Nền Kinh Tế Chia Sẻ: Lợi Ích Cho Các Chủ Đầu Tư Bất Động Sản

--- Bài mới hơn ---

  • Kinh Tế Chia Sẻ: Liệu Lợi Ích Trước Mắt Có Đi Cùng Định Hướng Bền Vững?
  • Kinh Tế Chia Sẻ Con Đường Mới Dẫn Đến Tăng Trưởng Bền Vững
  • Kinh Tế Chia Sẻ, Phép Thử Đối Với Tư Duy Quản Lý
  • Tiêu Chuẩn, Nhận Biết Và Phân Loại Tài Sản Cố Định
  • Các Yếu Tổ Của Báo Cáo Tài Chính
  • Mô hình kinh tế chia sẻ vào Việt Nam từ năm 2022, khi cơ quan quản lý nhà nước cho phép thí điểm mô hình Uber – ứng dụng gọi xe công nghệ tại 5 TP lớn. Tiếp đó, lần lượt là Grab, Go-Việt, Bee, FastGo xuất hiện đã cung cấp các dịch vụ taxi, “xe ôm” công nghệ, giao đồ ăn… Việc này không chỉ tạo sự tiện lợi, mà còn mang đến việc làm, thu nhập và góp phần làm thay đổi thói quen tiêu dùng, sinh hoạt của người dân.

    Trước đó vào năm 2007, mô hình chia sẻ căn hộ dành cho những vị khách lạ đến ở chung và nấu ăn trước tình trạng thuê nhà quá đắt đỏ tại San Francisco (Mỹ), được gọi là Airbnb ra đời. Sau chưa đầy 9 năm, từ ý tưởng chia sẻ căn hộ, đã hình thành nên một doanh nghiệp khổng lồ, được định giá 31 tỷ USD trong năm 2022, khiến ngành công nghiệp khách sạn truyền thống trên toàn cầu đều phải lo lắng.

    Đây là những nền tảng đầu tiên của “nền kinh tế chia sẻ”, mô hình đã trở thành xu thế mới và mang lại nguồn lợi tài chính khổng lồ, cũng như mang lại nhiều tiện ích dịch vụ mới cho xã hội.

    Theo KS Trần Văn Quang – Hội Công nghệ thông tin và phần mềm Việt Nam, nền kinh tế chia sẻ đang phát triển ngày càng lớn mạnh hơn trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0, với sự kết nối của internet, đã làm thay đổi toàn bộ tư duy sử dụng dịch vụ của con người.

    Nhờ vào việc chia sẻ những tài nguyên sẵn có bằng các ứng dụng công nghệ, cùng những khoản lợi nhuận khổng lồ đem lại cho nhà cung ứng dịch vụ lẫn người cho thuê và sử dụng tài nguyên, đã khiến mô hình kinh doanh này nhanh chóng phát triển lan rộng toàn thế giới. Theo nghiên cứu của Công ty Kiểm toán PricewaterhouseCoopers (PwC), ước tính doanh thu toàn cầu từ các công ty cung cấp ứng dụng nền tảng kinh doanh chia sẻ sẽ đạt tới 335 tỷ USD vào năm 2025 so với doanh thu năm 2014 mới khoảng 15 tỷ USD.

    “Điều quan trọng hơn, khi kinh tế chia sẻ phát triển tạo thêm nhiều việc làm mới, giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động với mức thu nhập ổn định. Kinh tế chia sẻ không chỉ là sự tương tác giữa người bán – người mua, mà còn mang lại lợi ích cho cả những người đưa hàng” – KS Trần Văn Quang cho biết thêm.

    Kinh tế chia sẻ bao trùm thị trường BĐS

    Các nhà đầu tư BĐS chủ yếu sẽ quan tâm đến việc chia sẻ có tính phí. Tính linh hoạt vẫn được cho là một lợi ích cho người sử dụng, bởi người dân cần được cung cấp các dịch vụ, đổi lại nhà đầu tư sẽ thu được lợi nhuận cao hơn. Các doanh nghiệp thì sẽ tính đến bài toán cung cấp dịch vụ không gian làm việc chung của dự án, một phần của một tòa nhà có thể được sử dụng làm văn phòng linh hoạt, nhưng bản thân diện tích linh hoạt này cũng có thể được điều chỉnh linh hoạt, vì vậy mà các tòa nhà có thể thích ứng dễ dàng hơn với nhu cầu của thị trường.

    Trưởng bộ phận Nghiên cứu châu Á Thái Bình Dương của SavillsSimon Smith cho biết, Tối đa hóa doanh thu là mục tiêu của mọi doanh nghiệp và nền kinh tế chia sẻ cho phép chủ nhà gia tăng thu nhập từ cùng một không gian.

    Vì vậy, các cửa hàng pop-up có thể đem đến một làn gió mới và tăng doanh thu cho trung tâm thương mại, nhưng các cửa hàng này cũng có thể xuất hiện trong các văn phòng, hay khách sạn và biến mất khi sức hút đã giảm dần hoặc chủ nhà tìm được cách sử dụng không gian đó hiệu quả hơn.

    “Với cửa hàng tại văn phòng, sự kiện tại trung tâm mua sắm và khách sạn trong gia đình, rõ ràng rằng nền kinh tế chia sẻ đang xóa nhòa ranh giới với các phân khúc BĐS. Một nhiệm vụ quan trọng đối với các nhóm vận động hành lang trong lĩnh vực BĐS là cập nhật các mô hình BĐS mới với các cơ quan quy hoạch (thường thiếu nhanh nhạy hơn thị trường), nếu không thì thị trường BĐS sẽ không thể tận dụng triệt để được những lợi ích của mô hình kinh tế chia sẻ này” – ông Simon Smith nói.

    Theo đánh giá của các chuyên gia, hoạt động kinh doanh BĐS với sự đề cao tính truyền thống và tương tác cá nhân giữa người bán với người mua, tưởng chừng sẽ khó có thể bị tác động bởi “kinh tế chia sẻ”. Nhưng trên thực tế, nó lại được cập nhật một cách thường xuyên và liên tục, đang bị ảnh hưởng tương đối lớn và ngày càng bao trùm toàn thị trường.

    Theo chuyên gia nghiên cứu thị trường (Hiệp hội BĐS Việt Nam) Vũ Tuấn Trường, việc khách hàng chủ yếu tiếp cận thông tin qua internet, khiến cho việc chào bán sản phẩm BĐS không chỉ là “độc quyền” của riêng cá nhân, hay sàn giao dịch nào, mà là cả cộng đồng trên thị trường. Trong đó, người bán cũng có thể đồng thời là người mua và ngược lại, người mua đồng thời cũng là người bán.

    “Kinh tế chia sẻ mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia, khách hàng có thể tiếp cận được nguồn hàng lớn, thông tin về nguồn hàng, thông tin về chủ đầu tư, đơn vị phân phối, tìm hiểu năng lực của chủ đầu tư, tính pháp lý của sản phẩm… thậm chí khách hàng còn có thể trở thành người môi giới trên chính sản phẩm của mình” – ông Trường cho hay.

    Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, để đảm bảo sự công bằng cho cho các bên tham gia và hoạt động “kinh tế chia sẻ” thì cần phải thiết lập một khuôn khổ pháp lý cho mô hình kinh tế chia sẻ, phù hợp với sự phát triển của thị trường đồng thời giúp cơ quan chức năng dễ dàng trong việc quản lý, tránh thất thoát nguồn thu ngân sách Nhà nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Về Cây Cao Su, Bài Văn Mẫu Về Cây Cao Su Ở Quê Em Đồng Nai, Bình Phước
  • Thuyết Minh Về Cây Cao Su Đầy Đủ Và Chi Tiết Nhất
  • Những Lợi Ích Tuyệt Vời Từ Cây Cao Su
  • Chương 2:xác Định Hoạt Động Kinh Tế
  • Kinh Tế Học (P21: Thị Trường Cạnh Tranh Hoàn Hảo)
  • Phát Triển Kinh Tế Chia Sẻ: Lợi Ích Nhiều Mặt

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Kinh Tế Phải Từ Lợi Ích Của Người Dân
  • Luận Văn Tiểu Luận Lợi Ích Của Việc Thu Hút Fdi Với Sự Phát Triển Kinh Tế Ở Việt Nam Và Giải Pháp Nhằm Cải Thiện Môi Trường Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Để Vừa Thu Hút Được Vốn Nước Ngoài Vừa Bảo Hộ Được Các Nhà Đầu Tư Trong Nước Và Đảm Bảo Vốn Cạnh Tranh
  • Luận Văn Đề Án Phân Tích Cơ Cấu Kinh Tế Nhiều Thành Phần Ở Nước Ta Hiện Nay Và Ích Lợi Của Việc Sử Dụng Cơ Cấu Nhiều Thành Phần Đó Vào Phát Triển Kinh Tế
  • Luận Văn Đề Tài Phân Tích Cơ Cấu Kinh Tế Nhiều Thành Phần Ở Nước Ta Mà Đại Hội Đảng Ix Đã Nêu Và Lợi Ích Của Việc Sử Dụng Nó Vào Việc Phát Triển Kinh Tế
  • Quan Hệ Lợi Ích Kinh Tế Giữa Hộ Nông Dân Và Doanh Nghiệp Ngành Cà Phê Ở Huyện Cư M’gar, Tỉnh Đăk Lăk
  • (HNM) – Mô hình kinh tế chia sẻ được hiểu là mô hình ứng dụng công nghệ thông tin để tận dụng các nguồn lực nhàn rỗi, mang lại lợi ích nhiều mặt cho xã hội cũng như việc khởi nghiệp. Vì vậy, mô hình này ngày càng được người dân đón nhận và sử dụng rộng rãi. Để phù hợp với sự phát triển mới, ngày 12-8-2019, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 999/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ. Tạo việc làm, thu nhập ổn định

    Mô hình kinh tế chia sẻ vào Việt Nam từ năm 2022, khi cơ quan quản lý nhà nước cho phép thí điểm mô hình Uber – ứng dụng gọi xe công nghệ tại 5 thành phố lớn. Tiếp đó, lần lượt là Grab, Go-Việt, Bee, FastGo xuất hiện đã cung cấp các dịch vụ taxi, “xe ôm” công nghệ, giao đồ ăn… Việc này không chỉ tạo sự tiện lợi, mà còn mang đến việc làm, thu nhập và góp phần làm thay đổi thói quen tiêu dùng, sinh hoạt của người dân.

    Chia sẻ với phóng viên Báo Hànộimới trong lúc chờ “cuốc xe” mới trưa 4-9, anh Nguyễn Văn Đức – một tài xế xe công nghệ Grab – nhà ở phố Đê La Thành (quận Đống Đa) cho biết đã làm nhiều nghề tự do, nhưng sau khi nhập đội ngũ “xe ôm” công nghệ Grab thì thu nhập khá ổn định. “Hiện nay, nhu cầu người dân đặt mua đồ ăn nhanh rất lớn, nên tôi đăng ký vừa giao đồ ăn nhanh, vừa giao hàng. Thu nhập cũng khá, có tháng lên tới 18 triệu đồng…”, anh Đức chia sẻ.

    Còn chị Cao Diệu Anh (có tài khoản Facebook Cao Dieu Anh) chuyên bán món chè khoai dẻo Minmax ở ngõ 164 phố Hồng Mai (quận Hai Bà Trưng) cho hay: “Trước đây, khi khách hàng đặt online (trực tuyến), tôi phải tập hợp đơn hàng rồi thuê người giao cho khách. Tuy nhiên, sau khi các hãng xe công nghệ đẩy mạnh dịch vụ giao hàng, giao đồ ăn, nên tôi đã ký hợp đồng với Grab cung cấp loại đồ ăn này. Nhờ vậy, việc kinh doanh cũng thuận tiện và hiệu quả hơn”.

    Kinh tế chia sẻ cũng đang tạo ra nhiều cơ hội cho các cá nhân khởi nghiệp. Điển hình như trường hợp của Giám đốc điều hành dự án khởi nghiệp Net Loading – ứng dụng gọi xe chiều về (Ban Quản lý Vườn ươm công nghệ đổi mới sáng tạo Hà Nội, 185 Giảng Võ) Lê Đình Giáp. Sau khi tốt nghiệp đại học, anh Giáp đã cùng các cộng sự nghiên cứu viết ứng dụng Net Loading với mục đích giúp tối ưu chi phí vận chuyển, giảm phương tiện tham gia giao thông… “Đến hết tháng 8-2019, lượng chủ xe đăng ký dùng Net Loading tăng gấp 2 lần so với hồi tháng 1-2019, từ 5.000 xe lên 10.000 xe. Doanh thu tăng hơn 3 lần, từ 180 triệu đồng/tháng lên 600 triệu đồng/tháng. Chúng tôi được hưởng lợi nhuận khoảng 15%/tháng…”, anh Lê Đình Giáp khẳng định.

    Không chỉ có ứng dụng gọi xe, kinh tế chia sẻ còn xuất hiện ở hàng loạt lĩnh vực khác, trong đó phải kể đến dịch vụ lưu trú mà điển hình là chia sẻ phòng ở (thương hiệu Airbnb), cho vay ngang hàng (chủ yếu là các doanh nghiệp công nghệ tài chính – fintech), bán lẻ, lao động việc làm… Tương tự như gọi xe công nghệ, các ứng dụng này chủ yếu do các nhà cung cấp nền tảng công nghệ nước ngoài hoạt động theo hình thức xuyên biên giới vào Việt Nam…

    Tạo thuận lợi cho kinh tế chia sẻ phát triển

    Trở lại với các mô hình kinh tế chia sẻ, mà trong đó tiêu biểu là Grab. So với ban đầu chỉ là ứng dụng kết nối di chuyển, nay Grab đã có những bước đi rất xa dựa trên sự phát triển của công nghệ. Grab không chỉ làm ứng dụng gọi xe, mà còn giao nhận đồ ăn, thanh toán điện tử – trung gian thanh toán… Một số ứng dụng khác như Zalo, dù ban đầu là OTT (ứng dụng miễn phí trên mạng), nhưng đã tích hợp vừa hoạt động, vừa như một mạng xã hội, đồng thời cung cấp các ứng dụng thương mại điện tử, chính phủ điện tử, dịch vụ tin tức…

    Để đáp ứng sự phát triển của các mô hình kể trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ. Trong đó nhấn mạnh việc thực hiện thí điểm cơ chế thử nghiệm chính sách mới (sandbox) cho việc triển khai ứng dụng mô hình kinh tế chia sẻ.

    Ông Nguyễn Hòa Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty NextTech (doanh nghiệp cung cấp nền tảng thương mại điện tử) cho biết, đề án này là một bước ngoặt đầu tiên đánh dấu sự nhìn nhận chính thức rằng, kinh tế chia sẻ là một mô hình kinh doanh hợp pháp. Đây không chỉ là sự động viên, mà còn là cơ sở pháp lý cho hoạt động của các doanh nghiệp kinh tế chia sẻ tại Việt Nam.

    Vậy, nên áp dụng cơ chế thử nghiệm sandbox với những lĩnh vực nào? Trả lời câu hỏi này, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng cho biết, ở các lĩnh vực có tiềm năng rủi ro cao (tài chính – ngân hàng) cần xây dựng khung thể chế thí điểm sandbox để các doanh nghiệp hoạt động thử nghiệm, từng bước hoàn thiện công nghệ và áp dụng các yêu cầu quản lý. Ví dụ, với ví điện tử, có thể cho phép nạp tiền mặt trong giới hạn cho phép, được chi tiêu trong một thời gian nhất định và có thể cấm sử dụng vào một số mục đích, cấm trả tiền cho một số đối tượng cụ thể… Tương tự, có thể cho phép doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho vay ngang hàng với một số đối tượng hạn chế, quy mô tín dụng hạn chế nhưng được pháp luật công nhận và bảo vệ quyền, nghĩa vụ các bên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Tính Tất Yếu Khách Quan Và Lợi Ích Của Sự Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam
  • Tại Sao Kinh Tế Nhà Nước Giữ Vai Trò Chủ Đạo
  • Các Cơ Cấu Lợi Ích Kinh Tế Trong Các Thành Phần Kinh Tế Ở Nước Ta
  • Vài Suy Nghĩ Về Vai Trò Của Kinh Tế Nhà Nước
  • Giá Trị Và Lợi Ích Của Kiểm Toán Nhà Nước
  • Lợi Ích Của Nền Kinh Tế Tuần Hoàn

    --- Bài mới hơn ---

  • Mô Hình Kinh Tế Tuần Hoàn Đem Lại Lợi Ích Gì?
  • Báo Cáo Thời Sự Định Kì Tháng 12/2019: Kinh Tế Tuần Hoàn
  • Nhiều Lợi Ích Cho Doanh Nghiệp Từ Mô Hình Kinh Tế Tuần Hoàn
  • Cơ Hội Và Thách Thức Cho Phát Triển Kinh Tế Tuần Hoàn Ở Việt Nam
  • Việt Nam Nỗ Lực Xây Dựng Và Phát Triển Nền Kinh Tế Tuần Hoàn
  • I. KHÁI QUÁT CHUNG

    Các vấn đề môi trường chủ yếu là vấn đề kinh tế. Dù rằng đây có thể là một cách nói cường điệu nhưng thường khó mà tách rời kinh tế ra khỏi các vấn đề hay các mối bận tâm về môi trường. Về cơ bản, kinh tế nói đến sự phân phối tài nguyên. Nó mô tả cái cách mà chúng ta đánh giá hàng hóa và dịch vụ. Chúng ta sẵn sàng trả tiền cho một thứ hay một dịch vụ mà chúng ta đánh giá cao và chúng ta không muốn trả tiền cho một thứ mà chúng ta nghĩ là đang có đầy rẫy. Chẳng hạn chúng ta sẵn sàng trả tiền cho một nơi ấm áp, an toàn để sống nhưng chúng ta thấy khó chịu khi có ai đề nghị chúng ta trả tiền cho không khí chúng ta đang thở.

