kiện Toàn Cầu Hóa
  • Đặc Điểm Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Giải Địa Lý Lớp 7 Bài 30: Kinh Tế Châu Phi
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Kinh Doanh Của Nhà Hàng
  • Khái Niệm Nhà Hàng Là Gì? Đặc Điểm Và Cách Phân Loại Nhà Hàng
  • Thị trường.

    Thị trường là nơi mua bán trao đổi các loại hàng hoá; nói cách khác đây là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu. Thị trường cũng là nơi tập trung nhiều nhất các mâu thuẫn của nền kinh tế, là nơi khởi điểm và kết thúc của quá trình kinh doanh.

    Trong thị trường, giá cả là phạm trù trung tâm, là bàn tay vô hình điều tiết và kích thích nền sản xuất của xã hội. Thông qua giá cả thị trường, thị trường thực hiện các chức năng điều tiết và kích thích của mình trong đó cung- cầu là hai phạm trù kinh tế lớn bao trùm lên thị trường, quan hệ cung- cầu trên thị trường đã quyết định giá cả trên thị trường.

    Kinh tế thị trường.

    Khái niệm kinh tế thị trường.

    Cùng với lịch sử phát triển của loài người thì kinh tế xã hội cũng có bước tiến phù hợp. Hình thái kinh tế chuyển từ kinh tế tự nhiên lên hình thái kinh tế cao hơn đó là kinh tế hàng hoá. Kinh tế hàng hoá ra đời đánh dấu sự phát triển của nền kinh tế xã hội, tới nay nó đã phát triển và đạt tới trình độ cao đó là nền kinh tế thị trường.

    Kinh tế thị trường là kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà trong đó các quan hệ kinh tế, phân phối sản phẩm , lợi ích đều do các quy luật của thị trường điều tiết, chi phối.

    Kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường mà cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố quan hệ cơ bản, vận động dưới sự chi phối của quy luật thị trường trong môi trường cạnh tranh nhằm mục đích sinh lợi.

    Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường.

    Thị trường và cơ chế thị trường là yếu tố khách quan, từng doanh nghiệp không thể làm thay đổi thị trường mà họ phải tiếp cận và tuân theo thị trường. Qua thị trường doanh nghiệp có thể tự đánh giá lại mình và biết được mình làm ăn hiệu quả không.

    Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp biểu hiện qua việc mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường. Thái độ cư xử của từng thành viên tham gia thị trường là hướng tìm kiếm lợi ích của mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường.

    Khách hàng giữ vị trí trung tâm trong nền kinh tế thị trường; quyết định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải tìm mọi cách để thu hút thoả mãn nhu cầu của khách hàng với phương trâm “khách hàng là thượng đế”.

    Tất cả các mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế được tiền tệ hoá. Tiền tệ trở thành thước đo hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Lợi nhuận là yếu tố trung tâm, là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Thông qua các quy luật kinh tế đặc biệt là sự linh hoạt trong giá cả nền kinh tế thị trường luôn duy trì sự cân bằng giữa cung- cầu của các loại hàng hoá, dịch vụ, hạn chế xảy ra khan hiếm hàng hoá.

    Vai trò của kinh tế thị trường.

    Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, mối quan hệ giữa mục tiêu tăng cường tự do cá nhân và mục tiêu công bằng xã hội, giữa đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống. Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế, các doanh nghiệp và người tiêu dùng lựa chọn lĩnh vực hoạt động, định ra các phương án kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao.

    Trong nền kinh tế thị trường, mỗi cá nhân, mỗi đơn vị kinh tế được tự do lựa chọn sản xuất kinh doanh nằm trong khuôn khổ pháp luật quy định.

    Qua đó ta thấy nền kinh tế thị trường có khả năng tập hợp được các loại hoạt động, trí tuệ và tiềm lực của hàng loạt con người nhằm hướng tới lợi ích chung của xã hội đó là: thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng năng xuất lao động, tăng hiệu quả kinh tế. Nhưng nền kinh tế thị trường không phải là một hệ thống được tổ chức hài hoà mà trong hệ thống đó cũng chứa đựng đầy mâu thuẫn phức tạp. Vì vậy, để khắc phục được và hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường cần thiết phải có sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế thị trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Địa Lí 8 Bài 31: Đặc Điểm Khí Hậu Việt Nam
  • Bài 31. Đặc Điểm Khí Hậu Việt Nam (Địa Lý 8)
  • Giải Địa Lý Lớp 8 Bài 31: Đặc Điểm Khí Hậu Việt Nam
  • Bài 31 : Đặc Điểm Khí Hậu Việt Nam
  • Cùng Tìm Hiểu Gà Jap Là Gà Gì? Gà Jap Thầy Khùng Là Như Nào ?
  • Kinh Tế Thị Trường Là Gì? Ưu Điểm, Hạn Chế Của Nền Kinh Tế Thị Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Cây Công Nghiệp Lâu Năm
  • Tầm Quan Trọng Và Lợi Ích Kinh Tế Của Chăn Nuôi Trâu Bò
  • Bất Ngờ Với Lợi Ích Thần Kỳ Của Thịt Gà Đông Tảo
  • 5 Loại Giống Gà Ta Đạt Giá Trị Kinh Tế Cao
  • Kỹ Thuật Nuôi Gà Đông Tảo Thả Vườn
  • Chúng ta khẳng dinh rằng kinh tế thị trường là một trong những cách tổ chức nền kinh tế xã hội. Các hoạt động mua, bán giữa từng chủ thể tham gia (cá nhân với cá nhân, cá nhân với tạp thể, tập thể với tập thể) cùng với thái độ của các chủ thể để đảm bảo giao dịch được diễn ra, đem đến lợi ích cho từng cá thể, nó còn có tác dụng dẫn dắt giá cả thị trường.

    Kinh tế thị trường còn được hiểu là khi kinh tế hàng hóa đã đạt được mức phát triển ở một trình độ cao. Lúc này đây, mọi quan hệ kinh tế nằm trong quá trình tái sản xuất xã hội tất cả đã được tiền tệ hóa. Trong đó, các yếu tố để sản xuất như vốn bằng vật chất, vồn bằng tiền, tài nguyên và đất đai, công nghệ và quản lý, sức lao động, chất xám, các sản phẩm dịch vụ đều trở thành đối tượng để các chủ thể mua bán, định giá.

    Mọi hệ thống có khả năng tự điều chỉnh nền kinh tế thì đó là kinh tế thị trường. Với việc điều chỉnh đó mang lại hiệu quả như là đảm bảo có năng suất, hiệu quả cao, chất lượng tốt. Làm dư thừa cũng như phong phú thêm các loại hàng hóa. Các dịch vị cũng được mở rộng và coi như là hàng hóa. Thị trường này luôn luôn có sự đổi mới về mặt hàng, năng động và có sự ứng dụng của công nghệ hiện đại.

    Nền kinh tế thị trường sẽ ngày một phát triển và được mở rộng hơn, Các hoạt động trao đổi mua bán, giao dịch trong nền kinh tế đó luôn tuần hoàn đảm bảo sự cân bằng giữa cung và cầu. Khi nền kinh tế phát triển theo hướng tích cực thì đời sống con người ngày một nâng cao, ngày một hiện đại hơn. Ngược lại, khi nền kinh tế đi xuống đó là minh chứng cho việc con người đang không có sự tiến bộ trong phát triển.

    Những ưu điểm và hạn chế của nền kinh tế thị trường

    • Kinh tế thị trường là điều kiện để thúc đẩy các hoạt động sản xuất, trao đổi mua bán diễn ra, thúc đẩy cho sự phát triển về vật chất của con người.
    • Nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế cho phép cạnh tranh một cách tự do.
    • Kinh tế thị trường tạo ra động lực để các doanh nghiệp có thể đổi mới, phát triển mình. Lý do là bởi, khi các doanh nghiệp đó muốn cạnh tranh và đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường thì đòi hỏi họ phải đổi mới về công nghệ, về quy trình sản xuất, quản lý, về các sản phẩm của mình. Sự đổi mới đó không có giới hạn.
    • Kinh tế thị trường cũng là tiền đề để có được một lực lượng sản xuất lớn cho xã hội, tạo ra hàng hóa, sản phẩm dư thừa giúp thỏa mãn nhu cầu của tiêu dùng ở mức tối đa.
    • Ở nền kinh tế thị trường thì con người thỏa sức sáng tạo, với mong muốn tìm ra phương án cải tiến cho phương thức làm việc, đúc rút cho bản thân nhiều kinh nghiệm.
    • Là nơi để phát hiện, đào tạo, tuyển chọn, sử dụng con người, nâng cao quy trình quản lý kinh doanh. Cũng là nơi để đào thải những quản lý chưa đạt được hiệu quả cao.
    • Kinh tế thị trường làm ra một môi trường kinh doanh dân chủ, tự do, công bằng.

    Hạn chế của nền kinh tế thị trường:

    • Đi đôi với các ưu điểm thì kinh tế thị trường còn có một số hạn chế như là:
    • Nền kinh tế này thường chú ý đến các nhu cầu có khả năng thanh toán nhiều hơn là nhu cầu cơ bản của xã hội.
    • Vì mong muốn có được lợi nhuận cao nên kinh tế thị trường thường tìm tới những hoạt động giao dịch có lãi cao chứ những sản phẩm, dịch vụ không có nhiều lãi thì không làm nên vấn đề “hàng hóa công cộng” đã bị hạn chế.
    • Nền kinh tế thị trường làm nổi cộm lên sự phân biệt giàu nghèo. Có sự phân chia giữa những người đã giàu thì lại càng nhanh chóng giàu hơn. Người nghèo thì vẫn nghèo nên có ranh giới rất rõ rệt.
    • Bên cạnh việc thúc đẩy cho xã hội tiến bộ hơn thì kinh tế thị trường đôi khi cũng dẫn tới suy thoái, xung đột và khủng hoảng.

    Kinh tế thị trường là gì đã được chúng tôi giải thích khá rõ ràng qua bài viết phía trên. Qua đó, những ưu điểm và hạn chế của kinh tế thị trường cũng đã được làm rõ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Quyết Hài Hòa Quan Hệ Giữa Lợi Ích Cá Nhân Và Lợi Ích Xã Hội Trong Điều Kiện Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tính Đặc Thù Của Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Tài Liệu Lợi Ích Quân Nhân Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Thực Tiễn Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Nước Ta
  • Đặc Điểm Nền Kinh Tế Thị Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Địa Lý Lớp 7 Bài 30: Kinh Tế Châu Phi
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Kinh Doanh Của Nhà Hàng
  • Khái Niệm Nhà Hàng Là Gì? Đặc Điểm Và Cách Phân Loại Nhà Hàng
  • Tìm Hiểu Đặc Điểm Của Kinh Doanh Nhà Hàng
  • Đặc Điểm, Vai Trò Và Chức Năng Của Nhà Hàng Trong Khách Sạn
  • Thị trường của doanh nghiệp

    Ai cũng biết rằng thương trường là chiến trường, do vậy muốn tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp cần phải hiểu rõ thị trường mà mình đang kinh doanh. Thị trường của doanh nghiệp được xác định bởi các yếu tố sau : Tất cả các khách hàng hiện tại và tiềm năng của doanh nghiệp, những thông số về hàng hoá mà Công ty đang sản xuất kinh doanh, không gian và thời gian cung ứng hàng hoá cho khách hàng, khả năng chào hàng và cung ứng hàng hoá cho khách hàng, những giải pháp nhằm duy trì, củng cố và mở rộng thị trường .

    Trước tiên cần phải tìm hiểu thị trường là gì ? Cùng với quá trình tồn tại, hoàn thiện và phát triển của loài người, thuật ngữ ” thị trường ” đã xuất hiện khá lâu, ngày càng được sử dụng rộng rãi và quen thuộc với mọi người. Kể từ khi loài người biết trao đổi hàng hoá với nhau thị trường đã xuất hiện. Ngày nay tồn tại rất nhiều khái niệm khác nhau về thị trường tuỳ theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận. Ơ đây chỉ xem xét thị trường dưới góc độ kinh tế :

    – Dưới góc độ vĩ mô : Thị trường là tổng hợp các điều kiện để thực hiện sản phẩm trong nền kinh tế thị trường và phân công lao động xã hội.

    – Dưới góc độ vi mô : Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá – dịch vụ.

    Nói rộng hơn, thị trường là một quá trình trong đó người bán và người mua tác động qua lại với nhau để xác định lại giá cả và số lượng hàng hoá trao đổi. Nói đến thị trường là nói đến lĩnh vực trao đổi hàng hoá tức là cung – cầu hàng hoá.

    Cung là số lượng hàng hoá mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định. Như vậy cung phản ánh mối quan hệ trực tiếp trên thị trường của hai biến số : lượng hàng hoá – dịch vụ cung ứng và giá cả trong một thời gian nhất định.

    Cầu là số lượng hàng hoá mà người mua có khả năng mua và sắn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định. Cầu có hai yếu tố cơ bản : khả năng mua và ý muốn sẵn sàng mua hàng.

    Sự tác động qua lại giữa cung và cầu trên thị trường tại một thời điểm nhất định sẽ hình thành các mức giá khác nhau và có xu hướng tiến tới giá cân bằng tức là mức giá làm cho thị trường bán hết một loại hàng hoá nào đó, ở đó lượng cung bằng lượng cầu. Giá này chi phối khách hàng trong việc chọn mua cái gì, mua thế nào và mua cho ai.

    Từ những khái niệm trên đi vào tìm hiểu các yếu tố cấu thành nên thị trường của doanh nghiệp :

    Tập khách hàng hiện tại và tiềm năng của doanh nghiệp :

    Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì cần phải tiêu thụ được sản phẩm của mình . Điều này được thể hiện qua các khách hàng của doanh nghiệp . Các khách hàng đến mua sản phẩm của doanh nghiệp có thể để trực tiếp sử dụng hoặc có thể để sản xuất kinh doanh , doanh nghiệp luôn luôn cần phải tìm kiếm khách hàng để mở rộng khả năng sản xuất kinh doanh của mình . Khách hàng của Công ty có thể là các đại lý bán buôn , bán lẻ , những người tiêu dùng trực tiếp , có thể là các doanh nghiệp thương mại , doanh nghiệp sản xuất hoặc các tổ chức Nhà nước , có thể là khách hàng hiện tại hay khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp , khách hàng trong nước và khách hàng ngoài nước …

    Do khách hàng của doanh nghiệp có vị trí quan trọng như vậy nên ta cần tìm hiểu kỹ về họ thông qua hành vi mua của họ :

    Hành vi mua của khách hàng được thể hiện qua công thức sau :

    Sự lựa chọn của người mua

    = Nhu cầu

    + Khả năng mua +

    Thái độ đối với những sản phẩm của doanh nghiệp

    Nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp là yếu tố đầu tiên để kích thích khách hàng đến vơí doanh nghiệp . Nhu cầu này càng cao thì càng thúc dục khách hàng đến với doanh nghiệp nhanh hơn . Doanh nghiệp cần tìm kiếm nhu cầu của khách hàng và có những biện pháp nhằm kích thích nhu cầu của họ . Còn khả năng mua ở đây nó bao gồm khả năng thanh toán và số lượng mà khách hàng có thể mua .

    Thái độ đối với những sản phẩm của doanh nghiệp chính là họ có cảm giác hài lòng , thoả mãn khi sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp , có sự tự hào hay chỉ mang tính quần chúng , sự ganh đua hay sợ hãi. Mỗi khách hàng đều có một tâm lý riêng , doanh nghiệp cần nắm bắt tâm lý của họ để đáp ứng nhu cầu của họ một cách tốt nhất .

    Ngoài ra khách hàng còn gây áp lực đối với doanh nghiệp thông qua sức ép của giá cả . Hiện nay, thị trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt , cùng một loại sản phẩm nhưng có rất nhiều các nhà sản xuất kinh doah . Tuy nhiên nếu sản phẩm của Công ty đã có uy tín trên thị trường rồi thì áp lực này sẽ giảm xuống . Do vậy thông qua giá cả , khách hàng vừa là nguy cơ nhưng vừa là cơ hội cho doanh nghiệp .

    Các thông số về hàng hoá, không gian và thời gian cung ứng hàng hoá cho khách hàng.

    Khả năng chào hàng và cung ứng hàng hoá cho khách hàng.

    Khả năng cung ứng hàng hoá cho khách hàng : Nó tuỳ thuộc vào lượng khách hàng hiện có của doanh nghiệp và khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp . Cần nghiên cứu kỹ tập khách hàng hiện tại, sự thay đổi nhu cầu của họ để có kế hoạch sản xuất kinh doanh hợp lý và cần nghiên cứu tập khách hàng tiềm năng để có kế hoạch tăng khối lượng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .

    Đặc trưng của nền kinh tế thị trường

    Cơ cấu thị trường là một hình thức kinh tế trong đó cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để giải quyết ba vấn đề trung tâm cuả tổ chức kinh tế.

    Nền kinh tế thị trường đã và đang từng bước được hoàn thiện và ngày càng phát triển, trong quá trình đó nó thể hiện những đặc trưng :

    -Nền kinh tế thị trường lấy thị trường làm trung tâm của nền kinh tế, chính thị trường điều tiết trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    -Vì mục tiêu lợi nhuận, doanh nghiệp phải biết vận dụng và phát huy các quy luật kinh tế của thị trường . Mỗi doanh nghiệp là một thực thể độc lập trong kinh doanh , có quyền hợp tác cũng như cạnh tranh với nhau trên thị trường.

    -Liên doanh, liên kết kinh tế là xu thế tất yếu trong kinh doanh không giới hạn phạm vi trong nước và quốc tế.

