Khoa Học Là Gì Và Công Nghệ Là Gì? Vai Trò Của Khoa Học Và Công Nghệ

--- Bài mới hơn ---

  • Đánh Giá Vai Trò Của Khoa Học
  • Vai Trò Của Khoa Học, Công Nghệ Và Đổi Mới Sáng Tạo Trong Hình Thái Xã Hội 5.0
  • Khoa Học Công Nghệ Với Sự Phát Triển Của Đất Nước Việt Nam.
  • Lợi Ích Của Trung Tâm Khoa Học Và Công Nghệ Năng Lượng Hạt Nhân Mang Lại Cho Việt Nam
  • Lợi Ích Của Học Văn Bằng 2 Tiếng Anh
  • 1. Khoa học và công nghệ là gì?

    1.1. Tìm hiểu khái niệm khoa học

    Theo lời giải thích từ một nguồn từ điển thì khoa học mang nội hàm khá phức tạp. Chính vì vậy mà chúng ta sẽ có rất nhiều cách hiểu khác nhau với khái niệm này tùy vào từng mục đích nghiên cứu cũng như cách tiếp cận. Theo đó:

    Khi hiểu ở một mức độ chung nhất thì khoa học chính là hệ thống tri thức về thế giới quan. Tại Việt Nam, Luật Khoa học và Công nghệ có chỉ rõ rằng: Khoa học bao gồm hệ thống tri thức về những hiện tượng, sự vật, quy luật trong tự nhiên, trong xã hội và trong chính tư duy của con người.

    Khi nhìn từ góc độ hoạt động thì khoa học sẽ được hiểu chính là lĩnh vực hoạt động đặc biệt của con người. Đây là loại hình hoạt động mang tính mục đích khám phá ra bản chất, quy luật vận động của thế giới. Từ đó ứng dụng toàn bộ sự hiểu biết, khám phá được vào trong sản xuất và trong đời sống xã hội.

    Thực chất, đối với góc độ hoạt động này thì khoa học chính là một hoạt động nghiên cứu khoa học, là một quá trình tạo ra tri thức mới cho toàn nhân loại.

    Công nghệ là một thuật ngữ xuất phát từ chữ Hy lạp là “Techne” mang ý nghĩa là nghệ thuật, kỹ năng và “Logia” có nghĩa là khoa học, nghiên cứu.

    Tại đất nước Việt Nam thì đã từng có quan niệm về khái niệm công nghệ rằng: Công nghệ chính là kiến thức, là kết quả của khoa học ứng dụng có mục đích biến đổi nguồn lực trở thành mục tiêu để sinh lời.

    Khoa học và công nghệ là gì?

    Đến ngày nay, cách hiểu được cho là phổ biến, là phù hợp nhất đối với những chính sách quản lý, phát triển và quan điểm về công nghệ đã được quy định cụ thể, rõ ràng tại Luật Khoa học và Công nghệ như sau:

    Công nghệ chính là một tập hợp của những quy trình kỹ năng, phương pháp, công cụ, bí quyết, phương tiện được sử dụng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.

    1.3. Khoa học và công nghệ là gì?

    Hoạt động khoa học và công nghệ chính là hoạt động nghiên cứu khoa học, triển khai các thực nghiệm, tiến hành phát triển công nghệ và các ứng dụng của công nghệ cùng với dịch vụ khoa học – công nghệ. Từ đó có thể phát huy toàn bộ những sáng kiến, hoạt động sáng tạo để phát triển khoa học và công nghệ. Một nhà nghiên cứu khoa học họ là người hiểu rõ sáng tạo là gì hơn ai hết để đưa ra những sản phẩm mới đầy tính sáng tạo góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế, xã hội.

    Ở Việt Nam, Luật Khoa học và Công nghệ đã quy định về nội dung của khoa học công nghệ. Cụ thể như sau:

    – Việc nghiên cứu khoa học chính là một hoạt động nhằm phát hiện và tìm hiểu về những hiện tượng, sự vật cũng như quy luật tự nhiên – xã hội và tư duy. Đồng thời đó còn là việc sáng tạo những giải pháp để có thể ứng dụng vào hoạt động thực tiễn. Hoạt động nghiên cứu sẽ bao gồm các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.

    – Phát triển công nghệ chính là hoạt động tạo ra, hoàn thiện công nghệ mới, các sản phẩm mới. Đây là một hoạt động bao gồm hai nhiệm vụ, đó là triển khai thực nghiệm, sản xuất thử nghiệm.

    – Triển khai thực nghiệm là việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào hoạt động thực nghiệm. Mục đích là nhằm tạo ra những công nghệ mới và sản phẩm mới.

    – Sản xuất thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả của việc triển khai từ thực nghiệm, đưa vào sản xuất thử với quy mô nhỏ, từ đó tiến tới hoàn thiện công nghệ mới và các sản phẩm mới trước khi áp dụng vào việc chính thức sản xuất.

    2. Khoa học – Công nghệ có vai trò gì?

    Sau khi đã hiểu rõ khoa học và Công nghệ là gì, chúng ta nên mở rộng hiểu biết của mình hơn nữa đối với mảng thông tin tri thức này, nhất là khi bạn sẽ và đang tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học. Và đương nhiên, chúng ta sẽ không thể nào tiến hành nghiên cứu để mang tới những giá trị tri thức mới cho nhân loại nếu như không nắm rõ được vai trò của Khoa học – Công nghệ là gì.

    2.1. Mở rộng sản xuất, thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển kinh tế

    Các Mác đã từng dự đoán khi cả nhân loại bước vào thời kỳ công nghiệp thì việc sản sinh ra sự giàu có sẽ không bị phụ thuộc nhiều vào thời gian lao động. Tuy nhiên điều này lại phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng chung của khoa học cũng như sự tiến bộ của kỹ thuật và cách con người ta ứng dụng khoa học kỹ thuật đó vào trong hoạt động sản xuất.

    Như thế, Khoa học và Công nghệ không những tạo ra được các công cụ lao động mới cho con người mà còn mang đến cả những phương pháp sản xuất mới. Chính vì vậy mà nó mở ra một khả năng mới về kết quả sản xuất cũng như tăng năng suất cho lao động.

    Nhờ có sự tác động của khoa học công nghệ mà các nguồn lực sản xuất đã được mở rộng hơn, Từ đó, cơ cấu lao động của xã hội đã chuyển giao từ lao động đơn giản sang lao động bằng máy móc và có sự hỗ trợ của kỹ thuật, từ đó có thể nâng cao năng suất lao động.

    Nền kinh tế được chuyển đổi từ chiều rộng sang chiều sâu nhờ vào việc ra đời của nền công nghệ mới. Khi đó, khoa học công nghệ sẽ chính là một phương tiện đắc lực thúc đẩy nền kinh tế chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế tri thức, phát triển ngành công nghệ cao sử dụng nhiều lao động trí tuệ.

    2.2. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Khoa học và Công nghệ phát triển mạnh mẽ không những đẩy nhanh tốc độ phát triển của các ngành mà đồng thời còn làm cho hoạt động phân công lao động trong xã hội ngày một sâu sắc hơn, từ đó dẫn đến hệ quả của việc phân chia ngành kinh tế thành nhiều ngành nhỏ, có nhiều ngành nghề mới xuất hiện cùng với nhiều lĩnh vực kinh tế mới. Kết quả cuối cùng là giúp làm cho nền cơ cấu kinh tế được thay đổi theo chiều hướng tích cực.

    2.3. Tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa và thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường

    Mục tiêu cuối cùng trong hoạt động kinh tế tại các doanh nghiệp đó chính là tối đa hóa lợi nhuận. Các doanh nghiệp khi đó cần phải sản xuất những mặt hàng có nhu cầu lớn. tối thiểu hóa chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng cho sản phẩm,… sao cho phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng. Để có thể thực hiện những yêu cầu này thì con người chỉ còn cách áp dụng tiến bộ của Khoa học – Công nghệ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

    Đối với nền kinh tế thị trường thì việc con người áp dụng các tiến bộ của Khoa học và Công nghệ sẽ mang đến những tác động sau:

    – Yếu tố sản xuất được đồng bộ và hiện đại hơn

    – Quy mô sản xuất được mở rộng, có thể thúc đẩy các loại hình doanh nghiệp mới ra đời và phát triển

    – Tạo nhịp độ cao trong các hoạt động kinh doanh, sản xuất

    – Các chiến lược kinh doanh thay đổi, đẩy mạnh hướng ngoại và xuất khẩu, hướng ra thị trường quốc tế nhiều hơn để tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

    2.4. Khoa học và Công nghệ là công cụ mạnh trong việc phát triển con người

    Khoa học và Công nghệ ngày một phát triển và ứng dụng rộng rãi, nhất là công nghệ gen hay công nghệ sinh học,… từ đó phục vụ hiệu quả cho việc chăm sóc sức khỏe con người.

    Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe con người

    Với hoạt động y tế chẳng hạn, nhân loại đã chứng kiến bước nhảy vọt nhanh chóng khi khoa học và công nghệ đã phát minh ra các loại thuốc, các loại vắc xin, thiết bị y tế,… Không những thế, trong lĩnh vực môi trường, nhờ có những bước đột phá của khoa học công nghệ mà môi trường đã được cải tạo mới, giảm ô nhiễm,… Toàn bộ những điều đó đã góp một phần lớn trong vấn đề cải tạo và bảo vệ sức khỏe cho con người.

    Khoa học công nghệ đã trang bị cho con người những nguồn tri thức, kinh nghiệm quan trọng để giúp họ nhanh chóng thích nghi với những trang thiết bị hiện đại trong cuộc sống. Hơn nữa những đòi hỏi về việc đổi mới của nhu cầu sống buộc con người càng phải học tập và trau dồi tri thức một cách thường xuyên để không bị nằm trong guồng quay đào thải của quá trình sản xuất xã hội. Đó chính là lý do lực lượng lao động không ngừng được nâng cao trình độ và chất lượng.

    Khoa học và Công nghệ có sức tác động lớn trong việc đổi mới sản phẩm và quy trình sản xuất. Kết quả làm tăng quy mô sản xuất, năng suất trang thiết bị máy móc. Khoa học và Công nghệ một mặt giúp tăng kích cầu, tăng nguồn cung và rồi làm tăng thu nhập bình quân, cải thiện mức sống cho người dân một cách hiệu quả.

    Còn rất nhiều vai trò khác như hoàn thiện cơ chế tổ chức và quản lý hoạt động sản xuất – kinh doanh; thực hiện tốt các mục tiêu phát triển xã hội bền vững;… Khi nắm vững được các vai trò thiết yếu này của Khoa học – Công nghệ thì bản thân chúng ta sẽ có phương hướng rõ ràng hơn đối trong việc định hướng mục tiêu hoạt động nghề nghiệp của bản thân.

    Như vậy, bài viết này đã giúp các bạn hiểu được khoa học và công nghệ là gì cùng với những vai trò quan trọng của nó trong tiến trình phát triển xã hội bền vững. Nếu có khả năng và trình độ, hãy tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học – công nghệ bởi đó là cách nhanh nhất giúp bạn đến gần hơn với những mục tiêu phát triển bền vững con đường sự nghiệp của bản thân và còn có thể cống hiến cho xã hội rất nhiều giá trị tốt đẹp.

    Việc làm Giáo dục – Đào tạo

    3. Có thể tìm công việc về khoa học và công nghệ ở đâu

    Hiện nay có rất nhiều trang mạng tuyển dụng nhận viên về lĩnh vực khoa học và công nghệ, những người học chuyên sâu về lĩnh vực này có rất nhiều cơ hội và việc làm để lựa chọn, nhưng để tìm việc phù hợp với bản thân, yêu thích nó không phải là điều đơn giản, khi thông tin tuyển dụng của nhiều công ty lừa đảo tràn ngập nợi nơi, chính vì vậy mà người ứng tuyển cần phải chọn mặt gửi vàng, gửi hồ sơ vào những nơi tin tưởng để có thể tìm được công việc có nhiều cơ hội, nếu bạn vẫn còn phân vân về địa chỉ xin việc thì hãy tìm đến ngày với trang chúng tôi một trang đầy uy tin với rất nhiều thông tin tuyển dụng được đăng lên hàng ngày. Tôi tin chắc ở đây bạn sẽ tìm được cho mình một công việc ứng ý.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Lợi Ích Khi Tham Gia Câu Lạc Bộ Tiếng Anh
  • Lợi Ích Cho Trẻ Học Tiếng Anh Sớm
  • Tìm Hiểu Về Hiến Máu Nhân Đạo Là Gì, Hiến Máu Có Mập Không? & Điều Kiện Hiến Máu
  • Những Lợi Ích Của Hiến Máu
  • Chơi Game Thường Xuyên Có Những Lợi Ích Gì? Đố Bạn Biết Đấy
  • Lợi Ích Của Công Bố Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Khoa Học Cơ Bản?
  • Những Lợi Ích Của Nghiên Cứu Khoa Học Đối Với Sinh Viên
  • Khoa Học Và Những Lợi Ích Cho Trẻ Mầm Non
  • Chương Trình Khoa Học Công Nghệ Vũ Trụ
  • Nghiên Cứu Khoa Học Và Những Lợi Ích Đối Với Sinh Viên
  • Thực tiễn hoạt động khoa học trong khoảng 10 năm trở lại đây ghi nhận nhiều nỗ lực, sáng kiến của cả chính phủ cũng như các cơ sở nghiên cứu và giáo dục đại học trong việc cố gắng đẩy nhanh mức độ hội nhập quốc tế trong nghiên cứu khoa học. Điểm tương đối tương đồng giữa các nỗ lực, sáng kiến này là việc áp dụng (bắt buộc hoặc khuyến khích) các chỉ mục (index) tạp chí quốc tế như ISI Clavirate Web of Science (SCIE, SSCI, AHCI, ESCI) hay Scopus làm căn cứ để đánh giá.

    Lợi ích và ý nghĩa xã hội của bài báo khoa học

    Trên bình diện quốc gia, công bố báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế là một cách không chỉ nâng cao sự hiện diện, mà còn nâng cao năng suất khoa học, của nước nhà. Ở phương Tây người ta thường đếm số lượng bài báo khoa học mà các nhà khoa học công bố trên các tập chí khoa học để đo lường và so sánh hiệu suất khoa học giữa các quốc gia. Hiện nay, trong bất cứ lĩnh vực nào, phải nhìn nhận một thực tế là hiệu suất khoa của nước ta chưa cao. Phần lớn các công trình nghiên cứu tại nước ta chỉ được kết thúc bằng những buổi nghiệm thu hay luận án. Đối với hoạt động khoa học, cho dù công trình đã được nghiệm thu hay đưa vào luận án tiến sĩ hay thạc sĩ , nếu chưa được công bố trên các diễn đàn khoa học quốc tế thì công trình đó coi như chưa hoàn tất, bởi vì nó chưa qua “thử lửa” với môi trường rộng lớn hơn.

