Top 17 # Xem Nhiều Nhất Lợi Ích Của Nền Kinh Tế Chia Sẻ / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Nền Kinh Tế Chia Sẻ: Lợi Ích Cho Các Chủ Đầu Tư Bất Động Sản / 2023

Mô hình kinh tế chia sẻ vào Việt Nam từ năm 2016, khi cơ quan quản lý nhà nước cho phép thí điểm mô hình Uber – ứng dụng gọi xe công nghệ tại 5 TP lớn. Tiếp đó, lần lượt là Grab, Go-Việt, Bee, FastGo xuất hiện đã cung cấp các dịch vụ taxi, “xe ôm” công nghệ, giao đồ ăn… Việc này không chỉ tạo sự tiện lợi, mà còn mang đến việc làm, thu nhập và góp phần làm thay đổi thói quen tiêu dùng, sinh hoạt của người dân.

Trước đó vào năm 2007, mô hình chia sẻ căn hộ dành cho những vị khách lạ đến ở chung và nấu ăn trước tình trạng thuê nhà quá đắt đỏ tại San Francisco (Mỹ), được gọi là Airbnb ra đời. Sau chưa đầy 9 năm, từ ý tưởng chia sẻ căn hộ, đã hình thành nên một doanh nghiệp khổng lồ, được định giá 31 tỷ USD trong năm 2017, khiến ngành công nghiệp khách sạn truyền thống trên toàn cầu đều phải lo lắng.

Đây là những nền tảng đầu tiên của “nền kinh tế chia sẻ”, mô hình đã trở thành xu thế mới và mang lại nguồn lợi tài chính khổng lồ, cũng như mang lại nhiều tiện ích dịch vụ mới cho xã hội.

Theo KS Trần Văn Quang – Hội Công nghệ thông tin và phần mềm Việt Nam, nền kinh tế chia sẻ đang phát triển ngày càng lớn mạnh hơn trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0, với sự kết nối của internet, đã làm thay đổi toàn bộ tư duy sử dụng dịch vụ của con người.

Nhờ vào việc chia sẻ những tài nguyên sẵn có bằng các ứng dụng công nghệ, cùng những khoản lợi nhuận khổng lồ đem lại cho nhà cung ứng dịch vụ lẫn người cho thuê và sử dụng tài nguyên, đã khiến mô hình kinh doanh này nhanh chóng phát triển lan rộng toàn thế giới. Theo nghiên cứu của Công ty Kiểm toán PricewaterhouseCoopers (PwC), ước tính doanh thu toàn cầu từ các công ty cung cấp ứng dụng nền tảng kinh doanh chia sẻ sẽ đạt tới 335 tỷ USD vào năm 2025 so với doanh thu năm 2014 mới khoảng 15 tỷ USD.

“Điều quan trọng hơn, khi kinh tế chia sẻ phát triển tạo thêm nhiều việc làm mới, giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động với mức thu nhập ổn định. Kinh tế chia sẻ không chỉ là sự tương tác giữa người bán – người mua, mà còn mang lại lợi ích cho cả những người đưa hàng” – KS Trần Văn Quang cho biết thêm.

Kinh tế chia sẻ bao trùm thị trường BĐS

Các nhà đầu tư BĐS chủ yếu sẽ quan tâm đến việc chia sẻ có tính phí. Tính linh hoạt vẫn được cho là một lợi ích cho người sử dụng, bởi người dân cần được cung cấp các dịch vụ, đổi lại nhà đầu tư sẽ thu được lợi nhuận cao hơn. Các doanh nghiệp thì sẽ tính đến bài toán cung cấp dịch vụ không gian làm việc chung của dự án, một phần của một tòa nhà có thể được sử dụng làm văn phòng linh hoạt, nhưng bản thân diện tích linh hoạt này cũng có thể được điều chỉnh linh hoạt, vì vậy mà các tòa nhà có thể thích ứng dễ dàng hơn với nhu cầu của thị trường.

Trưởng bộ phận Nghiên cứu châu Á Thái Bình Dương của SavillsSimon Smith cho biết, Tối đa hóa doanh thu là mục tiêu của mọi doanh nghiệp và nền kinh tế chia sẻ cho phép chủ nhà gia tăng thu nhập từ cùng một không gian.

Vì vậy, các cửa hàng pop-up có thể đem đến một làn gió mới và tăng doanh thu cho trung tâm thương mại, nhưng các cửa hàng này cũng có thể xuất hiện trong các văn phòng, hay khách sạn và biến mất khi sức hút đã giảm dần hoặc chủ nhà tìm được cách sử dụng không gian đó hiệu quả hơn.

“Với cửa hàng tại văn phòng, sự kiện tại trung tâm mua sắm và khách sạn trong gia đình, rõ ràng rằng nền kinh tế chia sẻ đang xóa nhòa ranh giới với các phân khúc BĐS. Một nhiệm vụ quan trọng đối với các nhóm vận động hành lang trong lĩnh vực BĐS là cập nhật các mô hình BĐS mới với các cơ quan quy hoạch (thường thiếu nhanh nhạy hơn thị trường), nếu không thì thị trường BĐS sẽ không thể tận dụng triệt để được những lợi ích của mô hình kinh tế chia sẻ này” – ông Simon Smith nói.

Theo đánh giá của các chuyên gia, hoạt động kinh doanh BĐS với sự đề cao tính truyền thống và tương tác cá nhân giữa người bán với người mua, tưởng chừng sẽ khó có thể bị tác động bởi “kinh tế chia sẻ”. Nhưng trên thực tế, nó lại được cập nhật một cách thường xuyên và liên tục, đang bị ảnh hưởng tương đối lớn và ngày càng bao trùm toàn thị trường.

Theo chuyên gia nghiên cứu thị trường (Hiệp hội BĐS Việt Nam) Vũ Tuấn Trường, việc khách hàng chủ yếu tiếp cận thông tin qua internet, khiến cho việc chào bán sản phẩm BĐS không chỉ là “độc quyền” của riêng cá nhân, hay sàn giao dịch nào, mà là cả cộng đồng trên thị trường. Trong đó, người bán cũng có thể đồng thời là người mua và ngược lại, người mua đồng thời cũng là người bán.

“Kinh tế chia sẻ mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia, khách hàng có thể tiếp cận được nguồn hàng lớn, thông tin về nguồn hàng, thông tin về chủ đầu tư, đơn vị phân phối, tìm hiểu năng lực của chủ đầu tư, tính pháp lý của sản phẩm… thậm chí khách hàng còn có thể trở thành người môi giới trên chính sản phẩm của mình” – ông Trường cho hay.

Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, để đảm bảo sự công bằng cho cho các bên tham gia và hoạt động “kinh tế chia sẻ” thì cần phải thiết lập một khuôn khổ pháp lý cho mô hình kinh tế chia sẻ, phù hợp với sự phát triển của thị trường đồng thời giúp cơ quan chức năng dễ dàng trong việc quản lý, tránh thất thoát nguồn thu ngân sách Nhà nước.

Lợi Ích Của Nền Kinh Tế Tuần Hoàn / 2023

I. KHÁI QUÁT CHUNG

Các vấn đề môi trường chủ yếu là vấn đề kinh tế. Dù rằng đây có thể là một cách nói cường điệu nhưng thường khó mà tách rời kinh tế ra khỏi các vấn đề hay các mối bận tâm về môi trường. Về cơ bản, kinh tế nói đến sự phân phối tài nguyên. Nó mô tả cái cách mà chúng ta đánh giá hàng hóa và dịch vụ. Chúng ta sẵn sàng trả tiền cho một thứ hay một dịch vụ mà chúng ta đánh giá cao và chúng ta không muốn trả tiền cho một thứ mà chúng ta nghĩ là đang có đầy rẫy. Chẳng hạn chúng ta sẵn sàng trả tiền cho một nơi ấm áp, an toàn để sống nhưng chúng ta thấy khó chịu khi có ai đề nghị chúng ta trả tiền cho không khí chúng ta đang thở.