    -Sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường tạo ra các yếu tố của thị trường : thị trường vốn, thị trường sức lao động, thị trường hàng hoá…

    -Sự vận động của nền kinh tế thị trường gắn với sự can thiệp vĩ mô của Nhà nước (đây là sự can thiệp có mức độ ) để điều tiết mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Đặc Điểm, Tiêu Chí Cơ Bản, Phổ Biến Của Kinh Tế Thị Trường Hiện Đại Trong Điều Kiện Toàn Cầu Hóa
  • Đặc Điểm Của Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Địa Lí 8 Bài 31: Đặc Điểm Khí Hậu Việt Nam
  • Bài 31. Đặc Điểm Khí Hậu Việt Nam (Địa Lý 8)
  • Giải Địa Lý Lớp 8 Bài 31: Đặc Điểm Khí Hậu Việt Nam
  • Quản Lý Thị Trường Xăng Dầu: Phải Vì Lợi Ích Của Nền Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Doanh Nghiệp Thương Mại Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Trách Nhiệm Xã Hội Của Cá Nhân Và Yêu Cầu Nâng Cao Trách Nhiệm Này Trong Điều Kiện Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tài Liệu Mối Quan Hệ Giữa Lợi Ích Cá Nhân Và Đạo Đức Xã Hội Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Lợi Ích Của Gà Đông Tảo Hưng Yên
  • Những Lợi Ích Bất Ngờ Của Thịt Gà Đông Tảo
  • Quản lý thị trường xăng dầu: Phải vì lợi ích của nền kinh tế

    Bà Phạm Chi Lan.

    Kể từ sau cuộc hội thảo về xăng dầu do Bộ Tài chính tổ chức hôm 20/9 cùng các biện pháp mạnh mẽ của Bộ Tài chính, dư luận đặc biệt quan tâm và kỳ vọng những luẩn quẩn của thị trường xăng dầu vốn gây quá nhiều bức xúc sẽ được thay đổi.

    Sáng 22/9, chuyên gia Phạm Chi Lan trao đổi thẳng thắn với phóng viên Báo CAND.

    Kể từ khi đảm nhận chức vụ Bộ trưởng Tài chính, Bộ trưởng Vương Đình Huệ đã có nhiều biện pháp nhằm minh bạch hóa thị trường xăng dầu, nhưng diễn biến cho thấy còn nhiều khó khăn?

    Các bộ không phải là người đại diện cho các doanh nghiệp, không phải là người đứng ra để bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp, đó là điều cơ bản. Dù là doanh nghiệp Nhà nước thì các bộ với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước phải quản lý trên góc độ bảo vệ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế, lợi ích của 86 triệu người dân, từ đó yêu cầu các doanh nghiệp hoạt động làm sao cho có hiệu quả và phải đặt lợi ích của nền kinh tế, của người dân lên số 1. Cho nên, thái độ của Bộ trưởng Vương Đình Huệ là rất đúng đắn và tôi thực sự mong các Bộ, ngành khác cũng cần làm như vậy, trước hết là Bộ Công thương, xem xét lại cách tiếp cận của mình.

    – Theo bà, những lý lẽ đưa ra của Bộ trưởng Vương Đình Huệ như thế nào, vì nếu không đủ sức thuyết phục thì dễ nảy sinh bất đồng?

    – Bộ trưởng Vương Đình Huệ đưa ra vấn đề trên cơ sở thông tin đầy đủ và hiểu biết của ông rất sâu về lĩnh vực kinh doanh này chứ không phải là thiếu căn cứ. Ví dụ như qua hoạt động kiểm toán nhiều năm về hoạt động của các doanh nghiệp xăng dầu, Bộ trưởng nói thẳng là có các căn cứ, dữ liệu trong tay. Hay xung quanh quyết định giảm giá xăng 500 đồng/lít vừa rồi là đã tham khảo trên cơ sở số liệu của Hải quan, cho thấy thời gian đó doanh nghiệp đã có lãi, cần thiết phải giảm giá xăng dầu. Như thế, đó là quyết định đúng đắn. Trong khi Bộ Công thương và doanh nghiệp xăng dầu lại phản ứng, cho là không đúng. Tôi cho rằng, cách làm việc của Bộ trưởng Vương Đình Huệ như vậy là có căn cứ và thận trọng, nghiêm túc khi đưa ra quyết định.

    – Còn việc Bộ trưởng tuyên bố chịu trách nhiệm cá nhân khi đưa ra quyết định?

    – Liệu có chuyện mập mờ trong vấn đề này không, thưa bà?

    – Rõ ràng là mập mờ mới muốn đánh ù từ cái nọ sang cái kia, lấy cái mập mờ đó mang lại lợi ích cho mình. Chỉ trong thời gian ngắn, có vài tháng thôi, lúc bảo lãi, lúc bảo lỗ mà rõ ràng không có được cơ sở từng nhóm hàng một để tính kinh doanh lãi lỗ như thế nào, đó là điều không chấp nhận được. Nhà nước giao lĩnh vực kinh doanh lớn như vậy vào tay những con người như thế thực sự là quá nguy hiểm.

    – Bộ trưởng Vương Đình Huệ nói doanh nghiệp nào giải tán cho giải tán ngay?

    – Tôi tán thành điều đó. Nhưng tôi nghĩ đối với trường hợp Petrolimex, không nhất thiết phải giải tán doanh nghiệp mà trước hết là đối với người đứng đầu, không nắm được công việc như vậy, làm Tổng Giám đốc nắm hệ thống doanh nghiệp mà không biết lãi lỗ từng mặt hàng như thế nào thì trước hết đó là trách nhiệm cá nhân của ông…

    – Để xây dựng một thị trường xăng dầu minh bạch phải giải quyết mâu thuẫn này thế nào vì Bộ Công thương và Bộ Tài chính là hai Bộ chịu trách nhiệm chính về quản lý Nhà nước lĩnh vực này?

    – Xăng dầu đã là câu chuyện muôn thuở, lỗ lãi doanh nghiệp báo chí cũng nói quá nhiều. Bà nghĩ sao từ sự kiện làm nóng dư luận này?

    – Tôi nghĩ vì lâu nay họ được chiều chuộng, ưu ái quá nhiều. Vì vậy họ mới làm mình làm mẩy như vậy. Cho nên cách làm việc mới của Bộ trưởng Vương Đình Huệ là rất đáng hoan nghênh.

    – Nhưng sẽ còn nhiều thách thức?

    Xin cảm ơn bà!

    Đăng Trường (thực hiện)

    Công an nhân dân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Kiểu Quan Hệ Lợi Ích Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn
  • Những Lợi Ích Của Việc Tập Thể Dục Đối Với Sức Khỏe
  • Nhảy Aerobic Giảm Cân: Không Những Khỏe Đẹp Mà Còn Xả Stress
  • Gợi Ý Cách Chọn Nhạc Nhảy Aerobic Thiếu Nhi
  • Bóc Tem Những Lợi Ích Của Các Bài Nhảy Aerobic Đối Với Trẻ Em
  • Các Kiểu Quan Hệ Lợi Ích Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Thị Trường Xăng Dầu: Phải Vì Lợi Ích Của Nền Kinh Tế
  • Vai Trò Của Doanh Nghiệp Thương Mại Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Trách Nhiệm Xã Hội Của Cá Nhân Và Yêu Cầu Nâng Cao Trách Nhiệm Này Trong Điều Kiện Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tài Liệu Mối Quan Hệ Giữa Lợi Ích Cá Nhân Và Đạo Đức Xã Hội Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Lợi Ích Của Gà Đông Tảo Hưng Yên
  • Các Kiểu Quan Hệ Lợi ích Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn ở Việt Nam, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Vai Trò Của Nhà Nước Pháp Quyền Đối Với Kinh Tế Thị Trường Và Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội C, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Tiểu Luận Về Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Thông Tư Hướng Dẫn Sử Dụng Kinh Phí Thực Hiện Công Tác Y Tế Trong Các Trường, Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Pdf, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Vai Trò Của Pháp Luật Xhcn Đối Với Kinh Tế Và Chính Trị, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nhân Tố Quan Trọng Quyết Định Hiệu Quả Kinh Tế Hiện Nay, Tiểu Luận Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ N, Thực Trạng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Iệt Nam Vừa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ Biế, Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Quá Trình Đảng Chỉ Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trương Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Số 11-nq/tw Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Liên Hệ Với Những ưu Thế Của Nền Kinh Tế Thị Trường Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Của Việt Nam, Hãy Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình Thông Qua Một , Hãy Giải Thích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình, Lý Luận Hình Thái Kinh Tế – Xã Hội Với Việc Lựa Chọn Con Đường Xhcn ở Việt Nam, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam Chưa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ B, Tại Sao Phải Thống Nhất Nhận Thức Về Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Đảng Chỉ Đạo Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng X, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chỉ Nghĩa ở Việt Nam Bao Hàm Những Đặ Trưng Có Tính Phổ Biến Củ, Mối Quan Hệ Giữa Dân Chủ Xhcn Và Nhà Nước Xhcn, Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến , Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Hướng Dẫn Về Quản Lý Chất Lượng Đo Lường Trong Kinh Doanh Khí Dầu Mỏ Hóa Lỏng, Quan Điểm Lịch Sử Cụ Thể Trong Việc Hoạch Định Chính Sách Phát Triển Kinh Tế Việt Nam Qua Các Thời K, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin Về Việc Xây Dựng Nền Văn Hóa Xhcn Trong Cách Mạng Xã Hội Chủ , Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin Về Việc Xây Dựng Nền Văn Hóa Xhcn Trong Cách Mạng Xã Hội Chủ, Chuyên Đề 3 Quản Lí Giáo Dục Và Chính Sách Gd Trong Cơ Chế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghãi, Độc Quyền Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Giải Pháp Hoàn Thiện The Chế Gan Ket Tang Truong Kinh Kinh Tế, Tiểu Luận Vai Trò Của Kinh Tế Thị Trường Đối Với Việc Phát Triển Kinh Tế Xã Hội ở Việt Nam Hiện Nay, Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Bảo Hộ Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Đối Với Nhãn Hiệu Trong Kinh Tế Thị Trường, Thảo Kinh Tổ Tiên Trong Thánh Kinh, Kinh Tế Lượng Trong Phân Tích Và Dự Báo Kinh Tế Xã Hội, Yêu Cầu Đối Với Thông Tin Trong Quản Trị Kinh Doanh, Nội Quy Mẫu Trong Kinh Doanh Nhà Hàng Quán ăn, Phát Triển Thương Mại Điện Tử ở Việt Nam Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường ở Việt Nam Hiện Nay, Quan Niệm Không Đúng Về Kinh Tế Thị Trường, Quan Niệm Nào Không Đúng Về Kinh Tế Thị Trường, Nghiên Cứu Khoa Học Trong Quản Trị Kinh Doanh, Phương Pháp Kinh Tế Trong Quản Lý Nhà Nước, Thống Kê Trong Kinh Tế Và Kinh Doanh Neu, Sách Giáo Khoa Dạy Trong Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Tiểu Luận Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường ở Việt Nam H, Thầy Cô Hãy Chia Sẻ Kinh Nghiệm Giảng Dạy Để Thu Hút Hs Trong Các Tiết Học Atgt ỏ Trường, Hướng Dẫn ứng Xử Trong Kinh Doanh Của Textron, Lý Luận Về Các Phân Tích Môi Trường Kinh Doanh Quán, Tam Quốc Và Những Bí Quyết Trong Quản Lý Kinh Doanh, 3. Phương Hướng Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng Và Cơ Cấu Lại Nền Kinh Tế, Quan Điểm Chỉ Đạo Của Đảng Trong Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hóa, Tư Tưởng, Quản Trị Kinh Doanh Kinh Tế Quốc Dân, Vì Sao Phân Bổ Công Nghiệp Có Vai Trò Quan Trọng Thúc Đẩy Sự Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội, Sáng Kiến Kinh Nghiệm Trong Quản Lý Nhà Nước Về Chăn Nuôi, Định Luật 80/20 Trong Kinh Doanh, Ra Quyết Định Trong Kinh Doanh, Kinh Tế Thị Trường Và Các Quy Luật Kinh Tế, Quyết Định Bổ Nhiệm Vụ Trưởng Vụ Kinh Tế Đối Ngoại, Quan Điểm Cơ Bản Của Đảng Ta Về Phát Triển Kinh Tế Trong Giai Đoạn Hiện Nay Về, Hướng Dẫn Thực Hành Quản Trị Kinh Doanh, 9 Yếu Tố Quyết Định Điểm 10 Trong Kinh Doanh, Nếu Gdp Thực Tế Của Nền Kinh Tế Tăng Từ 2000 Tỷ Lên 2100 Tỷ, Thì Tỷ Lệ Tăng Trưởng Kinh Tế Của Quốc, Nếu Gdp Thực Tế Của Nền Kinh Tế Tăng Từ 2000 Tỷ Lên 2100 Tỷ, Thì Tỷ Lệ Tăng Trưởng Kinh Tế Của Quốc , Quyết Định Bổ Nhiệm Trưởng Phòng Kinh Doanh, Định Nghĩa Nào Sau Đây Về Tăng Trưởng Kinh Tế Là Không Đúng, Tại Sao Phân Bố Công Nghiệp Có Vai Trò Quan Trọng Thúc Đẩy Sự Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Trên Lạnh Th, Vì Sao Phân Bổ Công Nghiệp Có Vai Trò Quan Trọng Thúc Đẩy Sự Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Trên Lãnh T, Vì Sao Phân Bổ Công Nghiệp Có Vai Trò Quan Trọng Thúc Đẩy Sự Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Trên Lãnh T, Giáo Trình Giao Tiếp Trong Kinh Doanh Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, Phan Tich Dinh Luong Trong Kinh Doanh, Kinh Tế Và Quản Trị Kinh Doanh, Hãy Kể Tên 6 Trường Thcs ở Quận Ninh Kiều Mà Em Biết, Cơ Sở Lý Luận Về Thông Tin, Dự Báo Và Quyết Định Quản Trị Kinh Doanh, Mẩu Số 02/uq-cn( Dành Cho Các Hộ, Thành Viên Trong Gia Đình,hộ Kinh Doanh,tổ Chức Khac Không Co Tư C, Mẩu Số 02/uq-cn( Dành Cho Các Hộ, Thành Viên Trong Gia Đình,hộ Kinh Doanh,tổ Chức Khac Không Co Tư C, Quy Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Dầu Khí, Kinh Doanh Xăng Dầu Và Khí, Tiểu Luận Tình Huống Trong Quản Ly Môi Trường,

    Các Kiểu Quan Hệ Lợi ích Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn ở Việt Nam, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Vai Trò Của Nhà Nước Pháp Quyền Đối Với Kinh Tế Thị Trường Và Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội C, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Tiểu Luận Về Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Thông Tư Hướng Dẫn Sử Dụng Kinh Phí Thực Hiện Công Tác Y Tế Trong Các Trường, Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Pdf, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Vai Trò Của Pháp Luật Xhcn Đối Với Kinh Tế Và Chính Trị, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nhân Tố Quan Trọng Quyết Định Hiệu Quả Kinh Tế Hiện Nay, Tiểu Luận Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ N, Thực Trạng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Iệt Nam Vừa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ Biế, Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Quá Trình Đảng Chỉ Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trương Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Số 11-nq/tw Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Liên Hệ Với Những ưu Thế Của Nền Kinh Tế Thị Trường Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Của Việt Nam, Hãy Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình Thông Qua Một , Hãy Giải Thích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình, Lý Luận Hình Thái Kinh Tế – Xã Hội Với Việc Lựa Chọn Con Đường Xhcn ở Việt Nam, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam Chưa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ B, Tại Sao Phải Thống Nhất Nhận Thức Về Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Đảng Chỉ Đạo Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng X, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chỉ Nghĩa ở Việt Nam Bao Hàm Những Đặ Trưng Có Tính Phổ Biến Củ, Mối Quan Hệ Giữa Dân Chủ Xhcn Và Nhà Nước Xhcn, Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến , Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Hướng Dẫn Về Quản Lý Chất Lượng Đo Lường Trong Kinh Doanh Khí Dầu Mỏ Hóa Lỏng, Quan Điểm Lịch Sử Cụ Thể Trong Việc Hoạch Định Chính Sách Phát Triển Kinh Tế Việt Nam Qua Các Thời K, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin Về Việc Xây Dựng Nền Văn Hóa Xhcn Trong Cách Mạng Xã Hội Chủ , Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin Về Việc Xây Dựng Nền Văn Hóa Xhcn Trong Cách Mạng Xã Hội Chủ, Chuyên Đề 3 Quản Lí Giáo Dục Và Chính Sách Gd Trong Cơ Chế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghãi,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Lợi Ích Của Việc Tập Thể Dục Đối Với Sức Khỏe
  • Nhảy Aerobic Giảm Cân: Không Những Khỏe Đẹp Mà Còn Xả Stress
  • Gợi Ý Cách Chọn Nhạc Nhảy Aerobic Thiếu Nhi
  • Bóc Tem Những Lợi Ích Của Các Bài Nhảy Aerobic Đối Với Trẻ Em
  • Lợi Ích Của Việc Nhảy Aerobic Thiếu Nhi Tiểu Học Dưới Nước
  • Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp Trong Nền Kinh Tế Thị Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Lợi Ích Quân Nhân Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tính Đặc Thù Của Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Giải Quyết Hài Hòa Quan Hệ Giữa Lợi Ích Cá Nhân Và Lợi Ích Xã Hội Trong Điều Kiện Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Kinh Tế Thị Trường Là Gì? Ưu Điểm, Hạn Chế Của Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Phát Triển Cây Công Nghiệp Lâu Năm
  • Do sự khan hiếm nguồn lực xã hội, khả năng kinh doanh của doanh nghiệp hạn chế nên các doanh nghiệp không thể có lợi thế hơn các đối thủ về mọi mặt. Vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần biết tận dụng những lợi thế của mình, biến chúng thành các công cụ cạnh tranh thực sự lợi hại để đạt được mục tiêu kinh tế đã đặt ra. Tuy nhiên, các mặt khác mà doanh nghiệp không có lợi thế bằng thì cũng không nên bỏ qua.

    Sản phẩm và chất lượng sản phẩm.

