Hiệp Định Evfta Là Gì Và Lợi Ích Kinh Tế Có Được Thông Qua Hiệp Định?

--- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Gia Nói Gì Về Cơ Hội Và Thách Thức Của Việt Nam Khi Tham Gia Evfta?
  • Tìm Hiểu Về Hiệp Định Thương Mại Tự Do Evfta?
  • Việt Nam Được Lợi Gì Khi Tham Gia Evfta?
  • Đi Tìm Lợi Ích Từ Việc ‘forever Alone’ Nhân Ngày Của F.a
  • 5 Lợi Ích Của Việc Fa
  • Hiệp định EVFTA là gì?

    EVFTA hay FTA là chữ viết tắt theo tiếng Anh của Free Trade Agreement có ý nghĩa là hiệp định thương mại tự do của hai hoặc nhiều quốc gia trên thế giới với nhau. Theo đó, các nước tham gia hiệp định sẽ có mục tiêu chung chính là tạo ra một khu vực mậu dịch chung nhằm xóa bỏ trở ngại kinh tế từ hàng rào thuế quan.

    Với tính chất quan trọng, hiệp định được diễn ra theo một lộ trình rõ ràng, cụ thể. Tính đến nay, trên toàn cầu đã có hơn 200 hiệp định được ký kết và có hiệu lực. Trong đó, một số hiệp định lớn bao Hiệp định của khối Liên minh Châu Âu hoặc Hiệp định ASEAN-Trung Quốc.

    Việt Nam có cơ hội phát triển hết mình khi được tham gia hiệp định thương mại tự do với nhiều quốc gia trên thế giới. Chính điều này mang đến sự phát triển to lớn cho nền kinh tế nước nhà, làm gia tăng giá trị sản phẩm, trong đó, mạnh nhất là ngành công nghiệp thực phẩm và nông nghiệp. Cụ thể, từ ngày 01/08 năm nay, Hiệp định Thương mại tự do Liên minh châu Âu – Việt Nam chính thức có hiệu lực. Đây là điều kiện để chúng ta tiếp cận với nguồn hàng hóa phong phú châu Âu cũng như thu hoạch được nhiều lợi ích về kinh tế.

    Đúng vậy, khi EVFTA có hiệu lực, mức thuế quan cao ngất ngưỡng lên tới 71% xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ toàn bộ được giảm xuống mức 0%. Nói cách khác, 84% các dòng thuế trước kia mà chúng ta phải gánh chịu giờ đã bị xóa bỏ hoàn toàn, tạo sự thuận lợi tối đa cho nhà sản xuất. Không ngừng lại ở đó, trong thời gian những năm tới, nếu theo đúng lộ trình, sẽ có trên 99% dòng thuế sang EU không còn tồn tại. Hiệp định không chỉ là bước đệm cho sự phát triển kinh tế còn rất có ý nghĩa trong việc tương trợ nhau giữa các quốc gia trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn ra phức tạp.

    Những mốc thời gian chính của Hiệp định EVFTA là gì?

    • Tháng 10 năm 2010: lãnh đạo cấp cao Việt Nam và EU bắt đầu tiến hành đàm phán Hiệp định EVFTA.
    • Tháng 12 năm 2022: Cả hai nước bắt đầu tiến hành rà soát về mặt pháp lý để sẵn sàng cho việc ký kết Hiệp định.
    • Tháng 6 năm 2022: Việt Nam và EU tách riêng Hiệp định EVFTA thành Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (IPA)
    • Ngày 17 tháng 10 năm 2022: Hai Hiệp định EVFTA và IPA sau khi được hoàn thiện rà soát pháp lý chính thức được Ủy ban châu Âu đã chính thức thông qua.
    • Ngày 30 tháng 6 năm 2022:Việt Nam và EU chính thức ký kết EVFTA và IPA.
    • Ngày 08 tháng 6 năm 2022: Quốc hội Việt Nam hoàn tất phê chuẩn Hiệp định EVFTA và EVIPA

    Khái quát những nội dung chính có trong hiệp định

    Hiệp định EVFTA được xây dựng với nội dung chặt chẽ, đảm bảo sự phát triển toàn diện, công bằng cho cả hai bên tham gia và đặc biệt là hoàn toàn phù hợp với những quy định được đề cập trong WTO. Cụ thể, hiệp định đề cập đến một số vấn đề chủ chốt trong các lĩnh vực như sau:

    Thương mại hàng hóa

    Thương mại dịch vụ và đầu tư

    Việt Nam nhận được sự cam kết hỗ trợ tối đa về mặt kỹ thuật khi đấu thầu qua mạng, cần thực hiện lộ trình mở của dần những họa động mua sắm trong 15 năm tới.

    Thương mại điện tử

    Cả hai không đánh thuế nhập khẩu những giao dịch điện tử, duy trì đối thoại để quản lý những vấn đề xảy ra trong thương mại điện tử. Đây là điều cần thiết để đảm bảo an toàn cho những người tham gia giao dịch trực tuyến.

    Thương mại và phát triển bền vững

    Cam kết phát triển bền vững toàn diện về kinh tế, xã hội cũng như chú trọng cao đến vấn đề bảo vệ môi trường. Cả hai nhất trí hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm để các công ước lao động, môi trường đạt được hiệu quả thực thi cao.

    Nói chung, sau khi tìm hiểu Hiệp định EVFTA là gì có thể thấy rằng đây chính là một nền tảng quan trọng, làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế vượt trội trong thời gian về sau. Đối với nước ta, đây là cơ hội to lớn nhưng cũng đồng thời tạo ra nhiều thách thức và sự cạnh tranh khốc liệt nếu không nắm bắt kịp thời nhu cầu của thị trường. Chính vì thế, trong thời gian của lộ trình mở cửa, tốt hơn hết, các doanh nghiệp trong nước cần tiếp tục phấn đấu không ngừng để tăng cao giá trị sản phẩm, cải tiến về công nghệ từ đó tạo được vị thế vững chắc hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đánh Giá Tác Động Của Hiệp Định Evfta Tới Việt Nam
  • Hiệp Định Evfta Và Evipa: Bước Quan Trọng Trong Hội Nhập Quốc Tế
  • Thứ Trưởng Bùi Thanh Sơn: Evfta Và Evipa Mang Lại Nhiều Lợi Ích Kinh Tế Lớn
  • Evfta Và Evipa Mang Đến Cho Việt Nam Cơ Hội Trở Thành Trung Tâm Sản Xuất Của Khu Vực
  • Evfta Và Evipa Mang Lại Lợi Ích To Lớn, Cân Bằng Cho Cả Việt Nam Và Eu
  • Lợi Ích Của Hiệp Định Evfta Đối Với Xuất Khẩu Sản Phẩm Gỗ

    --- Bài mới hơn ---

  • Evfta Với Lợi Ích To Và Thách Thức Lớn Cho Vn
  • Hiệp Định Thương Mại Tự Do Giữa Việt Nam Và Liên Minh Châu Âu
  • Tác Động Của Hiệp Định Evfta Đối Với Ngành Dệt May Việt Nam
  • Tác Động Của Evfta Đến Nền Kinh Tế Việt Nam Và Một Số Khuyến Nghị
  • Evfta Và Evipa Mang Lại Lợi Ích To Lớn, Cân Bằng Cho Cả Việt Nam Và Eu
  • Hoa Kỳ là thị trường tiệu thụ lớn nhất các loại gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam, chiếm 39,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, tăng 3,4% so với cùng kỳ; tiếp đến thị trường Nhật Bản gần 553,5 triệu USD, chiếm 14,6%, giảm 1,9%; Trung Quốc 535 triệu USD, chiếm 14%, tăng 7,5%; Hàn Quốc 327 triệu USD, chiếm 8,6%, tăng 19%.

    Trong 7 tháng đầu năm nay, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang phần lớn các thị trường đều bị sụt giảm kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó, giảm mạnh ở một số thị trường như: Hồng Kông (-63,5%), Na Uy (-45,5%), Nam Phi (-44,6%), Phần Lan (-41,8%), Áo (-41,4%), Ấn Độ (-40%). Tuy nhiên, xuất khẩu lại tăng mạnh ở một vài thị trường nhỏ như: Campuchia (tăng 502%, đạt 7,35 triệu USD); Mexico (tăng 95,4%, đạt 7,3 triệu USD) và Bồ Đào Nha (tăng 69,6%, đạt 1,76 triệu USD).

    EU là thị trường lớn thứ tư về tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam (sau Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc). Tính riêng về các đồ gỗ (mã số hàng hóa xuất nhập khẩu: HS 94), đây là thị trường quan trọng thứ 2 của Việt Nam (sau Hoa Kỳ). Bốn mặt hàng đồ gỗ xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam vào EU gồm: Đồ gỗ ngoài trời, ghế gỗ, đồ nội thất phòng ngủ và đồ nội thất văn phòng.

    Trong khối EU, các quốc gia quan trọng nhất đối với gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam là Anh, Đức, Pháp. Kim ngạch từ 3 thị trường này chiếm 2/3 trong tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam vào EU. Theo cam kết trong Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), hơn 90% sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được hưởng thuế suất 0%. Tuy nhiên, lợi ích trong thương mại gỗ Việt Nam – EU không chỉ dừng ở giá trị kim ngạch tăng thêm mà còn thể hiện trên các khía cạnh về tính ổn định bền vững trong phát triển và xu hướng mở rộng thị trường trong tương lai.

    EU không chỉ quan trọng đối với Việt Nam về thị trường tiêu thụ và sản phẩm, mà còn là một trong những nguồn cung nguyên liệu. Gỗ nhập khẩu từ EU vào Việt Nam được sử dụng để chế biến phục vụ xuất khẩu và cả thị trường nội địa. Các mặt hàng gỗ Việt Nam nhập khẩu chính: Gỗ tròn, gỗ xẻ, vơ nia và gỗ dán. Trong giai đoạn 2012 – 2014, Việt Nam nhập một lượng gỗ tròn và xẻ tương đương với trên 1 triệu m3 gỗ quy tròn. Hiện kim ngạch gỗ nguyên liệu từ EU chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch và sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam vào EU. Dự báo nhập khẩu nguyên liệu gỗ từ EU sẽ tăng nhiều hơn trong thời gian tới. bởi nguyên liệu nhập khẩu đóng vai trò quan trọng trong ngành chế biến gỗ Việt Nam, nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất ngày càng tăng phục vụ thị trường trong và ngoài nước.

    Thị trường EU đòi hỏi rất cao về tính hợp pháp của nguồn gốc nguyên liệu. Khi thực hiện FTA Việt Nam – EU, sản phẩm gỗ Việt phải giải trình về nguồn gốc hợp pháp và đáp ứng tiêu chuẩn an toàn sản phẩm. Đó là lý do Việt Nam và EU phải tiến hành đàm phán Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) về Tăng cường thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT) – gọi tắt là VPA/FLEGT.

    VPA/FLEGT – Hiệp định Thương mại song phương được ký kết giữa EU với quốc gia đối tác xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ – nhằm đảm bảo gỗ và sản phẩm gỗ ở tất cả các nguồn, được chế biến và xuất khẩu từ Việt Nam sang các nước thành viên EU là hợp pháp. Hiệp định này bổ sung cho Hiệp định Thương mại tự do FTA giữa EU và Việt Nam. Việc thực hiện VPA/FLEGT sẽ góp phần mở rộng thị trường EU và các thị trường xuất khẩu khác, tăng cường sự phát triển bền vững của ngành lâm nghiệp và công nghiệp gỗ của Việt Nam; đồng thời, thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc tăng cường thực thi lâm luật và quản trị rừng.