Về mặt xã hội, mục tiêu của chúng ta là tìm kiếm một sự tăng trưởng kinh tế lâu dài để tạo ra việc làm đồng thời vẫn duy trì và cải thiện môi trường sống. Để đạt mục tiêu ấy có một chiến lược môi trường để sửa chữa những tổn hại cho môi trường trong quá khứ, giúp cho chúng ta chuyển đổi từ sự xử lý chất thải sang việc phòng ngừa ô nhiễm và sử dụng các tài nguyên đang có một cách hữu hiệu hơn.

Một món hàng hay dịch vụ có thể được định nghĩa là một thứ gì khan hiếm. Mỗi khi mức cầu đối với một vật gì vượt quá mức cung thì có sự khan hiếm, và chúng ta đang sống trong một thế giới khan hiếm chung. Tài nguyên là thứ góp phần vào việc làm cho người tiêu dung có được lượng hang hóa và dịch vụ mà họ mong muốn. Cung là lượng hang hóa hay dịch vụ có thể mua bán được. Cầu là lượng sản phẩm mà người tiêu dùng muốn có và có thể mua được với những giá cả khác nhau. Trong kinh tế, cung tùy thuộc vào: * Nguyên liệu có sẵn để làm ra hàng hóa hay dịch vụ bằng sự sử dụng công nghệ hiện đại. * Khối lượng các nguyên liệu sử dụng được. * Chi phí để lấy, vận chuyển và chế biến nguyên liệu thô. * Mức độ cạnh tranh thứ nguyên liệu ấy giữa các người sử dụng. * Tính khả thi và chi phí của việc tái chế nguyên liệu đã dung rồi. * Các cơ cấu và định chế xã hội có thể có một ảnh hưởng (xem hình 1).

Tương quan giữa mức cung cầu của một hàng hóa hay dịch vụ và giá cả của nó được gọi là khúc tuyến cung/cầu (xem hình 1). Giá của một sản phẩm hay dịch vụ phản ánh cường độ của nhu cầu đối với một hàng hóa và sự sẵn sàng có của hàng hóa ấy, khi cầu vượt quá cung thì giá cả tang them, sự tăng khiến con người ta tìm thứ hàng hóa khác thay thế hoặc quyết định không dung hàng hóa hay dịch vụ ấy nữa, điều này làm cho mức cầu giảm xuống.

Khi sự cung cấp một món hàng vượt quá mức cầu, người sản xuất phải hạ giá xuống để bán cho hết sản phẩm và cuối cùng một số nhà sản xuất phải bỏ nghề. Mỉa mai là điều này xảy ra cho các nông dân khi họ được mùa liên tiếp nhiều năm. Sản lượng nhiều nên giá hạ khiến một số nông dân bỏ nghề.

3. Các công cụ dựa vào thị trường:

Với sự quan tâm ngày một nhiều hơn đến việc bảo vệ môi trường trong ba thập kỷ vừa qua, những người đề ra chính sách đang xem xét những phương pháp mới để làm giảm hư hại cho môi trường. Một lĩnh vực được chú ý ngày một nhiều là các công cụ dựa vào thị trường (MBI: Market Based Insiruments). MBI là một biện pháp thay thế cho cơ chế ra lệnh và giám sát,vì nó dung sức mạnh kinh tế và sự khôn khéo của nhà kinh doanh để đạt tới một mức bảo vệ môi trường cao với một chi phí thấp. Thay vì bắt các xí nghiệp phải hoạt động như thế nào, MBI động viên bằng cách gây tốn kém cho các hoạt động gây ô nhiễm… Chính sách này cho phép các xí nghiệp tự mình quyết định cách tốt nhất để đạt được mức độ bảo vệ môi trường cần thiết. Ngày nay hầu hết các chính sách dựa vào thị trường này đã được đưa vào áp dụng ở các quốc gia phát triển và một số quốc gia đang phát triển nhanh gần như trong tất cả mọi trường hợp, các chính sách ấy đã được đưa vào dạng hỗ trợ chứ không phải thay thế cho cái quy định từ xưa của nhà nước.

Áp dụng chính sách dựa vào thị trường không phải là ở bất cứ các quốc gia nào. Để thành công, các quốc gia cần có một hệ thống thị trường năng động các điều kiện kinh tế vĩ mô vững vàng, sự ổn định về chính trị và định chế và sự phát triển nhân quyền đầy đủ. Ở các quốc gia đang phát triển, với những mảng lớn còn bỏ ngỏ thì các chính sách khác – nâng cao công suát, cải cách đường lối toàn bộ đầu tư vào y tế giáo dục, sự tham gia của cộng đồng – lúc đầu có thể hiệu quả hơn là cơ chế dựa vào thị trường.

Tuy nhiên chính sách dựa vào thị trường có thể cho ta nhiều khả năng đáng kể để đạt được mục tiêu về môi trường một cách hiệu quả hơn và gây ít tốn kém hơn cho nhà nước và doanh nghiệp – chính sách này cũng giúp cho nhà nước có cơ hội làm chủ được đà tăng trưởng kinh tế đồng thời dẫn dắt nó đến một địa vị vững bền hơn.

Công cụ dựa vào thị trường nhìn nhận sự kiện là các tài nguyên của môi trường thường bị đánh giá thấp. Thứ nhất các khoản trợ cấp (về điện, nước, nhiên liệu hóa thạch, vận tải đường bộ, nông nghiệp) lạm sự khuyến khích người ta lạm dụng các tài nguyên: giảm hoặc bỏ các trợ cấp là khieensn gười ta sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả hơn. Thứ hai, giá cả thị trường chỉ phản ánh các chi phí cá biệt thôi, không phản ánh các thiệt hại ngoại ứng do ô nhiễm và khai thác các tài nguyên gây ra, thay vì những chỉ thị cứng nhắc, từ trên truyền xuống, chính sách công cụ dựa vào thị trường, sử dụng các báo hiệu của giá cả và đểcho nhà doanh nghiệp tự do lựa chọn giải pháp hiệu quả nhất về mặt kinh tế cho họ. Các MBI có thể được xếp thành năm nhóm cơ bản:

a) Các chương trình thông tin:

Các chương trình này dựa vào sự chọn lựa của người tiêu thụ để làm giảm các phiền phức về môi trường thông tin về hậu quả trên môi trường hay về các rủi ro của sự chọn lựa sẽ khiến cho người tiêu dung thấy rằng tốt hơn là nên thay đổi quyết định của mình. Các vị dụ gồm kết quả xét nghiệm carbon hoặc chì, hoặc sự dán nhãn trên thuốc trừ sâu. Một loại chương trình khác như bản kiểm kê về phóng thích chất độc ở Hoa Kỳ, tiết lộ thông tin về sự phóng thích các chất gây ô nhiễm vào môi trường. Điều này kích thích các công ty cải thiện thành tích môi trường của mình để làm đẹp hình ảnh của mình đối với công chúng.

Chi phí phải chịu trong lĩnh vực tư nhân hoặc nhà nước để ngăn ngừa, toàn bộ hay một phần sự ô nhiễm có thể xảy ra từ một hoạt động sản xuất hay tiêu thụ nào đó. Chi phí mà chính quyền địa phương phải chịu để xử lý nước cống của mình trước khi cho đổ vào sông là một chi phí phòng ngừa ô nhiễm, đó cũng là chi phí phải chịu để xử lý nước cống của mình trước khi cho đổ vào sông là một chi phí phòng ngừa ô nhiễm không khí khi lắp đặt một thiết bị mới.