    Theo tác giả Phạm Duy Hiển (Tạp chí Tia Sáng số Tháng 6 năm 2005) trong năm 2003, các nhà khoa học Việt Nam đã công bố trên 7000 bài báo trên các tạp chí hay tập san khoa học trong nước. Con số này rất ư là ấn tượng, song đó chỉ là những bài báo “ta viết cho ta đọc” chứ trên trường quốc tế thì sự hiện diện của các nhà khoa học Việt Nam còn rất khiêm tốn. Vẫn theo tác giả Phạm Duy Hiển, trong năm 2001 các nhà khoa học Việt Nam chỉ công bố được 354 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế, mà 71% con số này là do cộng tác với các nhà khoa học ngoài Việt Nam. Trong ngành y khoa, trong suốt 40 năm qua (tính từ 1965) các nhà khoa học tại Việt Nam chỉ có khoảng 300 bài báo trên các tập san y sinh học quốc tế. Đó là những con số cực kì khiêm tốn, khi so sánh với Thái Lan (5000 bài) hay Singapore (20.000 bài).

    Trong quá trình hội nhập thế giới, xã hội có quyền đòi hỏi nhà khoa học nước ta phải có tầm vóc và đứng vững trên trường khoa học quốc tế. Đã đến lúc chúng ta phải đặt ra những tiêu chuẩn nghiêm túc mà quốc tế đã và đang sử dụng để thẩm định thành tích nghiên cứu khoa học của các giáo sư và nhà nghiên cứu ở nước ta.

    Dịch vụ hỗ trợ lợi ích công bố khoa học

    Nếu các bạn có gặp bất cứ khó khăn gì trong việc công bố khoa học, các bạn đừng ngần ngại hãy liên hệ ngay với chúng tôi, để chúng tôi được tư vấn và hỗ trợ tối đa lợi ích của các bạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Lí Do Nên Tham Gia Hoạt Động Ngoại Khóa Ở Trường Đại Học
  • Lợi Ích Của Việc Tham Gia Các Hoạt Động Ngoại Khóa Ở Các Trường Đại Học Khi Du Học Như Thế Nào?
  • 7 Lợi Ích Của Hoạt Động Ngoại Khóa Đối Với Sự Phát Triển Của Trẻ
  • Một Số Lợi Ích Của Hoạt Động Ngoại Khóa Đối Với Học Sinh, Sinh Viên Trường Đại Học Hà Tĩnh
  • Tìm Hiểu Ngành Kế Toán, Bạn Sẽ Học Những Gì
  • Đặc Điểm Và Lợi Ích Của Cuộc Cách Mạng Khoa Học Và Công Nghệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Khi Lợi Ích Của Cách Mạng, Của Dân Tộc Được Đặt Lên Trên Hết
  • Lãnh Đạo Cách Mạng Hướng Tới Lợi Ích Của Nhân Dân
  • Vai Trò, Lợi Ích Của Solidworks Pdm Đối Với Doanh Nghiệp Khi Trước Thách Thức Của “cách Mạng Số”
  • Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 Là Gì? Những Lợi Ích Thiết Thực
  • Văn Hóa Mạng Xã Hội Thời Hội Nhập: Thật Hơn, Nhân Văn Hơn
  • Nối tiếp cuộc cách mệnh kỹ thuật lần thứ nhất diễn ra tại Anh vào 30 năm cuối của TK XVIII, cuộc cách mệnh khoa học và công nghệ xuất hiện vào trong time năm 50 của thế kỉ XX.Đây được coi như là cuộc cách mệnh kỹ thuật lần thứ hai trên thế giới, đem lại sự thay đổi mạnh mẽ trên nhiều ngành thế giới.

    Đặc điểm cuộc cách mệnh khoa học và công nghệ

    Cuộc cách mệnh khoa học và công nghệ xuất hiện và thể hiện những đặc điểm như sau:

    • Khoa học gồm có khoa học tự nhiên, kỹ thuật lẫn khoa học xã hội, đặc biệt quan trọng là khoa học kinh tế tài chính đều trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, làm phát triển mạnh công nghệ cao. Khoa học do chính con người tạo ra, dưới sự tinh chỉnh của con người trở thành lực lực sản xuất.
    • Khoảng tầm cách thời gian giữa phát minh mới thay thế cho những phát minh cũ đã chiếm hữu rút ngắn lại. Sự ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ vào đời sống, sản xuất với tần suất ngày càng dày. Cuộc cách mệnh và công nghệ đã tác động mạnh mẽ tới việc phát triển kinh tế tài chính, xã hội.

    Tác động cuộc cách mệnh khoa học và công nghệ

    Với những đặc điểm của mình, cuộc cách mệnh khoa học và công nghệ đã tác động mạnh mẽ đến những ngành trong đời sống và làm thay đổi chúng. Có thể nhắc đến một số tác động của cuộc cách mệnh khoa học và công nghệ như sau:

    • Khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tự nó xử lý các tiến trình và cho ra sản phẩm.
    • Những ngành công nghiệp mới với lượng tri thức khoa học cao lần lượt ra đời. Các dịch vụ mới mang tính công nghệ, khoa học cao cũng nhiều hơn.
    • Đặc biệt quan trọng là việc thay đổi về cơ cấu tổ chức lao động: lao động trí óc có số lượng tăng lên đáng kể.
    • Thu hút nhanh chóng nguồn góp vốn đầu tư nước ngoài, phát triển mậu dịch quốc tế.

    + Tự động hóa hóa: máy tự động hóa hóa quá trình, máy công cụ tinh chỉnh bằng số hay robot được sử dụng ngày một nhiều hơn.

    + Năng lượng: một bước phát triển mới của năng lượng đó là bên cạnh những năng lượng cũ, người ta đã ứng dụng năng lượng nguyên tử (năng lượng sạch…) vào đời sống.

    + Vật liệu mới: nói về vật liệu, những hợp chất mới được nghiên cứu và làm ra những vật liệu tự nhiên không đã chiếm hữu như: composit, cacbuasilich…

    + Điện tử và tin học: nổi bật nhất đây chính là ngành điện tử và tin học. Rộng lớn, hấp dẫn và nhanh chóng là những gì nói về ngành này. Hướng phát triển là: nhanh với máy siêu tính, nhỏ với vi tính, xử lý được kiến thức với trí tuệ tự tạo và máy tính nói từ xa với viễn tin học.

    Tóm lại, sự ra đời của cuộc cách mệnh khoa học và công nghệ đã tạo ra cơ hội và bước chuyển mình mạnh mẽ của con người và toàn xã hội trên rất nhiều ngành. Tuy nhiên đứng trước sự vượt trội về công nghệ, khoa học ngày một lớn, con người không nên quá phụ thuộc vào công nghệ rồi bị nó chi phối.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cuoc Cm Khkt Lan 2
  • Bài 12: Những Thành Tựu Chủ Yếu Và Ý Nghĩa Lịch Sử Của Cách Mạng Khoa Học
  • Bài 12 : Những Thành Tựu Chủ Yếu Và Ý Nghĩa Lịch Sử Của Cách Mạng Khoa Học Kĩ Thuật Sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai
  • Tác Động Của Cuộc Cách Mạng Khoa Học
  • Khách Hàng Hưởng Nhiều Lợi Ích Khi Chuyển Mạng Giữ Số
  • Chương Trình Khoa Học Công Nghệ Vũ Trụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghiên Cứu Khoa Học Và Những Lợi Ích Đối Với Sinh Viên
  • Lịch Sử Hình Thành & Những Lợi Ích Của Bộ Trống Điện Tử
  • 5 Lợi Ích Bất Ngờ Của Việc Theo Đuổi Nghề Lập Trình
  • Lợi Ích Của Lập Trình Viên Full Stack Developers
  • Mỹ Thuật Và 7 Lợi Ích Không Thể Bỏ Qua Đối Với Sự Phát Triển Của Trẻ
  • Công nghệ vũ trụ là một ngành công nghệ cao, được tích hợp từ nhiều ngành khoa học công nghệ khác nhau nhằm chế tạo và ứng dụng các phương tiện như vệ tinh, tàu vũ trụ, tên lửa đẩy, trạm mặt đất, v.v… để khám phá, chinh phục và sử dụng khoảng không vũ trụ vì lợi ích con người. Khoa học công nghệ vũ trụ ngày nay được ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả thiết thực trong phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng, … tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả các nước đang phát triển.

    Sớm nhận thức được tầm quan trọng của khoa học và công nghệ vũ trụ, ngày 27/12/1979, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 454/CP thành lập “Ủy ban nghiên cứu vũ trụ Việt Nam” và giao cho Ủy ban thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị nội dung khoa học cho “Chuyến bay vũ trụ Liên Xô – Việt Nam”. Từ 23 đến 31/07/1980, chuyến bay hợp tác Xô – Việt đã được thực hiện thành công. Anh hùng Phạm Tuân – phi công vũ trụ đầu tiên của Việt Nam đã cùng bay với nhà du hành vũ trụ Nga – V.V Gorbatco và thực hiện một số thí nghiệm khoa học trong vũ trụ. Tuy nhiên, sau đó Chương trình hợp tác bị ngắt quãng do Liên xô và khối Đông Âu bị sụp đổ.

    Trong những năm gần đấy, nhiều thành tựu của khoa học và công nghệ vũ trụ (CNVT) đã được triển khai ứng dụng ở nước ta, đặc biệt trong các lĩnh vực thông tin liên lạc, khí tượng thủy văn, viễn thám, định vị nhờ vệ tinh, … Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, phạm vi và hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng CNVT ở nước ta còn hạn chế, chưa tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội hiện nay và tương lai của đất nước.

    Ngày 14/06/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 137/2006/QĐ/TTg phê duyệt “Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2022” của Việt Nam, trong đó, giao Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

    1. Chủ trì việc nghiên cứu và phát triển công nghệ vệ tinh nhỏ.
    2. Thành lập Viện Công nghệ vũ trụ trực thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
    3. Chủ trì xây dựng, trình duyệt Bộ KH&CN, tổ chức thực hiện Chương trình khoa học công nghệ độc lập cấp Nhà nước về công nghệ vũ trụ (gọi tắt là Chương trình KHCNVT), dự án phòng thí nghiệm trọng điểm về công nghệ vũ trụ.

    Để tạo ra tiềm lực về khoa học công nghệ vũ trụ, bao gồm nguồn nhân lực KHCN vũ trụ, cơ sở vật chất, thiết bị, triển khai ứng dụng CNVT phục vụ quản lý tài nguyên, thiên nhiên, môi trường và thiên tai, nhằm từng bước làm chủ công nghệ vệ tinh, đạt trình độ tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, đồng thời phát triển các phần mềm, nâng cao khả năng ứng dụng CNVT phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ KHCN quản lý và Viện KHCNVN chủ trì xây dựng và thực hiện Chương trình KHCN vũ trụ.

    Các hướng nghiên cứu chính của Chương trình KHCNVT bao gồm:

    • Nghiên cứu công nghệ vệ tinh nhỏ quan sát trái đất,
    • Nghiên cứu chế tạo thiết bị, trạm mặt đất,
    • Nghiên cứu mở rộng và nâng cao hiệu quả ứng dụng CNVT phục vụ phát triển KT-XH, an ninh quốc phòng (xử lý và ứng dụng ảnh viễn thám; nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng hệ thống định vị GPS . . .)
    • Nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý của Việt Nam về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình.

    Chương trình đã được thực hiện thử nghiệm thành công trong 3 năm (2008-2011), tạo ra một số sản phẩm công nghệ cao, một số nghiên cứu cơ bản, ứng dụng có chất lượng cao, qua đó các Bộ, Ngành cũng như cộng đồng đã nhận thấy vai trò không thể thiếu của CNVT trong phát triển bền vững KT-XH, an ninh quốc phòng.

    Tháng 10/2012, Bộ trưởng Bộ KH&CN đã ký quyết định thành lập Ban chủ nhiệm Chương trình và phê duyệt Khung Chương trình KHCNVT giai đoan 2012-2015, giao Viện KHCNVN chủ trì thực hiện các nhiệm vụ thuộc Chương trình.

    Chương trình bao gồm 4 hướng chính:

    • Công nghệ vệ tinh
    • Ứng dụng công nghệ vũ trụ
    • Nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng CNVT
    • Công nghệ tên lửa đẩy

    Các nhiệm vụ sẽ được các Hội đồng tư vấn khoa học xem xét, trình Chủ tịch Viện KHCNVN phê duyệt thực hiện dưới 2 hình thức: tuyển chọn và giao trực tiếp, tùy theo tính chất của nhiệm vụ và cơ quan thực hiện. Chương trình được thông báo đến các cơ quan, trường đại học trong cả nước, qua đó đã xây dựng được nhiều nhiệm vụ có giá trị khoa học công nghệ và tính ứng dụng thực tiễn cao, đồng thời tạo ra được những nhóm nghiên cứu mạnh, hợp tác giữa các cơ quan, trường đại học để phát triển ngành KHCN vũ trụ của nước nhà, nhằm hoàn thành tốt các nhiệm vụ của “Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng CNVT đến năm 2022”.

    Website Chương trình Khoa học Công nghệ Vũ trụ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoa Học Và Những Lợi Ích Cho Trẻ Mầm Non
  • Những Lợi Ích Của Nghiên Cứu Khoa Học Đối Với Sinh Viên
  • Vai Trò Của Khoa Học Cơ Bản?
  • Lợi Ích Của Công Bố Khoa Học
  • Các Lí Do Nên Tham Gia Hoạt Động Ngoại Khóa Ở Trường Đại Học
  • Thiên Văn Học Và Khoa Học Công Nghệ. Những Triển Vọng Của Việt Nam ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Học Tốt Môn Ngữ Văn Hiệu Quả Nhất
  • Lợi Ích Của Việc Học Violin Là Gì?
  • Cùng Tìm Hiểu Ngay Tác Dụng Của Trà Bí Đao
  • Bà Bầu Ăn Bao Nhiêu Hạt Macca Mỗi Ngày, Thời Điểm Nào?
  • Các Chuyên Gia Nói Gì Về Lợi Ích Của Sữa Hạt? Tại Sao Nên Uống Sữa Hạt?
  • Thiên văn học là một trong những ngành khoa học hình thành vào bình minh khoa học của nhân loại. Cuối thế kỷ XX và đầu thiên niên kỷ XXI, ngành khoa học này đã có những bước tiến nào ? Khoa học thiên văn phải dựa vào các công nghệ nào để phát triển và nó có những đóng góp gì cho các ngành khoa học công nghệ khác ?

    Một sao siêu mới (điểm sáng chỉ bằng mũi tên) bùng nổ năm 2006 trong thiên hà Messier 100 (Hình ESO).

    Kính thiên văn vô tuyến đường kính 100 m cuả Viện Max Planck tại Effelsberg (Đức) (Hình Max Planck Institut für Radioastronomie).