    Về mặt xã hội, mục tiêu của chúng ta là tìm kiếm một sự tăng trưởng kinh tế lâu dài để tạo ra việc làm đồng thời vẫn duy trì và cải thiện môi trường sống. Để đạt mục tiêu ấy có một chiến lược môi trường để sửa chữa những tổn hại cho môi trường trong quá khứ, giúp cho chúng ta chuyển đổi từ sự xử lý chất thải sang việc phòng ngừa ô nhiễm và sử dụng các tài nguyên đang có một cách hữu hiệu hơn.

    Một món hàng hay dịch vụ có thể được định nghĩa là một thứ gì khan hiếm. Mỗi khi mức cầu đối với một vật gì vượt quá mức cung thì có sự khan hiếm, và chúng ta đang sống trong một thế giới khan hiếm chung. Tài nguyên là thứ góp phần vào việc làm cho người tiêu dung có được lượng hang hóa và dịch vụ mà họ mong muốn. Cung là lượng hang hóa hay dịch vụ có thể mua bán được. Cầu là lượng sản phẩm mà người tiêu dùng muốn có và có thể mua được với những giá cả khác nhau. Trong kinh tế, cung tùy thuộc vào:

    * Nguyên liệu có sẵn để làm ra hàng hóa hay dịch vụ bằng sự sử dụng công nghệ hiện đại.

    * Khối lượng các nguyên liệu sử dụng được.

    * Chi phí để lấy, vận chuyển và chế biến nguyên liệu thô.

    * Mức độ cạnh tranh thứ nguyên liệu ấy giữa các người sử dụng.

    * Tính khả thi và chi phí của việc tái chế nguyên liệu đã dung rồi.

    * Các cơ cấu và định chế xã hội có thể có một ảnh hưởng (xem hình 1).

    Tương quan giữa mức cung cầu của một hàng hóa hay dịch vụ và giá cả của nó được gọi là khúc tuyến cung/cầu (xem hình 1). Giá của một sản phẩm hay dịch vụ phản ánh cường độ của nhu cầu đối với một hàng hóa và sự sẵn sàng có của hàng hóa ấy, khi cầu vượt quá cung thì giá cả tang them, sự tăng khiến con người ta tìm thứ hàng hóa khác thay thế hoặc quyết định không dung hàng hóa hay dịch vụ ấy nữa, điều này làm cho mức cầu giảm xuống.

    Khi sự cung cấp một món hàng vượt quá mức cầu, người sản xuất phải hạ giá xuống để bán cho hết sản phẩm và cuối cùng một số nhà sản xuất phải bỏ nghề. Mỉa mai là điều này xảy ra cho các nông dân khi họ được mùa liên tiếp nhiều năm. Sản lượng nhiều nên giá hạ khiến một số nông dân bỏ nghề.

    3. Các công cụ dựa vào thị trường:

    Với sự quan tâm ngày một nhiều hơn đến việc bảo vệ môi trường trong ba thập kỷ vừa qua, những người đề ra chính sách đang xem xét những phương pháp mới để làm giảm hư hại cho môi trường. Một lĩnh vực được chú ý ngày một nhiều là các công cụ dựa vào thị trường (MBI: Market Based Insiruments). MBI là một biện pháp thay thế cho cơ chế ra lệnh và giám sát,vì nó dung sức mạnh kinh tế và sự khôn khéo của nhà kinh doanh để đạt tới một mức bảo vệ môi trường cao với một chi phí thấp. Thay vì bắt các xí nghiệp phải hoạt động như thế nào, MBI động viên bằng cách gây tốn kém cho các hoạt động gây ô nhiễm… Chính sách này cho phép các xí nghiệp tự mình quyết định cách tốt nhất để đạt được mức độ bảo vệ môi trường cần thiết. Ngày nay hầu hết các chính sách dựa vào thị trường này đã được đưa vào áp dụng ở các quốc gia phát triển và một số quốc gia đang phát triển nhanh gần như trong tất cả mọi trường hợp, các chính sách ấy đã được đưa vào dạng hỗ trợ chứ không phải thay thế cho cái quy định từ xưa của nhà nước.

    Áp dụng chính sách dựa vào thị trường không phải là ở bất cứ các quốc gia nào. Để thành công, các quốc gia cần có một hệ thống thị trường năng động các điều kiện kinh tế vĩ mô vững vàng, sự ổn định về chính trị và định chế và sự phát triển nhân quyền đầy đủ.

    Ở các quốc gia đang phát triển, với những mảng lớn còn bỏ ngỏ thì các chính sách khác – nâng cao công suát, cải cách đường lối toàn bộ đầu tư vào y tế giáo dục, sự tham gia của cộng đồng – lúc đầu có thể hiệu quả hơn là cơ chế dựa vào thị trường.

    Tuy nhiên chính sách dựa vào thị trường có thể cho ta nhiều khả năng đáng kể để đạt được mục tiêu về môi trường một cách hiệu quả hơn và gây ít tốn kém hơn cho nhà nước và doanh nghiệp – chính sách này cũng giúp cho nhà nước có cơ hội làm chủ được đà tăng trưởng kinh tế đồng thời dẫn dắt nó đến một địa vị vững bền hơn.

    Công cụ dựa vào thị trường nhìn nhận sự kiện là các tài nguyên của môi trường thường bị đánh giá thấp. Thứ nhất các khoản trợ cấp (về điện, nước, nhiên liệu hóa thạch, vận tải đường bộ, nông nghiệp) lạm sự khuyến khích người ta lạm dụng các tài nguyên: giảm hoặc bỏ các trợ cấp là khieensn gười ta sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả hơn. Thứ hai, giá cả thị trường chỉ phản ánh các chi phí cá biệt thôi, không phản ánh các thiệt hại ngoại ứng do ô nhiễm và khai thác các tài nguyên gây ra, thay vì những chỉ thị cứng nhắc, từ trên truyền xuống, chính sách công cụ dựa vào thị trường, sử dụng các báo hiệu của giá cả và đểcho nhà doanh nghiệp tự do lựa chọn giải pháp hiệu quả nhất về mặt kinh tế cho họ.

    Các MBI có thể được xếp thành năm nhóm cơ bản:

    a) Các chương trình thông tin:

    Các chương trình này dựa vào sự chọn lựa của người tiêu thụ để làm giảm các phiền phức về môi trường thông tin về hậu quả trên môi trường hay về các rủi ro của sự chọn lựa sẽ khiến cho người tiêu dung thấy rằng tốt hơn là nên thay đổi quyết định của mình. Các vị dụ gồm kết quả xét nghiệm carbon hoặc chì, hoặc sự dán nhãn trên thuốc trừ sâu. Một loại chương trình khác như bản kiểm kê về phóng thích chất độc ở Hoa Kỳ, tiết lộ thông tin về sự phóng thích các chất gây ô nhiễm vào môi trường. Điều này kích thích các công ty cải thiện thành tích môi trường của mình để làm đẹp hình ảnh của mình đối với công chúng.

    Chi phí phải chịu trong lĩnh vực tư nhân hoặc nhà nước để ngăn ngừa, toàn bộ hay một phần sự ô nhiễm có thể xảy ra từ một hoạt động sản xuất hay tiêu thụ nào đó. Chi phí mà chính quyền địa phương phải chịu để xử lý nước cống của mình trước khi cho đổ vào sông là một chi phí phòng ngừa ô nhiễm, đó cũng là chi phí phải chịu để xử lý nước cống của mình trước khi cho đổ vào sông là một chi phí phòng ngừa ô nhiễm không khí khi lắp đặt một thiết bị mới.

    Chi phí do ô nhiễm: có thể được phân ra làm hai loại:

    – Sự tiêu tốn của cá nhân hay tập thể để tránh sự thiệt hại ô nhiễm một khi sự ô nhiễm đã xảy ra.

    – Sự gia tang chi phí y tế và sự không sử dụng được tài nguyên của cộng đồng do sự ô nhiễm.

    Sự tốn kém lớn để chọn ra các vụ tràn dầu, như vụ tràn dầu của tàu Exxon Valdez và do cuộc chiến vùng Vịnh, là một ví dụ về chi phí do ô nhiễm, cũng giống như nguy hiểm gia tang đối với sức khoẻ con người do ăn các hải sản bị nhiễm dầu. Vào giữa những năm 1990, nhiều giải pháp mới về kinh tế đã được áp dụng để vừa nội bộ hóa các chi phí ngoại ứng vừa phòng ngừa ô nhiễm.

    c) Rắc rối của tài nguyên sở hữu chung

    Các nhà kinh tế đã nói rằng khi mọi người cùng làm chủ một tài nguyên thì sẽ có khuynh hướng khai thác quá mức và lạm dụng tài nguyên ấy. Như vậy sự làm chủ của nhiều người nên được gọi là sự vô chủ.

    Chẳng hạn sự làm chủ chung không khí khiến cho các xí nghiệp hoặc tư nhân không phải tốn tiền gì khi họ hủy chất thải bằng cách đem đốt đi. Chi phí ô nhiễm không khí không được thể hiện trong kinh tế của người gây ô nhiễm nhưng trở thành một chi phí ngoại ứng cho xã hội. Sự sở hữu chung biển cả khiến cho nhiều thành phố không phải tốn kém gì để dùng đại dương làm nơi đổ rác của họ.

    d) Tương tự, không có riêng cái quyền săn bắt cá voi. Quốc gia nào chậm trễ trong việc chiếm lấy phần mình thì sẽ bị quốc gia khác giành mất. Vì thế người ta đua nhau săn bắt cá voi quá mức, gây ra mối đe dọa cho sự sống sót của giống loài này. Điều gì diễn ra cho giống cá voi trong khuôn khổ quốc tế thì cũng diễn ra cho các giống loài khác trong phạm vi một quốc gia. Nên chú ý rằng các giống loài bị đe dọa là những thú hoang không được thuần hóa; sự sống sót của các đàn thú thuộc sở hữu tư nhân thì không phải là điều đáng lo.

    e) Sau hết, sự sở hữu chung các tài nguyên trên đất như công viên và đường phố là nguyên nhân của nhiều phiền phức khác về môi trường. Những người xả rác nơi công viên thì lại thường không đổ rác trên miếng đất của mình. Sự thiếu chủ quyền rõ rệt đối với những tài nguyên thuộc sở hữu chung này giải thích khá nhiều cho điều mà kinh tế gia John Kenneth Galbraith gọi là “sự bẩn thỉu công cộng giữa sự sung túc tư nhân”.

    II. HOẠT ĐỘNG KINH TẾ VÀ THẾ GIỚI VẬT LÝ SINH HỌC

    Theo hầu hết các nhà khoa học tự nhiên, những khủng hoảng hiện nay như mất đi sự đa dạng sinh học, sự thay đổi khí hậu và nhiều vấn đề về môi trường khác là những triệu chứng của một sự mất cân bằng giữa hệ thống kinh tế xã hội và thế giới tự nhiên.

    Một trong những hậu quả nghiêm trọng nhất của tác động ngày một nhiều của con người trên thiên nhiên là sự mất đi sự dạng sinh học. Sự đa dạng sinh học được cho là có ảnh hưởng trên sự ổn định của các hệ sinh thái và trên khả năng đối phó với các khủng hoảng. Trong lịch sử 570 triệu năm của phức hệ sống trên trái đất đã từng có nhiều sự cố tuyệt chủng quan trọng. Sự mất đi sự đa dang jsinh học sau những thời kỳ tuyệt chủng lớn được tính là từ 20 đến hơn 90%. Sự mất đi sự đa dạng sinh học do hoạt động của con người gây ra chỉ tính từ khi có cuộc Cách mạng công nghiệp là khoảng từ 10 đến 20%. Nếu các xu hướng hiện nay cứ tiếp tục thì sự mất mát ấy có thể lên đến 50% vào cuối thế kỷ 21. Cứ sau mỗi sự cố tuyệt chủng, phải mất từ 20 triệu đến 100 triệu năm thì sự đa dạng sinh thái mới lấy lại tầm mức trước đó, tức là một khoảng thời gian từ 100 đến 500 lần dài hơn lịch sử 200.000 năm của Homo sapiens.

    Nguyên nhân quan trọng duy nhất của sự mất đa dạng sinh thái là sự phá hủy nơi cư ngụ, tức là sự phá đi mảng sinh vật, các hoạt động hỗ trợ cho sự sống của từng chủng loại. Sự nhìn nhận rằng mỗi chủng loại được hỗ trợ với các chủng loại khác bên trong hệ sinh thái là điều xa lạ đối với cái cách mà giới kinh doanh nhìn thế giới.

    Ví dụ về sự đa dạng sinh học minh họa cho cơ cấu đầy mâu thuẫn của kinh tế học và sinh thái học. Các quyết định của thị trường không tính đến khung cảnh sống của một giống loài hoặc những tương liên giữa chất lượng của tài nguyên và các chức năng của hệ sinh thái. Chẳng hạn giá trị của đất đai dùng để nuôi bò lấy thịt được tính theo đầu ra mà miếng đất đem lại. Thế nhưng một thời gian dài trước khi đầu ra và giá trị sử dụng của miếng đất suy giảm thì sự đa dạng của các loại rau cỏ, các vi sinh trong đất hay chất lượng mạch nước ngầm có thể đã bị ảnh hưởng bởi sự nuôi bò lấy thịt cao độ này. Bao lâu mà lợi tức còn được duy trì, thì những thay đổi này không được thị trường để tâm đến và chẳng quan trọng gì đối với quyết định sử dụng đất. Nên nói rõ rằng ở Zimbabwe và các quốc gia Phi châu khác một số chủ trại chăn nuôi ngày nay đã kiếm tiền bằng cách nuôi những loại thú hoang bản địa để phục vụ cho du lịch sinh thái và họ thu lợi nhiều hơn là nuôi bò lấy thịt.

    Không gian và địa điểm là một vấn đề khác nữa. Đối với các hệ sinh thái, địa điểm vô cùng quan trọng. Lấy mạch nước ngầm làm ví dụ. Chất lượng đất, các điều kiện thủy địa lý, lượng mưa trong vùng, các loại cây sống trong vùng và mất mát do sự bốc hơi, sự thoát hơi nước của cây cối, và dòng chảy của mạc nước ngầm, tất cả góp phần tạo nên tầm cỡ và vị trí của nguồn dự trù nước ngầm. Các đặc điểm này không thể đơn giản mang từ nơi này sang nơi khác. Đối với các hoạt động kinh tế, địa điểm càng ngày càng ít quan trọng.

    Một khác biệt nữa giữa kinh tế và sinh thái là chúng được đo lường bằng những đơn vị khác nhau. Đơn vị đo lường thống nhất của kinh tế thị trường là tiền. Sự tiến bộ được đo bằng đơn vị tiền tệ mà mọi người đều sử dụng và hiểu rõ ít nhiều. Các hệ vật lý sinh học được đo bằng các đơn vị vật lý như calori năng lượng, sự hấp thụ dioxit carbon; centimet lượng mưa và phần triệu nhiễm độc nitrat. Nếu chỉ chú trọng đến giá trị kinh tế của tài nguyên mà không biết đến sự lành mạnh vật lý sinh học thì có thể che lấp những thay đổi quan trọng trong chất lượng hoặc chức năng của môi trường.

    III. KINH TẾ MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN

    Như đã nói trước đây, “vốn liếng thiên nhiên” của quả đất, mà loài người lệ thuộc vào đây đẻ có thức ăn, sự an toàn, dược phẩm cùng nhiều sản phẩm công nghiệp khác, chính là sự đa dạng sinh học của nó. Phần lớn sự đa dạng này là ở tại các quốc gia đang phát triển, nhiều quốc gia túng thiếu về mặt kinh tế buộc phải vay tiền trong ngân hàng của các quốc gia phát triển.

    Vì món nợ của nước ngoài quá nhiều nên nhiều quốc gia đang phát triển không còn có chọn lựa nào khác hơn là khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng mình. Vào năm 2001 số nợ cua các quốc gia đang phát triển đã vượt quá 1.900 tỉ đô la Mỹ, một con số bằng một nửa tổng sản lượng quốc gia đang phát triển phải đàu tư vào các dự án có tiền lãi an toàn và ngắn hạn cùng các chương trình thực sự cần thiết cho sự sống còn trước mắt. Các tác động trên môi trường thường bj xem nhẹ, người ta nghĩ rằng các nước đang mắc nợ trầm trọng không thể chú ý đến các chi phí cho môi trường một khi họ chưa giải quyết được các khó khăn về môi trường có thể “sửa chữa” một khi đất nước đã đạt tới một mức thu nhập cao hơn, nhưng nó không biết là mọi người ngày càng nhận thấy rằng các tác động trên môi trường thường gây ra những vấn đề quốc tế. Nhiều quốc gia dưới sức ép của sự khủng hoảng nợ nần bị buộc phải khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên của mình thay vì xử lý chúng một cách bền vững.

    Một phương pháp mới để giúp giải quyết các khủng hoảng nợ của một quốc gia được gọi là sự “đổi nợ lấy thiên nhiên”. Đổi nợ lấy thiên nhiên là một cơ chế mới để giải quyết vấn đề nợ nần trong khi đó lại khuyến khích đầu tư vào việc bảo tồn và phát triển bền vững. Sự đổi chác này cho phép người ta mua nợ với sự giảm giá nhưng nợ này được chuộc lại với giá cao hơn bằng tiền địa phương, để sử dụng vào các dự án bảo tồn và phát triển bền vững. Cơ chế đổi nợ lấy thiên nhiên ra đời năm 1987, khi một tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức Bảo Tồn Quốc tế, mua 650.000 đô la tiền nợ ngoại tệ của Bolivia để đổi lấy lời hứa của Bolivia là xây dựng một công viên quốc gia. Đến năm 2000, có ít nhất 16 quốc gia mắc nợ – tại vùng biển Caribe, Châu Phi, Đông Âu và châu Mỹ La Tinh – đã giải quyết tương tự với các tổ chức có thẩm quyền và phi chính phủ. Năm 2000, gần 135 triệu đô la tiền nợ trên khắp thế giới đã được mua với giá khoảng 28 triệu đô la nhưng được chuộc lại với giá tương đương 72 triệu đô la. Tiền này được dùng để lập các khu bảo tồn sinh quyển, các công viên quốc gia triển khai chương trình bảo vệ vùng thủy phân, lập bảng kiểm kê các giống loài đang lâm nguy và thực hiện việc giáo dục môi trường.