Chi phí do ô nhiễm: có thể được phân ra làm hai loại: – Sự tiêu tốn của cá nhân hay tập thể để tránh sự thiệt hại ô nhiễm một khi sự ô nhiễm đã xảy ra. – Sự gia tang chi phí y tế và sự không sử dụng được tài nguyên của cộng đồng do sự ô nhiễm.

Sự tốn kém lớn để chọn ra các vụ tràn dầu, như vụ tràn dầu của tàu Exxon Valdez và do cuộc chiến vùng Vịnh, là một ví dụ về chi phí do ô nhiễm, cũng giống như nguy hiểm gia tang đối với sức khoẻ con người do ăn các hải sản bị nhiễm dầu. Vào giữa những năm 1990, nhiều giải pháp mới về kinh tế đã được áp dụng để vừa nội bộ hóa các chi phí ngoại ứng vừa phòng ngừa ô nhiễm.

c) Rắc rối của tài nguyên sở hữu chung

Các nhà kinh tế đã nói rằng khi mọi người cùng làm chủ một tài nguyên thì sẽ có khuynh hướng khai thác quá mức và lạm dụng tài nguyên ấy. Như vậy sự làm chủ của nhiều người nên được gọi là sự vô chủ.

Chẳng hạn sự làm chủ chung không khí khiến cho các xí nghiệp hoặc tư nhân không phải tốn tiền gì khi họ hủy chất thải bằng cách đem đốt đi. Chi phí ô nhiễm không khí không được thể hiện trong kinh tế của người gây ô nhiễm nhưng trở thành một chi phí ngoại ứng cho xã hội. Sự sở hữu chung biển cả khiến cho nhiều thành phố không phải tốn kém gì để dùng đại dương làm nơi đổ rác của họ.

d) Tương tự, không có riêng cái quyền săn bắt cá voi. Quốc gia nào chậm trễ trong việc chiếm lấy phần mình thì sẽ bị quốc gia khác giành mất. Vì thế người ta đua nhau săn bắt cá voi quá mức, gây ra mối đe dọa cho sự sống sót của giống loài này. Điều gì diễn ra cho giống cá voi trong khuôn khổ quốc tế thì cũng diễn ra cho các giống loài khác trong phạm vi một quốc gia. Nên chú ý rằng các giống loài bị đe dọa là những thú hoang không được thuần hóa; sự sống sót của các đàn thú thuộc sở hữu tư nhân thì không phải là điều đáng lo.

e) Sau hết, sự sở hữu chung các tài nguyên trên đất như công viên và đường phố là nguyên nhân của nhiều phiền phức khác về môi trường. Những người xả rác nơi công viên thì lại thường không đổ rác trên miếng đất của mình. Sự thiếu chủ quyền rõ rệt đối với những tài nguyên thuộc sở hữu chung này giải thích khá nhiều cho điều mà kinh tế gia John Kenneth Galbraith gọi là “sự bẩn thỉu công cộng giữa sự sung túc tư nhân”.

II. HOẠT ĐỘNG KINH TẾ VÀ THẾ GIỚI VẬT LÝ SINH HỌC

Theo hầu hết các nhà khoa học tự nhiên, những khủng hoảng hiện nay như mất đi sự đa dạng sinh học, sự thay đổi khí hậu và nhiều vấn đề về môi trường khác là những triệu chứng của một sự mất cân bằng giữa hệ thống kinh tế xã hội và thế giới tự nhiên.

Một trong những hậu quả nghiêm trọng nhất của tác động ngày một nhiều của con người trên thiên nhiên là sự mất đi sự dạng sinh học. Sự đa dạng sinh học được cho là có ảnh hưởng trên sự ổn định của các hệ sinh thái và trên khả năng đối phó với các khủng hoảng. Trong lịch sử 570 triệu năm của phức hệ sống trên trái đất đã từng có nhiều sự cố tuyệt chủng quan trọng. Sự mất đi sự đa dang jsinh học sau những thời kỳ tuyệt chủng lớn được tính là từ 20 đến hơn 90%. Sự mất đi sự đa dạng sinh học do hoạt động của con người gây ra chỉ tính từ khi có cuộc Cách mạng công nghiệp là khoảng từ 10 đến 20%. Nếu các xu hướng hiện nay cứ tiếp tục thì sự mất mát ấy có thể lên đến 50% vào cuối thế kỷ 21. Cứ sau mỗi sự cố tuyệt chủng, phải mất từ 20 triệu đến 100 triệu năm thì sự đa dạng sinh thái mới lấy lại tầm mức trước đó, tức là một khoảng thời gian từ 100 đến 500 lần dài hơn lịch sử 200.000 năm của Homo sapiens.

Nguyên nhân quan trọng duy nhất của sự mất đa dạng sinh thái là sự phá hủy nơi cư ngụ, tức là sự phá đi mảng sinh vật, các hoạt động hỗ trợ cho sự sống của từng chủng loại. Sự nhìn nhận rằng mỗi chủng loại được hỗ trợ với các chủng loại khác bên trong hệ sinh thái là điều xa lạ đối với cái cách mà giới kinh doanh nhìn thế giới.

Ví dụ về sự đa dạng sinh học minh họa cho cơ cấu đầy mâu thuẫn của kinh tế học và sinh thái học. Các quyết định của thị trường không tính đến khung cảnh sống của một giống loài hoặc những tương liên giữa chất lượng của tài nguyên và các chức năng của hệ sinh thái. Chẳng hạn giá trị của đất đai dùng để nuôi bò lấy thịt được tính theo đầu ra mà miếng đất đem lại. Thế nhưng một thời gian dài trước khi đầu ra và giá trị sử dụng của miếng đất suy giảm thì sự đa dạng của các loại rau cỏ, các vi sinh trong đất hay chất lượng mạch nước ngầm có thể đã bị ảnh hưởng bởi sự nuôi bò lấy thịt cao độ này. Bao lâu mà lợi tức còn được duy trì, thì những thay đổi này không được thị trường để tâm đến và chẳng quan trọng gì đối với quyết định sử dụng đất. Nên nói rõ rằng ở Zimbabwe và các quốc gia Phi châu khác một số chủ trại chăn nuôi ngày nay đã kiếm tiền bằng cách nuôi những loại thú hoang bản địa để phục vụ cho du lịch sinh thái và họ thu lợi nhiều hơn là nuôi bò lấy thịt.

Không gian và địa điểm là một vấn đề khác nữa. Đối với các hệ sinh thái, địa điểm vô cùng quan trọng. Lấy mạch nước ngầm làm ví dụ. Chất lượng đất, các điều kiện thủy địa lý, lượng mưa trong vùng, các loại cây sống trong vùng và mất mát do sự bốc hơi, sự thoát hơi nước của cây cối, và dòng chảy của mạc nước ngầm, tất cả góp phần tạo nên tầm cỡ và vị trí của nguồn dự trù nước ngầm. Các đặc điểm này không thể đơn giản mang từ nơi này sang nơi khác. Đối với các hoạt động kinh tế, địa điểm càng ngày càng ít quan trọng.

Một khác biệt nữa giữa kinh tế và sinh thái là chúng được đo lường bằng những đơn vị khác nhau. Đơn vị đo lường thống nhất của kinh tế thị trường là tiền. Sự tiến bộ được đo bằng đơn vị tiền tệ mà mọi người đều sử dụng và hiểu rõ ít nhiều. Các hệ vật lý sinh học được đo bằng các đơn vị vật lý như calori năng lượng, sự hấp thụ dioxit carbon; centimet lượng mưa và phần triệu nhiễm độc nitrat. Nếu chỉ chú trọng đến giá trị kinh tế của tài nguyên mà không biết đến sự lành mạnh vật lý sinh học thì có thể che lấp những thay đổi quan trọng trong chất lượng hoặc chức năng của môi trường.