    Đến nay, đồ gỗ Việt Nam xuất khẩu sang khối EU thực chất chỉ tập trung ở một số thị trường, từ đó được bán tiếp đi các nước thành viên khác nên kim ngạch còn hạn chế (khoảng 700-800 triệu USD/năm). Trong khi nhu cầu tiêu dùng mặt hàng đồ gỗ của EU lên tới 85 tỷ USD/năm. Như vậy, dư địa thị trường còn rất lớn. Các chuyên gia ước tính khi EVFTA và VPA/FLEGT với EU được thực hiện, thị trường EU sẽ thực sự mở rộng với 28 nước thành viên và kim ngạch thương mại gỗ có thể lên tới hàng tỷ USD mỗi năm một cách bền vững.

    Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 7 tháng đầu năm 2022

    ĐVT: USD

    Nguồn : chúng tôi Từ khóa : Lợi ích, của Hiệp định EVFTA, đối với, xuất khẩu, sản phẩm gỗ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vượt ‘cửa Ải’ Xuất Xứ Để Tối Đa Lợi Ích Từ Evfta
  • Lợi Ích Từ Evfta Không Chỉ Của Doanh Nghiệp
  • Chuẩn Bị Tích Cực Để Khai Thác Tốt Lợi Ích Từ Evfta
  • Chuẩn Bị Tích Cực Để Khai Thác Lợi Ích Từ Evfta
  • Một Số Nội Dung Chính Của Hiệp Định Evfta Và Evipa
  • Một Số Nội Dung Chính Của Hiệp Định Evfta Và Evipa

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuẩn Bị Tích Cực Để Khai Thác Lợi Ích Từ Evfta
  • Chuẩn Bị Tích Cực Để Khai Thác Tốt Lợi Ích Từ Evfta
  • Lợi Ích Từ Evfta Không Chỉ Của Doanh Nghiệp
  • Vượt ‘cửa Ải’ Xuất Xứ Để Tối Đa Lợi Ích Từ Evfta
  • Lợi Ích Của Hiệp Định Evfta Đối Với Xuất Khẩu Sản Phẩm Gỗ
  • EVFTA đã trở thành hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đầu tiên được Nghị viện châu Âu (EP) khóa mới xem xét và phê chuẩn.

    Hiệp định gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ kèm theo với các nội dung chính là: thương mại hàng hóa (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT), thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và Phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, các vấn đề pháp lý – thể chế.

    Thương mại hàng hóa

    Đối với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Sau 07 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%.

    Như vậy, có thể nói gần 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu sau một lộ trình ngắn. Cho đến nay, đây là mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho ta trong các hiệp định FTA đã được ký kết. Lợi ích này đặc biệt có ý nghĩa khi EU liên tục là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của ta hiện nay.

    Đối với hàng xuất khẩu của EU, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế (chiếm 64,5% kim ngạch nhập khẩu). Tiếp đó, sau 7 năm, 91,8% số dòng thuế tương đương 97,1% kim ngạch xuất khẩu từ EU được Việt Nam xóa bỏ thuế nhập khẩu. Sau 10 năm, mức xóa bỏ thuế quan là khoảng 98,3% số dòng thuế (chiếm 99,8% kim ngạch nhập khẩu). Đối với khoảng 1,7% số dòng thuế còn lại của EU, ta áp dụng lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu dài hơn 10 năm hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan theo cam kết WTO.

    Thương mại dịch vụ và đầu tư

    Cam kết của Việt Nam và EU về thương mại dịch vụ đầu tư nhằm tạo ra một môi trường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp hai bên. Cam kết của Việt Nam có đi xa hơn cam kết trong WTO. Cam kết của EU cao hơn trong cam kết trong WTO và tương đương với mức cam kết cao nhất của EU trong những Hiệp định FTA gần đây của EU.

    Một số nét chính trong các cam kết một số ngành dịch vụ như sau:

    Dịch vụ ngân hàng: Trong vòng 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam cam kết sẽ xem xét thuận lợi việc cho phép các tổ chức tín dụng EU nâng mức nắm giữ của phía nước ngoài lên 49% vốn điều lệ trong 2 ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam. Tuy nhiên, cam kết này không áp dụng với 4 ngân hàng thương mại cổ phần mà nhà nước đang nắm cổ phần chi phối là BIDV, Vietinbank, Vietcombank và Agribank.

    Dịch vụ bảo hiểm: Việt Nam cam kết cho phép nhượng tái bảo hiểm qua biên giới, cam kết dịch vụ bảo hiểm y tế tự nguyện theo luật Việt Nam. Riêng đối với yêu cầu cho phép thành lập chi nhánh công ty tái bảo hiểm, ta chỉ cho phép sau một giai đoạn quá độ.

    Dịch vụ viễn thông: Ta chấp nhận mức cam kết tương đương trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Đặc biệt đối với dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng không có hạ tầng mạng, ta cho phép EU được lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài sau một giai đoạn quá độ.

    Dịch vụ phân phối: Ta đồng ý bỏ yêu cầu kiểm tra nhu cầu kinh tế sau 05 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, tuy nhiên ta bảo lưu quyền thực hiện quy hoạch hệ thống phân phối trên cơ sở không phân biệt đối xử. Ta cũng đồng ý không phân biệt đối xử trong sản xuất, nhập khẩu và phân phối rượu, cho phép các doanh nghiệp EU được bảo lưu điều kiện hoạt động theo các giấy phép hiện hành và chỉ cần một giấy phép để thực hiện các hoạt động nhập khẩu, phân phối, bán buôn và bán lẻ.

    Mua sắm của Chính phủ

    Việt Nam và EU thống nhất các nội dung tương đương với Hiệp định mua sắm của Chính phủ (GPA) của WTO. Với một số nghĩa vụ như đấu thầu qua mạng, thiết lập cổng thông tin điện tử để đăng tải thông tin đấu thầu… Việt Nam có lộ trình để thực hiện. EU cũng cam kết dành hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam để thực thi các nghĩa vụ này.

    Về diện cam kết, ta cam kết mở cửa mua sắm của các Bộ, ngành trung ương, một số đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng (đối với các hàng hóa và dịch vụ mua sắm thông thường không phục vụ mục tiêu an ninh – quốc phòng), thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Tập đoàn điện lực Việt Nam, Tổng công ty đường sắt Việt Nam, 34 bệnh viện thuộc Bộ Y tế, Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và một số Viện thuộc trung ương. Về ngưỡng mở cửa thị trường, ta có lộ trình 15 năm để mở cửa dần các hoạt động mua sắm.

    Việt Nam bảo lưu có thời hạn quyền dành riêng một tỷ lệ nhất định giá trị các gói thầu cho nhà thầu, hàng hóa, dịch vụ và lao động trong nước trong vòng 18 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.

    Đối với dược phẩm, Việt Nam cam kết cho phép các doanh nghiệp EU được tham gia đấu thầu mua sắm dược phẩm của Bộ Y tế và bệnh viện công trực thuộc Bộ Y tế với một số điều kiện và lộ trình nhất định.

    Về nhãn hiệu, Hai bên cam kết áp dụng thủ tục đăng ký thuận lợi, minh bạch, bao gồm việc phải có cơ sở dữ liệu điện tử về đơn nhãn hiệu đã được công bố và nhãn hiệu đã được đăng ký để công chúng tiếp cận, đồng thời cho phép chấm dứt hiệu lực nhãn hiệu đã đăng ký nhưng không sử dụng một cách thực sự trong vòng 5 năm.

    Về thực thi, Hiệp định có quy định về biện pháp kiểm soát tại biên giới đối với hàng xuất khẩu nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

    Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN)

    Quy định về DNNN trong Hiệp định EVFTA nhằm tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Cam kết cũng tính đến vai trò quan trọng của các DNNN trong việc thực hiện các mục tiêu chính sách công, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an ninh – quốc phòng. Bởi vậy, Hiệp định EVFTA chỉ điều chỉnh hoạt động thương mại của các doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu hoặc kiểm soát và doanh nghiệp độc quyền có quy mô hoạt động thương mại đủ lớn đến mức có ý nghĩa trong cạnh tranh.

    Các nghĩa vụ chính của Chương DNNN là: (i) hoạt động theo cơ chế thị trường, nghĩa là doanh nghiệp có quyền tự quyết định trong hoạt động kinh doanh và không có sự can thiệp hành chính của Nhà nước, ngoại trừ trường hợp thực hiện mục tiêu chính sách công; (ii) không có sự phân biệt đối xử trong mua bán hàng hóa, dịch vụ đối với những ngành, lĩnh vực đã mở cửa; (iii) minh bạch hóa các thông tin cơ bản của doanh nghiệp phù hợp với quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

    Thương mại điện tử

    Để phát triển thương mại điện tử giữa Việt Nam và EU, hai bên cam kết không đánh thuế nhập khẩu đối với giao dịch điện tử. Hai bên cũng cam kết hợp tác thông qua việc duy trì đối thoại về các vấn đề quản lý được đặt ra trong thương mại điện tử, bao gồm:

    – Trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ trung gian trong việc truyền dẫn hay lưu trữ thông tin;

    – Bảo vệ người tiêu dùng khi tham gia giao dịch điện tử.

    Minh bạch hóa

    Xuất phát từ thực tiễn môi trường pháp lý trong nước có ảnh hưởng lớn đến thương mại, Hiệp định EVFTA dành một chương riêng về minh bạch hóa với các yêu cầu chung nhất để đảm bảo một môi trường pháp lý hiệu quả và có thể dự đoán được cho các chủ thể kinh tế, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

    Thương mại và phát triển bền vững

    Hai bên khẳng định cam kết theo đuổi phát triển bền vững, bao gồm phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Về vấn đề lao động, với tư cách là thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), hai bên cam kết tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện Tuyên bố 1998 của ILO về những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động, bao gồm việc thúc đẩy phê chuẩn và thực thi có hiệu quả các Công ước cơ bản của ILO. Ngoài ra, hai bên cũng nhất trí tăng cường hợp tác thông qua cơ chế chia sẻ thông tin và kinh nghiệm về thúc đẩy việc phê chuẩn và thực thi các công ước về lao động và môi trường trong một số lĩnh vực như biến đổi khí hậu, đa dạng sinh học, quản lý rừng bền vững và thương mại lâm sản…

    Hiệp định EVIPA

    Hai bên cam kết sẽ dành đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc với đầu tư của nhà đầu tư của Bên kia, với một số ngoại lệ, cũng như sự đối xử công bằng, thỏa đáng, bảo hộ an toàn và đầy đủ, cho phép tự do chuyển vốn và lợi nhuận từ đầu tư ra nước ngoài, cam kết không trưng thu, quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư mà không có bồi thường thỏa đáng, cam kết bồi thường thiệt hại phù hợp cho nhà đầu tư của bên kia tương tự như nhà đầu tư trong nước hoặc của bên thứ ba trong trường hợp bị thiệt hại do chiến tranh, bạo loạn,…

    Trong trường hợp có tranh chấp phát sinh giữa một Bên và nhà đầu tư của Bên kia, hai bên thống nhất ưu tiên giải quyết tranh chấp một cách thiện chí thông qua đàm phán và hòa giải. Trong trường hợp không thể giải quyết tranh chấp thông quan tham vấn và hòa giải thì mới sử dụng đến cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định cụ thể trong Hiệp định này.

    Mới: Nghị viện châu Âu bỏ phiếu chính thức phê chuẩn hiệp định EVFTA và EVIPA

    TGVN. Đúng 12h00 ngày hôm nay (12/2) (giờ châu Âu, tức 18h00 giờ Việt Nam) Nghị viện châu Âu (EP) đã chính thức bỏ phiếu …

    EVFTA: Cơ hội và thách thức cho ngành Tài chính – Viễn thông

    TGVN. Sáng 23/10, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Viện Friedrich Naumann Foundation for Freedom (FNF) tổ chức Hội thảo “Ngành Tài …

    EVFTA – ”Cao tốc” nối Việt Nam – EU

    Ngay sau Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Sứ Vũ Anh Quang: Evfta Vì Lợi Ích To Lớn Và Cân Bằng
  • Bí Quyết Ngâm Rượu Quả (Trái) Sim Chữa Bệnh Xuất Tinh Sớm Cho Nam
  • Lợi Ích Của Rượu Sim Phú Quốc
  • Quả Sim Có Tác Dụng Gì? Những Lợi Ích Có Thể Bạn Không Ngờ Đến
  • 17+ Tác Dụng Của Trái Sim
  • Tìm Hiểu Về Hiệp Định Thương Mại Tự Do Evfta?