    Sản xuất cái gì? cho ai? Là câu hỏi lớn nhất mà mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải đối mặt trong cơ chế thị trường. Trả lợi được câu hỏi này có nghĩa là doanh nghiệp đã xây dựng cho mình một chính sách sản phẩm. Không một doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trường mà lại không có sản phẩm kinh doanh cho dù là hữu hình hay vô hình. Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải làm cho sản phẩm của mình thích ứng được với thị trường một cách nhanh chóng thì mới có thể tiêu thụ hết trên thị trường, mở rộng thị trường, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

    a. Sản phẩm

    Có thể xây dựng lợi thế cạnh tranh từ sản phẩm theo hai cách:

    Đi đôi với việc thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, để đảm bảo đứng vững trong cuộc cạnh tranh, doanh nghiệp có thể thực hiện chiến lược khác biệt hoá sản phẩm bằng cách tạo ra sản phẩm dịch vụ mà khách hàng cho là có những điểm độc đáo và từ đó hấp dẫn khách hàng vì sự độc đáo đó. Ưu điểm của chiến lược này là doanh nghiệp không bị cạnh tranh từ các đối thủ vì các khó lòng vượt qua lòng trung thành của khách hàng về nhãn hiệu mà doanh nghiệp xây dựng được. (Ví dụ, xe ôtô: có tính sang trọng là Mercedes- Ben, tính kinh tế là Toyota…). Tuy nhiên, doanh nghiệp rất khó giữ vững thị phần của mình vì khó có thể duy trì sự khác biệt trong thời gian dài do bị đối thủ bắt chước rất nhanh và gặp khó khăn trong duy trì giá cao.

    Như vậy, sản phẩm và xác định cơ cấu sản phẩm tối ưu là một trong những yếu tố quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

    b. Chất lượng sản phẩm

    Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khâu thiết kế tới tổ chức sản xuất và ngay cả sau khi tiêu thụ hàng hoá và chịu tác động của nhiều yếu tố: công nghệ dây chuyền sản xuất, nguyên vật liệu, trình độ tay nghề lao động, trình độ quản lý… Chất lượng sản phẩm có thể được hiểu là mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật hoặc la khả năng thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Nâng cao chất lượng thì phải giải quyết được cả hai vấn đề trên.

    Xuất phát từ quan điểm thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng, khi đời sống của con người ngày càng cao thì việc cải thiện chất lượng sản phẩm trở thành vấn đề cấp bách đối với mỗi doanh nghiệp. Làm ngược lại, doanh nghiệp đã tự từ chối khách hàng, đẩy lùi hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác, cải tiến sản phẩm còn giúp doanh nghiệp hội nhập tốt hơn với xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế, vươn tới những thị trường xa hơn. Hiệp định thương mại Việt – Mỹ được ký kết tháng 7 năm 2000 đã mở ra những cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt nam. Song để xuất khẩu hàng hoá sang Mỹ, các sản phẩm của ta phải tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn về công nghệ, hàm lượng dinh dưỡng, an toàn vệ sinh, cũng như về bao gói, bảo quản…

    Hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, một quan niệm mới về chất lượng đã xuất hiện: chất lượng sản phẩm không chỉ là tốt, bền, đẹp mà nó còn do khách hàng quyết định. Quản lý chất lượng sản phẩm là yếu tố chủ quan còn sự đánh gía của khách hàng mang tính khách quan. Ở đây, nhân tố khách quan đã tác động, chi phối yếu tố chủ quan. Quan niệm này xuất phát từ thực tế là mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên quyết liệt hơn.

    Chất lượng sản phẩm thể hiện tính quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ:

    – Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm.

    – Sản phẩm chất lượng cao sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp, kích thích khách hàng mua hàng và mở rộng thị trường.

    – Chất lượng sản phẩm cao làm tăng khả năng sinh lời, cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp.

    Giá bán sản phẩm

    Giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định thị phần của doanh nghiệp và khả năng sinh lời của nó. Đồng thời, giá cả còn là công cụ linh hoạt nhất, mềm dẻo nhất trong cạnh tranh.

    Giá cả sản phẩm trên thị trường được hình thành thông qua thoả thuận giữa người bán và người mua. Nó đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua hay không mua của khách hàng. Trong nền kinh tế thị trường, có sự cạnh tranh của các doanh nghiệp, “khách hàng là thượng đế” họ có quyền lựa chọn những gì mà họ cho là tốt nhất, và cùng một loại sản phẩm với chất lượng tương đương nhau, chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá bán thấp hơn, khi đó sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp sẽ tăng lên.

    Mặc dù vậy, khi thu nhập của đại bộ phận dân cư đều tăng, khoa học kỹ thuật phát triển thì việc định gía thấp chưa hẳn là giải pháp hữu hiệu, đôi khi còn bị đánh đồng với việc suy giảm chất lượng. Vì vậy, định giá thấp, định giá ngang thị trường hay định giá cao, làm sao sử dụng giá cả như một vũ khí cạnh tranh lợi hại là tuỳ thuộc vào từng loại sản phẩm, từng giai đoạn trong chu kỳ sản phẩm hay tuỳ thuộc vào đặc đỉêm của từng vùng thị trường.

    Nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm

    Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường bao gồm cả chức năng sản xuất và tiêu thụ. Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, đây cũng là giai đoạn thực hiện bù đắp chi phí và thu lợi nhuận. Nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm thể hiện ở hai mặt:

    Trước hết là phải lựa chọn các kênh phân phối để sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ nhanh chóng, hợp lý và đạt hiệu quả cao. Tiêu thụ nhanh với số lượng nhiều sẽ tăng nhanh vòng quay của vốn, tăng lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Xây dựng một hệ thống mạng lưới tiêu thụ sản phẩm đòi hỏi tính toán nhiều yếu tố, phải mất nhiều năm và không dễ gì thay đổi được nó. Bù lại, doanh nghiệp có một nền móng vững chắc để phát triển thị trường, bảo vệ thị phần của doanh nghiệp có được.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Tiễn Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Nước Ta
  • Mối Quan Hệ Giữa Lợi Ích Cá Nhân Và Đạo Đức Xã Hội Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay.
  • Đặc Khu Kinh Tế Là Gì ? Lợi Ích Của Đặc Khu Kinh Tế
  • Đánh Giá Hiệu Qủa Kinh Tế Và Xã Hội Của Dự Án
  • Lý Thuyết Thương Mại Mới
  • Vai Trò Của Doanh Nghiệp Thương Mại Trong Nền Kinh Tế Thị Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Trách Nhiệm Xã Hội Của Cá Nhân Và Yêu Cầu Nâng Cao Trách Nhiệm Này Trong Điều Kiện Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tài Liệu Mối Quan Hệ Giữa Lợi Ích Cá Nhân Và Đạo Đức Xã Hội Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Lợi Ích Của Gà Đông Tảo Hưng Yên
  • Những Lợi Ích Bất Ngờ Của Thịt Gà Đông Tảo
  • Nên Nuôi Gà Đông Tảo Hay Gà Hồ?
  • Khái niệm

    Doanh nghiệp thương mại là tổ chức kinh tế hợp pháp chuyên kinh doanh để kiếm lời thông qua hoạt động mua bán hàng hoá hiện vật trên thị trường. Nói cách khác thì doanh nghiệp thương mại chủ yếu thực hiện mua bán hàng hoá.

    Như vậy, có thể nói hoạt động của doanh nghiệp thương mại là hoạt động dịch vụ, thông qua hoạt động mua bán trên thị trường thì doanh nghiệp thương mại làm dịch vụ cho người tiêu dùng và người sản xuất và đồng thời đáp ứng lợi ích của chính mình. Hoạt động của doanh nghiệp thương mại không nhằm vào việc mua chỗ rẻ bán chỗ đắt hoặc mua của người thừa bán cho người thiếu mà hoạt động của doanh nghiệp thương mại chủ yếu dựa trên yêu cầu có sự tham gia của trung gian vào việc trao đổi hàng hoá giữa ngưới sản xuất và người tiêu dùng nhằm thoả mãn nhu cầu của hai bên.

    Đặc trưng của doanh nghiệp thương mại

    Doanh nghiệp thương mại là doanh nghiệp làm dịch vụ cho người mua và người bán sản phẩm hàng hoá, dịch vụ trên thị trường do đó nó có một số đặc trưng sau:

    – Vì doanh nghiệp không có chức năng sản xuất cho nên các doanh nghiệp thương mại có đối tượng lao động là các sản phẩm hàng hoá hoàn chỉnh. Nó là điểm khác biệt cơ bản giũa doanh nghiệp sản xuất với doanh nghiệp thương mại.

    – Hoạt động của doanh nghiệp thương mại cũng giống như doanh nghiệp khác nó bao gồm các quá trình kinh tế, tổ chức kỹ thuật… Nhưng trong doanh nghiệp thương mại thì nhân vật trung tâm là khách hàng. Cho nên, mọi hoạt động của doanh nghiệp thương mại đều tập trung hướng vào khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi để thoả mãn mong muốn, nhu cầu của khách hàng.

    – Do đặc điểm khách hàng là nhân vật trung tâm của doanh nghiệp thương mại và nhu cầu của khách hàng là rất phong phú và đa dạng và mọi hoạt động của doanh nghiệp thương mại là nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng cho nên việc phân công chuyên môn hoá trong nội bộ doanh nghiệp cũng như giữa các doanh nghiệp thương mại bị hạn chế hơn so với doanh nghiệp sản xuất.

    – Do tính đặc thù của doanh nghiệp thương mại là trung gian giữa người sản xuất với người tiêu dùng cho nên giữa các doanh nghiệp thương mại có tính chất liên kết tất yếu giữa các doanh nghiệp để hình thành lên ngành kinh tế kỹ thuật. Nó đã tạo nên tính chất “phường hội” của hoạt động thương mại.

    Khái niệm về bán hàng

    Thuật ngữ bán hàng được sử dụng phổ biến trong kinh doanh, tuy nhiên nó được tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau.

    Bán hàng là một phạm trù kinh tế cơ bản của nền kinh tế hàng hoá, là hoạt động nhằm thực hiện giá trị của sản phẩm hàng hoá trên cơ sở thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng về mặt giá trị sử dụng nhờ đó mà người bán đạt được mục tiêu của mình.

    Bán hàng là một mắt xích trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Bán hàng là việc chuyển dịch quyền sở hữu hàng hoá cho người mua đồng thời thu tiền hàng. Hay nói cách khác, bán hàng là một mặt của hành vi thương mại theo đó người bán có nghĩa vụ giao hàng chuyển quyền sở hữu cho người mua và nhận tiền về, người mua có nghĩa vụ trả tiền cho người bán theo thoả thuận của hai bên.

    Với tư cách là hoạt động cá nhân: Bán hàng là một quá trình trong đó người bán tìm hiểu, khám phá, gợi tạo và thoả mãn nhu cầu hay ước muốn của người mua để đáp ứng quyền lợi thoả đáng lâu dài cho hai bên.

    Vai trò của bán hàng

    Bán hàng không chỉ là những hoạt động nhằm thoả mãn mục tiêu trước mắt, mà còn thực hiện các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động bán hàng không những giúp khách hàng thoả mãn nhu cầu của mình mà còn tái tạo, khơi dậy phát triển nhu cầu của khách hàng. Thực hiện tốt khâu bán hàng giúp doanh nghiệp có được uy tín trên thị trường.

    Ngày nay, với những bước tiến nhẩy vọt do CM KHKT và Công nghệ mang lại, các ngành sản xuất có thể tạo ra một khối lượng lớn sản phẩm hàng hoá đa dạng và phong phú với chất lượng cao, đáp ứng cơ bản được nhu cầu thị trường. Để phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp phải đẩy mạnh vai trò của các nỗ lực trong việc đưa sản phẩm hàng hoá đến người tiêu dùng. Nói cách khác thì bán hàng đã thể hiện vai trò sức kéo của mình.

    Trong nền kinh tế thi trường, mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào đó là lợi nhuận. Nhưng đối với doanh nghiệp thương mại thì mục tiêu trước mắt đó là tìm chỗ đứng trên thị trường điều đó có nghĩa là doanh nghiệp phải bán được hàng, bán càng nhiều càng tốt để tạo ra doanh thu và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.

    – Nghiên cứu thị trường.

    – Chiến lược sản phẩm.

    – Chiến lược giá.

    Khái niệm thị trường

    Theo quan điểm của marketing thì: Thị trường là tập hợp khách hàng hiện tại và tiềm năng của doanh nghiệp, những người có mong muốn và có khả năng mua sản phẩm của doanh nghiệp.

    Như vậy có thể nói thị trường doanh nghiệp là tổng số cầu của loại sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh. Nghiên cứu thị trường chủ yếu là nghiên cứu khách hàng của doanh nghiệp.

    Vai trò và chức năng của thị trường.

    Vai trò của thị trường

    Thị trường có vai trò quan trọng đối với sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế. Thị trương là cầu nối giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng là tấm gương để nhà sản xuất biết được nhu cầu xã hội, là thước đo để doanh nghiệp đánh giá được hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Đối với nước ta, từ nền sản xuất nhỏ sang nền kinh tế hàng hoá thì việc phát triển thị trường có vai trò quan trọng. Hiểu được thị trường và cơ chế hàng hoạt động của nó góp phần quan trọng trong sản xuất kinh doanh.

    Chức năng của thị trường

    * Chức năng thừa nhận

    Thị trường là nơi gặp gỡ giữa người bán và người mua trong đó người bán là nhà sản xuất, kinh doanh hoặc một tổ chức cá nhân nào đó có khả năng cung ứng hàng hoá của mình vào thị trường nhằm đáp ứng mục tiêu kinh doanh và nhu cầu của người tiêu dùng ngược lại người tiêu dùng muốn mua hàng hoá bắt nguồn từ nhu cầu và khả năng thanh toán của họ.

    * Chức năng thực hiện:

    Thông qua thị trường thì giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá được trao đổi giữa người mua và người bán. Chức năng này biểu hiện thị trường là nơi diễn ra sự trao đổi giữa người mua và người bán.

    * Chức năng điều tiết kích thích:

    Qua thị trường, hàng hoá thể hiện giá cả cao hay thấp. Căn cứ vào đó người sản xuất sẽ có quyết định có tiếp tục sản xuất hay ngừng sản xuất hoặc sản xuất ở múc bao nhiêu thì doanh nghiệp sẽ đạt được lợi nhuận tối đa. Thị thường là nơi quyết định sự thành bại của doanh nghiệp nó cũng là nơi tạo ra động lực để điều tiêt kích thích cho các hoạt động kinh doanh. Sự điều tiết kích thích thông qua các nhu cầu của thị trường, qua các quy luật kinh tế trên thị trường, qua giá cả và các thông tin thị trường.

    * Chức năng thông tin:

    Thông qua thị trường cho biết các thông tin về tổng cung, tổng cầu, giá cả, giá trị, không gian và thời gian mua… về hàng hoá dịch vụ. Chức năng thông tin đóng vai trò quan trọng có thể qua thị trường nhà sản xuất kinh doanh nắm bắt được các thông tin để từ đó điều tiết sản xuất kinh doanh.

    Tổ chức nghiên cứu thị trường

    Nghiên cứu thị trường là hoạt động đầu tiên và quan trọng nhất trong hoạt động marketing của doanh nghiệp. Nghiên cứu thị trường là quá trình bao gồm: Hoạt động thu thập, phân tích kiểm tra thông tin về thị trường… Từ các hoạt động đó các doanh nghiệp nắm bắt được các thông tin thị trường, dự đoán xu hướng biến động và phát triển của thị trường.

    – Thăm dò thị trường: Bao gồm các hoạt động thu thập và xử lý ban đầu các thông tin về thị trường từ đó có các chính sách marketing tác động đến thị trường phù hợp nhất.

    – Dự báo thị trường: Đó là việc xác định lượng cầu thị trường và nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp.

    + Ước tính nhu cầu hiện tại: Nhu cầu thị trường được xác định theo công thức sau.

    Q = n.p.q

    Trong đó:

    Q: Tổng nhu cầu thị trường. n: Số lượng người mua một loại hàng hoá.

    p: Giá bình quân của một sản phẩm hàng hoá. q: Số lượng trung bình một người mua trong năm.

    + Ước tính cầu hiện tại của doanh nghiệp: Cầu hiện tại của doanh nghiệp chính là phần thị trường thuộc về doanh nghiệp. Do đó cầu của doanh nghiệp được xác định theo công thức:

    Trong đó:

    Q i : Cầu của doanh nghiệp i.

    S i : Thị phần của doanh nghiệp i.

    Q : Tổng cầu thị trường.

    + Ước tình cầu tương lai: Ước tính cầu tương lai có vai trò quan trọng phục vụ cho việc lập các kế hoạch dài hạn, ước lượng bán ra, chọn thị trường mục tiêu… Vì vậy khi tiến hành dự báo tốt sẽ trở thành yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp có các phương hướng phát triển lâu dài.

    Phân đoạn thị trường

    Khái niệm về phân đoạn thị trường

    Thị trường là tập hợp nhu cầu của nhiều loại khách hàng khác nhau về tuổi tác, thu nhập, ý thức, thói quen tiêu dùng… Sự khác biệt đó đã ảnh hưởng tới việc tiêu dùng của khách hàng. Do đó việc phân đoạn thị trường sẽ giúp doanh nghiệp có những chiến lược kinh doanh phù hợp với từng loại khách hàng mục tiêu. Nhờ đó mà doanh nghiệp có thể đạt được lợi nhuận tối đa và các mục tiêu quan trọng khác. Có thể nói, phân đoạn thị trường là quá trình chia thị trường tổng thể thành các nhóm trên cơ sở các điểm khác biệt về nhu cầu hay ước muốn và các đặc tính tâm lý hay hành vi.

    Vai trò của phân đoạn thị trường .

    Phân đoạn thị trường giúp cho doanh nghiệp hiểu hơn nhu cầu hay ước muốn của người tiêu dùng.

