Top 15 # Xem Nhiều Nhất Lợi Ích Của Internet Trong Giáo Dục Mới Nhất 6/2023 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Ứng Dụng Của Internet Trong Ngành Giáo Dục Hiện Nay

Ứng dụng của internet trong ngành giáo dục

Cuộc sống ngày càng phát triển cũng là lúc mà internet đi sâu hơn vào sinh hoạt của con người. Internet phục vụ cho quá trình tra cứu thông tin, giải trí làm việc và đặc biệt quan trọng trong giáo dục. Vai trò của internet đối với giáo dục ngày càng được khẳng định và sử dụng đạt được hiệu quả tích cực.

Ứng dụng của Internet trong giáo dục

Chúng ta có thể thấy rằng ngành giáo dục đã có những bước phát triển vô cùng quan trọng khi mà có sự xuất hiện của internet. Chúng giúp cho chúng ta khám phá thế giới rộng lớn, có được kho tàng kiến thức bao là và quản lý con người hiệu quả hơn. Ứng dụng của internet trong giáo dục

Công cuộc công nghiệp, hóa hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế toàn cầu đã đưa Việt Nam bước sang một trang sử mới, một thời kỳ công nghệ hiện đại với sự giúp sức diệu kỳ của khoa học, kỹ thuật. Cụ thể hơn là của hệ thống mạng lưới internet. Ở Việt Nam internet không chỉ được dùng để giải trí, để kết nối bạn bè.

Mặt khác, những ứng dụng của Internet còn được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực quan trọng như là giáo dục, phục vụ cho Quốc phòng, an ninh trật tự xã hội, quản lý con người. Đối với giáo dục ứng dụng của internet rất phổ biến từ các cấp học thấp cho tới các trường đại học lớn trên cả nước.

Internet được sử dụng rộng rãi trong giáo dục

Những ứng dụng của Internet đối với học sinh

Đối với học sinh, sinh viên thì Internet được coi là một trong những phương tiện hiệu quả giúp các bạn tra cứu thông tin, tìm kiếm tri thức,, thực hiện các nghiên cứu khoa học. Các bạn cũng có thể sử dụng chúng làm phương tiện để giải trí sau mỗi tiết học căng thẳng để mình có được tinh thần tốt hơn, đạt được hiệu quả học tập cao hơn.

Có thể thấy học sinh sinh viên hiện nay ai cũng sở hữu một chiếc máy tính hoặc điện thoại thông minh có khả năng kết nối internet thông qua đó các bạn cũng có thể kết nối với tất cả các bạn học sinh, sinh viên trong cả nước hoặc trên toàn thế giới để trao đổi kiến thức mở mang hiểu biết của mình.

Trong ngành y thì sinh viên trường Cao đẳng y dược tphcm, Đại học Y Hà Nội,…sử dụng máy tính kết nối mạng để tìm hiểu về các loại thuốc, các loại bệnh, các phương pháp y học hiện đại. Đối với ngành giáo dụng thì người ta sử dụng internet để soạn giáo án, giảng bài hiệu quả hơn. Hay trong công nghệ thông tin, những trường như đại học FPT không thể nào thiếu đi sự kết nối của internet trong giảng dạy, thực hành.

Vai trò của mạng Internet triong quản lý con người không thể phủ nhận

Những ứng dụng của Internet đối với giảng viên, cán bộ

Đối với đội ngũ giảng viên, cán bộ của mỗi trường học hay trong ngành giáo dục nói chung thì internet phát huy tối đa vai trò tìm kiếm thông tin của mình đồng thời giúp các cán bộ quản lý con người một cách hiệu quả hơn.

Phương thức giảng dạy sẽ được cải tiến, mang đến chất lượng khi mà có sự hỗ trợ của Internet và các thiết bị khoa học như máy chiếu, máy vi tính. Trong những năm gần đây, ứng dụng của mạng internet vào trong giáo dục ngày càng được chú trọng nâng cao, đầu tư nhiều hơn. Tuy nhiên, vẫn còn có những xu hướng tiêu cực trong việc làm này điều đó cần được khắc phục nhanh chóng trong thời gian trước mắt.

9 Lợi Ích Của Việc Sử Dụng Cntt Trong Giáo Dục / Tâm Lý Giáo Dục Và Phát Triển

Trong suốt bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích những lợi ích hoặc lợi ích của việc sử dụng CNTT trong lĩnh vực giáo dục, cũng như các biện pháp phòng ngừa hoặc các trở ngại có thể có thể được tìm thấy trong việc sử dụng nó.