    Trong sự đổi nợ lấy thiên nhiên, các nước con nợ được lời do sự giảm mức nợ thiếu bằng ngoại tệ để tăng thêm sự chi tiêu đầu tư trong nước họ. Người đầu tư vào việc bảo tồn nhận được khoản tiền trả thêm trên khoản đầu tư. Tiền này có thể được dùng để lập khu bảo tồn và lập ra các chương trình phát triển bền vững. Các ngân hàng cho vay có lợi vì chuyển đổi được khoản nợ không trả của mình. Dù rằng họ chỉ nhận được một phần khoản tiền cho vay nhưng thu về một ít còn hơn là mất trọn.

    Thái độ của các ngân hàng ở các quốc gia công nghiệp hóa dường như cũng đang thay đổi. Chẳng hạn việc Ngân hàng thế giới cấp tiền vay cho những dự án phát triển của Thế giới Thứ ba từ lâu đã bị chỉ trích bởi các nhóm hoạt động môi trường là đã hỗ trợ cho những chương trình lớn không có lợi cho sinh thái, như dự án nuôi gia súc ở Botswana đã dẫn đến sự chăn thả quá mức. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây Ngân hàng Thế giới đã đưa yếu tố môi trường vào trong các dự án.

    * Phương pháp khoa học

    Khoa học là một quá trình được sử dụng để giải quyết các khó khăn hoặc đạt tới một kiến thức về thiên nhiên mà những câu trả lời cần được kiểm chứng. Khoa học không giống các lĩnh vực nghiên cứu khác bởi cái cách thức đạt được kiến thức chứ không phải bởi những gì được nghiên cứu. Quá trình này được gọi là phương pháp khoa học.

    Phương pháp khoa học là một cách để có được thông tin (sự thật) về thế giới qua việc đề ra những giải đáp cho các câu hỏi và tiếp theo là một sự kiểm nghiệm gắt gao để xác định xem các giải đáp đưa ra có giá trị hay không. Hơn thế nữa khi sử dụng phương pháp khoa học thì các khoa học gia có nhiều giả định cơ bản. Họ giả định rằng:

    Phương pháp khoa học cần đến một sự tìm kiếm thông tin có hệ thống, một sự kiểm tra liên tục để xem các ý tưởng trước đay có còn mâu thuẫn bởi các thông tin mới có hay không. Nếu một bằng chứng mới không có mâu thuẫn thì nhà khoa học phải gạt bỏ hoặc thay đổi các ý tưởng ban đầu của mình. Các ý tưởng khoa học luôn luôn được tái thẩm định, phê phán và điều chỉnh. Phương pháp khoa học bao gồm nhiều công đoạn quan trọng có thể định rõ, như sự quan sát kỹ càng, đặt câu hỏi về những sự kiện quan sát được, xây dựng và kiểm nghiệm các giả thuyết sẵn sàng tiếp nhận các thông tin, các ý tưởng mới và sẵn sàng để cho người khác rà soát đánh giá các ý tưởng của mình. Nền tảng của tất cả các hoạt động này là sự không ngừng chú ý đế sự chính xác và không có thiên kiến.

    Tuy nhiên, phương pháp khoa học không phải là một chuỗi thẳng đuột những bước phải đi theo một trật tự nào đó.

    Hình 2: cho ta thấy là các bước này có thể nối kết với nhau như thế nào.

    VI.KINH TẾ TUẦN HOÀN

    Kinh tế tuần hoàn đã gặt hái kết quả tích cực ở nhiều quốc gia. Đây là một chương trình rất mới được sự quan tâm của nhiều nước, nhất là các nước tiên tiến.

    Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) định nghĩa khái quát: Kinh tế tuần hoàn là nơi giá trị của sản phẩm, nguyên vật liệu và tài nguyên được duy trì trong nền kinh tế lâu nhất có thể và đồng thời giảm tối đa chất thải. Mô hình kinh tế tuần hoàn đầy đủ gồm 5 khâu: Thiết kế, sản xuất, tiêu dùng, quản lý chất thải và từ chất thải trở thành tài nguyên. Trong khi đó, Ủy ban châu Âu (EC) định nghĩa: Một nền kinh tế tuần hoàn bảo tồn giá trị gia tăng trong các sản phẩm càng lâu càng tốt và hầu như loại bỏ chất thải.

    Dù cách định nghĩa khác nhau, nhưng kinh tế tuần hoàn luôn hướng tới mục tiêu cuối cùng là hạn chế hoặc loại bỏ chất thải; tái sử dụng, tái chế và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường.

    Đối với Việt Nam, mô hình kinh tế tuần hoàn có thể khắc phục được những hạn chế vốn có của mô hình kinh tế truyền thống, như khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và gây ảnh hưởng xấu đến sinh thái, môi trường. Đến nay, đã có một số mô hình kinh tế tuần hoàn đang được triển khai, như: Mô hình khu công nghiệp sinh thái tại Hải Phòng, Ninh Bình, Đà Nẵng, Cần Thơ; sáng kiến không rác thải ra thiên nhiên do Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam khởi xướng; hay như Liên minh tái chế bao bì Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 tất cả bao bì của 9 công ty thực phẩm, nước giải khát đưa ra tiêu thụ trên thị trường sẽ được thu gom, tái chế.

    Chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn có tác động tích cực tới việc phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Ví dụ, ở Thụy Điển, ước tính lượng chất thải sinh hoạt được tái chế đạt 99%. Nhiều chất thải được tái chế và sử dụng cho các mục đích khác như khí sinh học và năng lượng.

    Ngoài học hỏi các nước đi trước, Đảng, Nhà nước ta đã xác định rõ chủ trương, ban hành nhiều chính sách nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững; ứng phó với biến đổi khí hậu; tăng cường tái chế, tái sử dụng. Nhiều yếu tố nền tảng trong khung khổ thể chế phát triển kinh tế tuần hoàn đã bước đầu được hình thành. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ cũng tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tuần hoàn…

    Tuy nhiên, các yếu tố của kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam vẫn tương đối rời rạc; chưa có chính sách, văn bản pháp luật quy định đầy đủ, hệ thống. Cần lưu ý rằng, tính hệ thống của kinh tế tuần hoàn chính là điểm khác biệt, chứ không chỉ giới hạn ở quản lý chất thải và tận dụng chất thải. Mặt khác, các quy định mới dừng lại ở cấp chính sách, chưa cụ thể hóa thành các kế hoạch hành động. Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam phần lớn có quy mô nhỏ và vừa, rất hạn chế về năng lực công nghệ tái chế, tái sử dụng. Sự lo ngại về chi phí là một thực tế, khiến người dân và doanh nghiệp còn chậm chuyển đổi cách sản xuất và tiêu dùng.

    Phát triển kinh tế tuần hoàn là xu thế phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh hậu Covid-19. Việt Nam không thể nằm ngoài xu thế tất yếu này. Dù hệ thống pháp lý còn cần bổ sung, hoàn thiện, nhưng những chuyển động từ phía doanh nghiệp và nhận thức của một bộ phận người dân đang có những chuyển biến tích cực.

    Cũng cần nói thêm, Việt Nam đang có bước chuyển đổi, hướng đến phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế tuần hoàn. Cụ thể như: Chiến lược phát triển bền vững giai đoạn 2010-2020; Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; Nghị quyết số 41/NQ-TƯ ngày 15-11-2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…

    Hiện nay ở nước ta, trình độ dân trí còn thấp, công nghệ ứng dụng vào sản xuất chưa cao như kỹ thuật xử lý nước thải, rác thải gây nên mùi hôi thối nên không được sự đồng tình của nhân dân dân các địa phương. Riêng Hà Nội, mỗi năm có mấy lần nhân dân ngăn không cho xe chở rác vào bãi, làm cho Hà Nội ngập trong rác. Các doanh nghiệp sản xuất chưa đảm bảo an toàn vệ sinh gây nên khiếu kiện liên miên.

    Với tư duy ngày càng mở với các mô hình kinh tế mới, kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam có đủ điều kiện để sớm phát triển. Bản thân những chuyển động từ phía doanh nghiệp đối với kinh tế tuần hoàn đã được ghi nhận. Nếu kịp thời thể chế hóa bằng khung chính sách phù hợp, kinh tế tuần hoàn sẽ thu hút được sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư. Đáp ứng yêu cầu đó, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương đang chủ trì nghiên cứu để hệ thống hóa một số chính sách và lộ trình phát triển kinh tế tuần hoàn của Việt Nam và sẽ sớm có thông tin trong thời gian tới.

    Hy vọng rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của của Đảng và Nhà nước, sự tích cực hưởng ứng của các Bộ, Ban, ngành và các doanh nghiệp, sự hướng dẫn của các chuyên gia môi trường với sự tăng cường giới thiệu các ưu điểm của phương án sản xuất, các điển hình tiên tiến Việt Nam sẽ sớm bắt kịp xu hướng chung của thế giới./.

    Eldon D. Enger; Bradley F. Smith – “Tìm hiểu môi trường – Lời kêu cứu khẩn cấp của nhân loại – Cẩm nang thiết yếu cho khoa học môi trường”, NXB Lao động xã hội.

    Nguyên Giám đốc Sở KH-CN-MT Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 20 Các Ngành Hot Trong Tương Lai 2022. Cơ Hội Nghề Nghiệp..
  • Lợi Ích Từ Những Sáng Kiến
  • Chuẩn Mực Số 4: Tài Sản Cố Định Vô Hình
  • Chuẩn Mực Kế Toán Số 03 : Tài Sản Cố Định Hữu Hình
  • Chuẩn Mực Kế Toán Số 01 : Chuẩn Mực Chung
  • Lợi Ích Nhóm Trong Nền Kinh Tế Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Thị Trường Vàng Hơn 1 Năm Qua: Những Hiệu Ứng Tích Cực Đối Với Nền Kinh Tế
  • Bài Tập: Kinh Tế Vĩ Mô
  • Tại Sao Sữa Chứa Trong Hộp Giấy Chữ Nhật, Trong Khi Nước Ngọt Lại Chứa Trong Lon Trụ Tròn?
  • Chương 2: Hiệu Quả Tài Chính Chuong2 Hieuqua Ppt
  • Giá Trị Và Vai Trò Của Rừng Đối Với Nền Kinh Tế Quốc Dân
  • Một dự án bất động sản lớn tại Hà Nội chụp hôm 04/10/2012

    Một hình thức tham nhũng

    Từ hồi tháng 10 năm ngoái, trong diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 3, ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc đến vấn đề lợi ích nhóm trong việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch và chính sách đầu tư ở Việt Nam.

    Vấn đề lợi ích nhóm gần đây được nhắc đến ngày một nhiều. Mấy hôm trước đây, cụm từ này đã vang lên trong hội trường Quốc hội, khi Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp, bà Lê Thị Nga đề cập đến ngành xăng dầu. Mỗi lần doanh nghiệp xăng dầu tăng, giảm giá đều có biểu hiện bắt tay ấn định giá, vi phạm luật cạnh tranh. Theo Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long, nguyên Viện phó Viện Nghiên cứu thị trường giá cả, cụ thể vấn đề giá xăng dầu hiện nay như sau:

    Vấn đề giá xăng dầu, Việt Nam hiện nay đang thực hiện theo Nghị định 84 của Chính phủ. Trong lãnh vực kinh doanh xăng dầu, vẫn còn là một loại thị trường độc quyền, 3 công ty chiếm thị phần gần 90%. Trong bối cảnh chưa có một thị trường cạnh tranh thực sự, Nghị định lại quy định để cho doanh nghiệp độc quyền tự định giá. Khi giá thế giới tăng cao thì các doanh nghiệp này yêu cầu tăng ngay. Khi giá thế giới giảm, đặc biệt là giảm rất sâu, thì các doanh nghiệp này chần chừ không giảm. Trước áp lực của công luận, các doanh nghiệp này buộc mới giảm và giảm nhỏ giọt. Trong thực tế hiện nay, biểu hiện của lợi ích nhóm trong kinh doanh xăng dầu thể hiện chỗ những tập đoàn này. Vì mục đích lợi nhuận, và do giữ vị thế độc quyền, các tập đoàn này không tăng giảm theo giá cả thế giới. Điều đó đang gây bất ổn về giá cả trong nền kinh tế thị trường.

    Từ hình thức độc quyền kinh doanh, có doanh nghiệp lạm dụng đặc quyền tiến hành thống lĩnh thị trường. Biểu hiện của nhóm lợi ích chính là sự cấu kết, trục lợi từ tài nguyên quốc gia diễn ra ở nhiều nơi với tính chất, qui mô khác nhau. Trong nhiều ngành kinh doanh, thông tin lời lỗ biểu hiện mập mờ; thiếu trách nhiệm giải trình. Có thể xem các biểu hiện của lợi ích nhóm là một hình thức tham nhũng trong kinh doanh, quản lý điều hành. Theo Phó Giáo sư Ngô Trí Long, vấn đề lợi ích nhóm của Việt Nam có những biểu hiện như sau:

    Biểu hiện của lợi ích nhóm là khi thông qua việc tạo dựng những cơ chế, chính sách; người ta lồng những ý đồ cá nhân của họ vào. PGS Ngô Trí Long

    Theo Phó Giáo sư Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, vấn đề lợi ích nhóm của Việt Nam có những nguyên nhân đặc thù như sau:

    Ở đây có câu chuyện thế này, 5 năm vừa rồi, sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Khi hội nhập vào môi trường toàn cầu hóa, những câu chuyện về kinh tế về môi trường vĩ mô trở nên bất ổn. Hiện tượng này thể hiện một trình độ thấp, mà khi nhập cuộc vào một thế giới hiện đại, trong khi bản thân lại không biết một tý nào. Cho nên những câu chuyện phát sinh ở Việt Nam, có một lý do rất là nổi bật mà ít người chú ý. Tức là ở trình độ thấp mà đi gia nhập vào một hệ thống cao. Trong khi điều kiện chuẩn bị chưa thực sự tốt, nên dễ phát sinh ra vấn đề. Hiện nay, đây chính là lý do cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc, để có những giải pháp đúng. Chứ không phải chỉ là vấn đề chủ quan đâu, vấn đề lợi ích nhóm còn có cơ sở khách quan. Ảnh hưởng kinh tế quốc gia

    Buôn bán trong một khu chợ nhỏ phố cổ Hội An. AFP photo

    Lợi nhuận đã tạo nên các nhóm lợi ích. Lợi ích nhóm là một tình trạng xã hội tồn tại khách quan. Tuy nhiên, hiện trạng lợi ích nhóm đang xung đột với lợi ích xã hội là một dạng lợi ích nhóm tiêu cực.

    Việt Nam là một nền kinh tế đang chuyển đổi, cần đẩy mạnh hơn nữa những cải cách. Theo Phó Giáo sư Ngô Trí Long, nếu hiện tượng lợi ích nhóm tiếp tục được duy trì và phát triển, thì hiện tượng này sẽ gây ra những hậu quả khó khăn nhất định cho nền kinh tế quốc gia. Cụ thể là như sau:

    Chắc chắn là sẽ gây những tổn thất rất lớn cho toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Tất yếu sẽ dẫn đến việc, toàn bộ của cải xã hội sẽ rơi vào tay họ. Cho nên, nếu mà không ngăn chặn triệt để; xử lý một cách nghiêm túc, kiên quyết thì một khi lợi ích nhóm phát triển sẽ gây những hệ lụy rất lớn cho nền kinh tế. Đặc biệt, những bất ổn của nền kinh tế sẽ gây thiệt hại lớn đến lợi ích của người dân lao động.

    Vì quyền lợi cục bộ, các nhóm lợi ích có khi làm biến dạng cả nền kinh tế đất nước. Hệ quả là nguồn lực quốc gia không được phân bổ hiệu quả, bị lũng đoạn bởi các nhóm lợi ích khác nhau.

    Xã hội đang cần một cơ chế duy trì sự cạnh tranh công bằng giữa các thành phần tham gia hoạt động kinh doanh, sản xuất. Theo Phó Giáo sư Trần Đình Thiên để ngăn chặn tình trạng lợi ích nhóm tiêu cực hiện nay, thì về mặt chính sách vĩ mô, cần phải áp dụng những biện pháp khả thi như:

    Nếu mà không ngăn chặn triệt để; xử lý một cách nghiêm túc, kiên quyết thì một khi lợi ích nhóm phát triển sẽ gây những hệ lụy rất lớn cho nền kinh tế.PGS Ngô Trí Long

    Thực tế vừa rồi, đưa ra những bài học rất là tốt. Tôi nói ví dụ như chuyện phân quyền, phân cấp. Mặc dù là phân quyền là để đi đến nâng cao trách nhiệm, nói chung là tốt, nhưng việc này phải gắn liền với điều kiện, năng lực. Vấn đề này phải tính cho kỹ hơn. Nếu không thì dễ trở thành là, việc phân ra nhiều quyền nhưng lại không đủ năng lực đáp ứng. Thứ hai là, nếu mà muốn tăng trưởng nhanh mà nguồn lực không tốt, rồi cứ đầu tư thật nhiều. Đến lúc không hoàn thành thì vừa làm chậm, đồng thời cũng tạo sơ hở trong việc quản lý. Bây giờ là phải làm như thế nào để cân đối giữa nỗ lực tăng trưởng nhanh, đầu tư mạnh nhưng phải phù hợp về tính khả thi, về các điều kiện nguồn lực phải bảo đảm. Thứ ba là năng lực quản trị ở tầng vi mô. Khâu này là khâu do Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường chưa lâu, rồi cạnh tranh cũng chưa phát triển. Cho nên năng lực quản trị ở các doanh nghiệp, các dự án chưa thực sự tốt.