III. KINH TẾ MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN

Như đã nói trước đây, “vốn liếng thiên nhiên” của quả đất, mà loài người lệ thuộc vào đây đẻ có thức ăn, sự an toàn, dược phẩm cùng nhiều sản phẩm công nghiệp khác, chính là sự đa dạng sinh học của nó. Phần lớn sự đa dạng này là ở tại các quốc gia đang phát triển, nhiều quốc gia túng thiếu về mặt kinh tế buộc phải vay tiền trong ngân hàng của các quốc gia phát triển.

Vì món nợ của nước ngoài quá nhiều nên nhiều quốc gia đang phát triển không còn có chọn lựa nào khác hơn là khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng mình. Vào năm 2001 số nợ cua các quốc gia đang phát triển đã vượt quá 1.900 tỉ đô la Mỹ, một con số bằng một nửa tổng sản lượng quốc gia đang phát triển phải đàu tư vào các dự án có tiền lãi an toàn và ngắn hạn cùng các chương trình thực sự cần thiết cho sự sống còn trước mắt. Các tác động trên môi trường thường bj xem nhẹ, người ta nghĩ rằng các nước đang mắc nợ trầm trọng không thể chú ý đến các chi phí cho môi trường một khi họ chưa giải quyết được các khó khăn về môi trường có thể “sửa chữa” một khi đất nước đã đạt tới một mức thu nhập cao hơn, nhưng nó không biết là mọi người ngày càng nhận thấy rằng các tác động trên môi trường thường gây ra những vấn đề quốc tế. Nhiều quốc gia dưới sức ép của sự khủng hoảng nợ nần bị buộc phải khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên của mình thay vì xử lý chúng một cách bền vững.

Một phương pháp mới để giúp giải quyết các khủng hoảng nợ của một quốc gia được gọi là sự “đổi nợ lấy thiên nhiên”. Đổi nợ lấy thiên nhiên là một cơ chế mới để giải quyết vấn đề nợ nần trong khi đó lại khuyến khích đầu tư vào việc bảo tồn và phát triển bền vững. Sự đổi chác này cho phép người ta mua nợ với sự giảm giá nhưng nợ này được chuộc lại với giá cao hơn bằng tiền địa phương, để sử dụng vào các dự án bảo tồn và phát triển bền vững. Cơ chế đổi nợ lấy thiên nhiên ra đời năm 1987, khi một tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức Bảo Tồn Quốc tế, mua 650.000 đô la tiền nợ ngoại tệ của Bolivia để đổi lấy lời hứa của Bolivia là xây dựng một công viên quốc gia. Đến năm 2000, có ít nhất 16 quốc gia mắc nợ – tại vùng biển Caribe, Châu Phi, Đông Âu và châu Mỹ La Tinh – đã giải quyết tương tự với các tổ chức có thẩm quyền và phi chính phủ. Năm 2000, gần 135 triệu đô la tiền nợ trên khắp thế giới đã được mua với giá khoảng 28 triệu đô la nhưng được chuộc lại với giá tương đương 72 triệu đô la. Tiền này được dùng để lập các khu bảo tồn sinh quyển, các công viên quốc gia triển khai chương trình bảo vệ vùng thủy phân, lập bảng kiểm kê các giống loài đang lâm nguy và thực hiện việc giáo dục môi trường.

Trong sự đổi nợ lấy thiên nhiên, các nước con nợ được lời do sự giảm mức nợ thiếu bằng ngoại tệ để tăng thêm sự chi tiêu đầu tư trong nước họ. Người đầu tư vào việc bảo tồn nhận được khoản tiền trả thêm trên khoản đầu tư. Tiền này có thể được dùng để lập khu bảo tồn và lập ra các chương trình phát triển bền vững. Các ngân hàng cho vay có lợi vì chuyển đổi được khoản nợ không trả của mình. Dù rằng họ chỉ nhận được một phần khoản tiền cho vay nhưng thu về một ít còn hơn là mất trọn.

Thái độ của các ngân hàng ở các quốc gia công nghiệp hóa dường như cũng đang thay đổi. Chẳng hạn việc Ngân hàng thế giới cấp tiền vay cho những dự án phát triển của Thế giới Thứ ba từ lâu đã bị chỉ trích bởi các nhóm hoạt động môi trường là đã hỗ trợ cho những chương trình lớn không có lợi cho sinh thái, như dự án nuôi gia súc ở Botswana đã dẫn đến sự chăn thả quá mức. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây Ngân hàng Thế giới đã đưa yếu tố môi trường vào trong các dự án.

* Phương pháp khoa học

Khoa học là một quá trình được sử dụng để giải quyết các khó khăn hoặc đạt tới một kiến thức về thiên nhiên mà những câu trả lời cần được kiểm chứng. Khoa học không giống các lĩnh vực nghiên cứu khác bởi cái cách thức đạt được kiến thức chứ không phải bởi những gì được nghiên cứu. Quá trình này được gọi là phương pháp khoa học.

Phương pháp khoa học là một cách để có được thông tin (sự thật) về thế giới qua việc đề ra những giải đáp cho các câu hỏi và tiếp theo là một sự kiểm nghiệm gắt gao để xác định xem các giải đáp đưa ra có giá trị hay không. Hơn thế nữa khi sử dụng phương pháp khoa học thì các khoa học gia có nhiều giả định cơ bản. Họ giả định rằng:

Phương pháp khoa học cần đến một sự tìm kiếm thông tin có hệ thống, một sự kiểm tra liên tục để xem các ý tưởng trước đay có còn mâu thuẫn bởi các thông tin mới có hay không. Nếu một bằng chứng mới không có mâu thuẫn thì nhà khoa học phải gạt bỏ hoặc thay đổi các ý tưởng ban đầu của mình. Các ý tưởng khoa học luôn luôn được tái thẩm định, phê phán và điều chỉnh. Phương pháp khoa học bao gồm nhiều công đoạn quan trọng có thể định rõ, như sự quan sát kỹ càng, đặt câu hỏi về những sự kiện quan sát được, xây dựng và kiểm nghiệm các giả thuyết sẵn sàng tiếp nhận các thông tin, các ý tưởng mới và sẵn sàng để cho người khác rà soát đánh giá các ý tưởng của mình. Nền tảng của tất cả các hoạt động này là sự không ngừng chú ý đế sự chính xác và không có thiên kiến.

Tuy nhiên, phương pháp khoa học không phải là một chuỗi thẳng đuột những bước phải đi theo một trật tự nào đó.

Hình 2: cho ta thấy là các bước này có thể nối kết với nhau như thế nào.

VI.KINH TẾ TUẦN HOÀN

Kinh tế tuần hoàn đã gặt hái kết quả tích cực ở nhiều quốc gia. Đây là một chương trình rất mới được sự quan tâm của nhiều nước, nhất là các nước tiên tiến.

Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) định nghĩa khái quát: Kinh tế tuần hoàn là nơi giá trị của sản phẩm, nguyên vật liệu và tài nguyên được duy trì trong nền kinh tế lâu nhất có thể và đồng thời giảm tối đa chất thải. Mô hình kinh tế tuần hoàn đầy đủ gồm 5 khâu: Thiết kế, sản xuất, tiêu dùng, quản lý chất thải và từ chất thải trở thành tài nguyên. Trong khi đó, Ủy ban châu Âu (EC) định nghĩa: Một nền kinh tế tuần hoàn bảo tồn giá trị gia tăng trong các sản phẩm càng lâu càng tốt và hầu như loại bỏ chất thải.