CNTT trong giáo dục là gì?

Việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) trong bối cảnh học thuật và trường học đã tăng lên đáng kể trong 10 năm qua, đặc biệt là ở các quốc gia và xã hội có chương trình giảng dạy thay thế và đổi mới hơn.

Do nhiều lợi ích mà CNTT có thể mang lại cho giáo dục, hiện tại vô số dự án giáo dục đang được phát triển để tăng cường sử dụng. Ngoài ra, có tính đến cách các công nghệ này cùng tồn tại ngày càng nhiều với mọi người, nó rất hữu ích cho môi trường học thuật và trường học để tích hợp văn hóa kỹ thuật số mới này.

Ngoài ra, CNTT còn cung cấp khả năng xây dựng cơ sở nội dung lớn và kiến ​​thức rất đa dạng, có thể chia sẻ trực tuyến và điều chỉnh theo nhu cầu, nhu cầu và sở thích của từng học sinh. Tạo cơ sở dữ liệu thông tin mà sinh viên có thể chuyển bất cứ khi nào họ muốn.

Tuy nhiên, sẽ cần phải điều chỉnh các công nghệ này để chúng có thể được nén hoàn toàn như một công cụ sư phạm. Ví dụ, với việc tạo ra các cộng đồng học tập ảo, trong đó sinh viên có vai trò tích cực trong việc giảng dạy của chính họ.

Cuối cùng, việc sử dụng các công nghệ mới là thói quen thực tế của các thế hệ mới, do đó, việc đưa chúng vào hoạt động hàng ngày của trường biến môi trường này thành một bối cảnh phù hợp với thị hiếu và sở thích của các sinh viên trẻ nhất.

9 lợi ích của CNTT trong giáo dục

Bên cạnh việc là một công cụ hữu ích cho giáo viên về tìm kiếm và trình bày thông tin, CNTT đã được chứng minh là cực kỳ có lợi khi đối mặt với quá trình học tập và động lực của học sinh.

1. Tăng tiềm năng quan tâm đến một số đối tượng

Có một số môn học có xu hướng khơi dậy ít hứng thú với học sinh hơn những môn khác, thực tế này có thể gây ra một số sự thất vọng ở giáo viên, những người đôi khi không có tài nguyên để đánh thức niềm đam mê này ở học sinh.

Tuy nhiên, nhờ các công cụ như hình động, video hoặc bài tập đa phương tiện, sinh viên có thể thấy sự quan tâm của họ tăng lên với những hậu quả tích cực do đó kéo theo.

2. Tăng động lực

Như đã đề cập trước đây, trong các thế hệ mới, việc sử dụng các công nghệ mới là thứ tự của thời đại, vì vậy những khu vực mà họ không thể tìm thấy chúng có thể được giải phóng.

Do đó, việc sử dụng CNTT trong trường học có thể có nghĩa là tăng động lực, kể từ khi nó cung cấp một cách học phù hợp với phong tục và sở thích của họ. Việc sử dụng các công cụ kỹ thuật số có thể là một cách học mới theo cách hấp dẫn, đơn giản và thú vị.

3. Nó tạo điều kiện cho giao tiếp

Nhờ các công nghệ mới, giao tiếp giữa học sinh và giáo viên có thể dễ dàng và dễ tiếp cận hơn nhiều. Theo truyền thống, học sinh đã thực hiện một vai trò thụ động theo nghĩa này; Tuy nhiên, nhờ các khả năng được cung cấp bởi các cuộc trò chuyện hoặc email có thể hữu ích để giải quyết các nghi ngờ, để chia sẻ ý tưởng và nội dung, v.v..

4. Khuyến khích hợp tác

Công nghệ mới có thể cung cấp một không gian kỹ thuật số phổ biến thúc đẩy hợp tác không chỉ trong số các sinh viên như một công cụ để làm việc trong một nhóm, mà còn để các giảng viên có thể chia sẻ kiến ​​thức, kinh nghiệm và hợp tác với nhau.

5. Tương tác

Một số lượng lớn các nghiên cứu được thực hiện trong môi trường trường học đã chỉ ra rằng tính tương tác giữa các sinh viên giúp tăng cường quá trình học tập. Do đó, nếu chúng ta sử dụng CNTT-TT như một công cụ để giao tiếp và trao đổi ý tưởng giữa các sinh viên chúng tôi sẽ khuyến khích các quá trình phản ánh.