    Sự phát triển công nghệ sản xuất vật liệu bán dẫn và siêu dẫn cũng giúp các nhà thiên văn làm thiết bị để chụp hình và thu tín hiệu vô tuyến cuả các thiên thể. Những kính thiên văn hiện đại đều được trang bị thiết bị CCD để thay thế những tấm kính và phim ảnh như trong máy ảnh số hiện nay, bởi vì CCD có độ nhạy cao hơn kính và phim ảnh nhiều. CCD chữ viết tắt cuả Charge Coupled Device là một linh kiện điện tử có khả năng biến đổi ánh sáng thành điện, theo nguyên tắc hiệu ứng quang điện, nên được dùng để ghi hình các thiên thể.

    Công nghệ thông tin có vai trò quan trọng trong nghiên cứu vũ trụ. Các nhà thiên văn đã có những đề án quan sát đại trà để phát hiện những thiên hà xa xôi. Những mô hình lý thuyết được dùng để mô phỏng quá trình hình thành những cấu trúc như những chùm thiên hà trên diện rộng trong vũ trụ. Các nhà thiên văn phải lập ra những mô hình lý thuyết và giải những bài toán rất phức tạp, trong đó có hàng chục tỷ đối tượng tượng trưng các thiên hà tương tác với nhau qua lực hấp dẫn. Để thực hiện những công trình nghiên cứu này, họ phải sử dụng những siêu máy tính hiện đại nhất chạy liên tục trong hàng tháng mới đạt được kết quả. Chương trình phát hiện tín hiệu vô tuyến phát ra bởi những nền văn minh trong vũ trụ cũng cần nhiều máy tính để xử lý nhanh chóng số liệu.

    Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ II kết thúc, các kỹ sư trước kia đã từng làm nghĩa vụ quân sự phòng không và phát hiện tàu chiến trên biển bằng ra-đa, nay trở thành những nhà khoa học tiên phong xây những ăng-ten và máy điện tử để thu tín hiệu vô tuyến trong vũ trụ. Ngành thiên văn vô tuyến đã được phát triển, chính là nhờ những nỗ lực của các chuyên gia kỹ thuật radar. Nhiều khám phá thiên văn quan trọng, như sự phát hiện bức xạ phông vũ trụ, một bằng chứng thiết yếu củng cố thuyết Big Bang, đã được thực hiện trên bước sóng vô tuyến. Sự cộng sinh giữa khoa học cơ bản và khoa học kỹ thuật là yếu tố cần thiết trong quá trình phát triển của ngành thiên văn hiện đại.

    RFI : Sự phát triển khoa học thiên văn cần đến nhiều phương tiện kỹ thuật, công nghệ, vậy ngược lại, các kết quả nghiên cứu của ngành thiên văn có thực sự có ích lợi trực tiếp cho các ngành khoa học và công nghệ khác không ? Xin giáo sư cho biết một số ý kiến của giáo sư về vấn đề này ?

    Ông Nguyễn Quang Riệu : Có ý kiến cho rằng kinh phí dành cho nghiên cứu thiên văn đáng lẽ phải được dùng để giải quyết những vấn đề mà nhân loại quan tâm đến nhiều hơn. Tuy nhiên, từ thời xa xưa, bầu trời vẫn là một đối tượng huyền bí mà nhân loại vẫn muốn quan sát và tìm hiểu. Ngày nay, ngành thiên văn có ảnh hưởng cụ thể đến đời sống thường ngày. Nhờ có những tính toán dựa trên những định luật cơ bản cuả Newton trong lĩnh vực cơ học mà các vệ tinh mới được phóng thành công vào không gian.

    Vệ tinh cũng được dùng trong công nghệ vô tuyến truyền thông để truyền tín hiệu TV và điện thoại di động. Công nghệ phóng vệ tinh đang phát triển để phục vụ nhân loại trong công việc bảo vệ môi trường, dự đoán quá trình tiến hoá của khí hậu và khai thác tài nguyên.

    Tôi xin kể ra một số ứng dụng của thiên văn học hiện đại trong công nghiệp. Các nhà thiên văn đã tìm thấy trong dải Ngân hà một loại phân tử gồm có những chuỗi dài nguyên tử cacbon và họ muốn tìm hiểu trong phòng thí nghiệm cơ chế hình thành những phân tử hữu cơ này. Họ tình cờ chế ra được một loại phân tử rất kỳ lạ, gồm có 60 nguyên tử cacbon sắp xếp trên bề mặt một cái lồng tương tự như một quả bóng đá vi mô, mà họ đặt tên là fullerene. Sự phát hiện ra loại phân tử fullerene đã mở đường cho sự chế tạo vật liệu vi mô thường được dùng trong công nghệ nano.

    Kỹ thuật phục hồi hình các thiên thể cho sắc nét đã được áp dụng trong ngành y để chẩn đoán bệnh trong võng mạc ở đáy mắt. Hình cuả những thiên thể chụp bằng kính thiên văn phóng lên không gian thường rất sắc nét. Nhưng đối với những kính thiên văn đặt trên mặt đất, thì ánh sáng phát từ vũ trụ phải truyền qua khí quyển hỗn loạn nên hình thiên thể không còn được rõ nét nữa. Các nhà thiên văn phải chế ra một thiết bị quang học để loại trừ hiện tượng nhiễu do khí quyển gây ra. Muốn quan sát võng mạc bằng kính hiển vi, bác sĩ cũng phải nhìn qua một môi trường hỗn loạn trong nhãn cầu, cũng như các nhà thiên văn nhìn qua màn khí quyển. Với thiết bị phục hồi hình trong ngành thiên văn, những chi tiết chỉ nhỏ bằng những tế bào trong võng mạc xuất hiện sắc nét qua kính hiển vi và giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh chính xác hơn.

    Thiên văn học cũng tham gia vào công việc bảo vệ môi trường. Bầu khí quyển trên những đô thị thường bị ô nhiễm bởi những chất thải công nghiệp. Những tia laser được phóng vào không gian để thăm dò khí quyển. Những chất hóa học ô nhiễm trong khí quyển hấp thụ ánh sáng của tia laser. Ánh sáng lại được tái phát và thu trong kính thiên văn và phân tích bằng máy quang phổ để xác định bản chất cuả những chất ô nhiễm.

    Nghiên cứu vũ trụ còn giúp các nhà khoa học tìm hiểu cơ chế phát năng lượng từ những phản ứng tổng hợp hạt nhân như trong mặt trời và các ngôi sao. Nếu nhân loại cũng khống chế được những phản ứng tổng hợp hạt nhân trên trái đất thì họ sẽ có một nguồn năng lượng lớn vô cùng. Đề án quốc tế ITER xây một lò thí nghiệm tổng hợp những hạt nhân nhẹ như deuterium và tritium với nhau đang được tiến hành. Lò tổng hợp hạt nhân có lợi thế hơn so với những lò nguyên tử hiện có. Bởi vì không giống như những lò nguyên tử phân hạch này, làm vỡ những nguyên tử uranium và để lại nhiều chât thải phóng xạ, lò tổng hợp hạt nhân giải phóng nhiều năng lượng hơn và không để lại chất thải. Đây là ưu điểm cuả phản ứng tổng hợp hạt nhân. Tuy nhiên, chính nhiên liệu tritium cũng là chất phóng xạ, nên khi có sự cố nổ lò như ở Fukushima tại Nhật Bản thì cũng có thể gây ra tai biến.

    Không gian vũ trụ còn là nơi để có được tầm nhìn tổng quát nhằm đề phòng những mối đe dọa đến từ bên ngoài trái đất, chẳng hạn như sự cố trái đất va chạm với thiên thạch.

    Tóm lại, các nhà thiên văn không những sử dụng những kỹ thuật hiện đại sẵn có mà còn đòi hỏi những thiết bị ngày càng tối tân để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu khoa học. Mối quan hệ hai chiều giữa thiên văn học và kỹ thuật là động lực dẫn đến sự phát triển công nghệ. Thiên văn học đã có những bức tiến bộ nhờ những phát minh công nghệ hiện đại, ngược lại nghiên cứu vũ trụ cũng ảnh hưởng đến sự phát triển công nghệ.

    RFI : Là người nhiều năm quan tâm và hỗ trợ ngành thiên văn học non trẻ tại Việt Nam, theo giáo sư, Thiên văn học tại Việt Nam cho đến nay đã phát triển ra sao và triển vọng của ngành khoa học này hiện tại như thế nào ?

    Ông Nguyễn Quang Riệu : Hiện nay ở Việt Nam, sự chấn hưng nền giáo dục và khoa học là điều cần thiết và đã được bàn đến rất nhiều trong cộng đồng các nhà khoa học trong và ngoài nước. Khoa học cơ bản nên được phát triển song song với khoa học thực nghiệm và ứng dụng. Tách rời những lĩnh vực này mà chỉ quan tâm đến phát triển công nghệ có thể dẫn đến tình trạng mất cân bằng khiến cho sự phát triển khoa học phải phụ thuộc vào nước ngoài. Một số thành công rực rỡ của ngành toán học Việt Nam có thể là động cơ phát triển ngành khoa học vũ trụ.

    Trong khuôn khổ hợp tác khoa học giữa Đại học Quốc gia Hà Nội với Đại học Paris, Pierre và Marie Curie, và Đài Thiên văn Paris, chúng tôi đã tổ chức vào đầu tháng 11 năm 2010 một hội thảo về môn khoa học vũ trụ và khí hậu học tại Việt Nam, nhân dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Các nhà khoa học đầu ngành của Pháp trình bày những kết quả mới nhất thu được bằng kính thiên văn đặt trên mặt đất và phóng lên không gian, cùng khả năng phát triển thiên văn học tại Việt Nam. Các nhà khoa học nhận định rằng khí thải công nghiệp làm Trái Đất ngày càng nóng lên và có khả năng biến thành một hành tinh khô cằn. Kỹ thuật thám hiểm vũ trụ cũng được dùng để tiên đoán những diễn biến của khí hậu.

    Việt Nam không nhất thiết phải xây những đài thiên văn đắt tiền và những kính thiên văn lớn để quan sát vũ trụ. Các nhà thiên văn toàn cầu là một cộng đồng không biên giới. Trong thời gian đầu chưa có thiết bị, các nhà thiên văn Việt Nam có thể cộng tác với đồng nghiệp nước ngoài và sử dụng những kính thiên văn sẵn có trên thế giới. Họ không cần phải đến tận đài quan sát, nhưng có thể theo dõi những buổi quan sát từ xa trên máy tính và xử lý số liệu trong phòng thí nghiệm trong nước. Họ cũng có thể dùng máy tính để lập ra những mô hình lý thuyết nhằm giải thích những kết quả thu được.

    Điều cốt yếu là đào tạo đủ chuyên gia để thành lập được một đội ngũ thiên văn đầu ngành. Chúng tôi đã vận động để sinh viên Việt Nam sang Đại học Paris 6 và Đài Thiên văn Paris thực tập và làm luận án tiến sĩ về môn vật lý thiên văn. Những sinh viên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Paris đã trở về nước công tác. Việt Nam cũng có dự án thành lập một bộ môn khoa học vũ trụ trong trường đại học đẳng cấp quốc tế Việt – Pháp tại Hòa Lạc ở ngoại thành Hà Nội.

    Những cuộc thí nghiệm khoa học đơn giản và những buổi trình diễn thiên văn dưới vòm nhà chiếu hình vũ trụ là những biện pháp để phổ biến khoa học cho quảng đại quần chúng. Đã có một đề án Việt – Pháp để xây tại thủ đô Hà Nội một Cung khoa học trong đó có nhà chiếu hình vũ trụ, nhằm phổ biến khoa học cho quảng đại quần chúng. Cùng một số các nhà khoa học trong nước, chúng tôi đã tham gia hoạt động tích cực trong nhiều năm nhằm thực hiện đề án này. Nhưng đáng tiếc là cho đến nay, công trình xây dựng Cung khoa học vẫn hãy còn tồn tại dưới dạng đồ án thiết kế.

    RFI : Ban Việt ngữ đài RFI xin trân trọng cảm ơn giáo sư đã dành thời gian cho Tạp chí hôm nay.

     

    Thư TinHãy nhận thư tin hàng ngày của RFI: Bản tin thời sự, phóng sự, phỏng vấn, phân tích, chân dung, tạp chí

    Đăng ký

    Tải ứng dụng RFI để theo dõi toàn bộ thời sự quốc tế

    Download_on_the_App_Store_Badge_VN_RGB_blk_100217

    google-play-badge_vi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Andre Brahic, Người Đưa Công Chúng Đến Với Trời Sao
  • 5 Lợi Ích To Lớn Của Võ Thuật Đem Lại Khiến Bạn Muốn Tập Luyện Ngay Và Luôn
  • Lợi Ích Của Việc Học Võ Thuật Ở Trẻ Mầm Non – Hoa Trang Nguyen
  • Lợi Ích Khi Học Tiếng Nhật Online Với Người Nhật Bản Xứ
  • 5 Lợi Ích Khi Học Piano Cho Trẻ
  • 5 Lợi Ích Của Công Nghệ Trong Lớp Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Lợi Ích Khi Không Dùng Điện Thoại Trước Khi Ngủ
  • 7 Lợi Ích Khi Không Sử Dụng Điện Thoại Trước Khi Ngủ ✅
  • Lợi Ích Khi Sử Dụng Smartphone Thương Hiệu Việt
  • Trình Bày Suy Nghĩ Của Em Về Lợi Ích Và Tác Hại Của Việc Sử Dụng Diện Thoại Di Động.
  • Mobile Recruiting Là Gì? Những Lợi Ích Của Tuyển Dụng Qua Điện Thoại Di Động
  • Chúng ta hãy xem một số lợi ích lớn nhất của ứng dụng công nghệ trong lớp học và đặc biệt là sự ảnh hưởng của công nghệ đối với sự hứng thú của học sinh trong học tập.

    Lợi ích thứ #1: Làm Cho Học Sinh Gắn Kết Hơn Và Giúp Họ Duy Trì Thông Tin

    Trong các lớp học, những lời sáo rỗng thường xuyên diễn ra khiến cho học sinh cảm thấy chán nản trong giờ học. Khi buồn chán, các cô cậu học sinh sẽ nhìn ra ngoài cửa sổ, ngẫm nghĩ lại bộ phim hoặc chương trình truyền hình tối qua. Hoặc họ làm việc riêng để phớt lờ lời nói của giáo viên bằng việc gõ tay lên bàn để tạo ra những giai điệu âm nhạc hoặc tưởng tượng ra những điều thú vị. Tóm lại, họ hoàn toàn không thật sự chú tâm vào bài giảng.

    Không có gì ngạc nhiên khi các nghiên cứu cho thấy các học sinh tham gia ôn tập nhiều hơn so với những gì họ đã học trước đó. Điều này chỉ đúng với lớp học tiểu học cũng như đối với giảng đường. Một nghiên cứu kéo dài 6 năm của các sinh viên tại Học viện Công Nghệ ở bang New York là một trường hợp điển hình. Trong nỗ lực giảm số lượng học sinh thất bại hoặc rời bỏ chương trình công nghệ kỹ thuật của học viện, nhiều công nghệ đã được đưa vào chương trình giảng dạy. Một sự đáng kinh ngạc đó là 90% học sinh tham gia nói rằng công nghệ đã giúp họ trong học tập và ôn tập kiến thức cũ.