Dù cách định nghĩa khác nhau, nhưng kinh tế tuần hoàn luôn hướng tới mục tiêu cuối cùng là hạn chế hoặc loại bỏ chất thải; tái sử dụng, tái chế và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường.

Đối với Việt Nam, mô hình kinh tế tuần hoàn có thể khắc phục được những hạn chế vốn có của mô hình kinh tế truyền thống, như khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và gây ảnh hưởng xấu đến sinh thái, môi trường. Đến nay, đã có một số mô hình kinh tế tuần hoàn đang được triển khai, như: Mô hình khu công nghiệp sinh thái tại Hải Phòng, Ninh Bình, Đà Nẵng, Cần Thơ; sáng kiến không rác thải ra thiên nhiên do Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam khởi xướng; hay như Liên minh tái chế bao bì Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 tất cả bao bì của 9 công ty thực phẩm, nước giải khát đưa ra tiêu thụ trên thị trường sẽ được thu gom, tái chế.

Chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn có tác động tích cực tới việc phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Ví dụ, ở Thụy Điển, ước tính lượng chất thải sinh hoạt được tái chế đạt 99%. Nhiều chất thải được tái chế và sử dụng cho các mục đích khác như khí sinh học và năng lượng.

Ngoài học hỏi các nước đi trước, Đảng, Nhà nước ta đã xác định rõ chủ trương, ban hành nhiều chính sách nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững; ứng phó với biến đổi khí hậu; tăng cường tái chế, tái sử dụng. Nhiều yếu tố nền tảng trong khung khổ thể chế phát triển kinh tế tuần hoàn đã bước đầu được hình thành. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ cũng tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tuần hoàn…

Tuy nhiên, các yếu tố của kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam vẫn tương đối rời rạc; chưa có chính sách, văn bản pháp luật quy định đầy đủ, hệ thống. Cần lưu ý rằng, tính hệ thống của kinh tế tuần hoàn chính là điểm khác biệt, chứ không chỉ giới hạn ở quản lý chất thải và tận dụng chất thải. Mặt khác, các quy định mới dừng lại ở cấp chính sách, chưa cụ thể hóa thành các kế hoạch hành động. Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam phần lớn có quy mô nhỏ và vừa, rất hạn chế về năng lực công nghệ tái chế, tái sử dụng. Sự lo ngại về chi phí là một thực tế, khiến người dân và doanh nghiệp còn chậm chuyển đổi cách sản xuất và tiêu dùng.

Phát triển kinh tế tuần hoàn là xu thế phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh hậu Covid-19. Việt Nam không thể nằm ngoài xu thế tất yếu này. Dù hệ thống pháp lý còn cần bổ sung, hoàn thiện, nhưng những chuyển động từ phía doanh nghiệp và nhận thức của một bộ phận người dân đang có những chuyển biến tích cực. Cũng cần nói thêm, Việt Nam đang có bước chuyển đổi, hướng đến phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế tuần hoàn. Cụ thể như: Chiến lược phát triển bền vững giai đoạn 2010-2020; Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; Nghị quyết số 41/NQ-TƯ ngày 15-11-2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…

Hiện nay ở nước ta, trình độ dân trí còn thấp, công nghệ ứng dụng vào sản xuất chưa cao như kỹ thuật xử lý nước thải, rác thải gây nên mùi hôi thối nên không được sự đồng tình của nhân dân dân các địa phương. Riêng Hà Nội, mỗi năm có mấy lần nhân dân ngăn không cho xe chở rác vào bãi, làm cho Hà Nội ngập trong rác. Các doanh nghiệp sản xuất chưa đảm bảo an toàn vệ sinh gây nên khiếu kiện liên miên.

Với tư duy ngày càng mở với các mô hình kinh tế mới, kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam có đủ điều kiện để sớm phát triển. Bản thân những chuyển động từ phía doanh nghiệp đối với kinh tế tuần hoàn đã được ghi nhận. Nếu kịp thời thể chế hóa bằng khung chính sách phù hợp, kinh tế tuần hoàn sẽ thu hút được sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư. Đáp ứng yêu cầu đó, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương đang chủ trì nghiên cứu để hệ thống hóa một số chính sách và lộ trình phát triển kinh tế tuần hoàn của Việt Nam và sẽ sớm có thông tin trong thời gian tới.

Hy vọng rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của của Đảng và Nhà nước, sự tích cực hưởng ứng của các Bộ, Ban, ngành và các doanh nghiệp, sự hướng dẫn của các chuyên gia môi trường với sự tăng cường giới thiệu các ưu điểm của phương án sản xuất, các điển hình tiên tiến Việt Nam sẽ sớm bắt kịp xu hướng chung của thế giới./.

Eldon D. Enger; Bradley F. Smith – “Tìm hiểu môi trường – Lời kêu cứu khẩn cấp của nhân loại – Cẩm nang thiết yếu cho khoa học môi trường”, NXB Lao động xã hội.

Nguyên Giám đốc Sở KH-CN-MT Hà Nội

Kinh Tế Chia Sẻ: Liệu Lợi Ích Trước Mắt Có Đi Cùng Định Hướng Bền Vững? / 2023

Hoạt động kinh tế này được lấy ý tưởng từ việc tin rằng luôn có người dư dịch vụ/hàng hóa nào đó và luôn có người khác đang cần nó, thường trong ngắn hạn.

Chẳng hạn, nếu bạn dư một căn phòng, có thể đăng lên Airbnb cho ai đó đang du lịch/công tác đến khu vực bạn thuê; nếu bạn dư chỗ trên một chuyến đi, có thể dùng Lyft/Uber/Grab để tìm ai đó đi cùng; nếu bạn dư tiền, có thể cho người khác vay thông qua mạng lưới tín dụng ngang hàng; hay nếu bạn dư thời gian để làm việc, có thể tìm kiếm những người thuê mình trên Upwork.

1. Từ kinh tế chia sẻ

Theo dữ liệu của Viện Brookings, phương tiện giao thông cá nhân thường nhàn rỗi trong 95% cuộc đời của chính nó, và những nhà có dư phòng ngủ thường được để trống. Yếu tố lớn về nguồn cung này khiến giá cả hàng hóa trong phạm vi kinh tế chia sẻ thường thấp hơn nhiều so với ngoài thị trường. Chẳng hạn ở trường hợp Airbnb, dữ liệu từ Statista cho thấy giá phòng thuê ở Airbnb thấp hơn nhiều so với giá phòng khách sạn ở tất cả những thành phố lớn trên thế giới.

Sở dĩ có điều này vì kinh tế chia sẻ hoạt động nhờ nguồn lực từ cộng đồng mà ở đó, mỗi người tự lo tốt cho việc kinh doanh của chính mình – và khối lượng thường không quá lớn. Chẳng hạn ở ví dụ của Airbnb, việc xây dựng phòng ốc, đón trả khách, vệ sinh phòng, chụp ảnh chất lượng cao để đăng lên nền tảng… đều được thực hiện bởi người cho thuê.

Ở phía ngược lại, người đi thuê sẽ giữ vai trò giám sát, thông qua việc đánh giá sao, viết nhận xét hay báo cáo lên Airbnb để đảm bảo những phòng kém chất lượng luôn bị đào thải ra khỏi nền tảng. Airbnb chủ yếu lo những vấn đề kỹ thuật, công nghệ, kiểm soát rủi ro hay marketing – nhìn đi nhìn lại vẫn là lo cho chính họ.