    --- Bài mới hơn ---

  • Việt Nam Được Lợi Gì Khi Tham Gia Evfta?
  • Đi Tìm Lợi Ích Từ Việc ‘forever Alone’ Nhân Ngày Của F.a
  • 5 Lợi Ích Của Việc Fa
  • Lợi Ích Không Ngờ Khi Bạn Là Fa
  • 20 Lợi Ích Của Sống Độc Thân
  • 1.Khái niệm về EVFTA

    EVFTA viết tắt là Europe -Vietnam Free Trade Area. Ngày 30/6/2019, Việt Nam và EU đã chính thức ký kết Hiệp định Thương mại tự do và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA và EVIPA). Hiệp định EVFTA là một trong những FTA lớn nhất Việt Nam từng tham gia, được kỳ vọng sẽ làm thay đổi thể chế chính sách và phát triển nền kinh tế Việt Nam lên một tầm cao mới khi chính thức được thực thi.

    2.1. Thị trường rộng lớn hơn:

    Hiệp định EVFTA sẽ tạo cho nền kinh tế Việt Nam không gian về mặt thị trường rộng lớn hơn, chất lượng cao hơn, đó là thị trường EU. EU là một trong những nền kinh tế “mở” nhất trên thế giới. Đây cũng là thị trường lớn nhất thế giới với dân số khoảng 513 triệu người, theo ước tính của Eurostat.

    2.2. Phá bỏ hàng rào thuế quan

    Sau khi được phê chuẩn và triển khai, EVFTA sẽ loại bỏ gần như tất cả các mức thuế giữa EU và Việt Nam trong suốt một thập kỷ. Nó sẽ xóa bỏ thuế quan đối với 65% giá trị hàng xuất khẩu của EU khi có hiệu lực, phần còn lại được loại bỏ trong 10 năm sau đó. Trong khi đó, 71% hàng nhập khẩu của EU từ Việt Nam sẽ được miễn thuế kể từ thời điểm EVFTA có hiệu lực, tăng lên hơn 99% trong bảy năm tới. Thuế hải quan sẽ được loại bỏ gần như hoàn toàn trong thời gian chuyển tiếp là bảy năm đối với hàng hóa Việt Nam và 10 năm đối với hàng hóa EU. Điều này thể hiện một chiến thắng cùng có lợi cho doanh nghiệp và người tiêu dùng, dưới hình thức giá thấp hơn và tăng khả năng cạnh tranh.

    2.3. Những lợi ích khác

    • EVFTA cũng bao gồm các quy định về tiếp cận thị trường cho các dịch vụ.
    • Thu hút đầu tư FDI tại Việt Nam: Số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam cho thấy tính đến ngày 20 tháng 6 năm 2022, các công ty châu Âu đã có khoảng 3.400 dự án đầu tư được đăng ký với mức giá hơn 54 đô la. 8 tỷ tại Việt Nam. Con số này lên tới 11. 8% trong tổng số các dự án có vốn đầu tư nước ngoài và 15. 57% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Khi nó có hiệu lực, EVFTA và IPA của nó sẽ thấy những con số này tăng lên hơn nữa. Các thỏa thuận này sẽ cung cấp một môi trường an toàn hơn, có thể dự đoán và thân thiện với doanh nghiệp hơn, và một môi trường phù hợp hơn với các quy tắc và thông lệ quốc tế.
    • EVFTA sẽ giúp Việt Nam trở thành trung tâm cho các công ty châu Âu trong ASEAN: EVFTA sẽ mở cửa thị trường, tăng cường thương mại và biến Việt Nam thành điểm đến đầu tư hấp dẫn hơn cho các công ty châu Âu ở Đông Nam Á. Việt Nam sẽ trở thành một trung tâm thương mại và đầu tư trong khu vực, có vị trí tốt để thu hút đầu tư mới từ các công ty muốn hưởng lợi từ những cơ hội mới.
    • Cải thiện thu nhập cho người lao động: Tiền lương thực tế cho lao động phổ thông được ước tính tăng khoảng 3%, với thu nhập hộ gia đình cũng được thiết lập để tăng (Theo Dự án hỗ trợ đầu tư và chính sách thương mại châu Âu).

    Trước những tín hiệu tích cực ở phía trên vậy EVFTA bạn đã sẵn sàng để tham gia vào lĩnh vực Xuất Nhập Khẩu- Logistics? Tôi cam đoan nghề Xuất Nhập Khẩu-Logistics còn là lĩnh vực Hot trong thời gian tới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Gia Nói Gì Về Cơ Hội Và Thách Thức Của Việt Nam Khi Tham Gia Evfta?
  • Hiệp Định Evfta Là Gì Và Lợi Ích Kinh Tế Có Được Thông Qua Hiệp Định?
  • Đánh Giá Tác Động Của Hiệp Định Evfta Tới Việt Nam
  • Hiệp Định Evfta Và Evipa: Bước Quan Trọng Trong Hội Nhập Quốc Tế
  • Thứ Trưởng Bùi Thanh Sơn: Evfta Và Evipa Mang Lại Nhiều Lợi Ích Kinh Tế Lớn
  • Đánh Giá Tác Động Của Hiệp Định Evfta Tới Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiệp Định Evfta Là Gì Và Lợi Ích Kinh Tế Có Được Thông Qua Hiệp Định?
  • Chuyên Gia Nói Gì Về Cơ Hội Và Thách Thức Của Việt Nam Khi Tham Gia Evfta?
  • Tìm Hiểu Về Hiệp Định Thương Mại Tự Do Evfta?
  • Việt Nam Được Lợi Gì Khi Tham Gia Evfta?
  • Đi Tìm Lợi Ích Từ Việc ‘forever Alone’ Nhân Ngày Của F.a
  • 17/04/2020

    Ở góc độ đa phương, với việc Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2022, Hiệp định EVFTA sẽ làm gia tăng vai trò, vị thế của Việt Nam trong quan hệ EU – ASEAN cũng như tạo hình mẫu cho một hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN với EU trong tương lai.

    Việt Nam là nước đang phát triển đầu tiên ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương có hiệp định thương mại tự do với EU. Điều này khẳng định vai trò và vị thế địa – chính trị quan trọng của Việt Nam trong khu vực, thực sự nâng cao vị thế của nước ta trong khu vực cũng như trên trường quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh tình hình chính trị – an ninh thế giới và khu vực đang thay đổi nhanh chóng, diễn biến phức tạp, khó lường, Hiệp định EVFTA vừa giúp ta có điều kiện nâng cao nội lực để ứng phó, vừa giúp củng cố vị thế để thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa đi đôi với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh.

    Mặt khác, Hiệp định EVFTA cũng có thể mang lại những thách thức nhất định đối với Việt Nam mà chúng ta cần nỗ lực vượt qua. Các cam kết về lao động – công đoàn và môi trường có thể làm gia tăng sức ép trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế của Việt Nam theo các tiêu chuẩn của ILO cũng như các tổ chức quốc tế khác. Do vẫn là nước có trình độ phát triển kinh tế chưa cao, lại đang chuyển đổi nên Việt Nam có thể sẽ gặp phải một số khó khăn. Ví dụ như sức ép tuân thủ các quy định quốc tế về lao động có thể làm gia tăng chi phí lao động, giảm khả năng cạnh tranh, thậm chí là gây căng thẳng một số mối quan hệ xã hội nếu ta không có các biện pháp chuẩn bị và xử lý khéo léo.

    Về kinh tế

    Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tác động của Hiệp định EVFTA đối với Việt Nam. Kết quả nghiên cứu như sau:

    Thương mại hai chiều và đầu tư từ EU vào Việt Nam sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực được dự báo sẽ tăng trưởng ở mức khá, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết công việc làm cho người lao động. Riêng thu ngân sách nhà nước có thể sẽ được cải thiện và tăng trong trung hạn và dài hạn.

    Bên cạnh các tác động chung tới các khía cạnh khác nhau của nền kinh tế (các chỉ số kinh tế vĩ mô), Hiệp định có các tác động khác nhau đối với các ngành do mức độ mở cửa, lợi thế cạnh tranh, năng lực của từng ngành là khác nhau. Ngoài ra, tác động gián tiếp thông qua sức ép cải cách thể chế cũng sẽ mang lại những ảnh hưởng tích cực tới nền kinh tế.

    Các kết quả nghiên cứu cụ thể như sau:

    – Tác động tới tăng trưởng

    Nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy nếu các cam kết về cắt giảm thuế quan và phi thuế quan được thực thi triệt để, kết hợp với một số yếu tố từ chiến tranh thương mại, khả năng Anh rời khỏi EU (Brexit), sự thay đổi chính sách của các nước…, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ được cải thiện trong cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Kết quả tính toán chỉ ra rằng Hiệp định EVFTA dự kiến sẽ góp phần làm GDP tăng thêm ở mức bình quân từ 2,18 đến 3,25% (cho giai đoạn 05 năm đầu thực hiện), 4,57-5,30% (cho giai đoạn 05 năm tiếp theo) và 7,07-7,72% (cho giai đoạn 05 năm sau đó).

    – Tác động đến thương mại

    Về xuất khẩu, Hiệp định EVFTA dự kiến giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng thêm khoảng 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 so với không có Hiệp định.

    Xét về tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới, dự kiến kim ngạch của ta sẽ tăng trung bình 5,21-8,17% (cho giai đoạn 05 năm đầu thực hiện), 11,12-15,27% (cho giai đoạn 05 năm tiếp theo) và 17,98-21,95% (cho giai đoạn 05 năm sau đó).

    Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của một số ngành sang EU như sau:

    + Nhóm hàng nông sản: gạo (tăng thêm 65% vào năm 2025), đường (8%), thịt lợn (4%), lâm sản (3%), thịt gia súc gia cầm (4%), đồ uống và thuốc lá (5%).

    + Nhóm ngành chế biến chế tạo tăng: dệt (67%), may mặc (81%), da giày (99%).

    + Nhóm ngành dịch vụ tăng: vận tải thủy (100%), vận tải hàng không (141%), tài chính và bảo hiểm (21%), các dịch vụ phục vụ kinh doanh khác (80%).

    Về nhập khẩu, nhập khẩu của Việt Nam từ EU tăng khoảng 33,06% vào năm 2025 và 36,7% vào năm 2030.

    Xét về tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ thế giới, dự kiến kim ngạch của ta tăng trung bình 4,36-7,27% (cho giai đoạn 05 năm đầu thực hiện), 10,63-15,4% (cho giai đoạn 05 năm tiếp theo) và 16,41-21,66% (cho giai đoạn 05 năm sau đó).

    Nhóm hàng được dự báo tăng nhập khẩu nhiều nhất từ EU là phương tiện và thiết bị vận tải, chiếm khoảng 12% tổng giá trị nhập khẩu tăng thêm, nhóm hàng máy móc thiết bị (10%), dệt may và điện thoại và linh kiện điện tử (6-7%), nông, lâm, thủy sản (5%).

    Xét về tổng thể, EVFTA sẽ góp phần giúp đa dạng hóa thị trường của ta để không bị phụ thuộc quá nhiều vào một thị trường nào, từ đó giúp bảo đảm an ninh kinh tế của Việt Nam.

    – Tác động tới đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Nghiên cứu chưa tính được con số chính xác về FDI tăng thêm do phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Tuy nhiên, kỳ vọng về đổi mới thể chế, cải thiện môi trường đầu tư do thực hiện Hiệp định sẽ tạo ra sức hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư.

    Các cam kết rộng và sâu về đầu tư của Hiệp định sẽ giúp Việt Nam tiếp tục đổi mới cơ cấu kinh tế, hoàn thiện thể chế và môi trường kinh doanh ở Việt Nam, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư EU kinh doanh tại Việt Nam.