    • Người học thính giác đáp ứng tốt nhất với lời nói hơn là chữ viết. Đối với các cựu học sinh, những bài học được thu lại, audiobooks và podcasts có thể được dệt thành các bài học một cách hiệu quả.
    • Người học trực quan dựa vào thị giác nhiều hơn âm thanh, tuy nhiên. Họ đọc nhanh hơn những người học thính giác và có xu hướng tập trung vào chi tiết nhiều hơn khi đọc. Khi nói đến việc tích hợp công nghệ vào các lớp học cho những loại học sinh này, sách điện tử và màn hình tương tác là sự lựa chọn tốt. Ngoài ra, các bài học PowerPoint với biểu đồ và các tài liệu định hướng trực quan khác như những video hữu ích.
    • Người học xúc giác tìm thấy sự năng động trong học tập tốt nhất, vì vậy giáo viên có thể khuyến khích họ sử dụng các giác quan. Điều này thường đưa ra một thách thức cho họ và cả giáo viên của họ. Đặc biệt, trong quá khứ, cách dạy truyền thống chủ yếu được xem là đường một chiều. Theo mô hình đó, học sinh bắt buộc phải ngồi trong khoảng thời gian dài để lắng nghe giáo viên hoặc làm bài tập. Người học xúc giác sẽ cảm thấy chán nản và mất tập trung trong những điều kiện học tập đó. May mắn thay, đây là nơi công nghệ tỏa sáng vì tính thực tế cao của nó. Cho phép học sinh giữ các thiết bị, nhấp chuột và vuốt màn hình, đặc biệt là xúc giác. Nó giúp cho loại học sinh này bằng cách lôi cuốn giác quan của họ.

    Nói một cách đơn giản, việc cung cấp nhiều phương pháp học tập khác nhau cho phép giáo dục được thực hiện theo cách cá nhân hóa hơn. Điều đó đã trở thành một chiến thắng nhất định cho các học sinh.

    Ở ngoài lớp học, học sinh thích chia sẻ kinh nghiệm của mình trên các trang mạng xã hội như Facebook, Instagram, Twitter và Snapchat. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ vào lớp học sẽ dẫn đến sự cộng tác tốt hơn. Sự kết nối Internet có thể dành cho các học sinh đến từ một lớp học, toàn trường, quốc gia hoặc kể cả các thành phố khác trên thế giới. Hãy tưởng tượng sự thích thú của một đứa trẻ ở Mỹ khi cùng học bài với ai đó đến từ Peru hoặc Ý.

    • Twiducate là một nền tảng miễn phí mà giáo viên với các lớp từ mẫu giáo cho đế lớp 12 có thể sử dụng. Nó đơn giản là một trang web mạng xã hội giáo dục khuyến khích sự hợp tác.
    • epals là một nơi dành cho học sinh để kết nối và có bạn bè trực tuyến.
    • myViewBoard là một bộ phần mềm bao gồm màn hình kỹ thuật số mạnh mẽ và chia sẻ các tính năng miễn phí.

    Lợi ích thứ #5: Chuẩn Bị Tương Lai Cho Học Sinh

    Khi nói đến tương lai thì hệ thống giáo dục là tất cả về việc chuẩn bị hành trang cho những người trẻ tuổi đến cuối cuộc đời. Một phần lớn trong tương lai của họ sẽ là thế giới làm việc. Điều này có nghĩa là họ cảm thấy thoải mái với công nghệ mới. Do đó, các trường học và đại học cần cập nhật nhanh chóng để bắt kịp xu hướng. Trên thực tế, khả năng cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào dân số mà người dân giỏi và dễ dàng thích nghi. Thất bại trong việc hợp tác và hưởng lợi từ công nghệ có sẵn sẽ tạo cho học sinh – và tất cả mọi người – một sự bất đồng khủng khiếp.

    Một trường học có tư duy tiến bộ thậm chí có thể làm nhiều điều hơn cho tương lai của học sinh.

    Như đã nói, “tương lai chính là hiện tại”. Điều này chưa bao giờ được công nhận như ngày nay. Hơn nữa, nó sẽ còn đúng hơn vào ngày mai. Nếu các lớp học không theo kịp với sự tiến bộ của công nghệ, tương lai sẽ có vấn đề.

    Tuy nhiên, các trường học có thể vượt qua thách thức do bản chất công nghệ luôn thay đổi, học sinh có thể khám phá tiềm năng vô hạn của mình và tận dụng nhiều cơ hội chưa thể hiện ra.

    Thông tin liên hệ: Công ty TNHH Thương mại và phát triển công nghệ Đức Pháp:

    • Hồ Chí Minh: Số 527 – 529 đường Lê Văn Lương, Phường Tân Phong, Quận 7, TP. Hồ Chí Minh
    • Hà Nội: Số 116/19 đường Tây Mỗ, Quận Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội

    Hotline: 0909 138 114 – 028 377 62039 – 0931 221 388

    Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cho Phép Học Sinh Dùng Điện Thoại Trong Lớp: Lợi Ích Và Nguy Cơ
  • Lợi Ích Khi Dùng Tổng Đài Điện Thoại
  • 10 Công Dụng Của Đậu Nành Đối Với Sức Khỏe Bạn Không Nên Bỏ Qua
  • 6 Lợi Ích Ấn Tượng Của Hạt Đậu Nành
  • Tìm Hiểu Sữa Mè Đen Có Tác Dụng Gì Cho Sức Khỏe Và Làm Đẹp?
  • Khoa Học Công Nghệ Với Sự Phát Triển Của Đất Nước Việt Nam.

    --- Bài mới hơn ---

  • Lợi Ích Của Trung Tâm Khoa Học Và Công Nghệ Năng Lượng Hạt Nhân Mang Lại Cho Việt Nam
  • Lợi Ích Của Học Văn Bằng 2 Tiếng Anh
  • Học Tiếng Anh Qua Skype Có Những Lợi Ích Gì?
  • Học Tiếng Anh Có Những Điều Lợi Ích Gì
  • Học Ngoại Ngữ Sớm Có Lợi Ích Gì ?
  • Khoa học – công nghệ mang lại rất nhiều lợi ích trong sự phát triển của đất nước. Nó giúp đẩy nhanh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước , đổi mới công nghệ máy móc cũ thay bằng công nghệ máy móc mới hiện đại và ngày càng giảm sức lao động của con người. Có khoa học – công nghệ , năng suất lao động ngày càng tăng lên , hàng hóa của cải vật chất ngày càng nhiều , đất nước ngày càng phát triển và có vị thế lơn về kinh tế, nhất là trong quá trình hội nhập thì việc có vị thế lơn về kinh tế trong khu vực và thế giới là vô cùng cần thiết cho sự phát triển của đất nước. Không chỉ vậy khoa học – công nghệ còn giúp nâng cao chất lượng y tế , quốc phòng , an ninh… về máy móc , phương tiện tạo điều kiện lớn cho sự phát triển của y tế nước nhà , đời sống nhân dân từng bước cải thiện , quốc phòng an ninh sẽ ngày càng hiện đại hơn và bảo vệ vững chắc an ninh và tăng cường sức mạnh phòng thủ đất nước. Rõ ràng một điều là khoa học – công nghệ sẽ giúp cho việc hiện đại hóa các máy móc , công nghệ trong các lĩnh vực khác như văn hóa , giáo dục ,như vậy khoa học – công nghệ sẽ làm cho đất nước ngày càng văn minh hơn.

    Trong quá trình hội nhập hiện nay thì khoa học – công nghệ sẽ làm cho đất nước ngày càng văn minh hiện đại , đẩy nhanh, mạnh và vững chắc cho sự phát triển của đất nước. Nâng cao sức cạnh tranh và tiếng nói của đất nước Việt Nam trên trường khu vực và quốc tế. Chính vì vậy mà khoa học – công nghệ là một trong lĩnh vực trọng tâm mà Đảng và Nhà nước luôn coi trọng và tăng cường thúc đẩy phát triển trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nãy và cũng là lĩnh vực luôn được chú trọng xuyên xuốt tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội.

    Để cho khoa học – công nghệ phát triển mạnh trên đất nước Việt Nam thì đòi hỏi đất nước ta phải chú trọng đầu tư phát triển mạnh mè nền giáo dục cho thế hệ trẻ vì chính họ – những chủ nhân tương lai của đất nước, với sức trẻ , tính năng động sáng tạo sẽ tiếp thu khoa học – công nghệ của thế giới , và đặc biệt là có thể sáng tạo ra những sản phẩm trí tuệ cho đất nước. Sức trẻ chính là nhân tố chính và là nhân tố quyết định cho sự phát triển của nước nhà .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Khoa Học, Công Nghệ Và Đổi Mới Sáng Tạo Trong Hình Thái Xã Hội 5.0
  • Đánh Giá Vai Trò Của Khoa Học
  • Khoa Học Là Gì Và Công Nghệ Là Gì? Vai Trò Của Khoa Học Và Công Nghệ
  • Những Lợi Ích Khi Tham Gia Câu Lạc Bộ Tiếng Anh
  • Lợi Ích Cho Trẻ Học Tiếng Anh Sớm
  • Trung Tâm Nghiên Cứu Và Chuyển Giao Khoa Học Công Nghệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Tụ Hóa
  • Máy Phát Điện Nhập Khẩu, Lắp Đặt
  • Tìm Hiểu Hệ Thống Tiêu Hóa Làm Việc Như Thế Nào?
  • Giáo Án: Làm Quen Với Chữ Cái
  • Ý Nghĩa Hoa Xuyến Chi Và Tác Dụng Chữa Bệnh Của Hoa Này
  • Cây Thanh Long (Hylocereus undulatus, Haw.)

    TS. Nguyễn Văn Kế – Đại học Nông Lâm

    Trích nguồn từ http://www.longdinh.com.vn/

    1. GIỚI THIỆU

    Cây thanh long (tên tiếng Anh là Pitahaya, hay còn gọi là Dragon fruit, thuộc họ Xương rồng, có nguồn gốc ở các vùng sa mạc thuộc Mehico và Colombia. Thanh 1ong được người Pháp đem vào trồng ở Việt Nam trên 100 năm nay, nhưng mới được đưa lên thành hàng hóa từ thập niên 1980. Việt Nam hiện nay là nước duy nhất ở Đông  Nam á có trồng thanh long tương đối tập trung trên qui mu thương mại với diện tích ước lượng 4.000 hectare (1998), tập trung tại Bình Thuận 2.716 hectare, phần còn lại là Long An, Tiền Giang, TP. HCM, Khánh Hòa và rải rác ở một số nơi khác. Nông dân Việt Nam với sự cần cù sáng tạo đã đưa trái thanh long lên mặt hàng xuất khẩu làm nhiều người ngoại quốc ngạc nhiên. Hiện nay, nước ta đã xuất khẩu thanh long qua nhiều nước dưới dạng quả tươi. Riêng thị trường Nhật do sự kiểm dịch thực vật rất khắt khe trong vài năm gần đây đã chỉ nhập thanh long dưới dạng đông lạnh. ở Bình Thuận nói riêng và Nam bộ nói chung mùa thanh long tự nhiên xảy ra từ tháng 4 tới vườn tháng 10, rộ nhất từ tháng 5 tới tháng 8. Vào thời điểm ấy giá rẻ , một số nhà vườn tiến bộ đã phát hiện, hoàn chỉnh dần từng bước kỹ thuật thắp đèn tạo quả trái vụ để chủ động thu hoạch, nâng cao hiệu quả kinh tế. Vài năm gần đây Thái Lan, Taiwan và cả Trung Quốc cũng đã bắt đầu nghiên cứu trồng cây này.

    2. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

    2.1. Sinh thái

    Là cây có nguồn gốc nhiệt đới, chịu hạn giỏi, nên được trồng ở những vùng nóng. Một số loài chịu được nhiệt độ từ 500C tới 550C . Nhưng nó không chịu được giá lạnh. Chúng thích hợp khi trồng ở các nơi có cường độ ánh sáng mạnh, vì thế hễ bị che nắng thân cây sẽ ốm yếu và lâu cho quả. Cây mọc được trên nhiều loại đất khác nhau như đất xám bạc màu (Bình Thuận), đất phèn (TP.HCM), đất đỏ latosol (Long Khánh)…; nó có khả năng thích ứng với các độ chua (pH) của đất rất khác nhau. Khi trồng thanh long nên chọn các chân đất có tầng canh tác dày tối thiểu 30 – 50 cm và để có năng suất cao nên tưới và giữ ẩm cho cây vào mùa nắng. Nhưng cây thuộc họ xương rồng chịu hạn giỏi nhưng chịu đựng độ mặn kém, dù vậy đã có một số hộ ở Cần Giờ trồng thử thanh long trên đất bị nhiễm mặn (0,8%) đã được lên liếp và cải tạo tầng mặt, mùa khô không tưới.

    2.2. Thực vật học

    2.2.1. Rễ cây

    Khác hẳn với chồi cành, rễ thanh long không mọng nước nên nó không phái là nơi tích trữ nước giúp cây chịu hạn. Cây thang long có hai loại rễ: địa sinh và khí sinh.

    Rễ địa sinh phát triển từ phần lôi ở gốc hom. Sau khi đặt hom từ 10 – 20 ngày thì từ gốc hom xuất hiện các rễ tơ màu trắng, số lượng rễ tăng dần và kích thước của chúng cũng tăng dần theo tuổi cây, những rễ lớn đạt đường kính từ 1 – 2 cm. Rễ địa sình có nhiệm vụ bám vào đất và hút các chất dinh dưỡng nuôi cây. Rễ phân bố chủ yếu ở tầng đất mặt (0 – 15 cm). Theo Gibson và Nobel (1986) thì rễ xuất hiện trong tầng đất từ 0 – 30 cm. ở các nơi đất xốp và có tưới nước rễ có thể mọc sâu hơn. Khi đất khô các rễ sợi sẽ chết đi, các rễ cái lớn hơn sẽ hóa bần làm giảm sự dẫn nước khoảng 10 lần để ngăn chặn sự mất nước vào đất thông qua rễ. Khi đất ẩm rễ lại mọc trở lại một cách dễ dàng.

    Rễ khí sinh mọc dọc theo thân cây phần trên không, bám vào cây chống (choái) để giúp cây leo lên giá đỡ. Những rễ khí sinh nằm gần đất sẽ đi dần xuống đất.