6. Tự chủ hơn

Do có nhiều thông tin có thể đạt được khi triển khai CNTT trong trường học, sinh viên có thể chọn và quyết định vấn đề hoặc vấn đề nào khiến họ tò mò hơn và tăng các nội dung này bằng cách tìm kiếm và chọn thông tin.

Điều này có nghĩa là khả năng quyết định cao hơn và trao quyền tự chủ cho học sinh.

7. Hoạt động trí tuệ liên tục

Tất cả những lợi thế hoặc lợi ích đã được mô tả ở trên là kết quả trực tiếp của hoạt động trí tuệ liên tục của học sinh. Điều đó có nghĩa là, các CNTT thúc đẩy tư duy liên tục và có ý thức về điều này, cũng như sự phát triển nhận thức.

8. Sáng kiến ​​và sáng tạo

Ngoài ra và là kết quả của tất cả những điều trên, việc sử dụng tốt CNTT-TT khuyến khích phát triển sự sáng tạo và chủ động, kể từ khi sinh viên phát triển các kỹ năng mới cho phép họ tự học.

9. Nó cho phép kiến ​​thức kỹ thuật số và nghe nhìn

Thông qua việc sử dụng CNTT, việc học và phát triển các kỹ năng cần thiết được phát triển để đối phó với kỷ nguyên kỹ thuật số mới mà chúng ta đang bước vào..

Các biện pháp phòng ngừa cần tính đến

Tuy nhiên, giống như hầu hết các phương pháp hoặc động lực dạy học đang trong quá trình thử nghiệm và thực hiện, sự thiếu hiểu biết về việc sử dụng tốt TIC có thể khắc phục một loạt các nhược điểm. Để có thể tránh kịp thời và sửa chúng, cần phải có cả giảng viên và sinh viên nhận được sự chuẩn bị đặc biệt sẽ đóng vai trò là một hướng dẫn thực hiện trước khi sử dụng CNTT-TT.

Trong số một số nhược điểm đó là:

Mất tập trung.

Phát triển nghiện công nghệ mới.

Thông tin không cụ thể hoặc đáng tin cậy.

Sự phụ thuộc của đồng nghiệp hoặc giáo viên.

Cách ly xã hội.

Vấn đề về thể chất hoặc thị giác.

Xâm nhập vào cuộc sống riêng tư.

Giáo Dục Thể Chất Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới

GDTC góp phần hình thành các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung cho học sinh (HS); bên cạnh đó, thông qua việc trang bị kiến thức về sức khoẻ, quản lý sức khỏe và rèn luyện, giáo dục thể chất giúp HS hình thành và phát triển năng lực thể chất và văn hoá thể chất, ý thức trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng; biết lựa chọn môn thể thao phù hợp với năng lực vận động của bản thân để luyện tập; biết thích ứng với các điều kiện sống, lạc quan và chia sẻ với mọi người; có cuộc sống khoẻ mạnh về thể lực và tinh thần.

Nội dung chủ yếu của môn GDTC là rèn luyện kỹ năng vận động và phát triển tố chất thể lực cho HS bằng những bài tập đa dạng như rèn kỹ năng vận động cơ bản, đội hình đội ngũ, các bài tập thể dục, các trò chơi vận động, các môn thể thao và phương pháp phòng tránh chấn thương trong hoạt động. Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung giáo dục thể chất được phân chia theo hai giai đoạn:

– Trong giai đoạn giáo dục cơ bản, GDTC là môn học bắt buộc, giúp HS biết cách chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể; hình thành thói quen tập luyện nâng cao sức khoẻ; thông qua các trò chơi vận động và tập luyện thể dục, thể thao hình thành các kỹ năng vận động cơ bản, phát triển các tố chất thể lực, làm cơ sở để phát triển toàn diện.

– Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, GDTC được thực hiện thông qua hình thức câu lạc bộ thể thao, HS được chọn nội dung hoạt động thể thao phù hợp với nguyện vọng của mình và khả năng đáp ứng của nhà trường. Các em được tiếp tục phát triển kỹ năng chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể, phát triển về nhận thức và năng khiếu thể thao, giúp những học sinh có năng khiếu thể thao định hướng nghề nghiệp phù hợp.