    Thực trạng kinh tế đang cần một khung pháp lý chặt chẽ để điều hòa các lợi ích trong xã hội. Tính công khai trong chủ trương điều hành, rất cần cho việc điều chỉnh hành vi của các nhóm lợi ích. Sự minh bạch, cơ chế giám sát nghiêm túc, công bằng là những công cụ cần thiết để ngăn chặn tình trạng lợi ích nhóm tiêu cực.

    Nguồn: Nhân Khánh/ RFA

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Tế Vĩ Mô Trong Nền Kinh Tế Mở
  • Tính Tất Yếu Khách Quan Và Lợi Ích Của Việc Mở Rộng Quan Hệ Kinh Tế Đối Ngoại
  • Tái Chế Tấm Pin Mặt Trời: Lợi Ích Kinh Tế Và Môi Trường
  • Lợi Ích Kinh Tế, Môi Trường Từ Rừng Fsc
  • Lời Giải Cho Bài Toán Lợi Ích Kinh Tế Và Môi Trường
  • Lợi Ích Của Mô Hình Kinh Tế Chia Sẻ Và Những Thách Thức Cho Nhà Quản Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Về Sự Phân Tích Chi Phí
  • Kinh Doanh Quốc Tế Là Gì
  • Vai Trò Của Hoạt Động Kinh Doanh Quốc Tế
  • Những Lợi Ích Khi Học Ngành Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế
  • Chiến Lược Kinh Doanh Quốc Tế
  • Hiện nay có rất nhiều mô hình kinh doanh của KTCS đã xuất hiện và đang hoạt động trên thế giới. Nguồn: Internet

    Bản chất của kinh tế chia sẻ trong kỷ nguyên số

    Kinh tế chia sẻ (KTCS) có nhiều tên gọi và khái niệm khác như kinh tế cộng tác, kinh tế theo cầu, kinh tế nền tảng, kinh tế truy cập, kinh tế dựa trên các ứng dụng di động… tựu chung KTCS là một hệ thống kinh tế mà ở đó tài sản hoặc dịch vụ được chia sẻ dùng chung giữa các cá nhân, hoặc không phải trả tiền hoặc trả một khoản phí, với tính chất điển hình là thông qua các công cụ internet (Từ điển Oxford). Ở những góc nhìn khác, KTCS cũng có thể được định nghĩa với các hình thức tương tự như:

    – Kinh tế cộng tác: Tập trung vào các hình thức hợp tác tiêu dùng, sản xuất, tài chính và học tập.

    – Kinh tế theo cầu: Tập trung vào việc cung ứng hàng hóa và dịch vụ theo nhu cầu.

    – Kinh tế của những người làm tự do: Tập trung vào việc tham gia của lực lượng lao động và tạo thu nhập của những người làm tự do hoặc những người tự làm.

    – Kinh tế truy cập: Tập trung vào “truy cập quyền sở hữu”…

    Tựu chung, bản chất của mô hình KTCS là một mô hình kinh doanh mới của kinh doanh ngang hàng, tận dụng lợi thế của phát triển công nghệ số, giúp tiết kiệm chi phí giao dịch và tiếp cận một số lượng lớn khách hàng thông qua các nền tảng số.

    Hiện nay có rất nhiều mô hình kinh doanh của KTCS đã xuất hiện và đang hoạt động trên thế giới. Nổi lên là 5 nhóm ngành nghề sau:

    Một là, dịch vụ vận tải: Dịch vụ vận tải trực tuyến với dịch vụ chia sẻ đi xe như: Uber, Grab, Lyft, Zipcar… Các dịch vụ này cạnh tranh với taxi truyền thống, cho phép người tiêu dùng kết nối với một lái xe được kiểm chứng gần đó, có thể là lái xe toàn thời gian hoặc bán thời gian, với việc người lái xe xác nhận muốn nhận dịch vụ tới một điểm đến và giá do dịch vụ đặt ra.

    Hai là, dịch vụ du lịch và khách sạn: Điển hình là dịch vụ chia sẻ phòng ở như Airbnb hay VRBO. Thông tin về người cung cấp phòng ở, về các đặc tính của phòng ở, giá cả… được cung cấp cho khách hàng trước khi quyết định thuê phòng. Vì vậy, mặc dù giữa khách hàng và chủ nhà cho thuê đều thỏa mãn dịch vụ nhưng nó cũng đặt ra mối đe dọa với ngành Khách sạn và thách thức đối với các nhà hoạch định chính sách trong việc thiết lập tốt hơn các quy định đối với loại hình kinh doanh mới này bình đẳng với dịch vụ của ngành Khách sạn về an toàn, phòng cháy chữa cháy, nghĩa vụ thuế…

    Ba là, dịch vụ bán lẻ: Một loạt các dịch vụ bán lẻ trực tuyến cho phép các nhà sản xuất và phân phối bán lẻ có thể tiếp cận một số lượng lớn người tiêu dùng đối với các sản phẩm bán lẻ. Các sàn giao dịch như Etsy, eBay, Craigslist… cho phép người bán kết nối trực tiếp người mua với một khối lượng chưa từng có trước đây. Thực tế hiện nay, các dịch vụ thương mại trực tuyến đã phát triển khá nhanh chóng trong những năm gần đây đang tạo ra mức độ cạnh tranh lớn với phương thức bán lẻ truyền thống. Nó cũng đặt ra những áp lực đối với các nhà quản lý trong việc xác định mức/ngưỡng phân biệt hoạt động là kinh doanh hay làm theo sở thích.

    Bốn là, dịch vụ lao động, việc làm: Với nhóm dịch vụ này, có thể bán các dịch vụ cá nhân và lao động của riêng họ trực tiếp cho người tiêu dùng. Ví dụ “Homejoy and Handy” là một sàn giao dịch về dịch vụ dọn nhà và các công việc vặt trong nhà, trong khi TaskRabbit hay Upwork cung cấp việc làm trực tuyến, mọi ngành nghề cho những người làm việc tự do, chúng tôi là một nền tảng du lịch kết nối du khách với người dân địa phương trên toàn thế giới.

    Ngoài 5 nhóm dịch vụ nói trên, trong tương lai có thể hình thành thêm rất nhiều ngành nghề, hoặc nhóm ngành nghề hoặc dịch vụ khác phát triển theo mô hình KTCS.

    Sự phát triển và lợi ích của kinh tế chia sẻ ở Việt Nam

    Mặc dù, mới phát triển tại Việt Nam trong một thời gian ngắn, song mô hình KTCS đã phát triển mạnh mẽ và đang phổ biến rộng rãi trong xã hội. Cụ thể:

    Một là, KTCS có tốc độ tăng trưởng ấn tượng ở Việt Nam: Tại Hà Nội, một báo cáo của các nhà tư vấn độc lập đã chỉ ra rằng, tính đến 20/12/2017, Grab có 11.474 xe tham gia thí điểm trên địa bàn, chiếm 90,67% số lượng xe được cấp phép hoạt động trên địa bàn toàn Thành phố.

    Đối với dịch vụ cho thuê phòng ở, cho đến nay vẫn chưa có cơ quan nào ở Việt Nam có thống kê chính xác về số lượng đơn vị tham gia mô hình này. Tuy nhiên, theo tính toán của Grant Thornton, đến tháng 6/2017, có khoảng 6.500 cơ sở tham gia Airbnb ở Việt Nam và có khoảng 80% số lượng khách đặt phòng là người nước ngoài tại Việt Nam (Như Bình, 2022).

    Hai là, KTCS ngày càng được người tiêu dùng đón nhận rộng rãi: KTCS cung cấp các nguồn lực trong nước đến người có nhu cầu một cách nhanh chóng thông qua công nghệ, hay nói cách khác là tận dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực nhàn rỗi trong xã hội; tận dụng hiệu quả về cả thời gian và tiết kiệm chi phí. Nhờ sự thuận tiện cho người sử dụng mà các mô hình KTCS ngày càng được người tiêu dùng đón nhận.

    Kết quả khảo sát của Công ty nghiên cứu thị trường và quảng bá toàn cầu Nielsen đối với người tiêu dùng khu vực Đông Nam Á công bố mới đây cho thấy: Ở Việt Nam chỉ có 18% người được hỏi từ chối chia sẻ tài sản cá nhân của mình, thấp hơn 14 điểm phần trăm so với tỷ lệ trung bình trên toàn thế giới. Trong khi đó, số người được hỏi sẵn sàng tận dụng các sản phẩm và dịch vụ chia sẻ tại Việt Nam lên tới 76%, cao hơn mức bình quân 66% của toàn cầu. Bên cạnh đó, đối với dịch vụ vận tải trực tuyến, theo báo cáo 5 năm kể từ khi thành lập của Grab thì ứng dụng kinh tế chia sẻ này đã giúp khách hàng tiết kiệm rất nhiều thời gian dành cho việc di chuyển, (Grab giúp giảm 1/2 thời gian di chuyển – Grab 2022). Ngoài tiết kiệm thời gian, Grab còn giúp khách hàng giảm 20 – 30% chi phí đi lại, giảm 40% những lỗi giấy tờ khi quyết toán chi phí đi lại, minh bạch thông tin cho người dùng (Grab, 2022).

    Theo báo cáo 5 năm kể từ khi thành lập của Grab, ứng dụng kinh tế chia sẻ này đã giúp khách hàng tiết kiệm thời gian cho việc di chuyển. Ngoài tiết kiệm thời gian, còn giúp khách hàng giảm 20 – 30% chi phí đi lại, giảm 40% những lỗi giấy tờ khi quyết toán chi phí đi lại, minh bạch thông tin cho người dùng (Grab, 2022).

    Ba là, thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy mạnh sáng tạo trong kinh doanh: Trong lĩnh vực vận tải, đến nay, không chỉ có Grab và Uber mà đã có khoảng 10 hãng taxi khác tham gia cung cấp ứng dụng đặt xe qua mạng, trong đó có cả các hãng taxi lớn như Vinasun, Mai Linh tham gia. Không chỉ có thế, Hiệp hội taxi Hà Nội vừa đưa ra đề xuất xây dựng một trung tâm điều hành đặt xe qua mạng. Đây là môi trường nền tảng dùng chung cho tất cả hãng taxi là tất yếu, phù hợp với chỉ đạo của Chính phủ trong quá trình thực hiện cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

    Bốn là, tiết kiệm tài nguyên thông qua việc sử dụng liên tục tài sản trong toàn bộ vòng đời của nó: Đây là lợi ích lớn nhất của KTCS. Trong thực tế, xe ô tô cá nhân được dùng cho việc cung cấp dịch vụ trên nền tảng công nghệ của Uber, Grab, Lyft… đã giúp tiết kiệm tài nguyên của tài sản. Một ví dụ khác, dịch vụ cho thuê thiết bị nông nghiệp của nền tảng Trringo do công ty ô tô Mahindra & Mahindra ở Ấn Độ đã cho phép nông dân thuê được thiết bị, máy móc nông nghiệp bằng cách gọi điện, góp phần thúc đẩy sự thịnh vượng của vùng nông thôn. Chỉ khoảng 15% trong số 120 triệu nông dân Ấn Độ có khả năng chi trả để sở hữu thiết bị cơ khí nông nghiệp. Vì vậy, nền tảng này đã cho phép những nông dân khác có thể sử dụng được máy móc nông nghiệp với chi phí thấp hơn nhiều (Wallenstein J. và Shelat U., 2022). Đồng thời với việc tiết kiệm trong sử dụng tài sản, máy móc, thiết bị, tiết kiệm tài nguyên… các hoạt động KTCS cũng có tác động tích cực tới môi trường thông qua giảm phát thải khí nhà kính, giảm khối lượng các chất thải ra môi trường.

    Sáu là, góp phần thúc đẩy phát triển công nghệ nói chung và công nghệ thông tin nói riêng: KTCS ngày càng phát triển, việc sử dụng và phân tích dữ liệu lớn của khách hàng một cách nhanh chóng và hiệu quả chính là “cầu” quan trọng cho ngành công nghệ thông tin phát triển…

    Thách thức đối với các nhà quản lý

    Sự phát triển của KTCS cũng làm nảy sinh những rủi ro mới trong nền kinh tế, đặt ra không ít thách thức đối với các nhà quản lý ở nhiều cấp độ khác nhau, từ hoạch định chính sách tới quản trị doanh nghiệp. Điển hình, những thách thức nổi lên hiện nay là:

    (i) KTCS làm nảy sinh các mối quan hệ mới trên thị trường: Do sự xuất hiện của bên thứ ba là nền tảng, quan hệ hợp đồng kinh tế trong KTCS có ít nhất là quan hệ 3 bên thay vì quan hệ 2 bên như trong các hợp đồng kinh tế trước đây. Khung khổ pháp lý quy định trách nhiệm của từng bên trong mối quan hệ hợp đồng này cần được thay đổi và bổ sung. Đây là một trong những lý do mà các nước trên thế giới (ngay cả các nước phát triển) cần nghiên cứu và có sự điều chỉnh về nền tảng pháp luật, đáp ứng nhu cầu của bối cảnh phát triển hiện nay;

    (ii) Tiềm ẩn những rủi ro mà nhà quản lý cần phải quan tâm để đảm bảo lợi ích của cả người mua (người tiêu dùng) và người bán (nhà cung cấp dịch vụ). Mặc dù, các bên có thông tin về nhau đầy đủ hơn, nhưng việc kiểm chứng các thông tin và tiếp xúc trực tiếp với nhau lại ít hơn nên cũng tiềm ẩn rủi ro lớn hơn nếu như không được khắc phục bằng những quy định cụ thể và hiệu quả. Vấn đề bảo hiểm, an toàn cho các bên bao gồm cả người cung cấp dịch vụ và người dùng/người sử dụng dịch vụ hay khách hàng cũng đặt ra gay gắt hơn;

    (iii) Thách thức về đảm bảo cạnh tranh công bằng: Xung đột lợi ích giữa doanh nghiệp kinh doanh theo mô hình KTCS và doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức truyền thống sẽ xảy ra. Hầu hết xung đột này là gay gắt nếu như không có những chính sách tốt của chính quyền với vai trò “trọng tài” giải quyết. Khi chưa có các chính sách đồng bộ, vấn đề cạnh tranh không công bằng với doanh nghiệp truyền thống là một rủi ro lớn cần giải quyết;

    (iv) Vấn đề thu thuế và các nghĩa vụ tài chính phát sinh từ hoạt động dịch vụ, vấn đề đo lường và tích hợp trong tài khoản kinh tế quốc gia… cũng là những vấn đề cơ bản. Những tranh cãi về nghĩa vụ thuế của các nền tảng xảy ra ở nhiều quốc gia, đặc biệt là vấn đề thu thuế của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xuyên quốc gia về tránh đánh thuế hai lần… vẫn luôn luôn xảy ra và không có một hình mẫu chung cho việc giải quyết các vấn đề này.

    Một số khuyến nghị về chính sách

    Để đối phó với những thách thức mà mô hình KTCS đặt ra, một số quan điểm và khuyến nghị chính sách được đề xuất như sau:

    Thứ hai, KTCS là một mô hình kinh doanh mới nhưng không phải là một bộ phận tách rời hoặc một thành phần kinh tế riêng rẽ trong nền kinh tế. Vì vậy, không cần thiết phải có các chính sách riêng biệt cho hình thức kinh doanh này.

    Thứ ba, cần tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các hoạt động KTCS và kinh tế truyền thống, giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài. Tuy nhiên, để phát huy được lợi ích của KTCS, Nhà nước cần có các chính sách thúc đẩy mô hình này theo hướng nới lỏng các điều kiện kinh doanh truyền thống (áp dụng chung cho cả khu vực truyền thống và khu vực KTCS); Quy định quản lý phải theo hướng hạ thấp các rào cản về gia nhập thị trường, rào cản đối với các starts-ups… để tăng tính cạnh tranh.

    Thứ tư, nâng cao năng lực quản lý của bộ máy nhà nước trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 để đáp ứng yêu cầu quản lý và khuyến khích sự phát triển của các mô hình KTCS.

    Thứ năm, Nhà nước cần đảm bảo công tác thanh tra, kiểm tra và đảm bảo an toàn thông tin trên môi trường mạng, đảm bảo chủ quyền trên không gian mạng được thực hiện tốt trong bối cảnh các hoạt động KTCS tăng lên nhanh chóng. Mặt khác, cần thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường dịch vụ (trong đó có dịch vụ internet), về thương mại điện tử nhằm khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh tốt trên nền tảng công nghệ số.

    Thứ sáu, nâng cao nhận thức của các bên trong nền KTCS, bao gồm: Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Xây dựng niềm tin thông qua một mô hình cho phép các giao dịch trên môi trường mạng để thu được những lợi ích của việc chia sẻ và việc xếp hạng đánh giá ngang hàng, xác thực và trách nhiệm của bên thứ ba. Khuyến khích hình thành và phát triển các hình thức bảo hiểm trong KTCS, qua đó thiết lập và củng cố niềm tin giữa người dùng và nền tảng cũng như giữa những người dùng với nhau.

    1. Như Bình, 2022, Dịch vụ ‘chia sẻ phòng’ Airbnb lấy khách của khách sạn,

      Báo Tuổi trẻ;

    2. Cafebiz, 2022, Số lượng xe Uber và Grab chạm mức 50.000 chiếc, gần gấp đôi taxi tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh;
    3. Nielsen, 2014, Người tiêu dùng Đông Nam Á sẵn sàng với mô hình kinh doanh chia sẻ;
    4. Grab, 2022, Đưa Đông Nam Á tiến về phía trước. Grab;
    5. Judith Wallenstein and Urvesh Shelat, 2022, Hoping aboard the sharing economy. The Boston Consulting Group;
    6. PricewaterhouseCoopers, 2022, The Sharing Economy. PricewaterhouseCoopers: United State;
    7. Airbnb, 2022, What legal and regulatory issues should I consider before hosting on Airbnb.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Tế Du Lịch Là Gì? Đặc Điểm Và Vai Trò Của Kinh Tế Du Lịch Việt Nam
  • Phân Tích Kinh Tế Xã Hội Của Dự Án
  • Gắn Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Với Lợi Ích Kinh Tế
  • Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Tây Bắc: Lợi Ích Kinh Tế Hay Bản Sắc Văn Hóa?
  • Phát Triển Kinh Tế Du Lịch Từ Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin
  • Kinh Tế Chia Sẻ: Liệu Lợi Ích Trước Mắt Có Đi Cùng Định Hướng Bền Vững?