Điều tương tự cũng đúng với Grab, khi tài xế sẽ là người chịu trách nhiệm đổ xăng, bảo trì xe, duy trì thái độ đúng đắn với khách hàng… Những người tạo lập nền tảng tất nhiên vẫn có những hoạt động đào tạo tài xế trong ngắn hạn nhưng trong phần lớn thời gian, tài xế là người chịu trách nhiệm chính cho công việc của họ.

Ở phía ngược lại, các công ty vận tải và tập đoàn khách sạn lớn trên thế giới phải lo dường như tất cả mọi thứ chỉ để cung cấp được dịch vụ tương tự. Họ phải có lượng vốn lớn để đầu tư xây dựng khách sạn, mua phương tiện; họ phải duy trì lượng lớn nhân lực, ở nhiều bộ phận và đảm bảo mọi bộ phận luôn trơn tru; phải chịu trách nhiệm cho mọi rủi ro, là pháp nhân trực tiếp đối diện với pháp luật và những việc tương tự thế.

Vì thế, khi bạn ở trong một phòng khách sạn 5 sao, số tiền bạn bỏ ra còn bao gồm chi phí duy trì những phòng trống và rất nhiều người khác trong khách sạn, từ nhân viên đứng quầy, cô lao công đến các cổ đông.

Mô hình phức tạp này khiến chi phí và quy trình khuyến mãi diễn ra một cách thận trọng và phức tạp hơn, trong khi ở phía ngược lại Grab/Uber/Airbnb dùng phần lớn tiền đầu tư của họ để đổ vào các chương trình khuyến mãi.

Mâu thuẫn trên là nguồn cơn của nhiều vụ kiện trên thế giới (bao gồm cả ở Việt Nam) trong đó các tập đoàn truyền thống đánh vào công ty công nghệ kinh doanh nền tảng (platform) trong kinh tế chia sẻ.

Những tập đoàn truyền thống được pháp luật ràng buộc trong những khuôn khổ nhất định và chịu thuế trong khuôn khổ ấy trong khi những startup kinh doanh platform vẫn chưa được xếp nhóm rõ ràng và không chịu nhiều thuế vì họ không sở hữu bất kỳ bất động sản hay phương tiện sản xuất nào cả [6].

Vậy, tuy cả hai cùng cung cấp một loại hình dịch vụ đến người tiêu dùng cuối, nhưng quá trình phía sau đó có khá nhiều sự khác biệt.

Kinh tế chia sẻ có mọi lợi thế để cạnh tranh với những loại hình truyền thống, như đã phân tích ở phần 1 và tất nhiên người tiêu dùng không cần quan tâm quá nhiều đến cách vận hành của mỗi loại. Điều đáng quan tâm là ai cũng thấy rằng kinh tế chia sẻ đang giúp chất lượng dịch vụ được cải thiện tốt hơn.

Tuy vậy, ta nên bắt đầu lo lắng thì hơn.

Quy trình chặt chẽ của những công ty truyền thống, với hàng loạt luật lệ từ nhà nước đến hiệp hội giúp đảm bảo rủi ro được hạn chế thấp nhất có thể. Ngược lại, ở những nền kinh tế chia sẻ, sức mạnh cộng đồng tuy mạnh nhưng không đủ để chống lại những tiêu cực nguy hiểm. Ý tôi là, đánh giá sao hay để lại lời than phiền chỉ có tác dụng khi bạn… còn khả năng làm thế.

Airbnb nhiều lần gặp bê bối khi các phòng cho thuê gắn camera giấu kín, hay Uber và Grab liên tục dính đến những vụ việc như tài xế/khách bị cướp, đe dọa tính mạng, xâm hại tình dục…

Một báo cáo đã dẫn nghiên cứu cho thấy sự phát triển của kinh tế chia sẻ cũng tạo ra dòng chuyển dịch nhân sự từ những tập đoàn truyền thống – nghĩa là sau một khoảng thời gian ngắn, tài xế công nghệ sẽ đông hơn, chất lượng tài xế giảm đi, số tiền tài xế kiếm được ít hơn kết hợp cùng quỹ khuyến mãi dần cạn sẽ dẫn đến phí dịch vụ tăng.

Thực tế đây là điều đang diễn ra và bạn có thể cảm nhận được ở thị trường Việt Nam. Các hãng xe công nghệ đã bắt đầu nhiều đợt cắt thưởng tài xế, tăng phí dịch vụ, hạn chế khuyến mãi cũng như thường xuyên xuất hiện những lời than phiền về tài xế trên mạng xã hội.

3. Những thứ chúng ta có thể, và không thể thay đổi

Lợi ích của kinh tế chia sẻ nhìn chung có hai điểm lớn nhất. Một là, dưới góc độ người tiêu dùng, loại hình mới này đang cho thấy sự cải thiện đáng kể chất lượng dịch vụ và chi phí – vừa rẻ vừa tiện lợi.

Và hai, ở góc độ vĩ mô, kinh tế chia sẻ đang giải quyết được công việc cho lượng lớn nhân công nhàn rỗi, người thất nghiệp trong xã hội, cũng như tạo ra cú hích bắt buộc những tập đoàn truyền thống phải thay đổi, chủ động áp dụng công nghệ cũng như quan tâm nhiều hơn đến chất lượng dịch vụ cho người dùng cuối thay vì chỉ quy trình nội bộ.

Tuy vậy, bên cạnh những lợi ích ngắn hạn, vẫn còn khá nhiều tiêu cực trong tương lai. Tất nhiên bất kể thứ gì trên thế giới này đều có mặt tiêu cực, và việc chúng ta nhắc đến những hạn chế ấy không nhằm hạ bệ hay loại bỏ nó, mà để tìm xem có thể sửa chữa trong tương lai hay không.

Như đã nhắc đến ở đầu bài, cũng như trong một bài đăng mới đây, kinh tế chia sẻ đang tạo ra một lượng lớn precariat và gig worker (người lao động bấp bênh) ở hiện tại và tương lai.

Trái với ý tưởng về việc “chia sẻ nguồn lực nhàn rỗi”, sự phát triển của kinh tế chia sẻ về bản chất là sử dụng công nghệ và loại hình kinh doanh mới để tạo lợi thế cạnh tranh trong thị trường lao động. Hoạt động trong kinh tế chia sẻ yêu cầu ít giấy phép hơn, ít quy định hơn, thời gian chờ xét duyệt nhanh hơn, nhiều khách hàng hơn và thậm chí thu nhập cao hơn, khiến chúng thu hút lượng lớn lực lượng lao động.

Theo lý thuyết, những người tham gia Airbnb hay chạy Uber “lẽ ra” chỉ tham gia nền tảng này trong ngắn hạn, chẳng hạn tạm thời dư phòng để cho thuê, hay tạm thời rỗi nên muốn chạy xe kiếm thêm thu nhập, nhưng thực tế đang cho thấy mọi người thực sự nghiêm túc xem việc kiếm tiền trên Airbnb hay Uber/Grab là nghề chính.

Điều này chứa đựng khá nhiều rủi ro. Vì nền tảng này không được thiết kế ra để bảo vệ những người lao động toàn thời gian. Đại đa số các nền tảng hiện nay không đóng bảo hiểm, không có chế độ nghỉ phép, không giới hạn thời gian làm việc cho “đối tác” và không đáp ứng những yêu cầu cơ bản khác trong sở hữu lao động. Bên cạnh đó, các “đối tác” cũng không được nhận trợ cấp thất nghiệp hay các phúc lợi xã hội khác. Họ đã và đang bị đẩy ra khỏi xã hội, theo đúng nghĩa đen.