    Giúp cho nhà quản trị marketing xác định được vị thế trên thị trường mục tiêu. Qua đó đáp ứng những lợi ích mà khách hàng mục tiêu mong đợi, dễ dàng chiếm lĩnh một vị trí cụ thể trong tâm trí của người tiêu dùng và tăng khả năng cạnh tranh.

    Giúp cho nhà quản trị marketing lựa chọn các công cụ marketing phù hợp.

    Sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực marketing.

    Các cơ sở để phân đoạn thị trường

    Có rất nhiều các tiêu thức để phân đoạn thị trường, lựa chọn các tiêu thức phân đoạn là hết sức quan trọng. Chỉ có khi lựa chọn đúng các tiêu thức phân đoạn thị trường thì doanh nghiệp mới có thể lựa chọn thị trường mục tiêu và các chiến lược marketing phù hợp. Có một số tiêu thức phân đoạn như sau:

    – Phân đoạn theo khu vực địa lý.

    – Phân đoạn theo KTXH và nhân khẩu học.

    – Phân đoạn theo tâm lý đồ.

    – Phân đoạn theo sản phẩm hoặc lợi ích.

    – Phân đoạn theo giá cả.

    – Phân đoạn theo kênh phân phối.

    Lựa chọn thị trường mục tiêu

    Khái niệm

    Thị trường mục tiêu là thị trường bao gồm các khách hàng có cùng nhu cầu hoặc mong muốn mà doanh nghiệp có khả năng đáp ứng đồng thời các hoạt động marketing của doanh nghiệp có thể tạo ra ưu thế với đối thủ cạnh tranh và đạt được mục tiêu đã định. Có thể nói thị trường mục tiêu là một hoặc một vài đoạn thị trường mà doanh nghiệp chọn lựa và tập trung mọi nỗ lực marketing nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của mình.

    Lựa chọn thị trường mục tiêu

    Sau khi đánh giá các đoạn thị trường, doanh nghiệp chọn một hoặc một vài đoạn thị trường làm thị trường mục tiêu trên cơ sở 5 phương án sau đây:

    – Tập trung vào một đoạn thị trường: Doanh nghiệp chọn một đoạn thị trường đơn lẻ làm thị trường mục tiêu cho mình. Đoạn thị trường này thường có nhu cầu lớn, ít hoặc chưa có đối thủ cạnh tranh. Do hoạt động marketing chỉ tập trung duy nhất vào một đoạn thị trường nó cho phép doanh nghiệp chiếm lĩnh vị trí chắc chắn trên đoạn thị trường đó. Nó cũng giúp cho doanh nghiệp tiếp kiệm chi phí kinh doanh nhờ chuyên môn hoá và phân phối. Nhưng doanh nghiệp cũng phải đối phó với các rủi ro mà thị trường mang lại. Vì doanh nghiệp chỉ tập trung vào một đoạn thị trường nên khó có khả năng mở rộng quy mô sản xuất.

    – Chuyên môn hoá tuyển chọn: Doanh nghiệp có thể chọn một số đoạn riêng biệt làm thị trường mục tiêu. Mỗi một đoạn thị trường đều phù hợp với mục đích và khả năng của doanh nghiệp. Với phương án này, doanh nghiệp gặp ít rủi ro trong kinh doanh hơn. Khi một đoạn thị trường bị đe doạ thì doanh nghiệp có thể tập trung vào đoạn thị trường khác. Tuy nhiên việc theo đuổi nhiều đoạn thị trường khác nhau, bằng những sản phẩm khác nhau đòi hỏi doanh nghiệp phải có nguồn lực kinh doanh lớn.

    – Chuyên môn hoá theo đặc tính sản phẩm: Doanh nghiệp có thể tập trung vào việc sản xuất một loại sản phẩm có đặc tính nhất định để đáp ứng cho nhiều đoạn thị trường, áp dụng phương pháp này giúp cho doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tạo dựng uy tín khi cung ứng một loại sản phẩm hàng hoá.

    – Chuyên môn hoá theo đặc tính thị trường: Doanh nghiệp có thể chọn một nhóm khách hàng làm thị trường mục tiêu và tập trung nỗ lực để thoả mãn nhóm khách hàng đó. Và doanh nghiệp có thể dễ dàng hơn trong việc tạo dựng danh tiếng trong nhóm khách hàng.

    – Bao phủ toàn bộ thị trường: Đối với doanh nghiệp thì mọi khách hàng đều là thị trường mục tiêu của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng về chủng loại sản phẩm mà họ yêu cầu.

    Chiến lược marketing với thị trường mục tiêu.

    * Chiến lược không phân biệt: Được áp dụng chiến lược không phân biệt thì doanh nghiệp chọn toàn bộ thị trường hiện tại làm thị trường mục tiêu. Doanh nghiệp tìm cách nắm giữ một vị trí trung tâm trên thị trường để thu hút đông đảo khách hàng ở đoạn thị trường đó.

    Sơ đồ 1 các chiến lược marketing với thị trường mục tiêu

    Chiến lược marketing tập trung

    – Ưu điểm: Ưu điển nổi bật của marketing không phân biệt là tiếp kiệm chi phí, khai thác lợi thế quy mô, sản xuất và phân phối sản phẩm.

    – Nhược điểm: Doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn khi tạo ra một sản phẩm có vị trí trên thị trường. Doanh nghiệp khó khăn khi phải đối phó với rủi ro thị trường và đặc biệt là khi thay đổi quy mô sản xuất.

    * Marketing phân biệt: Đối với chiến lược này, doanh nghiệp có các chiến lược marketing đối với từng đoạn thị trường mục tiêu.

    – Ưu điểm: Chiến lược marketing phân biệt trong việc đáp ứng nhu cầu thị trường. Doanh nghiệp đa dạng hoá sản phẩm và tăng nỗ lực marketing và có khả năng tăng doanh số bán ra và xâm nhập sâu hơn vào nhiều đoạn thị trường.

    – Nhược điểm: Việc cân đối số đoạn thị trường và quy mô của từng đoạn thị trường cho phù hợp, chi phí cho các hoạt động marketing lớn.

    * Marketing tập trung: Với chiến lược marketing tập trung, doanh nghiệp tập trung vào một đoạn thị trường mà doanh nghiệp cho là quan trọng nhất nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

    – Ưu điểm: Doanh nghiệp có thể vị thế vững mạnh trên thị trường như doanh nghiệp đã tạo được thế độc quyền; thiết kế những sản phẩm có uy tín, chất lượng… Ngoài ra, doanh nghiệp có thể khai thác được các lợi thế từ chuyên môn hoá trong sản xuất, phân phối, bán hàng.

    – Nhược điểm: Rủi ro chính mà doanh nghiệp hay mắc phải chính là rủi ro trên đoạn thị trường mục tiêu như:sức mua giảm, nhu cầu thay đổi và xuất hiện các đối thủ cạnh tranh. Đây là chiến lược áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

    Khái niệm về sản phẩm và các yếu tố cấu thành sản phẩm

    Khái niệm về sản phẩm

    Theo quan điểm cổ điển: Sản phẩm là tổng hợp các đặc tính vật lý, hoá học, có thể quan sát, được tập trung trong một hình thức đồng nhất và mang giá trị sử dụng.

    Theo quan điểm marketing: Sản phẩm gắn liền với nhu cầu hay mong muốn của người tiêu dùng trên thị trường. Sản phẩm nó bao gồm 2 yếu tố chính sau:

    -Yếu tố vật chất: Bao gồm đặc tính vật lý, hoá học của sản phẩm

    – Yếu tố phi vật chất: Đó là nhãn mác, tên gọi, cách nhận biết, thông tin về thị hiếu tiêu dùng của khách hàng mà các nỗ lực marketing phải hướng tới và nhằm thoả mãn.

    Trong chiến lược marketing của doanh nghiệp thì chiến lược sản phẩm cực kỳ quan trọng vì: Ngày nay, dưới sự phát triển mạnh mễ của KHKT, những sản phẩm mới không ngừng xuất hiện trên thị trường và ngày càng có gía trị cao hơn so với sản phẩm cũ cùng loại và cuộc cạnh tranh về giá cả đã chuyển sang cạnh tranh về chất lượng sản phẩm. Do đó chiến lược sản phẩm được coi là vũ khí sắc bén trong cạnh tranh trên thị trường đồng thời cũng là phương pháp có hiệu quả để tạo ra nhu cầu mới. Như vậy chiến lược sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp trong thời gian dài.

    Các yếu tố cấu thành sản phẩm

    Một sản phẩm được hình thành và được đưa ra thị trường thì cần có các yếu tố sau:

    – Sản phẩm theo ý tưởng: Là hàng hoá ở giai đoạn đầu của sản phẩm nó bao gồm những lợi ích cơ bản mà người tiêu dùng có thể nhận được.

    – Sản phẩm hiện thực: Là sản phẩm theo ý tưởng công thêm với các yếu tố khác như: chất lượng, nhãn hiệu, bao gói, và bố cụ bên ngoài.

    Sản phẩm hoàn chỉnh: Là những sản phẩm có thể đem bán trên thị trường sản phẩm hoàn chỉnh bao gồm sản phẩm hiện thực với các dịch vụ đi kèm

    Sơ đồ 2 Các yếu tố cấu thành sản phẩm

    Nội dung của chiến lược sản phẩm

    Phân tích sản phẩm và khả năng thích ứng của sản phẩm

    Phân tích sản phẩm và khả năng thích ứng của sản phẩm trên thị trường một loại sản phẩm hàng hoá là rất quan trọng khi doanh nghiệp đưa sản phẩm đó ra thị trường. Mục đích của việc phân tích là tránh được những chi phí không cần thiết có thể xẩy ra do thiếu thông tin thị trường. Sự thích ứng của sản phẩm phụ thuộc vào các yếu tố sau:

    – Tình hình bán trên thị trường.

    – Sự chấp nhận của người tiêu dùng.

    Quá trình nghiên cứu sự thích ứng sản phẩm trên thị trường phải tiến hành qua các bước sau:

    Bước 1: Nghiên cứu về sản phẩm cạnh tranh.

    Mục đích của việc nghiên cứu sản phẩm cạnh tranh là tìm ra khả năng chấp nhận của thị trường với loại sản phẩm đó. Qua đó rút ra kết luận cho mình.

    Bước 2: Nghiên cứu việc chấp nhận của người bán.

    Mục đích là xem xét thái độ, cảm thấy của khách hàng. Thông qua việc tiếp xúc với khách hàng, người bán có thể đánh giá đúng vị trí sản phẩm của mình trên thị trường. Từ đó người bán có tầm nhìn bao quát để ra những quyết định đúng đắn.

    Bước 3: Nghiên cứu phản ứng của khách hàng.

    Nghiên cứu và đánh giá phản ứng của người tiêu dùng là việc tìm ra các lý do hay nguyên nhân dẫn đến việc chấp nhận hay tẩy chay sản phẩm đồng thời rút ra kết luận về sản phẩm.

    Bước 4: Làm thích ứng với sản phẩm.

    Sau khi tiến hành các bước trên và đi đến kết luận là sản phẩm được doanh nghiệp chấp nhân hoặc cần sửa đổi chút ít thì sẽ được chấp nhận và cần lập kế hoạch đưa sản phẩm ra thị trường.

    Tạo uy tín của sản phẩm

    Tạo uy tín cho sản phẩn có vai trò quan trọng trong chiến lược sản phẩm. Tầm quan trọng của tạo uy tín của sản phẩm là tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt, có giá trị sử dụng, có nhãn hiệu… Trong thực tiễn kinh doanh, nhà sản xuất muốn giành lợi thế trên thị trường thì phải có nhiệm vụ duy trì chất lượng hàng hoá và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm tăng tính ưu việt của sản phẩm phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng.

    Tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm

    Tiêu chuẩn hoá chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng lớn đến sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp. Cho dù doanh nghiệp có cố gắng bao nhiêu cho nỗ lực marketing nhưng chất lượng sản phẩm không đảm bảo, không đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng thì doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạnh khủng hoảng.

    Kiểm tra chất lượng sản phẩm

    Đây là nội dung không thể thiếu được trong chiến lược sản phẩm. Bằng các biện pháp kiểm tra như: Kiểm tra bằng cảm quan, kiểm tra bằng thực nghiệm… giúp cho doanh nghiệp loại bỏ sản phẩm kém chất lượng. Chỉ tung ra thị trường những sản phẩm có chất lượng cao và thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng.

    Vai trò của giá cả

    Giá cả có tầm quan trong đặc biệt trong sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng tới quá trình tái sản xuất nó là khâu cuối cùng thể hiện kết quả của các khâu khác. Mặc dù trên thị trường hiện nay việc cạnh tranh giá đã được chuyển sang cạnh tranh chất lượng. Nhưng nhiều lúc, nhiều nơi việc cạnh tranh về giá vẫn diễn ra gay gắt. Giá cả là lĩnh vực thể hiện sự tranh giành lợi thế kinh tế và vị trí độc quyền của doanh nghiệp.

    Trong marketing, nhất là marketing mix, giá cả là một trong 4 biến số, cùng với chính sách sản phẩm, phân phối, xúc tiến. Và tất cả các hoạt động đó đều nhằm mục đích bán hàng. Do đó việc quy định giá cả sản phẩm là một quyết định manh tính chiến lược của doanh nghiệp vì:

    – Giá cả ảnh hưởng đến lượng hàng bán của doanh nghiệp.

    – Giá cả có tác động mạnh mẽ đến thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp.

    Vì vậy, xác lập một chiến lược giá đúng đắn là điều kiện cực kỳ quan trọng đối với doanh nghiệp. Nó nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất, kinh doanh có lãi và chiếm lĩnh trên thị trường.

    Các nhân tố ảnh hưởng tới giá cả

    Nhân tố kiểm soát được

    – Chi phí sản phẩm: Chi phí sản phẩm bao gồm các chi phí phát sinh trong sản xuất, bao bì, đóng gói sản phẩm.

    – Chi phí phân phối bán hàng: Chi phí này bao gồm chi phí vận tải, chi phí phân phối, chi phí quản lý doanh nghiệp.

    – Chất lượng và uy tín sản phẩm.

    Nhân tố không kiểm soát được

    – Mức giá trên thị trường: Với thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì doanh nghiệp không thể tự định giá cả sản phẩm của họ mà giá cả phải thích ứng với mức giá trên thị trường.

    – Quan hệ cung cầu trên thị trường.

    – Sự cạnh tranh trên thị trường.

    – Sức mua của đồng tiền.

    Mục tiêu của chiến lược giá

    Mục tiêu tăng khối lượng hàng bán

    Mục tiêu này giúp cho doanh nghiệp tăng khối lượng hàng bán trên thị trường. Đáp úng đầy đủ, kịp thời nhu cầu thị trường. Ngoài mục đích tăng khối lượng hàng bán thì mục tiêu này còn giúp cho doanh nghiệp giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, giảm chi phí sản xuất khi có khối lượng hàng bàn lớn. Nó cũng có thể giúp cho doanh nghiệp củng cố vị thế của mình trên thị trường. Để thực hiện mục tiêu trên thì việc định giá phải được thực hiện tuỳ theo tác động của giá cả lựa chọn đối với khối lượng hàng bán và thị phần của doanh nghiệp.

    Mục tiêu lợi nhuận

    Mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu thường xuyên của doanh nghiệp. Song tuỳ từng lúc, tuỳ từng nơi mà mục tiêu này có vai trò quan trọng khác nhau. Giá cả có ảnh hưởng đến lợi nhuận rất phức tạp. Lợi nhuận thu được từ bán hàng là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí. Và được xác định theo công thức sau:

    LN = TR – TC

    Trong đó:

    LN: Lợi nhuận

    TR:Tổng doanh thu

    TC:Tổng chi phí

    Giá cả sản phẩm hàng hoá dịch vụ nó ảnh hưởng tới cả thu nhập và chi phí.

    Ảnh hưởng tới thu nhập.

    Ta có công thức tính thu nhập sau :

    TR = P. Q

    Trong đó TR: Tổng doanh thu

    Q: Khối lương sản phẩm tiêu thụ

    P: Giá bán đơn vị sản phẩm

    – Ảnh hưởng tới chi phí.

    Chi phí quản lý và chi phí marketing cũng là phần chi phí chung cho mỗi đơn vị sản phẩm nó thay đổi theo khối lượng hàng bán.

    Yêu cầu của chính sách giá

    – Phải tuân thủ pháp luật và chế độ quản lý giá của nhà nước.

    – Phải thích nghi với thị trường.

    – Phải đảm bảo yêu cầu của doanh nghiệp đó là: Đảm bảo cơ cấu chi phí hợp lý; đảm bảo uy tín và chất lượng sản phẩm; đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa chính sách giá và chính sách khác của doanh nghiệp.

    Các loai giá thường dùng trong marketing

    – Giá thông lệ: Giá thông lệ hay còn gọi là giá công ty, nó do doanh nghiệp đặt ra trên cơ sở tính toán đảm bảo bù đắp được chi phí và có lãi.

    – Giá độc quyền: Là giá của doanh nghiệp có tiềm năng bao trùm thị trường về sản phẩm đem bán trên thị trường và nó cho phép doanh nghiệp thu được lợi nhuận tối đa.

    – Giá Dumpinh: Là giá bán trong cạnh tranh nhất thời nhằm sử dụng lượng vốn và sản phẩm phong phú của doanh nghiệp để bán sản phẩm với giá thấp hơn hẳn giá của đối thủ cạnh tranh, giá bán thấp hơn giá trị của thị trường nhằm tiêu diệt các đối thủ cạnh tranh.

    – Giá phân biệt: Là giá bán được thực hiện một hệ thống giá khác nhau cho từng đối tương người mua.

    – Giá tâm lý.

    – Hạ giá sản phẩm.

    – Các loại giá quốc tế.

    Khái niệm và chức năng của phân phối

    Khái niệm về phân phối

    Phân phối là quá trình kinh tế, tổ chức kỹ thuật nhằm điều tiết vận chuyển sản phẩm hàng hoá đến tay người tiêu dùng để tối đa hoá hiệu quả kinh tế.