    2.2.2. Thân, cành

    Thanh long (một loại xương rồng) trồng ở nước ta có thân, cành trườn bò trên trụ đỡ (climbing cacti), trong khi ở một số nước trồng loại xương rồng thân cột (columnar cacti). Thân chứa nhiều nước nên nó có thể chịu hạn một thời gian dài. Thân, cành thường có ba cánh dẹp, xanh, hiếm khi có 4 cánh. ở các nước khác có thứ 3, 4, 5 cánh. Tiết diện ngang cho thấy có hai phần: bên ngoài là nhu mô chứa diệp lục, bên trong là lõi cứng hình trụ. Mỗi cánh chia ra làm nhiều thùy có chiều dài 3 – 4cm. Đáy mỗi thùy có từ 3 – 5 gai ngắn. Chúng sử dụng CO2 trong quang hợp theo hệ CAM (Crassulacean Acid Metabolism) là một hệ thích hợp cho các cây mọc ở vùng sa mạc. Mỗi năm cây cho từ 3 -  4 đợt cành. Đợt cành thứ nhất là cành mẹ của đợt cành thứ hai và cứ thế cành xếp thành hàng lớp trên đầu trụ. Trong mùa ra cành, khoảng thời gian giữa hai đợt ra cành từ 40 – 50 ngày. Số lượng cành trên cây tăng theo tuổi cây: cây một tuổi trung bình có độ 30 cành, hai tuổi độ 70 cành, ba tuổi độ 100 cành và bốn tuổi 130 cành. ở cây 5 – 6 tuổi chỉ duy trì độ 150 – 170 cành.

    Chiều dài cành thanh long đo ở cuối vụ thu hoạch được trình bày ở bảng 1.

    Bảng 1: Chiều dài cành thanh long

    Tuổi vườn       Trung bình (cm)          Dài nhất (cm)  Ngắn nhất (cm)

    1          73        119      42

    2          82        140      52

    3          98        180      49

    4          108      160      45

    5          103      140      53

    2.2.3. Hoa

    Thanh long là cây ngày dài (trường quang kỳ). Tại Nam bộ hao xuất hiện sớm nhất vào trung tuần tháng 3 dương lịch (dl) và kéo dài tới khoảng tháng 10 dl, rộ nhất từ tháng 5 dương lịch tới tháng 8 dương lịch. Trung bình có từ 4 – 6 đợt ra hoa rộ mỗi năm.

    Hoa lưỡng tính, rất to, có chiều dài trung bình 25 – 35 cm, nhiêu lá đài và cánh hoa dính nhau thành ống, nhiều tiểu nhị và 1 nhụy cái dài 18 – 24 cm, đường kính 5-8 mm, nuốm nhụy cái chia làm nhiều nhánh. Hoa thường nở tập trung từ 20 – 23 giờ đêm và đồng loạt trong vườn. Từ nở đến tàn kéo dài độ 2 – 3 ngày. Thời gian từ khi xuất hiện nụ tới hoa tàn độ 20 ngày. Các đợt nụ đầu tiên rụng từ 30% đến 40%, về sau tỉ lệ này giảm dần khi gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi.

    Tại nông trường Phạm Văn Hai trên các liếp đất phèn cây thanh long đã trồng được 3 năm, nghiên cứu các đợt thanh long ra hoa cho thấy như sau:

    Bảng 2 : Sự ra hoa của thanh long trong năm

    Ngày/tháng/năm          Số hoa ra         Tỷ lệ (%)

    10/3 – 04/5/1995          583      2,57

    11/5 – 31/5/1995          4343    19,14

    01/6 – 30/6/1995          9945    43,83

    01/7 – 31/7/1995          6788    29,92

    01/8 – 31/8/1995          997      4,40

    01/9 – 11/9/1995          32        0,14

    Tổng số hoa ra trong năm       22.688 100,00

    Số hoa trên mỗi trụ     94,5    

    Ghi chú: Theo dõi 240 trụ tại hộ anh Võ Thành Nghiệp.

    Như vậy mùa ra hoa rộ là từ giữa tháng 5 tới cuối tháng 8.

    2.2.4. Quả và hột

    Sau khi hoa thụ, bầu noãn sẽ phát triển thành quả mọng (cactus pears), trong 10 ngày đầu tốc độ phát triển tương đối chậm, sau đó tăng rất nhanh về cả kích thước lẫn trọng lượng. Thời gian từ khi hoa thụ tới thu hoạch chỉ từ 22 – 25 ngày, trong thí nghiệm thắp đèn tạo quả trái vụ của Đỗ Văn Bảo thì thời gian này là 25 – 28 ngày. Như vậy thời gian phát triển của quả thanh long tương đối ngắn so với nhiều loại quả nhiệt đới khác như xoài, sầu riêng, chuối, dứa thường phải mất từ 85 tới 140 ngày. Quả thanh long hình bầu dục có nhiều tai lá xanh (do phiến hoa còn lại), đầu quả lõm sâu tạo thành “hốc mũi”. Khi còn non vỏ quả màu xanh, lúc chín chuyển qua đỏ tím rồi đỏ đậm. Thịt quả màu trắng cho đại đa số thanh long trồng ở miền Nam Việt Nam.

    Tại Bình Thuận phân tích 100 quả lấy ngẫu nhiên cho thấy sự phân bố về kích thước và trọng lượng như sau:

    Bảng 3 : Thành phần cấp quả của thanh long ở Bình Thuận

    Hạng quả (g)   Tỷ lệ (%)         Trọng lượng TB (g)     Dài TB (cm)    TB (cm)           Dày vỏ (mm)   Phần ăn được (G)

    < 330   20        270      12,5     11        4,8       170

    330 – < 500      65        410      13        12        4,6       315

    500 – <700       12        565      15        12        4,5       400

    ³ 700    3          750      16        13,5     3,8       550

    Trong một thí nghiệm xử lý thanh long ra hoa trên đất phèn nông trường Phạm Văn Hai (10) cân ngẫu nhiên 150 quả, trọng lượng trung bình là 568,8 g. Dài trung bình là 12,28 cm và đường kính trung bình là 9,2 cm, như vậy quả đặc và chắc hơn. Gần đây do thâm canh cao, đã có nhiều quả lớn trọng lượng từ l kg đến l,3 kg. Thường quả nặng trên 300 g là đã có thể xuất khẩu được.

    Phân tích thành phần sinh hóa cho thấy trong 100 g thịt quả chín: hàm lượng đường tổng số có thể biến động từ 8 g đến 12 g, vitamin C từ 3,8 mg đến 9,4 mg. Có sự biến động này là do phân bón, chế độ chăm sóc và thời gian hái, hễ để quả chín trên cây càng lâu càng ngọt. Trong bản dự thảo mô tả sản phẩm thanh long mà phân viện Công Nghệ Sau Thu Hoạch đã xây dựng cho thấy độ Brix của thanh long ở Bình Thuận biến thiên từ 11% đến 15,3%, quả có độ cứng từ l,73 tới 2,0 lbs (15).

    Chi tiết được trình bày ở bảng 4, theo đó ngoài chất đường, sinh tố, quả còn chứa nhiều muối khoáng như K, Ca và Mg.

    Bảng 4 : Thành phần sinh hóa của quả

    Thành phần     Trong 100 g ăn được

    Brix (tổng số chất hòa tan)     13

    Đường khử (g)            6,1

    Đường tổng số (g)      11,5

    Acid hữu cơ (g)          0,13

    Protein (g)       0,53

    K (mg) 212,2

    P2O5 (mg)      8,7

    Ca (mg)           134,5

    Mg (mg)          60,4

    Vitamin C (mg)           9,4

    Xơ (g) 0,71

    Phân tích tại Bộ môn Sinh lý – Sinh hóa và Bộ môn Thủy Nông thuộc Đại học Nông Lâm TP. HCM.

    Hột: Mỗi quả có rất nhiều hột nhỏ, màu đen nằm trong khôi thịt quả màu trắng. Do hột nhỏ và mềm nên không làm phiền người ăn như hột của một số loại quả khác (23).

    3. GIỐNG TRỒNG

    Một số người cho rằng thanh long ở Việt Nam có ba giống: dạng quả tròn, quả dài, quả chôm chôm (quả nhỏ). Qua điều tra chúng tôi nhận thấy có cả 3 dạng quả trên cùng một cành, trên cùng một cây. Dạng quả tùy thuộc vào điều kiện sinh thái, nhất là chế độ ánh sáng và chế độ chăm sóc. Theo Jean Bourdenut (CIRAD-FLHOR) thì thanh long Việt Nam là loại thanh long ruột trắng, giống thuần do nhân vô tính bằng hom. Sau đó ông đã đưa vào Việt Nam hai giống ruột đỏ và ruột vàng (1995), hiện đang trồng và theo dõi, sức sinh trưởng của hai giống mới nhập yếu hơn và cũng theo Jean Bourdeaut thanh long của ta trái to và ngọt hơn.

    Giống ruột đỏ và ruột vàng có quả nhỏ hơn và vỏ dày hơn. TS. Suraphong Kosiya-chinta cho biết ông hai giống ruột trắng và đỏ thì được giống ruột hồng.

    Đã có nhiều nghiên cứu về giống thanh long theo Carranza A. E. (Nuestra Tiera, Oct 1976, v.2(8) P9-10,2 l Spanish) thì có các loài H. trigonus, H. tetragonus, H.  pentagunus … Nước ta cần du nhập và lai tạo để ngày càng có nhiều giống mới hấp dẫn hơn.

    4. KỸ THUẬT TRỒNG TRỌT

    4.1. Chuẩn bị đất

    4.1.1. Đất cao

    Tại Bình Thuận khi có điều kiện hầu hết các chân đất đều được bà con khai thác trồng thanh long như đất rừng, đất thổ cư, các khu vườn tạp. Phần lớn là đất xám bạc màu, nhiều cát. Có nơi khai thác tới sát chân núi. Công việc chuẩn bị đất tương đối đơn giản: cắm cọc, đào lỗ xuống trụ. Sau khi chôn xong trụ thì đào âm quanh trụ sâu độ 10 – 20 cm, đường kính 1,5 m, bón lót phân chuồng rồi phủ lớp đất mặt lên sau đó đặt hom.

    4.1.2. Đất thấp

    Trên các liếp đất phèn trồng dứa và mía trước đây thuộc các nông trường Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân, Láng Le, hay tại xã Bình Lợi… bà con tu bổ lại liếp, chiều cao mặt liếp so với mặt nước trong mương độ 40 cm, để đề phòng trong mùa mưa nước có thể dâng cao ngang mặt liếp nhất là ở những nơi thấp thì cần phải làm thêm mực trước khi xuống giống. Hễ bị ngập nước một vài tuần nhánh thanh long sẽ vàng, khi nước rút phải bón phân để cây phục hồi lại nhưng như vậy năng suất sẽ không cao.

    Đất cần phải được cày bừa kỹ trong mùa nắng, phơi đất, trừ cỏ dại. Hễ cày bừa, làm cỏ không kỹ sau này chi phí trừ cỏ sẽ rất cao, cỏ nguy hiểm trên đất phèn là: cỏ tranh, cỏ ống, cỏ sâu rọm, .vv…

    4.2. Mật độ – khoảng cách và bố trí cây trồng: Tại Bình Thuận 84,3% số hộ trong mẫu phỏng vấn chỉ trồng thuần thanh long. 16,6% số hộ còn lại có trồng xen đậu phọng trong 1 – 2 năm đầu. Tại TP. HCM, Long An. .. trên liếp thanh long có trồng xen dứa, hoặc các loại rau như ớt, dưa hấu, cà… Tại Long An thanh long có thể được trồng trên mô hay trên liếp ở trên ruộng lúa, hoặc thanh long trồng trên liếp có xen các loại rau như rau muống, cải, ớt, dưa hấu… dưới mương nuôi cá.

    Nên trồng thanh long ở mật độ từ 700 – 1.000 trụ/ha ứng với khoảng cách khoảng 3 m x 3 m. Thanh long là cây cần nhiều ánh nắng nên hễ trồng dầy thì quả nhỏ, bán không được giá. Lấy mẫu một số quả ở các vườn có mật độ khác nhau tại Long An cho thấy có quan hệ giữa kích thước quả và mật độ cây, chi tiết được trình bày ở bảng 5.

    Bảng 5. Quan hệ giữa mật độ và trọng lượng quả

    Khoảng cách

    (m)       Mật độ cây/

    1000 m2          Trọng lượng

    trung bình quả (g)

    2,5 ´ 2,5           140 – 150         294

    2,5 ´ 3,0           100 – 110         322

    2,5 ´ 3,5           90 – 100           344

    3,0 ´ 3,5           70 – 80 370

    Nguồn: Lý Ngọc Đính, BCTN, ĐHNL, 1992

    4.3. Chuẩn bị cây trụ

    Cây thanh long cần bám vào cây trụ nên việc chọn lựa trụ và chuẩn bị là công việc người lập vườn thanh long cần quan tâm trước tiên, chi phí về cây trụ chiếm tỉ lệ cao nhất trong số tiền đầu tư ban đầu. Hầu hết nhà vườn ở Bình Thuận chọn trụ chết bằng gỗ, loại gỗ được chọn thường là loại gỗ tết, chịu được nắng mưa, lâu mục. Loại được dùng nhiều là:

    – Căm xe Xylia dolabriformis Benth

    – Cẩm Liên Xylia xylocarter Taub

    – Cà Chắc Pentaeme siamensis Kurs

    – Sao đen Hopea odorata Roxb

    Việc chọn chiều dài, đường kính trụ, phần chôn dưới đất được trình bày ở bảng 6.

    Cây trụ thường được chọn có đường kính trên 25 cm, dài 2,5 – 2,7 m, sau khi chôn còn cao khoảng 2,0 m. Hiện nay xu hướng của nông dân là hạ thấp trụ xuống, nghĩa là sau khi chôn trụ xong còn cao trung bình từ 1,6 m đến 1,8 m, còn đường kính sử dụng chỉ còn khoảng 15 cm. Nguyên nhân làm nông dân hạ thấp trụ và tận dụng cây có đường kính nhỏ là vì các loại gỗ tết hiếm và đắt, ngoài ra trụ cao khiến việc chăm sóc trở nên khó khăn hơn, tốn nhiều công hơn.

    Bảng 6: Đặc điểm trụ thanh long ở Bình Thuận

    Đặc điểm         Số hộ áp dụng Tỷ lệ (%)

    Đường kính trụ (cm)   15 – 20 3          10

    Chiều dài trụ lúc chưa chôn (m)         2,0 – 2,3           11        36,7

    Chiều dài phần chôn dưới đất (cm)    50 – 60 21        70

    Nguồn: Trần Ngọc Tống, BCTN, ĐHNL, 1995.

    Trụ thấp có lợi điểm: – Giảm được tiền đầu tư ban đầu. – Cành thanh long mau lên đến đầu trụ, chăm sóc và thu hoạch dễ hơn. Qua nhiều năm cắt tỉa các cành nhánh chồng chất trên đầu trụ sẽ làm cây cao dần, việc dùng trụ thấp sẽ hãm bớt sự cao dần lên của cây. Nhưng hễ trụ thấp quá thì nhánh thanh long sẽ rũ xuống đất vừa tốn công cắt tỉa vừa ít quả do cành ngắn hơn. Việc trồng cây trụ cần tiến hành sớm, có thể trước thời vụ trồng một tháng. Sau khi lấp đất cây trụ phải thẳng đứng, không lệch ngọn. Trên đầu mỗi trụ người ta đóng một cái khung bằng gỗ, một thanh ngang hay một vòng tròn … cho thanh long dễ bám để khi đi tới đầu trụ cành thanh long sẽ rũ đầu xuống nên trông toàn tán cây có dạng một cái dù (bay dạng hình nấm).

