Dân Tộc Là Gì ? Các Khái Niệm Về Dân Tộc?

--- Bài mới hơn ---

  • Mậu Dịch Quốc Tế Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Mậu Dịch Quốc Tế
  • Mậu Dịch Là Gì? Phân Biệt Hàng Hóa Mậu Dịch Và Phi Mậu Dịch
  • Chương 1: Lý Thuyết Mậu Dịch Quốc Tế Cổ Điển
  • Hàng Phi Mậu Dịch Là Gì? Cẩm Nang Bạn Cần Biết
  • Chủ Nghĩa Bảo Hộ Mậu Dịch
  • 1. Khái niệm về dân tộc (cách hiểu về dân tộc):

    Dân tộc (tộc người, ethnie) là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử; ví dụ: dân tộc (hay tộc người) Việt, dân tộc (hay tộc người) Tày, dân tộc (hay tộc người) Khơ Me… Hình thức và trình độ phát triển của tộc người phụ thuộc vào các thể chế xã hội ứng với các phương thức sản xuất.

    Dân tộc (nation) – hình thái phát triển cao nhất của tộc người, xuất hiện trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa (hình thái của tộc người trong xã hội nguyên thủy là bộ lạc, trong xã hội nô lệ và xã hội phong kiến là bộ tộc). Dân tộc đặc trưng bởi sự cộng đồng bền vững và chặt chẽ hơn về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, các đặc điểm về văn hóa và ý thức tự giác tộc người.

    So với bộ tộc thời phong kiến, dân tộc trong thời kì phát triển tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa có lãnh thổ ổn định, tình trạng cát cứ bị xoá bỏ, có nền kinh tế hàng hóa phát triển, thị trường quốc gia hình thành thống nhất, các ngữ âm, thổ ngữ bị xoá bỏ, tiếng thủ đô được coi là chuẩn và ngày càng lan rộng ảnh hưởng, sự cách biệt về văn hóa giữa các vùng, miền và giữa các bộ phận của tộc người bị xóa bỏ phần lớn, ý thức về quốc gia được củng cố vững chắc.

    Cộng đồng dân tộc thường được hình thành hoặc từ một bộ tộc phát triển lên; hoặc là kết quả của sự thống nhất hai hay nhiều bộ tộc có những đặc điểm chung về lịch sử – văn hóa.

    Ngoài những nét giống nhau trên, giữa dân tộc tư bản chủ nghĩa và dân tộc xã hội chủ nghĩa có những nét khác biệt nhau, do đặc điểm của phương thức sản xuất và thể chế xã hội. Ở dân tộc tư bản chủ nghĩa, xã hội phân chia đối kháng giai cấp giữa tư sản và vô sản, Nhà nước là của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản. Còn ở dân tộc xã hội chủ nghĩa, xã hội không còn đối kháng giai cấp, quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

    3. Dân tộc (quốc gia dân tộc; ví dụ: dân tộc Việt Nam) là cộng đồng chính trị – xã hội, được hình thành do sự tập hợp của nhiều tộc người có trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau cùng chung sống trên một lãnh thổ nhất định và được quản lí thống nhất bởi một nhà nước. Kết cấu của cộng đồng quốc gia dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của từng nước. Một quốc gia dân tộc có tộc người đa số và các tộc người thiểu số. Có tộc người đã đạt đến trình độ dân tộc, song nhiều tộc người ở trình độ bộ tộc. Với cơ cấu tộc người như vậy, quan hệ giữa các tộc người rất đa dạng và phức tạp. Nhà nước phải ban hành chính sách dân tộc để duy trì sự ổn định và phát triển của các tộc người, sự ổn định và phát triển của đất nước. Cũng có trường hợp, một quốc gia chỉ gồm một tộc người (Triều Tiên).

    (Nội dung trên được đưa ra bởi: Từ điển luật học xuất bản năm 2010)

    Khái niệm dân tộc trong tiếng Việt có thể đề cập đến các nghĩa sau:

    + Dân tộc (cộng đồng): theo nghĩa rộng là cộng đồng người có chung nền văn hóa, nhóm sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc, lịch sử; đôi khi bao gồm nhiều nhóm sắc tộc. Dân tộc trong trường hợp quốc gia dân tộc còn được gọi là quốc dân.

    + Sắc tộc: chỉ nhóm xã hội được phân loại dựa trên nhiều nét chung như di sản văn hóa, nguồn gốc, lịch sử, ngôn ngữ hoặc phương ngữ.

    Một số định nghĩa khác về dân tộc:

    Dân tộc có thể chỉ một cộng đồng người chia sẻ một ngôn ngữ, văn hóa, sắc tộc, nguồn gốc, hoặc lịch sử. Tuy nhiên, nó cũng có thể chỉ những người có chung lãnh thổ và chính quyền (ví dụ những người trong một quốc gia có chủ quyền) không kể nhóm sắc tộc.

    Trong trường hợp gắn liền với một quốc gia dân tộc, dân tộc còn được gọi là quốc dân. “Dân tộc” mang nhiều nghĩa và phạm vi nghĩa của thuật ngữ thay đổi theo thời gian.

    Hầu hết mọi dân tộc sống trong một lãnh thổ cụ thể gọi là quốc gia. Một số dân tộc khác lại sống chủ yếu ngoài tổ quốc của mình. Một quốc gia được công nhận là tổ quốc của một dân tộc cụ thể gọi là “nhà nước – dân tộc”. Hầu hết các quốc gia hiện thời thuộc loại này mặc dù vẫn có những tranh chấp một cách thô bạo về tính hợp pháp của chúng. Ở các nước có tranh chấp lãnh thổ giữa các dân tộc thì quyền lợi thuộc về dân tộc nào sống ở đó đầu tiên. Đặc biệt ở những vùng người châu Âu định cư có lịch sử lâu đời, thuật ngữ “dân tộc đầu tiên” dùng cho những nhóm người có chung văn hóa cổ truyền, cùng tìm kiếm sự công nhận chính thức hay quyền tự chủ.

    Khái niệm dân tộc, sắc tộc thường có nhiều cách sử dụng không thống nhất trên toàn thế giới:

    Thường thì những thuật ngữ như dân tộc, nước, đất nước hay nhà nước được dùng như những từ đồng nghĩa. Ví dụ như: vùng đất chỉ có một chính phủ nắm quyền, hay dân cư trong vùng đó hoặc ngay chính chính phủ. Chúng còn có nghĩa khác là nhà nước do luật định hay nhà nước thực quyền. Trong tiếng Anh các thuật ngữ trên không có nghĩa chính xác mà thường được dùng uyển chuyển trong cách nói viết hàng ngày và cũng có thể giải nghĩa chúng một cách rộng hơn.

    Khi xét chặt chẽ hơn thì các thuật ngữ “dân tộc”, “sắc tộc” và “người dân” (chẳng hạn người dân Việt Nam) gọi là nhóm thuộc về con người. “Nước” là một vùng theo địa lý, còn “nhà nước” diễn đạt một thể chế cầm quyền và điều hành một cách hợp pháp. Điều rắc rối là hai tính từ “quốc gia” và “quốc tế” lại dùng cho thuật ngữ nhà nước, chẳng hạn từ “luật quốc tế” dùng trong quan hệ giữa các nhà nước hoặc giữa nhà nước và các cá nhân, các công dân.

    Thuật ngữ “dân tộc” thường dùng một cách ẩn dụ để chỉ những nhóm người có chung đặc điểm hay mối quan tâm.

    1

    Công tác dân tộc

    Công tác dân tộc là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    Nghị định 05/2011/NĐ-CP

    6

    Dân tộc thiểu số tại chỗ

    Là đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn gốc, tổ tiên sinh sống lâu đời trên địa bàn

    15/2008/QĐ-UBND

    (Hết hiệu lực)

    Tỉnh Đắk Lắk

    7

    bao gồm các đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đề tài khoa học xã hội và nhân văn. Đề tài có thể độc lập hoặc thuộc dự án, chương trình.

    9

    Mạng Ủy ban Dân tộc

    Là tên viết tắt của hệ thống mạng thông tin của Ủy ban

    10

    Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ của Ủy ban Dân tộc

    là những vấn đề khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác dân tộc cần giải quyết, được xác định, thực hiện theo quy định của Nhà nước về quản lý khoa học và công nghệ và những quy định tại Thông tư này;

    11

    Trường phổ thông dân tộc bán trú

    là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này bao gồm trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú.

    12

    Trường phổ thông dân tộc bán trú

    Là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập nhằm đáp ứng yêu cầu học tập của con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho địa phương, bao gồm: trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, các tỷ lệ này ổn định

    Tỉnh Đắk Lắk

    13

    Vùng dân tộc thiểu số

    Vùng dân tộc thiểu sốlà địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Nghị định số 05/2011/NĐ-CP

    Nguồn: Thư viện pháp luật

    3. Đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam

    Nước ta là quốc gia đa dân tộc và có nhiều đặc điểm quan trọng, nổi bật. Trong đó cần chú ý các đặc điểm sau:

    – Các dân tộc sinh sống trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết.

    – Các dân tộc ở Việt Nam cư trú xen kẽ nhau.

    – Các dân tộc ở Việt Nam trình độ phát triển kinh tế – xã hội không đều nhau.

    – Sự phân bố dân cư không đều; trên vùng núi, biên giới, chủ yếu là các dân tộc thiểu số đang sinh sống.

    4. Thế nào là công tác dân tộc? Các nguyên tắc cơ bản của dân tộc?

    Công tác dân tộc ” là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    Tại Điều 3 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc quy định các nguyên tắc cơ bản sau:

    – Thực hiện chính sách dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.

    – Đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.

    – Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc.

    – Các dân tộc có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    5. Các hành vi bị nghiêm cấm trong công tác dân tộc ở Việt Nam là gì?

    Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

    – Mọi hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử, chia rẽ, phá hoại đoàn kết các dân tộc.

    – Lợi dụng các vấn đề về dân tộc để tuyên truyền xuyên tạc, chống lại đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

    – Lợi dụng việc thực hiện chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về công tác dân tộc để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    – Các hành vi khác trái với quy định của Chính phủ.

    Trân trọng./.

    Các câu hỏi thường gặp

    --- Bài cũ hơn ---

  • “lợi Ích Của Quốc Gia, Dân Tộc Là Tối Thượng”
  • Mang Đến Nhiều Lợi Ích Vật Chất, Tinh Thần Cho Đoàn Viên, Nlđ
  • Về Mối Quan Hệ Giữa Lợi Ích Vật Chất Và Lợi Ích Tinh Thần Trong Sự Phát Triển Của Xã Hội Ta Hiện Nay
  • Lợi Ích Cộng Đồng Là Trên Hết
  • Trách Nhiệm Cá Nhân Và Lợi Ích Cộng Đồng!
  • Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Là Bất Biến

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tướng: Phải Đặt Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Lên Trên Hết
  • Trước Thềm Đh Đảng Xii: Đặt Lợi Ích Quốc Gia
  • Đặt Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Lên Trên Hết
  • Khái Niệm Quyền Lợi Quốc Gia Trên Hết
  • Tổng Bí Thư: ‘bảo Vệ Lợi Ích Tối Cao Của Quốc Gia
  • “Thuận lợi và khó khăn, thách thức luôn luôn là 2 mặt đối lập nhưng không bao giờ tách rời nhau của bất kỳ một quá trình phát triển nào, như một cái cây có đất tốt sẽ phát triển, nhưng lá non quả ngọt của nó sẽ là miếng mồi hấp dẫn cho sâu bọ và chim thú”- Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh chia sẻ cùng Tiền Phong.

    Khi nói về tình hình hiện nay, ông cho rằng, hơn lúc nào hết chúng ta cần tỉnh táo, thấm nhuần tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh và kiên định phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Cái bất biến là lợi ích quốc gia, dân tộc – trong đó độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là bộ phận cốt yếu…

    Dĩ bất biến, ứng vạn biến Nhìn lại thành công của Cách mạng tháng Tám và cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền non trẻ ngay sau ngày đất nước giành độc lập giai đoạn 1945-1946, theo ông, yếu tố nào làm nên sức mạnh dân tộc để chúng ta đưa đất nước vượt qua hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” khi đó, đặc biệt là chính sách ngoại giao đóng vai trò ra sao trong bối cảnh khó khăn giai đoạn này?

    Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh yếu tố quan trọng nhất tạo nên sức mạnh dân tộc là truyền thống yêu nước nồng nàn, khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do và ý chí quật cường chống ngoại xâm của nhân dân ta.

    Từ khi có Đảng có Bác Hồ, lòng yêu nước đó lại được nhân lên gấp bội tạo nên ý chí quật cường đưa dân tộc Việt Nam ngẩng cao đầu quyết không khuất phục bất kỳ thực dân, đế quốc hoặc kẻ thù nào lăm le xâm phạm bờ cõi Tổ quốc ta.

    Đây chính là nguyên nhân căn bản tập hợp và phát huy được sức mạnh của lòng yêu nước và đưa nhân dân ta đi theo đúng con đường dẫn tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, giành độc lập dân tộc thực sự. Nguyên nhân nữa, là tinh thần đoàn kết quật cường mạnh hơn bao giờ hết trong thời kỳ có Đảng có Bác Hồ.

    Ngay trước thềm thắng lợi của cách mạng, Hội nghị Toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Tân Trào đã đề ra chủ trương đối ngoại rất rõ ràng: “thân thiện với các nước coi trọng nền độc lập của Việt Nam”.

    Đây chính tiền thân của đường lối “làm bạn với tất cả các nước” mà sau này chúng ta đã kế thừa và phát huy. Nhằm mục tiêu đối ngoại “đưa nước nhà đến tự do, độc lập hoàn toàn và vĩnh viễn”, những sách lược ngoại giao phù hợp đã được vận dụng như: “hòa để tiến”, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, nguyên tắc “đặt lợi ích dân tộc lên trên hết” đã được nền ngoại giao nước nhà, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bác Hồ sử dụng một cách vô cùng mềm dẻo và linh hoạt.

    Có thể nói giai đoạn 1945-1946 là thời điểm cực kỳ khó khăn, vận nước chông chênh nhất, song dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và đặc biệt là Bác Hồ, người đã khai sinh ra nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, đã có những đóng góp hết sức quan trọng vào cuộc đấu tranh bảo vệ và giữ gìn độc lập, tự do của dân tộc.

    Bên cạnh những thuận lợi, nước ta đang phải đối mặt nhiều khó khăn, thách thức từ bên ngoài, thậm chí có những thời điểm chủ quyền và một bộ phận lãnh thổ của chúng ta bị đe dọa xâm phạm. Theo Bộ trưởng, phải giải quyết vấn đề này ra sao để một mặt vẫn bảo đảm được xu hướng hòa bình hợp tác nhưng mặt khác kiên định bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, độc lập dân tộc?

    Thuận lợi và thách thức luôn luôn là 2 mặt đối lập nhưng không bao giờ tách rời nhau của bất kỳ một quá trình phát triển nào như một cái cây có đất tốt sẽ phát triển, nhưng lá non quả ngọt của nó sẽ là miếng mồi hấp dẫn cho sâu bọ và chim thú.

    Sự phát triển của bất kỳ nước nào, ở giai đoạn nào cũng đối mặt những cơ hội và thách thức. Thuận lợi có thể từ bên trong, bên ngoài, khó khăn cũng vậy.

    Về những khó khăn và thách thức từ bên ngoài, Đại hội Đảng XI đã nhận định rất rõ ràng “thời cơ và thách thức đan xen”, vị thế mới của nước ta có “những thuận lợi và cơ hội to lớn cùng những khó khăn và thách thức gay gắt”.

    Lịch sử đất nước đã bao lần bị giặc xâm lăng, một phần lãnh thổ thiêng liêng của đất nước vẫn còn bị nước ngoài chiếm đóng, chủ quyền lãnh thổ vẫn còn nguy cơ bị nước ngoài đe dọa xâm phạm, tạo nên một thách thức vô cùng to lớn đối với đất nước ta. Hơn lúc nào hết chúng ta cần tỉnh táo, thấm nhuần tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh và kiên định phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

    Tôi rất mừng thấy thế hệ thanh niên ngày nay đang phát huy tốt truyền thống yêu nước của dân tộc. Lòng yêu nước đó cần phải được hun đúc bằng trí tuệ và kiến thức cùng nhiệt huyết để nó thể hiện bằng những đóng góp thực tế. Cơ hội để tiếp thu những tinh hoa từ môi trường quốc tế thuận lợi là rất lớn

    Cái bất biến là lợi ích quốc gia, dân tộc – trong đó độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là bộ phận cốt yếu. Cái vạn biến là linh hoạt trong hợp tác, khôn khéo trong đấu tranh, sâu sắc trong tạo dựng lợi ích đan xen nhằm bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, củng cố vững chắc chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa.

    Xây dựng đất nước và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ là 2 nhiệm vụ then chốt của Đảng và Nhà nước mà ngành ngoại giao cũng được giao phó tham gia. Đại hội Đảng XI đã chỉ rõ “nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ…”.

    Xử lý vấn đề tranh chấp lãnh thổ sẽ được đặt trong nhiệm vụ và nguyên tắc này theo hướng phấn đấu cho hòa bình và ổn định, đối với các tranh chấp phải kiên trì biện pháp hòa bình, dựa vào luật pháp quốc tế để đối thoại, tìm ra giải pháp.

    Luật pháp quốc tế là thành quả trí tuệ của xã hội văn minh hiện đại, mà tất cả các nước trên thế giới đều phải tôn trọng và tuân thủ một cách có trách nhiệm. Khi luật pháp quốc tế được thực thi một cách nghiêm túc, nguy cơ xung đột sẽ giảm, nền hòa bình vững chắc sẽ được bảo đảm hơn.

    Ngọn hải đăng đảo Sinh Tồn. Ảnh: Nguyễn Huy.

    Thông điệp hòa bình, hợp tác “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế” là chủ trương đối ngoại lớn của Đại hội XI, xin Bộ trưởng cho biết thời gian qua Bộ Ngoại giao thực hiện chủ trương này như thế nào?

    Đây là một thông điệp của Việt Nam gửi tới bạn bè quốc tế về đường lối đối ngoại hòa bình của Đảng và nhà nước ta. Thời gian qua, chủ trương này đã và đang được triển khai hiệu quả, được bạn bè đánh giá cao.

    Thứ nhất, chính sách “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế” đã được triển khai một cách toàn diện cả về bề rộng và chiều sâu. Chúng ta đã và đang làm sâu sắc hơn quan hệ với các nước, trong đó trọng tâm là các nước láng giềng, khu vực và các đối tác lớn.

    Hiện Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên thế giới, quan hệ đối tác chiến lược với 10 nước và quan hệ với nhiều nước khác cũng đang được nâng cấp và làm sâu sắc, thiết thực hơn.

    Thứ hai, là thành viên tích cực, Việt Nam đang thể hiện vai trò là một nước có trách nhiệm và có nhiều đóng góp quan trọng cho tiến trình xây dựng cộng đồng ASEAN. Lần đầu tiên sau 17 năm gia nhập ASEAN, Việt Nam đã đề cử vào chức Tổng thư ký ASEAN cho nhiệm kỳ 2013-2018, thể hiện sự trưởng thành của chúng ta.

    Năm 2008-2009, Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc vai trò UV không thường trực Hội Đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, đã chứng tỏ cho thế giới vai trò một nước Việt Nam hết sức có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.

    Thứ ba, các vấn đề phức tạp nảy sinh trên biển đã được xử lý thỏa đáng một cách hòa bình, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và bảo đảm môi trường hòa bình hợp tác phục vụ phát triển của đất nước, giữ vững hòa bình, ổn định trong khu vực, bảo đảm an ninh, an toàn hàng hải.

    Thứ tư, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu khó khăn, ngoại giao đã tranh thủ tối đa hợp tác quốc tế và các nguồn lực bên ngoài để phục vụ phát triển và khắc phục những khó khăn kinh tế – xã hội trong nước; chúng ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), của 8 hiệp định thương mại tự do song phương.

    Với tinh thần chủ động, tích cực, chúng ta đã tham gia và đang tiến hành đàm phán về Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), khởi động đàm phán hiệp định thương mại tự do (FTA) với một loạt các đối tác quan trọng như EU, Hàn Quốc, khối EFTA, Liên minh thuế quan Nga – Belarus- Kazakhstan.

    Thanh niên là tương lai của mỗi quốc gia. Ông có gửi gắm điều gì đến các bạn trẻ trong việc thực hiện tốt đường lối ngoại giao của Đảng và Nhà nước cũng như nắm bắt thời cơ từ môi trường quốc tế để có những đóng góp thiết thực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc?

    Thanh niên luôn luôn là nền tảng của tương lai. Những người chủ tương lai đó phải có kiến thức rộng lớn, toàn diện, có trí tuệ và bản lĩnh nhưng đồng thời phải kế thừa truyền thống tinh hoa của dân tộc.

    Tôi rất mừng thấy thế hệ thanh niên ngày nay đang phát huy tốt truyền thống yêu nước của dân tộc. Lòng yêu nước đó cần phải được hun đúc bằng trí tuệ và kiến thức cùng nhiệt huyết để nó thể hiện bằng những đóng góp thực tế.

    Cơ hội để tiếp thu những tinh hoa từ môi trường quốc tế thuận lợi là rất lớn. Thế hệ thanh niên cần phải tranh thủ cơ hội học tập để tiếp thu những kiến thức khoa học tiên tiến và văn minh. Tôi tin vào thế hệ trẻ thông minh, ham học, tràn đầy nghị lực và lòng yêu nước, sẽ là những người thực hiện tốt đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

    Xin cảm ơn Bộ trưởng!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lợi Ích Của Việc Áp Dụng Giá Trị Hợp Lý Trong Kế Toán
  • Chia Sẻ Lợi Ích Rừng Từ Vườn Quốc Gia Bạch Mã
  • Tổng Bí Thư: Bảo Đảm Lợi Ích Tối Cao Của Quốc Gia, Dân Tộc
  • Bảo Đảm Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Trên Cơ Sở Luật Pháp Quốc Tế
  • Hiểu Đúng Để Góp Phần Bảo Vệ Lợi Ích Tối Cao Của Quốc Gia
  • “lợi Ích Của Quốc Gia, Dân Tộc Là Tối Thượng”

    --- Bài mới hơn ---

  • Dân Tộc Là Gì ? Các Khái Niệm Về Dân Tộc?
  • Mậu Dịch Quốc Tế Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Mậu Dịch Quốc Tế
  • Mậu Dịch Là Gì? Phân Biệt Hàng Hóa Mậu Dịch Và Phi Mậu Dịch
  • Chương 1: Lý Thuyết Mậu Dịch Quốc Tế Cổ Điển
  • Hàng Phi Mậu Dịch Là Gì? Cẩm Nang Bạn Cần Biết
  • Một trong những sự kiện chính trị hàng đầu của Việt Nam năm 2022 được các cơ quan truyền thông Việt Nam và quốc tế quan tâm là việc 100% đại biểu Quốc hội có mặt tại hội trường Diên Hồng ngày 23-10-2018 đã nhất trí bỏ phiếu kín bầu Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng giữ trọng trách Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng

    1. Trong lịch sử 89 năm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có 12 đời Tổng Bí thư và lịch sử 72 năm của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau này là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với 11 đời Chủ tịch nước, thì đây là lần thứ hai Tổng Bí thư giữ nhiệm vụ Chủ tịch nước. Lần thứ nhất, là từ năm 1954 đến năm 1969, Bác Hồ vừa là Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam vừa là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến lúc Người qua đời. Vào thời điểm ấy, về Đảng, đồng chí Lê Duẩn giữ nhiệm vụ Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Bác Tôn Đức Thắng được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Thời Bác Hồ giữ nhiệm vụ Chủ tịch Đảng đồng thời là Chủ tịch nước trong bối cảnh lịch sử đặc biệt khó khăn. Đất nước bị chia cắt bởi quy định của Hiệp định Genève do các cường quốc áp đặt, vĩ tuyến 17 với con sông Bến Hải trở thành điểm đối đầu của cuộc Chiến tranh Lạnh giữa hai ý thức hệ tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Bác Hồ cùng với Trung ương Đảng, Chính phủ phải ngày đêm lo công tác đối nội, đối ngoại, xây dựng và củng cố miền Bắc xã hội chủ nghĩa; đấu tranh chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Mặc dù, không được vào thăm đồng bào miền Nam, chứng kiến ngày vinh quang trên TP.Hồ Chí Minh nhưng Người luôn là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng chiến đấu anh dũng viết nên những trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc. Giữ vững 5 lời thề trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ sau 6 năm khi Người đi xa, các thế hệ cháu con đã hoàn thành sứ mệnh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, đổi mới và chủ động hội nhập quốc tế, làm cho quốc lực ngày càng lớn mạnh.

    Lần này là lần thứ hai trong lịch sử của Đảng, Nhà nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được quốc dân thông qua Quốc hội tín nhiệm bầu giữ cương vị Chủ tịch nước – nhiệm vụ của người đứng đầu Đảng, Nhà nước lần này cũng hết sức nặng nề. Một mặt, ông phải là người có trách nhiệm cao nhất trong việc giữ vững độc lập, tự do, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia, và mặt khác phải quyết liệt chống tham nhũng – “giặc nội xâm”, đưa đất nước hội nhập, phát triển bền vững, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, phấn đấu làm cho cơ đồ từng bước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

    2. Dưới cờ đỏ sao vàng mang hồn thiêng sông núi, tay phải đặt lên bản Hiến pháp 2013 màu đỏ, tay trái giơ lên cao, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với trang phục vét đen, cà-ra-vát đỏ long trọng tuyên thệ nhận nhiệm vụ Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tuyên thệ nhậm chức Chủ tịch nước

    Sau khi tuyên thệ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước phát biểu: “Xin có một vài ý kiến có tính chất báo cáo thêm với Quốc hội và trình bày đôi chút về tâm tư, tình cảm của mình”. Trong nội dung “đôi chút tâm tư, tình cảm…”, ông trải lòng: “Đây là tâm trạng thật lòng, cũng giống như cách đây 12 năm, tôi nhớ vào ngày 26-6-2006, lúc 16 giờ Quốc hội lúc bấy giờ bầu tôi giữ chức Chủ tịch Quốc hội, tôi cũng vừa mừng vừa lo. Lo vì chưa quen công việc của Quốc hội, nói vui là chưa được làm Chủ tịch Quốc hội bao giờ, rất bỡ ngỡ”.

    Lời chia sẻ của người đứng đầu Nhà nước Việt Nam chứng tỏ ông là một người rất khiêm tốn, khi tân Chủ tịch nước bộc bạch: “trình độ, năng lực, sự hạn chế của tôi rất rõ. Sự hiểu biết là không đáp ứng được yêu cầu, thực tình tôi rất lo… Trong khi đó tuổi tác thì ngày càng lớn rồi. Bác Hồ đã nói rồi, tuổi càng cao sức khỏe càng thấp, điều đó không có gì lạ. Tôi luôn chuẩn bị sẵn tinh thần…”. Rồi ông khiêm cung bày tỏ bằng cách lẩy Kiều: “Nghĩ mình thân mỏng cánh chuồn/ Khuôn xanh có biết vuông tròn mà hay”. Điều này, càng chứng tỏ ông là một người hết sức khiêm tốn, một đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam.

    Nếu như khiêm tốn là biểu hiện qua lời nói, cử chỉ, cách ăn mặc, hành động thiệt tâm… và muốn nhận dạng một người khiêm tốn qua những nội dung ấy, thì Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đều có cả. Đặc biệt, ở ông – một người nói đi đôi với làm, làm cẩn trọng nhưng quyết liệt, làm đến nơi đến chốn và lấy thước đo hiệu quả để chứng minh cho lời nói và việc làm của mình.

    Chẳng hạn như trong lĩnh vực chống tham nhũng – “giặc nội xâm”, ông từng phát đi nhiều thông điệp mạnh mẽ: “Tôi đã nói, nếu ai cảm thấy cản trở, nhụt ý chí thì dẹp sang một bên cho người khác làm”; “cái lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy”; “muốn chống tham nhũng có hiệu quả, trước hết phải chống tham nhũng trong các cơ quan chống tham nhũng”; “phải nhốt quyền lực vào trong cái lồng cơ chế…”. Những thông điệp mạnh mẽ này, được đưa ra đi kèm với những lời nhắc nhở chân tình: “Mỗi người chúng ta cần luôn ghi nhớ trong tâm khảm của mình rằng, lợi ích của quốc gia dân tộc của nhân dân, của Đảng là tối thượng và danh dự là điều thiêng liêng cao quý nhất đối với mỗi con người trước hết là đối với mỗi cán bộ, đảng viên”. Rồi ông còn căn dặn một cách cụ thể: “Bản thân mỗi đồng chí và vợ con phải giữ gìn sự trong sạch, rồi mới chống tham nhũng được. Nếu không nói chẳng ai nghe, tay đã nhúng chàm thì không thể làm gì khác được”. Cùng với những lời khuyên chân thành, ông đã quyết liệt đấu tranh chống giặc nội xâm với hàng loạt cán bộ đương chức hoặc nghỉ hưu thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, như ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Trung ương Đảng, bộ trưởng, thứ trưởng, bí thư, phó bí thư cấp tỉnh, thành phố, cán bộ mang quân hàm cấp tướng… đã bị kỷ luật thỏa đáng hoặc phải ra hầu tòa, lãnh án.

    Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri quận Ba Đình (Hà Nội)

    Những biện pháp cứng rắn đối với “giặc nội xâm” của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã làm giảm nhiệt lượng về sự bức xúc trong xã hội và từng bước khôi phục niềm tin của nhân dân đối với chế độ, được dư luận quốc tế cũng hết sức quan tâm, tin tưởng vào quyết tâm chống tham nhũng của Việt Nam.

    3. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng sinh trước Cách mạng Tháng Tám hơn 1 năm, nên có thể nói ông sớm hít thở không khí độc lập, tự do – dù rất ngắn ngủi. Rồi sau khi lớn lên, tham gia cùng cả nước trong suốt 2 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, hẳn ông rất hiểu chân lý vĩnh cửu mà Bác Hồ đã tổng kết bằng 8 từ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

    Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở ngoại thành Hà Nội, nên tuổi thơ ông không mấy ngọt ngào, nếu không muốn nói là rất gian nan, vất vả. Cô giáo hồi tiểu học của ông từng kể: “Trò Trọng” hằng ngày phải đi bộ qua cánh đồng xa 3km trên con đất rất khó đi, nhất là những ngày mưa dầm, cậu học trò nhỏ phải cố bấm ngón chân xuống đường để cho khỏi ngã. Suốt thời gian học lớp 4, cậu chỉ mặc một bộ quần áo màu nâu, đi chân đất không kể mùa đông hay mùa hè…”.Từ một người học trò nghèo, nhờ nghị lực, tài năng đã đưa ông bước qua giảng đường đại học, trở thành Giáo sư – Tiến sĩ, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương. Từ một đảng viên đến Bí thư Thành ủy Hà Nội, Chủ tịch Quốc hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, ông luôn nhất quán một tấm lòng của người trí thức xuất phát từ công nông đối với vận mệnh của Đảng, của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân.

    Những người một thời cùng học ở Trường đại học tổng hợp Hà Nội cho đến những cộng sự gần gũi và cấp trên của ông đều nhận xét: Ông là một người giàu ý chí, có lý tưởng, tâm huyết, trách nhiệm nhưng có cuộc sống giản dị, khiêm cung, nhân hậu, mẫn tiệp, lịch sự theo phong cách người Tràng An.

    Những phẩm chất ấy kết hợp với sự trải nghiệm thực tiễn sinh động từ thời chiến tranh, thời bao cấp đến thời đổi mới, giúp ông có thái độ, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt theo nguyên tắc nhưng rất bình tĩnh, bao dung, có sức thuyết phục cảm hóa sâu sắc.

    Đặc biệt, là một nhà lý luận của Đảng, chắc hẳn ông là người hiểu hơn ai hết 2 nhiệm vụ chiến lược “Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” trong thời đại mới. Còn nhớ, tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, ông đã lưu ý: “Tạo chuyển biến rõ rệt trong việc thực hiện ba đột phá chiến lược, đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế…”. Rồi trước những thành tựu của 2 năm 2022-2018, ông nhắc nhở: “Tuyệt nhiên không chủ quan, thỏa mãn; không say sưa với thành tích, thắng lợi, bởi đất nước vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Đừng ngủ quên trên vòng nguyệt quế…”.

    Riêng vấn đề bảo vệ Tổ quốc, ông đã từng nói: “Kiên quyết, kiên trì giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”. Nói về vấn đề này, chúng ta còn nhớ hồi giữa năm 2014, khi Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 cùng với 86 tàu khác, trong đó có các tàu mang tên lửa và cả máy bay quân sự vào vùng biển nước ta để khiêu khích, trước tình hình độc lập, chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc bị xâm phạm, lúc đó với tư cách là người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, phải “đứng mũi chịu sào” trước một vấn đề hết sức nóng và đầy nhạy cảm, ông đã xử lý một cách bình tĩnh, khôn khéo nhưng rất kiên quyết cả đối ngoại lẫn đối nội. Cuối cùng, Trung Quốc buộc phải rút giàn khoan cùng các tàu ra khỏi vùng biển nước ta một cách lặng lẽ, trả lại sự bình yên cho ngư dân Việt Nam ra khơi bám biển, giữ vững chủ quyền quốc gia.

    Người ta nói rằng, trong con người trí thức xuất thân từ công nông ấy, tiềm ẩn một quyết tâm phi thường vì nước, vì dân, như ông nói lợi ích của quốc gia dân tộc… là tối thượng.

    Mai Sông Bé

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mang Đến Nhiều Lợi Ích Vật Chất, Tinh Thần Cho Đoàn Viên, Nlđ
  • Về Mối Quan Hệ Giữa Lợi Ích Vật Chất Và Lợi Ích Tinh Thần Trong Sự Phát Triển Của Xã Hội Ta Hiện Nay
  • Lợi Ích Cộng Đồng Là Trên Hết
  • Trách Nhiệm Cá Nhân Và Lợi Ích Cộng Đồng!
  • Quan Điểm Của Hồ Chí Minh Về Giải Quyết Hài Hòa Mối Quan Hệ Giữa Lợi Ích Cách Mạng Và Lợi Ích Cá Nhân
  • Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Là Trên Hết

    --- Bài mới hơn ---

  • Lợi Ích Của Nhân Dân Là Trước Hết Và Trên Hết
  • Lợi Ích Của Nhân Dân Là Trên Hết
  • Mong Chờ Người Đặt Lợi Ích Dân Tộc Trên Hết
  • “đảng Đặt Lợi Ích Giai Cấp Lên Trên Lợi Ích Dân Tộc”
  • Mua Hàng Trả Góp Và Lợi Ích Của Người Tiêu Dùng
  • Ngọc Việt

    03/12/15 14:11

    (GDVN) – Có thể thấy rằng, Tổng thống Thein Sein và các lãnh đạo quân đội Myanmar đã biết đặt lợi ích dân tộc lên trên hết.

    Ngày 2/12, tờ Telegraph của Anh đưa tin, lãnh tụ đảng Liên Đoàn Quốc gia vì Dân chủ Myanmar, bà Aung San Suu Kyi đã có cuộc gặp với Tổng Tư lệnh quân đội Myanmar, Đại tướng Min Aung Hlaing và Tổng thống Myanmar Thein Sein để bàn về việc chuyển giao quyền lực sau bầu cử.

    Bà Aung San Suu Kyi và Tổng Tư lệnh quân đội Myanmar Đại tướng Min Aung Hlaing. Ảnh: AP

    Như vậy, nền dân chủ tại Myanmar đã được nuôi dưỡng dưới thời của chính quyền Tổng thống Thein Sein đã đảm bảo cho một cuộc bầu cử diễn ra suôn sẻ, kết thúc trong hòa bình, và kết quả của nó là chiến thắng lịch sử cho NLD.

    Nay nền dân chủ ấy lại tiếp tục được đảm bảo bởi quân đội, khi quyết định chuyển giao một cách êm thấm quyền lực cho chính phủ chuyển tiếp sau bầu cử.

    Có thể thấy rằng, Tổng thống Thein Sein và các lãnh đạo quân đội Myanmar đã biết đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, nên đã tổ chức thành công cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên từ năm 1960 và quyết định tôn trọng kết quả bầu cử, dù đảng cầm quyền được quân đội hậu thuẫn chịu thất bại nặng nề.

    Cũng cần nhắc lại lại là năm 1990, NLD cũng chiến thắng trong một cuộc tổng tuyển cử nhưng kết quả đã bị chính phủ quân sự lúc đó gạt bỏ, và lãnh tụ NLD Aung San Suu Kyi bị bắt, bị quản thức hơn 20 năm.

    Vì vậy, có thể khẳng định đây là một chiến thắng mang tính quyết định cho nền dân chủ tại Myanmar.

    Có nhiều người lo ngại nền dân chủ tại Myanmar có thể “chết yểu” vì nó làm suy giảm quyền lực của quân đội – lực lượng nắm quyền tại Myanmar mấy thập kỷ nay.

    Nhưng với diễn biến mới nhất này, có thể thấy nền dân chủ ấy đã tiếp tục có sức sống để đảm bảo cho một xã hội dân chủ và tự do tại Myanmar – điều mà người dân Myanmar đã gửi gắm qua cuộc bầu cử vừa qua.

    Tuy nhiên, một điều được nhiều người quan tâm là vai trò và vị thế của bà Aung San Suu Kyi sẽ như thế nào khi Hiến pháp Myanmar có những quy định khiến cho bà không thể trở thành Tổng thống Myanmar, mặc dù NLD của bà giành chiến thắng áp đảo và bà là lãnh tụ đảng.

    Tổng thống Thein Sein và bà Aung San Suu Kyi. Ảnh: AP.

    Cuộc gặp với lãnh đạo quân đội cho thấy, điều lo ngại này có thể được giải quyết sớm hơn, đáp ứng ý nguyện của người dân và cá nhân bà Aung San Suu Kyi.

    Nhưng với 25 phần trăm số ghế Quốc hội dành riêng cho quân đội, họ sẽ có thể phản đối bất kỳ thay đổi nào của Hiến pháp. Tuy nhiên, trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Đại tướng Min Aung Hlaing đã báo hiệu rằng quân đội có thể tạo điều kiện cho các thay đổi Hiến pháp vào những thời điểm cụ thể”.

    “Chúng tôi không cứng nhắc về Hiến pháp, nhưng chúng ta cần tình hình chính trị ổn định và sự phát triển đất nước. Chúng ta cần phải thay đổi dần dần”, ông Min Aung Hlaing nói với tờ The Washington Post.

    Cuộc bầu cử dân chủ diễn ra đã đáp ứng khát vọng của người dân Myanmar là sự đổi thay đất nước, kết quả cuộc bầu cử được chính quyền và quân đội cam kết tôn trọng đã đáp ứng nguyện vọng của người dân Myanmar là tiến trình dân chủ không bị đảo ngược.

    Nay quân đội đảm bảo việc chuyển giao quyền lực một cách hòa bình cho chính phủ chuyển tiếp đã củng cố thêm niềm hy vọng ấy, nguyên tắc dân chủ và tự do sẽ định hình cho mọi sinh hoạt chính trị tại Myanmar.

    Những ý nguyện của người dân Myanmar đã được những người lãnh đạo đất nước tiếp tục lắng nghe và đáp ứng, đã làm tăng thêm hy vọng vào một đất nước Myanmar sẽ hồi sinh và phát triển, làm thay đổi chất lượng cuộc sống cho người dân Myanmar trong tương lai.

    http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Loi-ich-quoc-gia-dan-toc-la-tren-het-post163883.gd

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lợi Ích Dân Tộc Là Trên Hết!
  • Quán Triệt Nguyên Tắc “bảo Đảm Lợi Ích Tối Cao Của Quốc Gia
  • Bà Nguyễn Thị Bình: Đấu Tranh Vì Lợi Ích Tối Cao Của Dân Tộc
  • Tiết 24, Bài 17: Nghĩa Vụ Tôn Trọng, Bảo Vệ Tài Sản Nhà Nước Và Lợi Ích Công Cộng
  • Tại Sao Kiến Rất Đông, Nhưng Cả Tổ Của Chúng Không Bao Giờ Bị Tắc Đường, Còn Con Người Thì Hơi Tí Là Kẹt Mặc Dù Số Lượng Ít Hơn Kiến?
  • Đặt Lợi Ích Quốc Gia Dân Tộc Lên Trên Hết

    --- Bài mới hơn ---

  • 12 Lợi Ích Sức Khỏe Tuyệt Vời Đã Được Chứng Minh Của Quả Bơ
  • 4 Lợi Ích Tuyệt Vời Của Trái Bơ
  • Ăn Bơ Có Tác Dụng Gì? Nên Ăn Thế Nào Để Tốt Cho Sức Khỏe
  • 10 Lợi Ích Của Quả Bơ
  • Tác Dụng Của Quả Bơ Và Những Lưu Ý Khi Ăn
  • Trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, khi nhìn lại 30 năm đổi mới (1986-2016), Đảng ta đã rút ra năm bài học kinh nghiệm, trong đó bài học thứ tư nhấn mạnh “phải đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN”.

    Đây là bài học rất quan trọng, một nội dung mới, được rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn trong 30 năm đổi mới và đưa vào dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc sắp tới. Nhưng hiểu về bài học này như thế nào cho đúng và đầy đủ trong bối cảnh đất nước hiện nay thực sự là vấn đề không đơn giản. Từ góc độ của nhà nghiên cứu về đối ngoại, tôi cho rằng để hiểu đúng, đầy đủ và có thể ứng dụng thành công bài học này trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần nắm vững những nội dung sau:

    Thứ nhất, về nội hàm lợi ích quốc gia – dân tộc của Việt Nam hiện nay. Trước đây, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước, ưu tiên cao nhất và lợi ích cao nhất của Việt Nam lúc đó là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Trong 30 năm đổi mới vừa qua, chúng ta đặt ra hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó nhiệm vụ xây dựng đất nước được ưu tiên đặt lên trên, nhưng về cơ bản lợi ích quốc gia dân tộc của Việt Nam vẫn là bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng và bảo vệ sự ổn định của hệ thống chính trị. Đây là nhân tố bất biến trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực lúc đó không ngừng biến động, các thế lực thù địch thường xuyên có nhiều âm mưu và hành động nhằm thay đổi, chuyển hóa chế độ ở Việt Nam.

    Hiện nay, nội hàm của lợi ích quốc gia dân tộc vẫn bao gồm những yếu tố như trên, nhưng không chỉ có vậy, Việt Nam cũng có lợi ích to lớn trong việc thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đi cùng với tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện. Yếu tố phát triển, nhất là phát triển bền vững, từng bước hội nhập với khu vực và thế giới, được đề cao hơn trước. Đây là khía cạnh mới, ngày càng quan trọng trong tổng thể các lợi ích quốc gia dân tộc của Việt Nam. Nội hàm của khái niệm lợi ích quốc gia dân tộc của Việt Nam hiện nay rộng lớn và phức tạp hơn rất nhiều so với các giai đoạn trước đây. Có thể nói lợi ích quốc gia dân tộc của Việt Nam hiện nay là tổng hòa giữa lợi ích cơ bản và lợi ích phát triển. Lợi ích cơ bản là tiền đề không thể thiếu để hiện thực hóa lợi ích phát triển. Còn lợi ích phát triển sẽ góp phần củng cố vững chắc hơn lợi ích cơ bản.

    Thứ hai, riêng trong công tác đối ngoại, lợi ích quốc gia dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối ngoại của Việt Nam hiện nay. Lợi ích quốc gia dân tộc đang và sẽ là kim chỉ nam cho chính sách đối ngoại của Việt Nam. Suy cho cùng, chính sách đối ngoại là sự kéo dài của chính sách đối nội, phục vụ các mục tiêu bên trong của mỗi quốc gia dân tộc. Với Việt Nam, đó là an ninh, phát triển và vị thế quốc tế ở khu vực và trên thế giới.

    Nhiệm vụ của công tác đối ngoại đã được xác định rất rõ: Một là, góp phần duy trì và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định ở bên ngoài để tạo thuận lợi cho tiến trình phát triển trong nước. Hai là, không ngừng nâng cao vị thế đất nước, góp phần xây dựng thế giới ngày càng tiến bộ hơn, công bằng và dân chủ hơn. Ba là, tranh thủ mọi điều kiện quốc tế thuận lợi để đưa đất nước tiến lên, từ vốn, kinh nghiệm quản lý, khoa học công nghệ, thị trường, viện trợ… Đó chính là tranh thủ và kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại.

    Nhìn lại 30 năm đổi mới vừa qua, chính nhờ đi đúng xu thế của thế giới, tranh thủ tốt các sức mạnh từ bên ngoài, công cuộc đổi mới của đất nước ngày càng đạt được nhiều thành tựu to lớn. Trong những năm tới, tình hình sẽ còn diễn biến rất phức tạp, nhiều nguy cơ và thách thức to lớn đặt ra, đòi hỏi chúng ta phải kiên định hơn nữa con đường đi lên CNXH của Đảng, của đất nước, kiên định độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia dân tộc để xử lý thành công các quan hệ đối ngoại rất phức tạp, nhất là với các nước lớn.

    Thứ ba, tình hình thế giới và khu vực hiện nay không ngừng diễn biến phức tạp và rất khó lường. Tiến trình toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc với sự đan xen phức tạp về lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ quốc tế. Trong đối tác có đối tượng, trong đối tượng có đối tác. Tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế ngày nay diễn ra rất linh hoạt, thay đổi rất nhanh chóng. Vai trò của yếu tố ý thức hệ ngày càng giảm. Lợi ích quốc gia dân tộc là tối cao. Việc xử lý hài hòa lợi ích của các bên tham gia cuộc chơi là điều kiện đảm bảo thành công của hợp tác. Hợp tác và đấu tranh đan xen, tạo thành sự tùy thuộc lẫn nhau vô cùng sâu sắc. Sự phát triển của các vấn đề toàn cầu như ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, nước biển dâng, biến đổi khí hậu… đã buộc tất cả các quốc gia phải hợp tác để giải quyết.

    Trong bối cảnh đó, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác lớn, các nước quan trọng. Chủ trương xây dựng các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Trong thế giới ngày nay, các quốc gia không thể tùy tiện sử dụng vũ lực, mà phải căn cứ vào luật pháp và chuẩn mực quốc tế. Do vậy, chủ động, tích cực đẩy mạnh tiến trình hội nhập quốc tế chính là cách tốt nhất để chúng ta vừa xây dựng đất nước, vừa bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

    Cuối cùng, việc nêu bật bài học về đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết cũng chuyển đi thông điệp mạnh mẽ về đoàn kết dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới. Với hàng chục FTA đã và đang được ký kết, triển khai, Việt Nam được dự báo trong những năm tới sẽ có nhiều biến đổi sâu sắc. Việt Nam sẽ ngày càng cởi mở hơn, phát triển hơn, hội nhập hơn với các chuẩn mực và hệ thống kinh tế, xã hội, pháp lý… trên thế giới, nhưng cũng đa dạng và phức tạp hơn. Thách thức sẽ đi liền với cơ hội. Mỗi chủ thể trong xã hội, từ chính quyền tới các doanh nghiệp và các đoàn thể xã hội và các địa phương cần quán triệt sâu sắc bài học đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, biết đoàn kết, biết đặt cái chung lên trên cái riêng, thì dân tộc Việt Nam nhất định sẽ thành công, tiến trình hội nhập quốc tế nhất định sẽ thắng lợi.

    TS. Trần Việt Thái

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Lợi Ích Quốc Gia Dân Tộc
  • Tổng Bí Thư: “bảo Vệ Lợi Ích Quốc Gia
  • Từ Khát Vọng Dân Tộc Đến Tầm Nhìn 100 Năm Của Đảng: Sự Hội Tụ Của Ý Đảng
  • Lợi Ích Của Quốc Gia, Dân Tộc, Của Nhân Dân, Của Đảng Là Tối Thượng
  • Bảo Đảm Lợi Ích Quốc Gia
  • Lợi Ích Quốc Gia Và Dân Tộc Là Trên Hết!

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Đồng Tiền Cho Bản Thân, Họ Đã Quên Đi Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc
  • Vì Lợi Ích Quốc Gia, Bỏ Qua Mọi Hiềm Khích
  • Argentina Cải Tổ Hệ Thống Tình Báo Vì Lợi Ích Quốc Gia
  • Tổng Thống Trump Tuyên Bố Lý Do Không Kích Syria Của Mỹ
  • Nguyễn Quang A: Đi Ngược Lợi Ích Quốc Gia
  • Những ngày tháng 4 lịch sử, Bà Rịa – Vũng Tàu cùng cả nước tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 43 năm ngày Đại thắng 30-4, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, non sông liền một giải. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, tạc vào lịch sử Việt Nam thêm một mốc son chói lọi, tô thắm truyền thống hào hùng của một dân tộc “không bao giờ cúi đầu” trước sự xâm lược của ngoại bang. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước toàn thắng, đất nước ta hưởng trọn niềm vui độc lập dân tộc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế càng được nâng cao.

    Tháng 4 lịch sử hôm nay, tại Khu chuồng cọp nhà tù Côn Đảo, Chiến khu Minh Đạm, địa đạo Long Phước, Bến tàu không số Lộc An, Khu tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu… và các địa chỉ đỏ khác của Bà Rịa – Vũng Tàu, hàng ngàn đoàn viên thanh viên, học sinh trong và ngoài tỉnh, nhiều đoàn du khách tổ chức nhiều hoạt động “uống nước nhớ nguồn” thiết thực, nhiều ý nghĩa. Hơn lúc nào hết, thế hệ trẻ hôm nay càng phải được giáo dục truyền thống anh hùng của thế hệ cha ông đã đổ bao nhiêu xương máu để giành và giữ độc lập của dân tộc. Vẫn còn đó bao huyền thoại, nhiều câu hỏi và lời giải về lịch sử hào hùng của dân tộc cần được khẳng định và tri ân, gìn giữ, học tập và lan tỏa, khắc cốt ghi tâm.

    Ngày nay, tình hình thế giới còn nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Vì những toan tính lợi ích, các nước lớn thay đổi chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh vào cục diện thế giới và các khu vực. Việt Nam kiên định quan điểm độc lập, tự chủ, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ chính trị và an ninh đất nước, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế.

    Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã kết thúc và lùi xa 43 năm, nhưng hôm nay những bài học chiến thắng rất sống động ấy vẫn mang đậm tính thời sự nóng hổi. Một đất nước đã và đang hồi sinh nhanh chóng từ đống tro tàn hủy diệt và đổ nát của chiến tranh đang phải đối mặt và vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, vững bước đi lên xây dựng cuộc sống mới – sớm đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại – dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Cùng với cả nước, BR-VT phát huy truyền thống anh hùng, năng động sáng tạo, đồng lòng đồng sức xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp.

    HẢI VÂN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gd Hn: St Kinh Tế Quốc Tế
  • Mỹ Có Lợi Ích Quốc Gia Ở Biển Đông?
  • Trường Đạt Chuẩn Quốc Gia: Học Sinh Thụ Hưởng Nhiều Lợi Ích
  • Học Tiếng Đức Có Lợi Ích Gì
  • Cơ Chế Một Cửa Quốc Gia Và Cơ Chế Một Cửa Asean Có Lợi Ích Gì
  • Đặt Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Lên Trên Hết

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Quyền Lợi Quốc Gia Trên Hết
  • Tổng Bí Thư: ‘bảo Vệ Lợi Ích Tối Cao Của Quốc Gia
  • Đảng Cộng Sản Việt Nam Đề Cao Tối Đa Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Trong Hợp Tác Quốc Tế
  • Trước Thềm Đại Hội Đảng Xii: Bảo Đảm Lợi Ích Tối Cao Của Quốc Gia
  • Công Chiếu Phim Tài Liệu “chiến Tranh Việt Nam: Lợi Ích Quốc Gia
  • (Thanhuytphcm.vn) – Hiện tại, trên một số diễn đàn, trang mạng xã hội, các phần tử quá khích đang tích cực kêu gọi người dân xuống đường, tụ tập đông người vào các ngày nghỉ cuối tuần, nhằm gây rối làm mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, cản trở giao thông, tạo sự bất ổn đến cuộc sống, sinh hoạt thường ngày của người dân.

    Đây là thủ đoạn hết sức nguy hiểm của các thế lực thù địch nhằm kích động, chia rẽ tinh thần đoàn kết của dân tộc ta. Chúng lợi dụng sự mất cảnh giác của người dân để dụ dỗ hòng “mượn tay” gây rối, phá hoại, gây tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, tổn hại đến sự phát triển của đất nước.

    Với nhiều chiêu trò, những kẻ phản động lợi dụng các diễn đàn, mạng xã hội để kêu gọi, cho tiền những ai đồng ý thực hiện hành vi xuống đường cầm băng rôn phản đối gây mất trật tự, hay trực tiếp dùng lời lẽ xuyên tạc để lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin, thiếu hiểu biết, hoặc giở thủ đoạn đánh vào tâm lý những người có thu nhập thấp, có cuộc sống khó khăn để lừa gạt… Kết quả, chính những người bị lôi kéo, dụ dỗ sẽ chịu thiệt hại nặng nề nhất về mặt thể chất, tinh thần, ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình, xã hội.

    Vì vậy, người dân cần phải bình tĩnh, không nghe theo sự xúi giục, dụ dỗ của các thế lực phản động để thực hiện hành vi phạm pháp, hãy thể hiện lòng yêu nước một cách chân chính, hãy kêu gọi mọi người cùng nhau lên án những hành vi phạm pháp, phá hoại của kẻ xấu. Người yêu nước thật sự phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên tất cả. Những hành động sai trái sẽ bị nghiêm trị trước pháp luật.

    Trước đó, vào các ngày 15 và 20/6/2018, Cơ quan CSĐT Công an TPHCM đã ra quyết định khởi tố, bắt tạm giam hai đối tượng để điều tra về hành vi gây rối trật tự an toàn xã hội. Tiếp theo sau đó vào ngày 20/6, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Bình Thuận đã ra quyết định khởi tố bị can đối với 8 đối tượng gây rối trật tự công cộng, hủy hoại tài sản và chống người thi hành công vụ xảy ra tại UBND tỉnh Bình Thuận vào tối ngày 10/6/2018 gây hậu quả nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra, các đối tượng này đã thừa nhận bị xúi giục, bị dụ dỗ để thực hiện những hành vi phạm pháp của mình và mong xã hội tha thứ.

    Như vậy, để đập tan âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, mỗi người dân chúng ta hãy phát huy lòng yêu nước của mình, bình tĩnh, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Đặt trách nhiệm với Tổ quốc lên trên hết để không có những hành vi làm tổn hại đến sự bình yên, ổn định và phát triển đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trước Thềm Đh Đảng Xii: Đặt Lợi Ích Quốc Gia
  • Thủ Tướng: Phải Đặt Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Lên Trên Hết
  • Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Là Bất Biến
  • Lợi Ích Của Việc Áp Dụng Giá Trị Hợp Lý Trong Kế Toán
  • Chia Sẻ Lợi Ích Rừng Từ Vườn Quốc Gia Bạch Mã
  • Phải Đặt Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Lên Trên Hết

    --- Bài mới hơn ---

  • Phải Đặt Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc, Của Đất Nước, Của Đảng, Của Nhân Dân Lên Trên Hết
  • Đổi Mới Phải Đặt Lợi Ích Quốc Gia
  • Cơ Sở Dữ Liệu Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Dữ Liệu Trong Lập Trình
  • Hệ Thống Cơ Sở Dữ Liệu Doanh Nghiệp Và Những Lợi Ích Không Tưởng
  • Cơ Sở Dữ Liệu Và Tầm Quan Trọng Trong Quản Lý Doanh Nghiệp
  • Từng thành viên Chính phủ, lãnh đạo các địa phương phải nỗ lực, quyết liệt hơn nữa, thể hiện tinh thần trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân.

    Tại cuộc họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 8, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng đã thông tin sơ bộ về các kết quả nổi bật 8 tháng đầu năm, chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại phiên họp Chính phủ thường kỳ.

    Theo đó, các thành viên Chính phủ thống nhất đánh giá, tình hình KT-XH tháng 8 và 8 tháng đầu năm của nước ta tiếp tục xu hướng tích cực; các ngành, lĩnh vực đều phát triển ổn định; môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện, năng lực cạnh tranh quốc gia được nâng lên.

    Có thể khẳng định chắc chắn sẽ đạt cận cao của mục tiêu phấn đấu năm nay (mục tiêu tăng trưởng Quốc hội giao năm 2022 là 6,6-6,8%).

    Một số kết quả nổi bật về kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh trong 8 tháng năm 2022.

    Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2022 tăng 2,57% so với cùng kỳ, đây là mức tăng bình quân 8 tháng thấp nhất trong 3 năm gần đây (mặc dù trong tháng, giá dịch vụ y tế, giáo dục được điều chỉnh tăng theo lộ trình nhằm tiệm cận với giá thị trường và giá thịt lợn tiếp tục tăng).

    Sản xuất thủy sản tiếp tục phát triển khá cả nuôi trồng và khai thác (đàn gia cầm tăng 10%; sản lượng gỗ khai thác tăng 4,3%; sản lượng thủy sản tăng 5,4%).

    Sản xuất công nghiệp đạt mức tăng khá 9,5%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,6%; đặc biệt trong tháng 8/2019, ngành khai khoáng tăng mạnh (IIP khai khoáng tăng 14,4%); sản xuất và phân phối điện bảo đảm cung cấp đủ điện cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân.

    Giải ngân vốn FDI tăng khá, đạt 12 tỷ USD, tăng 6,3%. Giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 9,51 tỷ USD, tăng 80%.

    Số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tiếp tục tăng. Có 90.500 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 3,1% về số doanh nghiệp và tăng 31% về vốn đăng ký. Có 25.500 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 21,8%.

    Thu ngân sách Nhà nước đạt khá; các khoản thu nội địa đạt khá, cao hơn mức bình quân chung (thu ngân sách Trung ương đạt 66% dự toán, thu từ dầu thô đạt 81,3%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 74,6%); chi ngân sách tiếp tục bảo đảm đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi trả nợ, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hoạt động của bộ máy Nhà nước.

    Thu ngân sách tăng khá thể hiện thực lực của nền kinh tế nước ta, đặc biệt là thu ngân sách Trung ương tăng vượt dự toán liên tiếp trong 3 năm.

    Cầu nội địa tiếp tục tăng khá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng năm 2022 vẫn tiếp tục tăng ở mức cao, tăng 11,5%(nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,03%). Khách quốc tế tiếp tục đà tăng cao đạt 11,3 triệu lượt khách quốc tế.

    Trong bối cảnh thương mại toàn cầu sụt giảm, kim ngạch xuất nhập khẩu nước ta tăng khá, đặc biệt xuất siêu tăng mạnh, đạt 3,4 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu đạt gần 170 tỷ USD, tăng 7,3%;…

    Các lĩnh vực về văn hoá, xã hội tiếp tục được quan tâm. Tổ chức trang trọng, ý nghĩa các sự kiện nhân kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Đặc biệt, quốc phòng an ninh được bảo đảm, tình hình diễn biến phức tạp nhưng chúng ta rất cương quyết, các lực lượng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng nhiều biện pháp với các hoạt động vi phạm chủ quyền Việt Nam.

    Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cũng nêu lên các vấn đề thách thức, khó khăn trong thời gian tới được Thủ tướng Chính phủ chỉ ra tại phiên họp Chính phủ thường kỳ.

    Kết luận phiên họp Chính phủ thường kỳ, Thủ tướng nêu rõ quan điểm chỉ đạo của Chính phủ là phải kiên định thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đề ra, chỉ bàn tiến không bàn lùi, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết; làm việc gì cũng phải nghĩ đến đất nước, đến nhân dân trước; phát huy lòng tự hào dân tộc, tính sáng tạo, chung sức, đồng lòng nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức.

    Cần nghiêm túc thực hiện phương châm “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”, chỉ đạo thực hiện quyết liệt, chất lượng, hiệu quả hơn nữa các Nghị quyết số 01, 02.

    Chúng ta phải quyết tâm hành động, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, nói đi đôi với làm và quyết liệt hơn; tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa và quyết tâm phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch 2022; tạo điều kiện thuận lợi cho hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 2022-2020.

    Chính phủ dự kiến các chỉ tiêu vĩ mô năm 2022 đều đạt và vượt kế hoạch. Nhưng chúng ta cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, còn những mặt hạn chế, yếu kém và còn nhiều khó khăn, thách thức phải tập trung xử lý, giải quyết.

    Thời gian từ nay đến cuối năm chỉ còn 4 tháng; để đạt được các mục tiêu kế hoạch năm 2022, Chính phủ yêu cầu các bộ ngành, địa phương không được lơ là, chủ quan; tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra.

    Đỗ Thơm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 10 Lợi Ích Tốt Nhất Của Nước Ép Xoài
  • Mnc Là Gì ? 10 Công Ty Đa Quốc Gia Nổi Tiếng Ở Việt Nam
  • Công Ty Đa Quốc Gia Là Gì? Mnc Và Những Cần Biết Về Mnc
  • Công Ty Đa Quốc Gia (Multinational Corporations)
  • Khái Quát Về Công Ty Đa Quốc Gia
  • Phải Đặt Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Lên Trên Hết!

    --- Bài mới hơn ---

  • Lợi Ích Của Quốc Gia, Của Dân Tộc Luôn Thống Nhất Với Lợi Ích Của Đảng
  • Đại Hội Xii Của Đảng: Việt Nam Là Hình Mẫu Bảo Vệ Lợi Ích Quốc Gia
  • Điều Kiện Để Đảm Bảo Lợi Ích Và An Ninh Quốc Gia
  • Ngoại Giao Văn Hóa Việt Nam: Hội Nhập Quốc Tế Và Lợi Ích Quốc Gia
  • Thu Hồi Đất Để Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Vì Lợi Ích Quốc Gia Công Cộng
  • (ĐCSVN) – Tổng kết 30 năm đổi mới, dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XII đã nêu lên 5 bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó có bài học thứ tư : “… phải đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

    Đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết là đúng đắn và cần thiết để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

    – Vấn đề dân tộc và giai cấp luôn luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau, giải quyết tốt mối quan hệ này mang lại những thắng lợi bền vững cho sự nghiệp cách mạng. Trong lịch sử phong trào cộng sản trên thế giới, các tư tưởng tả khuynh, tuyệt đối hóa quan điểm giai cấp, chỉ mang lại những kết quả tức thời, không bền vững và để lại nhưng hậu quả nặng nề, khó khắc phục. Ngay trong điều kiện đối đầu hai cực từ năm 1949 đến năm 1991, khi sự đồng nhất về ý thức hệ là nhân tố gắn kết các nước xã hội chủ nghĩa lại với nhau, vấn đề dân tộc trong mỗi quốc gia và lợi ích quốc gia dân tộc trong quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa vẫn là một yêu tố rất quan trọng, là nguyên nhân của những mâu thuẫn, bất hòa, xung đột, trừng phạt, thậm chí chiến tranh giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Điều này càng thấy rõ hơn, cụ thể hơn sau khi Liên Xô tan rã, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ. Các nước có chế độ chính trị khác nhau vừa đấu tranh, vừa hợp tác. Lợi ích quốc gia dân tộc nổi trội lên, tuy không phải là duy nhất, nhưng là cơ sở quan trọng nhất để các quốc gia xác định mối quan hệ hợp tác và đấu tranh. Đó là điểm nổi bật trong chính sách đối ngoại của các quốc gia, dân tộc trên thế giới ngày nay.

    Trong điều kiện kinh tế thị trường, sự bình đẳng giữa các giai cấp, tầng lớp,

    dân tộc, phải được quán triệt trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,

    đặc biệt trong giai đoạn hiện nay là trong lĩnh vực kinh tế. (Ảnh: Báo HNM)

    Đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết không phải là bỏ qua chủ nghĩa quốc tế vô sản, bỏ qua trách nhiệm quốc tế vì sự tiến bộ và phát triển của tất cả các dân tộc. Cần xác định rõ rằng, ngày nay, mọi việc làm vì tiến bộ và phát triển chung của nhân loại đều làm cho nhân loại tiến gần hơn đến chủ nghĩa xã hội. Đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết đồng thời với tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, mong muốn là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong quan hệ quốc tế vì độc lập, hòa bình và tiến bộ là làm tốt nghĩa vụ quốc tế của dân tộc Việt Nam.

    – Mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên, lên trước trong cách mạng Việt Nam đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giải quyết ngay từ đầu, trong quá trình vận động thành lập Đảng và lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập. Tiếp thu, vận dụng sáng tạo các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn phương Đông, vào phong trào giải phóng dân tộc, vào Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò đại đoàn kết toàn dân tộc, khi khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp phong trào yêu nước, phong trào công nhân và chủ nghĩa Mác – Lênin. Người vạch ra đường lối cách mạng Việt Nam là “trước làm cách mạng quốc gia, sau làm cách mạng thế giới”, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên, lên trước… Thực tế cách mạng Việt Nam từ khi thành lập đến nay đã khẳng định: giải quyết tốt quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong đường lối chiến lược cách mạng, đặt vấn đề dân tộc lên trên, lên trước là nguyên nhân thành công của cách mạng ở Việt Nam và thế giới.

    – Đối với nước ta hiện nay, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết có ý nghĩa rất thiết thực, là cơ sở cho sự ổn định, phát triển và tạo nên nguồn lực to lớn cho công cuộc đổi mới. Trong thực tiễn biến đổi của quan hệ giữa các nước trên thế giới sau khi Liên Xô ta rã đã khẳng định sức mạnh to lớn nhất, nguồn lực chủ yếu nhất để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay là sức mạnh toàn dân tộc. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là rất cần thiết để tạo nên nguồn lực to lớn đó. Mặt khác, trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần, hội nhập quốc tế, chỉ có lợi ích quốc gia – dân tộc mới là tiêu điểm chung để đoàn kết tất cả các giai cấp, tầng lớp của dân tộc Việt Nam trong và ngoài nước vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

    – Rút ra được bài học đúng đắn là quan trọng trong tổng kết thực tiễn, nhưng điều cần thiết hơn là vận dụng cho được các bài học trong hoạch định, tổ chức và thực hiện đường lối đổi mới. Đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết đầu tiên phải thể hiện rõ mục tiêu phát triển dân tộc trong đường lối phát triển. Mục tiêu phát triển dân tộc quy định mọi chủ trương, đường lối, chính sách phải vì lợi ích chung của toàn dân tộc, đảm bảo lợi ích chính đáng của mỗi cộng đồng dân tộc, của mỗi người dân. Trong điều kiện kinh tế thị trường, sự bình đẳng giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc phải được quán triệt trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay là trong lĩnh vực kinh tế. Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần kinh tế, phải đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, bình đẳng trong khai thác và sử dụng các tài nguyên, trong sự thụ hưởng những thành quả đạt được…Đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết cần có những biện pháp rõ ràng và kiên quyết để đấu tranh với “lợi ích nhóm”, một tệ nạn đang vận động rất phức tạp, là yếu tố hàng đầu đe dọa đến sự đoàn kết thống nhất của dân tộc, mục tiêu cao nhất của đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết hiện nay./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặt Lợi Ích Quốc Gia Dân Tộc Lên Trên Hết Là Đúng Đắn Và Cần Thiết
  • Bàn Về Trách Nhiệm Của Quốc Gia Trong Quan Hệ Quốc Tế
  • 30 Đoạn Luận Văn Mẫu Tiếng Anh Hay Luyện Thi Thpt Quốc Gia
  • 8 Lợi Ích Chính Của Việc Học Tiếng Anh Mang Lại
  • Không Có Kẻ Thù Hay Đồng Minh Vĩnh Viễn.
  • Khái Niệm Quyền Lợi Quốc Gia Trên Hết

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Bí Thư: ‘bảo Vệ Lợi Ích Tối Cao Của Quốc Gia
  • Đảng Cộng Sản Việt Nam Đề Cao Tối Đa Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Trong Hợp Tác Quốc Tế
  • Trước Thềm Đại Hội Đảng Xii: Bảo Đảm Lợi Ích Tối Cao Của Quốc Gia
  • Công Chiếu Phim Tài Liệu “chiến Tranh Việt Nam: Lợi Ích Quốc Gia
  • Công Chiếu Phim Tài Liệu Về Quan Hệ Việt Nam
  • – Bài viết này là 1 cố gắng, nhằm tìm hiểu khái niệm Lợi ích

    quốc gia tối thượng của dân tộcViệt Nam trong một số bản tuyên ngôn nổi tiếng

    của Việt Nam. Góp một ý nhỏ, chứng minh rằng Chủ nghĩa cộng sản không phù hợp

    với dân tộc Việt Nam…

    Một quốc gia hiện đại được gọi là độc lập, nếu quốc gia ấy có khả năng

    bảo vệ Lợi ích quốc gia tối thượng của mình. Ngược lại, nếu quốc gia này không

    có khả năng bảo vệ Lợi ích quốc gia tối thượng của mình, thì bị gọi là lệ thuộc,

    thuộc địa, phiên quốc, chư hầu,… tùy từng mức độ.

    Lợi ích quốc gia tối thượng trước hết là một khái niệm lợi ích tổng quát,

    chứa đựng lợi ích chung nhất cho mọi thành phần dân tộc sống trong quốc gia này.

    Mọi công dân đều nhìn thấy trong Lợi ích quốc gia tối thượng, có lợi ích riêng

    cho cá nhân mình, lại có lợi ích chung cho cả cộng đồng địa phương, cũng như

    toàn quốc. Lợi ích này là cao nhất, nếu nó bị xâm phạm, lập tức ảnh hưởng đến

    quyền lợi của từng công dân tới mức, những công dân này sẵn sàng hi sinh cả tính

    mệnh của mình để bảo vệ Lợi ích tối thượng này.

    Khái niệm Lợi ích quốc tối thượng được hình thành dần dần theo chiều dài

    lịch sử dựng nước của một quốc gia. Nó phụ thuộc vào dân số,văn hóa, phong tục,

    tập quán… đến cả vị trí địa lý, khí hậu, phong thổ… Quan niệm về Lợi ích

    quốc gia tối thượng của từng quốc gia có khác nhau trong chi tiết cụ

    thể.

    Thí dụ về việc bảo vệ công dân của mình.

    Hoa Kỳ là quốc gia trẻ. Để hàn gắn những người dân từ khắp thế giới đến

    Hoa Kỳ, mà vẫn tự hào là công dân của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, chính phủ Hoa Kỳ

    đặc biệt coi trọng bảo vệ các công dân mình trên toàn thế giới. Nhiều khi chỉ để

    cứu 1 nhà báo, 1 người du lịch Mỹ…, chính phủ Mỹ có thể chi rất nhiều tiền,

    hay dùng uy tín của ngay cả các cựu Tổng thống Hoa Kỳ, vào việc giải cứu các

    công dân này.

    Con người không thuộc về phạm trù Lợi ích quốc gia tối thượng của Trung

    Quốc.

    1. Lợi ích quốc gia tối thượng theo cách hiểu của Dân tộc Việt

    Nam.

    Theo hiểu biết đại chúng thì bản tuyên ngôn độc lập này, được tuyên bố

    trong một tình huống đặc biệt: cuộc chiến của Việt Nam chống xâm lược nhà Tống

    đang đến hồi quyết liệt. Bản tuyên ngôn bất hủ của dân tộc Việt Nam ra đời trên

    chiến lũy sông Như Nguyệt, một con hào tự nhiên của địa lý Việt Nam, được Thái

    úy Lý Thường Kiệt lợi dụng, xây dựng thành phòng tuyến chống ngoại

    xâm.

    Tuyệt nhiên phận định tại Thiên Thư,

    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm.

    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”

    Bài thơ đã nêu ra khái niệm về Lợi ích quốc gia tối thượng của dân tộc

    Việt Nam.

    Thứ nhất Lợi ích quốc gia tối thượng này bao gồm khái niệm về Biên cương,

    Lãnh thổ: “Nam Quốc” gồm có Sơn và Hà. Sông và núi này không phải là bất kỳ, đây

    là sông và núi đã được đánh dấu, đã được Thiên Thư trao rõ ràng cho người Việt

    Nam. Đây là một điều khoản của luật trời. Điều khoản này qui định là Sơn, Hà của

    Việt Nam là do Vua việt nam cai quản. Biên cương, lãnh thổ Việt Nam là bất khả

    xâm phạm. Kẻ nào xâm phạm tất chuốc lấy diệt vong. Ở dạng sơ khai cơ bản ban

    đầu, Lợi ích quốc gia tối thượng đã được danh tướng Lý Thường Kiệt thể hiện qua

    nội dung cơ bản đầu tiên:

    (i) Đấy là tính bất khả xâm phạm của biên cương, lãnh thổ

    Việt Nam. Đấy là đất nước của người Việt, có vua Việt Nam

    ở.

    Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi được đánh giá là bản Tuyên ngôn độc lập của

    Việt Nam sau khi đánh đuổi thành công giặc Minh ra khỏi bờ cõi.

    Mở đầu Cáo bình Ngô, Nguyễn Trãi viết:

    “Thay trời hành hóa, hoàng thượng chiếu rằng,

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;

    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,

    Phong tục Bắc Nam cũng khác;

    Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập;

    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên hùng cứ một

    phương;….”

    Lợi ích quốc gia tối thượng theo cách hiểu của Cáo bình

    Ngô,

    (ii) Trước hết là đạo trị quốc bằng nhân nghĩa việt nam “cốt

    ở yên dân”. Đạo trị quốc này phải được thực thi trong quốc gia Việt Nam có “Núi

    sông bờ cõi đã chia” với Trung Quốc..

    (iii) Quốc gia này là tổ hợp hữu cơ của các khái niêm địa lý

    (như núi, sông, bờ cõi, lãnh hải…), các giá trị tinh thần (như văn hiến, phong

    tục tập quán…), các truyền thống về lịch sử dựng nước (như các triều đại…),

    các nhân tài của đất nước (Hào kiệt), những người dân bình thường của quốc gia

    (dân đen, con đỏ, thương sinh, phu phen…)

    Như vậy ở giai đoạn lịch sử Nhà Lê (1428), Lợi ích quốc gia tối thượng đã

    có nội dung trừu tượng hơn.

    Đấy vẫn là một quốc gia có núi, sông, bờ cõi đã chia rạch ròi với Phương

    Bắc, mà phong tục tập quán lại càng khác.

    Lợi ích quốc gia tối thượng Việt Nam đòi hỏi rằng ngoài việc giữ tính bất

    khả xâm phạm của Việt Nam, về đối nội, trong quốc gia Việt Nam, nhân nghĩa phải

    được tực thi, an dân phải là quan tâm số 1. Về đối ngoại thì “Cùng Hán Đường,

    mỗi bên hùng cứ một phương”, không một chút tự ti, mà rất tự hào vì biết

    rằng:

    “Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

    Song hào kiệt đời nào cũng có”.

    Mở đầu bản tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

    “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những

    quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống,

    quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

    Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng

    nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn

    được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

    Ông Hồ Chí Minh còn nói: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của

    Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống

    phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! dân tộc đó phải được độc

    lập!

    Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một

    nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực

    lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập

    ấy.”

    (iiii) Độc lập, tự do là những giá trị không những được các

    dân tộc Anh, Pháp tôn trọng mà còn là giá trị quốc gia tối thượng của Việt Nam.”

    Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và

    của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.”

    2. Chủ nghĩa Mác-Lênin với cội gốc dân tộc Do

    Thái.

    2.1. Đặc trưng cơ bản của ước mơ Do Thái và ước mơ của C.Mác,

    Lênin.

    Chúa Jesus đã là một người tự xưng như thế, và phát biểu Kinh Tân

    ước.

    C.Mác và Lênin cũng mang trong mình niềm tin ấy.

    Sự thành công của Kitô giáo đã khuyến khích C.Mác và Lênin phát triển học

    thuyết cộng sản mạnh mẽ trên toàn thế giới.

    2.2. Chủ nghĩa Mác-Lênin hoàn toàn xa lạ với người Việt

    Nam.

    2.3. Chủ nghĩa Mác-Lênin không hợp với qui luật tự

    nhiên.

    Ta hãy theo dõi lập luận của Mác, Lênin.

    Nghĩa là mỗi cá nhân, mỗi con người không có gì hết ngoài những phương

    tiện tối thiểu đảm bảo cuộc sống để tồn tại sinh vật.

    Cái sai lầm cơ bản của lý thuyết Mác -Lênin là câu chuyện chuyển từ tư

    hữu sang công hữu.

    Tư hữu là luật trời. Tôi gọi là thiên luật.

    Vậy sở hữu cái ” thức ăn” mà nó vừa kiếm được là thiên

    luật.

    Ở đây tôi xin hoàn thiện mệnh đề: “Con người là sản phẩm của hoàn cảnh

    xã hội” bằng mệnh đề sau: “Con người là sản phẩm của di truyền và hoàn

    cảnh xã hội “. Mác và Lê nin đã không chú ý thích đáng đến cá thể và quên

    tính di truyền.

    Dùng công hữu là đối kháng triệt để tư hữu, là chống lại thiên

    luật.

    Những tham nhũng đại trà ở VN đã chứng tỏ sự thất bại của việc giáo dục

    công hữu cho con người, đã chứng tỏ tư hữu mạnh hơn công hữu.

    Lý thuyết Mác-Lênin bị phá sản ở VN chỉ là vấn đề thời

    gian.

    Nó đã bị chính Liên xô đào thải sau gần 70 năm đưa vào thực

    tế.

    3. Đảng cộng sản Việt Nam không bảo vệ được lợi ích quốc gia tối

    thượng của dân tộc Việt Nam.

    Là lực lượng nòng cốt của Việt Minh, Đảng cộng sản Việt Nam đã cướp công

    lao của dân tộc Việt Nam, chiếm đoạt quyền lãnh đạo và loại dần các lực lượng

    yêu nước khác tham gia Việt Minh. Sau khi Đảng cộng sản Trung Quốc chiếm toàn bộ

    lục địa, sự câu kết của Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng cộng sản Trung Quốc càng

    thêm chặt chẽ. Đảng cộng sản Việt Nam đã dựa vào viện trợ của Trung Quốc để thực

    hiện các mưu đồ chiến lược của mình. Họ đã lệ thuộc vào Trung

    Quốc.

    Cải cách ruộng đất với sự tàn sát người nông dân Việt Nam đã trở thành

    khủng bố kiểu Trung Quốc, đã gây xáo trộn xã hội ở mức cao nhất.

    Công hàm 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và việc để mất Hoàng Sa,

    Trường Sa là tội lớn của Đảng cộng sản Việt Nam.

    4. Cương lĩnh của tất cả các chính đảng ở Việt Nam thời kỳ hậu

    cộng sản, cần phải chứa đựng tinh thần của Chủ nghĩa dân tộc Việt

    Nam.

    Tinh thần ấy là cảnh giác vô điều kiện với Trung Quốc. Vua Trần Nhân Tông

    đã rõ ràng chỉ mặt bành trướng Trung Quốc và dặn dò di chúc: “Cái họa lâu

    đời của ta là họa Trung Hoa. Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt

    vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhủ này như là một lời di chúc cho muôn đời con

    cháu về sau“.

    Tinh thần ấy là phải thực thi Nhân nghĩa, là đảm bảo cho dân được yên

    lành làm ăn, phát huy nghiệp tổ trên toàn cõi Việt Nam.

    Tinh thần ấy là không nô lệ Trung

    Quốc hay bất cứ cường quốc nào khác. “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem

    tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc

    lập.”

    Tinh thần ấy là bảo vệ lợi ích quốc gia tối thượng Việt

    Nam.

    Đây là bài học lịch sử, không thể sơ xuất một chút nào

    được.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặt Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Lên Trên Hết
  • Trước Thềm Đh Đảng Xii: Đặt Lợi Ích Quốc Gia
  • Thủ Tướng: Phải Đặt Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Lên Trên Hết
  • Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Là Bất Biến
  • Lợi Ích Của Việc Áp Dụng Giá Trị Hợp Lý Trong Kế Toán
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100