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Tế Chia Sẻ Con Đường Mới Dẫn Đến Tăng Trưởng Bền Vững
  • Kinh Tế Chia Sẻ, Phép Thử Đối Với Tư Duy Quản Lý
  • Tiêu Chuẩn, Nhận Biết Và Phân Loại Tài Sản Cố Định
  • Các Yếu Tổ Của Báo Cáo Tài Chính
  • Đề Tài Hiệu Quả Sử Dụng Tài Sản Lưu Động Công Ty Cổ Phần Xây Dựng, Điểm 8
  • Hoạt động kinh tế này được lấy ý tưởng từ việc tin rằng luôn có người dư dịch vụ/hàng hóa nào đó và luôn có người khác đang cần nó, thường trong ngắn hạn.

    Chẳng hạn, nếu bạn dư một căn phòng, có thể đăng lên Airbnb cho ai đó đang du lịch/công tác đến khu vực bạn thuê; nếu bạn dư chỗ trên một chuyến đi, có thể dùng Lyft/Uber/Grab để tìm ai đó đi cùng; nếu bạn dư tiền, có thể cho người khác vay thông qua mạng lưới tín dụng ngang hàng; hay nếu bạn dư thời gian để làm việc, có thể tìm kiếm những người thuê mình trên Upwork.

    1. Từ kinh tế chia sẻ

    Theo dữ liệu của Viện Brookings, phương tiện giao thông cá nhân thường nhàn rỗi trong 95% cuộc đời của chính nó, và những nhà có dư phòng ngủ thường được để trống. Yếu tố lớn về nguồn cung này khiến giá cả hàng hóa trong phạm vi kinh tế chia sẻ thường thấp hơn nhiều so với ngoài thị trường. Chẳng hạn ở trường hợp Airbnb, dữ liệu từ Statista cho thấy giá phòng thuê ở Airbnb thấp hơn nhiều so với giá phòng khách sạn ở tất cả những thành phố lớn trên thế giới.

    Sở dĩ có điều này vì kinh tế chia sẻ hoạt động nhờ nguồn lực từ cộng đồng mà ở đó, mỗi người tự lo tốt cho việc kinh doanh của chính mình – và khối lượng thường không quá lớn. Chẳng hạn ở ví dụ của Airbnb, việc xây dựng phòng ốc, đón trả khách, vệ sinh phòng, chụp ảnh chất lượng cao để đăng lên nền tảng… đều được thực hiện bởi người cho thuê.

    Ở phía ngược lại, người đi thuê sẽ giữ vai trò giám sát, thông qua việc đánh giá sao, viết nhận xét hay báo cáo lên Airbnb để đảm bảo những phòng kém chất lượng luôn bị đào thải ra khỏi nền tảng. Airbnb chủ yếu lo những vấn đề kỹ thuật, công nghệ, kiểm soát rủi ro hay marketing – nhìn đi nhìn lại vẫn là lo cho chính họ.

    Điều tương tự cũng đúng với Grab, khi tài xế sẽ là người chịu trách nhiệm đổ xăng, bảo trì xe, duy trì thái độ đúng đắn với khách hàng… Những người tạo lập nền tảng tất nhiên vẫn có những hoạt động đào tạo tài xế trong ngắn hạn nhưng trong phần lớn thời gian, tài xế là người chịu trách nhiệm chính cho công việc của họ.

    Ở phía ngược lại, các công ty vận tải và tập đoàn khách sạn lớn trên thế giới phải lo dường như tất cả mọi thứ chỉ để cung cấp được dịch vụ tương tự. Họ phải có lượng vốn lớn để đầu tư xây dựng khách sạn, mua phương tiện; họ phải duy trì lượng lớn nhân lực, ở nhiều bộ phận và đảm bảo mọi bộ phận luôn trơn tru; phải chịu trách nhiệm cho mọi rủi ro, là pháp nhân trực tiếp đối diện với pháp luật và những việc tương tự thế.

    Vì thế, khi bạn ở trong một phòng khách sạn 5 sao, số tiền bạn bỏ ra còn bao gồm chi phí duy trì những phòng trống và rất nhiều người khác trong khách sạn, từ nhân viên đứng quầy, cô lao công đến các cổ đông.

    Mô hình phức tạp này khiến chi phí và quy trình khuyến mãi diễn ra một cách thận trọng và phức tạp hơn, trong khi ở phía ngược lại Grab/Uber/Airbnb dùng phần lớn tiền đầu tư của họ để đổ vào các chương trình khuyến mãi.

    Mâu thuẫn trên là nguồn cơn của nhiều vụ kiện trên thế giới (bao gồm cả ở Việt Nam) trong đó các tập đoàn truyền thống đánh vào công ty công nghệ kinh doanh nền tảng (platform) trong kinh tế chia sẻ.

    Những tập đoàn truyền thống được pháp luật ràng buộc trong những khuôn khổ nhất định và chịu thuế trong khuôn khổ ấy trong khi những startup kinh doanh platform vẫn chưa được xếp nhóm rõ ràng và không chịu nhiều thuế vì họ không sở hữu bất kỳ bất động sản hay phương tiện sản xuất nào cả [6].

    Vậy, tuy cả hai cùng cung cấp một loại hình dịch vụ đến người tiêu dùng cuối, nhưng quá trình phía sau đó có khá nhiều sự khác biệt.

    Kinh tế chia sẻ có mọi lợi thế để cạnh tranh với những loại hình truyền thống, như đã phân tích ở phần 1 và tất nhiên người tiêu dùng không cần quan tâm quá nhiều đến cách vận hành của mỗi loại. Điều đáng quan tâm là ai cũng thấy rằng kinh tế chia sẻ đang giúp chất lượng dịch vụ được cải thiện tốt hơn.

    Tuy vậy, ta nên bắt đầu lo lắng thì hơn.

    Quy trình chặt chẽ của những công ty truyền thống, với hàng loạt luật lệ từ nhà nước đến hiệp hội giúp đảm bảo rủi ro được hạn chế thấp nhất có thể. Ngược lại, ở những nền kinh tế chia sẻ, sức mạnh cộng đồng tuy mạnh nhưng không đủ để chống lại những tiêu cực nguy hiểm. Ý tôi là, đánh giá sao hay để lại lời than phiền chỉ có tác dụng khi bạn… còn khả năng làm thế.

    Airbnb nhiều lần gặp bê bối khi các phòng cho thuê gắn camera giấu kín, hay Uber và Grab liên tục dính đến những vụ việc như tài xế/khách bị cướp, đe dọa tính mạng, xâm hại tình dục…

    Một báo cáo đã dẫn nghiên cứu cho thấy sự phát triển của kinh tế chia sẻ cũng tạo ra dòng chuyển dịch nhân sự từ những tập đoàn truyền thống – nghĩa là sau một khoảng thời gian ngắn, tài xế công nghệ sẽ đông hơn, chất lượng tài xế giảm đi, số tiền tài xế kiếm được ít hơn kết hợp cùng quỹ khuyến mãi dần cạn sẽ dẫn đến phí dịch vụ tăng.

    Thực tế đây là điều đang diễn ra và bạn có thể cảm nhận được ở thị trường Việt Nam. Các hãng xe công nghệ đã bắt đầu nhiều đợt cắt thưởng tài xế, tăng phí dịch vụ, hạn chế khuyến mãi cũng như thường xuyên xuất hiện những lời than phiền về tài xế trên mạng xã hội.

    3. Những thứ chúng ta có thể, và không thể thay đổi

    Lợi ích của kinh tế chia sẻ nhìn chung có hai điểm lớn nhất. Một là, dưới góc độ người tiêu dùng, loại hình mới này đang cho thấy sự cải thiện đáng kể chất lượng dịch vụ và chi phí – vừa rẻ vừa tiện lợi.

    Và hai, ở góc độ vĩ mô, kinh tế chia sẻ đang giải quyết được công việc cho lượng lớn nhân công nhàn rỗi, người thất nghiệp trong xã hội, cũng như tạo ra cú hích bắt buộc những tập đoàn truyền thống phải thay đổi, chủ động áp dụng công nghệ cũng như quan tâm nhiều hơn đến chất lượng dịch vụ cho người dùng cuối thay vì chỉ quy trình nội bộ.

    Tuy vậy, bên cạnh những lợi ích ngắn hạn, vẫn còn khá nhiều tiêu cực trong tương lai. Tất nhiên bất kể thứ gì trên thế giới này đều có mặt tiêu cực, và việc chúng ta nhắc đến những hạn chế ấy không nhằm hạ bệ hay loại bỏ nó, mà để tìm xem có thể sửa chữa trong tương lai hay không.

    Như đã nhắc đến ở đầu bài, cũng như trong một bài đăng mới đây, kinh tế chia sẻ đang tạo ra một lượng lớn pcariat và gig worker (người lao động bấp bênh) ở hiện tại và tương lai.

    Trái với ý tưởng về việc “chia sẻ nguồn lực nhàn rỗi”, sự phát triển của kinh tế chia sẻ về bản chất là sử dụng công nghệ và loại hình kinh doanh mới để tạo lợi thế cạnh tranh trong thị trường lao động. Hoạt động trong kinh tế chia sẻ yêu cầu ít giấy phép hơn, ít quy định hơn, thời gian chờ xét duyệt nhanh hơn, nhiều khách hàng hơn và thậm chí thu nhập cao hơn, khiến chúng thu hút lượng lớn lực lượng lao động.

    Theo lý thuyết, những người tham gia Airbnb hay chạy Uber “lẽ ra” chỉ tham gia nền tảng này trong ngắn hạn, chẳng hạn tạm thời dư phòng để cho thuê, hay tạm thời rỗi nên muốn chạy xe kiếm thêm thu nhập, nhưng thực tế đang cho thấy mọi người thực sự nghiêm túc xem việc kiếm tiền trên Airbnb hay Uber/Grab là nghề chính.

    Điều này chứa đựng khá nhiều rủi ro. Vì nền tảng này không được thiết kế ra để bảo vệ những người lao động toàn thời gian. Đại đa số các nền tảng hiện nay không đóng bảo hiểm, không có chế độ nghỉ phép, không giới hạn thời gian làm việc cho “đối tác” và không đáp ứng những yêu cầu cơ bản khác trong sở hữu lao động. Bên cạnh đó, các “đối tác” cũng không được nhận trợ cấp thất nghiệp hay các phúc lợi xã hội khác. Họ đã và đang bị đẩy ra khỏi xã hội, theo đúng nghĩa đen.

    Những “đối tác” đang bị đồng tiền trong ngắn hạn làm mờ mắt và không biết rằng tương lai họ đầy bấp bênh. Khi xảy ra tai nạn, đau ốm, hay thành phố lớn cấm xe máy, hay nền tảng gặp vấn đề, họ sẽ nhận ra họ không thực sự sở hữu bất kỳ khả năng cạnh tranh nào, mà dường như chỉ là mắt xích cho những nền tảng kiếm tiền bằng thuật toán. Những tài xế Grab ngày nay đang mải mê chạy 12h/ngày ngoài đường, sau 10 năm nữa sẽ dùng kỹ năng lái xe ấy để làm gì?

    Theo một thống kê, gần 50% số tài xế Uber có bằng đại học, nghĩa là thực sự có người chạy Uber như một công việc kiếm thêm thu nhập, hoặc nhiều người đã gác bằng đại học của mình để làm tài xế, hoặc cả hai. Đây là một đặc điểm khác của pcariat/gig workers – những người phải làm công việc dưới trình độ của mình.

    Một hạn chế khác, nhiều quan điểm cho rằng kinh tế chia sẻ rất dễ dẫn đến tình trạng độc quyền. Lợi thế của những startup công nghệ trong lĩnh vực này là thuật toán và tiền để tung các chương trình khuyến mãi. Khi một công ty thành công vươn lên, rất dễ để công ty ấy nhanh chóng trở thành người đứng đầu và tạo ra khoảng cách lớn với đối thủ.

    Hầu hết những startup đứng đầu về kinh tế chia sẻ hiện nay đều cho thấy quan điểm này đúng gần như 100%. Và khi tình trạng độc quyền xảy ra, quyền lợi của người tiêu dùng có lẽ không còn được đảm bảo nữa. Hãy nhớ lại câu chuyện về Grab sau khi đánh bại Uber ở thị trường Việt Nam.

    Những hạn chế trên đều có thể giải quyết được. Các ứng dụng có thể thay đổi thuật toán sao cho hiển thị ít hơn thông tin của người sử dụng dịch vụ để hạn chế tình trạng phân biệt chủng tộc; các nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra các quy định về sở hữu lao động áp lên những công ty này để bảo vệ người lao động.

    Tuy nhiên, kinh tế chia sẻ tuy mới xuất hiện gần đây nhưng đang tạo ra nhiều tác động sâu sắc hơn thế.

    Airbnb đang bị nhiều thành phố ở EU kêu gọi tẩy chay, vì ứng dụng này tạo ra sự thay đổi sâu sắc trong bộ mặt cộng đồng đô thị. Sự hấp dẫn của Airbnb đã khiến giá nhà thuê dài hạn tăng, vì nhiều bất động sản đã được chuyển đổi để phục vụ cho thuê ngắn hạn.

    Đất thì không thể nở ra được, đặc biệt đất ở các thành phố châu Âu, do đó, khi ngày càng nhiều căn hộ gia nhập Airbnb, nghĩa là ngày càng ít căn hộ phục vụ cư dân địa phương. Hay nói cách khác, ngày càng ít nhà ở và ngày càng nhiều nhà trọ.

    Một điều nữa, sự phát triển của Airbnb đang phá vỡ lối sống cộng đồng. Lối sống đến và đi trong ngắn hạn của khách thuê, chỉ ở từ vài ngày đến vài tháng đang khiến những cộng đồng cư dân đô thị đã khó gắn bó nay càng rời rạc hơn – và có phần phức tạp.

    Điều này cũng khiến công tác quản lý trở nên khó khăn, tạo ra những rủi ro về dân cư. Và một điều khá kỳ lạ, nghiên cứu chỉ ra Airbnb thực tế đã làm giảm chất lượng khách sạn địa phương.

    Một báo cáo dẫn nhiều nghiên cứu cho thấy phần lớn những người tìm đến dịch vụ kinh tế chia sẻ quan tâm đến yếu tố kinh tế (người bán cảm thấy dễ dàng kiếm tiền hơn trong khi người mua cảm thấy có thể mua dịch vụ với mức thấp hơn), điều này dẫn đến việc những yếu tố về giao tiếp và tương tác xã hội dần bị xem nhẹ. Nghĩa là, mọi người đang dùng tiền nhiều hơn để giải quyết các vấn đề của họ, và dần xem nhẹ những mối quan hệ người – người với những người như tài xế hay.

    Bên cạnh đó, trái với kỳ vọng rằng sự tương tác giữa những người lạ sẽ khiến niềm tin xã hội tăng, khảo sát từ báo cáo trên cũng chỉ ra rằng nhiều người cảm thấy bất an khi phải đón tiếp và phục vụ người lạ.

    Tóm lại, đặc điểm nổi bật nhất khiến kinh tế chia sẻ thu hút vì chúng giải quyết được nhu cầu kinh tế của đại đa số người dân (kể cả người cung cấp lẫn sử dụng dịch vụ). Tuy nhiên, có vẻ chúng ta chưa có cái nhìn khách quan, đầy đủ và sâu sắc về ảnh hưởng của chúng, mà mới chỉ quan tâm đến lợi ích nhỏ nhặt là vài đồng bạc lẻ trong từng giao dịch.

    Kinh tế chia sẻ được kỳ vọng sẽ là cú hích định hình lại xã hội, nhưng theo hướng nào, chúng ta chưa thể biết được. Sẽ có gì đó biến mất, sẽ có gì đó xuất hiện, nhưng thật khó để biết được rằng đó có phải thứ ta truy cầu và kỳ vọng hay không.