2. Quan điểm xây dựng chương trình

Chương trình môn GDTC (Chương trình) quán triệt đầy đủ quan điểm, mục tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực, kế hoạch giáo dục và định hướng về nội dung giáo dục được nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Xuất phát từ đặc trưng của môn học, Chương trình nhấn mạnh một số quan điểm xây dựng sau:

2.1. Chương trình được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận và thực tiễn, cập nhật thành tựu của khoa học thể dục thể thao và khoa học sư phạm hiện đại, cụ thể là: Các kết quả nghiên cứu về giáo dục học, tâm lý học, sinh lý học, phương pháp giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao; Kinh nghiệm xây dựng chương trình của Việt Nam và các nước có nền giáo dục tiên tiến; Thực tiễn giáo dục, điều kiện kinh tế – xã hội, sự đa dạng của đối tượng HS xét về phương diện vùng miền, điều kiện và khả năng học tập của Việt Nam.

2.2. Chương trình được thiết kế theo cấu trúc vừa đồng tâm vừa tuyến tính phù hợp với tâm – sinh lý lứa tuổi và quy luật phát triển thể lực của HS; thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi HS; vận dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với đặc điểm của môn học và hỗ trợ việc hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực vận động ở học sinh.

2.3. Chương trình mang tính mở, tạo điều kiện để HS được lựa chọn các hoạt động phù hợp với thể lực, nguyện vọng của bản thân và điều kiện của nhà trường; đồng thời tạo điều kiện để các trường xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp với yêu cầu giáo dục, điều kiện thực tế và đặc điểm cụ thể của HS địa phương.

3. Mục tiêu môn học3.1. Mục tiêu chung

Chương trình tập trung phát triển các năng lực chăm sóc sức khỏe, vận động cơ bản và thể dục thể thao, nhằm phát triển các tố chất thể lực của HS; giúp các em phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần; có những phẩm chất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động có sức khỏe, có văn hóa, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới.

3.2. Mục tiêu cấp học

a) Ở cấp tiểu học (TH) GDTC giúp HS có kỹ năng vận động đúng, hình thành thói quen tập luyện, biết giữ vệ sinh thân thể và chăm sóc sức khoẻ, vệ sinh môi trường để phát triển thể chất phù hợp với độ tuổi; bước đầu hình thành nếp sống lành mạnh, hoà đồng với mọi người; hình thành năng lực tự học và cách tổ chức một số hoạt động đơn giản.

b) Ở cấp trung học cơ sở (THCS), GDTC giúp HS tiếp tục củng cố và phát triển các kỹ năng vận động cơ bản; thói quen tập luyện thể dục thể thao, thực hiện các hoạt động thể chất một cách tự tin; phát triển thể chất; biết tự chăm sóc sức khoẻ, giữ vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường; rèn luyện đạo đức, ý chí; sống hoà đồng và có trách nhiệm với mọi người, hình thành năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học, tự đánh giá, tự điều chỉnh.

c) Ở cấp trung học phổ thông (THPT), GDTC giúp HS biết lựa chọn môn thể thao phù hợp để rèn luyện sức khoẻ; phát triển hoàn thiện thể chất; biết điều chỉnh chế độ sinh hoạt và tập luyện; có trách nhiệm với gia đình và xã hội; biết đánh giá và định hướng cho bản thân; khẳng định được giá trị riêng, phù hợp với chuẩn mực đạo đức chung. Thông qua hoạt động thể dục thể thao trong và ngoài nhà trường, các em có ý thức tự giác, sống có trách nhiệm, tự tin, trung thực, dũng cảm, có tinh thần hợp tác thân thiện, thể hiện khát khao vươn lên, từ đó có những định hướng cho tương lai phù hợp với năng lực, sở thích cá nhân, đáp ứng xu thế hội nhập toàn cầu.

4. Yêu cầu cần đạt4.1. Cấp tiểu học

a) Năng lực chăm sóc và phát triển sức khỏe

Biết thực hiện vệ sinh cá nhân và vệ sinh trong tập luyện thể dục thể thao.

Biết được tác dụng cơ bản của chế độ dinh dưỡng với sức khoẻ.

Nhận ra một số yếu tố cơ bản của môi trường tự nhiên có lợi và có hại cho sức khoẻ.

b) Vận động cơ bản và phát triển các tố chất thể lực

Thực hiện đúng cơ bản các kỹ năng vận động và hình thành thói quen tập luyện.

