Ứng Dụng Của Internet Trong Ngành Giáo Dục Hiện Nay

--- Bài mới hơn ---

  • Lợi Ích Của Website Trong Kinh Doanh Là Gì?
  • Lợi Ích Của Internet Đối Với Doanh Nghiệp
  • Lợi Ích Của Website Đối Với Doanh Nghiệp Như Thế Nào?
  • Lợi Ích Của Website Đối Với Doanh Nghiệp
  • Bài Luận Tiếng Anh Về Mạng Internet
  • Ứng dụng của internet trong ngành giáo dục

    Cuộc sống ngày càng phát triển cũng là lúc mà internet đi sâu hơn vào sinh hoạt của con người. Internet phục vụ cho quá trình tra cứu thông tin, giải trí làm việc và đặc biệt quan trọng trong giáo dục. Vai trò của internet đối với giáo dục ngày càng được khẳng định và sử dụng đạt được hiệu quả tích cực.

    Ứng dụng của Internet trong giáo dục

    Chúng ta có thể thấy rằng ngành giáo dục đã có những bước phát triển vô cùng quan trọng khi mà có sự xuất hiện của internet. Chúng giúp cho chúng ta khám phá thế giới rộng lớn, có được kho tàng kiến thức bao là và quản lý con người hiệu quả hơn. Ứng dụng của internet trong giáo dục

    Công cuộc công nghiệp, hóa hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế toàn cầu đã đưa Việt Nam bước sang một trang sử mới, một thời kỳ công nghệ hiện đại với sự giúp sức diệu kỳ của khoa học, kỹ thuật. Cụ thể hơn là của hệ thống mạng lưới internet. Ở Việt Nam internet không chỉ được dùng để giải trí, để kết nối bạn bè.

    Mặt khác, những ứng dụng của Internet còn được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực quan trọng như là giáo dục, phục vụ cho Quốc phòng, an ninh trật tự xã hội, quản lý con người. Đối với giáo dục ứng dụng của internet rất phổ biến từ các cấp học thấp cho tới các trường đại học lớn trên cả nước.

    Internet được sử dụng rộng rãi trong giáo dục

    Những ứng dụng của Internet đối với học sinh

    Đối với học sinh, sinh viên thì Internet được coi là một trong những phương tiện hiệu quả giúp các bạn tra cứu thông tin, tìm kiếm tri thức,, thực hiện các nghiên cứu khoa học. Các bạn cũng có thể sử dụng chúng làm phương tiện để giải trí sau mỗi tiết học căng thẳng để mình có được tinh thần tốt hơn, đạt được hiệu quả học tập cao hơn.

    Có thể thấy học sinh sinh viên hiện nay ai cũng sở hữu một chiếc máy tính hoặc điện thoại thông minh có khả năng kết nối internet thông qua đó các bạn cũng có thể kết nối với tất cả các bạn học sinh, sinh viên trong cả nước hoặc trên toàn thế giới để trao đổi kiến thức mở mang hiểu biết của mình.

    Trong ngành y thì sinh viên trường Cao đẳng y dược tphcm, Đại học Y Hà Nội,…sử dụng máy tính kết nối mạng để tìm hiểu về các loại thuốc, các loại bệnh, các phương pháp y học hiện đại. Đối với ngành giáo dụng thì người ta sử dụng internet để soạn giáo án, giảng bài hiệu quả hơn. Hay trong công nghệ thông tin, những trường như đại học FPT không thể nào thiếu đi sự kết nối của internet trong giảng dạy, thực hành.

    Vai trò của mạng Internet triong quản lý con người không thể phủ nhận

    Những ứng dụng của Internet đối với giảng viên, cán bộ

    Đối với đội ngũ giảng viên, cán bộ của mỗi trường học hay trong ngành giáo dục nói chung thì internet phát huy tối đa vai trò tìm kiếm thông tin của mình đồng thời giúp các cán bộ quản lý con người một cách hiệu quả hơn.

    Phương thức giảng dạy sẽ được cải tiến, mang đến chất lượng khi mà có sự hỗ trợ của Internet và các thiết bị khoa học như máy chiếu, máy vi tính. Trong những năm gần đây, ứng dụng của mạng internet vào trong giáo dục ngày càng được chú trọng nâng cao, đầu tư nhiều hơn. Tuy nhiên, vẫn còn có những xu hướng tiêu cực trong việc làm này điều đó cần được khắc phục nhanh chóng trong thời gian trước mắt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lợi Ích Của Sử Dụng Internet Đối Với Sức Khỏe
  • Mạng Internet Có Lợi Gì Trong Việc Học Tập? (#3) · Issues · Fpt / Ldinh
  • Internet Trong Thập Niên Qua: 7 Lĩnh Vực Quan Trọng Trong Nghiên Cứu Internet Và Xã Hội
  • Lợi Ích Của Internet Đối Với Cuộc Sống Của Con Người
  • Hãy Kể Thêm Tên Các Dịch Vụ Của Internet Mà Em Biết. Em Có Sử Dụng Dịch Vụ Không? Nếu Có, Cho Biết Các Lợi Ích Mà Em Có Được Từ Việc Sử Dụng Dịch Vụ Đó.
  • Đầu Tư Giáo Dục Và Lợi Ích Của Đầu Tư Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Tầm Quan Trọng Không Tưởng Của Giáo Dục
  • Truyện Linh Kiếm Ma Đế
  • Đừng Vì Lợi Ích Trước Mắt Mà Quên Đi Sức Khỏe Của Bản Thân
  • Lợi Ích Trước Mắt Và Lâu Dài
  • Những Tù Nhân Của Lợi Ích Trước Mắt
  • Khái niệm “đầu tư” là khái niệm được sử dụng trong kinh tế học, tức là chỉ số tiền đầu tư vào hoạt động sản xuất hy vọng trong tương lai đạt được những lợi ích kinh tế. Trong “Từ điển kinh tế hiện đại” đầu tư được định nghĩa “là chỉ hoạt động đưa số tiền hiện có vào hoạt động sản xuất nào đó để thu được lợi ích sau này” . Còn “Từ điển kinh tế Trung Quốc đương đại” cho rằng: “đầu tư là chỉ hoạt động kinh tế của chủ thể kinh tế nhất định nào đó, vì sự hình thành của tư bản mà bỏ vốn hay yếu tố sản xuất vào để thu lợi nhuận” . Trong đầu tư kinh tế được phân thành đầu tư đầu tư mang tính sản xuất và đầu tư phi sản xuất. Từ những năm 30 của thế kỷ XX, trên thế giới đã đưa đầu tư vào lĩnh vực giáo dục và được gọi là đầu tư giáo dục.

    Đầu tư giáo dục là chỉ nguồn vốn, điều kiện kinh tế, tài chính của giáo dục, là chỉ một quốc gia hoặc một khu vực căn cứ vào nhu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục, sự tổng hòa nhân lực, vật lực, tài lực để đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, nhằm bồi dưỡng nguồn nhân lực hậu bị và nhân tài chuyên môn cũng như nâng cao biểu hiện tiền tệ của nhân lực và vật lực của trình độ trí lực nguồn lao động. Đối tượng của đầu tư giáo dục một là đầu tư cho các cấp học từ tiểu học đến đại học, thứ hai là đầu tư cho giáo dục thành niên để nâng cao trình độ trí tuệ cho người lao động đang làm việc. Như vậy đầu tư giáo dục chủ yếu là chỉ chi phí dùng cho giáo dục trường học và các hình thức giáo dục khác.

    Lợi ích của đầu tư giáo dục hay còn gọi là lợi ích giáo dục hoặc hiệu quả giáo dục là chỉ việc thông qua giáo dục để nâng cao năng lực và tố chất của người lao động, làm cho số lượng hàng hóa và dịch vụ của quốc gia hoặc khu vực ngày càng tăng lên. Điều đó cũng có nghĩa là, thông qua giáo dục, người lao động nắm bắt được kỹ năng tri thức nhất định và vận dụng những tri thức đó vào quá trình sản xuất nâng cao năng suất lao động, sáng tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất và của cải tinh thần cho xã hội. Trên thực tế nghiên cứu của nhà kinh tế học người Mỹ Thodere W.

    Lợi ích cá nhân của sự đầu tư giáo dục là chỉ cá nhân thông qua việc tiếp nhận giáo dục để thu được những lợi ích về vật chất và tinh thần cho bản thân trong hiện tại và tương lai; còn lợi ích xã hội của đầu tư giáo dục đó chính là sự nâng cao năng suất lao động của toàn bộ các khâu của quá trình sản xuất xã hội, điều đó sẽ làm gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế của xã hội, đồng thời làm cho đời sống văn hóa tinh thần, chính trị…của xã hội không ngừng được nâng cao.

    – Đầu tư giáo dục – những lợi ích xã hội lâu dài.

    Bất luận là trước mắt hay lâu dài, cũng bất luận là yếu tố vật chất hay tinh thần, những báo cáo về hiệu quả của đầu tư giáo dục là tiền đề để xã hội hoặc cá nhân ra các quyết định đầu tư. Mặc dù vậy, đầu tư giáo dục không phải là sự đầu tư nhằm đem lại lợi ích trước mắt, mà thông thường sau khi kết thúc quá trình đào tạo người được đào tạo sẽ vận dụng kỹ năng, tri thức đã nắm bắt được vào thực tiễn sản xuất và việc kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất, mới có khả năng tạo ra hiệu quả. Đặc biệt, hiệu quả của đầu tư giáo dục không giống đầu tư ở các ngành khác, sau khi chuyển thành tư liệu sản xuất thì đa số các tư liệu sản xuất đó bị tiêu hao hết, nhưng đối với lao động được đào tạo, sau khi nắm bắt được những kỹ năng tri thức sẽ không bị hao mòn hay mất đi trong quá trình sử dụng mà có thể sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, và trong quá trình vận dụng, do sự tích lũy về kinh nghiệm và sự học hỏi không ngừng nên phát huy tác dụng ngày càng lớn, vì vậy đầu tư giáo dục còn có tính hiệu quả lâu dài, do vậy đầu tư giáo dục có tính lợi ích xã hội lâu dài.

    – Đầu tư giáo dục – lợi ích xã hội lợi ích trực tiếp và lợi ích gián tiếp.