    Nhưng đây cũng không phải điều mới mẻ, chúng ta lúc nào chẳng bị đặt vào trạng thái “phải bước tiếp”, dù rằng chẳng biết bước đi ấy sẽ dẫn đến đâu, đúng không?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nền Kinh Tế Chia Sẻ: Lợi Ích Cho Các Chủ Đầu Tư Bất Động Sản
  • Thuyết Minh Về Cây Cao Su, Bài Văn Mẫu Về Cây Cao Su Ở Quê Em Đồng Nai, Bình Phước
  • Thuyết Minh Về Cây Cao Su Đầy Đủ Và Chi Tiết Nhất
  • Những Lợi Ích Tuyệt Vời Từ Cây Cao Su
  • Chương 2:xác Định Hoạt Động Kinh Tế
  • Kinh Tế Vĩ Mô Trong Nền Kinh Tế Mở

    --- Bài mới hơn ---

  • Lợi Ích Nhóm Trong Nền Kinh Tế Việt Nam
  • Quản Lý Thị Trường Vàng Hơn 1 Năm Qua: Những Hiệu Ứng Tích Cực Đối Với Nền Kinh Tế
  • Bài Tập: Kinh Tế Vĩ Mô
  • Tại Sao Sữa Chứa Trong Hộp Giấy Chữ Nhật, Trong Khi Nước Ngọt Lại Chứa Trong Lon Trụ Tròn?
  • Chương 2: Hiệu Quả Tài Chính Chuong2 Hieuqua Ppt
  • Published on

    1. 2. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái 1 Hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi 2 Hệ thống tỷ giá hối đoái cố định 3 Hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý IV Tác động của tỷ giá hối đoái tới nền kinh tế 1 Tỷ giá hối đoái tăng 2 Tỷ giá hối đoái giảm
    2. 3. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở I Cán cân thanh toán (balance of payment) Cán cân thanh toán là một bảng cân đối ghi chép một cách hệ thống toàn bộ những giao dịch kinh tế giữa trong nước với thế giới bên ngoài trong khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Nó phản ánh giá trị hàng hóa và dịch vụ mà nền kinh tế đã xuất khẩu hoặc nhập khẩu cũng như các khoản tiền mà đất nước đã đi vay hoặc cho thế giới bên ngoài vay. Ngoài ra, sự can thiệp của NHTW vào thị trường ngoại hối thông qua việc thay đổi dự trữ ngoại tệ cũng được phản ánh trong cán cân thanh toán.
    3. 5. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở I Cán cân thanh toán 1 Tài khoản vãng lai (current account) Các yếu tố tác động đến NX(cán cân thương mại) – Thị hiếu của người tiêu dùng về hàng trong nước và hàng nước ngoài – Mức lạm phát giữa hai quốc gia – Tỷ giá hối đoái – Thu nhập người tiêu dùng trong nước, thu nhập người tiêu dùng nước ngoài – Chi phí bảo hiểm và vận chuyển hàng hóa từ nước này qua nước khác – Các chính sách của chính phủ đối với thương mại
    4. 6. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở I Cán cân thanh toán 1 Tài khoản vãng lai (current account) – Tài khoản thu nhập nhân tố ròng (net investment income account): là khoản chênh lệch giữa GNP và GDP – Tài khoản chuyển khoản quốc tế (net transfer account) giao dịch giữa các quốc gia mà không có các khoản đối ứng
    5. 7. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở I Cán cân thanh toán 2 Tài khoản vốn (capital account) – Tài khoản vốn ghi lại các khoản + Vốn dùng để mua nhà máy, mua cổ phiếu của các công ty được gọi là đầu tư. Chênh lệch giữa luồng đi vào và đi ra được xếp vào mục đầu tư ròng. + Vốn dùng để gửi Ngân hàng và mua công trái của Chính phủ nước ngoài, hay trực tiếp vay mượn từ bên ngoài được gọi là giao dịch tài chính. Chênh lệch giữa luồng đi vào và đi luồng đi ra được xếp vào mục giao dịch tài chính ròng
    6. 8. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở I Cán cân thanh toán 2 Tài khoản vốn (capital account) – Dòng vốn lưu chuyển giữa các quốc gia chịu chi phối bởi những yếu tố sau đây: + Lãi suất thực tế trả cho tài sản nước ngoài, tài sản trong nước + Nhận thức về rủi ro kinh tế và chính trị của việc nắm giữ tài sản nước ngoài + Các chính sách của chính phủ ảnh hưởng tới việc người nước ngoài nắm giữ tài sản trong nước
    7. 11. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở I Cán cân thanh toán Ngoài ra còn có khoản mục sai số thống kê (statistical discrepancy) Ở các nước có thị trường ngoại hối theo cơ chế thả nổi (tỷ giá điều chỉnh theo cung, cầu ngoại hối) thì sai số thống kê được cho là các giao dịch ngoại hối bị bỏ sót. Sau khi tính khoản mục này thì cán cân thanh toán tổng thể bằng 0 Còn ở các nước có thị trường hối đoái theo cơ chế cố định hoặc thả nổi có quản lý (tỷ giá hối đoái có sự điều tiết của chính phủ) thì dù có sai số thống kê cán cân thanh toán tổng thể vẫn không thể bằng 0 (tồn tại thặng dư, thâm hụt)
    8. 14. Cán cân thanh toán của MỹCurrent accountExports of goods 1149Imports of goods 1965Balance of trade -816Export of services 479Import of services -372Balance of services 107Income received on 782investmentsIncome received on -708investmentsNet income on investments 74Net transfers -104Balance of current account -739Financial accountIncrease in foreign holdings of 1864assets in the USIncrease in US holdings of -1206assets in foreign countriesBalance on financial account 658Balance on capital account -2Statistical discrepancy 83Balance of payment 0The Balance of Payments of the United States, 2007 (billions of dollars)Nguồn: US Department of Commerce, Survey of Current Business, June 2008
    9. 15. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 1 Khái niệm và phương pháp đo lường 1.1 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (E) – Khái niệm: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ lệ trao đổi giữa đồng tiền của các quốc gia. Hay giá cả của một đơn vị tiền tệ này được thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước kia được gọi là tỷ giá hối đoái danh nghĩa VD: 1 USD = 19.000 VND, 1 GBP = 28.000 VND… – Tỷ giá hối đoái danh nghĩa có thể được niêm yết dưới 2 dạng: + Yết giá trực tiếp: là phương pháp quy định giá ngoại tệ khi niêm yết được thể hiện trực tiếp ra bên ngoài, bao nhiêu nội tệ đổi được 1 đơn vị ngoại tệ (E) + Yết giá gián tiếp: là phương pháp quy định giá ngoại tệ khi niêm yết không thể hiện trực tiếp ra bên ngoài mà chỉ thể hiện gián tiếp, bao nhiêu ngoại tệ đổi được 1 đơn vị nội tệ (e)
    10. 16. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 1 Khái niệm và phương pháp đo lường 1.2 Tỷ giá hối đoái thực tế (ξ) – Khái niệm: Tỷ giá hối đoái thực tế (ξ) là tỷ lệ mà tại đó một người trao đổi hàng hóa và dịch vụ của nước này lấy hàng hóa và dịch vụ của nước khác – Công thức: ξ = E x P*/P trong đó P* là mức giá nước ngoài P là mức giá trong nước
    11. 17. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 1 Khái niệm và phương pháp đo lường 1.2 Tỷ giá hối đoái thực tế (ξ) Điều gì quyết định sự thay đổi của E → E = ξ x P/P* → % thay đổi E = % thay đổi ξ + % thay đổi P – % thay đổi P* → % thay đổi E = % thay đổi ξ + (π – π*) Như vậy trong dài hạn E được quyết định bởi ξ, và mức độ chênh lệch lạm phát giữa trong nước và ngoài nước
    12. 18. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 1 Khái niệm và phương pháp đo lường 1.3 Tỷ giá hối đoái bình quân (EER) – Tỷ giá hối đoái bình quân được hiểu là số bình quân giá quyền của hầu hết các tỷ giá song phương quan trọng với mức gia quyền được xác định bởi tỷ trọng của mỗi loại ngoại tệ trong tổng kim ngạch ngoại thương của nước đó – Công thức EER = Eri x Wi trong đó EER là tỷ giá hối đoái bình quân, Eri là tỷ giá hối đoái song phương với nước i, Wi là tỷ trọng thương mại của nước i trong tổng giá trị thương mại của nước đang xét
    13. 19. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 2 Cơ sở để xác định tỷ giá hối đoái: lý thuyết ngang bằng sức mua (PPP – purchasing power parity) – Quy luật một giá (one price law): hàng hóa phải được bán với mức giá như nhau ở mọi nơi, nếu không, sẽ có những cơ hội kiếm lợi nhuận chưa được khai thác và buôn bán ăn chênh lệch giá (carry trade) sẽ diễn ra khiến cho giá cả của hàng hóa đó trở lại cân bằng – Lý thuyết ngang bằng sức mua (PPP): một đơn vị tiền tệ phải có giá trị thực tế như nhau (mua được cùng số lượng hàng hóa) ở mọi quốc gia
    14. 20. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 2 Cơ sở để xác định tỷ giá hối đoái Sử dụng lý thuyết PPP để tính tỷ giá hối đoái danh nghĩa Giả sử 1 USD mua được 1 giỏ hàng ở Mỹ. Với 19.000 VND ta cũng mua được 1 giỏ hàng tương tự ở Việt Nam (cùng số lượng, chất lượng); giả định rằng chi phí vận chuyển là không đáng kể và hàng hóa sẽ được mua bán hết nếu buôn bán chênh lệch giá xảy ra → theo lý thuyết PPP 1USD = 19.000 VND Tổng quát nếu ta có 1 đô la P* là giá cả hàng hóa ở nước Mỹ; P là giá cả hàng hóa tương tự ở Việt Nam thì 1/P* = E/P → E = P/P*
    15. 21. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở Tỷ giá hối đoái (số xu Mỹ đổi được 1 mác Đức), cung tiền và tỷ lệ lạm phát ở Đức giai đoạn 1921 – 1925.
    16. 22. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 2 Cơ sở để xác định tỷ giá hối đoái Mặt khác sử dụng công thức trên ta có: 1 = ExP*/P hay tỷ giá hối đoái thực tế luôn bằng 1 nhưng trên thực tế điều này không xảy ra vì lý thuyết PPP còn có những hạn chế sau: + Có rất nhiều mặt hàng khó đem ra trao đổi + Ngay cả khi hàng hóa trao đổi được thì không phải lúc nào cũng thay thế được cho nhau nếu chúng được sản xuất ở các nước khác nhau (thị hiếu) + tồn tại chi phí vận chuyển, thuế quan, hạn ngạch
    17. 23. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở Chế độ bản vị hambơgơ, chỉ số Big Mac Nước Giá của chiếc Big Mac Tỷ giá hối đoái dự báo Tỷ giá hối đoái trên thực tế Hàn Quốc 3200 won 896 won/đôla 1018 won/đôla Nhật 280 yên 78.4 yên/đôla 106.8 yên/đôla Nga 59 rúp 16.5 rúp/đôla 23.2 rúp/đôla Canada 4.09 đôCa 1.15 đôCa/đôla 1.00 đôCa/đôla Braxin 7.5 rian 2.1 rian/đôla 1.58 rian/đôla Anh 2.29 bảng 0.64 bảng/đôla 0.50 bảng/đôla EU 3.37 euro 0.94 euro/đôla 0.63 euro/đôla Tạp chí Economists số 24/7/2008
    18. 24. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 3 Thị trường ngoại hối Khái niệm ngoại hối rất rộng bao gồm ngoại tệ, kim loại quý như vàng hay các giấy tờ có giá được tính bằng ngoại tệ. Theo quy định của pháp lệnh ngoại hối có hiệu lực từ ngày 1/6/2006 ngoại hối bao gồm: – Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung Châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong than toán quốc tế và khu vực (ngoại tệ) – Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác
    19. 25. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 3 Thị trường ngoại hối (Khái niệm ngoại hối) – Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác – Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dang khối, thỏi, hạt miếng trong trường hợp mang vào và ra khỏi lãnh thổ Việt Nam – Đồng tiền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế
    20. 26. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 3 Thị trường ngoại hối 3.1 Cung ngoại hối Cung ngoại hối bắt nguồn từ tất cả các giao dịch quốc tế của Việt Nam tạo ra nguồn thu về ngoại hối (cột có trong các tài khoản của cán cân thanh toán) Cung ngoại hối tăng/giảm khi tỷ giá hối đoái E tăng/giảm, các hoạt động tạo nguồn thu về ngoại hối gia tăng/giảm
    21. 27. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 3 Thị trường ngoại hối 3.2 Cầu ngoại hối Cầu ngoại hối bắt nguồn từ tất cả các giao dịch quốc tế của Việt Nam trong đó phải thanh toán ngoại hối với nước ngoài (cột nợ trong các tài khoản của cán cân thanh toán) Cầu ngoại hối tăng/giảm khi tỷ giá hối đoái E giảm/tăng, các hoạt động phải thanh toán ngoại hối cho nước ngoài tăng/giảm
    22. 28. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 3 Thị trường ngoại hối 3.3 Cân bằng trên thị trường ngoại hối Lấy ngoại tệ là USD đại diện cho ngoại hối
    23. 29. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 3 Thị trường ngoại hối 3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi của tỷ giá hối đoái Nguyên nhân gây nên sự thay đổi của E trên thị trường ngoại hối (sự dịch chuyển của đường cung, đường cầu)
    24. 30. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở II Tỷ giá hối đoái 3 Thị trường ngoại hối 3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi của tỷ giá hối đoái Các nhân tố làm đường cung, đường cầu ngoại hối dịch chuyển: + Sự tăng/giảm giá trong nước của hàng xuất khẩu + Sự tăng/giảm giá quốc tế của hàng nhập khẩu + Sự thay đổi của mức giá chung + Sự vận động của luồng vốn quốc tế + Đầu cơ → trong ngắn hạn (P trong và ngoài nước không thay đổi nhiều) thì E được quyết định bởi cung, cầu ngoại hối
    25. 31. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở Mở rộng: Thị trường ngoại hối theo quan điểm của Mankiw (đồng nhất thức NFI ≡ NX) E NFI NX E* Qusd NFI phụ thuộc vào lãi suất trong nước, nước ngoài (không phụ thuộc vào E) → NFI là 1 đường thẳng đứng NX phụ thuộc dương vào E (E tăng → đồng nội tệ mất giá) → NX là 1 đường dốc lên
    26. 32. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở Mở rộng: Giải thích thâm hụt kép (twin deficit): thâm hụt cán cân ns (T < G) đi kèm với thâm hụt thương mại (X < IM) r S’vốn r E NFI’ NFI Svốn ∆G NX Dvốn Qvốn Qusd Chính phủ tăng chi tiêu G → Cung vốn vay giảm → lãi suất thực tế cân bằng tăng → NFI giảm (vốn nước ngoài đổ vào trong nước tăng) → E giảm (đồng nội tệ lên giá) → NX giảm
    27. 33. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở Mở rộng Giải thích tác động của CSTT mở rộng hiệu quả hơn khi nền kinh tế mở i MS1 MS2 E NFI1 NFI2 NX i1 E2 i2 E1 MD i Lượng tiền Khi thực hiện CSTT mở rộng, lãi suất giảm → NFI tăng → E tăng, NX tăng
    28. 34. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái 1 Hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi/linh hoạt (Floating/flexible foreign exchange system) – Là hệ thống mà tỷ giá hối đoái hoàn toàn được xác định theo quan hệ cung cầu trên thị trường (như mô hình thị trường hối đối pt ở trên) – Nhược điểm cơ bản của hệ thống những dao động thường xuyên của tỷ giá hối đoái gây thêm tính bất trắc và rủi ro trong các giao dịch thương mại và tài chính quốc tế, hạn chế sự tăng trưởng của những giao dịch đó → xuất hiện can thiệp của chính phủ nhằm cố định tỷ giá ở một mức nào đó, tránh những biến động bất lợi của thị trường ngoại hối
    29. 35. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái 2 Hệ thống tỷ giá hối đoái cố định (Fixed foreign exchange system) – Là hệ thống mà tỷ giá hối đoái được giữ ở một mức nhất định nhờ sự can thiệp của nhà nước – Ví dụ về sự can thiệp của nhà nước (NHTW) vào thị trường ngoại hối nhằm duy trì tỷ giá hối đoái cố định – NHTW muốn duy trì E thấp hơn nên đã bán ra 1 lượng USD làm tăng cung USD (đường cung USD dịch chuyển sang phải). Đây cũng là hoạt động trên thị trường mở của NHTW (thu
    30. 36. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái 2 Hệ thống tỷ giá hối đoái cố định (Fixed foreign exchange system) Kết luận – Nếu NHTW muốn duy trì một mức E thấp hơn thì bán ngoại tệ làm tăng cung ngoại tệ (giảm MS) – Nếu NHTW muốn duy trì một mức E cao hơn thì mua ngoại tệ làm tăng mức cầu về ngoại tệ (tăng MS)
    31. 37. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái 2 Hệ thống tỷ giá hối đoái cố định (Fixed foreign exchange system) Tuy nhiên, trong xu hướng mở cửa và hội nhập kinh tế hiện nay, việc theo đuổi chế độ tỷ giá cố định, thoát ly sự nhạy bén của thị trường sẽ dẫn đến các vấn đề sau: – Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn thế giới bên ngoài trong khi E không đổi thì hàng hóa trong nước sẽ mất dần khả năng cạnh tranh trên các thị trường quốc tế, gây tổn thất cho cán cân thanh toán quốc tế và ảnh hưởng xấu đến sản xuất trong nước 
    32. 38. (vấn đề của hệ thống tỷ giá hối đoái cố định)- Để bảo vệ tỷ giá cố định chính phủ thường phải sử dụng các công cụ hạn chế nhập khẩu như thuế quan, hạn ngạch… và hạn chế luồng vốn luân chuyển quốc tế nhằm kiềm chế thâm hụt cán cân thanh toán. Điều này sẽ mâu thuẫn với yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế- Hệ thống tỷ giá hối đoái cố định không cho phép sử dụng chính sách tiền tệ vào mục tiêu khác (như ổn định việc làm hoặc mức giá) mà chỉ sử dụng vào một mục tiêu duy nhất là duy trì tỷ giá cố định ở mức đã công bố- NHTW phải duy trì một quỹ dự trữ ngoại hối tương đối để có thể can thiệp hiệu quả vào thị trường ngoại hối gây lãng phí nguồn lực
    33. 40. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái 3 Hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý (managed floating foreign exchange system) Là sự kết hợp của hệ thống tỷ giá thả nổi và hệ thống tỷ giá cố định Khác với can thiệp trong hệ thống tỷ giá hối đoái cố định, can thiệp trong hệ thống này của NHTW nhằm thu hẹp biên độ dao động của tỷ giá, giảm thiểu rủi ro cho các hoạt động kinh tế hoặc điều chỉnh tỷ giá theo hướng có lợi (vỗ tay bằng cả 2 bàn tay)
    34. 41. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở IV Tác động của tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế 1 Tỷ giá hối đoái tăng – Hàng hóa trong nước trở nên rẻ tương đối hơn so với trước →xuất khẩu tăng – Hàng hóa nước ngoài trở nên đắt tương đối hơn so với →nhập khẩu giảm → Xuất khẩu ròng tăng
    35. 42. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở IV Tác động của tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế 2 Tỷ giá hối đoái giảm – Hàng hóa trong nước trở nên đắt tương đối hơn so với trước →xuất khẩu giảm – Hàng hóa nước ngoài trở nên rẻ tương đối hơn so với →nhập khẩu tăng → Xuất khẩu ròng giảm
    36. 43. Có (+ ) Nợ (-)1. Tài khoản vãng lai-Giá trị hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu (X). -Giá trị hàng hoá và dich vụ nhập khẩu (IM)-Thu nhập từ nước ngoài. -Chi trả thu nhập cho nước ngoài.-Nhận viện trợ của nước ngoài -Viện trợ ra nước ngoài và đóng góp cho ngân sách cho tổ chức quốc tế.2. Tài khoản vốn (tài khoản tư bản)-Đầu tư nước ngoài vào trong nước. – Đầu tư ra nước ngoài.-Vay của chính phủ và tư nhân, nhận trả nợ – Cho chính phủ và tư nhân nước ngoài vay, trả nợ. Các hoạt động cột có Các hoạt động ở cột (+) (nợ) E tăng, e giảm Tăng Giảm E giảm, e tăng Giảm Tăng E e Các hoạt động cột có (+) tăng giảm tăng Các hoạt động cột có (+) giảm tăng giảm Các hoạt động cột nợ (-) tăng tăng giảm Các hoạt động cột nợ (-) giảm giảm tăng
    37. 44. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái Hiệu ứng J Hiệu ứng J cho biết không phải cứ khi nào đồng nội tệ mất giá thì sẽ làm cho xuất khẩu ròng tăng ngay lập tức, lý do: – Sự chậm trễ trong phản ứng của người tiêu dùng – Sự chậm trễ trong phản ứng của các nhà sản xuất -Sự cạnh tranh không hoàn hảo → ban đầu khi đồng nội tệ mất giá NX giảm sau một thời gian sẽ tăng
    38. 45. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái Hiệu ứng J Phân tích tương tự khi đồng nội tệ lên giá
    39. 46. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái Phân tích việc phá giá đồng nội tệ (currency devaluation) – Khái niệm phá giá – currency devaluation thường được sử dụng để nói tới bất kỳ hiện tượng giảm giá danh nghĩa nào của đồng nội tệ một cách có chủ ý và với mức độ đáng kể – Là biện pháp được IMF khuyến nghị các nước gặp khó khăn về cán cân thanh toán
    40. 47. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái Phân tích việc phá giá đồng nội tệ (currency devaluation) Lợi ích của việc phá giá * Hàng hóa nhập khẩu tăng giá, hàng xuất khẩu giảm giá → tăng khả năng cạnh tranh của hàng trong nước, của hàng xuất khẩu → các nguồn lực tập trung vào các ngành sản xuất này → đầu tư trong nước tăng, xuất khẩu ròng tăng → tăng tổng cầu → sản lượng tăng, thất nghiệp giảm * Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài sau khi tình hình đã ổn định
    41. 48. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở III Quản lý tỷ giá hối đoái Phân tích việc phá giá đồng nội tệ (currency devaluation) Tác hại của việc phá giá * Giá cả chung có thể sẽ tăng dẫn đến nguy cơ về lạm phát vì nhu cầu nguyên vật liệu nhập khẩu tăng do tổng cầu tăng mà bây giờ cần nhiều nội tệ hơn rất nhiều để mua lượng nguyên vật liệu nhập khẩu tăng lên * Hiệu ứng J
    42. 49. Bài 10 Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở (Tác hại của việc phá giá) * Những yêu cầu khắc nghiệt kèm theo của IMF như giảm thâm hụt ngân sách (tăng thuế T giảm chi tiêu chính phủ G) từ đó làm giảm tổng cầu khiến cho nền kinh tế suy thoái hơn; cơ cấu lại nền kinh tế cho phép tư nhân hóa những lĩnh vực nhạy cảm như tài chính, ngân hàng, khai khoáng với lý do cạnh tranh tư nhân sẽ hiệu quả hơn nhà nước quản lý (nguồn vốn ra vào tự do khiến cho hệ thống tỷ giá hối đoái thêm bất ổn); hạn chế tăng giá (thường là hậu quả của phá giá đồng nội tệ) dẫn đến giảm cung tiền đẩy lãi suất lên cao → là những liều thuốc không hợp lý đi kèm phương thức phá giá * Nợ nước ngoài tăng lên tính theo đồng nội tệ * Gây khó khăn cho những nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào trong nước, chưa rút vốn ra kịp
    43. 51. Câu hỏi tư duyMột số thời điểm đôla Mỹ tăng vọt trong khi các yếu tố vĩ mô ổn định(tỷ lệ lạm phát), áp lực nhập siêu không lớn, lý do tại sao?VND mất giá có thực sự trợ giúp cho xuất khẩu ròng hay không? Đề xuất biện pháp khắc phục?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tính Tất Yếu Khách Quan Và Lợi Ích Của Việc Mở Rộng Quan Hệ Kinh Tế Đối Ngoại
  • Tái Chế Tấm Pin Mặt Trời: Lợi Ích Kinh Tế Và Môi Trường
  • Lợi Ích Kinh Tế, Môi Trường Từ Rừng Fsc
  • Lời Giải Cho Bài Toán Lợi Ích Kinh Tế Và Môi Trường
  • Cân Bằng Lợi Ích Kinh Tế Và Môi Trường
  • Kinh Tế Chia Sẻ, Phép Thử Đối Với Tư Duy Quản Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiêu Chuẩn, Nhận Biết Và Phân Loại Tài Sản Cố Định
  • Các Yếu Tổ Của Báo Cáo Tài Chính
  • Đề Tài Hiệu Quả Sử Dụng Tài Sản Lưu Động Công Ty Cổ Phần Xây Dựng, Điểm 8
  • Mâu Thuẫn Biện Chứng Trong Quá Trình Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam
  • Vấn Đề Nhận Thức Và Giải Quyết Mối Quan Hệ Chính Trị
  • Kinh tế chia sẻ là mô hình kinh doanh mới mang lại nhiều giá trị cho nền kinh tế, lợi ích cho xã hội và người dùng. Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 999/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ. Đây là một bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự nhìn nhận, công nhận chính thức về kinh tế chia sẻ là một mô hình kinh doanh hợp pháp.

    Thời báo Kinh tế Việt Nam xin giới thiệu ý kiến, chia sẻ của các chuyên gia, doanh nghiệp công nghệ và startup xung quanh việc làm thế nào đưa đề án này đi vào thực tế cuộc sống.

    Bước tiến quan trọng thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong thời đại số (TS. Phạm Anh Tuấn – Giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội, dịch giả cuốn sách The Digital Transformation Playbook – Cải tổ doanh nghiệp trong thời đại số)

    Đề án Thúc đẩy kinh tế chia sẻ là một bước tiến quan trọng thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và vận hành của các mô hình kinh doanh của thời đại kỹ thuật số.

    Quyết định được ban hành trong bối cảnh các mô hình kinh tế chia sẻ, chủ yếu có nguồn gốc từ nước ngoài đang phát triển một cách bùng nổ ở Việt Nam, tạo ra nhiều lợi ích cho cả bên cung cấp dịch vụ và sử dụng dịch vụ, đồng thời cũng tạo ra những sức ép vô cùng lớn cho các doanh nghiệp truyền thống ở nhiều ngành công nghiệp khác nhau.

    Vì sao các mô hình kinh tế chia sẻ ngày càng chiếm ưu thế? Thứ nhất, là do không phải đầu tư vào hạ tầng, tài sản cố định cồng kềnh và tốn kém, các công ty sử dụng mô hình kinh tế chia sẻ có thể tung ra các dịch vụ với mức giá thấp hơn nhiều so với các công ty truyền thống. Chính yếu tố tài sản gọn nhẹ này tạo lợi thế vô cùng lớn cho các công ty sử dụng mô hình kinh tế chia sẻ trong việc thu hút những khách hàng nhạy cảm về giá.

    Thứ hai, các công ty này thường xuất phát là các startup công nghệ, họ giỏi hơn các công ty truyền thống ở chỗ tìm đúng “điểm đau” của khách hàng để giải quyết, đó là những nhu cầu hay kỳ vọng mà công ty truyền thống chưa làm được. Họ cũng nhanh nhạy hơn và không sợ thất bại so với các công ty truyền thống trong ứng dụng công nghệ mới để tạo ra lợi ích và trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng.

    Thứ ba, các công ty kinh doanh theo mô hình kinh tế chia sẻ thường phát triển dựa trên mô hình nền tảng (platform) và phát huy tối đa các hiệu ứng mạng lưới sinh ra từ các nền tảng. Hiệu ứng mạng lưới quan trọng nhất chính là loại hiệu ứng gián tiếp giúp cho cơ sở người dùng ở một phía trên nền tảng ngày càng mở rộng khi số lượng người dùng ở phía khác gia tăng.

    Thứ tư, một lợi ích nổi trội của kinh tế chia sẻ là người dùng có thể chia sẻ chi phí với những người khác cùng sử dụng dịch vụ giống mình, như cùng đi trên một đoạn đường, cùng thuê một nhà, cùng thuê một bộ đầm… mà không cần phải quen biết nhau.

    Quyết định thể hiện sự tiến bộ về tư duy quản lý của Chính phủ, với việc cho phép áp dụng cơ chế sandbox để các mô hình kinh tế chia sẻ ở Việt Nam được “yên tâm” vận hành, và giúp các cơ quan quản lý nhà nước có đủ thời gian để học hỏi, thích nghi với bối cảnh kinh tế của thời kỳ 4.0.

    Những thách thức trong quản lý nhà nước đối với kinh tế chia sẻ như vấn đề chống thất thu thuế, vấn đề an toàn và chia sẻ dữ liệu người dùng đã được đề cập tới trong bản Đề án này.

    Gần đây ở Trung Quốc, nhiều startup đình đám, từng gọi được lượng vốn đầu tư lớn từ VC như ứng dụng chia sẻ xe đạp… đã phá sản, để lại hậu quả là hàng trăm ngàn chiếc xe đạp biến thành đống sắt rỉ trên phố. Yếu tố rủi ro của mô hình này và hậu quả có thể để lại cho người lao động, khách hàng, cho ngân sách nhà nước… dường như đã được ban soạn thảo Đề án tính đến, và đó chính là một trong những điểm “cộng” của Đề án.

    Liên tục theo dõi và đưa ra chính sách quản lý sát thực tế (Ông Nguyễn Thế Trung – Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ DTT)

    Sự ra đời của Đề án 999 có một ý nghĩa quan trọng, đó là sự chính danh của kinh tế chia sẻ – một loại hình mới của nền kinh tế. Từ đề án này sẽ cần phải bám sát thực tiễn triển khai cụ thể của hệ thống và các loại hình kinh tế này. Bởi thực tiễn trên thế giới cũng không có một mô thức nào đã chín muồi để quản lý các hình thức kinh tế chia sẻ. Không phải quốc gia nào cũng có cách đối xử với Uber hay Grab giống nhau.

    Vì vậy, lời khuyên của những người làm luật, làm chính sách cũng như quản lý chung trên thế giới, đó là luôn luôn cởi mở và đi theo sự phát triển của các mô hình này. Nếu mô hình kinh tế chia sẻ làm tốt và mang lại lợi ích và hiệu quả hơn cho xã hội, không ảnh hưởng đến các vấn đề nhạy cảm thì cần được khuyến khích.

    Ngược lại, nếu các mô hình sinh ra để chia sẻ nhưng không mang lại hiệu quả khác biệt thì cũng có thể đối xử một cách bình thường, giống như các ngành nghề khác.

    Để chính sách vào cuộc sống, Đề án đã giao các nhiệm vụ cụ thể cho các bộ ngành. Trên tinh thần đó, tôi cho rằng cần phải có thêm các kế hoạch thực hiện cụ thể đề án tại các đơn vị.

    Về mặt hỗ trợ vẫn sẽ xoay quanh vấn đề chính là công nghệ, dữ liệu và người dùng. Nếu đã thừa nhận kiểu mô hình kinh doanh này thì cần có những định hướng cụ thể hướng đến hiệu quả chung cho xã hội và người dùng. Trên cơ sở đó cần giúp người dùng nhận thức khi sử dụng các dịch vụ mới này.

    Đề án ra đời đã thừa nhận và chứng minh mô hình kinh tế này. Trên cơ sở đó sẽ sớm có sự thành công của các doanh nghiệp Việt Nam trên mô hình kinh tế chia sẻ. Sự thành công này sẽ tạo động lực thôi thúc các doanh nghiệp khác đầu tư vào công nghệ hoặc khởi nghiệp trong lĩnh vực kinh tế chia sẻ.

    Tôi cho rằng bất kỳ loại hình kinh tế nào cũng có những nhóm hoạt động hiệu quả và ngược lại. Mô hình kinh tế này có 1 tài sản, giá trị rất lớn, đó là dữ liệu khách hàng.

    Những doanh nghiệp đi vào lĩnh vực kinh tế chia sẻ ở Việt Nam đang tạo ra tài sản mới là dữ liệu. Do đó, chúng ta cần phải có cách nhìn từ góc độ chiến lược để có cách thức xử lý vấn đề dữ liệu này.

    Chúng ta cần làm rõ tài sản này thuộc về ai và nên được quản lý như thế nào, nên được đưa quyền sử dụng đó cho ai? Đây là những vấn đề đặt ra trong thực tiễn phát triển. Nếu quy định đóng quá thì doanh nghiệp sẽ khó phát triển ở Việt Nam nhưng nếu mở quá thì nguy cơ những tài sản này sẽ được hình thành cho những đơn vị không mong muốn và nằm ngoài tầm kiểm soát.

    Cần có chính sách tương thích (Ông Nguyễn Hòa Bình – Chủ tịch NextTech Group)

    Kinh tế chia sẻ là một mô hình kinh doanh rất có lợi cho nền kinh tế quốc gia, đang tạo ra nhiều giá trị gia tăng mang tính tối ưu và có lợi cho xã hội, hiện thực hóa chủ trương xã hội hóa nền kinh tế, giúp cho các cá nhân tự giải quyết công ăn việc làm cho mình…

    Tuy nhiên, do trước đây chưa có một hành lang pháp lý hoặc một sự nhìn nhận chính thức, chính thống về mô hình kinh tế chia sẻ nên vẫn còn những khó khăn vướng mắc. Các cơ quan quản lý vẫn còn lúng túng trong quản lý mô hình kinh tế mới này, hoặc vấp phải sự phản ứng của các doanh nghiệp kinh doanh truyền thống bị ảnh hưởng quyền lợi từ nền kinh tế chia sẻ.

    Đề án này là một bước ngoặt đầu tiên đánh dấu sự nhìn nhận, công nhận chính thức về kinh tế chia sẻ là một mô hình kinh doanh hợp pháp. Đây là sự động viên, là cơ sở pháp lý ban đầu tốt cho các doanh nghiệp kinh tế chia sẻ tại Việt Nam, để có thể có động lực tốt hơn trong thu hút đầu tư và có nhiều sáng tạo hơn nữa để tối ưu hóa nền kinh tế.

    Trên một sân chơi chung, kinh tế chia sẻ có thể ứng dụng được vào trong rất nhiều các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, từ chia sẻ xe (như Grab), chia sẻ tài chính (cho vay ngang hàng); chia sẻ kiến thức (nền tảng kết nối dạy học); chia sẻ nhân lực (giúp việc)…

    Chúng ta cần sự nhìn nhận nghiêm túc và phải đưa ra các chính sách tương ứng và tạo điều kiện cho kinh tế chia sẻ trong các lĩnh vực. Trước hết cần phải đưa ra các hành lang pháp lý hướng dẫn tạo điều kiện thuận lợi phát triển các mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam.

    Ở góc độ cạnh tranh giữa doanh nghiệp kinh tế chia sẻ của Việt Nam và nước ngoài, tôi cho rằng, trong quá trình thiết kế các chính sách cụ thể, các cơ quan quản lý cần phải để ý đến việc tạo điều kiện thuận lợi, ưu tiên cho các doanh nghiệp Việt Nam.

    Hoặc có liên doanh thì cũng ở phạm vi lượng cổ phần nhất định, giống như mô hình của các nước. Lý do là để người Việt Nam luôn cầm đằng chuôi, nắm được cái “hồn” của nền tảng kinh tế chia sẻ. Bất kể doanh nghiệp nào khi kiểm soát được một nền tảng kinh tế chia sẻ sẽ có tác động lớn đến nền kinh tế của Việt Nam, đến từng người tiêu dùng…

    Doanh nghiệp làm kinh tế chia sẻ đã an tâm hơn (Ông Nguyễn Văn Dũng – Nhà sáng lập, CEO Luxstay)

    Hiện chúng tôi vẫn đang là startup còn non trẻ, quyết định phê duyệt đề án có lẽ chưa có tác động nhiều tới hoạt động của chúng tôi trước mắt.

    Chúng tôi kỳ vọng, những quy định hay cấp phép với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này sẽ được giảm thiểu và các cơ chế quản lý rõ ràng sẽ sớm được ban hành để doanh nghiệp sớm có định hướng đi theo.

    Thị trường Việt Nam sẽ hấp dẫn hơn (Ông Nguyễn Hoàng Hải – Đồng sáng lập, CEO Canavi)

    Nếu Chính phủ thực sự có thể thúc đẩy kinh tế chia sẻ với sự kết hợp của các bộ ban ngành để cùng hỗ trợ cho sự phát triển của mô hình kinh doanh này thì thị trường Việt Nam sẽ ngày càng trở nên tiềm năng hơn trong mắt các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư ngoại hay các startup có quy mô toàn cầu hoạt động trong mô hình này. Đây là minh chứng cho sự đổi mới theo kịp thời đại của Chính phủ một đất nước.