Hình thành thói quen tập luyện thường xuyên để phát triển thể lực.

Xác định được các hoạt động vận động và tố chất thể lực cơ bản.

c) Hoạt động thể dục thể thao

Thực hiện được kỹ thuật cơ bản của một số nội dung thể thao phù hợp với bản thân.

Tự giác, tích cực, nghiêm túc và có ý thức giúp đỡ bạn trong tập luyện.

Yêu thích và tích cực tham gia tập luyện thể dục thể thao.

4.2. Cấp trung học cơ sởa) Năng lực chăm sóc và phát triển sức khỏe

Thực hiện vệ sinh cá nhân, vệ sinh tập luyện một cách khoa học.

Có kiến thức cơ bản và ý thức thực hiện chế độ dinh dưỡng trong tập luyện để nâng cao sức khoẻ.

Tham gia tích cực vào các hoạt động tập thể trong môi trường tự nhiên để rèn luyện sức khoẻ.

b) Vận động cơ bản và phát triển các tố chất thể lực

Lựa chọn tham gia các hoạt động thể chất phù hợp với bản thân và cộng đồng nhằm nâng cao các kỹ năng vận động.

Lựa chọn tham gia các hoạt động thể chất phù hợp nhằm nâng cao các tố chất thể lực.

Giải thích được vai trò quan trọng của hoạt động vận động cơ bản để phát triển các tố chất thể lực.

c) Hoạt động thể dục thể thao

Lựa chọn và thường xuyên tập luyện nội dung thể thao phù hợp để nâng cao sức khoẻ, phát triển thể lực.

Tham gia có trách nhiệm, hoà đồng với tập thể trong tập luyện thể dục thể thao và các hoạt động khác trong cuộc sống.

Hiểu được vai trò, ý nghĩa của thể dục thể thao đối với cơ thể và cuộc sống thường ngày.

4.3. Cấp trung học phổ thônga) Năng lực chăm sóc và phát triển sức khỏe

Nêu được cơ sở khoa học và hướng dẫn mọi người thực hiện vệ sinh cá nhân, vệ sinh tập luyện.

Lựa chọn chế độ dinh dưỡng cơ bản phù hợp với bản thân trong quá trình tập luyện để phát triển sức khoẻ.

Có ý thức bảo vệ môi trường tự nhiên và tham gia các hoạt động xã hội.

b) Vận động cơ bản và phát triển các tố chất thể lực

Có thói quen và biết lựa chọn các hình thức tập luyện thể dục thể thao phù hợp để hoàn thiện, nâng cao kỹ năng vận động đáp ứng yêu cầu cuộc sống hiện đại.

Đọc hiểu các chỉ số cơ bản về thể lực; có thói quen tập luyện thể dục thể thao để phát triển các tố chất thể lực.

Đánh giá tầm quan trọng của các hoạt động vận động để phát triển thể lực và rèn luyện sức khoẻ.

c) Hoạt động thể dục thể thao

Có thói quen và biết lựa chọn nội dung, phương pháp tập luyện phù hợp để nâng cao thành tích thể thao.

Thể hiện khả năng giao tiếp, hợp tác với mọi người để tổ chức, xây dựng những hoạt động tích cực trong thể dục thể thao và trong cuộc sống.

Cảm nhận được vẻ đẹp của hoạt động thể dục thể thao và thể hiện nhu cầu tập luyện thể dục thể thao.

5. Nội dung giáo dục

Lợi Ích Của Phương Pháp Giáo Dục Stem

Các em được làm nhiều thí nghiệm Vật lý với lực ma sát, đo dung tích phổi, con lắc vĩnh cửu; tạo núi lửa, phản ứng đổi màu các chất với Hóa học vui… Từ đó, học sinh hiểu bài hơn, kích thích khả năng sáng tạo từ những sản phẩm đơn giản gắn liền cuộc sống như giày dép, mỹ phẩm, quần áo, sách vở đến các sản phẩm phức tạp như máy điện quang, laser, điện thoại, máy tính…

Giáo dục STEM còn cung cấp cho học sinh những kỹ năng mềm như giải quyết vấn đề, tư duy phản biện, kỹ năng cộng tác, khả năng giao tiếp… Chẳng hạn với hoạt động làm tên lửa khí, các em sẽ được rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, giải quyết vấn đề và hướng đến thành quả chung của cả đội.