    Sau khi tiếp nhận quá trình đào tạo, người lao động chưa chắc đã trực tiếp làm việc trong lĩnh vực sản xuất, thậm chí làm việc trong lĩnh vực sản xuất cũng chưa chắc đã trực tiếp sáng tạo ra giá trị sản lượng, nhưng vẫn có thể đem lại những lợi ích gián tiếp; do người lao động với những kỹ năng và tri thức ở trình độ cao khi sử dụng các yếu tố sản xuất của quá trình sản xuất sẽ phát huy được hiệu quả ngày càng cao của các yếu tố sản xuất làm cho tổng thể hiệu quả sản xuất của xã hội được nâng cao, do vậy đầu tư giáo dục có tính tổng thể. Có thể nói, một số đặc tính trên của lợi ích giáo dục làm cho việc đo lường lợi ích của đầu tư giáo dục rất khó khăn và phức tạp. Đến nay đã có nhiều phương pháp tính toán hiệu quả và mô hình hiệu quả đầu tư giáo dục. Tất cả các phương pháp tính toán đo lường đều có chung kết luận tỷ lệ của đầu tư giáo dục vào tăng trưởng kinh tế luôn luôn cao hơn tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng kinh tế của đầu tư vật chất. Vì vậy quốc gia nên tăng cường đầu tư cho giáo dục, đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực.

    Theo một số đánh giá thì, ở nước ta hiện nay năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của nguồn nhân lực có khả năng cạnh tranh quốc tế. Cụ thể về trình độ, thể lực, tính chuyên nghiệp, kỷ luật, khả năng thích ứng với thay đổi… Nguồn lực này còn bị hạn chế bởi tỉ lệ lao động có kỹ năng thấp; mất cân đối về cơ cấu lao động theo trình độ, kỹ năng; lao động chất xám thiếu và yếu về chất lượng; thể lực kém; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động thấp . Giáo dục Việt Nam đang đứng trước bài toán về chất lượng đầu ra chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động. Hiện có một nghịch lý là: các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và xã hội đang cần lực lượng lớn lao động có trình độ kỹ thuật cao, nhưng đào tạo chưa đáp ứng được, trong khi nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng ra trường lại không có việc làm. Chúng ta đang thừa lao động phổ thông chưa qua đào tạo, nhưng lại thiếu lao động kỹ thuật lành nghề, thiếu chuyên gia và các nhà quản lý, cán bộ khoa học – công nghệ có trình độ cao. Theo đánh giá mới đây của Ngân hàng thế giới (WB), chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam xếp thứ 11 trong số 12 nước châu Á tham gia xếp hạng. Lao động Việt Nam chỉ đạt 32/100 điểm, trong khi những nền kinh tế có chất lượng lao động dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

    Đầu tư giáo dục và lợi ích của đầu tư giáo dục

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lợi Ích Của Giáo Dục Nghệ Thuật
  • 【Phải Xem】Lợi Ích Của Việc Tập Thể Dục Bằng Tiếng Anh
  • Ngành Biên Phiên Dịch Trong Tiếng Anh Là Gì ? Lợi Ích Từ Ngành Biên Phiên Dịch
  • Xung Đột Lợi Ích Giữa Hoạt Động Ngân Hàng Thương Mại Và Hoạt Động Chứng Khoán Của Ngân Hàng (Phần Ii)
  • Đoạn Văn Giới Thiệu Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh Có Dịch
  • 9 Lợi Ích Của Việc Sử Dụng Cntt Trong Giáo Dục / Tâm Lý Giáo Dục Và Phát Triển

    --- Bài mới hơn ---

  • Lợi Ích Khi Sử Dụng Công Nghệ Dạy Học
  • 4 Khóa Học Tin Học Văn Phòng Online Cần Thiết Để Tăng Hiệu Suất Làm Việc Của Bạn
  • Lợi Ích Của Việc Học Make Up Online
  • Đào Tạo, Dạy Nghề: Lợi Ích Của Công Nghệ Trong Giáo Dục
  • Ứng Dụng Của Công Nghệ Trong Giáo Dục
  • Trong suốt bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích những lợi ích hoặc lợi ích của việc sử dụng CNTT trong lĩnh vực giáo dục, cũng như các biện pháp phòng ngừa hoặc các trở ngại có thể có thể được tìm thấy trong việc sử dụng nó.

    CNTT trong giáo dục là gì?

    Việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) trong bối cảnh học thuật và trường học đã tăng lên đáng kể trong 10 năm qua, đặc biệt là ở các quốc gia và xã hội có chương trình giảng dạy thay thế và đổi mới hơn.

    Do nhiều lợi ích mà CNTT có thể mang lại cho giáo dục, hiện tại vô số dự án giáo dục đang được phát triển để tăng cường sử dụng. Ngoài ra, có tính đến cách các công nghệ này cùng tồn tại ngày càng nhiều với mọi người, nó rất hữu ích cho môi trường học thuật và trường học để tích hợp văn hóa kỹ thuật số mới này.

    Ngoài ra, CNTT còn cung cấp khả năng xây dựng cơ sở nội dung lớn và kiến ​​thức rất đa dạng, có thể chia sẻ trực tuyến và điều chỉnh theo nhu cầu, nhu cầu và sở thích của từng học sinh. Tạo cơ sở dữ liệu thông tin mà sinh viên có thể chuyển bất cứ khi nào họ muốn.

    Tuy nhiên, sẽ cần phải điều chỉnh các công nghệ này để chúng có thể được nén hoàn toàn như một công cụ sư phạm. Ví dụ, với việc tạo ra các cộng đồng học tập ảo, trong đó sinh viên có vai trò tích cực trong việc giảng dạy của chính họ.

    Cuối cùng, việc sử dụng các công nghệ mới là thói quen thực tế của các thế hệ mới, do đó, việc đưa chúng vào hoạt động hàng ngày của trường biến môi trường này thành một bối cảnh phù hợp với thị hiếu và sở thích của các sinh viên trẻ nhất.

    9 lợi ích của CNTT trong giáo dục

    Bên cạnh việc là một công cụ hữu ích cho giáo viên về tìm kiếm và trình bày thông tin, CNTT đã được chứng minh là cực kỳ có lợi khi đối mặt với quá trình học tập và động lực của học sinh.

    1. Tăng tiềm năng quan tâm đến một số đối tượng

    Có một số môn học có xu hướng khơi dậy ít hứng thú với học sinh hơn những môn khác, thực tế này có thể gây ra một số sự thất vọng ở giáo viên, những người đôi khi không có tài nguyên để đánh thức niềm đam mê này ở học sinh.

    Tuy nhiên, nhờ các công cụ như hình động, video hoặc bài tập đa phương tiện, sinh viên có thể thấy sự quan tâm của họ tăng lên với những hậu quả tích cực do đó kéo theo.

    2. Tăng động lực

    Như đã đề cập trước đây, trong các thế hệ mới, việc sử dụng các công nghệ mới là thứ tự của thời đại, vì vậy những khu vực mà họ không thể tìm thấy chúng có thể được giải phóng.

    Do đó, việc sử dụng CNTT trong trường học có thể có nghĩa là tăng động lực, kể từ khi nó cung cấp một cách học phù hợp với phong tục và sở thích của họ. Việc sử dụng các công cụ kỹ thuật số có thể là một cách học mới theo cách hấp dẫn, đơn giản và thú vị.

    3. Nó tạo điều kiện cho giao tiếp

    Nhờ các công nghệ mới, giao tiếp giữa học sinh và giáo viên có thể dễ dàng và dễ tiếp cận hơn nhiều. Theo truyền thống, học sinh đã thực hiện một vai trò thụ động theo nghĩa này; Tuy nhiên, nhờ các khả năng được cung cấp bởi các cuộc trò chuyện hoặc email có thể hữu ích để giải quyết các nghi ngờ, để chia sẻ ý tưởng và nội dung, v.v..

    4. Khuyến khích hợp tác

    Công nghệ mới có thể cung cấp một không gian kỹ thuật số phổ biến thúc đẩy hợp tác không chỉ trong số các sinh viên như một công cụ để làm việc trong một nhóm, mà còn để các giảng viên có thể chia sẻ kiến ​​thức, kinh nghiệm và hợp tác với nhau.

    5. Tương tác

    Một số lượng lớn các nghiên cứu được thực hiện trong môi trường trường học đã chỉ ra rằng tính tương tác giữa các sinh viên giúp tăng cường quá trình học tập. Do đó, nếu chúng ta sử dụng CNTT-TT như một công cụ để giao tiếp và trao đổi ý tưởng giữa các sinh viên chúng tôi sẽ khuyến khích các quá trình phản ánh.

    6. Tự chủ hơn

    Do có nhiều thông tin có thể đạt được khi triển khai CNTT trong trường học, sinh viên có thể chọn và quyết định vấn đề hoặc vấn đề nào khiến họ tò mò hơn và tăng các nội dung này bằng cách tìm kiếm và chọn thông tin.

    Điều này có nghĩa là khả năng quyết định cao hơn và trao quyền tự chủ cho học sinh.

    7. Hoạt động trí tuệ liên tục

    Tất cả những lợi thế hoặc lợi ích đã được mô tả ở trên là kết quả trực tiếp của hoạt động trí tuệ liên tục của học sinh. Điều đó có nghĩa là, các CNTT thúc đẩy tư duy liên tục và có ý thức về điều này, cũng như sự phát triển nhận thức.

    8. Sáng kiến ​​và sáng tạo

    Ngoài ra và là kết quả của tất cả những điều trên, việc sử dụng tốt CNTT-TT khuyến khích phát triển sự sáng tạo và chủ động, kể từ khi sinh viên phát triển các kỹ năng mới cho phép họ tự học.

    9. Nó cho phép kiến ​​thức kỹ thuật số và nghe nhìn

    Thông qua việc sử dụng CNTT, việc học và phát triển các kỹ năng cần thiết được phát triển để đối phó với kỷ nguyên kỹ thuật số mới mà chúng ta đang bước vào..

    Các biện pháp phòng ngừa cần tính đến

    Tuy nhiên, giống như hầu hết các phương pháp hoặc động lực dạy học đang trong quá trình thử nghiệm và thực hiện, sự thiếu hiểu biết về việc sử dụng tốt TIC có thể khắc phục một loạt các nhược điểm. Để có thể tránh kịp thời và sửa chúng, cần phải có cả giảng viên và sinh viên nhận được sự chuẩn bị đặc biệt sẽ đóng vai trò là một hướng dẫn thực hiện trước khi sử dụng CNTT-TT.