    Tại ngoại thành thành phố Hồ Chi Mính: Nhà vườn đầu tiên còn e dè về thị trường nên họ thường dùng nhưng cây gỗ xấu, rẻ tiền như cây tràm bông vàng và các loài cây tạp khác. Chỉ sau chừng hai năm cây bắt đầu mục, gãy nên phải thay cây khác rất tốn công. Những người trồng sau rút kinh nghiệm đã dùng trụ là bê tông cốt sắt, đúc vuông mỗi cạnh 12 – 15 cm, dài 2,2 – 2,3 m chôn sâu 0,5 – 0,6 m, như vậy phần trên mặt đất còn 1,7 – 1,8 m, trên đầu trụ làm 2 lỗ đường kính 16 mm để sau này gắn 2 que sắt cho thanh long dễ bám vào đầu trụ. Nhưng hộ không đủ tiền đã mua trụ đẽo bằng đá (xã Bình Lợi, huyện Bình Chánh), loại trụ này thấp, dễ gãy.

    Tại tỉnh Long An, ngoài các loại trụ kể trên, vùng này còn thấy khá phổ biến loại trụ bằng cây sống, như cây còng và nhất là cây vông Erythrina orientalis (L) Murr. Dùng trụ sống có nhiều điểm bất lợi như cây chống (trụ) cạnh tranh ánh sáng và chất dinh dưỡng nên ít quả và quả nhỏ, tốn công xén tỉa cành cây chống hàng năm. Trụ sống do cành phân nhánh có nhiều chạc, nên cây dễ bám và thanh long cố khuynh hướng leo lên cao.

    Một số vườn trước đây trồng hồ tiêu dùng trụ xây bằng gạch, nay sử dụng lại loại trụ này cho thanh long. Lại cùng có một tỉ lệ nhỏ số vườn không sử dụng trụ rời mà làm giàn như giàn mướp cho thanh long leo bám.

    4.4. Chuẩn bị hom giống

    Đã có thí nghiệm nuôi cấy mô thanh long do Lê Quang Luận thực hiện (ĐHNL, 1993). Thanh long có thể trồng bằng hột nhưng lâu có trái. Hiện nay, chủ yếu các nhà vườn trồng bằng hom (cắm cành). Hàng năm việc tỉa cành tạo nên nguồn hom giống dồi dào, nhưng để cành phát triển tốt thì cần chọn những cành có tiêu chuẩn sau:

    – Tuổi cành trung bình từ l – 2 năm tuổi trở lên, cành non không tốt.

    – Chiều dài hom tốt nhất là từ 50 cm đến 70 cm.

    – Hom mập, có màu xanh đậm.

    – Hom không có khuyết tật, sạch sâu bệnh.

    – Các mắt mang chùm gai phải tốt, mẩy, khả năng nẩy chồi (mụt) tốt.

    Sau khi chọn hom xong, hom được dựng nơi thoáng mát, trên nền đất khô ráo, trong vòng 10 – 15 ngày hom bắt đầu nhú rễ thì đem trồng.

    4.5. Thời vụ trồng

    Thường trồng vào tháng 10 – 11 dương lịch, ưu điểm của vụ này là:

    – Nguồn hom giống dồi dào do trùng vào lúc tỉa cành.

    – Lợi dụng được ẩm độ vào cuối mùa mưa.

    – Ở các vùng đất thấp thì mùa này tránh được nguy cơ ngập úng.

    Tuy nhiên, trồng mùa này có nhược điểm là cây chưa lớn đủ để có thể chống chịu nắng hạn, vì vậy cần chú trọng tưới nước và giữ ẩm cho cây trong mùa nắng tới.

    Ở những vùng thiếu nước tưới thì nên trồng vào đầu mùa mưa (tháng 4 – 5). xuống giống trong thời gian này sẽ gặp khó khăn vì là mùa thanh long ra hoa nên thiếu hom, phải có kế hoạch giâm hom từ trước.

    4.6. Bón lót và đặt hom

    Trên đất cao như ở Bình Thuận trước khi đặt hom người ta làm âm xuống một khoảng quanh trụ có cạnh độ l,0 – l,5m, sâu 20 – 30 cm, rồi bón lót độ 10 kg phân chuồng + 0,5 kg Super lân.

    Trên đất thấp phải lên mô trước khi trồng, xới đất và rải phân quanh mô.

    – Đặt từ 3 – 4 hom quanh cây chống (trụ), cần chú ý:

    – Đặt hom cạn 0 – 5 cm để tránh thối gốc do đất ẩm.

    – Đặt áp phần phẳng của hom vào mé trụ để sau này hom ra rễ và bám nhanh vào trụ.

    Cột hom vào trụ để gió khỏi làm lung lay lúc đầu vì rễ trên không chưa phát triển để bám vào cây trụ

    Sau khi đặt hom, ở các vùng đất cao hễ đất khô và hết mưa thì cần tủ gốc để giữ ẩm…

    4.7. Bón phân thúc hàng năm

    4.7.1. Để cây ra hoa tụ nhiên

    Hiện chưa có thí nghiệm về bón phân cho thanh long trên các loại đất khác nhau. Lượng phân bón thay đổi theo tính chất đất, theo tuổi của cây và theo sản lượng mà cây đã cho. Qua điều tra thu thập số liệu ở các vườn có năng suất cao cho thấy có hai kiểu bón phân điển hình:

    – Bón theo đợt: 3 lần/năm chiếm 70% số hộ phỏng vấn.

    – Bón rải ra nhiều lần trong năm chiếm 30% số hộ còn lại.

    Riêng phân chuồng thì chỉ cần bón 1 lần sau tỉa cành (tháng 11) và đây là loại phân quan trọng nhất là đối với các loại đất thiếu chất hữu cơ, giữ ẩm kém. ở năm đầu phân hóa học (chẳng hạn Urê) được hòa vào nước và tưới hoặc phun lên cả thân cành để thúc cành mau leo lên đầu trụ. Các năm sau rải phân quanh gốc rồi tưới nhẹ cho phân hòa tan và ngấm xuống đất.

    Giai đoạn kiến thiết cơ bản: Chỉ kéo dài từ 1 đến 2 năm. Tổng lượng phân bón thúc thường được áp dụng là 30 kg Urê + 20 kg NPK (16-16-8)/100 trụ/năm.

    Chia ra:

    – Sau trồng 15 – 20 ngày thúc 1/3 lượng phân.

    Tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau thúc 113 lượng phân.

    – Tháng 6 – 7 thúc nốt 1/3 lượng phân còn lại, cuối năm thứ 1 bắt đầu có trái bói.

    Một số nhà vườn đã chia phân bón làm nhiều lần như vậy nâng cao được hiệu suất sử dụng phân của cây.

    Ngoài ra cần bổ sung các phân vi lượng bằng cách phun hoặc tưới các chế phẩm như HVP 301, Mymix… như vậy cây con sẽ tăng trưởng thật mạnh ở giai đoạn đầu và sẽ cho quả sớm. Lượng phân thực sự cây sử dụng ở giai đoạn này rất khó tính vì phân bón cho cây trồng xen thanh long cũng đã sử dụng được một phần.

    Giai đoạn kinh doanh. Năm thứ 3 trở đi năng suất đã khá ổn định cần chú trọng tới K, một loại phân cần thiết để làm quả ngon ngọt và chắc hơn. Lượng phân trung bình cho mỗi trụ như sau:

    Phân chuồng : 15 – 50 kg; Phân lân (Super lân) : 0,5 kg; Urê :  0,5 kg; NPK (16-16-8) : 1,5 kg; KCl : 0,5 kg; Chia phân ra làm 3 lần:

    Lần thứ 1 sau khi tỉa cành (tháng 10 – 11) gồm: tất cả phân chuồng + tất cả lân + 1/3 Urê. Mụe đích là để thúc các đợt lộc cành đầu tiên ra nhanh để nó mau trưởng thành làm cơ sở cho việc ra quả vào mùa tới.

    – Lần thứ 2 cách lần thứ l độ 40 ngày gồm 1/3 Urê + 1/5 NPK + 1/2 KCl để thúc đợt cành thứ 2.

    – Lần thứ 3 vào tháng 3 gồm 1/3 Urê + 2/5 NPK + 1/2 KCl thúc đợt cành cuối cùng và làm đợt cành thứ 1 phân hóa mầm hoa.

    Sau ba lần thúc thì bụi thanh long có 3 – 4 lớp cành và đợt nụ đầu tiên bắt đầu xuất hiện, rồi lớp nụ này kế tiếp lớp nụ hoa, lớp quả này kế tiếp lớp quả kia, người làm vườn quan sát sự ra hoa và năng suất mà bón bổ sung từng đợt NPK cho hết 2/5 còn lại bằng cách chia nhỏ lượng phân này rải làm nhiều đợt trong thời gian cây nuôi quả. Ngoài ra còn bổ sung các chất vi lượng bằng cách phun Mymix hoặc HVP,…

    4.7.2. Bón phân cho các vườn thanh long được xử lý ra hoa bằng đèn

    Do kích thích cây ra hoa và nuôi quả nhiều đợt trong năm và để cây bớt kiệt sức nên lượng phân bón và số lần bón đã phải tăng lên. Qua khảo sát 30 vườn có xử lý thanh long ra hoa bằng đèn Phan Văn Thu (14) đã đúc kết tổng lượng phân bón trong năm cho mỗi trụ như sau:

    – Phân chuồng hoai: từ 15 kg đến 50 kg.

    – Phân NPK (16-16-8 hoặc 20-20-15) từ 1 kg tới 3 kg tùy tuổi cây và sản lượng mà cây đã cho mùa trước.

    – Phân KCl từ 0,1 kg tới 0,2 kg (bón lúc nuôi quả).

    – Ngoài ra quan sát cây để bổ sung phân đạm (Urê) từ 0,1 kg tới 0,2 kg (lúc ra chồi) và 0,1 kg tới 0,2 kg Super lân (trước lúc thắp đèn), phun kích phát tố Thiên Nông, Gibberelin và phân vi lượng.

    40% số vườn được phỏng vấn có xử lý đèn cho ra quả trái vụ đã bón phân định kỳ 15 – 20 ngày một lần; 24% bón định kỳ 1 tháng/lần theo nhịp độ thắp đèn. Sự chia phân bón làm nhiều lần sẽ làm phân ít bị rửa trôi, cây sứ dụng hữu hiệu hơn… nhưng tốn nhiều công hơn.

    4.8. Tưới nước

    Mặc dù thanh long chịu hạn giỏi, nhưng nắng hạn kéo dài sẽ làm cây mất sức và làm giảm năng suất nhiều. Biểu hiện của sự thiếu nước là:

    – Cành mới hình thành ít và phát triển rất chậm.

    – Cành bị teo lại và chuyển sang màu vàng.

    – Quả bé.

    Tại Bình Thuận việc tưới nước bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 5. Tùy theo ẩm độ đất… mà nhịp độ tưới thay đổi từ 3 – 7 ngày/lần. Qua phỏng vấn ở Bình Thuận 100% số hộ trồng thanh long có xử lý ra hoa bằng đèn đều đã phải chủ động tưới nước vào mùa nắng, thường tưới vào buổi sáng theo nhịp độ nêu trên.

    4.9. Tỉa cành

    Năm thứ 2 tỉa nhẹ khi cần để tạo tán hình cây dù. Tới cuối năm thứ 3 mỗi trụ có độ 100 cành, với lượng cành này phân bố trên đầu trụ dày đặc. Một số cành già đã cho trái trong những năm trước nếu giữ lại sẽ không cho trái hoặc cho trái nhỏ. Sự tỉa cành làm thông thoáng tán cây và giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi cành mới. Sau tỉa, cành non đâm ra mạnh hơn. Có ba loại cắt tỉa:

    4.9.1. Tỉa đau: Thực hiện sau thu hoạch hoặc trước đợt thu quả cuối cùng. Cắt cùng một lúc tất cả các cành già, các cành ốm yếu, khuyết tật, nằm khuất bên trong tán. Số cành giữ lại trên đầu trụ độ 50 cành. Dùng liềm hoặc dao chặt 3/4 chiều dài của toàn bộ các cành già phía dưới, các tược non sẽ nảy ra từ phần gốc cành được giữ lại.

    Ưu điểm: Dễ làm, đỡ tốn công. Khuyết điểm: Qua nhiều năm các lớp cành chồng chất lên nhau nên bụi thanh long bị đôn lên cao.

    4.9.2. Tỉa lựa. Lựa các cành cần tỉa rồi dùng liềm cán dài giựt đứt khỏi cây. Ưu điểm: Tạo được sự thông thoáng, qua nhiều năm trụ không đôn lên cao. Giữ được sự cân đối giữa các cành của tán cây. Khuyết điểm: Tốn công.

    4.9.3. Tỉa sửa cành: Để kiểm soát số cành con trên cành mẹ (cành sừng trâu). Yêu cầu:

    – Chỉ giữ lại 1 – 3 cành con/cành mẹ.

    – Các cành con trên cành mẹ xa nhau, phân bố đều để tránh tán lệch.

    – Giữ lại các cành mập, khỏe.

    – Tỉa bỏ những cành mọc lòa xòa ra lối đi.

    Do nhu cầu tạo quả trái vụ, một số cành già trước đây thường bị tỉa đi, nay được giữ lại để tạo cảm ứng ra hoa bàng thắp đèn.

    4.10. Làm cỏ: Trước mỗi đợt bón phân. 70% số hộ phỏng vấn làm cỏ thủ công, 30% còn lại dùng thuốc trừ cỏ. Trên đất phèn nơi đất ẩm thường xuyên, có rất nhiều loại cỏ có căn hành rất khó trị như cỏ tranh, cỏ ống, cỏ Paspalum… vì vậy muốn bớt cỏ cần áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp, như cày bừa kỹ vào mùa nắng trước khi trồng, xen canh, dùng thuốc trừ cỏ kết hợp với làm cỏ thủ công sớm…

    4.11. Tủ gốc: Vừa trừ cỏ vừa giữ ẩm, nhất là ở các vùng có mùa khô kéo dài và thiếu nước tưới. Dùng rơm, cỏ khô, xơ dừa… để tủ. Có thể tủ quanh gốc hay tủ toàn bộ liếp. Trong dài hạn ở những vùng có cỏ nhiều, giá nhân công đắt nên áp dụng phủ bạt như ngành trồng dưa hấu và trồng thơm đã làm.

    4.12. Xử lý ra hoa: Đã có một số thí nghiệm cảm ứng thanh long ra hoa bằng hóa chất (KNO3 và một số chất khác) bước đầu đã có kết quả. Hoa ra sớm hơn so với các liếp trồng thanh long khác trong vùng từ 1 – 1,5 tháng. Tuy nhiên, chưa đạt được cảm ứng ra hoa đồng loạt và mạnh như ở cây xoài, số hoa ra còn ít và rải rác. Thanh long có quả sớm giá bán cao gấp 5 – 8 lần so với giá lúc rộ. Trong vài năm gần đây nhiều người trồng thanh long đã thắp đèn để thúc thanh long ra hoa trái vụ. Sự thắp đèn dựa trên cơ sở thanh long là cây ngày dài, dùng ánh sáng đèn để cắt đêm dài. Đã có một số điều tra và thí nghiệm về vấn đề này. Kết quả điều tra và thí nghiệm được tóm tắt như sau:

    1. Nguồn điện thắp sáng: có thể sử dụng lưới điện quốc gia, hoặc máy phát điện riêng. Dùng điện thuộc lưới điện quốc gia có một số bấp bênh như điện áp không ổn định, đôi lúc bị cúp điện làm hỏng kế hoạch, vì muốn cắt đêm dài cần phải thắp sáng liên tục một số giờ nhất định nào đó.

    2. Loại bóng đèn và công suất: dùng bóng đèn tròn, từ 75 tới 100 watt, hiện nay đa số các vườn dùng bóng 75 watt. Dùng đèn ống hiệu quả kém hơn vì cây hấp thu ánh sáng đỏ (red light) và đỏ xa (far red light) (G.R. Noggle và G. J. Fritz). Dùng bóng 60 watt không đủ độ sáng, số quả ra ít. Dùng bóng 200 watt số quả không tăng hơn bao nhiêu mà lại tốn điện.

    Bảng 7: Công suất bóng đèn và năng suất thanh long

    Công suất        Số vườn áp dụng trong mẫu điều tra  (%) số vườn    Năng suất kg/trụ/lứa

    60 watt            3          10        6,4

    75 watt            18        60        7,3

    75 + 100 watt  9          30        7,4

    Cộng   30        100     

    Nguồn: Phan Văn Thu, Luận văn Tốt Nghiệp, ĐHNL, 1999.

    3. Cách treo bóng: Bóng được treo giữa 2 trụ làm thành hàng, cách mặt đất từ 0,7 m tới 1,2 m. Nên câu điện để có thể thắp sáng luân phiên cho các phía của cây được hưởng ánh sáng đồng đều. Cũng có một số vườn câu một bóng điện ở giữa mỗi 4 trụ.

    4. Thời gian thắp sáng: Trương Thị Đẹp (1998) đã sử dụng bóng đèn 100 watt để thắp sáng cho thanh long tác giả đã kết luận thời gian thắp đèn tốt nhất 4 giờ liên tục 10 – 15 đêm mới gây được cảm ứng ra hoa. Qua điều tra trên diện rộng của Phan Văn Thu và thí nghiệm của Đỗ Văn Bảo (1999) tại Hàm Thuận Nam và Phan Thiết thì trong 97 lần thắp sáng bằng đèn của các vườn được điều tra đã có đến 85% số vườn phải thắp đèn từ 8 đến 10 giờ/đêm và liên tục từ 15 đến 20 đêm tùy theo mùa, lúc ngày ngắn thì phải thắp nhiều đêm hơn lúc ngày tương đối dài hơn. Các vườn này đã đạt được bình quân 13,3 kg quả/trụ/lứa thắp đèn. Vào tháng hai một số vườn đã chỉ thắp có 7 giờ/đêm và kéo dài chỉ từ 10 tới 12 đêm. Nhưng nếu xử lý đèn liên tục, mỗi tháng xử lý một lần thì năng suất sẽ thấp và bất ổn, 5 lần xử lý liên tục trong các tháng từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 1 sẽ thu được tổng số 56 quả/trụ hay 26,3 kg/trụ/5 lần xử lý, bình quân chỉ đạt được 5,3 kg/trụ. Như vậy cần chú trọng nghiên cứu sự bón phân, nhịp độ xử lý để có hiệu quả kinh tế cao, tránh lãng phí điện.

    Sau 4 – 7 ngày sau ngưng thắp đèn, nụ hoa sẽ xuất hiện. Nó cần khoảng 20 – 21 ngày cho hoa phát triển, 3 ngày để nở và thụ quả trong vườn, sau đó cần từ 25 đến 28 ngày/ để quả phát triển. Như vậy từ khi ra nụ tới khi thu hoạch mất độ 50 – 52 ngày. Khoảng thời gian này dài ngắn chút ít tùy vào điều kiện khí hậu nơi trồng. Đối với một số loài cây thuộc họ xương rồng, có loài phải mất tới 150 ngày để quả phát triển (23). Như vậy thời gian nuôi quả của thanh long ở nước ta khá ngắn.

    5. BẢO VỆ THỰC VẬT

    Nhìn chung thanh long tương đối ít bị sâu bệnh phá hoại như nhiều cây ăn quả khác.

    5.1. Côn trùng

    5.1.1. Kiến: Cắn, đục khoét làm hư hom giống và các cành thanh long non, cắn mất tai lá trên trái, gây tổn thương vỏ trái, đây là loại côn trùng dễ phòng trừ.

    Để phòng trị dùng Basudin (Diazinon) 10H, Padan 4G, 10G trộn đều với cát 2/1000 rải đều quanh gốc hoặc những nơi làm tổ. Khi tấn công vào các ổ kiến thì dùng Bi 58, Diazinon. ..

    5.1.2. Bọ xít. Hại thanh long từ khi có nụ hoa đến khi trái hình thành, chúng hại bằng cách chích hút nhựa, để lại những vết chích rất nhỏ nhưng đến khi quả chín nơi các vết chích sẽ xuất hiện một chấm đen, mất giá trị xuất khẩu. Việc phòng trừ dùng Trebon, Applaud Mipc, Bassa… nồng độ 0,2%. Phun lên khu vườn có bọ xít xuất hiện.

    5.1.3. Ruồi vàng hay ruồi trái cây (Dacus dorsalis): là đối tượng nguy hiểm đang được báo động hiện nay. Trưởng thành chích và đẻ trứng vào quả gây thoái hóa phần thịt quả và phần nhựa chảy ra ngoài vỏ làm quả thanh long bị hư, không xuất vườn được. Là đối tượng mới xuất hiện trên thanh long nhưng ruồi trái cây đã phá rất nhiều loại quả ở nước ta, năm 1995 thị trường Nhật đã tạm đóng cửa vì họ cho ràng có dấu hiệu của ruồi trái cây, vì thế cần chú ý phòng trừ. Đề nghị nên đưa qui trình phòng trừ ruồi vàng ở ngành trồng cam quít vào đây, trong đó việc vệ sinh đồng ruộng như thu dọn và hủy các quả rụng, rải thuốc diệt nhộng dưới đất, đặt bả có chứa chất dẫn dụ trích từ cây é tía trộn với thuốc trừ sâu để diệt ruồi. Hiện nay các thuốc như Ruvacon 90L và Vizubon D đã có chứa sẵn chất dẫn dụ là Metyl eugenol 75% nên tiện cho nhà vườn hơn.

    5.2. Bệnh

    5.2.1. Bệnh thối đầu cành: Ngọn cành thanh long chuyển màu vàng, rồi mềm, sau đó thối. Cây tăng trưởng chậm, số cành giảm hẳn. Bệnh hay xảy ra vào cuối mùa nắng. Bệnh xảy ra không những trên đất phèn (đất thấp) mà còn cả trên đất cao nữa. Nguyên nhân chính là do nấm Alternaria sp. gây ra. Trị bằng cách phun Rovral 2 lần liên tiếp cách nhau 1 tuần.

    5.2.2. Bệnh đốm nâu trên cành: Thân cành thanh long có những đốm tròn như mắt của màu nâu. Vết bệnh nằm rải rác hoặc tập trung, thường kéo dài thành từng vệt dọc theo thân cành. Có nhiều vết acervulus tròn đen năm rải rác. Tác nhân là nấm Gloeosporium agaves. Thuộc họ Nectrioidaceae, Bộ Melanconialea, Lớp Deuteromycetes.

    5.2.3. Bệnh nám cành: Trên thân cành có một lớp màng mỏng màu xám tro, nhám. Tác nhân là nấm Macssonina agaves Syd và Sphaceloma sp. Họ Nectrioidaceae, Bộ Melanconiales, Lớp Deuteromycetes. Biện pháp phòng trị chung cho các bệnh thanh long là vệ sinh đồng ruộng, chống úng và chống hạn cho cây. Khi tới mức độ phải trị thì dùng thuốc Rovral, hoặc Anvil 5sc (30 – 100 g a.i./ha) phối hợp với Topas (10 – 50 g a.i./ha). Ngoài sâu bệnh kể trên thanh long còn bị dơi, chim, chuột phá hoại quả nữa.

    5.3. Các hiện tượng sinh lý

    5.3.1. Hiện tượng rụng nụ: Xuất hiện khi số nụ trên cành nhiều. Sau khi nụ xuất hiện 5 – 7 ngày thì nụ không phát triển nữa, vàng rồi rụng. Tỷ lệ rụng từ 10% đến 20%. Cây tự quân bình sinh lý để nuôi quả còn lại trên cây. Để hạn chế sự rụng quả sinh lý cần bón phân tưới nước đầy đủ và quân bình.

    5.3.2. Hiện tượng nứt vỏ trái: Do thời tiết, trời hạn ở giai đoạn vỏ quả phát triển, sau đó mưa nhiều hoặc tưới nhiều vào lúc ruột qua phát triển nên quả nứt. Mặt khác do nhà vườn treo quả lâu đợi dịp có giá mới bán. Để hạn chế nên kiểm soát độ ẩm đất, không để vườn khô hạn trong thời kỳ cây nuôi quả.

    6. THU HOẠCH, SƠ CHẾ VÀ NĂNG SUẤT

    6.1. Thu hoạch

    Sau khi trái chuyển màu từ xanh qua đỏ được độ 3 ngày thì dùng liềm hay dao cắt. Khi cắt công nhân đi dọc theo hàng, lựa quả đúng tiêu chuẩn cắt rồi xếp vào một cái gùi. Khi đầy gùi thì chuyển ra đầu hàng người khác cho vào cần xé xếp theo từng lớp có lót giấy, rơm hoặc lá chuối, sau đó vận chuyển đến nơi thu mua.

    Tiêu chuẩn trái xuất khẩu (1994):

    •           – Chuy- Chuyển màu đỏ được 2 – 3 ngày, tối đ

    •           – Ngo- Ngoại hình đẹp, vỏ không bị trầy sướ

    •           – Các tai lá trên qu- Các tai lá trên quả còn xanh tươi và không bị

    •           – Không có v- Không có vết chích của côn trùng. không có vết bệ

    •           – Cu- Cuố

    Không có bất cứ tồn dư thuốc hóa học nào trên ngưỡng cho phép để bảo đảm sức khỏe cho người tiêu dùng.

    Trái tiêu thụ trong nước:

    Thường được thu hái trễ hơn nên quả nặng, to hơn, và ngọt hơn thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng trong nước. Việc thu hoạch tiến hành giống như khi thu xuất khẩu nhưng không cần xử lý đóng thùng, chỉ cho vào cần xé, may miệng lại rồi chở đến nơi tiêu thụ.

    6.2. Sơ chế xuất khẩu

    – Phân loại quả theo trọng lượng, có thể sử dụng thang phân loại do Phân Viện Công Nghệ Sau Thu Hoạch dự thảo theo đó quả thanh long được phân làm 4 loại: loại l trên 500 g, loại 2 từ 380 g đến 500 g, loại 3 từ 300 g đến 380 g và loại 4 nhỏ hơn 300 g. Theo cách phân loại này thì các loại quả từ hạng 3 trở lên đều có thể xuất khẩu được.

    – Xử lý trừ nấm: quả được xếp ra sàn tối đa là 5 lớp, không nên chất đống, sau đó quả được xử lý bằng cách nhúng quả vào thau đựng nước thuốc trừ nấm (chẳng hạn Topsin M . . .), xếp quả qua một bên, quạt gió cho khô tối thiểu 15 phút, rồi đóng thùng.

    – Đóng thùng: thùng carton đựng thanh long có kích thước 46 ( 31 ( 13 cm, làm bằng giấy carton gồm 3 lớp dày 5 mm, thùng có 10 lỗ thông gió kích thước 2,5 cm ( 4 cm, bố trí đối xứng. Bên trong thùng có vách ngăn cho từng quả một. Trọng lượng thùng là 750 g. Quả được bọc bằng bao PE có 10 lỗ thông gió đường kính là 5mm hay tết hơn nên bọc bằng lưới Polystiren, như vậy sẽ tránh được trầy sướt khi chuyên chở. Trọng lượng tịnh (quả) là 5 – 5,2 kg.

    Tồn trữ, chuyên chở: do quả thanh long dễ hư, khi xuất khẩu cần chuyên chở nhanh bằng tàu lạnh.

    Hễ xuất khẩu ít thì có thể chở băng máy bay, giữ ở nhiệt độ mát trong máy bay. Khi chuyên chở xa bằng tàu thì các thùng thanh long phải làm lạnh trước ở nhiệt độ 80C Sau đó cho vào container giữ ở nhiệt độ 50C, ẩm độ không khí từ 85% đến 90%, có ván lót để bảo đảm thông gió.

    Thị trường tiêu thụ hiện nay là Taiwan, Singapore, Hongkong, Nhật Bản,… và vài nước Âu châu mua với số lượng ít.

    Vườn chăm sóc tốt có khoảng 70 – 80% số trái đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, giá xuất khẩu gấp độ 1,5 lần giá nội địa.

    6.3. Năng suất

    Sau một năm trồng thì thanh long bắt đầu cho trái bói, các năm thứ 3, 4, 5 là những năm có năng suất cao. Từ năm thứ 6 trở đi năng suất bắt đầu giảm từ từ. Một cách tổng quát trong điều kiện thanh long ra hoa tự nhiên, năm thứ l năng suất độ 3 kg quả/trụ, năm thứ 2: 10 – 15 kg/trụ, năm thứ 3: 30 kg/trụ, năm thứ tư 40 – 45 kg/trụ, sau đó giảm từ từ tới năm thứ 12 còn độ 20 – 25 kg/trụ. Việc chăm bón tốt, thời tiết thuận lợi sẽ làm năng suất cao và ổn định nhiều năm.

    THANH LONG

     

     I.  GIÚP THANH LONG RA HOA VỤ NGHỊCH:

     Phun sương thuốc đều bộ lá 2 lần. Pha 15 g chúng tôi + 35 ml RA HOA C.A.T(2 nắp lưng ) / 8 lít, phun cụ thể:.lần1- trước khi thắp đèn 1-2 ngày..lần 2 – sau lần nhất 7 ngày.

     Công dụng:

     -Thúc thanh long ra hoa đồng loạt và sớm hơn.

     -Tăng khả năng ra hoa, giúp thanh long hấp thụ ánh sáng nhiều, giảm thời gian và chi phí thắp đèn.

     -Tăng số hoa và trái cho thanh long.

    II. NUÔI TRÁI:

      Khi lặt râu xong, pha 35 ml DƯỠNG TRÁI / 8 lít phun sương đều cả cây, 7 ngày

      sau phun thêm 1-2 lần nữa.

     Công dụng:

     -Làm trái to, chắc ruột, cân nặng và ngon ngọt.

     -Giúp vỏ trái khi chín có màu đỏ đều, bóng đẹp, tai trái dài, xanh, cứng.

     -Tăng sản lượng, hương vị thanh long, tăng tỷ lệ trái loại 1.

    III. CÂY MỚI TRỒNG & CÂY SAU THU HOẠCH:

     Phun định kỳ chúng tôi 15 g / 8 lít lên bộ lá và cả phần thân rễ cây theo chu kỳ 10-

    15 ngày / lần.

     Công dụng:

     -Giúp cây con lớn nhanh, mau cho trái.

     -Thúc đẩy bộ rễ phát triển tốt, cây kháng bệnh mạnh.

     -Giúp hồi phục nhanh & chuẩn bị tốt cho vụ sau.

     

     

     

    Số lần xem trang : 6

    Nhập ngày : 02-04-2008

    Điều chỉnh lần cuối :

     In trang này

     Lên đầu trang

     Gởi ý kiến

       CÂY THANH LONG

     

     

    Họ tên: Phạm Đức Toàn, Đc: Viện nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường – Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Tel: 0918386966, Email: [email protected]

    Thiết kế: Trung Tâm Tin Học ứng Dụng – ĐHNL 2007

     

    Số lần xem trang: 12158

    Điều chỉnh lần cuối:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cây Thanh Long Ruột Đỏ – Đặc Điểm, Cách Trồng Chăm Sóc Thanh Long Ruột Đỏ
  • Những Điều Có Thể Bạn Chưa Biết Về Hoa Sứ
  • Cây Hoa Sứ Trắng Có Đặc Điểm Gì Và Ý Nghĩa Ra Sao?
  • Giáo Án Tập Viêt Lớp 3 Tiết 24: Ôn Chữ Hoa R
  • Giáo Án Tập Viết Tuần 21: Chữ Hoa R
  • Lợi Ích Của Trung Tâm Khoa Học Và Công Nghệ Năng Lượng Hạt Nhân Mang Lại Cho Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Lợi Ích Của Học Văn Bằng 2 Tiếng Anh
  • Học Tiếng Anh Qua Skype Có Những Lợi Ích Gì?
  • Học Tiếng Anh Có Những Điều Lợi Ích Gì
  • Học Ngoại Ngữ Sớm Có Lợi Ích Gì ?
  • Trẻ Học Ngoại Ngữ Sớm Sẽ Có Những Lợi Ích Gì?
  • Tuy không phải là một trong các nước đầu tiên phát triển nghiên cứu hạt nhân và công nghệ bức xạ, Việt Nam cũng đã vận hành thành công một lò phản ứng nghiên cứu hạt nhân ở Đà Lạt trong vòng hơn 30 năm qua. Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Công Tạc, mặc dù chỉ có công suất thấp, lò phản ứng nghiên cứu tại Đà Lạt đã có nhiều đóng góp to lớn cho việc nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp, y học và nhiều ngành công nghiệp khác. Theo ông: “Với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay, lò phản ứng công suất 500 KW không còn đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng trong việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ công nghệ cao, do vậy đòi hỏi phải xây dựng một lò phản ứng nghiên cứu mới với công suất lớn hơn”.

    Sự ra đời của Trung tâm Khoa học và Công nghệ Năng lượng Hạt nhân (CNEST) chính là câu trả lời hoàn hảo cho các thách thức đặt ra hiện nay trong phát triển khoa học và công nghệ. Nếu được cấp phép xây dựng, CNEST sẽ là một trung tâm đa chức năng với mục tiêu chính là ứng dụng các công nghệ bức xạ trong sản xuất, y học, nông nghiệp và các lĩnh vực quan trọng khác. Trung tâm sẽ được trang bị một lò phản ứng nghiên cứu công suất cao và các phòng thí nghiệm khoa học. Ông Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam Vinatom cho biết: “CNEST không chỉ được xây dựng để thay thế lò phản ứng nghiên cứu hạt nhân cũ ở Đà Lạt mà còn để xây lắp một lò phản ứng nghiên cứu mới với công suất lên đến 15 MW, nhằm trở thành nền tảng cho nhiều hoạt động nghiên cứu và ứng dụng tiên tiến, qua đó nâng cao tiềm năng phát triển ngành công nghiệp hạt nhân Việt Nam”.

    Sự ra đời của CNEST sẽ giúp tiếp tục nâng cao năng lực ngành y học hạt nhân công nghệ cao ở Việt Nam. Các đồng vị phóng xạ được sản xuất tại Trung tâm sẽ được sử dụng trong chẩn đoán và điều trị các loại ung thư, bệnh nội tiết và các bệnh tim mạch. Dự kiến trong một năm hoạt động, Trung tâm có thể giúp điều trị gần 10 nghìn người mắc bệnh ung thư, bệnh tim, cũng như các bệnh hiểm nghèo khác bằng cách sử dụng phương pháp xạ trị và bức xạ gamma-neutron. Các đồng vị phóng xạ được sản xuất tại Trung tâm sẽ được đưa đến các phòng khám có các hệ thống PET/SPECT nhằm phục vụ công tác chẩn đoán cho bệnh nhân. Ước tính mỗi năm, một hệ thống như vậy có thể chẩn đoán cho khoảng 15.000 bệnh nhân.

    Bên cạnh đó, CNEST sẽ hỗ trợ thúc đẩy ngành nông nghiệp hạt nhân Việt Nam. Việc áp dụng phương pháp chiếu xạ thức ăn và các sản phẩm nông nghiệp trong chế biến và kiểm soát sâu bệnh sẽ giúp tăng hạn sử dụng của sản phẩm, đồng thời phương pháp chiếu xạ hạt để kích thích phát triển cũng sẽ giúp tăng năng suất, qua đó thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu nông nghiệp của Việt Nam. Theo ông Nguyễn Hữu Quang, Giám đốc Trung tâm Ứng dụng Kỹ thuật Hạt nhân trong Công nghiệp: “Công nghệ bức xạ và hạt nhân đóng một vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực như y tế, nông nghiệp, và sản xuất. Chẳng hạn trong lĩnh vực y tế, công nghệ hạt nhân được sử dụng để điều trị và chẩn đoán bệnh ung thư. Trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ chiếu xạ giúp tạo ra các loại cây trồng năng suất cao”.

    Lò phản ứng nghiên cứu được xây dựng ở Việt Nam là một trong các lò phản ứng an toàn nhất. Có thể nói CNEST sẽ không có tác hại nào đến môi trường (khí quyển và mặt đất) đồng thời hoàn toàn an toàn cho cộng đồng xung quanh. Các loại công nghệ và nhà máy sẽ được sử dụng trong CNEST ở Việt Nam đã được lắp đặt và phát triển trên thế giới trong hơn 70 năm qua. Các kỹ thuật đề xuất áp dụng ở Việt Nam đã được thử nghiệm trong nhiều năm và vận hành thành công ở Nga. Hơn 120 nhà máy nghiên cứu hạt nhân đã được xây dựng theo công nghệ của Nga, trong đó có hơn 20 nhà máy được xây lắp ở nước ngoài.

    Trong bối cảnh nhu cầu về các sản phẩm và dịch vụ công nghệ cao ứng dụng công nghệ hạt nhân của khu vực ngày càng gia tăng ở một số ngành phi năng lượng như y học, nông nghiệp, sản xuất; việc xây dựng và phát triển Trung tâm CNEST có thể giúp Việt Nam trở thành một quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á trong lĩnh vực phát triển nghiên cứu và ứng dụng năng lượng hạt nhân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoa Học Công Nghệ Với Sự Phát Triển Của Đất Nước Việt Nam.
  • Vai Trò Của Khoa Học, Công Nghệ Và Đổi Mới Sáng Tạo Trong Hình Thái Xã Hội 5.0
  • Đánh Giá Vai Trò Của Khoa Học
  • Khoa Học Là Gì Và Công Nghệ Là Gì? Vai Trò Của Khoa Học Và Công Nghệ
  • Những Lợi Ích Khi Tham Gia Câu Lạc Bộ Tiếng Anh
  • 10 Lợi Ích Sức Khỏe Của Muối Ăn Được Khoa Học Công Nhận

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 15 Lợi Ích Thật Sự Của Muối Hồng Himalaya Được Giải Mã
  • 16 Công Dụng Của Muối Biển Và Cách Sử Dụng Đúng
  • Lợi Ích Của Trứng Muối Với Sức Khoẻ ” Thế Giới Ẩm Thực
  • 5 Tính Năng Mới Trên Bộ Ba Iphone 11 Khiến Người Dùng “thích Mê”
  • Hai Tính Năng Này Sẽ Giúp Iphone 11 Vượt Qua Mọi Đối Thủ
  • Giúp kiểm soát bệnh tiểu đường: Một cơ thể khỏe mạnh cần có nồng độ insulin thích hợp. Cơ thể trở nên ít nhạy cảm với insulin hơn khi chế độ ăn uống thường ngày của bạn chứa ít muối.

    Điều này có thể dẫn đến sự suy giảm khả năng trao đổi glucose của cơ thể, gây ra tiểu đường loại 2. Vì vậy, đối với những người có tiền sử mắc bệnh tiểu đường loại 2, việc tiêu thụ một lượng muối vừa phải mỗi ngày là rất quan trọng.

    Chăm sóc sức khỏe răng miệng: Các nha sĩ khuyên rằng chúng ta nên sử dụng nước muối sinh học để súc miệng như một cách để điều trị những vết loét trên nướu do vi khuẩn gây ra (như nướu viêm cấp tính).

    Sử dụng nước muối sinh học để làm sạch nướu sẽ giúp giảm đau tức thời. Nước súc miệng cần được pha chuẩn xác bằng nửa muỗng cà phê muối hòa với một cốc nước ấm.

    Phòng chống thiếu i-ốt: Một trong những nguồn cung cấp i-ốt phổ biến nhất là muối i-ốt. Cơ thể cần i-ốt để sản sinh hormone tuyến giáp.

    Theo nghiên cứu khoa học, cơ thể con người không tự sản sinh ra i-ốt, điều này khiến cho việc hấp thu i-ốt từ muối i-ốt càng trở nên quan trọng. Nếu cơ thể không được cung cấp đủ lượng i-ốt, tuyến giáp sẽ phình ra để đáp ứng nhu cầu hormone tuyến giáp của cơ thể và gây ra những bệnh như suy tuyến giáp.

    Huyết áp thấp có thể được điều trị bằng cách hấp thu nhiều muối hơn vì điều này sẽ giúp tăng lượng máu lưu thông trong các động mạch, nhờ đó giúp làm tăng huyết áp của cơ thể.

    Ngăn ngừa chuột rút cơ: Chuột rút cơ là một hiện tượng thường thấy và có thể được gây ra bởi việc tập thể dục, sử dụng dược phẩm hoặc đồ uống có cồn. Chuột rút có thể được xoa dịu tức thời bằng việc uống những dung dịch có chứa một lượng muối phù hợp.

    Cải thiện giấc ngủ: Việc chảy nước dãi trong khi ngủ thể hiện sự thiếu hụt muối của cơ thể. Sự thiếu muối lại cho thấy sự thiếu hụt nước. Vì vậy, tuyến nước bọt tiết nhiều nước bọt hơn để ngăn chặn sự thiếu hụt này.

    Bởi vậy, các bác sĩ khuyên rằng bạn nên uống dung dịch chứa muối trước khi đi ngủ. Điều này giúp ngăn ngừa sự sản sinh nước bọt quá mức. Muối biển hỗ trợ quá trình sản sinh các hormone như serotonin và melatonin – những loại hormone giúp chống chọi với stress. Vì vậy, muối biển sẽ giúp bạn thư giãn và có những giấc ngủ ngon.

    Đảm bảo cung cấp đủ nước cho cơ thể: Các nghiên cứu cho thấy sự hấp thu muối sẽ giúp duy trì lượng nước thích hợp cho cơ thể. Sự cân bằng chất điện giải cần được duy trì để đảm bảo sự vận hành trôi chảy của các cơ quan trong cơ thể. Những người thực hiện những hoạt động tốn nhiều sức lực dẫn đến đổ nhiều mồ hôi cần lưu ý bù lại lượng nước và muối mất đi qua mồ hôi.

    Duy trì cân bằng các chất điện giải: Các chất điện giải trong máu, bao gồm kali, clo, natri và axit cacbonat, hỗ trợ sự vận động của các dây thần kinh và cơ bắp. Các chất này cũng giúp duy trì sự cân bằng nước và sự cân bằng axit-bazơ trong cơ thể.

    Các nghiên cứu đã cho thấy, sau khi đổ nhiều mồ hôi, ăn các loại thức ăn có nhiều muối sẽ giúp duy trì sự cân bằng các chất điện giải. Đó là bởi muối sẽ giúp giữ lại các chất lỏng trong cơ thể và vì thế giúp cho cơ thể được cung cấp đủ nước. Theo các nhà nghiên cứu, mồ hôi sẽ gây ra một sự mất mát lớn các chất natri và clo.

    Hỗ trợ tiêu hóa: Muối đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ chức năng tiêu hóa của cơ thể. Bên cạnh việc giúp vị giác, muối cũng giúp phân nhỏ thức ăn. Muối chịu trách nhiệm cho sự hình thành axit clohydric – một chất bài tiết tiêu hóa quan trọng. Đây là chất lót thành dạ dày và hỗ trợ quá trình tiêu hóa thức ăn.

    Phòng ngừa sốc nhiệt: Khi bị sốc nhiệt, cơ thể sẽ giảm khả năng tỏa nhiệt hiệu quả và vì thế không thể duy trì nhiệt độ cơ thể bình thường. Sốc nhiệt có thể gây nguy hiểm cho các cơ quan nội tạng. Để ngăn việc này xảy ra, cơ thể bắt đầu tự làm mát bằng cách đổ mồ hôi, dẫn đến mất nước và muối nghiêm trọng.

    Uống nhiều nước và ăn đủ muối sẽ giúp duy trì cân bằng chất điện giải và nhờ đó ngăn ngừa sốc nhiệt. Bên cạnh đó, một người vừa bị sốc nhiệt có thể được cấp cứu bằng cách truyền các dung dịch có chứa muối và đường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 9 Lợi Ích Tuyệt Vời Từ Muối Biển
  • Những Lợi Ích Ít Người Biết Của Việc Ăn Muối Chừng Mực
  • Lợi Ích Không Nhỏ Của Muối I Ốt
  • Cách Kích Hoạt Chế Độ Dark Mode Trên Ios 13
  • Lợi Ích Của Vòi Tưới Nhỏ Giọt Trong Nông Nghiệp
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100