Sau khi làm xong mỗi sản phẩm, các thành viên cùng suy nghĩ cách trình bày, giới thiệu sản phẩm để hấp dẫn, giải đáp thắc mắc của người nghe. Điều này giúp tăng khả năng thuyết trình, phản biện cũng như tư duy khoa học. STEM là sự kết hợp những cái cũ, ứng dụng thêm thiết bị công nghệ theo cách thông minh và hiệu quả.

Áp dụng giáo dục STEM trong việc giảng dạy, học sinh tiểu học có thể cảm thấy khoa học, công nghệ, kỹ thuật hay toán học không quá xa lạ mà trở nên trực quan qua các mô hình, thí nghiệm thực tiễn.

Hàng trăm học sinh đã vận dụng kiến thức được học để tạo ra những sản phẩm thiết thực trong đời sống hàng ngày như người máy, máy cắt xốp, máy tái chế giấy, tạo code lập trình game trong “Ngày hội STEM” năm 2017 diễn ra ở Hà Nội.

Tại “Ngày hội STEM” của trường Tiểu học Trần Quốc Toản (Hà Nội), các em được xem cách làm quả bóng bay co lại bằng khí nitơ lỏng, trải nghiệm máy in 3D, học cách tạo ra điện từ thức ăn như chuối, khoai tây, chanh, giấm… Trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm (TP HCM) có tổng 23 câu lạc bộ ứng dụng STEM, trong đó có 6 câu lạc bộ STEM Robotics để học sinh được thỏa sức khám phá, thực hành các môn khoa học được học trên lớp.

Tuy có rất nhiều lợi ích, việc đưa STEM vào chương trình giáo dục lại gặp không ít khó khăn như quy định thi cử, đánh giá chất lượng, điều chỉnh phù hợp với từng địa phương, điều kiện cơ sở vật chất chưa đủ đáp ứng.

Nhiều doanh nghiệp đã và đang nỗ lực thúc đẩy giáo dục STEM vừa để thử nghiệm vừa để mang đến sân chơi mới lạ cho học sinh. Công ty Điện tử Samsung với chuỗi chương trình Trách nhiệm doanh nghiệp tại Việt Nam mang đến không gian Công nghệ thiếu nhi chúng tôi Kids tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TP HCM trong năm 2018 là bước ngoặt trong hành trình này.

Trong không gian gần 450m2 với tổng giá trị đầu tư gần 6 tỷ đồng, chúng tôi Kids được chia thành những khu vực chức năng như phòng học STEM, phòng thiên văn, không gian đọc sách và thực hành khoa học, không gian giải trí đa phương tiện… Nơi đây có trang thiết bị hiện đại của Samsung như bảng tương tác thông minh, bảng Flip Chart điện tử, máy tính bảng và các bộ công cụ Lego Robots.

Ở chúng tôi Kids, không gian đọc sách và thực hành khoa học là nơi để các em vun đắp kiến thức, thực hành những điều đã học được. Phòng thiên văn với các thiết bị điện tử của Samsung hỗ trợ học sinh tìm hiểu thông tin, tiếp cận công nghệ hiện đại trực quan, sống động.

S.hub Kids cũng là nơi tổ chức những chương trình như “STEM khoa học vui” lấy cảm hứng từ những vật dụng quen thuộc hay những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, “STEM Robotics và lập trình cơ bản”… Song song đó, Samsung còn tổ chức cuộc thi “First Lego League”, triển khai Hội thảo “Kiến tạo tương lai từ giáo dục STEM”, trại hè “STEM Summer Camp” tại chúng tôi Đà Nẵng, tập huấn giáo dục STEM cho gần 170 giáo viên, cuộc thi Robotacon 2018…

Ông Kim Cheol Gi, Tổng giám đốc Công ty Điện tử Samsung Vina chia sẻ, đơn vị hy vọng dự án chúng tôi Kids với cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại cùng các hoạt động đa dạng sẽ góp phần tích cực vào việc phát triển giáo dục STEM tại Việt Nam, nhất là cho thế hệ thanh thiếu nhi – những chủ nhân tương lai của đất nước. Những hoạt động thiết thực của Samsung là minh chứng cho mục tiêu “Kiến tạo tương lai” thế hệ trẻ Việt của tập đoàn, đồng thời thúc đẩy mô hình giáo dục STEM nhanh chóng đến gần hơn nữa với học sinh.

Kim Uyên