Những “đối tác” đang bị đồng tiền trong ngắn hạn làm mờ mắt và không biết rằng tương lai họ đầy bấp bênh. Khi xảy ra tai nạn, đau ốm, hay thành phố lớn cấm xe máy, hay nền tảng gặp vấn đề, họ sẽ nhận ra họ không thực sự sở hữu bất kỳ khả năng cạnh tranh nào, mà dường như chỉ là mắt xích cho những nền tảng kiếm tiền bằng thuật toán. Những tài xế Grab ngày nay đang mải mê chạy 12h/ngày ngoài đường, sau 10 năm nữa sẽ dùng kỹ năng lái xe ấy để làm gì?

Theo một thống kê, gần 50% số tài xế Uber có bằng đại học, nghĩa là thực sự có người chạy Uber như một công việc kiếm thêm thu nhập, hoặc nhiều người đã gác bằng đại học của mình để làm tài xế, hoặc cả hai. Đây là một đặc điểm khác của precariat/gig workers – những người phải làm công việc dưới trình độ của mình.

Một hạn chế khác, nhiều quan điểm cho rằng kinh tế chia sẻ rất dễ dẫn đến tình trạng độc quyền. Lợi thế của những startup công nghệ trong lĩnh vực này là thuật toán và tiền để tung các chương trình khuyến mãi. Khi một công ty thành công vươn lên, rất dễ để công ty ấy nhanh chóng trở thành người đứng đầu và tạo ra khoảng cách lớn với đối thủ.

Hầu hết những startup đứng đầu về kinh tế chia sẻ hiện nay đều cho thấy quan điểm này đúng gần như 100%. Và khi tình trạng độc quyền xảy ra, quyền lợi của người tiêu dùng có lẽ không còn được đảm bảo nữa. Hãy nhớ lại câu chuyện về Grab sau khi đánh bại Uber ở thị trường Việt Nam.

Những hạn chế trên đều có thể giải quyết được. Các ứng dụng có thể thay đổi thuật toán sao cho hiển thị ít hơn thông tin của người sử dụng dịch vụ để hạn chế tình trạng phân biệt chủng tộc; các nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra các quy định về sở hữu lao động áp lên những công ty này để bảo vệ người lao động.

Tuy nhiên, kinh tế chia sẻ tuy mới xuất hiện gần đây nhưng đang tạo ra nhiều tác động sâu sắc hơn thế.

Airbnb đang bị nhiều thành phố ở EU kêu gọi tẩy chay, vì ứng dụng này tạo ra sự thay đổi sâu sắc trong bộ mặt cộng đồng đô thị. Sự hấp dẫn của Airbnb đã khiến giá nhà thuê dài hạn tăng, vì nhiều bất động sản đã được chuyển đổi để phục vụ cho thuê ngắn hạn.

Đất thì không thể nở ra được, đặc biệt đất ở các thành phố châu Âu, do đó, khi ngày càng nhiều căn hộ gia nhập Airbnb, nghĩa là ngày càng ít căn hộ phục vụ cư dân địa phương. Hay nói cách khác, ngày càng ít nhà ở và ngày càng nhiều nhà trọ.

Một điều nữa, sự phát triển của Airbnb đang phá vỡ lối sống cộng đồng. Lối sống đến và đi trong ngắn hạn của khách thuê, chỉ ở từ vài ngày đến vài tháng đang khiến những cộng đồng cư dân đô thị đã khó gắn bó nay càng rời rạc hơn – và có phần phức tạp.

Điều này cũng khiến công tác quản lý trở nên khó khăn, tạo ra những rủi ro về dân cư. Và một điều khá kỳ lạ, nghiên cứu chỉ ra Airbnb thực tế đã làm giảm chất lượng khách sạn địa phương.

Một báo cáo dẫn nhiều nghiên cứu cho thấy phần lớn những người tìm đến dịch vụ kinh tế chia sẻ quan tâm đến yếu tố kinh tế (người bán cảm thấy dễ dàng kiếm tiền hơn trong khi người mua cảm thấy có thể mua dịch vụ với mức thấp hơn), điều này dẫn đến việc những yếu tố về giao tiếp và tương tác xã hội dần bị xem nhẹ. Nghĩa là, mọi người đang dùng tiền nhiều hơn để giải quyết các vấn đề của họ, và dần xem nhẹ những mối quan hệ người – người với những người như tài xế hay.

Bên cạnh đó, trái với kỳ vọng rằng sự tương tác giữa những người lạ sẽ khiến niềm tin xã hội tăng, khảo sát từ báo cáo trên cũng chỉ ra rằng nhiều người cảm thấy bất an khi phải đón tiếp và phục vụ người lạ.

Tóm lại, đặc điểm nổi bật nhất khiến kinh tế chia sẻ thu hút vì chúng giải quyết được nhu cầu kinh tế của đại đa số người dân (kể cả người cung cấp lẫn sử dụng dịch vụ). Tuy nhiên, có vẻ chúng ta chưa có cái nhìn khách quan, đầy đủ và sâu sắc về ảnh hưởng của chúng, mà mới chỉ quan tâm đến lợi ích nhỏ nhặt là vài đồng bạc lẻ trong từng giao dịch.

Kinh tế chia sẻ được kỳ vọng sẽ là cú hích định hình lại xã hội, nhưng theo hướng nào, chúng ta chưa thể biết được. Sẽ có gì đó biến mất, sẽ có gì đó xuất hiện, nhưng thật khó để biết được rằng đó có phải thứ ta truy cầu và kỳ vọng hay không.

Nhưng đây cũng không phải điều mới mẻ, chúng ta lúc nào chẳng bị đặt vào trạng thái “phải bước tiếp”, dù rằng chẳng biết bước đi ấy sẽ dẫn đến đâu, đúng không?

Các Kiểu Quan Hệ Lợi Ích Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn / 2023