    Mặc dù có những lo ngại về việc startup Việt sẽ phải cạnh tranh rất sòng phẳng với doanh nghiệp nước ngoài trong mô hình này thì tôi cho rằng, dù các quy định mới có ra sao, những doanh nghiệp có khả năng thích ứng tốt nhất sẽ tồn tại.

    Bất chấp thực tế mức độ cạnh tranh có thể cao hơn, nhưng nếu doanh nghiệp Việt áp dụng tốt mô hình kinh tế chia sẻ thì cũng được hưởng lợi khi dòng vốn của các quỹ đầu tư, công ty nước hướng vào thị trường Việt Nam và đổ vào công ty của họ. Đối với startup của chúng tôi thì đây là một tín hiệu tốt.

    Kinh tế chia sẻ đang phát triển nhanh tại Việt Nam (Ông Stephen Wyatt, Tổng giám đốc JLL Việt Nam)

    Nền kinh tế chia sẻ đang phát triển nhanh chóng tại Việt Nam, nhờ vào tỷ lệ dân số trẻ, am hiểu công nghệ và sẵn sàng trải nghiệm. Với dân số trên 10 triệu dân, các thành phố lớn như chúng tôi và Hà Nội sở hữu tiềm năng rất lớn để phát triển mô hình kinh tế này.

    Nhiều doanh nghiệp kinh doanh dựa trên mô hình chia sẻ đã đạt được những thành công nhất định như Grab (xe ôm/taxi công nghệ), AirBnB (chia sẻ nhà ở), Toong (chia sẻ không gian làm việc),…

    Quyết định của Chính phủ nhằm quản lý và hỗ trợ nền kinh tế chia sẻ là một tín hiệu đáng mừng cho cả doanh nghiệp lẫn người dùng, tạo động lực thúc đẩy tiềm năng sẵn có của Việt Nam.

    Chính phủ cần tăng cường hỗ trợ thúc đẩy văn hóa khởi nghiệp, giúp các công ty mới dễ dàng thâm nhập thị trường công nghệ. Chi phí từ đó sẽ giảm khi có nhiều nhà đầu tư mới tham gia vào thị trường trong nước. Thêm nữa, vì nền kinh tế chia sẻ hiện nay hoạt động đa phần thông qua các công cụ Internet, nên để mô hình này thật sự phát triển, Việt Nam cũng cần nâng cấp chất lượng kết nối mạng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Tế Chia Sẻ Con Đường Mới Dẫn Đến Tăng Trưởng Bền Vững
  • Kinh Tế Chia Sẻ: Liệu Lợi Ích Trước Mắt Có Đi Cùng Định Hướng Bền Vững?
  • Nền Kinh Tế Chia Sẻ: Lợi Ích Cho Các Chủ Đầu Tư Bất Động Sản
  • Thuyết Minh Về Cây Cao Su, Bài Văn Mẫu Về Cây Cao Su Ở Quê Em Đồng Nai, Bình Phước
  • Thuyết Minh Về Cây Cao Su Đầy Đủ Và Chi Tiết Nhất
  • Các Kiểu Quan Hệ Lợi Ích Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Thị Trường Xăng Dầu: Phải Vì Lợi Ích Của Nền Kinh Tế
  • Vai Trò Của Doanh Nghiệp Thương Mại Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Trách Nhiệm Xã Hội Của Cá Nhân Và Yêu Cầu Nâng Cao Trách Nhiệm Này Trong Điều Kiện Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tài Liệu Mối Quan Hệ Giữa Lợi Ích Cá Nhân Và Đạo Đức Xã Hội Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Lợi Ích Của Gà Đông Tảo Hưng Yên
  • Các Kiểu Quan Hệ Lợi ích Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn ở Việt Nam, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Vai Trò Của Nhà Nước Pháp Quyền Đối Với Kinh Tế Thị Trường Và Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội C, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Tiểu Luận Về Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Thông Tư Hướng Dẫn Sử Dụng Kinh Phí Thực Hiện Công Tác Y Tế Trong Các Trường, Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Pdf, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Vai Trò Của Pháp Luật Xhcn Đối Với Kinh Tế Và Chính Trị, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nhân Tố Quan Trọng Quyết Định Hiệu Quả Kinh Tế Hiện Nay, Tiểu Luận Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ N, Thực Trạng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Iệt Nam Vừa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ Biế, Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Quá Trình Đảng Chỉ Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trương Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Số 11-nq/tw Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Liên Hệ Với Những ưu Thế Của Nền Kinh Tế Thị Trường Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Của Việt Nam, Hãy Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình Thông Qua Một , Hãy Giải Thích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình, Lý Luận Hình Thái Kinh Tế – Xã Hội Với Việc Lựa Chọn Con Đường Xhcn ở Việt Nam, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam Chưa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ B, Tại Sao Phải Thống Nhất Nhận Thức Về Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Đảng Chỉ Đạo Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng X, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chỉ Nghĩa ở Việt Nam Bao Hàm Những Đặ Trưng Có Tính Phổ Biến Củ, Mối Quan Hệ Giữa Dân Chủ Xhcn Và Nhà Nước Xhcn, Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến , Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Hướng Dẫn Về Quản Lý Chất Lượng Đo Lường Trong Kinh Doanh Khí Dầu Mỏ Hóa Lỏng, Quan Điểm Lịch Sử Cụ Thể Trong Việc Hoạch Định Chính Sách Phát Triển Kinh Tế Việt Nam Qua Các Thời K, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin Về Việc Xây Dựng Nền Văn Hóa Xhcn Trong Cách Mạng Xã Hội Chủ , Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin Về Việc Xây Dựng Nền Văn Hóa Xhcn Trong Cách Mạng Xã Hội Chủ, Chuyên Đề 3 Quản Lí Giáo Dục Và Chính Sách Gd Trong Cơ Chế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghãi, Độc Quyền Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Giải Pháp Hoàn Thiện The Chế Gan Ket Tang Truong Kinh Kinh Tế, Tiểu Luận Vai Trò Của Kinh Tế Thị Trường Đối Với Việc Phát Triển Kinh Tế Xã Hội ở Việt Nam Hiện Nay, Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Bảo Hộ Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Đối Với Nhãn Hiệu Trong Kinh Tế Thị Trường, Thảo Kinh Tổ Tiên Trong Thánh Kinh, Kinh Tế Lượng Trong Phân Tích Và Dự Báo Kinh Tế Xã Hội, Yêu Cầu Đối Với Thông Tin Trong Quản Trị Kinh Doanh, Nội Quy Mẫu Trong Kinh Doanh Nhà Hàng Quán ăn, Phát Triển Thương Mại Điện Tử ở Việt Nam Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường ở Việt Nam Hiện Nay, Quan Niệm Không Đúng Về Kinh Tế Thị Trường, Quan Niệm Nào Không Đúng Về Kinh Tế Thị Trường, Nghiên Cứu Khoa Học Trong Quản Trị Kinh Doanh, Phương Pháp Kinh Tế Trong Quản Lý Nhà Nước, Thống Kê Trong Kinh Tế Và Kinh Doanh Neu, Sách Giáo Khoa Dạy Trong Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Tiểu Luận Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường ở Việt Nam H, Thầy Cô Hãy Chia Sẻ Kinh Nghiệm Giảng Dạy Để Thu Hút Hs Trong Các Tiết Học Atgt ỏ Trường, Hướng Dẫn ứng Xử Trong Kinh Doanh Của Textron, Lý Luận Về Các Phân Tích Môi Trường Kinh Doanh Quán, Tam Quốc Và Những Bí Quyết Trong Quản Lý Kinh Doanh, 3. Phương Hướng Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng Và Cơ Cấu Lại Nền Kinh Tế, Quan Điểm Chỉ Đạo Của Đảng Trong Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hóa, Tư Tưởng, Quản Trị Kinh Doanh Kinh Tế Quốc Dân, Vì Sao Phân Bổ Công Nghiệp Có Vai Trò Quan Trọng Thúc Đẩy Sự Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội, Sáng Kiến Kinh Nghiệm Trong Quản Lý Nhà Nước Về Chăn Nuôi, Định Luật 80/20 Trong Kinh Doanh, Ra Quyết Định Trong Kinh Doanh, Kinh Tế Thị Trường Và Các Quy Luật Kinh Tế, Quyết Định Bổ Nhiệm Vụ Trưởng Vụ Kinh Tế Đối Ngoại, Quan Điểm Cơ Bản Của Đảng Ta Về Phát Triển Kinh Tế Trong Giai Đoạn Hiện Nay Về, Hướng Dẫn Thực Hành Quản Trị Kinh Doanh, 9 Yếu Tố Quyết Định Điểm 10 Trong Kinh Doanh, Nếu Gdp Thực Tế Của Nền Kinh Tế Tăng Từ 2000 Tỷ Lên 2100 Tỷ, Thì Tỷ Lệ Tăng Trưởng Kinh Tế Của Quốc, Nếu Gdp Thực Tế Của Nền Kinh Tế Tăng Từ 2000 Tỷ Lên 2100 Tỷ, Thì Tỷ Lệ Tăng Trưởng Kinh Tế Của Quốc , Quyết Định Bổ Nhiệm Trưởng Phòng Kinh Doanh, Định Nghĩa Nào Sau Đây Về Tăng Trưởng Kinh Tế Là Không Đúng, Tại Sao Phân Bố Công Nghiệp Có Vai Trò Quan Trọng Thúc Đẩy Sự Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Trên Lạnh Th, Vì Sao Phân Bổ Công Nghiệp Có Vai Trò Quan Trọng Thúc Đẩy Sự Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Trên Lãnh T, Vì Sao Phân Bổ Công Nghiệp Có Vai Trò Quan Trọng Thúc Đẩy Sự Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Trên Lãnh T, Giáo Trình Giao Tiếp Trong Kinh Doanh Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, Phan Tich Dinh Luong Trong Kinh Doanh, Kinh Tế Và Quản Trị Kinh Doanh, Hãy Kể Tên 6 Trường Thcs ở Quận Ninh Kiều Mà Em Biết, Cơ Sở Lý Luận Về Thông Tin, Dự Báo Và Quyết Định Quản Trị Kinh Doanh, Mẩu Số 02/uq-cn( Dành Cho Các Hộ, Thành Viên Trong Gia Đình,hộ Kinh Doanh,tổ Chức Khac Không Co Tư C, Mẩu Số 02/uq-cn( Dành Cho Các Hộ, Thành Viên Trong Gia Đình,hộ Kinh Doanh,tổ Chức Khac Không Co Tư C, Quy Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Dầu Khí, Kinh Doanh Xăng Dầu Và Khí, Tiểu Luận Tình Huống Trong Quản Ly Môi Trường,

    Các Kiểu Quan Hệ Lợi ích Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn ở Việt Nam, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Vai Trò Của Nhà Nước Pháp Quyền Đối Với Kinh Tế Thị Trường Và Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội C, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Tiểu Luận Về Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Thông Tư Hướng Dẫn Sử Dụng Kinh Phí Thực Hiện Công Tác Y Tế Trong Các Trường, Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Pdf, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Vai Trò Của Pháp Luật Xhcn Đối Với Kinh Tế Và Chính Trị, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nhân Tố Quan Trọng Quyết Định Hiệu Quả Kinh Tế Hiện Nay, Tiểu Luận Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ N, Thực Trạng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Iệt Nam Vừa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ Biế, Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Quá Trình Đảng Chỉ Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trương Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Số 11-nq/tw Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Liên Hệ Với Những ưu Thế Của Nền Kinh Tế Thị Trường Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Của Việt Nam, Hãy Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình Thông Qua Một , Hãy Giải Thích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình, Lý Luận Hình Thái Kinh Tế – Xã Hội Với Việc Lựa Chọn Con Đường Xhcn ở Việt Nam, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam Chưa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ B, Tại Sao Phải Thống Nhất Nhận Thức Về Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Đảng Chỉ Đạo Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng X, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chỉ Nghĩa ở Việt Nam Bao Hàm Những Đặ Trưng Có Tính Phổ Biến Củ, Mối Quan Hệ Giữa Dân Chủ Xhcn Và Nhà Nước Xhcn, Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến , Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Hướng Dẫn Về Quản Lý Chất Lượng Đo Lường Trong Kinh Doanh Khí Dầu Mỏ Hóa Lỏng, Quan Điểm Lịch Sử Cụ Thể Trong Việc Hoạch Định Chính Sách Phát Triển Kinh Tế Việt Nam Qua Các Thời K, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin Về Việc Xây Dựng Nền Văn Hóa Xhcn Trong Cách Mạng Xã Hội Chủ , Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin Về Việc Xây Dựng Nền Văn Hóa Xhcn Trong Cách Mạng Xã Hội Chủ, Chuyên Đề 3 Quản Lí Giáo Dục Và Chính Sách Gd Trong Cơ Chế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghãi,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Lợi Ích Của Việc Tập Thể Dục Đối Với Sức Khỏe
  • Nhảy Aerobic Giảm Cân: Không Những Khỏe Đẹp Mà Còn Xả Stress
  • Gợi Ý Cách Chọn Nhạc Nhảy Aerobic Thiếu Nhi
  • Bóc Tem Những Lợi Ích Của Các Bài Nhảy Aerobic Đối Với Trẻ Em
  • Lợi Ích Của Việc Nhảy Aerobic Thiếu Nhi Tiểu Học Dưới Nước
  • Đặc Điểm Của Nền Kinh Tế Thị Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Đặc Điểm, Tiêu Chí Cơ Bản, Phổ Biến Của Kinh Tế Thị Trường Hiện Đại Trong Điều Kiện Toàn Cầu Hóa
  • Đặc Điểm Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Giải Địa Lý Lớp 7 Bài 30: Kinh Tế Châu Phi
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Kinh Doanh Của Nhà Hàng
  • Khái Niệm Nhà Hàng Là Gì? Đặc Điểm Và Cách Phân Loại Nhà Hàng
  • Thị trường.

    Thị trường là nơi mua bán trao đổi các loại hàng hoá; nói cách khác đây là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu. Thị trường cũng là nơi tập trung nhiều nhất các mâu thuẫn của nền kinh tế, là nơi khởi điểm và kết thúc của quá trình kinh doanh.

    Trong thị trường, giá cả là phạm trù trung tâm, là bàn tay vô hình điều tiết và kích thích nền sản xuất của xã hội. Thông qua giá cả thị trường, thị trường thực hiện các chức năng điều tiết và kích thích của mình trong đó cung- cầu là hai phạm trù kinh tế lớn bao trùm lên thị trường, quan hệ cung- cầu trên thị trường đã quyết định giá cả trên thị trường.

    Kinh tế thị trường.

    Khái niệm kinh tế thị trường.

    Cùng với lịch sử phát triển của loài người thì kinh tế xã hội cũng có bước tiến phù hợp. Hình thái kinh tế chuyển từ kinh tế tự nhiên lên hình thái kinh tế cao hơn đó là kinh tế hàng hoá. Kinh tế hàng hoá ra đời đánh dấu sự phát triển của nền kinh tế xã hội, tới nay nó đã phát triển và đạt tới trình độ cao đó là nền kinh tế thị trường.

    Kinh tế thị trường là kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà trong đó các quan hệ kinh tế, phân phối sản phẩm , lợi ích đều do các quy luật của thị trường điều tiết, chi phối.

    Kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường mà cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố quan hệ cơ bản, vận động dưới sự chi phối của quy luật thị trường trong môi trường cạnh tranh nhằm mục đích sinh lợi.

    Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường.

    Thị trường và cơ chế thị trường là yếu tố khách quan, từng doanh nghiệp không thể làm thay đổi thị trường mà họ phải tiếp cận và tuân theo thị trường. Qua thị trường doanh nghiệp có thể tự đánh giá lại mình và biết được mình làm ăn hiệu quả không.

    Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp biểu hiện qua việc mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường. Thái độ cư xử của từng thành viên tham gia thị trường là hướng tìm kiếm lợi ích của mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường.

    Khách hàng giữ vị trí trung tâm trong nền kinh tế thị trường; quyết định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải tìm mọi cách để thu hút thoả mãn nhu cầu của khách hàng với phương trâm “khách hàng là thượng đế”.

    Tất cả các mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế được tiền tệ hoá. Tiền tệ trở thành thước đo hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Lợi nhuận là yếu tố trung tâm, là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Thông qua các quy luật kinh tế đặc biệt là sự linh hoạt trong giá cả nền kinh tế thị trường luôn duy trì sự cân bằng giữa cung- cầu của các loại hàng hoá, dịch vụ, hạn chế xảy ra khan hiếm hàng hoá.

    Vai trò của kinh tế thị trường.

    Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, mối quan hệ giữa mục tiêu tăng cường tự do cá nhân và mục tiêu công bằng xã hội, giữa đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống. Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế, các doanh nghiệp và người tiêu dùng lựa chọn lĩnh vực hoạt động, định ra các phương án kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao.

    Trong nền kinh tế thị trường, mỗi cá nhân, mỗi đơn vị kinh tế được tự do lựa chọn sản xuất kinh doanh nằm trong khuôn khổ pháp luật quy định.

    Qua đó ta thấy nền kinh tế thị trường có khả năng tập hợp được các loại hoạt động, trí tuệ và tiềm lực của hàng loạt con người nhằm hướng tới lợi ích chung của xã hội đó là: thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng năng xuất lao động, tăng hiệu quả kinh tế. Nhưng nền kinh tế thị trường không phải là một hệ thống được tổ chức hài hoà mà trong hệ thống đó cũng chứa đựng đầy mâu thuẫn phức tạp. Vì vậy, để khắc phục được và hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường cần thiết phải có sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế thị trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Địa Lí 8 Bài 31: Đặc Điểm Khí Hậu Việt Nam
  • Bài 31. Đặc Điểm Khí Hậu Việt Nam (Địa Lý 8)
  • Giải Địa Lý Lớp 8 Bài 31: Đặc Điểm Khí Hậu Việt Nam
  • Bài 31 : Đặc Điểm Khí Hậu Việt Nam
  • Cùng Tìm Hiểu Gà Jap Là Gà Gì? Gà Jap Thầy Khùng Là Như Nào ?
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100