Top 18 # Xem Nhiều Nhất Lợi Ích Của Fta / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Hiện Thực Hóa Lợi Ích Của Fta Việt Nam / 2023

Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam-Liên minh Kinh tế Á-Âu.

Sự kiện này được coi là cơ hội để các DN Việt Nam và các DN thuộc EAEU gồm Nga, Armenia, Belarus, Kazakhstan, Kyrgyzstan hiểu rõ hơn về những lợi ích sau khi hai bên đã chính thức ký kết Hiệp định thương mại tự do (FTA) hồi tháng 5 vừa qua.

Theo đánh giá của các cơ quan quản lý tại Diễn đàn, Hiệp định có ý nghĩa chiến lược này sẽ mở ra bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với EAEU nói chung cũng như với từng nước thành viên nói riêng.

Việt Nam là đối tác đầu tiên ký FTA với EAEU và nhiều nội dung trong FTA cho thấy chúng ta sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn trong thương mại và xuất khẩu hàng hóa sang thị trường khá lớn này.

Ngược lại, các nhà đầu tư, DN của các quốc gia trong EAEU cũng sẽ nhìn thấy nhiều cơ hội hợp tác, tiếp cận với thị trường Việt Nam.

Đến nay, Việt Nam và các quốc gia thành viên EAEU có mối quan hệ truyền thống hữu nghị từ thời Liên Xô cũ. Trong giai đoạn 2009-2014, thương mại hai chiều tăng trưởng bình quân 5-6% với kim ngạch song phương đạt 4,2 tỉ USD vào năm 2014.

Nhiều ý kiến đánh giá mức độ hợp tác này còn rất khiêm tốn so với tiềm năng và cơ hội, nhất là mối quan hệ hợp tác tốt đẹp và lâu dài giữa hai bên.

FTA vừa được ký kết cho thấy một cơ hội lớn khi 90% dòng thuế của hai bên sẽ được cắt giảm về 0%, tương đương 90% kim ngạch thương mại song phương hiện nay.

Đại diện nhiều DN lớn của các quốc gia EAEU nhìn nhận cơ hội đặc biệt khi phía Việt Nam cắt giảm thuế quan đối với 87,7% tổng số dòng thuế, trong đó tỉ lệ xóa bỏ thuế quan ngay là 52,4%. Cụ thể là các mặt hàng sữa, phân bón, xăng dầu, ô tô tải, thịt gia cầm… sẽ có mức cắt giảm ngay hay theo lộ trình ngắn trong vài năm tới.

Ở chiều bên kia, các DN Việt Nam cũng cho rằng sẽ thuận lợi hơn trong việc xuất khẩu các mặt hàng thủy sản, dệt may, da giày với gần như hầu hết các dòng thuế được cắt giảm theo lộ trình 5-10 năm.

Tại diễn đàn, Ban tổ chức cũng đã thiết lập các cuộc gặp gỡ, trao đổi ngắn để các đối tác đầu tư, DN cùng lĩnh vực hoặc cùng quan tâm tiếp xúc, giới thiệu, tiến tới thiết lập quan hệ hợp tác làm ăn, giao thương.

Những Lợi Ích Của Fta Đối Với Xuất Khẩu Của Việt Nam / 2023

Nhiều mặt hàng xuất khẩu hưởng lợi

Ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương chia sẻ, thời gian qua Việt Nam đã rất chủ động và tích cực tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA). Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã tham gia 17 FTA. Trong đó có 10 FTA đã ký và có hiệu lực, 2 FTA đã ký nhưng chưa có hiệu lực, 2 FTA đã kết thúc đàm phán và 3 FTA đang đàm phán.

Ông Khanh cho hay, việc tăng cường ký kết các FTA không chỉ đơn thuần là mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, mà còn nhằm cải thiện thâm hụt thương mại. Cụ thể, nếu trước năm 2007 Việt Nam mới chỉ ký kết được hai FTA, thì sau thời điểm này, rất nhiều FTA song phương và đa phương khác đã được ký kết. Nguyên nhân của sự “nở rộ” này chính là việc Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007.

Sự tăng trưởng của ngành dệt may chính là minh hoạ rõ nét về lợi ích của FTA đối với xuất khẩu của Việt Nam. Cụ thể, khi tham gia WTO, thuế quan áp dụng với hàng may mặc thành phẩm trung bình là 25%, nhưng với các FTA ký kết sau này, mức thuế quan giảm mạnh chỉ còn trung bình từ 0-5%.

“Không có công nghệ nào có thể giúp tiết kiệm chi phí lên tới 25%, nhưng với việc ký kết FTA, hàng hoá Việt Nam sẽ được lợi về giá lên tới 25%” – ông Khanh nói.

Tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong 23 năm qua cũng cho thấy những tác động tích cực của các FTA tới xuất khẩu của Việt Nam. Cụ thể, năm 1995, khi Việt Nam gia nhập ASEAN, kim ngạch xuất khẩu chỉ ở mức 5,4 tỷ USD. Đến năm 2007, khi Việt Nam gia nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu tăng lên mức 48,5 tỷ USD và đạt 213,8 tỷ USD trong năm 2018.

Như vậy, phải mất tới 12 năm (1995-2007) để kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng được 43 tỷ USD, nhưng với hàng loạt FTA được ký kết sau khi gia nhập WTO, chỉ cần 11 năm (2007-2018), kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng trưởng tới hơn 165 tỷ USD.

Sức ép cải cách hành chính

Việc tham gia các FTA cũng tạo sức ép đối với cải cách thủ tục hành chính của Việt Nam. Theo khảo sát của VCCI mới đây, tỷ lệ doanh nghiệp hài lòng với các thủ tục thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, thành lập doanh nghiệp ngày càng tăng lên, trong đó 75% hài lòng về thủ tục thuế, 68% hài lòng về thủ tục hải quan…

Ông Nguyễn Anh Dương, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đánh giá, những cải cách mang tính nền tảng hướng tới tạo thuận lợi thương mại còn ý nghĩa nhiều hơn so với việc cam kết cắt giảm các rào cản thuế quan và phi thuế quan. Theo đó, những giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ nhất cũng là những giai đoạn Việt Nam cải cách kinh tế và tăng trưởng mạnh mẽ nhất.

Nhận thức được điều đó, từ những năm 2010, CIEM và Tổng cục Hải quan cùng phối hợp triển khai nhiều hoạt động hướng tới cải cách, tạo thuận lợi thương mại, trong đó có việc triển khai cơ chế một cửa quốc gia (NSW).

Theo tính toán của Tổ chức OECD, chi phí thương mại của Việt Nam ước tính sẽ giảm 18,3% nếu thực hiện đầy đủ các cam kết theo Hiệp định thuận lợi hoá thương mại WTO.

Tuy nhiên, hiệu quả thuận lợi hoá thương mại của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế so với các nước ASEAN. Việt Nam đứng thứ 73 trên 136 nền kinh tế trong bảng xếp hạng thuận lợi hoá thương mại của WEF và đứng thứ 5 trong ASEAN, sau Singapore, Malaysia, Thái Lan và Indonesia.

Để khắc phục điều này, ông Dương cho rằng cần có sự chuyển đổi mạnh mẽ trong hoạt động kiểm tra chuyên ngành.

Theo bà Lê Nguyễn Việt Hà, Phó trưởng phòng giám sát quản lý I, Cục Giám sát quản lý, Tổng cục Hải quan, hai Nghị định 74 và Nghị định 15 vừa được Chính phù ban hành năm 2018 là bước tiến quan trọng trong việc cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hoá xuất nhập khẩu. Theo đó, nhiều mặt hàng được miễn kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu.

Cùng với đó, NSW cũng là một bước đột phá về cải cách thủ tục hành chính. Bà Hà cho biết, hiện đã có 125 thủ tục được kết nối trên NSW, dự kiến đến cuối năm 2018, con số này sẽ tăng lên 138 thủ tục

Nguyễn Mạnh

Doanh Nghiệp Cần Tận Dụng Những Lợi Ích Của Fta Để Mở Rộng Khai Thác Thị Trường Chile / 2023

Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) cho biết trong hai ngày 26 và 27/11, Cục Xúc tiến thương mại đã phối hợp với Thương Vụ Đại Sứ Quán Việt Nam tại và Phòng Thương mại – Việt Nam tổ chức Hội nghị giao thương trực tuyến Xúc tiến thương mại và hợp tác doanh nghiệp Việt Nam – Chile 2020.

Ông Lê Hoàng Tài, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại cho rằng, dù Chile ở cách xa nửa vòng trái đất nhưng hai nước đang có nhiều điều kiện thuận lợi hơn bao giờ hết để tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế – thương mại song phương

Cùng quan điểm với ông Lê Hoàng Tài, ông Nguyễn Ngọc Sơn, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Chile cho biết, từ khi Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và Chile có hiệu lực (năm 2014) đến nay, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước không ngừng tăng trưởng.

Đặc biệt, trong bối cảnh Chile giảm nhập khẩu trong 10 tháng đầu năm nay (giảm 19% so với cùng kì năm trước) do tác động tiêu cực của dịch Covid-19 thì nước này vẫn tăng nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam.

Đáng chú ý, sản phẩm của hai nước đang ngày càng mở rộng sang thị trường của nhau. Mới đây, quả bưởi của Việt Nam đã được cấp phép nhập khẩu vào thị trường Chile.

Theo đánh giá của ông Nguyễn Ngọc Sơn, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã có hiệu lực với Việt Nam (từ đầu năm 2019), còn với Chile, CPTPP đang chờ Quốc hội nước này phê chuẩn.

Khi CPTPP có hiệu lực với cả Chile, doanh nghiệp hai nước sẽ có thêm rất nhiều lợi thế và cơ hội đẩy mạnh khai thác thị trường của nhau.

Để khai thác tiềm năng, lợi thế, thúc đẩy hợp tác thương mại giữa hai nước, ông Lê Hoàng Tài cho rằng, các doanh nghiệp hai bên cần tăng cường tận dụng những lợi ích của FTA Việt Nam – Chile và CPTPP, để xích lại gần nhau hơn thông qua các hoạt động kết nối chuỗi cung ứng, sản xuất và xuất khẩu trong đa dạng các lĩnh vực ngành hàng, đặc biệt là lĩnh vực nông sản, thực phẩm, hàng tiêu dùng các loại.

Cục Xúc tiến thương mại sẽ luôn nỗ lực phối hợp cùng các cơ quan, tổ chức tại Chile hỗ trợ doanh nghiệp hai nước tăng cường kết nối, trao đổi cơ hội kinh doanh và đầu tư thông qua đa dạng hoạt động Xúc tiến thương mại cả trực tuyến và trực tiếp, bao gồm tổ chức đoàn doanh nghiệp tham gia các hội chợ triển lãm quy mô lớn, đoàn giao dịch thương mại, cung cấp thông tin thị trường và đối tác kinh doanh…

Ông Manuel Ubilla Espinoza, Chủ tịch Phòng Thương mại Việt Nam – Chile cũng cam kết sẽ tiếp tục phối hợp với Cục Xúc tiến thương mại để tổ chức nhiều hơn nữa các chương trình Xúc tiến thương mại để kết nối doanh nghiệp hai nước giao thương và tìm hiểu thị trường của nhau.

Cũng tại hội nghị giao thương, hơn 50 doanh nghiệp Việt Nam và Chile hoạt động trên nhiều lĩnh vực như: nông sản, thực phẩm chế biến, hàng tiêu dùng… đã bước vào các phiên giao thương 1:1 để trao đổi, tìm hiểu thông tin sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp, thị trường, tiến tới thiết lập đối tác hợp tác kinh doanh.

Tham Gia Fta Thế Hệ Mới: Lợi Thế, Thách Thức Và Vấn Đề Đặt Ra Cho Việt Nam / 2023

Tham gia vào các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới là một xu hướng tất yếu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Nguồn: internet

Lợi thế khi tham gia các FTA thế hệ mới

Các tác động tích cực của việc tham gia FTA thế hệ mới đến nền kinh tế Việt Nam đã được nhiều nghiên cứu thực hiện và chỉ rõ. Trong đó, có thể đề cập tới một số tác động cơ bản sau:

Thứ nhất, tham gia các FTA thế hệ mới giúp thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu, gia tăng xuất siêu cũng như thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu.

Một trong những yêu cầu cơ bản của các FTA là cắt giảm thuế quan đối với hầu hết các dòng thuế về mức 0% và nhiều biện pháp phi thuế quan cũng cần phải được xóa bỏ theo lộ trình. Đây chính là cơ hội tốt để doanh nghiệp Việt Nam thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu vào những thị trường mà Việt Nam đã ký kết các FTA thế hệ mới, từ đó góp phần gia tăng xuất siêu cũng như thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu.

Theo Báo cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2018 của Bộ Công Thương, xuất khẩu năm 2018 của Việt Nam đạt 243,48 tỷ USD, tăng 13,2% so với năm 2017 và vượt chỉ tiêu của Quốc hội đề ra. Nhập khẩu của Việt Nam đạt 236,69 tỷ USD, tăng 11% so với năm 2017. Điều này giúp Việt Nam xuất siêu trong vòng ba năm liên tiếp, trong đó năm 2018 ghi nhận mức xuất siêu (6,8 tỷ USD) cao hơn rất nhiều so với năm 2017 (2,11 tỷ USD) và năm 2016 (1,78 tỷ USD) (xem Hình 1).

Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, năm 2018 ghi nhận sự chuyển biến của cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo đúng định hướng đề ra tại Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011 – 2020, định hướng đến 2030 của Việt Nam. Kết quả năm 2018 cho thấy, chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là nhóm hàng công nghiệp (82,8%). Lĩnh vực này cũng đóng góp 21 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu từ một tỷ USD trở lên. Đồng thời, nhờ FTA thế hệ mới, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đã thâm nhập được vào các thị trường lớn với mức tăng trưởng tốt như: Hàng dệt may vào thị trường Nhật Bản tăng 22,6% so với cùng kỳ năm 2017, vào thị trường Hàn Quốc tăng 24,9% so với cùng kỳ năm 2017…

Thứ hai, tham gia các FTA thế hệ mới giúp Việt Nam thu hút được nguồn vốn FDI từ các quốc gia thành viên.

Với việc một số FTA thế hệ mới dành riêng một chương điều chỉnh về đầu tư, trong đó có các cam kết mạnh của Việt Nam về khuyến khích và bảo hộ đầu tư, cũng như về cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư, Việt Nam có thể trở thành điểm đến của luồng vốn đầu tư nước ngoài từ những quốc gia thành viên của các FTA thế hệ mới.

Số liệu thống kế về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong 3 tháng đầu năm 2019 cho thấy, vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đến từ nhiều quốc gia đối tác trong các FTA này, như: Hồng Kông (4,407 tỷ USD), Singapore (1,461 tỷ USD), Hàn Quốc (1,317 tỷ USD), Trung Quốc (1 tỷ USD)… Những dòng vốn đăng ký này đã giúp cho tổng lượng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam trong 3 tháng đầu năm 2019, tăng 86,2% so với cùng kỳ năm 2018. Việc thực hiện tốt các cam kết trong các FTA thế hệ mới, nhất là cam kết trong Hiệp định Đối tác toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực, đã trở thành tác động giúp cho dòng vốn này tăng lên.

Thứ ba, tham gia các FTA thế hệ mới giúp đẩy nhanh quá trình cải cách thể chế kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, hoàn thiện môi trường kinh doanh.

Nhiều FTA thế hệ mới Việt Nam tham gia đều hàm chứa các chương, với mức độ cam kết sâu rộng khác nhau, để điều chỉnh về các vấn đề này. Thực thi tốt quy định trong các FTA thế hệ mới sẽ giúp Việt Nam đảm bảo thể chế kinh tế được minh bạch hóa, kịp thời ứng phó với tác động kinh tế thế giới.

Lợi ích đối với Việt Nam khi tham gia FTA thế hệ mới thể hiện rõ nhất ở cơ hội hoàn thiện pháp luật trong nước theo các cam kết mới. Những nước đang phát triển khi tham gia vào các FTA thế hệ mới thường có hệ thống pháp luật chưa tương xứng với yêu cầu của luật chơi chung. Do đó, thông qua việc tham gia các FTA thế hệ mới, các nước đang phát triển có cơ hội hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước theo những yêu cầu và chuẩn mực của luật chơi này.

Việt Nam cũng không ngoại lệ. Các quy định mới trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường, minh bạch, doanh nghiệp nhà nước, phòng chống tham nhũng… được đưa vào các FTA thế hệ mới sẽ khiến Việt Nam phải sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật trong nước, từ đó, giúp hệ thống pháp luật Việt Nam đảm bảo sự tương thích và phù hợp với các quy định trong các hiệp định FTA.

Các thách thức và vấn đề đặt ra khi tham gia FTA thế hệ mới

Thứ nhất, thách thức từ khả năng cạnh tranh hạn chế của các doanh nghiệp trong nước.

Báo cáo đối thoại chính sách năm 2016 với tiêu đề “Các cảnh báo tiềm năng cho Việt Nam khi gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)” của Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, không chỉ khi thực hiện các cam kết trong TPP mà trong một số các FTA thế hệ mới khác, Việt Nam sẽ gặp phải thách thức lớn về năng lực cạnh tranh. Báo cáo đã chỉ ra một số yếu tố về thể chế, trong đó có “chế độ sở hữu, nhất là quyền tài sản gắn liền với đất, pháp luật hợp đồng và thực thi hợp đồng kém hiệu quả” đã làm cho nhiều doanh nghiệp tư nhân không thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp FDI.

Báo cáo cũng chỉ ra khả năng thâm nhập và phòng vệ của doanh nghiệp trong nước so với doanh nghiệp FDI cũng có nhiều hạn chế, vì nhiều nguyên nhân khác nhau như: (i) Các doanh nghiệp trong nước chậm chuyển biến trong chiến lược về cắt giảm chi phí, đảm bảo tiến độ giao hàng hay thực hiện tốt cam kết quốc tế; (ii) Doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn về tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu cũng như vào phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, do thiếu khả năng đáp ứng yêu cầu của chuỗi, nhất là về chất lượng sản phẩm.

Thứ hai, thách thức từ sự hấp thụ của nền kinh tế trước luồng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam khi tham gia các FTA thế hệ mới.

Theo dự báo, sau khi các FTA thế hệ mới có hiệu lực, Việt Nam có khả năng thu hút được nguồn vốn FDI lớn. Tuy nhiên, bài học từ việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cho thấy, khả năng hấp thụ của nền kinh tế trước luồng vốn đầu tư nước ngoài “ồ ạt” có thể đặt ra nhiều thách thức đối với Việt Nam trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.

Cụ thể, trước luồng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài tăng mạnh, việc Ngân hàng Nhà nước phải cung ứng một lượng tiền đồng lớn để mua ngoại tệ, cũng như đảm bảo ổn định kinh tế khi phá giá nhẹ, để hỗ trợ xuất khẩu đã trở thành một trong những nguyên nhân chính khiến tỷ lệ lạm phát của Việt Nam sau năm 2006 tăng cao. Do đó, đây là điều mà Việt Nam cần đặc biệt lưu ý, trong năm 2019, cũng đã có những dấu hiệu cho thấy, luồng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam gia tăng đột biến.

Có thể lập luận rằng, Việt Nam đã có kinh nghiệm đối phó với vấn đề này, tuy nhiên, với những diễn biến mới của nền kinh tế thế giới, đặc biệt tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, luồng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng, nếu Việt Nam không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, kịch bản thời kỳ hậu WTO sẽ có thể lặp lại.

Thứ ba, thách thức đối với thu ngân sách nhà nước.

Từ năm 2011 trở lại đây, sau khi Việt Nam thực hiện những cam kết cắt giảm sâu hơn về thuế quan trong WTO và một số FTA, thu ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu của Việt Nam có dấu hiệu sụt giảm về tỷ trọng. Trong giai đoạn 2010 – 2013, đóng góp từ nguồn thu này vào ngân sách nhà nước là trên 20%, đến năm 2014 – 2015, giảm xuống xấp xỉ 19%, năm 2016 là 16%, dự toán năm 2018 là 13,5% và 2019 là 13,4%. Sự sụt giảm về số thu ngân sách này chủ yếu bắt nguồn từ việc thu từ thuế nhập khẩu bị giảm mạnh.

Đặc biệt, theo Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), kể từ ngày 01/01/2018, gần 100% dòng thuế nhập khẩu của Việt Nam đều bị cắt giảm về 0%. Hay đối với CPTPP, ngay trong năm 2019, Việt Nam phải cắt giảm về 0% đối với 65,8% dòng thuế nhập khẩu. Đây là thách thức khá lớn đối với Việt Nam khi phải đảm bảo cân đối thu ngân sách nhà nước qua các năm.

Thứ tư, thách thức đối với ngành Dịch vụ tài chính.

Trong WTO hay các FTA thế hệ mới, những cam kết về dịch vụ tài chính bao trùm lên 3 lĩnh vực lớn là bảo hiểm, ngân hàng và chứng khoán. Khi thực hiện các cam kết sâu rộng về dịch vụ tài chính, lĩnh vực tài chính – ngân hàng của Việt Nam đối diện với nhiều thách thức. Nghiên cứu của Nguyễn Thuy Linh, Vũ Ngọc Diệp và Lê Mai Trang cho thấy, ngành Ngân hàng của Việt Nam, khi thực thi các cam kết trong CPTPP gặp phải các thách thức sau: (i) Năng lực và quy mô của ngành Ngân hàng Việt Nam còn thấp so với các quốc gia tham gia CPTPP (đứng thứ 6 về quy mô nhưng tỷ lệ an toàn vốn thấp nhất); (ii) Cạnh tranh ngày càng lớn do có sự tham gia của các ngân hàng và quỹ đầu tư nước ngoài; (iii) Nguy cơ bị chi phối và mua lại nếu hoạt động kinh doanh không hiệu quả.

Nghiên cứu của Trung tâm WTO thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về tác động của EVFTA đối với dịch vụ tài chính – ngân hàng cũng đã chỉ ra những thách thức đối với lĩnh vực tài chính – ngân hàng, bao gồm: (i) Áp lực cạnh tranh từ các nhà cung cấp dịch vụ tài chính nước ngoài trên thị trường Việt Nam; (ii) Nhu cầu đối với dịch vụ tín dụng ngày càng cao, không dừng lại ở giá mà còn yêu cầu mức độ phong phú về chủng loại và chất lượng dịch vụ; (iii) Các yêu cầu về ứng dụng công nghệ thông tin, bảo mật thông tin, quản trị và bảo vệ an toàn dữ liệu thông tin trong lĩnh vực dịch vụ tài chính ngày càng cao.

Thứ năm, sự hiểu biết và nhận thức của doanh nghiệp về các FTA thế hệ nói chung còn hạn chế.

Một số nghiên cứu đã chỉ ra thách thức đối với Việt Nam khi thực thi các FTA thế hệ mới, xuất phát từ sự hiểu biết và nhận thức của doanh nghiệp về FTA còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu của VCCI năm 2016 cho thấy, nhiều doanh nghiệp Việt Nam còn chưa biết hoặc chưa hiểu rõ về các FTA thế hệ mới. Cụ thể, đối với Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc, có 33% doanh nghiệp chưa biết và tới 51% chưa hiểu rõ về nội dung của Hiệp định. Tỷ lệ này với TPP (hiện nay là CPTPP) tương ứng là 12% và 40%; với EVFTA là 17% và 56%…

Nghiên cứu của Hà Công Anh Bảo và các cộng sự thực hiện năm 2018 chỉ ra, chỉ có 9% số doanh nghiệp được điều tra biết rõ về các FTA thế hệ mới, 42% hiểu biết ở mức độ trung bình và 49% hiểu biết ở mức độ ít hoặc không hiểu biết gì về các FTA này. Các doanh nghiệp thường là các chủ thể chịu tác động và thực hiện chủ yếu các quy định trong các FTA thế hệ mới, tuy nhiên, với mức độ hiểu biết còn hạn chế đối với các quy định trong các hiệp định.

Qua nghiên cứu có thể kể đến một số thách thức về mặt pháp luật cụ thể sau:

Thứ nhất, sự tương thích của hệ thống pháp luật trong nước với những quy định trong các FTA thế hệ mới.

Thứ hai, quá trình nội luật hóa các FTA thế hệ mới gặp nhiều khó khăn.

Phân tích cho thấy, do hệ thống pháp luật của Việt Nam còn nhiều quy định chưa tương thích với các FTA thế hệ mới, nên trên cơ sở Điều 6 Khoản 2 của Luật Điều ước quốc tế năm 2016, Việt Nam có thể lựa chọn, hoặc áp dụng trực tiếp các quy định đó, hoặc chuyển hóa các quy định đó vào trong nội luật. Do các quy định trong các FTA thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên được phép áp dụng trực tiếp không nhiều, nên phần lớn các quy định đó phải được nội luật hóa bằng cách sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật trong nước.

Ví dụ: Theo Nghị quyết số 72/2018/QH14, Việt Nam cần nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ sung một số văn bản luật như: Bộ luật Lao động năm 2012; Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; Bộ luật Hình sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000; Luật An toàn thực phẩm năm 2010… Đây là thách thức cho Việt Nam khi phần lớn việc sửa đổi, bổ sung các quy định này đều phải được thực hiện khi CPTPP có hiệu lực đối với Việt Nam.

Thực tế, các quy định trong FTA thế hệ mới đã được chuyển hóa vào các văn bản luật trong nước, tuy nhiên, quá trình chuyển hóa lại đặt ra nhiều vấn đề đối với Việt Nam như: ( i) Chưa thống nhất hình thức văn bản để nội luật hóa các cam kết trong các FTA thế hệ mới; (ii) Xác định phạm vi áp dụng của các văn bản để nội luật hóa các cam kết trong FTA; (iii) Các cam kết được chuyển hóa rải rác ở nhiều thời điểm khác nhau; (iv) Sau khi nội luật hóa, các quy định của pháp luật trong nước chưa tương thích với các cam kết trong FTA thế hệ mới.

Thứ ba, sự tuân thủ các quy định mới được đưa vào các FTA thế hệ mới và nguy cơ bị khởi kiện.

Các FTA thế hệ mới đều hàm chứa những cơ chế, đảm bảo sự thực thi các hiệp định này, trong đó có cơ chế giải quyết tranh chấp. Nhiều quy định của pháp luật trong nước chưa tương thích, cả trước và sau nội luật hóa, đều có thể dẫn đến việc Việt Nam không thực hiện tốt các cam kết của mình. Do đó, Việt Nam có thể dễ bị khởi kiện theo đúng các cơ chế giải quyết tranh chấp đã được xây dựng. Đây là vấn đề Việt Nam cần quan tâm đối với lĩnh vực đầu tư.

Kết luận

Như vậy, tham gia các FTA thế hệ mới của Việt Nam đều mang lại các lợi thế và thách thức, ở cả góc độ kinh tế và pháp luật. Do đó, việc tận dụng các lợi thế và hạn chế những thách thức đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn từ nhiều chủ thể khác nhau.

Đối với doanh nghiệp, chủ động tìm hiểu và hiểu rõ nội dung các quy định trở thành một trong những yêu cầu cấp thiết. Ngoài ra, việc tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo sự tin tưởng và uy tín trong hoạt động kinh doanh, chủ động tham gia vào chuỗi cung ứng… cũng là những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp có thể thu được các lợi ích từ việc tham gia vào các FTA thế hệ mới.

Bộ Công Thương, Báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam năm 2018, Hà Nội, 2018, tr. 11;

Hà Công Anh Bảo và các cộng sự, “Thách thức khi tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới của Việt nam từ kết quả điều tra doanh nghiệp”, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới của Việt Nam: Từ chiến lược tham gia đến thách thức khi thực thi”, TP. Hồ Chí Minh, 2019, tr. 289-304;

Nguyễn Ngọc Hà, “Một số thách thức khi thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới của Việt Nam từ việc chuyển hóa điều ước vào pháp luật trong nước”, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, 2019, số 03(124), tr. 16-28;

Nguyễn Thuy Linh, Vũ Ngọc Diệp và Lê Mai Trang, “Ngành ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh thực thi Hiệp định CPTPP”, Kỷ yếu Diễn đàn Hội nhập Kinh tế Quốc tế Việt Nam 2018 “Hội nhập kinh tế quốc tế trong tình hình mới – Chủ động, Đổi mới, Thiết thực và Hiệu quả”, Hà Nội, 2018, tr. 172-173;

Trần Thị Thùy Dương & Lê Thị Thúy Hương, “Điều chỉnh quan hệ giữa lao động và thương mại quốc tế trong khuôn khổ EVFTA – Cơ hội và thách thức nhìn từ quan điểm của Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới của Việt Nam: Từ chiến lược tham gia đến thách thức khi thực thi”, TP. Hồ Chí Minh, 2019, tr. 249-260.