    Các cam kết về thuận lợi hóa đầu tư cùng với mức độ tự do hóa các ngành dịch vụ của Việt Nam dành cho các nhà cung cấp dịch vụ của EU tăng lên, đặc biệt là dịch vụ kinh doanh, dịch vụ môi trường, dịch vụ bưu chính, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải biển. Điều này sẽ thúc đẩy dòng vốn FDI từ EU vào Việt Nam tăng trong thời gian tới.

    Về chất lượng đầu tư, với Hiệp định EVFTA, đầu tư từ các đối tác có nguồn gốc từ các các nước phát triển sẽ tăng do Việt Nam tăng cường mở cửa thị trường hàng hóa cũng như dịch vụ cho các doanh nghiệp EU. Điều này sẽ tạo ra những động lực mới cho dòng vốn FDI vào Việt Nam.

    Cơ cấu lĩnh vực đầu tư cũng có thể thay đổi khi Việt Nam thu hút được các đối tác đầu tư mới và các lĩnh vực thu hút đầu tư được mở rộng. Với EVFTA, cơ cấu dòng vốn FDI vào những lĩnh vực đầu tư còn dư địa lớn tại Việt Nam và EU cũng có thể mạnh như năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.

    – Tác động đến ngân sách Nhà nước

    Cắt giảm thuế quan theo Hiệp định EVFTA sẽ có tác động hai chiều đến nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN). Một là giảm thu NSNN do giảm thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu. Hai là, tăng thu NSNN do có thu thêm từ thu nội địa dưới tác động tích cực của thương mại, đầu tư và tăng trưởng kinh tế.

    Theo đó, dự kiến tổng mức giảm thu NSNN từ giảm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo lộ trình của Hiệp định EVFTA là 2.537,3 tỷ đồng. Mặt khác, thu NSNN tăng lên do thu nội địa từ tác động tăng trưởng của EVFTA là 7.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2022-2030. Mức tăng sẽ tăng dần theo mức độ tác động của Hiệp định tới tăng trưởng. Như vậy lợi ích của Hiệp định EVFTA về thu ngân sách có thể sẽ được phát huy tốt hơn trong trung và dài hạn.

    Về tác động ngành

    – Ngành thủy sản: Hiệp định EVFTA sẽ đem lại tiềm năng thị trường lớn cho xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều khó khăn cả ngắn và dài hạn (chủ động được nguồn nguyên liệu, con giống, chống đánh bắt cá bất hợp pháp, giải quyết vấn đề hóa chất kháng sinh trong sản phẩm thủy sản) và hàng rào phi thuế quan khá cao từ EU là những thách thức rất lớn. Dự kiến xuất khẩu mặt hàng này vào EU sẽ tăng với tốc độ trung bình 2%/năm trong giai đoạn 2022-2030, trong khi nhập khẩu từ EU có thể tăng cao hơn (trong khoảng 2,8%-5%).

    – Ngành dệt may: Dự báo kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường EU sẽ tăng nhanh với mức khoảng 67% đến năm 2025 so với kịch bản không có Hiệp định. Về sản lượng, nhìn chung Hiệp định EVFTA có tác động tích cực tới sản lượng với tốc độ tăng 6% (với ngành dệt) và 14% (với ngành may) vào năm 2030.

    – Ngành da giầy: Hiệp định khi có hiệu lực sẽ góp phần làm gia tăng đáng kể xuất khẩu giày da vào EU. Tốc độ tăng xuất khẩu vào EU dự báo sẽ gấp đôi vào 2025, và tổng xuất khẩu giày da cũng sẽ tăng khoảng 34%, sản lượng của toàn ngành tăng ở mức 31,8%.

    – Ngành điện tử, máy vi tính: Theo biểu thuế hiện hành của EU thì thuế nhập khẩu đối với mặt hàng máy tính điện tử (máy vi tính), sản phẩm điện tử (hàng tiêu dùng cuối cùng) hầu hết có thuế suất bằng 0%, hoặc thuế suất dưới 10% nên khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực sẽ tác động không đáng kể tới xuất khẩu từ Việt Nam. Tuy vậy, Hiệp định EVFTA cũng là động lực để thu hút FDI từ EU và các nước khác vào Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp phụ trợ trong nước chưa phát triển và chiến lược thu hút FDI của Việt Nam tập trung vào phát triển ngành công nghiệp công nghệ cao.

    – Ngành máy móc, phụ tùng: Việt Nam là nước nhập khẩu lớn đối với mặt hàng máy móc thiết bị, trong khi đó EU là nước có thế mạnh về mặt hàng máy móc thiết bị và là thị trường nhập khẩu lớn thứ tư của Việt Nam đối với mặt hàng này. Do vậy, việc Việt Nam dỡ bỏ thuế nhập khẩu đối với mặt hàng máy móc thiết bị từ EU sẽ thúc đẩy tăng nhập khẩu, v à có thể giảm ở các thị trường khác do tác động chuyển hướng thương mại. Do máy móc thiết bị của EU có công nghệ cao hơn một số thị trường truyền thống khác nên điều này có thể tạo cơ hội để Việt Nam cải thiện công nghệ sản xuất trong nước.

    – Ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm: Hiệp định EVFTA mở ra cơ hội cho việc thúc đẩy tự do hóa ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm của Việt Nam. Tác động của mở cửa dịch vụ với nhóm ngành này là tích cực trên các góc độ cầu về dịch vụ, cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp từ EU. Đến năm 2025, xuất khẩu dịch vụ tài chính, bảo hiểm của Việt Nam sẽ tăng khoảng 21%, nhập khẩu sẽ tăng 9,65%. Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh là rất lớn, đồng thời, áp lực ổn định vĩ mô cũng lớn hơn do mở cửa dịch vụ này làm cho Việt Nam dễ nhạy cảm hơn với các cú sốc từ bên ngoài.

    – Ngành logistics: Hiệp định EVFTA có thể ảnh hưởng đến triển vọng phát triển ngành logistics ở 2 góc độ: (1) cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam và EU trong lĩnh vực vận tải và phục vụ vận tải; (2) cam kết trong các lĩnh vực ảnh hưởng đến dung lượng thị trường dịch vụ logistics trên các góc độ quy mô, chất lượng dịch vụ, nhu cầu mở rộng công suất, thực hiện dịch vụ.

    Về pháp luật, thể chế

    Hiệp định EVFTA sẽ là cơ hội để ta tiếp tục cải cách thể chế – pháp luật theo hướng tiệm cận với chuẩn mực quốc tế, hoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng thông thoáng, minh bạch và dễ dự đoán hơn, từ đó thúc đẩy cả đầu tư trong nước lẫn đầu tư nước ngoài cũng như các hoạt động kinh doanh khác, bao gồm các giao dịch xuyên quốc gia, các loại hình dịch vụ cung cấp qua biên giới…

    Bên cạnh đó, những điều chỉnh, sửa đổi quy định pháp luật để phù hợp với Hiệp định EVFTA trong một số lĩnh vực như sở hữu trí tuệ cũng sẽ góp phần giúp các doanh nghiệp được hưởng sự bảo hộ cao hơn đối với thành quả đầu tư cho hoạt động sáng tạo. Đây là động lực để các doanh nghiệp tiếp tục đầu tư nhiều hơn vào hoạt động sáng tạo nhằm đổi mới công nghệ và tạo môi trường tốt cho việc thu hút chuyển giao công nghệ của nước ngoài để nâng cao chất lượng sản phẩm của Việt Nam.

    Về lao động, việc làm, an sinh, xã hội

    Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp định EVFTA dự kiến giúp tăng thêm việc làm khoảng 146.000/năm, tập trung vào những ngành thâm dụng lao động và có tốc độ xuất khẩu cao sang thị trường EU. Mức tăng thêm việc làm trong một số ngành dự kiến như sau: dệt may tăng 71.300 (năm 2025) và 72.600 (năm 2030) mức tăng tương ứng so với năm 2022 là 1,2%, 2,3% và 2,4%; ngành da giày có tốc độ tăng việc làm là 4,3% và 3,8% vào các năm 2025 và 2030. Một số ngành khác cũng có số lượng việc làm tăng cao là vận tải hàng không (1,5% vào 2025), vận tải thuỷ (0,9% vào 2025). Tuy nhiên một số ngành sẽ chịu tác động giảm việc làm như ngành lâm nghiệp, khai khoáng, sản xuất lúa gạo với mức giảm từ 0,26 đến 0,36%/năm.

    Hiệp định EVFTA không chỉ mang lại lợi ích về số lượng việc làm mà còn có khả năng làm tăng tiền lương của người lao động thông qua hoạt động của thị trường hiệu quả hơn và tác động lan toả về tiền lương từ các doanh nghiệp FDI. Theo tính toán, mức lương của các doanh nghiệp FDI sẽ cao hơn khoảng gần 1% so với doanh nghiệp trong nước.

    Bên cạnh đó, do các nền kinh tế của các nước thành viên EU đều phát triển ở trình độ cao hơn Việt Nam và mang tính bổ sung đối với nền kinh tế Việt Nam, nhập khẩu từ các nước EU phần lớn là không cạnh tranh trực tiếp, nên với một lộ trình giảm thuế hợp lý, kết hợp với hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, ta có thể xử lý được các vấn đề xã hội nảy sinh do tham gia EVFTA. Đặc biệt, do Hiệp định EVFTA bao gồm cả các cam kết về bảo vệ môi trường nên tiến trình mở cửa, tự do hóa thương mại và thu hút đầu tư sẽ được thực hiện theo cách thân thiện với môi trường hơn, giúp ta tăng trưởng bền vững hơn.

    Về các thách thức và giải pháp

    Hiệp định cũng có thể mang lại một số thách thức nhất định. Thứ nhất, Việt Nam cũng sẽ phải cam kết mở cửa thị trường với hàng hóa, dịch vụ cho EU, tạo ra sức ép cạnh tranh cho nền kinh tế, doanh nghiệp và hàng hóa, dịch vụ của ta. Tuy nhiên, đây là sức ép cạnh tranh lành mạnh, có chọn lọc và theo lộ trình phù hợp. Quan trọng hơn, do cơ cấu kinh tế của EU và Việt Nam mang tính bổ sung rất cao, không đối đầu trực tiếp nên dự kiến sức ép cạnh tranh sẽ không lớn. Ngoài ra, cam kết mở cửa của Việt Nam là có lộ trình, đặc biệt đối với những nhóm sản phẩm nhạy cảm, do đó EVFTA cũng là cơ hội, sức ép hợp lý để các doanh nghiệp Việt Nam điều chỉnh, thay đổi phương thức kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

    Để hỗ trợ các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có thể tận dụng được tối đa những cơ hội cũng như giảm thiểu những thách thức gặp phải trong quá trình thực thi Hiệp định, Chính phủ đã và đang chỉ đạo các Bộ, ngành tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn nhằm nâng cao nhận thức và sự hiểu biết của doanh nghiệp về các quy định, cam kết của Hiệp định. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng chỉ đạo các Bộ, ngành chủ động nghiên cứu, vận dụng các biện pháp được phép áp dụng theo các cam kết quốc tế của Việt Nam nói chung và Hiệp định EVFTA nói riêng để hỗ trợ cũng như bảo vệ lợi ích chính đáng của các ngành trong nước trước sự cạnh tranh của hàng nước ngoài.