    Trong số một số nhược điểm đó là:

    • Mất tập trung.
    • Phát triển nghiện công nghệ mới.
    • Thông tin không cụ thể hoặc đáng tin cậy.
    • Sự phụ thuộc của đồng nghiệp hoặc giáo viên.
    • Cách ly xã hội.
    • Vấn đề về thể chất hoặc thị giác.
    • Xâm nhập vào cuộc sống riêng tư.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tầm Quan Trọng Của Công Nghệ Trong Doanh Nghiệp
  • Những Lợi Ích Của Công Nghệ Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Những Điểm Lợi Và Hại Khi Công Nghệ Phát Triển
  • Học Địa Lý Làm Được Nghề Gì?
  • 4 Lý Do Bạn Nên Học Địa Lý ·
  • Giáo Dục Song Ngữ: Lợi Ích To Lớn Khi Giáo Dục Sớm

    --- Bài mới hơn ---

  • Được Gì Và Mất Gì Khi Học Song Bằng?
  • 4 Lợi Ích Khi Học Song Bằng: Phổ Thông Quốc Tế Và Phổ Thông Việt Nam
  • Song Ngành Hai Văn Bằng Nên Hay Không Nên Học.
  • Ý Nghĩa Của Việc Học Tập Suốt Đời Và Trách Nhiệm Của Người Học Sinh Trong Thời Đại Mới
  • Viết Bài Văn Nghị Luận Nêu Suy Nghĩ Về Tác Dụng Của Việc Học
  • Thế hệ “những đứa trẻ song ngữ” không còn hiếm hoi trong xã hội hiện nay. Điều này thể hiện sự thay đổi trong môi trường ngôn ngữ và tương tác với xã hội của trẻ đã khác thế hệ xưa rất nhiều. Nhưng không phải ai cũng thực sự hiểu những lợi ích to lớn mà việc giáo dục ngôn ngữ sớm mang lại. Giao tiếp dễ dàng và tự tin hơn

    Ở độ tuổi mầm non, cách dạy trẻ học song ngữ đúng đắn nhất chính là thông qua những hoạt động vừa học vừa chơi, trò chuyện với bạn bè, thầy cô hoặc những người hỗ trợ khác. Với hoạt động này, trẻ có được những trải nghiệm thực tế, khám phá thế giới, kết nối với những người xung quanh và tiếp cận thêm một ngôn ngữ mới. Nhờ đó, kỹ năng giao tiếp của trẻ được nâng cao, và tự tin hơn khi nói chuyện với người khác, kể cả bằng tiếng mẹ đẻ hoặc ngôn ngữ mới.

    Nâng cao khả năng sử dụng song ngữ tương đương người bản ngữ

    Trẻ em có khả năng rất lớn – cũng có thể gọi là bản năng – trong việc học ngôn ngữ, bất kể đó là tiếng mẹ đẻ, hoặc ngôn ngữ thứ 2, thứ 3. Đó không phải là năng khiếu. Đó là nhờ 2 bán cầu não của trẻ em đang phát triển rất linh hoạt trong việc ghi nhớ lẫn học tập, và trẻ sử dụng cả 2 bán cầu não để học ngôn ngữ. Trong khi đó, ở người lớn, ngôn ngữ phân hóa về 1 bên bán cầu.

    “Trong khi đó, người lớn khi học ngôn ngữ lại bị ảnh hưởng sâu đậm bởi tiếng mẹ đẻ, và lý trí khi xử lý các vướng mắc khi đang học. Có thể dễ dàng nhận thấy một thực tế xung quanh bạn: Trẻ ở độ tuổi dậy thì cho đến lúc lớn có khả năng nắm bắt các quy tắc ngữ pháp, lý thuyết đặt câu… rất nhanh, nhưng phản xạ khi giao tiếp lại rất thấp, chưa kể đến việc thường xuyên nói và viết sai ngữ pháp. Việc mắc lỗi – khi mình “đã lớn” khiến nhiều người ngại nói, ngại giao tiếp, chuyển sang thích đọc và làm các bài kiểm tra ngữ pháp nhiều hơn. Điều này sẽ làm hạn chế khả năng sử dụng song ngữ khi tiếp xúc với nó quá muộn”, bà Hải Âu cho biết thêm.

    Ngoài ra, trẻ được luyện tập kỹ năng giải quyết nhiều vấn đề cùng một lúc thông qua việc học. Điều này giúp mở ra nhiều hướng suy nghĩ và giúp trẻ giải quyết vấn đề tốt hơn, cũng đưa ra quyết định nhanh hơn.

    Thúc đẩy sự phát triển của não bộ

    Các nghiên cứu của trường đại học London (Anh) đã chỉ ra rằng thấy việc học song ngữ từ khi mầm non đã làm thay đổi lượng chất xám tại vùng não bộ chứa thông tin. Lượng chất xám trên vùng não trái của những trẻ biết ngoại ngữ sớm thường có xu hướng cao hơn so với những em chưa học ngoại ngữ, hoặc học muộn hơn.

    Ở Việt Nam, vẫn còn nhiều ý kiến cho rằng, việc cho trẻ học song ngữ rất dễ dẫn đến rối loạn ngôn ngữ, hoặc trẻ giỏi ngoại ngữ song song hơn tiếng mẹ đẻ. Tuy nhiên, rất nhiều quốc gia trên thế giới – mà gần nhất là Singapore – đã đưa ra chính sách học song ngữ từ năm 1966 và trở thành một cam kết suốt đời trong chính sách giáo dục ở quốc đảo này. Và ai cũng có thể dễ dàng nhận thấy quốc gia này đã phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng và công dân Singapore đã trở thành công dân toàn cầu như thế nào nhờ chính sách song ngữ trong cải cách giáo dục.

    Để giúp con phát triển đúng đắn nhất, cha mẹ cần tìm hiểu, giúp đỡ và hỗ trợ con tiếp cận những phương pháp đúng nhằm đảm bảo một “đầu ra” hoàn thiện và trọn vẹn khi học song ngữ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiếng Anh Cho Trẻ Lớp 1: Lợi Ích Của Việc Học Song Ngữ
  • Lợi Ích Của Việc Cho Trẻ Học Tiếng Anh Qua Truyện Tranh Song Ngữ
  • 4 Lợi Ích Của Việc Học Song Ngữ Từ Nhỏ
  • Lợi Ích Của Việc Cho Trẻ Học Chương Trình Song Ngữ
  • Lợi Ích Khi Trẻ Học Song Ngữ Từ Nhỏ
  • Lợi Ích Của Giáo Dục Nghệ Thuật

    --- Bài mới hơn ---

  • Đầu Tư Giáo Dục Và Lợi Ích Của Đầu Tư Giáo Dục
  • Tầm Quan Trọng Không Tưởng Của Giáo Dục
  • Truyện Linh Kiếm Ma Đế
  • Đừng Vì Lợi Ích Trước Mắt Mà Quên Đi Sức Khỏe Của Bản Thân
  • Lợi Ích Trước Mắt Và Lâu Dài
  • ( 18-08-2016 – 02:53 PM ) – Lượt xem: 4149

    Tuy nhiên, giá trị của các môn học nghệ thuật không nên đánh giá thấp bởi nó thực sự có thể mang đến nhiều lợi ích cho người học. Quỹ Giáo dục (Mỹ) chia sẻ một số lợi ích của giáo dục nghệ thuật với người học.

    Giáo dục nghệ thuật có thể cải thiện kỹ năng học tập, tư duy phản biện và sáng tạo của học sinh

    Cải thiện thành tích học tập

    Một trong những lợi ích lớn nhất của giáo dục nghệ thuật đối với học sinh là nó thực sự có thể cải thiện các kỹ năng học tập, kỹ năng tư duy phản biện và sáng tạo. Tất cả những điều này đều cần thiết để có thành tích học tập xuất sắc.

    Những cổ đông của Quỹ Giáo dục chia sẻ: “Trong thực tế, một số nghiên cứu gần đây đã kết luận rằng sự sáng tạo và đổi mới trong quá trình nghệ thuật sẽ được nhà tuyển dụng Mỹ đánh giá cao trong những năm tới khi chúng ta tiếp tục chuyển sang nền kinh tế toàn cầu”.

    Phát triển sự sáng tạo, tưởng tượng và tự tin ở trẻ

    Không có gì có thể khám phá, phát triển sáng tạo và trí tưởng tượng tốt hơn giáo dục nghệ thuật. Không phải ai cũng thích khoa học, ngôn ngữ hoặc toán học. Nhiều học sinh đang thực sự quan tâm nhiều hơn và có kỹ năng trong các hình thức nghệ thuật.

    Việc có thể thực hiện niềm đam mê, sở thích và mong nuốn cũng có thể phát triển lòng tự trọng của trẻ. Cuauhtemoc Lara, học sinh tại trường trung học Stevenson đã có một tuổi thơ khó khăn, nhưng được thúc đẩy đi học vì em thích và xuất sắc trong các môn nghệ thuật. Khi chia sẻ với tờ The Columbian, Laura cho biết lớp học em yêu thích là nghệ thuật.

    Giáo dục nghệ thuật làm cho người học tôn trọng và hiểu các nền văn hóa khác nhau.

    Một trong những lợi ích quan trọng nhất của giáo dục nghệ thuật là làm cho người học tôn trọng và hiểu các nền văn hóa, các giá trị khác nhau của xã hội đa dạng. Quỹ Giáo dục giải thích: “Giáo dục nghệ thuật sẽ trở thành cầu nối chia sẻ, chất keo định hình sự hiểu biết về cách chúng ta nhìn nhận bản thân và người khác”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 【Phải Xem】Lợi Ích Của Việc Tập Thể Dục Bằng Tiếng Anh
  • Ngành Biên Phiên Dịch Trong Tiếng Anh Là Gì ? Lợi Ích Từ Ngành Biên Phiên Dịch
  • Xung Đột Lợi Ích Giữa Hoạt Động Ngân Hàng Thương Mại Và Hoạt Động Chứng Khoán Của Ngân Hàng (Phần Ii)
  • Đoạn Văn Giới Thiệu Về Gia Đình Bằng Tiếng Anh Có Dịch
  • Những Lợi Ích Khi Nghe Nhạc Tiếng Anh Bạn Cần Biết
  • Giáo Dục Thể Chất Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lợi Ích Không Ngờ Của Việc Tập Thể Dục Chống Trầm Cảm
  • Những Lợi Ích Của Việc Tập Thể Dục Buổi Sáng
  • Thẻ Thanh Toán Quốc Tế Techcombank Visa Classic
  • Hướng Dẫn Làm Thẻ Atm Techcombank Nhanh Nhất
  • Điều Kiện & Thủ Tục Làm Thẻ Visa Ngân Hàng Techcombank Năm 2022
  • GDTC góp phần hình thành các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung cho học sinh (HS); bên cạnh đó, thông qua việc trang bị kiến thức về sức khoẻ, quản lý sức khỏe và rèn luyện, giáo dục thể chất giúp HS hình thành và phát triển năng lực thể chất và văn hoá thể chất, ý thức trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng; biết lựa chọn môn thể thao phù hợp với năng lực vận động của bản thân để luyện tập; biết thích ứng với các điều kiện sống, lạc quan và chia sẻ với mọi người; có cuộc sống khoẻ mạnh về thể lực và tinh thần.