    Chức năng của phân phối

    Phân phối sản phẩm hàng hoá có 4 chức năng cơ bản sau:

    – Di chuyển sản phẩm: Bao gồm các khâu vận chuyển, bảo quản dự trữ sản phẩm, đóng gói, bốc xếp sản phẩm trong quá trính tiêu thụ.

    – Chuyển đổi sở hữu sản phẩm.

    – Cung cấp thông tin thị trường.

    – San bớt rủi ro về sản phẩm.

    Kênh phân phối và hoạt dộng bán hàng

    Khái niêm về kênh phân phối

    Kênh phân phối là sự kết hợp hữu quan giữa người sản xuất với các trung gian để tổ chức sự vận động của hàng hoá cho hợp lý nhất nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng. Thông qua các trung gian thương mại, các kênh phân phối tạo ra dòng chảy hàng hoá từ người sản xuất đến người mua cuối cùng. Các trung gian chủ yếu thương mại là: người bán buôn, người bán lẻ, đại lý.

    Cấu trúc kênh phân phối

    Kênh 1: Là kênh phân phối trực tiếp bởi vì người sản xuất bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng. Kênh này được sử dụng cho các loại hàng hoá có tính thương phẩm (dễ vỡ, dễ hỏng) hàng hoá chậm luân chuyển, hàng hoá của những nhà sản xuất nhỏ. Ưu điểm của kênh này là đẩy nhanh tốc độ luân chuyển hàng hoá, dảm bảo mối quan hệ chặt chẽ giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng. Nhược điểm, doanh nghiệp khó có thể chuyên môn hoá vào sản xuất. Tổ chức quản lý phức tạp. Chưa phát huy được sự phân công lao động xã hội.

    Kênh 2: Kênh này thường được sử dụng trong các trường hợp. Trình độ chuyên môn hoá và quy mô của doanh nghiệp cho mối quan hệ giữa người sản xuất với người tiêu dùng thông qua trung gian bán lẻ. Ưu điểm của kênh này là phát huy được ưu thế của loại hình kênh trực tiếp, giải phóng cho người sản xuất khỏi chức năng phân phối do đó có điều kiện đi sâu vào sản xuất. Nhược điểm là chưa phát huy triệt để tính ưu việt của sự phân công lao động xã hội.

    Sơ đồ 3 : Các kênh phân phối sản phẩm chủ yếu

    Kênh 3: Đây được gọi là kênh đầy đủ, loại kênh này thường được sử dụng phổ biến đặc biệt là hàng công nghiệp tiêu dùng. Ưu điểm của kênh này là tổ chức kênh phân phối tương đối chặt chẽ, vòng quay vốn nhanh, người sản xuất và trung gian do chuyên môn hoá nên có điều kiện nâng cao năng suất lao động. Nhược điểm là thường rủi ro lớn, việc điều hoá sẽ gặp khó khăn, thời gian luân chuyển hàng dài.

    Các phương thức, hình thức và thủ thuật bán hàng

    Cùng vơi sự phát triển của hoạt động thương mại nói chung hoạt động bán hàng đã có những bước phát triển đáng kể, nhiều hình thức bán hàng khác nhau được áp dụng trong thực tế. Những người bán hàng còn biết sử dụng các thủ thuật khác nhau để tăng doanh thu.

    Các phương thức và hình thức bán hàng

    Có hai phương thức bán hàng cơ bản đó là phương thức bán hàng cổ điển và phương thức bán hàng hiện đại.

    * Phương thức bán hàng cổ điển

    Đây là phương thức bán mà việc mua bán chỉ diễn ra khi người bán và người mua trực tiếp gặp gỡ trao đổi và thoả thuận tên mặt hàng, số lượng, giá cả và các điều kiện mua bán khác. Phương thức bán hàng cổ điển có hai hình thức đó là bán hàng cố định và bán hàng lưu động.

    * Phương thức bán hàng hiện đại:

    Đây là phương thức bán hàng cả người mua và người bán có thể không cần tiếp xúc trực tiệp với nhau nhưng quá trình bán hàng vẫn diễn ra. Phương thức bán hàng hiện đại được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau:

    – Bán hàng theo hình thức tự chọn.

    – Bán hàng trong các siêu thị.

    – Bán hàng bằng thư tín.

    – Bán hàng qua điên thoại.

    – Bán hàng qua hội chợ, triển lãm.

    – Bán hàng trên mạng Internet.

    Các thủ thuật bán hàng

    Các thủ thuật bán hàng nhằm tăng doanh số và thu lợi nhuận cao, người bán hàng thường xuyên sử dụng các thủ thuật khác nhau. Thủ thuật bán hàng mà người bán sủ dụng để kích thích các yếu tố tâm lý trong giao tiếp mua bán nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng. Các thủ thuật thường được sủ dụng chính:

    – Thủ thuật ” khan hiếm hàng hoá “.

    – Thủ thuật ” đáp ứng thị hiếu “.

    – Thủ thuật ” bán kèm “.

    – Thủ thuật ” giá cao “.

    – Thủ thuật ” tặng quà “.

    – Thủ thuật ” tương phản “.

    – Thủ thuật ” giảm giá và hạ giá “.

    – Thủ thuật ” bán trả góp “.

    Hoạt động bán hàng

    Hoạt động bán hàng có các nội dung sau:

    – Khách hàng tự đến của hàng, gian hàng. Người bán không cần thăm dò nhu cầu trước khi tiếp xúc khách hàng có khả năng tài chính, có động cơ và quyết định độc lập.

    – Bán lẻ gặp sự cạnh tranh gay gắt.

    – Người bán lẻ ít hiểu biết về sản phẩm.

    Người bán lẻ thường được tiến hành theo các bước sau:

    – Tiếp xúc với khách hàng.

    – Xác định nhu cầu của khách hàng.

    – Lựa chọn và trưng bày hàng hoá.

    – Thách giá.

    – Thương lượng và xử lý các phàn nàn của khách hàng.

    – Kết thúc bán hàng.

    – Bao gói và thu tiền.

    – Tiễn khách hàng ra về.

    – Thông qua sự chào hàng.

    Là sử dụng các phương tiện không gian và thời gian để thông tin định trước về sản phẩm hay thị trường cho người bán lẻ và người tiêu thụ.

    – Tạo sự chú ý của khách hàng: Chức năng này có nhiệm vụ tạo sở thích của khách hàng với loại sản phẩm hàng hoá và thông qua đó tạo cho khách hàng có quyết định mua hàng và tiến hành mua hàng.

    – Chức năng thông tin: Làm cho thông tin càng thêm phong phú.

    Xúc tiến bán hàng

    Xúc tiến bán hàng bao gồm các hoạt động marketing nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng tới một sản phẩm làm cho sản phẩm đó trở lên hấp dẫn hơn ở nơi bán hoặc nơi tiêu thụ. Có thể nói, xúc tiến bán hàng là một hoạt động yển trợ làm tăng khối lượng hàng bán.

    Xúc tiến bán hàng có 2 đối tượng chính:

    – Người bán.

    – Người tiêu dùng cuối cùng hay người sử dụng cuối cùng.

    Các hình thức xúc tiến bán hàng

    – Thay đổi hình thức sản phẩm như (bao gói, nhãn hiện).

    – Khuyến khích người mua: sử dụng cá hình thức thanh toán đơn giản, biếu quà, tăng quà…

    Tiến hành xúc tiến bán hàng khi

    – Cạnh tranh gay gắt giữa các nhà sản xuất.

    – Các sản phẩm có khuynh hướng giống nhau về chất lượng, chức năng, về giá.

    – Khối lượng hàng bán phụ thuộc và mức độ quen thuộc của khách hàng cao hay thấp.

    – Sự ưa thích nhãn hiệu hàng hoá của người tiêu dùng.

    Yểm trợ

    Yểm trợ sản phẩm là hoạt động rất quan trong của marketing hoạt động yểm trợ được thông qua việc sử dụng các hoạt động của hiệp hội kinh doanh, cửa hàng giới thiệu sản phẩm, hội chợ…

    Hiệp hội kinh doanh

    Trên thị trường cạnh tranh, các nhà doanh nghiệp tự nguyện hợp tác với nhau và đó là cơ sử hình thành lên hiệp hội. Sự hình thành hiệp hội có xu thế chống lại độc quyền trên thị trường. Sự ra đời của hiệp hội có tác dụng hạn chế sự cạnh tranh giữa các thành viên trong hiệp hội. Nhưng không vì thế mà giảm bớt tính gay gắt trong cạnh tranh trên thị trường.

    Hiệp hội không phải là tổ chức quần chúng của các nhà kinh doanh mà là tổ chức có chức năng bảo vệ thị trường, giá cả và các thành viên.

    Cửa hàng giới thiệu sản phẩm

    Khi kinh doanh ngày càng phát triển thì quy mô của doanh nghiệp càng lớn mạnh do đó việc phát triển các cửa hàng giới thiệu sản phẩm là điều tất yếu.

    Yêu cầu của cửa hàng giới thiệu sản phẩm là:

    Hội chợ

    Một số điều chú ý khi tham gia hội chợ.

    – Nâng cao uy tín của doanh nghiệp, tạo niềm tin về sản phẩm với khách hàng.

    – Nắm chính xác nhu cầu và tìm hiểu kỹ bạn hàng.

    – Tận dụng điều kiện có thể bán hàng.

    – Thông qua hội chợ tăng cường khả năng mở rộng quan hệ bạn hàng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Thị Trường Xăng Dầu: Phải Vì Lợi Ích Của Nền Kinh Tế
  • Các Kiểu Quan Hệ Lợi Ích Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn
  • Những Lợi Ích Của Việc Tập Thể Dục Đối Với Sức Khỏe
  • Nhảy Aerobic Giảm Cân: Không Những Khỏe Đẹp Mà Còn Xả Stress
  • Gợi Ý Cách Chọn Nhạc Nhảy Aerobic Thiếu Nhi
  • Đặc Trưng Của Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhóm 2 Đặc Trưng Kttt Định Hướng Xhcn Việt Nam
  • Khái Niệm ,đặc Trưng Các Mối Quan Hệ Lợi Ích
  • Vận Dụng Chủ Nghĩa Mác
  • Lợi Ích Của Việc Học Tài Chính Ngân Hàng
  • Kinh Tế Học: Khái Niệm Và Nguyên Lý
  • Trong tiến trình phát triển đó, các mô hình kinh tế luôn có sự vận động và hoàn thiện hơn để đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và cho đến nay mô hình kinh tế thị trường được coi là mô hình kinh tế có nhiều tính vượt trội so với các mô hình khác; chẳng hạn, nó tạo động lực để thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh hơn, có hiệu quả hơn, cung cấp cho thị trường hàng hóa và dịch vụ ngày càng nhiều hơn, phong phú, đa dạng về chủng loại, mẫu mã hàng hóa. Ở Việt Nam, đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) với những đặc trưng riêng, phù hợp điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

    1. Quá trình nhận thức đi tới kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đưa ra quan điểm: phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội, coi chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội.

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã khẳng định: phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước.

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cũng đã chỉ rõ: Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Đại hội X tiếp tục khẳng định: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

    Đại hội XI cũng chỉ rõ: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

    Nói đến kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa là, nền kinh tế nước ta không phải là kinh tế bao cấp, quản lý theo kiểu tập trung, quan liêu, bao cấp; nhưng đó cũng không phải là kinh tế thị trường như ở các nước tư bản chủ nghĩa và cũng chưa hoàn toàn là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, nước ta đang ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn có sự đan xen và đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, vừa có, vừa chưa có đầy đủ các yếu tố của chủ nghĩa xã hội.

    Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế, vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối. Vì vậy, nó vừa có tính phổ biến mang đặc trưng chung của nền kinh tế thị trường, vừa có đặc trưng riêng của tính định hướng XHCN ở nước ta.

    2. Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

    Những đặc trưng chung của nền kinh tế thị trường

    – Về chủ thể kinh tế: Các chủ thể kinh tế được tự do sản xuất kinh doanh theo luật pháp và được bình đẳng không phân biệt đối xử. Các chủ thể kinh tế đều có cơ hội để tiếp cận các nguồn lực phát triển có hiệu quả.

    – Về thị trường: Thực hiện các giải pháp để tạo lập và phát triển các yếu tố thị trường cơ bản như thị trường hàng hóa và dịch vụ; thị trường vốn, tiền tệ; thị trường khoa học, công nghệ; thị trường lao động, thị trường bất động sản và lành mạnh hóa các yếu tố thị trường đó nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường phát triển ổn định, bền vững và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa.

    – Về cơ chế vận hành: Tôn trọng tính khách quan của các quy luật kinh tế thị trường; tính năng động của cơ chế thị trường.

    – Về vai trò của Nhà nước: Nhà nước điều tiết nền kinh tế thị trường trên cơ sở vận dụng các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường vào điều kiện Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế để định hướng phát triển nền kinh tế, tạo lập môi trường cho nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững và hạn chế mặt trái của cơ chế thị trường.

    Những đặc trưng riêng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    – Về hệ thống mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rỏ: phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhằm mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, thực hiện: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để thực hiện được mục tiêu đó trong phát triển nền kinh tế thị trường, phải tạo điều kiện để giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất và không ngừng phát triển lực lượng sản xuất; phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn với xây dựng quan hệ sản xuất mới XHCN phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối; phát triển kinh tế thị trường để từng bước xây dựng hạ tầng kinh tế cho chủ nghĩa xã hội; cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân.

    Mục tiêu kinh tế – xã hội – văn hóa mà nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta phải đạt là:

    Làm cho dân giàu: Nội dung căn bản của dân giàu là mức bình quân GDP đầu người tăng nhanh trong một thời gian ngắn và khoảng cách giàu, nghèo trong xã hội ngày càng được thu hẹp.

    Làm cho nước mạnh: Thể hiện ở mức đóng góp to lớn của nền kinh tế thị trường cho ngân sách quốc gia; ở sự gia tăng ngành kinh tế mũi nhọn; ở sự sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên quốc gia; ở sự bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ các bí mật quốc gia về tiềm lực kinh tế, khoa học, công nghệ và an ninh, quốc phòng.

    Làm cho xã hội công bằng, văn minh: Thể hiện ở việc xử lý các quan hệ lợi ích ngay trong nội bộ nền kinh tế thị trường, ở đó việc góp phần to lớn vào giải quyết các vấn đề xã hội, ở việc cung ứng các hàng hóa và dịch vụ có giá trị không chỉ về kinh tế mà còn có giá trị cao về văn hóa, xã hội.

    Về mục tiêu chính trị: Làm cho xã hội dân chủ, biểu hiện ở chỗ dân chủ hóa nền kinh tế, mọi người, mọi thành phần kinh tế có quyền tham gia vào hoạt động kinh tế, vào sản xuất kinh doanh, có quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của mình; quyền của người sản xuất và người tiêu dùng được bảo vệ trên cơ sở pháp luật của nhà nước.

    – Về chế độ sở hữu và các thành phần kinh tế: Nền kinh tế có nhiều thành phần, với nhiều hình thức sở hữu. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với nhau trên cơ sở pháp luật của nhà nước, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, từng bước được xác lập và sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội về cơ bản được xây dựng xong.

    – Về chế độ phân phối: Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, thực hiện phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu; đồng thời có các hình thức phân phối khác nữa (phân phối theo vốn, theo tài năng cùng các nguồn lực khác đóng góp vào sản xuất kinh doanh), vừa khuyến khích lao động, vừa bảo đảm phúc lợi xã hội cơ bản, bảo đảm sự phân phối công bằng, hợp lý và hạn chế sự bất bình đẳng trong xã hội.

    – Về vai trò quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự quản lý và điều tiết nền kinh tế của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, sự quản lý của nhà nước trong nền kinh tế thị trường phải định hướng cho nền kinh tế phát triển có hiệu quả trên cơ sở đảm bảo lợi ích quốc gia, lợi ích của nhân dân lao động thông qua hệ thống pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế, xã hội. Đồng thời, có sử dụng cơ chế thị trường (vận dụng các quy luật kinh tế thị trường để đưa ra những công cụ tác động vào thị trường) kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường.

    Sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Nhà nước thực hiện chính sách xã hội, một mặt, khuyến khích làm giàu hợp pháp, mặt khác phải thực hiện xóa đói, giảm nghèo.

    – Về nguyên tắc giải quyết các mối quan hệ chủ yếu: Kết hợp ngay từ đầu giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, bảo đảm giải phóng sức sản xuất; xây dựng lực lượng sản xuất kết hợp với củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới XHCN, nhằm phục vụ cho phát triển sản xuất và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữa phát triển sản xuất với từng bước cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân; giải quyết tốt các vấn đề xã hội và công bằng xã hội, ngăn chặn các tệ nạn xã hội; giải quyết tốt các nhiệm vụ chính trị, xã hội, văn hóa, môi trường và an ninh, quốc phòng.

    – Về tính cộng đồng và tính dân tộc: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta mang tính cộng đồng cao theo truyền thống của xã hội Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường có sự tham gia của cộng đồng và vì lợi ích của cộng đồng, hướng tới xây dựng một cộng đồng xã hội Việt Nam giàu có, đầy đủ về vật chất, phong phú về tinh thần, dân chủ, công bằng, văn minh, đảm bảo cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho nhân dân.

    – Về quan hệ quốc tế: Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta dựa vào sự phát huy tối đa nguồn lực trong nước và triệt để tranh thủ nguồn lực nước ngoài theo phương châm “Kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại” và sử dụng các nguồn lực đó một cách hợp lý, đạt hiệu quả cao, để phát triển nền kinh tế đất nước với tốc độ nhanh, hiện đại và bền vững.

    Như vậy, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vừa mang tính phổ biến (đặc trưng chung) của mọi nền kinh tế thị trường; vừa có đặc trưng riêng của tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Hai nhóm nhân tố này cùng tồn tại, kết hợp và bổ sung cho nhau. Trong đó, nhóm đặc trưng chung đóng vai trò là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nhóm đặc trưng riêng đóng vai trò hướng dẫn nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Sử Dụng Vai Trò Động Lực Của Lợi Ích Trong Thực Tiễn Cách Mạng Việt Nam
  • Phân Tích Những Đặc Điểm Kinh Tế Chủ Yếu Của Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền?
  • Sự Khác Nhau Giữa Lợi Nhuận Của Các Xí Nghiệp Tư Bản Chủ Nghĩa Và Lợi Nhuận Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Việt Nam
  • Bản Chất, Đặc Điểm, Xu Hướng Vận Động Của Chủ Nghĩa Tư Bản Hiện Đại
  • Tiểu Luận Đầu Tư Quốc Tế Lợi Ích Và Rủi Ro Của Mua Lại Và Sáp Nhập (M&a). Liên Hệ Với Hoạt Động M&a Tại Việt Nam
  • Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Trở Thành Một Động Lực Quan Trọng Của Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Tế Tư Nhân Là Gì
  • Khái Niệm Và Các Phương Pháp Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Lợi Ích Của Phương Pháp Giáo Dục Stem
  • Chương 5 Phan Tich Loi Ich Chi Phi
  • Các Phương Pháp Quản Lý Kinh Tế. Trình Bày Phương Pháp Kích Thích Kinh Tế Trong Quản Lý. Cho Ví Dụ Minh Hoạ.
  • HỘI NGHỊ LẦN THỨ NĂM

    BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XII

    Về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa I- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN

    1- Trong những năm qua, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”, kinh tế tư nhân ở nước ta đã không ngừng phát triển, đóng góp ngày càng lớn hơn vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    – Nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân đã có những bước tiến quan trọng, ngày càng tích cực hơn. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện. Quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh của cá nhân và tổ chức được thể chế hoá và được pháp luật bảo vệ. Phương thức quản lý của Nhà nước đối với kinh tế tư nhân được đổi mới phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh; môi trường đầu tư, kinh doanh từng bước được cải thiện, thông thoáng, thuận lợi hơn. Dân chủ trong đời sống kinh tế – xã hội ngày càng được phát huy.

    – Kinh tế tư nhân đã phát triển trên nhiều phương diện, được tự do kinh doanh và đối xử bình đẳng hơn với các thành phần kinh tế khác, nhất là trong tiếp cận các yếu tố sản xuất và các loại thị trường; hiệu quả, sức cạnh tranh dần được nâng lên; hoạt động đa dạng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực và các vùng, miền; bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

    Kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỉ trọng 39 – 40% GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế, góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội.

    – Đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh, có khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng, không ngừng nâng cao năng lực kinh doanh và quản trị doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đạo đức, văn hoá kinh doanh của doanh nhân dần được nâng lên.

    – Mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng và phát triển đảng trong khu vực kinh tế tư nhân được các cấp uỷ đảng quan tâm đổi mới, hoàn thiện; đảng viên được làm kinh tế tư nhân và chủ doanh nghiệp của tư nhân được thí điểm kết nạp vào Đảng.

    – Hoạt động giám sát, phản biện chính sách, vai trò tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động và người sử dụng lao động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp được quan tâm đổi mới; nâng cao hiệu quả.

    2- Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách về khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân còn hạn chế, yếu kém.

    – Hệ thống pháp luật, các cơ chế, chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ.

    – Kinh tế tư nhân chưa đáp ứng được vai trò là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân có xu hướng giảm trong những năm gần đây. Kinh tế tư nhân có quy mô nhỏ, chủ yếu vẫn là kinh tế hộ kinh doanh; trình độ công nghệ, trình độ quản trị, năng lực tài chính, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh thấp; cơ cấu ngành nghề còn bất hợp lý, thiếu liên kết với nhau và với các thành phần kinh tế khác; năng lực hội nhập kinh tế quốc tế còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của các chuỗi giá trị sản xuất khu vực và toàn cầu. Nhiều doanh nghiệp tư nhân ngừng hoạt động, giải thể và phá sản.

    – Vi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh trong kinh tế tư nhân còn khá phổ biến. Tình trạng sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường, không bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm; gian lận thương mại… diễn ra nghiêm trọng, phức tạp. Nhiều doanh nghiệp của tư nhân không bảo đảm lợi ích của người lao động, nợ bảo hiểm xã hội, báo cáo tài chính không trung thực, nợ quá hạn ngân hàng, trốn thuế và nợ thuế kéo dài. Xuất hiện những quan hệ không lành mạnh giữa các doanh nghiệp của tư nhân và cơ quan quản lý nhà nước, can thiệp vào quá trình xây dựng, thực thi chính sách để có đặc quyền, đặc lợi, hình thành “lợi ích nhóm”, gây hậu quả xấu về kinh tế – xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân.

    – Nhiều quy định của pháp luật về kinh tế tư nhân chưa được thực hiện nghiêm. Môi trường đầu tư kinh doanh, khởi nghiệp còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro cao và thiếu tính minh bạch. Quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản, tiếp cận các cơ hội kinh doanh, nguồn lực xã hội chưa thực sự bình đẳng giữa kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác; chi phí trung gian, không chính thức còn nhiều.

    Thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp; tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà, thiếu trách nhiệm, lạm dụng chức quyền, gây khó khăn cho doanh nghiệp vẫn còn khá phổ biến. Phân công, phân cấp, phối hợp giữa các bộ, ban, ngành, địa phương còn bất hợp lý, thiếu chặt chẽ. Hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của kinh tế tư nhân còn thấp.

    3- Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, đặc biệt là:

    – Vẫn còn một số vấn đề về phát triển kinh tế tư nhân cần tiếp tục được cụ thể hoá, làm rõ hơn cả về lý luận và thực tiễn. Thể chế về phát triển doanh nghiệp, doanh nhân còn nhiều bất cập. Công tác phổ biến, quán triệt và tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân chưa được thực hiện thường xuyên, đầy đủ, sâu rộng.

    – Hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước còn nhiều hạn chế. Việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân hiệu quả chưa cao, chưa nghiêm. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân, nhất là hạ tầng giao thông và nguồn nhân lực.

    – Vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân còn bất cập; hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp, các hiệp hội ngành nghề chưa thực sự hiệu quả, chậm đổi mới theo yêu cầu thực tiễn; chưa làm tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của doanh nghiệp, người lao động và người sử dụng lao động.

    – Xuất phát điểm phát triển và năng lực nội tại của kinh tế tư nhân còn thấp. Đội ngũ doanh nhân mới hình thành và đang trong quá trình phát triển, hạn chế về năng lực quản trị kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp, đạo đức doanh nhân.

    II- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ MỤC TIÊU 1- Quan điểm chỉ đạo

    – Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường là một yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; là một phương sách quan trọng để giải phóng sức sản xuất; huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển.

    – Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỉ trọng đóng góp trong GDP.

    – Xoá bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh và đúng định hướng. Phát huy mặt tích cực có lợi cho đất nước của kinh tế tư nhân, đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm soát, thực hiện công khai, minh bạch, ngăn chặn, hạn chế mặt tiêu cực, nhất là phòng, chống mọi biểu hiện của “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, quan hệ “lợi ích nhóm”, thao túng chính sách, cạnh tranh không lành mạnh để trục lợi bất chính.

    – Kinh tế tư nhân được phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Phát huy phong trào khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để các hộ kinh doanh tự nguyện liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác hoặc hoạt động theo mô hình doanh nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước, có đủ khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.

    – Khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hoá hoặc Nhà nước thoái vốn. Thúc đẩy phát triển mọi hình thức liên kết sản xuất, kinh doanh, cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo mạng sản xuất, chuỗi giá trị thị trường giữa kinh tế tư nhân với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm tiếp nhận, chuyển giao, tạo sự lan toả rộng rãi về công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và mở rộng thị trường tiêu thụ.

    – Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần tự lực, tự cường, lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của các chủ doanh nghiệp. Phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày càng vững mạnh, có ý thức chấp hành pháp luật, trách nhiệm với xã hội và kỹ năng lãnh đạo, quản trị cao; chú trọng xây dựng văn hoá doanh nghiệp, đạo đức doanh nhân.

    2- Mục tiêu tổng quát

    Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

    3- Mục tiêu cụ thể – Chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh trong khu vực kinh tế tư nhân. Phấn đấu đến năm 2022 có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp; đến năm 2025 có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp và đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp. – Tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Phấn đấu tăng tỉ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP để đến năm 2022 đạt khoảng 50%, năm 2025 khoảng 55%, đến năm 2030 khoảng 60 – 65%. – Bình quân giai đoạn 2022 – 2025, năng suất lao động tăng khoảng 4 – 5%/năm. Thu hẹp khoảng cách về trình độ công nghệ, chất lượng nhân lực và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân so với nhóm dẫn đầu ASEAN-4; nhiều doanh nghiệp tư nhân tham gia mạng sản xuất, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. III- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

    1- Thống nhất nhận thức, tư tưởng, hành động trong triển khai các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế tư nhân

    – Thống nhất nhận thức của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội về khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân.

    – Phát huy thế mạnh và tiềm năng to lớn của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế – xã hội phải đi đôi với khắc phục có hiệu quả những mặt trái phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế tư nhân.

    – Phòng, chống có hiệu quả các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong xây dựng và tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân.

    2- Tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân

    Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô

    – Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng.

    – Chủ động, linh hoạt điều hành chính sách tiền tệ theo cơ chế thị trường, kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý. Phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khoá và các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Bảo đảm lãi suất và tỉ giá hối đoái ổn định, phù hợp với điều kiện kinh tế vĩ mô và thị trường. Đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu; cơ cấu lại ngân sách nhà nước gắn với giảm bội chi ngân sách, bảo đảm an toàn nợ công và nâng cao hiệu quả đầu tư công; khuyến khích đầu tư của khu vực tư nhân.

    Hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư tư nhân và bảo đảm hoạt động của kinh tế tư nhân theo cơ chế thị trường

    – Thể chế hoá đầy đủ và bảo đảm thực hiện nghiêm minh quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản, các quyền, nghĩa vụ dân sự của các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.

    – Có các cơ chế, chính sách khuyến khích thành lập doanh nghiệp tư nhân; thu hẹp những lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh trong những ngành, lĩnh vực, địa bàn mà pháp luật không cấm, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ.

    – Khuyến khích, tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động, tự nguyện liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác hoặc chuyển đổi sang hoạt động kinh doanh theo mô hình doanh nghiệp thông qua các chính sách như: Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền sử dụng đất trong những năm đầu hoạt động; tư vấn, hướng dẫn thủ tục thành lập doanh nghiệp, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh; tổ chức công tác tài chính, kế toán; cung cấp thông tin; hướng dẫn quản trị doanh nghiệp và tư vấn pháp luật.

    – Hoàn thiện và bảo đảm thực thi minh bạch, hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, phong trào khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; tạo tiền đề hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân sở hữu hỗn hợp, bao gồm cả việc góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước có tiềm lực vững mạnh, đủ sức cạnh tranh, tham gia mạng sản xuất, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử, nông nghiệp.

    – Có chính sách khuyến khích sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp theo hướng chủ yếu dựa vào doanh nghiệp, hợp tác xã và trang trại có quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao. Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho nông dân.

    – Bảo đảm các cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân phù hợp với cơ chế thị trường và thúc đẩy tính tự chủ, cạnh tranh của kinh tế tư nhân; không biến các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân thành bao cấp, phục vụ “lợi ích nhóm” dưới mọi hình thức. Không biến việc chấp thuận, xác nhận, chứng nhận đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn chuyên môn kỹ thuật thành giấy phép con, gây cản trở hoạt động của kinh tế tư nhân.

    – Hoàn thiện và bảo đảm cơ chế thực thi nghiêm minh, có hiệu quả pháp luật về hợp đồng. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả của các thiết chế giải quyết tranh chấp kinh tế, dân sự, trọng tâm là các hoạt động thương lượng, hoà giải, trọng tài thương mại và toà án nhân dân các cấp, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp.

    Mở rộng khả năng tham gia thị trường và thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng

    – Phát triển mạnh mẽ, thông suốt, đồng bộ các thị trường, hệ thống lưu thông, phân phối hàng hoá, dịch vụ trên cả nước, đặc biệt là thị trường tư liệu sản xuất; đồng thời có biện pháp bảo vệ có hiệu quả thị trường trong nước gắn với đẩy mạnh phát triển thị trường quốc tế phù hợp với các cam kết quốc tế. Bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. Làm tốt công tác quy hoạch mạng lưới phân phối phù hợp với quy mô dân số và đặc điểm địa phương. Định hướng phát triển sản xuất phù hợp với nhu cầu trong nước và tốc độ mở rộng thị trường ngoài nước. Có biện pháp hiệu quả ổn định thị trường tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là đối với hàng nông sản. Tăng cường công tác phòng, chống gian lận thương mại, thao túng, chi phối thị trường, bóp méo giá cả, quan hệ cung – cầu hàng hoá, dịch vụ.

    – Xoá bỏ các rào cản, chính sách, các biện pháp hành chính can thiệp trực tiếp vào thị trường và sản xuất kinh doanh tạo ra bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực xã hội, trọng tâm là vốn và đất đai, cơ hội kinh doanh ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của kinh tế tư nhân. Tăng cường tính minh bạch và kiểm soát độc quyền kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.

    – Xây dựng chính sách tạo điều kiện để kinh tế tư nhân tham gia vào quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước thông qua việc góp vốn, mua cổ phần; thúc đẩy liên kết theo chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp của tư nhân… Đẩy mạnh xã hội hoá, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ công.

    – Có chính sách ưu tiên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các dự án đầu tư có công nghệ cao, các công ty đa quốc gia lớn, gắn với yêu cầu chuyển giao và lan toả rộng rãi công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị với các doanh nghiệp của tư nhân trong nước, nhất là trong phát triển ngành chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp công nghệ cao.

    – Hoàn thiện thể chế quản lý tài chính doanh nghiệp và minh bạch thông tin tài chính doanh nghiệp của tư nhân.

    Phát triển kết cấu hạ tầng

    – Tập trung phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, hiện đại, nhất là giao thông, năng lượng, viễn thông, đô thị, cấp, thoát nước, thuỷ lợi, xử lý chất thải, dịch vụ hậu cần và tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân tiếp cận, sử dụng bình đẳng, với chi phí hợp lý.

    – Sớm hoàn thiện thể chế để đẩy mạnh thực hiện cơ chế hợp tác công – tư trong đầu tư, khai thác, sử dụng, kinh doanh các dự án, công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – kỹ thuật. Kiểm soát chặt chẽ chi phí đầu tư, việc vận hành và thu hồi vốn của các dự án kết cấu hạ tầng để giảm chi phí sản xuất, kinh doanh cho người dân và doanh nghiệp.

    – Tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu vận tải đa phương tiện cho các doanh nghiệp dựa trên hệ thống giao thông đồng bộ, có trọng điểm, kết nối giữa các trung tâm kinh tế lớn và giữa các trục giao thông đầu mối. Mở rộng đầu tư và hiện đại hoá giao thông đường bộ, đường sắt, hàng hải, thuỷ nội địa và đường hàng không; tăng cường kết nối các hệ thống giao thông liên kết vùng và địa phương, kết nối hệ thống giao thông trong nước với quốc tế; phát triển dịch vụ hậu cần, lưu thông, phân phối hàng hoá, dịch vụ thuận tiện, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế.

    – Rà soát, hoàn thiện quy hoạch và đẩy mạnh đầu tư phát triển đồng bộ các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của doanh nghiệp về mặt bằng sản xuất, kinh doanh với hạ tầng kinh tế – kỹ thuật, dịch vụ hỗ trợ đầy đủ và chi phí hợp lý.

    Tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn lực

    – Cơ cấu lại và phát triển nhanh, an toàn, hiệu quả các thị trường tài chính, nhất là thị trường tiền tệ và thị trường vốn; tạo điều kiện bình đẳng, thuận lợi cho kinh tế tư nhân tiếp cận vay vốn ngân hàng, huy động vốn trên thị trường chứng khoán, nhất là phát hành trái phiếu doanh nghiệp và sử dụng các dịch vụ tài chính với chi phí hợp lý.

    – Phát triển đa dạng các định chế tài chính, các quỹ đầu tư mạo hiểm, các quỹ bảo lãnh tín dụng, các tổ chức tài chính vi mô, các tổ chức tư vấn tài chính, dịch vụ kế toán, kiểm toán, thẩm định giá, xếp hạng tín nhiệm… Đẩy mạnh cơ cấu lại và phát triển đồng bộ thị trường chứng khoán, thúc đẩy phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và các thị trường chứng khoán phái sinh để thị trường chứng khoán thực sự trở thành một kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng của các doanh nghiệp tư nhân.

    – Phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng an toàn, lành mạnh; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, khách hàng và của bản thân tổ chức tín dụng. Phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng các dịch vụ ngân hàng, nhất là dịch vụ tín dụng và thanh toán cho nền kinh tế. Nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách tín dụng phù hợp với các phương thức sản xuất kinh doanh, đối tượng khách hàng, tăng cường kết nối các khâu trong mạng sản xuất và chuỗi giá trị.

    – Phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng các sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm để góp phần giảm thiểu rủi ro, tổn thất và ổn định sản xuất, kinh doanh, đời sống của người dân và doanh nghiệp. Chú trọng phát triển bảo hiểm trong lĩnh vực nông nghiệp.

    – Có cơ chế, chính sách tạo điều kiện để kinh tế tư nhân tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Hỗ trợ kinh tế tư nhân tiếp cận, khai thác các cơ hội trong hội nhập quốc tế, mở rộng thị trường, đẩy mạnh đầu tư và thương mại quốc tế; xóa bỏ các rào cản bất hợp lý đối với kinh tế tư nhân khi tham gia thương mại, đầu tư quốc tế. Tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển, nâng cao năng lực từng bước tham gia sâu, vững chắc vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

    3- Hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hoá công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động

    – Khuyến khích, hỗ trợ kinh tế tư nhân đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển, ứng dụng, chuyển giao công nghệ tiên tiến. Hoàn thiện và bảo đảm thực thi hiệu quả pháp luật về sở hữu trí tuệ. Phát triển các quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ. Áp dụng chính sách thuế, hỗ trợ tài chính, tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi phù hợp với hoạt động nghiên cứu, đổi mới, hiện đại hoá công nghệ. Kết nối doanh nghiệp, ý tưởng khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo với các nhà đầu tư, quỹ đầu tư.

    – Ưu tiên phát triển các khu công nghệ cao, các vườn ươm công nghệ cao và các doanh nghiệp khoa học – công nghệ. Đẩy mạnh đầu tư, phát triển các cơ sở nghiên cứu khoa học – công nghệ, đội ngũ các nhà khoa học. Tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế trong nghiên cứu phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ; mua bán, chuyển giao các sản phẩm khoa học, công nghệ mới. Đẩy mạnh thương mại hoá các sản phẩm nghiên cứu khoa học, công nghệ.

    – Đẩy mạnh thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực. Đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là đào tạo nghề, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng đủ nhu cầu số lượng và chất lượng nhân lực cho phát triển kinh tế tư nhân. Tăng cường hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo; quy hoạch và phát triển đào tạo theo nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp và thị trường.

    – Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ doanh nhân có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng quản lý, quản trị hiện đại, đạo đức kinh doanh và tinh thần trách nhiệm đối với quốc gia, dân tộc. Xây dựng và triển khai rộng rãi các chuẩn mực đạo đức, văn hoá của doanh nhân Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

    – Khuyến khích, động viên tinh thần kinh doanh, ý chí khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội, nhất là trong cộng đồng doanh nghiệp. Đẩy mạnh phổ biến, tuyên truyền, giáo dục kiến thức kinh doanh, khởi nghiệp trong toàn xã hội.

    4- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

    – Xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; phát triển đội ngũ cán bộ, công chức liêm chính, có tư tưởng chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao.

    – Nâng cao năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật, cơ chế, chính sách, kế hoạch, quy hoạch, chiến lược phát triển, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, an toàn cho kinh tế tư nhân phát triển lành mạnh, đúng định hướng.

    – Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, trách nhiệm giải trình của các bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp đối với việc chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo gánh nặng tâm lý đối với người dân và doanh nghiệp. Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại, dân sự.

    – Đẩy mạnh cải cách hành chính mà trọng tâm là tạo bước đột phá trong cải cách thủ tục hành chính. Đơn giản hoá, rút ngắn thời gian xử lý các thủ tục hành chính, nhất là về thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, cấp phép, thuế, xuất khẩu, nhập khẩu, giải quyết tranh chấp, tố tụng, xét xử, thi hành án, phá sản,…

    – Nâng cao năng lực, hiệu quả phối hợp quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực và địa phương đối với kinh tế tư nhân, bao gồm cả việc bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức xã hội – nghề nghiệp. Đẩy mạnh phân cấp đi đôi với bảo đảm sự quản lý thống nhất, phối hợp liên thông, gắn kết giữa các cơ quan hành chính cùng cấp, giữa Trung ương và địa phương.

    – Hoàn thiện và công khai, minh bạch hệ thống thông tin kinh tế – xã hội, cơ sở dữ liệu, văn bản quy phạm pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển, cơ chế, chính sách quản lý để tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận khai thác và sử dụng. Khẩn trương xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung, thống nhất, tích hợp về khu vực kinh tế tư nhân.

    5- Đổi mới nội dung, phương thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp đối với kinh tế tư nhân

    – Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng trong khu vực kinh tế tư nhân phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các cấp uỷ đảng tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất cao trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân về chủ trương nhất quán trong phát triển kinh tế tư nhân của Đảng và Nhà nước; lãnh đạo thực hiện có hiệu quả, công khai, minh bạch các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân. Có giải pháp thực hiện chủ trương phát triển đảng trong khu vực kinh tế tư nhân. Coi trọng công tác sơ kết, tổng kết thực hiện các chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân.

    – Bảo đảm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với khu vực kinh tế tư nhân trên cơ sở phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.

    – Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp trong phát triển kinh tế tư nhân. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, làm tốt vai trò tổ chức đại diện, tích cực phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước để cung cấp thông tin, hỗ trợ liên kết, hợp tác kinh doanh, đào tạo kỹ thuật và tư vấn cho các hội viên.

    IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    1- Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, ưu tiên các dự án luật trực tiếp hỗ trợ đổi mới cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân; tăng cường giám sát của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội về phát triển kinh tế tư nhân.

    2- Ban cán sự đảng Chính phủ, ban cán sự đảng các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương xây dựng kế hoạch hành động với các nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình phù hợp và phân công cụ thể trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị thực hiện.

    3- Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các ban đảng Trung ương tổng kết, kiến nghị tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân; chủ trương, chính sách về phát triển tổ chức đảng và đảng viên trong khu vực kinh tế tư nhân.

    4- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát việc thực hiện Nghị quyết.

    5- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến rộng rãi về nội dung và kết quả thực hiện Nghị quyết.

    6- Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng, các ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ, đảng đoàn trực thuộc Trung ương thường xuyên theo dõi, giám sát, kiểm tra, đôn đốc triển khai thực hiện Nghị quyết; sơ kết, tổng kết, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Tế Tư Nhân: Ý Nguyện Và Lợi Ích Của Đông Đảo Người Dân
  • Kinh Tế Tư Nhân Và Các Giá Trị Chân Chính Của Nó
  • Bài 7 : Thực Hiện Nền Kinh Tế Nhiều Thành Phần… Thuchiennenkinhtenhieuthanhphan 1 Ppt
  • Bài 7. Thực Hiện Nền Kinh Tế Nhiều Thành Phần Và Tăng Cường Vai Trò Quản Lí Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Lợi Ích Kinh Tế Của Không Gian Xanh: Không Chỉ Đo Bằng Tiền!
  • Lợi Ích Của Nền Kinh Tế Tuần Hoàn

    --- Bài mới hơn ---

  • Mô Hình Kinh Tế Tuần Hoàn Đem Lại Lợi Ích Gì?
  • Báo Cáo Thời Sự Định Kì Tháng 12/2019: Kinh Tế Tuần Hoàn
  • Nhiều Lợi Ích Cho Doanh Nghiệp Từ Mô Hình Kinh Tế Tuần Hoàn
  • Cơ Hội Và Thách Thức Cho Phát Triển Kinh Tế Tuần Hoàn Ở Việt Nam
  • Việt Nam Nỗ Lực Xây Dựng Và Phát Triển Nền Kinh Tế Tuần Hoàn
  • I. KHÁI QUÁT CHUNG

    Các vấn đề môi trường chủ yếu là vấn đề kinh tế. Dù rằng đây có thể là một cách nói cường điệu nhưng thường khó mà tách rời kinh tế ra khỏi các vấn đề hay các mối bận tâm về môi trường. Về cơ bản, kinh tế nói đến sự phân phối tài nguyên. Nó mô tả cái cách mà chúng ta đánh giá hàng hóa và dịch vụ. Chúng ta sẵn sàng trả tiền cho một thứ hay một dịch vụ mà chúng ta đánh giá cao và chúng ta không muốn trả tiền cho một thứ mà chúng ta nghĩ là đang có đầy rẫy. Chẳng hạn chúng ta sẵn sàng trả tiền cho một nơi ấm áp, an toàn để sống nhưng chúng ta thấy khó chịu khi có ai đề nghị chúng ta trả tiền cho không khí chúng ta đang thở.

    Về mặt xã hội, mục tiêu của chúng ta là tìm kiếm một sự tăng trưởng kinh tế lâu dài để tạo ra việc làm đồng thời vẫn duy trì và cải thiện môi trường sống. Để đạt mục tiêu ấy có một chiến lược môi trường để sửa chữa những tổn hại cho môi trường trong quá khứ, giúp cho chúng ta chuyển đổi từ sự xử lý chất thải sang việc phòng ngừa ô nhiễm và sử dụng các tài nguyên đang có một cách hữu hiệu hơn.

    Một món hàng hay dịch vụ có thể được định nghĩa là một thứ gì khan hiếm. Mỗi khi mức cầu đối với một vật gì vượt quá mức cung thì có sự khan hiếm, và chúng ta đang sống trong một thế giới khan hiếm chung. Tài nguyên là thứ góp phần vào việc làm cho người tiêu dung có được lượng hang hóa và dịch vụ mà họ mong muốn. Cung là lượng hang hóa hay dịch vụ có thể mua bán được. Cầu là lượng sản phẩm mà người tiêu dùng muốn có và có thể mua được với những giá cả khác nhau. Trong kinh tế, cung tùy thuộc vào:

    * Nguyên liệu có sẵn để làm ra hàng hóa hay dịch vụ bằng sự sử dụng công nghệ hiện đại.

    * Khối lượng các nguyên liệu sử dụng được.

    * Chi phí để lấy, vận chuyển và chế biến nguyên liệu thô.

    * Mức độ cạnh tranh thứ nguyên liệu ấy giữa các người sử dụng.

    * Tính khả thi và chi phí của việc tái chế nguyên liệu đã dung rồi.

    * Các cơ cấu và định chế xã hội có thể có một ảnh hưởng (xem hình 1).

    Tương quan giữa mức cung cầu của một hàng hóa hay dịch vụ và giá cả của nó được gọi là khúc tuyến cung/cầu (xem hình 1). Giá của một sản phẩm hay dịch vụ phản ánh cường độ của nhu cầu đối với một hàng hóa và sự sẵn sàng có của hàng hóa ấy, khi cầu vượt quá cung thì giá cả tang them, sự tăng khiến con người ta tìm thứ hàng hóa khác thay thế hoặc quyết định không dung hàng hóa hay dịch vụ ấy nữa, điều này làm cho mức cầu giảm xuống.

    Khi sự cung cấp một món hàng vượt quá mức cầu, người sản xuất phải hạ giá xuống để bán cho hết sản phẩm và cuối cùng một số nhà sản xuất phải bỏ nghề. Mỉa mai là điều này xảy ra cho các nông dân khi họ được mùa liên tiếp nhiều năm. Sản lượng nhiều nên giá hạ khiến một số nông dân bỏ nghề.

    3. Các công cụ dựa vào thị trường:

    Với sự quan tâm ngày một nhiều hơn đến việc bảo vệ môi trường trong ba thập kỷ vừa qua, những người đề ra chính sách đang xem xét những phương pháp mới để làm giảm hư hại cho môi trường. Một lĩnh vực được chú ý ngày một nhiều là các công cụ dựa vào thị trường (MBI: Market Based Insiruments). MBI là một biện pháp thay thế cho cơ chế ra lệnh và giám sát,vì nó dung sức mạnh kinh tế và sự khôn khéo của nhà kinh doanh để đạt tới một mức bảo vệ môi trường cao với một chi phí thấp. Thay vì bắt các xí nghiệp phải hoạt động như thế nào, MBI động viên bằng cách gây tốn kém cho các hoạt động gây ô nhiễm… Chính sách này cho phép các xí nghiệp tự mình quyết định cách tốt nhất để đạt được mức độ bảo vệ môi trường cần thiết. Ngày nay hầu hết các chính sách dựa vào thị trường này đã được đưa vào áp dụng ở các quốc gia phát triển và một số quốc gia đang phát triển nhanh gần như trong tất cả mọi trường hợp, các chính sách ấy đã được đưa vào dạng hỗ trợ chứ không phải thay thế cho cái quy định từ xưa của nhà nước.

    Áp dụng chính sách dựa vào thị trường không phải là ở bất cứ các quốc gia nào. Để thành công, các quốc gia cần có một hệ thống thị trường năng động các điều kiện kinh tế vĩ mô vững vàng, sự ổn định về chính trị và định chế và sự phát triển nhân quyền đầy đủ.

    Ở các quốc gia đang phát triển, với những mảng lớn còn bỏ ngỏ thì các chính sách khác – nâng cao công suát, cải cách đường lối toàn bộ đầu tư vào y tế giáo dục, sự tham gia của cộng đồng – lúc đầu có thể hiệu quả hơn là cơ chế dựa vào thị trường.

    Tuy nhiên chính sách dựa vào thị trường có thể cho ta nhiều khả năng đáng kể để đạt được mục tiêu về môi trường một cách hiệu quả hơn và gây ít tốn kém hơn cho nhà nước và doanh nghiệp – chính sách này cũng giúp cho nhà nước có cơ hội làm chủ được đà tăng trưởng kinh tế đồng thời dẫn dắt nó đến một địa vị vững bền hơn.

    Công cụ dựa vào thị trường nhìn nhận sự kiện là các tài nguyên của môi trường thường bị đánh giá thấp. Thứ nhất các khoản trợ cấp (về điện, nước, nhiên liệu hóa thạch, vận tải đường bộ, nông nghiệp) lạm sự khuyến khích người ta lạm dụng các tài nguyên: giảm hoặc bỏ các trợ cấp là khieensn gười ta sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả hơn. Thứ hai, giá cả thị trường chỉ phản ánh các chi phí cá biệt thôi, không phản ánh các thiệt hại ngoại ứng do ô nhiễm và khai thác các tài nguyên gây ra, thay vì những chỉ thị cứng nhắc, từ trên truyền xuống, chính sách công cụ dựa vào thị trường, sử dụng các báo hiệu của giá cả và đểcho nhà doanh nghiệp tự do lựa chọn giải pháp hiệu quả nhất về mặt kinh tế cho họ.

    Các MBI có thể được xếp thành năm nhóm cơ bản:

    a) Các chương trình thông tin:

    Các chương trình này dựa vào sự chọn lựa của người tiêu thụ để làm giảm các phiền phức về môi trường thông tin về hậu quả trên môi trường hay về các rủi ro của sự chọn lựa sẽ khiến cho người tiêu dung thấy rằng tốt hơn là nên thay đổi quyết định của mình. Các vị dụ gồm kết quả xét nghiệm carbon hoặc chì, hoặc sự dán nhãn trên thuốc trừ sâu. Một loại chương trình khác như bản kiểm kê về phóng thích chất độc ở Hoa Kỳ, tiết lộ thông tin về sự phóng thích các chất gây ô nhiễm vào môi trường. Điều này kích thích các công ty cải thiện thành tích môi trường của mình để làm đẹp hình ảnh của mình đối với công chúng.

    Chi phí phải chịu trong lĩnh vực tư nhân hoặc nhà nước để ngăn ngừa, toàn bộ hay một phần sự ô nhiễm có thể xảy ra từ một hoạt động sản xuất hay tiêu thụ nào đó. Chi phí mà chính quyền địa phương phải chịu để xử lý nước cống của mình trước khi cho đổ vào sông là một chi phí phòng ngừa ô nhiễm, đó cũng là chi phí phải chịu để xử lý nước cống của mình trước khi cho đổ vào sông là một chi phí phòng ngừa ô nhiễm không khí khi lắp đặt một thiết bị mới.

    Chi phí do ô nhiễm: có thể được phân ra làm hai loại:

    – Sự tiêu tốn của cá nhân hay tập thể để tránh sự thiệt hại ô nhiễm một khi sự ô nhiễm đã xảy ra.

    – Sự gia tang chi phí y tế và sự không sử dụng được tài nguyên của cộng đồng do sự ô nhiễm.

    Sự tốn kém lớn để chọn ra các vụ tràn dầu, như vụ tràn dầu của tàu Exxon Valdez và do cuộc chiến vùng Vịnh, là một ví dụ về chi phí do ô nhiễm, cũng giống như nguy hiểm gia tang đối với sức khoẻ con người do ăn các hải sản bị nhiễm dầu. Vào giữa những năm 1990, nhiều giải pháp mới về kinh tế đã được áp dụng để vừa nội bộ hóa các chi phí ngoại ứng vừa phòng ngừa ô nhiễm.

    c) Rắc rối của tài nguyên sở hữu chung

    Các nhà kinh tế đã nói rằng khi mọi người cùng làm chủ một tài nguyên thì sẽ có khuynh hướng khai thác quá mức và lạm dụng tài nguyên ấy. Như vậy sự làm chủ của nhiều người nên được gọi là sự vô chủ.

    Chẳng hạn sự làm chủ chung không khí khiến cho các xí nghiệp hoặc tư nhân không phải tốn tiền gì khi họ hủy chất thải bằng cách đem đốt đi. Chi phí ô nhiễm không khí không được thể hiện trong kinh tế của người gây ô nhiễm nhưng trở thành một chi phí ngoại ứng cho xã hội. Sự sở hữu chung biển cả khiến cho nhiều thành phố không phải tốn kém gì để dùng đại dương làm nơi đổ rác của họ.

    d) Tương tự, không có riêng cái quyền săn bắt cá voi. Quốc gia nào chậm trễ trong việc chiếm lấy phần mình thì sẽ bị quốc gia khác giành mất. Vì thế người ta đua nhau săn bắt cá voi quá mức, gây ra mối đe dọa cho sự sống sót của giống loài này. Điều gì diễn ra cho giống cá voi trong khuôn khổ quốc tế thì cũng diễn ra cho các giống loài khác trong phạm vi một quốc gia. Nên chú ý rằng các giống loài bị đe dọa là những thú hoang không được thuần hóa; sự sống sót của các đàn thú thuộc sở hữu tư nhân thì không phải là điều đáng lo.

    e) Sau hết, sự sở hữu chung các tài nguyên trên đất như công viên và đường phố là nguyên nhân của nhiều phiền phức khác về môi trường. Những người xả rác nơi công viên thì lại thường không đổ rác trên miếng đất của mình. Sự thiếu chủ quyền rõ rệt đối với những tài nguyên thuộc sở hữu chung này giải thích khá nhiều cho điều mà kinh tế gia John Kenneth Galbraith gọi là “sự bẩn thỉu công cộng giữa sự sung túc tư nhân”.

    II. HOẠT ĐỘNG KINH TẾ VÀ THẾ GIỚI VẬT LÝ SINH HỌC

    Theo hầu hết các nhà khoa học tự nhiên, những khủng hoảng hiện nay như mất đi sự đa dạng sinh học, sự thay đổi khí hậu và nhiều vấn đề về môi trường khác là những triệu chứng của một sự mất cân bằng giữa hệ thống kinh tế xã hội và thế giới tự nhiên.

    Một trong những hậu quả nghiêm trọng nhất của tác động ngày một nhiều của con người trên thiên nhiên là sự mất đi sự dạng sinh học. Sự đa dạng sinh học được cho là có ảnh hưởng trên sự ổn định của các hệ sinh thái và trên khả năng đối phó với các khủng hoảng. Trong lịch sử 570 triệu năm của phức hệ sống trên trái đất đã từng có nhiều sự cố tuyệt chủng quan trọng. Sự mất đi sự đa dang jsinh học sau những thời kỳ tuyệt chủng lớn được tính là từ 20 đến hơn 90%. Sự mất đi sự đa dạng sinh học do hoạt động của con người gây ra chỉ tính từ khi có cuộc Cách mạng công nghiệp là khoảng từ 10 đến 20%. Nếu các xu hướng hiện nay cứ tiếp tục thì sự mất mát ấy có thể lên đến 50% vào cuối thế kỷ 21. Cứ sau mỗi sự cố tuyệt chủng, phải mất từ 20 triệu đến 100 triệu năm thì sự đa dạng sinh thái mới lấy lại tầm mức trước đó, tức là một khoảng thời gian từ 100 đến 500 lần dài hơn lịch sử 200.000 năm của Homo sapiens.

    Nguyên nhân quan trọng duy nhất của sự mất đa dạng sinh thái là sự phá hủy nơi cư ngụ, tức là sự phá đi mảng sinh vật, các hoạt động hỗ trợ cho sự sống của từng chủng loại. Sự nhìn nhận rằng mỗi chủng loại được hỗ trợ với các chủng loại khác bên trong hệ sinh thái là điều xa lạ đối với cái cách mà giới kinh doanh nhìn thế giới.

    Ví dụ về sự đa dạng sinh học minh họa cho cơ cấu đầy mâu thuẫn của kinh tế học và sinh thái học. Các quyết định của thị trường không tính đến khung cảnh sống của một giống loài hoặc những tương liên giữa chất lượng của tài nguyên và các chức năng của hệ sinh thái. Chẳng hạn giá trị của đất đai dùng để nuôi bò lấy thịt được tính theo đầu ra mà miếng đất đem lại. Thế nhưng một thời gian dài trước khi đầu ra và giá trị sử dụng của miếng đất suy giảm thì sự đa dạng của các loại rau cỏ, các vi sinh trong đất hay chất lượng mạch nước ngầm có thể đã bị ảnh hưởng bởi sự nuôi bò lấy thịt cao độ này. Bao lâu mà lợi tức còn được duy trì, thì những thay đổi này không được thị trường để tâm đến và chẳng quan trọng gì đối với quyết định sử dụng đất. Nên nói rõ rằng ở Zimbabwe và các quốc gia Phi châu khác một số chủ trại chăn nuôi ngày nay đã kiếm tiền bằng cách nuôi những loại thú hoang bản địa để phục vụ cho du lịch sinh thái và họ thu lợi nhiều hơn là nuôi bò lấy thịt.

    Không gian và địa điểm là một vấn đề khác nữa. Đối với các hệ sinh thái, địa điểm vô cùng quan trọng. Lấy mạch nước ngầm làm ví dụ. Chất lượng đất, các điều kiện thủy địa lý, lượng mưa trong vùng, các loại cây sống trong vùng và mất mát do sự bốc hơi, sự thoát hơi nước của cây cối, và dòng chảy của mạc nước ngầm, tất cả góp phần tạo nên tầm cỡ và vị trí của nguồn dự trù nước ngầm. Các đặc điểm này không thể đơn giản mang từ nơi này sang nơi khác. Đối với các hoạt động kinh tế, địa điểm càng ngày càng ít quan trọng.

    Một khác biệt nữa giữa kinh tế và sinh thái là chúng được đo lường bằng những đơn vị khác nhau. Đơn vị đo lường thống nhất của kinh tế thị trường là tiền. Sự tiến bộ được đo bằng đơn vị tiền tệ mà mọi người đều sử dụng và hiểu rõ ít nhiều. Các hệ vật lý sinh học được đo bằng các đơn vị vật lý như calori năng lượng, sự hấp thụ dioxit carbon; centimet lượng mưa và phần triệu nhiễm độc nitrat. Nếu chỉ chú trọng đến giá trị kinh tế của tài nguyên mà không biết đến sự lành mạnh vật lý sinh học thì có thể che lấp những thay đổi quan trọng trong chất lượng hoặc chức năng của môi trường.

    III. KINH TẾ MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN

    Như đã nói trước đây, “vốn liếng thiên nhiên” của quả đất, mà loài người lệ thuộc vào đây đẻ có thức ăn, sự an toàn, dược phẩm cùng nhiều sản phẩm công nghiệp khác, chính là sự đa dạng sinh học của nó. Phần lớn sự đa dạng này là ở tại các quốc gia đang phát triển, nhiều quốc gia túng thiếu về mặt kinh tế buộc phải vay tiền trong ngân hàng của các quốc gia phát triển.

    Vì món nợ của nước ngoài quá nhiều nên nhiều quốc gia đang phát triển không còn có chọn lựa nào khác hơn là khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng mình. Vào năm 2001 số nợ cua các quốc gia đang phát triển đã vượt quá 1.900 tỉ đô la Mỹ, một con số bằng một nửa tổng sản lượng quốc gia đang phát triển phải đàu tư vào các dự án có tiền lãi an toàn và ngắn hạn cùng các chương trình thực sự cần thiết cho sự sống còn trước mắt. Các tác động trên môi trường thường bj xem nhẹ, người ta nghĩ rằng các nước đang mắc nợ trầm trọng không thể chú ý đến các chi phí cho môi trường một khi họ chưa giải quyết được các khó khăn về môi trường có thể “sửa chữa” một khi đất nước đã đạt tới một mức thu nhập cao hơn, nhưng nó không biết là mọi người ngày càng nhận thấy rằng các tác động trên môi trường thường gây ra những vấn đề quốc tế. Nhiều quốc gia dưới sức ép của sự khủng hoảng nợ nần bị buộc phải khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên của mình thay vì xử lý chúng một cách bền vững.

    Một phương pháp mới để giúp giải quyết các khủng hoảng nợ của một quốc gia được gọi là sự “đổi nợ lấy thiên nhiên”. Đổi nợ lấy thiên nhiên là một cơ chế mới để giải quyết vấn đề nợ nần trong khi đó lại khuyến khích đầu tư vào việc bảo tồn và phát triển bền vững. Sự đổi chác này cho phép người ta mua nợ với sự giảm giá nhưng nợ này được chuộc lại với giá cao hơn bằng tiền địa phương, để sử dụng vào các dự án bảo tồn và phát triển bền vững. Cơ chế đổi nợ lấy thiên nhiên ra đời năm 1987, khi một tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức Bảo Tồn Quốc tế, mua 650.000 đô la tiền nợ ngoại tệ của Bolivia để đổi lấy lời hứa của Bolivia là xây dựng một công viên quốc gia. Đến năm 2000, có ít nhất 16 quốc gia mắc nợ – tại vùng biển Caribe, Châu Phi, Đông Âu và châu Mỹ La Tinh – đã giải quyết tương tự với các tổ chức có thẩm quyền và phi chính phủ. Năm 2000, gần 135 triệu đô la tiền nợ trên khắp thế giới đã được mua với giá khoảng 28 triệu đô la nhưng được chuộc lại với giá tương đương 72 triệu đô la. Tiền này được dùng để lập các khu bảo tồn sinh quyển, các công viên quốc gia triển khai chương trình bảo vệ vùng thủy phân, lập bảng kiểm kê các giống loài đang lâm nguy và thực hiện việc giáo dục môi trường.

    Trong sự đổi nợ lấy thiên nhiên, các nước con nợ được lời do sự giảm mức nợ thiếu bằng ngoại tệ để tăng thêm sự chi tiêu đầu tư trong nước họ. Người đầu tư vào việc bảo tồn nhận được khoản tiền trả thêm trên khoản đầu tư. Tiền này có thể được dùng để lập khu bảo tồn và lập ra các chương trình phát triển bền vững. Các ngân hàng cho vay có lợi vì chuyển đổi được khoản nợ không trả của mình. Dù rằng họ chỉ nhận được một phần khoản tiền cho vay nhưng thu về một ít còn hơn là mất trọn.

    Thái độ của các ngân hàng ở các quốc gia công nghiệp hóa dường như cũng đang thay đổi. Chẳng hạn việc Ngân hàng thế giới cấp tiền vay cho những dự án phát triển của Thế giới Thứ ba từ lâu đã bị chỉ trích bởi các nhóm hoạt động môi trường là đã hỗ trợ cho những chương trình lớn không có lợi cho sinh thái, như dự án nuôi gia súc ở Botswana đã dẫn đến sự chăn thả quá mức. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây Ngân hàng Thế giới đã đưa yếu tố môi trường vào trong các dự án.

    * Phương pháp khoa học

    Khoa học là một quá trình được sử dụng để giải quyết các khó khăn hoặc đạt tới một kiến thức về thiên nhiên mà những câu trả lời cần được kiểm chứng. Khoa học không giống các lĩnh vực nghiên cứu khác bởi cái cách thức đạt được kiến thức chứ không phải bởi những gì được nghiên cứu. Quá trình này được gọi là phương pháp khoa học.

    Phương pháp khoa học là một cách để có được thông tin (sự thật) về thế giới qua việc đề ra những giải đáp cho các câu hỏi và tiếp theo là một sự kiểm nghiệm gắt gao để xác định xem các giải đáp đưa ra có giá trị hay không. Hơn thế nữa khi sử dụng phương pháp khoa học thì các khoa học gia có nhiều giả định cơ bản. Họ giả định rằng:

    Phương pháp khoa học cần đến một sự tìm kiếm thông tin có hệ thống, một sự kiểm tra liên tục để xem các ý tưởng trước đay có còn mâu thuẫn bởi các thông tin mới có hay không. Nếu một bằng chứng mới không có mâu thuẫn thì nhà khoa học phải gạt bỏ hoặc thay đổi các ý tưởng ban đầu của mình. Các ý tưởng khoa học luôn luôn được tái thẩm định, phê phán và điều chỉnh. Phương pháp khoa học bao gồm nhiều công đoạn quan trọng có thể định rõ, như sự quan sát kỹ càng, đặt câu hỏi về những sự kiện quan sát được, xây dựng và kiểm nghiệm các giả thuyết sẵn sàng tiếp nhận các thông tin, các ý tưởng mới và sẵn sàng để cho người khác rà soát đánh giá các ý tưởng của mình. Nền tảng của tất cả các hoạt động này là sự không ngừng chú ý đế sự chính xác và không có thiên kiến.

    Tuy nhiên, phương pháp khoa học không phải là một chuỗi thẳng đuột những bước phải đi theo một trật tự nào đó.

    Hình 2: cho ta thấy là các bước này có thể nối kết với nhau như thế nào.

    VI.KINH TẾ TUẦN HOÀN

    Kinh tế tuần hoàn đã gặt hái kết quả tích cực ở nhiều quốc gia. Đây là một chương trình rất mới được sự quan tâm của nhiều nước, nhất là các nước tiên tiến.

    Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) định nghĩa khái quát: Kinh tế tuần hoàn là nơi giá trị của sản phẩm, nguyên vật liệu và tài nguyên được duy trì trong nền kinh tế lâu nhất có thể và đồng thời giảm tối đa chất thải. Mô hình kinh tế tuần hoàn đầy đủ gồm 5 khâu: Thiết kế, sản xuất, tiêu dùng, quản lý chất thải và từ chất thải trở thành tài nguyên. Trong khi đó, Ủy ban châu Âu (EC) định nghĩa: Một nền kinh tế tuần hoàn bảo tồn giá trị gia tăng trong các sản phẩm càng lâu càng tốt và hầu như loại bỏ chất thải.

    Dù cách định nghĩa khác nhau, nhưng kinh tế tuần hoàn luôn hướng tới mục tiêu cuối cùng là hạn chế hoặc loại bỏ chất thải; tái sử dụng, tái chế và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường.

    Đối với Việt Nam, mô hình kinh tế tuần hoàn có thể khắc phục được những hạn chế vốn có của mô hình kinh tế truyền thống, như khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và gây ảnh hưởng xấu đến sinh thái, môi trường. Đến nay, đã có một số mô hình kinh tế tuần hoàn đang được triển khai, như: Mô hình khu công nghiệp sinh thái tại Hải Phòng, Ninh Bình, Đà Nẵng, Cần Thơ; sáng kiến không rác thải ra thiên nhiên do Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam khởi xướng; hay như Liên minh tái chế bao bì Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 tất cả bao bì của 9 công ty thực phẩm, nước giải khát đưa ra tiêu thụ trên thị trường sẽ được thu gom, tái chế.

    Chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn có tác động tích cực tới việc phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Ví dụ, ở Thụy Điển, ước tính lượng chất thải sinh hoạt được tái chế đạt 99%. Nhiều chất thải được tái chế và sử dụng cho các mục đích khác như khí sinh học và năng lượng.

    Ngoài học hỏi các nước đi trước, Đảng, Nhà nước ta đã xác định rõ chủ trương, ban hành nhiều chính sách nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững; ứng phó với biến đổi khí hậu; tăng cường tái chế, tái sử dụng. Nhiều yếu tố nền tảng trong khung khổ thể chế phát triển kinh tế tuần hoàn đã bước đầu được hình thành. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ cũng tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tuần hoàn…

    Tuy nhiên, các yếu tố của kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam vẫn tương đối rời rạc; chưa có chính sách, văn bản pháp luật quy định đầy đủ, hệ thống. Cần lưu ý rằng, tính hệ thống của kinh tế tuần hoàn chính là điểm khác biệt, chứ không chỉ giới hạn ở quản lý chất thải và tận dụng chất thải. Mặt khác, các quy định mới dừng lại ở cấp chính sách, chưa cụ thể hóa thành các kế hoạch hành động. Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam phần lớn có quy mô nhỏ và vừa, rất hạn chế về năng lực công nghệ tái chế, tái sử dụng. Sự lo ngại về chi phí là một thực tế, khiến người dân và doanh nghiệp còn chậm chuyển đổi cách sản xuất và tiêu dùng.

    Phát triển kinh tế tuần hoàn là xu thế phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh hậu Covid-19. Việt Nam không thể nằm ngoài xu thế tất yếu này. Dù hệ thống pháp lý còn cần bổ sung, hoàn thiện, nhưng những chuyển động từ phía doanh nghiệp và nhận thức của một bộ phận người dân đang có những chuyển biến tích cực.

    Cũng cần nói thêm, Việt Nam đang có bước chuyển đổi, hướng đến phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế tuần hoàn. Cụ thể như: Chiến lược phát triển bền vững giai đoạn 2010-2020; Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; Nghị quyết số 41/NQ-TƯ ngày 15-11-2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…

    Hiện nay ở nước ta, trình độ dân trí còn thấp, công nghệ ứng dụng vào sản xuất chưa cao như kỹ thuật xử lý nước thải, rác thải gây nên mùi hôi thối nên không được sự đồng tình của nhân dân dân các địa phương. Riêng Hà Nội, mỗi năm có mấy lần nhân dân ngăn không cho xe chở rác vào bãi, làm cho Hà Nội ngập trong rác. Các doanh nghiệp sản xuất chưa đảm bảo an toàn vệ sinh gây nên khiếu kiện liên miên.

    Với tư duy ngày càng mở với các mô hình kinh tế mới, kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam có đủ điều kiện để sớm phát triển. Bản thân những chuyển động từ phía doanh nghiệp đối với kinh tế tuần hoàn đã được ghi nhận. Nếu kịp thời thể chế hóa bằng khung chính sách phù hợp, kinh tế tuần hoàn sẽ thu hút được sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư. Đáp ứng yêu cầu đó, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương đang chủ trì nghiên cứu để hệ thống hóa một số chính sách và lộ trình phát triển kinh tế tuần hoàn của Việt Nam và sẽ sớm có thông tin trong thời gian tới.

    Hy vọng rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của của Đảng và Nhà nước, sự tích cực hưởng ứng của các Bộ, Ban, ngành và các doanh nghiệp, sự hướng dẫn của các chuyên gia môi trường với sự tăng cường giới thiệu các ưu điểm của phương án sản xuất, các điển hình tiên tiến Việt Nam sẽ sớm bắt kịp xu hướng chung của thế giới./.

    Eldon D. Enger; Bradley F. Smith – “Tìm hiểu môi trường – Lời kêu cứu khẩn cấp của nhân loại – Cẩm nang thiết yếu cho khoa học môi trường”, NXB Lao động xã hội.

    Nguyên Giám đốc Sở KH-CN-MT Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 20 Các Ngành Hot Trong Tương Lai 2022. Cơ Hội Nghề Nghiệp..
  • Lợi Ích Từ Những Sáng Kiến
  • Chuẩn Mực Số 4: Tài Sản Cố Định Vô Hình
  • Chuẩn Mực Kế Toán Số 03 : Tài Sản Cố Định Hữu Hình
  • Chuẩn Mực Kế Toán Số 01 : Chuẩn Mực Chung
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100