    Thứ hai, Hiệp định EVFTA cũng bao gồm những quy định, quy tắc chặt chẽ về thủ tục đầu tư, hải quan, thuận lợi hóa thương mại, tiêu chuẩn kỹ thuật, các biện pháp kiểm dịch động, thực vật, sở hữu trí tuệ, mua sắm của chính phủ, phát triển bền vững, v.v. Thực hiện đầy đủ các quy định này đòi hỏi cải cách hệ thống pháp lý của ta. Tuy nhiên, về cơ bản, việc này cũng phù hợp với chủ trương cải cách thủ tục hành chính, tăng cường hiệu quả của mua sắm công, đổi mới mô hình tăng trưởng của ta. Mặc khác, công việc này cũng đã và đang được Chính phủ triển khai hết sức chủ động và khẩn trương. Ngay từ trước khi ký Hiệp định EVFTA, Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành phối hợp với Bộ Tư pháp khẩn trương rà soát các quy định hiện hành trong các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi phụ trách để từ đó đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung hoặc hình thức áp dụng phù hợp nhằm đảm bảo phù hợp với các yêu cầu của Hiệp định EVFTA.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiệp Định Evfta Và Evipa: Bước Quan Trọng Trong Hội Nhập Quốc Tế
  • Thứ Trưởng Bùi Thanh Sơn: Evfta Và Evipa Mang Lại Nhiều Lợi Ích Kinh Tế Lớn
  • Evfta Và Evipa Mang Đến Cho Việt Nam Cơ Hội Trở Thành Trung Tâm Sản Xuất Của Khu Vực
  • Evfta Và Evipa Mang Lại Lợi Ích To Lớn, Cân Bằng Cho Cả Việt Nam Và Eu
  • Tác Động Của Evfta Đến Nền Kinh Tế Việt Nam Và Một Số Khuyến Nghị
  • Tác Động Của Hiệp Định Evfta Đối Với Ngành Dệt May Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tác Động Của Evfta Đến Nền Kinh Tế Việt Nam Và Một Số Khuyến Nghị
  • Evfta Và Evipa Mang Lại Lợi Ích To Lớn, Cân Bằng Cho Cả Việt Nam Và Eu
  • Evfta Và Evipa Mang Đến Cho Việt Nam Cơ Hội Trở Thành Trung Tâm Sản Xuất Của Khu Vực
  • Thứ Trưởng Bùi Thanh Sơn: Evfta Và Evipa Mang Lại Nhiều Lợi Ích Kinh Tế Lớn
  • Hiệp Định Evfta Và Evipa: Bước Quan Trọng Trong Hội Nhập Quốc Tế
  • Với quy mô nhập khẩu hàng dệt may hàng năm hơn 250 tỷ USD, EU là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới, chiếm 34% tổng kim ngạch nhập khẩu dệt may thế giới, với tổng cầu may mặc tăng trưởng bình quân 3%/năm, trong khi thị phần xuất khẩu của dệt may Việt Nam mới chỉ chiếm khoảng 2,7%, dư địa để ngành dệt may Việt Nam gia tăng xuất khẩu vào thị trường EU sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực là rất triển vọng.

    Tuy nhiên chúng ta cần đánh giá lại cơ hội từ Hiệp định EVFTA đến từ đâu, vào thời điểm nào và mặt hàng nào thị trường EU có nhu cầu đểtập trung khai thác. Bài viết này sẽ cùng nhìn nhận tổng thể thị trường dệt may EU và nhận diện cơ hội có thể có từ Hiệp định EVFTA để doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh.

      TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG EU VÀ HIỆN TRẠNG XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM ĐI EU

    Liên minh Châu Âu gọi tắt là EU với 28 quốc gia thành viên, có quy mô dân số hơn 500 triệu người, GDP đạt 18.292 tỷ USD năm 2022, chiếm 22% GDP toàn cầu.

    Trong TOP 5 thị trường xuất khẩu dệt may lớn nhất của Việt Nam thì EU là thị trường có quy mô lớn nhất về nhu cầu tiêu thụ, hơn 250 tỷUSD và tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (gọi tắt là CAGR) của tổng cầu trong 5 năm 2022-2019 cao thứ 2, đạt 3% chỉ sau thị trường Hàn Quốc.

    Trong nhóm các nước đang phát triển xuất khẩu vào EU, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesh là 3 quốc gia có thị phần xuất khẩu nhiều nhất vào EU, chiếm gần 36% tổng nhập khẩu với trị giá 100 tỷ USD.

    Mặc dù Trung Quốc đang chiếm thị phần lớn nhất, gần 20% trên thị trường EU nhưng 5 năm qua tốc độ tăng trưởng kép – CAGR kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc vào EU giảm 0,1%, trong khi đó Bangladesh, Pakistan tăng 10%, Việt Nam tăng 9%, đặc biệt đáng chú ý Campuchia tăng 17% (từ 2,8 tỷUSD năm 2013 lên 6,3 tỷUSD năm 2022).

    Ngoài trừ Trung Quốc là “ông lớn” trong ngành, các quốc gia khác như Bangladesh, Campuchia hay Pakistan đều có lợi thế vượt trội về ưu đãi thuế nhập khẩu so với Việt Nam khi xuất khẩu vào EU. Bangladesh và Campuchia được hưởng chế độ miễn thuế nhập khẩu theo chương trình EBA (viết tắt của chương trình Everything but Arm – Miễn thuế tất cả các mặt hàng trừ vũ khí), Pakistan cũng được miễn thuế nhập khẩu theo chương trình GSP+. Việt Nam mặc dù cũng được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan GSP nhưng chỉ là “GSP tiêu chuẩn – Standard GSP” ở mức 9,6%.

    Mặc dù tốc độ tăng trưởng xuất khẩu kép 5 năm qua vào EU có tăng gần 9% tuy nhiên tỷ trọng xuất khẩu dệt may vào EU trong tổng KNXK dệt may đi thế giới của Việt Nam trong 5 năm qua giảm từ 17,1% năm 2022 xuống 16,3% năm 2022.

      TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO EVFTA ĐỐI VỚI NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM

    Hiệp định EVFTA đã được Nghị viện Châu Âu thông qua vào ngày 12/2/2020 có ý nghĩa khá quan trọng trong việc mở ra cơ hội thúc đẩy xuất khẩu cho ngành dệt may, đặc biệt trong bối cảnh ngành dệt may đã chịu tác động không nhỏ của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung suốt năm rưỡi qua và mới đây là dịch bệnh Covid 19. Dự kiến Việt Nam và EU sẽ hoàn tất quá trình phê chuẩn để Hiệp định chính thức có hiệu lực vào tháng 7 năm 2022.

    Với Hiệp định EVFTA, 100% các mặt hàng dệt may của Việt Nam sẽ được giảm thuế nhập khẩu về 0% sau tối đa 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Cụ thể, theo thống kê của Bộ Công Thương đối với mặt hàng dệt may, EU sẽ xóa bỏ thuế quan với 77,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sau 5 năm và 22,7% kim ngạch còn lại sẽ được xóa bỏ sau 7 năm.

    Như vậy lợi thế cạnh tranh về thuế của các quốc gia cạnh tranh như Bangladesh, Campuchia, Pakistan sẽ không còn trong thời gian tới. Campuchia đang đứng trước thách thức sẽ chính thức bị loại khỏi chương trình ưu đãi thuế quan GSP ngay từ tháng 8/2020 và thuế nhập khẩu hàng dệt may của Campuchia vào EU sẽtăng lại 12% do vi phạm một số nguyên tắc về theo quy định của EU.

    Nguồn: Tổng hợp từ Trademap

    Cùng với lợi ích về xóa bỏ thuế quan, EVFTA với quy tắc xuất xứ yêu cầu “từ vải” kết hợp với yêu cầu “từ sợi trở đi” của Hiệp định CPTPP sẽ tiếp tục thúc đẩy việc hình thành chuỗi sản xuất khép kín từ thượng nguồn đến cắt may thành phẩm, nâng cao giá trị gia tăng cho ngành và giảm dần phụ thuộc việc nhập khẩu nguyên phụ liệu bên ngoài.

    2.1. Lợi ích cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu

    Thuế suất cơ sở trong EVFTA cho hàng may mặc là 12%, từ mức thuế này các mặt hàng sẽ về 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc về 0% theo lộ trình B3, B5, B7 – tức sau 4, 6, 8 năm từ khi Hiệp định có hiệu lực về 0%.

    Về cam kết giảm thuế trong EVFTA các doanh nghiệp cũng cần lưu ý một số mặt hàng trong năm đầu tiên Hiệp định có hiệu thuế suất thuế nhập khẩu theo EVFTA sẽ bị đẩy cao hơn so với thuế suất GSP 9,6% đang được hưởng. Tuy nhiên Hiệp định EVFTA mang lại lợi ích mang tính dài hạn cho ngành dệt may Việt Nam, không chỉ riêng lợi ích về xóa bỏ thuế quan. Lợi ích EVFTA đem lại là vượt trội so với cơ chế GSP ta đang được hưởng, mặc dù trong năm đầu tiên Hiệp định có hiệu lực một số mặt hàng chưa hưởng lợi về giảm thuế vì khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, Việt Nam sẽ không được hưởng chế độ GSP.

    Hạn chế lớn nhất của GSP là “ngưỡng trưởng thành”, điều này hạn chế sự mở rộng thị phần xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào EU vì nếu KNXK dệt may Việt Nam vượt quá 14,5% tổng nhập khẩu của sản phẩm này từ tất cả các nước được hưởng GSP, trong thời gian 3 năm liền, dệt may VN sẽ bị loại khỏi cơ chế GSP.

    Theo thống kê của chúng tôi, trong Top 10 CAT mặt hàng xuất khẩu đi EU, chiếm 72% tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) sang EU, 76% KNXK (thuộc nhóm B5 và B7) năm đầu hiệu lực thuế sẽ bị đẩy cao hơn GSP, cụ thể:

    Ngoài ra, nguyên tắc cộng gộp trong EVFTA cho phép doanh nghiệp Việt Nam sử dụng vải của:

    (i) Hàn Quốc hoặc một nước thứ 3 mà hai bên cùng ký FTA (Nhật Bản hoặc một nước nào đó trong tương lai cùng ký FTA), hoặc

    (ii) ASEAN với điều kiện thuế ưu đãi áp cho mặt hàng đó cao hơn cho mặt hàng tương tự của quốc gia ASEAN tham gia cộng gộp

    EVFTA cho phép chia nhỏ lô hàng trong trường hợp quá trình vận chuyển hàng hóa có quá cảnh qua nước thứ ba không phải thành viên với điều kiện hàng hóa vẫn nằm dưới sự giám sát của hải quan, đây là Hiệp định FTA thứ hai cùng với CPTPP cho phép doanh nghiệp thực hiện việc này, quy định này rất thuận lợi cho các doanh nghiệp khi xuất khẩu, họ có thể đưa các trung tâm phân phối lớn chia nhỏ giao hàng theo các thời điểm mùa vụ phù hợp.

    Về thủ tục chứng nhận xuất xứ, cơ chế tự chứng nhận xuất xứ cho nhà xuất khẩu đủ điều kiện được áp dụng đối với doanh nghiệp EU xuất khẩu sang Việt Nam, đối với doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang EU có lẽ trước mắt vẫn xin cấp C/O như truyền thống, theo quy định Việt Nam sẽ thông báo cho EU triển khai tự chứng nhận xuất xứ khi sẵn sàng.

    Quy tắc xuất xứ “từ vải trở đi” của Hiệp định EVFTA vẫn là thách thức trong ngắn hạn đối với ngành dệt may Việt Nam. Thực trạng ngành dệt may Việt Nam chưa đủ vải chất lượng cao phục vụ xuất khẩu vào EU, việc mua vải trong nước phải trả thuế VAT 10% đắt hơn so với vải nhập khẩu khiến lợi ích cắt giảm thuế quan chưa đủ bù đắp để giảm giá bán cạnh tranh với các quốc gia khác.

    Cùng với các phân tích trên, trong ngắn hạn Hiệp định EVFTA khó tạo ra một cú hích mạnh mẽ cho ngành dệt may Việt Nam như thời kỳ gia nhập WTO hay ký BTA với Mỹ, EVFTA kỳ vọng sẽ mang lại lợi ích dài hạn cho ngành dệt may Việt Nam trong việc gia tăng thị phần xuất khẩu vào thị trường EU, giúp giảm phụ thuộc vào thị trường Mỹ hạn chế bớt các rủi ro khi thị trường Mỹ biến động do xung đột thương mại Mỹ-Trung chưa kết thúc.

    Bài: ĐỨC ANH – HOÀNG HÂN

    Vấn đề Brexit cũng cần được lưu ývì Anh đã chính thức rời EU từ ngày 31/1/2020 với thời gian chuyển đổi hạn chót là 31/12/2020 Anh vẫn được coi là thành viên EVFTA. Chính vì vậy từ nay đến cuối năm giả sử EVFTA có hiệu lực ngay năm nay doanh nghiệp vẫn có thể sử dụng vải nhập khẩu của Anh để sản xuất vẫn đáp ứng quy tắc xuất xứ EVFTA nhưng câu chuyện sau ngày 31/12/2020 hiện chưa rõ ràng, phụ thuộc vào đàm phán giữa Anh và EU.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiệp Định Thương Mại Tự Do Giữa Việt Nam Và Liên Minh Châu Âu
  • Evfta Với Lợi Ích To Và Thách Thức Lớn Cho Vn
  • Lợi Ích Của Hiệp Định Evfta Đối Với Xuất Khẩu Sản Phẩm Gỗ
  • Vượt ‘cửa Ải’ Xuất Xứ Để Tối Đa Lợi Ích Từ Evfta
  • Lợi Ích Từ Evfta Không Chỉ Của Doanh Nghiệp
  • Hiệp Định Evfta Và Evipa: Bước Quan Trọng Trong Hội Nhập Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Đánh Giá Tác Động Của Hiệp Định Evfta Tới Việt Nam
  • Hiệp Định Evfta Là Gì Và Lợi Ích Kinh Tế Có Được Thông Qua Hiệp Định?
  • Chuyên Gia Nói Gì Về Cơ Hội Và Thách Thức Của Việt Nam Khi Tham Gia Evfta?
  • Tìm Hiểu Về Hiệp Định Thương Mại Tự Do Evfta?
  • Việt Nam Được Lợi Gì Khi Tham Gia Evfta?
  • Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn.

    Ngày 8/6 vừa qua, Quốc hội nước ta đã phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU). Xin Thứ trưởng Thường trực cho biết ý nghĩa của quyết định này đối với quan hệ Việt Nam-EU trong bối cảnh hai bên kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 2022?

    Quyết định phê chuẩn Hiệp định EVFTA và EVIPA của Quốc hội nước ta có ý nghĩa hết sức quan trọng, chính thức đưa Hiệp định EVFTA có hiệu lực sau khi ta và EU tiến hành các thủ tục trao đổi cần thiết theo quy định. Hiệp định EVIPA cần được Quốc hội tất cả các quốc gia thành viên EU phê chuẩn trước khi có hiệu lực.

    Việc Quốc hội nước ta phê chuẩn EVFTA và EVIPA, cùng với quyết định của Nghị viện châu Âu thông qua hai Hiệp định ngay từ tháng 2/2020, đã khẳng định mạnh mẽ mong muốn, lợi ích và quyết tâm của hai bên tiếp tục làm sâu sắc hơn nữa và tạo những đột phá mới nâng tầm quan hệ Việt Nam – EU sau 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.

    Trải qua ba thập kỷ với nhiều thay đổi trong tình hình thế giới và tại hai châu lục Á – Âu, quan hệ Việt Nam – EU đã không ngừng phát triển, ngày càng sâu sắc và thực chất hơn, với dấu mốc lịch sử là việc hai bên thiết lập quan hệ Đối tác và hợp tác toàn diện vào năm 2012 và phê chuẩn Hiệp định khung về Đối tác và hợp tác toàn diện Việt Nam – EU (Hiệp định PCA) vào năm 2022.

    Hợp tác chính trị giữa Việt Nam và EU ngày càng được thắt chặt với những chuyến thăm Cấp cao, trao đổi đoàn các cấp và các cơ chế hợp tác song phương thường xuyên và hiệu quả. Hai bên thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác trong lĩnh vực an ninh – quốc phòng, đặc biệt là ký Hiệp định khung về việc Việt Nam tham gia các hoạt động quản lý khủng hoảng của EU vào cuối năm 2022, góp phần tăng cường sự tin cậy lẫn nhau trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực liên tục biến động khó lường.

    Hợp tác kinh tế là điểm sáng với việc EU trở thành đối tác thương mại lớn thứ ba, nhà cung cấp viện trợ không hoàn lại lớn nhất và một trong những nhà đầu tư hàng đầu của Việt Nam và Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ hai của EU trong ASEAN. Kim ngạch thương mại hai chiều đã đạt mức 56,45 tỷ USD trong năm 2022, trong đó xuất khẩu của Việt Nam vào EU tăng trưởng với tốc độ trung bình 16% trong hai thập kỷ qua. Hợp tác trên các lĩnh vực giáo dục, pháp luật và tư pháp, năng lượng, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ nguồn nước… cũng không ngừng được thúc đẩy, đạt nhiều kết quả, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân.

    Bên cạnh đó, Việt Nam và EU cũng chia sẻ nhiều lợi ích song trùng, phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn, cơ chế đa phương, cùng đóng góp tích cực thúc đẩy hợp tác đa phương và trật tự quốc tế dựa trên luật lệ vì hòa bình, ổn định và phát triển, đẩy mạnh tự do hóa thương mại và đầu tư, ứng phó với các thách thức toàn cầu…

    Có thể khẳng định, với những nền tảng vững chắc sau 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, việc sớm triển khai Hiệp định EVFTA và tới đây là Hiệp định EVIPA sẽ tạo dựng những khuôn khổ ổn định, lâu dài nhằm tối đa hóa tiềm năng hợp tác, đưa quan hệ kinh tế – thương mại – đầu tư tương xứng với tầm vóc của quan hệ đối tác hợp tác toàn diện Việt Nam-EU. Việc triển khai Hiệp định EVFTA cũng khẳng định sự phát triển mang tính chiến lược của quan hệ song phương, thể hiện sự coi trọng vị trí của nhau trong chiến lược đối ngoại, phát triển và hội nhập của mỗi bên, góp phần làm sâu sắc và tạo đan xen lợi ích lâu dài, đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển của hai bên cũng như của hai khu vực Á – Âu và trên thế giới.

    Xin Thứ trưởng Thường trực cho biết những kỳ vọng và thách thức đối với Việt Nam khi triển khai Hiệp định này?

    Là Hiệp định toàn diện, có mức độ và phạm vi cam kết theo tiêu chuẩn cao, đồng thời do thị trường Việt Nam và EU có tính bổ sung cao, EVFTA được kỳ vọng đem lại lợi ích to lớn và cân bằng cho cả Việt Nam và EU.

    Trước hết, Hiệp định EVFTA sẽ góp phần giúp Việt Nam tiếp tục đẩy mạnhmđa dạng hóa quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư, đa dạng hóa thị trường. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang chịu tác động sâu sắc từ đại dịch Covid-19, đẩy nhanh những xu thế mới trong quan hệ kinh tế, thương mại quốc tế, điều chỉnh chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu.

    Thứ hai, là Hiệp định có mức cam kết cao nhất một đối tác lớn dành choViệt Nam, EVFTA sẽ đem lại nhiều lợi ích, nhất là thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường EU, thu hút đầu tư, tạo động lực tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm… Những cam kết mở cửa thị trường sâu rộng sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp tăng kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt trong những lĩnh vực tiềm năng như dệt may, da giày, nông thủy sản… Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU ước tính tăng thêm khoảng 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 so với không có Hiệp định.

    Thứ ba, việc thực thi EVFTA với các tiêu chuẩn cao là động lực tiếp tục thúc đẩy cải cách kinh tế trong nước, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thay đổi cơ cấu xuất khẩu, nhất là gia tăng hàm lượng công nghệ cho hàng hóa xuất khẩu, về lâu dài hướng tới một nền kinh tế cạnh tranh, đổi mới và sáng tạo hơn.

    Thứ tư, triển khai EVFTA cũng tạo những lợi thế cạnh tranh cao hơn cho

    Việt Nam trong tận dụng các cơ hội từ xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng và sản xuất trong giai đoạn hiện nay, thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, gắn với chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi số đang diễn ra hết sức nhanh chóng.

    Thứ năm, Hiệp định EVFTA với những cam kết về lao động và phát triển bền vững sẽ góp phần giúp Việt Nam thực hiện hiệu quả hơn các mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh và sạch, ngăn ngừa khai thác thủy sản bất hợp pháp, bảo vệ lợi ích chính đáng và chăm lo phúc lợi của người lao động…

    Tuy vậy, nhìn tổng thể, việc phê chuẩn và thực thi Hiệp định EVFTA là bước đi quan trọng và đúng thời điểm của chúng ta trong triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Việc chúng ta triển khai đồng bộ các biện pháp nhằm tận dụng các cơ hội đồng thời xử lý tốt những thách thức sẽ đem lại nhiều lợi ích, gia tăng nội lực và tính tự chủ của nền kinh tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ với EU và các đối tác.

    Việc ký kết và phê chuẩn EVFTA và EVIPA là bước đi quan trọng nhằm triển khai “Chiến lược tổng thể về hội nhập quốc tế đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030”. Xin Thứ trưởng Thường trực cho biết trong bối cảnh tình hình chính trị, kinh tế thế giới đang diễn biến phức tạp, khó lường, chúng ta cần làm gì để tiếp tục triển khai hiệu quả Chiến lược này, nhất là về hội nhập kinh tế quốc tế?

    Năm 2022 là một dấu mốc quan trọng, đánh dấu 5 năm triển khai “Chiến lược tổng thể về hội nhập quốc tế đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2022. Nhìn lại 5 năm qua, về hội nhập kinh tế quốc tế, với việc phê chuẩn và trở thành một trong những nước đầu tiên triển khai Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), ký kết và phê chuẩn EVFTA và EVIPA, thực thi đầy đủ các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và nhiều cam kết trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết, Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới các liên kết kinh tế quốc tế, đi đầu trong ASEAN về độ mở và mức độ gắn kết về kinh tế với thế giới và khu vực. Cũng trong 5 năm qua, Việt Nam đã tích cực phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương toàn cầu, liên khu vực và khu vực, tích cực tham gia quá trình định hình cấu trúc mới. Nổi bật là đóng góp thúc đẩy hình thành Hiệp định CPTPP tại Tuần lễ Cấp cao APEC 2022 tại Đà Nẵng, đảm nhiệm thành công vai trò chủ nhà năm APEC 2022, Hội nghị WEF ASEAN năm 2022, đóng góp xây dựng tầm nhìn hợp tác APEC sau năm 2022 với vai trò Phó Chủ tịch Nhóm Tầm nhìn APEC, đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN 2022, Chủ tịch AIPA 2022 và Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2022-2021…

    Trong bối cảnh tình hình quốc tế đang chứng kiến những biến động lớn do tác động của Covid-19, cục diện kinh tế – thương mại khu vực và toàn cầu chuyển dịch nhanh, kinh tế thế giới rơi vào suy thoái, cạnh tranh nước lớn gay gắt, việc triển khai hiệu quả công tác hội nhập, liên kết kinh tế tiếp tục đòi hỏi quyết tâm và nỗ lực đồng bộ của các cấp, các ngành và toàn xã hội, trong đó lưu ý một số vấn đề sau:

    Thứ nhất, xây dựng lộ trình để chủ động triển khai và khai thác hiệu quả, tận dụng các lợi ích và cơ hội các thỏa thuận FTA, nhất là các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, sắp tới là Hiệp định đối tác toàn diện khu vực (RCEP), các FTA của ASEAN và ASEAN với các đối tác… Cần nghiên cứu sâu và vận dụng các luật lệ, chuẩn mực chung và các chế tài để bảo vệ lợi ích đất nước trong bối cảnh tranh chấp kinh tế – thương mại, chủ nghĩa bảo hộ gia tăng. Trong tình hình hiện nay, việc triển khai hiệu quả các FTA cần đi đôi với tăng cường nội lực, xây dựng nền kinh tế tự chủ, nâng cao năng suất, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

    Thứ ba, các bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp cần nhạy bén tranh thủ xu thế chuyển dịch dòng vốn, chuyển dịch chuỗi sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, làn sóng thương mại – đầu tư toàn cầu để thu hút đầu tư chất lượng cao. Cần sớm trao đổi với các thành viên EU để hoàn tất quá trình phê chuẩn và sớm đưa Hiệp định EVIPA vào thực hiện, tạo động lực thu hút đầu tư chất lượng cao từ các nước EU vào những ngành đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế xanh và bền vững, cải thiện môi trường đầu tư, hướng tới các chuẩn mực quốc tế về bảo hộ đầu tư nước ngoài.

    Thứ tư, trong bối cảnh quá trình xây dựng cấu trúc mới ở khu vực và trên thế giới đang được đẩy nhanh hơn dự báo, chủ nghĩa đa phương đứng trước nhiều thách thức, chúng ta cần tăng cường tham gia và đóng góp vào việc củng cố và phát triển hợp tác đa phương, hệ thống thương mại đa phương, xây dựng và thực thi luật pháp quốc tế và chuẩn mực chung, chủ động đóng góp thực chất vào định hình các cấu trúc mới ở châu Á-Thái Bình Dương. Việc trực tiếp tham gia, đóng góp vào hợp tác chung là cách hữu hiệu để bảo vệ lợi ích và nâng cao vị thế của đất nước.

    Để thực hiện các công việc trọng tâm như trên đòi hỏi chúng ta phải tạo chuyển biến thực chất trong năng lực triển khai hội nhập quốc tế. Trong đó, cần chú trọng hoàn thiện chính sách, khung khổ pháp lý đồng bộ và toàn diện, hài hòa hóa tiêu chí, quy chuẩn kỹ thuật, chuẩn mực của ta với khu vực và quốc tế. Cần nâng cao năng lực hội nhập và liên kết kinh tế, đặc biệt các địa phương, doanh nghiệp cần quyết liệt vào cuộc, chủ động nắm bắt thông tin về các cam kết của Việt Nam. Cần đẩy mạnh phổ biến thông tin về nội dung các cam kết đến các địa phương và doanh nghiệp, tăng cường đào tạo, nâng cao kỹ năng của đội ngũ cán bộ về hội nhập quốc tế trong thời đại số.

    Với quyết tâm, nỗ lực của toàn hệ thống chính trị, chúng ta tin tưởng tiến trình hội nhập, liên kết kinh tế sẽ tiếp tục được triển khai chủ động, đổi mới, hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển, hội nhập quốc tế của đất nước mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII sẽ đề ra.

    Thông tin Việt Nam phê chuẩn EVFTA xuất hiện dày đặc trên truyền thông châu Âu

    TGVN. Hàng loạt báo lớn của Đức và Áo ngày 8/6 đã đưa tin về việc Quốc hội Việt Nam cùng ngày phê chuẩn Hiệp …

    Vang xa, vươn xa, Việt Nam

    TGVN. Chờ đợi gần 10 năm, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam …

    EuroCham: Sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam cùng ‘mở khóa’ toàn bộ tiềm năng từ EVFTA

    TGVN. Sáng 8/6, Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định EVFTA và EVIPA đã chính thức được Quốc hội thông qua với tỷ lệ tán thành rất …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thứ Trưởng Bùi Thanh Sơn: Evfta Và Evipa Mang Lại Nhiều Lợi Ích Kinh Tế Lớn
  • Evfta Và Evipa Mang Đến Cho Việt Nam Cơ Hội Trở Thành Trung Tâm Sản Xuất Của Khu Vực
  • Evfta Và Evipa Mang Lại Lợi Ích To Lớn, Cân Bằng Cho Cả Việt Nam Và Eu
  • Tác Động Của Evfta Đến Nền Kinh Tế Việt Nam Và Một Số Khuyến Nghị
  • Tác Động Của Hiệp Định Evfta Đối Với Ngành Dệt May Việt Nam
  • Hiệp Định Thương Mại Tự Do Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Evipa: Lợi Thế Người Đi Trước Và Động Lực Mới Cho Việt Nam
  • ‘evfta Và Evipa Cung Cấp Các Lợi Ích Bổ Sung Cho Nền Kinh Tế Việt Nam’
  • Ê Sắc Ế ) Lợi Ích Của Việc Không Có Người Yêu
  • Lợi Ích Của Việc Suy Nghĩ Tích Cực
  • Healthy Food Là “Ăn Sạch” Hay Ăn Theo Chế Độ Giảm Cân?
  • NGUYỄN TUẤN VIỆT1, NGÔ VĂN VŨ2

     

    Tóm tắt: Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU) đã chính thức ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Liên minh Châu Âu (EVFTA) vào ngày 30-6-2019. Việc ký kết EVFTA sẽ mở ra cho Việt Nam con đường mới để hội nhập và phát triển. Tuy nhiên, EVFTA là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, yêu cầu cao nên sẽ đặt ra vô vàn thách thức đối với Việt Nam, từ thể chế chính sách, cho đến phát triển bền vững, môi trường, lao động, sở hữu trí tuệ, cộng đồng doanh nghiệp (DN), đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).

    Từ khóa: Hiệp định thương mại tự do, Việt Nam-Liên minh Châu Âu, doanh nghiệp nhỏ và vừa

    Phân loại ngành: Kinh tế học

    Abstract: Vietnam and the European Union officially inked the Vietnam-EU Free Trade Agreement (EVFTA) on 30 June 2022. The signing will usher in a new pathway for the country’s integration and development. However, the EVFTA is a new-generation free trade agreement, which is highly demanding and will, therefore, pose a lot of challenges for Vietnam, ranging from institutional ones and those on policies to those regarding sustainable development, environmental protection, labour, intellectual property, and the business community, especially small and medium enterprises.

    Keywords: Free trade agreement, Vietnam – the European Union, small and medium enterprises.

    Subject classification: Economics

     

    1. Mở đầu

    Hiệp định EVFTA là hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, được coi là một trong những hiệp định thương mại toàn diện và tham vọng nhất mà EU từng ký kết với một quốc gia đang phát triển. Sau Singapore, đây là hiệp định thứ hai EU ký kết trong khu vực ASEAN và được kỳ vọng sẽ tăng cường mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và EU.

    Hiệp định EVFTA tạo điều kiện cho Việt Nam nói chung, cộng đồng DN, doanh nhân nói riêng vận hội mới để hội nhập và phát triển. Doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các DNNVV sẽ có cơ hội tiếp cận một thị trường tiềm năng với dân số hơn 500 triệu người và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) lên tới 15.000 tỷ USD (chiếm 22% GDP toàn cầu). Ở chiều ngược lại, các doanh nghiệp xuất khẩu từ EU cũng có nhiều cơ hội hơn để dễ dàng thâm nhập thị trường Việt Nam, đồng thời nhanh chóng tiếp cận thị trường Châu Á. Bài viết nêu những nội dung cơ bản của EVFTA; phân tích, đánh giá những tác động của EVFTA đến các DNNVV Việt Nam trong bối cảnh thực thi Hiệp định này.  

    2. Những nội dung cơ bản của EVFTA

    Hiệp định gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ. Các lĩnh vực cam kết chính trong EVFTA     Trần Tuấn Anh (2019), “EVFTA nâng tầm hội nhập của Việt Nam”, Báo Nhân Dân, số ra ngày 1/7.

        Bạch Huệ (2019), “Doanh nghiệp đón cơ hội từ EVFTA”, Thời báo Kinh tế Việt Nam, số ra ngày 1/7.

        Vũ Khuê (2019), “EVFTA giúp ngành da giày tăng trưởng trở lại”, Thời báo Kinh tế Việt Nam, số ra ngày 24/7.

        Trung tâm WTO và hội nhập (2019), Tóm lược Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu (EVFTA), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hà Nội.

        “TPP: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam”, http://www.dsi.mpi.gov.vn/32/473.htlm, truy cập ngày 15-7-2019.

    [10]   “TPP: Cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ”, http://vietnamnet.vn, truy cập ngày 22-7-2019.

     

    Nguồn: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 9 – 2022

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đón Đầu Cơ Hội Từ Evfta Và Những Kỳ Vọng Trong Lo Lắng
  • Công Dụng Của Quả (Trái) Sim Rừng Với Sức Khỏe Mà Bạn Chưa Biết Tới
  • Sim, Tác Dụng Chữa Bệnh Của Sim
  • Esim Là Gì? Lợi Ích Của Esim Cho Người Dùng
  • Lợi Ích Khi Làm Lại Sim Viettel Chưa Đăng Ký
  • Hiệp Định Đầu Tư Toàn Diện Asean (Acia)

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Chồng Chéo Trong Các Cam Kết Bảo Hộ Đầu Tư Nước Ngoài Của Việt Nam
  • Việt Nam Giới Thiệu Các Cơ Hội Đầu Tư Tại Diễn Đàn Thương Mại Và Đầu Tư Asean 2022 Ở Bỉ
  • Ý Nghĩa Của Việc Ăn Chay Trong Phật Giáo
  • Lợi Ích Của Việc Ăn Chay Ngày Tết
  • 5 Lợi Ích Khi Ăn Chay Ai Cũng Nên Biết!
  • Các hoạt động về đầu tư trong nội khối ASEAN được điều chỉnh bởi hai Hiệp định hiện hành là Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư năm 1987 và Hiệp định khung về khu vực đầu tư năm 1998 của các nước ASEAN, tuy nhiên, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan của sự phát triển trong và ngoài khối, một số quy định của hai Hiệp định này không còn phù hợp với tình hình mới, đặc biệt là nhu cầu về hội nhập của khối. Để tăng cường hợp tác trong khu vực, tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi, thu hút đầu tư nước ngoài vào ASEAN và cũng để phù hợp hơn với tầm nhìn của một cộng đồng kinh tế ASEAN thống nhất, năng động đòi hỏi phải có một văn bản hoàn chỉnh điều chỉnh toàn diện lĩnh vực đầu tư trong ASEAN. Chính vì vậy, các nước thành viên ASEAN đã cùng thống nhất quan điểm soạn thảo văn bản mới thay thế hai văn bản hiện hành. Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 39 diễn ra tại Manila, Philippines hồi tháng 8/2007 đã quyết định giao Ủy ban Điều phối đầu tư ASEAN (CCI) chủ trì soạn thảo Hiệp định điều chỉnh toàn bộ hoạt động đầu tư thuộc khối ASEAN. Với mục tiêu chung đó, Bộ trưởng kinh tế các nước ASEAN cũng đã thống nhất phê duyệt các nguyên tắc làm cơ sở để soạn thảo Hiệp định, bao gồm:

    – Kế thừa và cải thiện các quy định của hai Hiệp định AIA và ASEAN – IGA;

    – Áp dụng nguyên tắc không hồi tố các cam kết trừ khi có bồi thường;

    – Cân bằng trong các nội dung chính: tự do hóa, xúc tiến, thuận lợi hóa và bảo hộ đầu tư;

    – Không ngừng tự do hóa đầu tư nhằm tạo một môi trường đầu tư ASEAN tự do và mở cửa trong khu vực, phù hợp với mục tiêu thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC);

    – Đem lại lợi ích cho cả nhà đầu tư ASEAN và nhà đầu tư nước ngoài đang đầu tư tại ASEAN;

    – Xem xét việc dành tối xử đặc biệt và khác biệt cho các nước thành viên mới (gồm Lào, Campuchia; Myanmar và Việt Nam);

    – Dành sự linh hoạt cho các nước thành viên trong các vấn đề nhạy cảm;

    – Có sự đối xử nhân nhượng lẫn nhau giữa các nước thành viên;

    – Tiếp tục duy trì quy tắc đối xử tối huệ quốc và dành sự đối xử đặc biệt cho các nước trong khối;

    – Cho phép Hiệp định được mở rộng để có thể tự do hóa các lĩnh vực khác trong tương lai.

    Việt Nam cùng chung quan điểm với các nước thành viên ASEAN khác trong việc tạo ra một thể chế đầu tư tự do, mở cửa hơn nữa nhằm thúc đẩy đầu tư nội khối và thu hút đầu tư nước ngoài vào ASEAN. Quan điểm này xuất phát từ thực tế là không những đầu tư trực tiếp từ ASEAN vào Việt Nam chiếm tỷ trọng rất lớn mà ASEAN đồng thời là thị trường đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, do trình độ phát triển còn thấp so với một số nước khác trong khu vực và để phù hợp với các Hiệp định đa phương, song phương khác mà Việt Nam là thành viên, trong quá trình đàm phán soạn thảo Hiệp định, Việt Nam luôn lấy cam kết của mình với WTO làm trần và đưa ra mức cam kết bằng với mức thấp nhất của các thành viên khác đã đưa ra. Ngoài ra, do một số đặc thù riêng như việc Việt Nam đang trong tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, môi trường đầu tư… để được công nhận là nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã thận trọng bảo lưu một số nội dung phù hợp với tình hình phát triển, cơ chế chính sách, pháp luật của mình trong phạm vi cơ chế ưu đãi của Hiệp định.

    Có thể nói rằng, sự ra đời của Hiệp định đã khẳng định quyết tâm của các Nước thành viên ASEAN trong việc hướng tới mục tiêu cao nhất về hội nhập kinh tế của Cộng đồng kinh tế ASEAN bằng việc tạo ra thể chế đầu tư tự do, mở cửa hơn.

    ACIA được soạn thảo trên cơ sở các nguyên tắc chỉ đạo nêu trên, trong đó có kế thừa quy định của hai Hiệp định AIA và IGA, đồng thời đưa vào một số quy định mới phù hợp hơn với cơ chế tự do hóa đầu tư, trong đó đặc biệt quan tâm đến lợi ích của các nhà đầu tư và khoản đầu tư của họ. Về cơ bản, phạm vi điều chỉnh của ACIA vẫn giữ nguyên quy định của hai Hiệp định AIA và IGA, tuy nhiên đối tượng hưởng lợi của Hiệp định được mở rộng đối với nhà đầu tư của nước thứ ba có hoạt động kinh doanh chủ yếu trong lãnh thổ của nước thành viên ASEAN.

    ACIA không điều chỉnh tất cả các biện pháp thuế (ngoại trừ quy định tại Điều 13 (chuyển tiền) và Điều 14 (tịch biên tài sản và bồi thường) của Hiệp định); trợ cấp của Chính phủ; mua sắm Chính phủ; cung cấp dịch vụ của cơ quan nhà nước, kể cả cơ quan, tổ chức được nhà nước uỷ quyền (gồm tất cả các loại hình dịch vụ vì mục đích lợi nhuận hay để cạnh tranh) và biện pháp của nước thành viên gây ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ theo Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS).

    ACIA được đánh giá là bước tiến quan trọng của các nước thành viên ASEAN trong việc thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác phát triển kinh tế của mỗi nước. Trong suốt quá trình đàm phán, soạn thảo và ký kết Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN, tất cả các nước đều mong muốn tạo ra môi trường đầu tư tự do minh bạch, cạnh tranh, công bằng và do vậy đã đưa ra một số nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho việc soạn thảo văn bản, đây đồng thời cũng là những nguyên tắc cơ bản của Hiệp định. Hiệp định có 7 nguyên tắc hướng dẫn chung cho các thành viên, theo đó khi thực hiện nghĩa vụ mà mình đã cam kết các nước thành viên phải tuân thủ các nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính khả thi của Hiệp định.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cơ Hội Và Thách Thức Khi Tham Gia Cộng Đồng Asean
  • 25 Năm Việt Nam Tham Gia Asean: Chung Tay Vì Một Cộng Đồng Asean Gắn Kết Và Thích Ứng
  • Nêu Lợi Ích Của Việc Việt Nam Gia Nhập Asean
  • Việt Nam Cân Bằng Lợi Ích Của Mình Với Cộng Đồng Asean
  • Lãnh Đạo Asean+3 Nhất Trí Đặt Lợi Ích Người Dân Lên Đầu Trong Dịch Covid
  • Lợi Ích Từ Evfta Không Chỉ Của Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Vượt ‘cửa Ải’ Xuất Xứ Để Tối Đa Lợi Ích Từ Evfta
  • Lợi Ích Của Hiệp Định Evfta Đối Với Xuất Khẩu Sản Phẩm Gỗ
  • Evfta Với Lợi Ích To Và Thách Thức Lớn Cho Vn
  • Hiệp Định Thương Mại Tự Do Giữa Việt Nam Và Liên Minh Châu Âu
  • Tác Động Của Hiệp Định Evfta Đối Với Ngành Dệt May Việt Nam
  • (KDPT) – Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) chưa thực sự bắt đầu, nhưng nỗi lo chậm đáp ứng các điều kiện để được hưởng ưu đãi đã nổi lên.

    Cả doanh nghiệp và Nhà nước cũng phải thấy rõ trách nhiệm.

    Doanh nghiệp châu Âu sốt ruột

    Ông Nguyễn Hải Minh, Phó chủ tịch EuroCham cảm thấy sốt ruột khi đọc thông tin tỷ lệ rất thấp doanh nghiệp Việt Nam có biết về EVFTA. “Ngày 1/8 tới, EVFTA có hiệu lực rồi, mà chỉ có 2% doanh nghiệp biết tương đối kỹ về Hiệp định. Số còn lại (khoảng 20% trong tổng số 8.600 doanh nghiệp – PV) có biết, nhưng có thực sự hiểu rõ về nội dung Hiệp định, về các điều kiện thực thi hay không là câu chuyện khác, dù doanh nghiệp Việt Nam rất linh hoạt”, ông Minh chia sẻ với Đoàn giám sát của Quốc hội về việc thực hiện các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên.

    Chỉ vài phút trước, ông Minh đã nghe một số bài tính của một số doanh nghiệp dệt may trong việc lựa chọn nên hay không nên đáp ứng nguyên tắc xuất xứ để hưởng các cam kết ưu đãi về thuế quan. Hiện tại, nguyên liệu nhập khẩu chính của doanh nghiệp dệt may Việt Nam vẫn là từ Trung Quốc, nếu không thay đổi, thì không thỏa mãn được yêu cầu xuất xứ trong EVFTA.

    “Một số doanh nghiệp tính rằng, nếu mua hàng từ nơi đáp ứng yêu cầu xuất xứ, với mức giá cao hơn, thì kể cả khi được hưởng ưu đãi thuế quan, vẫn không lợi bằng mua hàng từ Trung Quốc với mức thuế hiện tại. Nhưng doanh nghiệp Việt Nam cần phải hiểu rõ là, sau khi EVFTA có hiệu lực, chế độ Ưu đãi Thuế quan phổ cập (GSP) mà họ đang được hưởng sẽ kết thúc, cho dù EU áp dụng cho Việt Nam lộ trình 7 năm”, ông Minh nói.

    Đó là chưa kể quy định về xuất xứ của EVFTA khá phức tạp, cả về cách diễn đạt tiêu chí và các quy định kèo theo. Sự phức tạp là lý do mà nhiều doanh nghiệp sản xuất khẩu trang của Việt Nam đã không đủ điều kiện xuất khẩu sang EU, cho dù đã có bạn hàng, vì không đủ các giấy chứng nhận theo yêu cầu về y tế.

    “Kể cả với các điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm, các doanh nghiệp Việt Nam khi làm việc với các đối tác châu Âu vẫn tỏ ra lúng túng, không rõ làm thế nào, tiếp cận đầu mối nào để có đủ các điều kiện mà EU đòi hỏi”, ông Minh chia sẻ thông tin.

    Cũng phải nói thêm, EU đang xúc tiến đàm phán FTA với một số nước trong ASEAN, sau khi đã ký hai FTA với Việt Nam và Singapore. “Nghĩa là Việt Nam đang có cơ hội tận dụng không gian thị trường EU trước, nên cần đi nhanh hơn”, ông Minh khuyến nghị.

    Vai trò của cơ quan nhà nước

    Thực ra, đây không phải là nỗi lo mới và không chỉ có lỗi từ doanh nghiệp. Ông Minh kể, ngay từ đầu năm, khi các doanh nghiệp EU thông báo ngừng sử dụng các bao bì bằng nhựa, thay vào đó các loại vật liệu có thể tái chế, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã chuyển đổi rất nhanh sang sử dụng bao bì từ giấy, thậm chí từ tre…

    “Mọi việc có vẻ ổn cho đến khi doanh nghiệp EU yêu cầu cung cấp thông tin về vùng nguyên liệu. Hầu như các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ ra được vùng nguyên liệu đủ điều kiện khai thác. Việc quy hoạch vùng nguyên liệu đối với nhiều sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam đang là thách thức, nhưng không thể chỉ là việc của doanh nghiệp”, ông Minh nhấn mạnh.

    Ông Trương Văn Cẩm, Phó chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam nắm rõ thách thức trên. Mới tháng 6 vừa rồi, khi đi làm việc với các địa phương cùng với VCCI để trao đổi về các cơ hội từ EVFTA, ông vẫn nhận được lời từ chối của các địa phương về đề nghị đầu tư dệt nhuộm.

    “Chúng tôi tiếp tục kiến nghị Bộ Công thương hoàn tất để trình sớm Kế hoạch Phát triển ngành dệt may đến năm 2035, trong đó phải làm rõ được yêu cầu xây dựng khu công nghiệp tập trung cho dệt may, trong đó có xử lý nước thải tập trung. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể có các dự án dệt nhuộm lớn, đáp ứng được yêu cầu xuất xứ của EVFTA cũng như CPTPP…”, ông Cẩm nói.

    Thứ trưởng Bộ Công thương Trần Quốc Khánh cũng có mặt trong Đoàn giám sát của Quốc hội và đây không phải lần đầu ông nghe về kiến nghị này. Đáng nói là, ngành dệt may Việt Nam đang kỳ vọng có thể đổi chỗ cho Bangladesh, vươn lên vị trí thứ hai thế giới trong xuất khẩu dệt may sau khi EVFTA có hiệu lực. Nhưng điều này sẽ khó thành hiện thực, nếu không có ngành công nghiệp phụ trợ hậu thuẫn.

    “Đây là vấn đề các bộ, ngành cần quan tâm. Nếu không tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, thu hút các dự án trong ngành này, thì dệt may của Việt Nam có thể xuất khẩu nhiều hơn, nhưng khó thoát khỏi ‘kiếp gia công’. Chúng tôi tha thiết đề nghị Quốc hội xây dựng Luật Công nghiệp hỗ trợ, để tận dụng được làn sóng chuyển dịch vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện tại”, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) khuyến nghị.

    Một lần nữa, đòi hỏi cải cách thể chế, hoàn thiện sớm khung khổ pháp lý, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh được đặt ra. “Chúng tôi kỳ vọng, việc rà soát lại các khung khổ pháp luật và có điều chỉnh, cập nhật chương trình lập pháp để đáp ứng các yêu cầu trong thực hiện EVFTA không chỉ là vì tuân thủ cam kết, mà còn vì nhu cầu phát triển của nền kinh tế”, ông Lộc chia sẻ quan điểm.

    KHÁNH AN

    Theo link gốc: https://baodautu.vn/loi-ich-tu-evfta-khong-chi-cua-doanh-nghiep-d126458.html

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuẩn Bị Tích Cực Để Khai Thác Tốt Lợi Ích Từ Evfta
  • Chuẩn Bị Tích Cực Để Khai Thác Lợi Ích Từ Evfta
  • Một Số Nội Dung Chính Của Hiệp Định Evfta Và Evipa
  • Đại Sứ Vũ Anh Quang: Evfta Vì Lợi Ích To Lớn Và Cân Bằng
  • Bí Quyết Ngâm Rượu Quả (Trái) Sim Chữa Bệnh Xuất Tinh Sớm Cho Nam
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100