    Nội dung chủ yếu của môn GDTC là rèn luyện kỹ năng vận động và phát triển tố chất thể lực cho HS bằng những bài tập đa dạng như rèn kỹ năng vận động cơ bản, đội hình đội ngũ, các bài tập thể dục, các trò chơi vận động, các môn thể thao và phương pháp phòng tránh chấn thương trong hoạt động. Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung giáo dục thể chất được phân chia theo hai giai đoạn:

    – Trong giai đoạn giáo dục cơ bản, GDTC là môn học bắt buộc, giúp HS biết cách chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể; hình thành thói quen tập luyện nâng cao sức khoẻ; thông qua các trò chơi vận động và tập luyện thể dục, thể thao hình thành các kỹ năng vận động cơ bản, phát triển các tố chất thể lực, làm cơ sở để phát triển toàn diện.

    – Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, GDTC được thực hiện thông qua hình thức câu lạc bộ thể thao, HS được chọn nội dung hoạt động thể thao phù hợp với nguyện vọng của mình và khả năng đáp ứng của nhà trường. Các em được tiếp tục phát triển kỹ năng chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể, phát triển về nhận thức và năng khiếu thể thao, giúp những học sinh có năng khiếu thể thao định hướng nghề nghiệp phù hợp.

    2. Quan điểm xây dựng chương trình

    Chương trình môn GDTC (Chương trình) quán triệt đầy đủ quan điểm, mục tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực, kế hoạch giáo dục và định hướng về nội dung giáo dục được nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Xuất phát từ đặc trưng của môn học, Chương trình nhấn mạnh một số quan điểm xây dựng sau:

    2.1. Chương trình được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận và thực tiễn, cập nhật thành tựu của khoa học thể dục thể thao và khoa học sư phạm hiện đại, cụ thể là: Các kết quả nghiên cứu về giáo dục học, tâm lý học, sinh lý học, phương pháp giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao; Kinh nghiệm xây dựng chương trình của Việt Nam và các nước có nền giáo dục tiên tiến; Thực tiễn giáo dục, điều kiện kinh tế – xã hội, sự đa dạng của đối tượng HS xét về phương diện vùng miền, điều kiện và khả năng học tập của Việt Nam.

    2.2. Chương trình được thiết kế theo cấu trúc vừa đồng tâm vừa tuyến tính phù hợp với tâm – sinh lý lứa tuổi và quy luật phát triển thể lực của HS; thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi HS; vận dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với đặc điểm của môn học và hỗ trợ việc hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực vận động ở học sinh.

    2.3. Chương trình mang tính mở, tạo điều kiện để HS được lựa chọn các hoạt động phù hợp với thể lực, nguyện vọng của bản thân và điều kiện của nhà trường; đồng thời tạo điều kiện để các trường xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp với yêu cầu giáo dục, điều kiện thực tế và đặc điểm cụ thể của HS địa phương.

    3. Mục tiêu môn học

    3.1. Mục tiêu chung

    Chương trình tập trung phát triển các năng lực chăm sóc sức khỏe, vận động cơ bản và thể dục thể thao, nhằm phát triển các tố chất thể lực của HS; giúp các em phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần; có những phẩm chất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động có sức khỏe, có văn hóa, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới.

    3.2. Mục tiêu cấp học

    a) Ở cấp tiểu học (TH) GDTC giúp HS có kỹ năng vận động đúng, hình thành thói quen tập luyện, biết giữ vệ sinh thân thể và chăm sóc sức khoẻ, vệ sinh môi trường để phát triển thể chất phù hợp với độ tuổi; bước đầu hình thành nếp sống lành mạnh, hoà đồng với mọi người; hình thành năng lực tự học và cách tổ chức một số hoạt động đơn giản.

    b) Ở cấp trung học cơ sở (THCS), GDTC giúp HS tiếp tục củng cố và phát triển các kỹ năng vận động cơ bản; thói quen tập luyện thể dục thể thao, thực hiện các hoạt động thể chất một cách tự tin; phát triển thể chất; biết tự chăm sóc sức khoẻ, giữ vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường; rèn luyện đạo đức, ý chí; sống hoà đồng và có trách nhiệm với mọi người, hình thành năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học, tự đánh giá, tự điều chỉnh.

    c) Ở cấp trung học phổ thông (THPT), GDTC giúp HS biết lựa chọn môn thể thao phù hợp để rèn luyện sức khoẻ; phát triển hoàn thiện thể chất; biết điều chỉnh chế độ sinh hoạt và tập luyện; có trách nhiệm với gia đình và xã hội; biết đánh giá và định hướng cho bản thân; khẳng định được giá trị riêng, phù hợp với chuẩn mực đạo đức chung. Thông qua hoạt động thể dục thể thao trong và ngoài nhà trường, các em có ý thức tự giác, sống có trách nhiệm, tự tin, trung thực, dũng cảm, có tinh thần hợp tác thân thiện, thể hiện khát khao vươn lên, từ đó có những định hướng cho tương lai phù hợp với năng lực, sở thích cá nhân, đáp ứng xu thế hội nhập toàn cầu.

    4. Yêu cầu cần đạt

    4.1. Cấp tiểu học

    a) Năng lực chăm sóc và phát triển sức khỏe

    Biết thực hiện vệ sinh cá nhân và vệ sinh trong tập luyện thể dục thể thao.

    Biết được tác dụng cơ bản của chế độ dinh dưỡng với sức khoẻ.

    Nhận ra một số yếu tố cơ bản của môi trường tự nhiên có lợi và có hại cho sức khoẻ.

    b) Vận động cơ bản và phát triển các tố chất thể lực

    Thực hiện đúng cơ bản các kỹ năng vận động và hình thành thói quen tập luyện.

    Hình thành thói quen tập luyện thường xuyên để phát triển thể lực.

    Xác định được các hoạt động vận động và tố chất thể lực cơ bản.

    c) Hoạt động thể dục thể thao

    Thực hiện được kỹ thuật cơ bản của một số nội dung thể thao phù hợp với bản thân.

    Tự giác, tích cực, nghiêm túc và có ý thức giúp đỡ bạn trong tập luyện.

    Yêu thích và tích cực tham gia tập luyện thể dục thể thao.

    4.2. Cấp trung học cơ sở

    a) Năng lực chăm sóc và phát triển sức khỏe

    Thực hiện vệ sinh cá nhân, vệ sinh tập luyện một cách khoa học.

    Có kiến thức cơ bản và ý thức thực hiện chế độ dinh dưỡng trong tập luyện để nâng cao sức khoẻ.

    Tham gia tích cực vào các hoạt động tập thể trong môi trường tự nhiên để rèn luyện sức khoẻ.

    b) Vận động cơ bản và phát triển các tố chất thể lực

    Lựa chọn tham gia các hoạt động thể chất phù hợp với bản thân và cộng đồng nhằm nâng cao các kỹ năng vận động.

    Lựa chọn tham gia các hoạt động thể chất phù hợp nhằm nâng cao các tố chất thể lực.

    Giải thích được vai trò quan trọng của hoạt động vận động cơ bản để phát triển các tố chất thể lực.

    c) Hoạt động thể dục thể thao

    Lựa chọn và thường xuyên tập luyện nội dung thể thao phù hợp để nâng cao sức khoẻ, phát triển thể lực.

    Tham gia có trách nhiệm, hoà đồng với tập thể trong tập luyện thể dục thể thao và các hoạt động khác trong cuộc sống.

    Hiểu được vai trò, ý nghĩa của thể dục thể thao đối với cơ thể và cuộc sống thường ngày.

    4.3. Cấp trung học phổ thông

    a) Năng lực chăm sóc và phát triển sức khỏe

    Nêu được cơ sở khoa học và hướng dẫn mọi người thực hiện vệ sinh cá nhân, vệ sinh tập luyện.

    Lựa chọn chế độ dinh dưỡng cơ bản phù hợp với bản thân trong quá trình tập luyện để phát triển sức khoẻ.

    Có ý thức bảo vệ môi trường tự nhiên và tham gia các hoạt động xã hội.

    b) Vận động cơ bản và phát triển các tố chất thể lực

    Có thói quen và biết lựa chọn các hình thức tập luyện thể dục thể thao phù hợp để hoàn thiện, nâng cao kỹ năng vận động đáp ứng yêu cầu cuộc sống hiện đại.

    Đọc hiểu các chỉ số cơ bản về thể lực; có thói quen tập luyện thể dục thể thao để phát triển các tố chất thể lực.

    Đánh giá tầm quan trọng của các hoạt động vận động để phát triển thể lực và rèn luyện sức khoẻ.

    c) Hoạt động thể dục thể thao

    Có thói quen và biết lựa chọn nội dung, phương pháp tập luyện phù hợp để nâng cao thành tích thể thao.

    Thể hiện khả năng giao tiếp, hợp tác với mọi người để tổ chức, xây dựng những hoạt động tích cực trong thể dục thể thao và trong cuộc sống.

    Cảm nhận được vẻ đẹp của hoạt động thể dục thể thao và thể hiện nhu cầu tập luyện thể dục thể thao.

    5. Nội dung giáo dục

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Môn Thể Dục 6
  • Ngạc Nhiên Vì Lợi Ích Của Môn Thể Dục Mang Lại Cho Trẻ.
  • Giáo Án Thể Dục 6 Tiết 1: Lý Thuyết: Lợi Ích Của Thể Dục Thể Thao
  • Bàn Đa Năng Giúp Môn Thể Dục Hết “chay”
  • Giáo Án Thể Dục 6 Tiết 1 :
  • Lợi, Hại Của Điện Thoại Thông Minh Trong Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Theo Chuyên Gia, Đây Là Những Lợi Ích Của Việc Cấm Học Sinh Dùng Điện Thoại Trên Lớp, Nhưng Nếu Dùng Đúng Cách Thì Vẫn Được
  • 7 Lợi Ích Của Việc Sử Dụng Công Nghệ Trong Dạy Học
  • Lợi Và Hại Khi Cho Học Sinh Dùng Điện Thoại
  • Có Nên Cho Trẻ Em Sử Dụng Điện Thoại Sớm? Độ Tuổi Nào Thì Dùng Được?
  • Những Sai Lầm Của Cha Mẹ Khi Cho Con Dùng Điện Thoại
  • GD&TĐ – Ở một xã hội với sự phát triển chóng mặt của công nghệ, điện thoại thông minh đã trở thành công cụ giao tiếp không thể thiếu đối với nhiều người. Thậm chí, không ít thanh thiếu niên nghiện điện thoại thông minh. Trước tình trạng này, không ít trường học đã có nhiều biện pháp yêu cầu người học không sử dụng điện thoại khi đến trường.

    Nhiều trẻ nhỏ sớm được tiếp xúc với điện thoại thông minh

    Mang lại nhiều hậu quả

    Trái ngược với tình trạng không ít thanh thiếu niên mắc chứng nghiện sử dụng điện thoại thông minh, nhiều HS tại Trường trung học San Lorenzo tại California (Mỹ) cho biết, họ không có thời gian dành cho việc sử dụng thiết bị công nghệ này. Những người học này chia sẻ, kể từ năm ngoái, điện thoại của họ đã bị khóa trong một chiếc túi suốt từ 8 giờ sáng cho đến khi tan học vào lúc 15 giờ 10 phút mỗi ngày.

    Được sử dụng để ngăn chặn người hâm mộ ghi hình trong những buổi hòa nhạc hoặc hài kịch, hay cập nhật thông tin lên mạng xã hội ở những buổi biểu diễn riêng tư, túi có khóa để cất điện thoại là vật dụng được hàng nghìn trường học ở khắp các nơi như Mỹ, Canada và châu Âu yêu cầu HS sử dụng. Theo các nhà lãnh đạo trường học, để có thể giúp người học chú tâm vào những gì được viết trên bảng, thay vì mải mê sử dụng điện thoại, việc bỏ điện thoại vào túi có khóa trong giờ học được cho là một biện pháp hữu hiệu.

    “Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy sự gia tăng của tình trạng lo lắng, căng thẳng và thậm chí là tự tử ở thanh thiếu niên. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những thiết bị công nghệ có thể mang lại nhiều hậu quả cho người dùng, không chỉ riêng bản thân các thiết bị đó, mà còn ở cả khía cạnh truyền thông xã hội”, bà Allison Silvesti, Hiệu trưởng tại San Lorenzo (Italy) nhận định.

    Hầu hết mọi người cho rằng, việc sử dụng điện thoại thông minh ở trẻ em và người lớn đang trở nên phổ biến trên toàn thế giới. Vừa qua, một nghiên cứu do Trung tâm nghiên cứu Pew thực hiện cho thấy, có tới 95% thanh thiếu niên có thể sử dụng điện thoại, trong khi 45% người cho biết, họ sử dụng thiết bị này với tần suất liên tục.

    “Việc được sở hữu một chiếc điện thoại thông minh là điều gần như phổ biến ở các thanh thiếu niên, không kể tới sự khác biệt giới tính, chủng tộc, sắc tộc và nền kinh tế xã hội”, báo cáo này cho biết.

    Các chuyên gia trên thế giới đều có chung quan điểm rằng, việc sử dụng điện thoại thông minh trong các lớp học có xu hướng mang lại tác động tiêu cực. Giáo sư Jean Twenge thuộc Trường Đại học bang San Diego (Mỹ) phát hiện ra rằng, sự gia tăng trong số người sử dụng điện thoại thông minh và mạng xã hội đang tỷ lệ thuận với số thanh thiếu niên có cảm giác rằng bản thân họ vô dụng, cảm thấy mọi thứ sụp đổ và mất đi niềm tin vào cuộc sống.

    …Nhưng cũng là công cụ giáo dục tuyệt vời

    Bởi những ảnh hưởng nghiêm trọng mà điện thoại thông minh mang lại, tại Australia, chính quyền bang New South Wales đã khuyến nghị quốc gia này cân nhắc kỹ lưỡng về “rủi ro với lợi ích” của người dùng khi sử dụng thiết bị này trong trường, lớp. Không chỉ riêng Australia, Pháp cũng ban hành lệnh cấm sử dụng điện thoại di động trong khuôn viên trường học, trong khi không ít nhà lãnh đạo Anh kêu gọi một lệnh cấm tương tự vào tháng 6 năm ngoái.

    Tuy nhiên, không ít người cho rằng, công cụ đang bị coi là một loại vũ khí dẫn đến sự xáo trộn và gây ảnh hưởng đến cách nuôi dạy con cái ở một số nơi này, thực chất lại là một phương tiện giảng dạy hiệu quả ở nhiều nơi khác.

    “Những gì mà chúng tôi đang được trải nghiệm hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu trước đó: Việc chia sẻ với nhau từ những quan điểm và địa điểm đã nâng cao mong muốn của người học trong việc được kết nối, gắn bó với ngôi trường, cũng như ý thức của họ về sự tham gia vào việc học”, bà Ehsan Akbari, một tiến sĩ tại Khoa Giáo dục Nghệ thuật, thuộc Trường Đại học Concordia chia sẻ.

    Cũng theo nữ tiến sĩ này, thông qua việc chia sẻ hình ảnh của chính mình, người học đã tạo ra một mạng lưới học tập nơi các em có thể hỗ trợ lẫn nhau. Từ đó, người học có thể dạy và học hỏi lẫn nhau bằng cách chụp và chia sẻ hình ảnh trực tuyến.

    Kết quả từ những thí nghiệm về việc sử dụng điện thoại thông minh ở Montreal được coi là một gợi ý cho những giải pháp nếu muốn đạt được sự cân bằng trong cuộc sống khi sử dụng thiết bị công nghệ này. Tuy nhiên, theo Giáo sư Jean Twenge, biết cách hạn chế sử dụng điện thoại chính là chìa khóa mang lại nhiều lợi ích. Điều này cũng có thể phần nào lý giải lý do mà bà Twenge không hoàn toàn phản đối điện thoại thông minh.

    “Vấn đề ở đây không phải là về việc tránh xa điện thoại thông minh. Chúng là những thiết bị tuyệt vời, nhưng con người cần biết cách để sử dụng một cách hạn chế, đặc biệt là đối với thanh thiếu niên. Hãy chắc chắn rằng, công cụ này sẽ không trở thành một phần không thể thiếu đối với bạn”, bà Twenge nhấn mạnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 5+ Bài Nghị Luận Hay Về Vấn Đề Sử Dụng Điện Thoại Của Học Sinh Hiện Nay
  • Thầy Giáo Phát Hiện ‘điều Kỳ Diệu’ Khi Cho Học Sinh Dùng Điện Thoại
  • Cho Học Sinh Sử Dụng Điện Thoại Trong Lớp: Ủng Hộ Thay Vì Cấm Đoán?
  • Cho Học Sinh Dùng Điện Thoại Trong Lớp: 3 Lợi Ích Và 3 Nguy Cơ
  • Uống Sữa Đậu Nành Mỗi Ngày Có Tác Dụng Gì Đối Với Sức Khỏe
  • Lợi Ích Của Tọa Thiền Với Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Hải Phòng: Khóa Tu “một Ngày Yêu Thương” Tại Chùa Hang
  • Lợi Ích Của Việc Thực Hành Thiền Định
  • Lợi Ích Của Sự Hành Thiền
  • Luận Thuyết Mới Về Tịnh Độ Và Lợi Ích Của Việc Hành Thiền
  • 7 Lợi Ích Của Thiền Định
  • Mục đích tối hậu, cao quý nhất của con người là trở thành Phật. Nhưng không phải ai “kiến tánh” và toạ thiền cũng đều thành Phật cả. Song, toạ thiền của nhà Phật là con đường duy nhất để có thánh trí và có lòng từ bi. Đó là con đường của chư Phật.

    Giáo dục là giúp con người, dù khoa học kỹ thuật hay đạo đức, học tập và lý luận để phát triển trí thông minh, có kiến thức, có nhân cách, tự lập và phục vụ xã hội.

    Giáo dục là nắm giữ, tích trữ, Thiền là buông bỏ, xả ly. Phương pháp tuy có khác nhau, nhưng cùng chung một hướng là: tiến tới chân, thiện, mỹ. Nhưng cái đích của giáo dục là giúp con người trở nên có trí thức cao, có nhân cách; còn Thiền của nhà Phật lại dắt dẫn con người đến được trí tuệ tối hậu, từ bi, thành Chánh Đẳng Giác.

    Thiền vô ngôn. Thực chất chúng ta không thể hiểu Thiền bằng ngôn ngữ, văn tự được. Muốn hiểu Thiền phải toạ Thiền. Còn dưới con mắt của các nhà khoa học có thể giúp chúng ta hiểu Thiền được đến đâu? Ngay từ đầu thế kỷ XX, các nhà Y sinh học Âu, Mỹ đã sang Ấn Độ để nghiên cứu những thay đổi các hằng số sinh lý khi các Thiền sư nhập Thiền. Khi nhập Thiền thì chuyển hoá của toàn cơ thể xuống rất thấp so với lúc tỉnh táo khi hoạt động bình thường. Nó còn thấp hơn cả trong khi đang ngủ, mặc dầu trong lúc nhập Thiền người ta vẫn ở trong trạng thái phải tỉnh, vô niệm, nghĩa là không phải ngủ hay hôn trầm, cũng không phải thức hay tạp niệm. Biểu hiện của chuyển hoá thấp là do giảm tiêu thụ oxy. Chỉ sau 5-10 phút đã giảm xuống tới 15-20% so với khi chưa nhập Thiền; trong khi đó, phải sau 7 giờ ngủ mới chỉ giảm tới 15%. Do giảm tiêu thụ oxy đã kéo theo hàng loạt các thông số sinh lý khác như: giảm tầng số thở, thông khí thở, và thải trừ CO2. Từ đó, nhịp đập của tim giảm đến 3-4 lần phút, còn nhịp thở, có khi mỗi phút chỉ thở có 3-4 lần. Việc đập của nhịp tim chậm dần lại 3-4 lần/phút (hoặc có khi hơn) mà vẫn duy trì được sự sống bình thường là có ý nghĩa cực kỳ to lớn. Điện não đồ biểu hiện một trạng thái thư giãn cao độ của vỏ đại não với các chúm sóng alpha va béta. Như vậy, khi nhập Thiền đã làm thay đổi được trạng thái sinh lý và tâm thần.

    Thở chậm do Thiền đúng phương pháp đã đem lại cho tim một sự nghỉ ngơi. Do tập luyện lâu dài, công phu tinh tiến, nhịp tim cũng đập chậm dần dần lại. Nhịp tim đập chậm lại nói lên một sự tiêu thụ oxy cho toàn bộ cơ thể cũng giảm đi và là dấu hiệu của một cơ thể có nhiều khả năng sống lâu, và não bộ luôn ở trong một trạng thái thăng bằng, ổn định, sẵn sàng đón nhận và xử lý những thông tin một cách linh hoạt, nhạy bén, chính xác.

    Nhịp tim đập chậm là do nhịp thở chậm. Một người bình thường có nhịp thở chậm, sâu, êm là dấu hiệu tốt; trái lại nhanh, nông, thô là dấu hiệu xấu.

    Stress là đả kích tâm lý. Khi cơ thể bị stress dễ gây ra hiện tượng thở gấp. Thở nông, thở gấp lâu ngày sẽ gây ra rối loạn tất cả các hằng số sinh lý cơ thể. Trí não không thể sáng suốt, minh mẫn. Đó là nguyên nhân gây nên suy nhược thần kinh, loạn thần kinh, tâm thần phân liệt. Cơ thể suy nhược dần dần do tiêu hao năng lượng. Vòng luẩn quẩn của sự tiêu hao năng lượng là đầu mối của mọi phiền não.

    Trong đời thường có rất nhiều người làm việc trong trạng thái thiền mà không hề hay biết. Newton nghiên cứu mãi về lực hấp dẫn mà vẫn không tìm ra. Ông bèn ra vườn, ngồi dưới gốc cây táo thư giãn cho sảng khoái. Chợt một quả táo rơi trúng người ông – ông bừng tỉnh mà nhìn thấy được “luật vạn vật hấp dẫn”. Léonard De Vinci là một hoạ sĩ tài danh. Vậy mà ông chỉ nhận vẽ nàng Mona Lisa với một điều kiện là, ông được vẽ nàng cho đến khi nào ông cảm thấy muốn thực vẽ. Rồi hàng trăm, hàng trăm phác thảo… Léonard và Mona Lisa đã trở nên hiệp nhất. Chân dung nàng được hoàn thiện đã gắn liền với tên tác giả trở thành vĩnh cửu. Đặng Thái Sơn đã đàn những bản nhạc của Chopin cho đến mức độ Chopin và những bản nhạc đó trở thành chính anh. Trong giải piano Chopin quốc tế, anh đã biểu diễn với tất cả những xúc động của tâm hồn mình đối với Chopin. Không gian như lắng xuống, anh đã tự đánh mất chính mình trong tự kỷ. Khán-thính giả cũng bị cuốn hút theo. Chỉ còn lại hồn nhạc Chopin trong thinh không. Cả nhạc sĩ lẫn khán thính giả lâm vào một trạng thái “xuất thần nhập hoá”. Tất cả mọi người đều cảm thấy chính anh là người xứng đáng được giải Piano Chopin quốc tế.

    Chủ động tự nguyện, chân thật hồn nhiên, kiên trì tập trung… thật là rất gần gũi với tinh thần Thiền và đó là những đức tính của những nhà làm công việc về khoa học nghệ thuật chân chính. Và thiên tài chỉ có thể nằm trong số những người, sau khi ra trường, chủ động tự nguyện, âm thầm tập trung làm việc một mình, lâu dài, nhiều tháng năm mà không hề có ý định cầu lợi, cầu danh, Van Gogh bảo: Vẽ tranh có phải là để bán đâu!

    Thế là, giáo dục mà mục đích là, dù dạy cho người ta tri thức đạo đức có tính cách giáo dục phổ thông, đều nhằm vào sự huấn luyện lành mạnh từng bước để dưỡng thành định hình một cách vô ý thức. Trong khi công việc làm của các nhà khoa học và nghệ thuật là hành động có tính cách chủ động tự nguyện, kiên trì tập trung, tích cực hơn cũng hình thành định hình một cách vô ý thức. Bởi thế cho nên, giáo dục không phải chỉ dạy cho học sinh kiến thức và đạo đức, mà còn phải huấn luyện cho các em hình thành được một thói quen có tính cách chủ động tự nguyện, chân thật hồn nhiên, kiên trì tập trung, bền bỉ, lâu dài, có phương pháp và không có động cơ cầu lợi, cầu danh. Bởi vì, làm khoa học nghệ thuật mà tâm thức còn dành ra một ngăn để cầu lợi, cầu danh, chắc chẳng thể thành công. Và đây có lẽ là điểm mấu chốt được bàn đến trong chiến lược giáo dục nhằm dạy cho các em học sinh có thói quen; chủ động tự nguyện, chân thật hồn nhiên, kiên trì tập trung, bền bỉ lâu dài và có phương pháp. Nhưng chính thiền lại là phương pháp để đem lại những đức tính trên. Chính thiền là phương pháp duy nhất, tối hậu để giúp người ta un đúc những thiện căn chủng tử dưỡng thành tính cách Phật. Việc toạ thiền thường nhật, không gián đoạn, không bỏ dở là bí quyết của thành công, song thực sự không phải là một việc đơn giản. Nhưng nếu ngành giáo dục làm được, các em mới có cơ may để trở thành các nhà bác học, các nhân tài. Bởi vì, toạ thiền đúng phương pháp, đều đăn, không gián đoạn, không bỏ dở, sẽ chuyển hoá được thân tâm dần dần hình thành được tính cách chủ động tự nguyện, chân thật hồn nhiên, kiên trì, tập trung… một cách vô ý thức.

    Như phần mở đầu đã nói, mục đích của giáo dục và thiền có chỗ giống nhau là cúng hướng đến: chân, thiện, mỹ; nhưng giáo dục là nhằm huấn luyện con người trở thành hoàn thiện, có tri thức, có nhân cách, còn Phật giáo lại nhằm giúp con người giải thoát và giác ngộ. Bởi vì, tri thức của con người, cho dù là tri thức của nhân loại cộng lại, cũng chỉ là tri thức nhị nguyên, bị giới hạn nên chỉ đem lại chân lý tương đối. Còn trí tuệ Phật là trí tuệ tối hậu siêu việt, nhất nguyên nên là chân lý tuyệt đối.

    Bảo rằng, giáo dục là nắm giữ, tích trữ; còn thiền là buông bỏ, xả ly, chúng ta thử nghe câu chuyện sau đây:

    Thiền sư Nhật Bản Nanin (1868-1912) thời vua Minh Trị, tiếp một vị giáo sư đại học đến hỏi về thiền.

    Nanin mời trà. Ông đã rót đầy tách trà của khách nhưng vẫn tiếp tục rót mãi. Vị giáo sư thấy nước rót đã đầy tách đến trào cả ra cho đến khi không kiềm được nữa phải nói: “Đầy quá rồi! Xin đừng rót nữa !”.

    “Giống như cái tách này”, Nanin nói, “Ông cũng đầy ắp những quan niệm, tư tưởng của ông! Làm sao tôi có thể bày tí thiền cho ông nghe được. Trừ phi ông cạn cái tách của ông trước đã”.

    Chúng ta đều biết rằng, nhất cử nhất động, nhất tư nhất niệm của con người, dù nhỏ nhặt đến đâu, trong một thời gian ngắn ngủi đến đâu cũng đều không mất đi và nó để lại dấu vết. Nó ghi chép lại một cách rất kỹ càng trung thực. Nó rơi vào tiềm thức, nó in lên vỏ não, nó khắc vào gien và nó hiện lên mặt. Đó là quy luật tiến hoa sinh học, di truyền pháp tướng. Pháp tướng tông thường nói thức biến. Thế nên, thức biến như thế nào thì trên mặt cũng xuất hiện những cơ thần kinh biểu tượng tương ứng (đây cũng là chỗ tựa của khoa học hình sự và nghệ thuật sân khấu điện ảnh). Tất cả đều là chủng tử hình thành tính cách vô ý thức bản năng di truyền.

    Quả nhiện, mớ tri thức đồ sộ mà cả cuộc đời mới tích luỹ nổi, làm sao có thể buông bỏ được. Và buông bỏ bằng cách nào? Bởi vì, những tri thức đó là những thiện chủng tử in sâu vào thành tính cách vô ý thức hình thành nghiệp. Chính nhờ vào cái vốn tri thức này mà nhà Phật có một thuật ngữ tương đương là Trí hữu sư làm phương tiện cơ sở, để chuyển hoá dần dần thành trí Vô sư. Quả nhiên, nếu Đức Phật không phương tiện dùng Nhân minh, làm sao có thể bẻ gãy mọi triết thuyết của ngoại đạo? Qua kinh Kim cang, Đức Phật muốn dạy chúng ta phải phá chấp. Tu Phật là tích thiện nghiệp. Tích tụ thiện nghiệp rốt ráo nhất là phải diệt thức. Diệt thức tức diệt trừ tâm sai biệt, xoá bỏ ác chấp nhị nguyên, siêu việt thiện ác, thánh phàm mới có phúc duyên mà lần vào đại dương vô sinh bất nhị, nhập tri kiến Phật được. Chẳng thế mà Lục tổ Huệ Năng vốn là người xứ man di thất học. Với lòng tin mãnh liệt của mình, phát Bồ-đê-tâm, giã gạo nghe kinh, ngày này qua tháng nọ… Khi ngài nghe đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” trong kinh Kim cang, ngài chợt bừng sáng, bèn nói: “Đâu ngờ trong tâm ta lại có tính Phật”. Ngài nhận thức được rằng, phải không được trụ tâm vào đâu thì sẽ sinh tâm Phật. Không trụ nghĩa là không chấp trước, không chấp trước vào cái vốn tri thức nhị nguyên, giới hạn, tương đối để có thể dần dần chuyển thức thành trí.

    Thế là tu Phật, thực hành toạ thiền mà mục đích là thành Phật, chính là tích tập kinh nghiệm, những thiện chủng tử để hình thành một thói quen tâm linh, dần dần chuyển hoá mình thành tính cách vô ý thức mà khởi đầu của hành động bằng một cách có ý thức. Nghiệp trong đạo Phật chẳng qua không ngoài cái thói quen tâm linh này của ý chí in sâu vào tính cách. Phật giáo cho nghiệp là ý chí tích tụ kinh nghiệm dần trở thành tính cách vô ý thức. Đây là chỗ giống nhau của giáo dục với nghiệp trong đao Phật. Hơn nữa, nghiệp y vào tự lực tự nội mà hình thành nghiệp mới tương lai, thì tự bản chất của nó đã có đủ tính cách tồn tại và ý chí sáng tạo rồi. Nhưng ở đây lại là tích tụ thiện nghiệp bằng thiền quán tự nội, bằng nỗ lực bản thân và trí tuệ, thì cái đích đạt được không dừng ở nhân cách và thế trí, mà là giác ngộ thánh trí, vô ngã từ bi, thành Phật.

    Trong đời sống tự nhiên cũng vậy, một đàn nai đang gặm cỏ, bỗng cả đàn bật chạy mặc dù có con hổ còn đang ở rất xa. Do đấu tranh sinh tồn đã hình thành vô ý thức – bản năng. Đó là do có điểm cảnh tỉnh trên vỏ đại não. Chúng ta đều biết, có nhiều loại chim chọn mùa để sinh sống, cá đổi vùng để sinh sản. Và trong thực nghiệm đã minh chứng: Người ta dùng con chó làm vật thử nghiệm; nó chỉ được ăn sau khi người ta đánh một hồi chuông, cứ như thế nhiều lần. Về sau, người ta chỉ đánh chuông mà không cho con chó ăn, vậy mà con chó vẫn chảy dãi. Pavlov gọi đó là phản xạ có điều kiện. Chính những định hình hoạt động đó mang tính cách vô ý thức di truyền và hình thành nghiệp.

    Đến đây, chúng ta đều có thể thống nhất nhận xét là, ý nghĩa to lớn của thuyết nghiệp trong đạo Phật là hình thành tính cách vô ý thức. Tính cách vô ý thức ở đây lại là việc tích tụ thiện nghiệp nhờ phương pháp toạ thiền, bằng thiền quán tự nội, có nghĩa là tự tâm, bằng trí tuệ và bằng nỗ lực bản thân. Như vậy, hình thành tính cách vô ý thức nhờ nỗ lực tự tâm là có ý nghĩa cực kỳ to lớn. Và toạ thiền là phương pháp tối hậu để dưỡng thành tính cách Phật.

    Thiền là vô cầu. Toạ thiền là Niết-bàn. Đó là chắc chắn. Song, nói như thế có e rằng quá lý thuyết không? Đành rằng, không phải ai “kiến tánh” và “toạ thiền” cũng đều thành Phật cả, song đó là cách đi của chư Phật. Toạ thiền đúng cách, vừa sức, đều đặn thường nhật là khó. Nhưng nếu ai hình thành được thói quen tâm linh toạ thiền đều đặn, vừa sức, không gián đoạn, không bỏ dở, lâu dài, nhiều tháng năm… người ấy có ngôn ngữ thiền, người ấy có thiền vị. Toạ thiền đúng cách sau 10 phút đã giảm từ 17-20% mức tiêu thụ oxy. Để ứng dụng việc toạ thiền cho học sinh-sinh viên, những người làm việc bằng trí óc cũng như trong các ngành học thuật khác có thói quen toạ thiền hằng ngày như mặc áo, ăn cơm, đọc báo, đi làm… mỗi ngày một lần từ 20-30 phút là đủ. Thói quen này là định hình hoạt động hình thành tính cách vô ý thức. Hành động vô ý thức này có lợi ích vô cùng to lớn cho một hành giả. Nó chuyển hóa thân xác của hành giả trở nên sung mãn, linh hoạt; tâm thức luôn được ổn định, thăng bằng để sẳn sàng làm tốt một công việc được chỉ định tiến hành.

    Đối với một Phật tử, tình thần thiền là vô cầu, liệu có thể hiểu được không?

    Một Phật tử thuần thành hoặc một thiền sinh được thầy của mình trao cho một công án như: “Tiếng vỗ của một bàn tay”. Hàng ngày sau những giờ lao động, Phật tử hay thiền sinh đó sớm hôm toạ thiền, quán tưởng công án. Phát Bồ-đề-tâm, anh siêng năng chăm chỉ tập trung quán tưởng. Tập trung đến mức như anh đang đấu kiếm trước đối thủ của mình. Anh thật căng thẳng, mệt mỏi, cùng cực quẩn bách, khổ đau nhiều tháng năm… Với tấm lòng siêng năng của anh, rồi cơ duyên cũng đến, anh bừng tỉnh ngộ (kiến tánh).

    Chúng ta thử hình dung, có một vị thiền sư sống ở một ngôi chùa hẻo lánh, vắng bóng người qua lại, hầu như không giao tiếp với ai. Ngài toạ thiền thường nhật như ăn, thở, ngủ, thải… không phải dùng đến bất cứ một sự cố gắng nào, chân thật và hồn nhiên… quên cả tháng ngày trôi… Như thế, chắc ngài sẽ đắc đạo.

    Tọa thiền là một phưuơng pháp. Nhập thiền là một trạng thái, đó là trạng thái phản tỉnh vô niệm. Ý thức chủ động quyết định việc toạ thiền một cách tự nguyện, thường xuyên, dần dần hình thành một thói quen tâm linh đã dắt dẫn cơ thể lẫn tâm thức đến một trạng thái vô thức. Vô thức nhờ toạ thiền do ý thức quyết nên gọi là vô thức hữu thức, hay vô thức tâm linh. Đây là trạng thái của một cơ thể, có thân thư giãn cao độ, thư giản đến mức thật yên và thật tĩnh, thân như bị xoá hết: “Thân như giọt nước thể như chuông”. Còn tâm thức lại đạt đến trạng thái rỗng lặng cao độ, rỗng lặng đến mức không còn một làn sóng tạp niệm nào, tâm vô niệm: “Tâm hư tịch tĩnh”. Thân vong tâm hư là một trạng thái của một sinh thể cực kỳ mẫn cảm, một sinh thức trực giác linh diệu. Đó là “trạng thái không còn mối tương quan với không gian, không còn mối tương quan với thời gian” hay là “trạng thái tuyệt mạng tuyệt thể”. Đây là trạng thái không tuyệt mà diệu hữu. Đó là trạng thái của “sức tức thị không Bát-nhã Bồ-đề diệu dụng” để có thể hợp được với “Thế Tôn Pháp thân, Tát-bà-ha chân thể”. Đó chính là hình ảnh của đứcPhật Thích-Ca cùng vào ngồi toà sư tử với đức Phật Đa Bảo trong tháo bảy báu, là hình ảnh của Bodhi Svaha.

    “Trạng thái chân không vô niệm” của một sinh thể trong thiền định là trạng thái của một cơ thể mà cả thân lẫn tâm có khả năng đồng hoá và dị hoá cao nhất, nhưng cơ thể cũng như tâm não lại tiêu hao năng lượng oxy ít nhất, mà vẫn duy trì được cơ thể ở trạng thái tâm sinh lý bình thường, cực mẫn cảm bén nhạy, trực giác thông sáng. Toàn thể cơ quan phủ tạng ở trong trạng thái đồng đẳng, tâm thức ở trong một trạng thái chính đẳng để sẵn sàng đón nhận những gì gọi là thánh thiện.

    Còn toạ thiền ứng dụng trong đời thường nhằm hình thành một thói quen tâm linh trở thành tính cách vô ý thức đã giúp hành giả có một thân xác linh hoạt, một thức điền được chuẩn bị tốt nhất để sẵn sàng lãnh nhận những thiện căn chủng tử phát triển tốt đẹp.

    Đối với những người Phật tử thuần thành, với các thiền sư thường xuyên quán Tứ niệm xứ, quán đến độ trở thành hiệp nhất, thì giả dụ như: “Tiếng tăm và dục tình…” chỉ còn là danh từ khái niệm, là trạng thái của một thân xác hèn kém xấu xa, một tâm thức còn nhiều mê chấp, và thật là vô nghĩa, chẳng có chi đáng đắm luyến. Như vậy, thiền vô cầu là có thể hiểu được.

    Nói như thế không có nghĩa là trong đời thường không thể toạ thiền. Bởi vì, đức Phật dạy: “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”. Ngoài thế gian ra không có Phật, Phật ở ngay tại thế gian, Phật ở ngay trong ta. Ngoài ta không có giác ngộ, Thiền ở ngay trong đời thường như mặc áo, ăn cơm, cuốc vườn, trồng rau, đi, đứng, nằm, ngồi đều là Thiền cả. Buông bỏ nghĩa là hành đạo ngay trong đời thường mà vẫn xả ly, không chấp trước trên tinh thần vô ngã vị tha, xả ly tâm sai biệt, diệt trừ ác tập nhị nguyên… Như thế, thiền mới trở thành siêu việt. Đành rằng, toạ thiền là một việc khó nhưng nếu không thực hành toạ thiền thì không có kinh nghiệm trở thành tính cách vô ý thức, không những chỉ lấy đó mà thực hành mà còn cho ý chí tự thân đó là nghiệp rồi.

    Cho nên trong sự nghiệp giáo dục, nếu đem ứng dụng thuyết nghiệp của nhà Phật thông qua việc thực hành toạ thiền, thì sự tu dưỡng tự lực, có nghĩa là phấn đấu nỗ lực tự tâm nhằm hình thành những thiện nghiệp chủng tử như: chủ động tự nguyện, chân thật hồn nhiên, kiên trì tập trung, có phương pháp… còn có một ý nghĩa cực kỳ to lớn. Có lẽ, đó cũng là mục đích có ý nghĩa chiến lược của giáo dục.

    Việc toạ thiền đều đặn, đúng phương pháp, không gián đoạn, không bỏ dở và bí quyết thành công, dù chỉ 20 phút mỗi ngày cho cả cuộc đời; thì đối với học sinh, sinhviên và những người làm công việc khoa học kỹ thuật là đủ và có giá trị đích thực để chuyển hoá thân tâm. Thân xác trở nên bén nhạy, tâm thức với một thức điền đồng đẳng, trực giác, minh mẫn, thông sáng.

    Nắm được ý nghĩa to lớn của thuyết nghiệp trong đạo Phật và thực hành thiền quán tự nội, toạ thiền thường nhật, nếu được đem ứng dụng cho những người làm lao động trí óc là một sự nghiệp vô cùng to lớn, nhất là đối với học sinh, sinh viên và các nhà làm công việc khoa học và nghệ thuật. Nó thực sự trở thành sự nghiệp của cả một dân tộc.

    Toạ thiền đúng cách, vừa sức, đều đặn, không gián đoạn, không bỏ dỡ, lâu dài, nhiều tháng năm…l à một hành động tốt nhất để hình thành một “định hình hoạt động tâm linh”, hướng thiện và hướng thượng; và trong phạm vi thế tục, sáng tạo và thiên tài. Như thế chưa đủ để nói lên hiệu quả vĩ đại của thiền trong giáo dục hay sao?

    --- Bài cũ hơn ---

  • “điểm Danh” Những Thói Quen Tốt Cho Sức Khỏe, Bạn Nên Làm Mỗi Ngày
  • Cùng Thiền Mỗi Ngày Trong Suốt 1 Tháng, Cặp Vợ Chồng Nhận Được Kết Quả Ngoài Tưởng Tượng
  • Uống Nước Thế Nào Mới Là Đúng Cách, Khoa Học: Yếu Tố Dinh Dưỡng Trong Nước Đang Bị Bỏ Quên
  • Mổ Gắp 1258 Viên Sỏi Thận: Căn Bệnh Không Có Triệu Chứng Cho Đến Khi Bị Đe Dọa Tính Mạng
  • Tác Dụng Của Ngồi Kiết Già
  • Lợi Ích Của Phương Pháp Giáo Dục Stem

    --- Bài mới hơn ---

  • Chương 5 Phan Tich Loi Ich Chi Phi
  • Các Phương Pháp Quản Lý Kinh Tế. Trình Bày Phương Pháp Kích Thích Kinh Tế Trong Quản Lý. Cho Ví Dụ Minh Hoạ.
  • Mối Quan Hệ Giữa Người Lao Động Và Người Sử Dụng Lao Động Giai Đoạn Hiện Nay
  • Kinh Tế Chính Trị Quốc Tế Là Gì?
  • Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Các em được làm nhiều thí nghiệm Vật lý với lực ma sát, đo dung tích phổi, con lắc vĩnh cửu; tạo núi lửa, phản ứng đổi màu các chất với Hóa học vui… Từ đó, học sinh hiểu bài hơn, kích thích khả năng sáng tạo từ những sản phẩm đơn giản gắn liền cuộc sống như giày dép, mỹ phẩm, quần áo, sách vở đến các sản phẩm phức tạp như máy điện quang, laser, điện thoại, máy tính…

    Giáo dục STEM còn cung cấp cho học sinh những kỹ năng mềm như giải quyết vấn đề, tư duy phản biện, kỹ năng cộng tác, khả năng giao tiếp… Chẳng hạn với hoạt động làm tên lửa khí, các em sẽ được rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, giải quyết vấn đề và hướng đến thành quả chung của cả đội.

    Sau khi làm xong mỗi sản phẩm, các thành viên cùng suy nghĩ cách trình bày, giới thiệu sản phẩm để hấp dẫn, giải đáp thắc mắc của người nghe. Điều này giúp tăng khả năng thuyết trình, phản biện cũng như tư duy khoa học. STEM là sự kết hợp những cái cũ, ứng dụng thêm thiết bị công nghệ theo cách thông minh và hiệu quả.

    Áp dụng giáo dục STEM trong việc giảng dạy, học sinh tiểu học có thể cảm thấy khoa học, công nghệ, kỹ thuật hay toán học không quá xa lạ mà trở nên trực quan qua các mô hình, thí nghiệm thực tiễn.

    Hàng trăm học sinh đã vận dụng kiến thức được học để tạo ra những sản phẩm thiết thực trong đời sống hàng ngày như người máy, máy cắt xốp, máy tái chế giấy, tạo code lập trình game trong “Ngày hội STEM” năm 2022 diễn ra ở Hà Nội.

    Tại “Ngày hội STEM” của trường Tiểu học Trần Quốc Toản (Hà Nội), các em được xem cách làm quả bóng bay co lại bằng khí nitơ lỏng, trải nghiệm máy in 3D, học cách tạo ra điện từ thức ăn như chuối, khoai tây, chanh, giấm… Trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm (TP HCM) có tổng 23 câu lạc bộ ứng dụng STEM, trong đó có 6 câu lạc bộ STEM Robotics để học sinh được thỏa sức khám phá, thực hành các môn khoa học được học trên lớp.

    Tuy có rất nhiều lợi ích, việc đưa STEM vào chương trình giáo dục lại gặp không ít khó khăn như quy định thi cử, đánh giá chất lượng, điều chỉnh phù hợp với từng địa phương, điều kiện cơ sở vật chất chưa đủ đáp ứng.

    Nhiều doanh nghiệp đã và đang nỗ lực thúc đẩy giáo dục STEM vừa để thử nghiệm vừa để mang đến sân chơi mới lạ cho học sinh. Công ty Điện tử Samsung với chuỗi chương trình Trách nhiệm doanh nghiệp tại Việt Nam mang đến không gian Công nghệ thiếu nhi chúng tôi Kids tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TP HCM trong năm 2022 là bước ngoặt trong hành trình này.

    Trong không gian gần 450m2 với tổng giá trị đầu tư gần 6 tỷ đồng, chúng tôi Kids được chia thành những khu vực chức năng như phòng học STEM, phòng thiên văn, không gian đọc sách và thực hành khoa học, không gian giải trí đa phương tiện… Nơi đây có trang thiết bị hiện đại của Samsung như bảng tương tác thông minh, bảng Flip Chart điện tử, máy tính bảng và các bộ công cụ Lego Robots.

    Ở chúng tôi Kids, không gian đọc sách và thực hành khoa học là nơi để các em vun đắp kiến thức, thực hành những điều đã học được. Phòng thiên văn với các thiết bị điện tử của Samsung hỗ trợ học sinh tìm hiểu thông tin, tiếp cận công nghệ hiện đại trực quan, sống động.

    S.hub Kids cũng là nơi tổ chức những chương trình như “STEM khoa học vui” lấy cảm hứng từ những vật dụng quen thuộc hay những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, “STEM Robotics và lập trình cơ bản”… Song song đó, Samsung còn tổ chức cuộc thi “First Lego League”, triển khai Hội thảo “Kiến tạo tương lai từ giáo dục STEM”, trại hè “STEM Summer Camp” tại chúng tôi Đà Nẵng, tập huấn giáo dục STEM cho gần 170 giáo viên, cuộc thi Robotacon 2022…

    Ông Kim Cheol Gi, Tổng giám đốc Công ty Điện tử Samsung Vina chia sẻ, đơn vị hy vọng dự án chúng tôi Kids với cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại cùng các hoạt động đa dạng sẽ góp phần tích cực vào việc phát triển giáo dục STEM tại Việt Nam, nhất là cho thế hệ thanh thiếu nhi – những chủ nhân tương lai của đất nước. Những hoạt động thiết thực của Samsung là minh chứng cho mục tiêu “Kiến tạo tương lai” thế hệ trẻ Việt của tập đoàn, đồng thời thúc đẩy mô hình giáo dục STEM nhanh chóng đến gần hơn nữa với học sinh.

    Kim Uyên

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Các Phương Pháp Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Kinh Tế Tư Nhân Là Gì
  • Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Trở Thành Một Động Lực Quan Trọng Của Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn
  • Kinh Tế Tư Nhân: Ý Nguyện Và Lợi Ích Của Đông Đảo Người Dân
  • Kinh Tế Tư Nhân Và Các Giá Trị Chân Chính Của Nó
  • Lợi Ích Của Email Marketing Trong Lĩnh Vực Giáo Dục Và Đào Tạo.

    --- Bài mới hơn ---

  • Lợi Ích Của Email Marketing Trong Bán Hàng Trực Tuyến
  • Email Là Gì? Lợi Ích Của Email So Với Thư Thường
  • Ưu Điểm Của Email So Với Thư Truyền Thống?
  • Tư Vấn Tên Miền, Hosting, Website Và Dịch Vụ Email
  • Những Lợi Ích Khi Sử Dụng Công Cụ Top Email Marketing
  • Email marketing là một hoạt động kinh doanh bằng cách gửi email đến người nhận trong một danh sách. Để giới thiệu, quảng bá, cảm ơn,… với hi vọng họ sẽ mua sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn. Nhiệm vụ chính của email marketing là xây dựng mối quan hệ với khách hàng. Qua đó tạo lòng tin và tăng khả năng nhận diên thương hiệu của khách hàng.

    Có nhiều lý do tại sao bạn nên sử dụng email marketing. Xây dựng mối quan hệ tốt với những khác hàng hiện tại, giới thiệu sản phẩm mới, đem lại những giá trị cộng thêm cho khách hàng. Bằng cách tránh những lỗi marketing, bạn sẽ vượt qua đối thủ cạnh tranh bằng email marketing.

    Email Marketing trong lĩnh vực giáo dục.

    • Công cụ hỗ trợ đắc lực và chi phí cực thấp cho kế hoạch tuyển sinh.
    • Đa số học sinh, sinh viên, phụ huynh trong thế kỷ XXI đều sử dụng email.
    • Mang lại sự chuyên nghiệp hơn trong việc quản lý học sinh, sinh viên trong nhà trường.
    • Tạo sự gần gữi, liên kết chặt chẽ giữa nhà trường với học sinh, sinh viên và phụ huynh.
    • Tiết kiệm thời gian và chi phí, tạo điều kiện học tập thuận lợi nhất cho học sinh, sinh viên.
    • Độ phủ cực cao khi thông báo tuyển sinh hoặc các chương trình khác.

    Lợi ích của giải pháp:

    Về phía giáo viên.

    • Nhận thông tin từ văn phòng khoa, lịch giảng dạy, thay đổi các tiết học.
    • Gửi thông tin trực tiếp cho phụ huynh của học sinh trong lớp mình quản lý.
    • Gửi tài liệu, đè cương cho học sinh, sinh viên.

    Về phía Phụ Huynh:

    • Có thể nhận thông tin từ phía nhà trường một cách chính xác và nhanh chóng.
    • Phản hồi về chất lượng giáo dục của nhà trường.
    • Tình hình học tập của con cái được quản lý và kiểm soát chặt chẽ: Kiểm tra kết quả học tập con cái mọi lúc mọi nơi.
    • Tin tưởng vào hệ thống giáo dục của nhà trường và trung tâm

    Về phía Nhà trường và trung tâm giáo dục:

    • Là cầu nối thông tin nhanh nhất giữa Nhà trường và Phụ huynh học sinh, sinh viên.
    • Gửi thông tin về điểm thi và tuyển sinh tới tất cả sinh viên.
    • Trả lời ngay liên tục 24/24 (nhanh chóng và chính xác).
    • Giảm thiểu tối đa chi phí, công tác thông báo.
    • Thông báo tới giáo viên biết lịch dạy của mình trong ngày, tuân, tháng,…
    • Thông báo tới học sinh, sinh viên về lịch học, thời khóa biểu khi có sự thay đổi.
    • Nhắc nhở về lịch thi, lịch họp phụ huynh.

    Về phía Học sinh & Sinh viên:

    • Biết được thông tin về sự thay đổi lịch học hay thời khóa biểu.
    • Học sinh, sinh viên có thể tra cứu các thông tin như: Điểm thi, thời khoá biểu và các thông khác một cách nhanh chóng, kịp thời (Thông tin được xử lý nhanh chóng, cung cấp thông tin khi đang ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào.
    • Có thể đăng ký lớp học và môn học bằng email.
    • Phản hồi thông tin về các môn học, giáo viên, chất lượng học tập và các ý kiến đóng góp.
    • Nhận tài liệu, đề cương, bài tập của các giáo viên bộ môn.

    Vũ Thương

    Comments

    --- Bài cũ hơn ---

  • Funix ‘bật Mí’ Lợi Ích Đặc Biệt Của Email Giáo Dục
  • Cách Tạo Tài Khoản Email .edu, Đăng Ký Mail Edu, Hòm Thư Giáo Dục
  • Những Lợi Ích Của Việc Dùng Email Edu Cho Developer
  • 5 Lợi Ích Từ Việc ” Eat Clean” Mang Đến Cho Sức Khỏe
  • Còn Chần Chừ Gì Nữa Bạn Đã Biết Được Những Lợi Ích Vủa Việc Ăn Eat Clean Chưa
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100