Các Kiểu Quan Hệ Lợi ích Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn ở Việt Nam, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Vai Trò Của Nhà Nước Pháp Quyền Đối Với Kinh Tế Thị Trường Và Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội C, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Tiểu Luận Về Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Thông Tư Hướng Dẫn Sử Dụng Kinh Phí Thực Hiện Công Tác Y Tế Trong Các Trường, Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Pdf, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Vai Trò Của Pháp Luật Xhcn Đối Với Kinh Tế Và Chính Trị, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nhân Tố Quan Trọng Quyết Định Hiệu Quả Kinh Tế Hiện Nay, Tiểu Luận Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ N, Thực Trạng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Iệt Nam Vừa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ Biế, Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Quá Trình Đảng Chỉ Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trương Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Số 11-nq/tw Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Liên Hệ Với Những ưu Thế Của Nền Kinh Tế Thị Trường Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Của Việt Nam, Hãy Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình Thông Qua Một , Hãy Giải Thích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình, Lý Luận Hình Thái Kinh Tế – Xã Hội Với Việc Lựa Chọn Con Đường Xhcn ở Việt Nam, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam Chưa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ B, Tại Sao Phải Thống Nhất Nhận Thức Về Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Đảng Chỉ Đạo Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng X, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chỉ Nghĩa ở Việt Nam Bao Hàm Những Đặ Trưng Có Tính Phổ Biến Củ, Mối Quan Hệ Giữa Dân Chủ Xhcn Và Nhà Nước Xhcn, Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến , Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Hướng Dẫn Về Quản Lý Chất Lượng Đo Lường Trong Kinh Doanh Khí Dầu Mỏ Hóa Lỏng, Quan Điểm Lịch Sử Cụ Thể Trong Việc Hoạch Định Chính Sách Phát Triển Kinh Tế Việt Nam Qua Các Thời K, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin Về Việc Xây Dựng Nền Văn Hóa Xhcn Trong Cách Mạng Xã Hội Chủ , Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin Về Việc Xây Dựng Nền Văn Hóa Xhcn Trong Cách Mạng Xã Hội Chủ, Chuyên Đề 3 Quản Lí Giáo Dục Và Chính Sách Gd Trong Cơ Chế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghãi, Độc Quyền Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Giải Pháp Hoàn Thiện The Chế Gan Ket Tang Truong Kinh Kinh Tế, Tiểu Luận Vai Trò Của Kinh Tế Thị Trường Đối Với Việc Phát Triển Kinh Tế Xã Hội ở Việt Nam Hiện Nay, Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Bảo Hộ Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Đối Với Nhãn Hiệu Trong Kinh Tế Thị Trường, Thảo Kinh Tổ Tiên Trong Thánh Kinh, Kinh Tế Lượng Trong Phân Tích Và Dự Báo Kinh Tế Xã Hội, Yêu Cầu Đối Với Thông Tin Trong Quản Trị Kinh Doanh, Nội Quy Mẫu Trong Kinh Doanh Nhà Hàng Quán ăn, Phát Triển Thương Mại Điện Tử ở Việt Nam Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường ở Việt Nam Hiện Nay, Quan Niệm Không Đúng Về Kinh Tế Thị Trường, Quan Niệm Nào Không Đúng Về Kinh Tế Thị Trường, Nghiên Cứu Khoa Học Trong Quản Trị Kinh Doanh, Phương Pháp Kinh Tế Trong Quản Lý Nhà Nước, Thống Kê Trong Kinh Tế Và Kinh Doanh Neu, Sách Giáo Khoa Dạy Trong Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Tiểu Luận Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường ở Việt Nam H, Thầy Cô Hãy Chia Sẻ Kinh Nghiệm Giảng Dạy Để Thu Hút Hs Trong Các Tiết Học Atgt ỏ Trường, Hướng Dẫn ứng Xử Trong Kinh Doanh Của Textron, Lý Luận Về Các Phân Tích Môi Trường Kinh Doanh Quán, Tam Quốc Và Những Bí Quyết Trong Quản Lý Kinh Doanh, 3. Phương Hướng Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng Và Cơ Cấu Lại Nền Kinh Tế, Quan Điểm Chỉ Đạo Của Đảng Trong Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hóa, Tư Tưởng, Quản Trị Kinh Doanh Kinh Tế Quốc Dân, Vì Sao Phân Bổ Công Nghiệp Có Vai Trò Quan Trọng Thúc Đẩy Sự Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội, Sáng Kiến Kinh Nghiệm Trong Quản Lý Nhà Nước Về Chăn Nuôi, Định Luật 80/20 Trong Kinh Doanh, Ra Quyết Định Trong Kinh Doanh, Kinh Tế Thị Trường Và Các Quy Luật Kinh Tế, Quyết Định Bổ Nhiệm Vụ Trưởng Vụ Kinh Tế Đối Ngoại, Quan Điểm Cơ Bản Của Đảng Ta Về Phát Triển Kinh Tế Trong Giai Đoạn Hiện Nay Về, Hướng Dẫn Thực Hành Quản Trị Kinh Doanh, 9 Yếu Tố Quyết Định Điểm 10 Trong Kinh Doanh, Nếu Gdp Thực Tế Của Nền Kinh Tế Tăng Từ 2000 Tỷ Lên 2100 Tỷ, Thì Tỷ Lệ Tăng Trưởng Kinh Tế Của Quốc, Nếu Gdp Thực Tế Của Nền Kinh Tế Tăng Từ 2000 Tỷ Lên 2100 Tỷ, Thì Tỷ Lệ Tăng Trưởng Kinh Tế Của Quốc , Quyết Định Bổ Nhiệm Trưởng Phòng Kinh Doanh, Định Nghĩa Nào Sau Đây Về Tăng Trưởng Kinh Tế Là Không Đúng, Tại Sao Phân Bố Công Nghiệp Có Vai Trò Quan Trọng Thúc Đẩy Sự Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Trên Lạnh Th, Vì Sao Phân Bổ Công Nghiệp Có Vai Trò Quan Trọng Thúc Đẩy Sự Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Trên Lãnh T, Vì Sao Phân Bổ Công Nghiệp Có Vai Trò Quan Trọng Thúc Đẩy Sự Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Trên Lãnh T, Giáo Trình Giao Tiếp Trong Kinh Doanh Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, Phan Tich Dinh Luong Trong Kinh Doanh, Kinh Tế Và Quản Trị Kinh Doanh, Hãy Kể Tên 6 Trường Thcs ở Quận Ninh Kiều Mà Em Biết, Cơ Sở Lý Luận Về Thông Tin, Dự Báo Và Quyết Định Quản Trị Kinh Doanh, Mẩu Số 02/uq-cn( Dành Cho Các Hộ, Thành Viên Trong Gia Đình,hộ Kinh Doanh,tổ Chức Khac Không Co Tư C, Mẩu Số 02/uq-cn( Dành Cho Các Hộ, Thành Viên Trong Gia Đình,hộ Kinh Doanh,tổ Chức Khac Không Co Tư C, Quy Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Dầu Khí, Kinh Doanh Xăng Dầu Và Khí, Tiểu Luận Tình Huống Trong Quản Ly Môi Trường,

Các Kiểu Quan Hệ Lợi ích Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn ở Việt Nam, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Vai Trò Của Nhà Nước Pháp Quyền Đối Với Kinh Tế Thị Trường Và Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội C, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Tiểu Luận Về Mối Quan Hệ Giữa Cạnh Tranh Và Độc Quyền Trong Nền Kinh Tế Thị Trường, Thông Tư Hướng Dẫn Sử Dụng Kinh Phí Thực Hiện Công Tác Y Tế Trong Các Trường, Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Pdf, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Vai Trò Của Pháp Luật Xhcn Đối Với Kinh Tế Và Chính Trị, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nhân Tố Quan Trọng Quyết Định Hiệu Quả Kinh Tế Hiện Nay, Tiểu Luận Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ N, Thực Trạng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Iệt Nam Vừa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ Biế, Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Quá Trình Đảng Chỉ Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trương Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Số 11-nq/tw Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Liên Hệ Với Những ưu Thế Của Nền Kinh Tế Thị Trường Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Của Việt Nam, Hãy Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình Thông Qua Một , Hãy Giải Thích Mối Quan Hệ Giữa Kiểu Gen Môi Trường Và Kiểu Hình, Lý Luận Hình Thái Kinh Tế – Xã Hội Với Việc Lựa Chọn Con Đường Xhcn ở Việt Nam, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam Chưa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ B, Tại Sao Phải Thống Nhất Nhận Thức Về Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Đảng Chỉ Đạo Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng X, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chỉ Nghĩa ở Việt Nam Bao Hàm Những Đặ Trưng Có Tính Phổ Biến Củ, Mối Quan Hệ Giữa Dân Chủ Xhcn Và Nhà Nước Xhcn, Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến , Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Hướng Dẫn Về Quản Lý Chất Lượng Đo Lường Trong Kinh Doanh Khí Dầu Mỏ Hóa Lỏng, Quan Điểm Lịch Sử Cụ Thể Trong Việc Hoạch Định Chính Sách Phát Triển Kinh Tế Việt Nam Qua Các Thời K, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin Về Việc Xây Dựng Nền Văn Hóa Xhcn Trong Cách Mạng Xã Hội Chủ , Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác – Lê Nin Về Việc Xây Dựng Nền Văn Hóa Xhcn Trong Cách Mạng Xã Hội Chủ, Chuyên Đề 3 Quản Lí Giáo Dục Và Chính Sách Gd Trong Cơ Chế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghãi,