Top 16 # Xem Nhiều Nhất Khái Niệm Lợi Ích Quốc Gia Dân Tộc / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Dân Tộc Là Gì ? Các Khái Niệm Về Dân Tộc? / 2023

1. Khái niệm về dân tộc (cách hiểu về dân tộc):

Dân tộc (tộc người, ethnie) là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử; ví dụ: dân tộc (hay tộc người) Việt, dân tộc (hay tộc người) Tày, dân tộc (hay tộc người) Khơ Me… Hình thức và trình độ phát triển của tộc người phụ thuộc vào các thể chế xã hội ứng với các phương thức sản xuất.

Dân tộc (nation) – hình thái phát triển cao nhất của tộc người, xuất hiện trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa (hình thái của tộc người trong xã hội nguyên thủy là bộ lạc, trong xã hội nô lệ và xã hội phong kiến là bộ tộc). Dân tộc đặc trưng bởi sự cộng đồng bền vững và chặt chẽ hơn về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, các đặc điểm về văn hóa và ý thức tự giác tộc người.

So với bộ tộc thời phong kiến, dân tộc trong thời kì phát triển tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa có lãnh thổ ổn định, tình trạng cát cứ bị xoá bỏ, có nền kinh tế hàng hóa phát triển, thị trường quốc gia hình thành thống nhất, các ngữ âm, thổ ngữ bị xoá bỏ, tiếng thủ đô được coi là chuẩn và ngày càng lan rộng ảnh hưởng, sự cách biệt về văn hóa giữa các vùng, miền và giữa các bộ phận của tộc người bị xóa bỏ phần lớn, ý thức về quốc gia được củng cố vững chắc.

Cộng đồng dân tộc thường được hình thành hoặc từ một bộ tộc phát triển lên; hoặc là kết quả của sự thống nhất hai hay nhiều bộ tộc có những đặc điểm chung về lịch sử – văn hóa.

Ngoài những nét giống nhau trên, giữa dân tộc tư bản chủ nghĩa và dân tộc xã hội chủ nghĩa có những nét khác biệt nhau, do đặc điểm của phương thức sản xuất và thể chế xã hội. Ở dân tộc tư bản chủ nghĩa, xã hội phân chia đối kháng giai cấp giữa tư sản và vô sản, Nhà nước là của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản. Còn ở dân tộc xã hội chủ nghĩa, xã hội không còn đối kháng giai cấp, quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

3. Dân tộc (quốc gia dân tộc; ví dụ: dân tộc Việt Nam) là cộng đồng chính trị – xã hội, được hình thành do sự tập hợp của nhiều tộc người có trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau cùng chung sống trên một lãnh thổ nhất định và được quản lí thống nhất bởi một nhà nước. Kết cấu của cộng đồng quốc gia dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của từng nước. Một quốc gia dân tộc có tộc người đa số và các tộc người thiểu số. Có tộc người đã đạt đến trình độ dân tộc, song nhiều tộc người ở trình độ bộ tộc. Với cơ cấu tộc người như vậy, quan hệ giữa các tộc người rất đa dạng và phức tạp. Nhà nước phải ban hành chính sách dân tộc để duy trì sự ổn định và phát triển của các tộc người, sự ổn định và phát triển của đất nước. Cũng có trường hợp, một quốc gia chỉ gồm một tộc người (Triều Tiên).

(Nội dung trên được đưa ra bởi: Từ điển luật học xuất bản năm 2010)

Khái niệm dân tộc trong tiếng Việt có thể đề cập đến các nghĩa sau:

+ Dân tộc (cộng đồng): theo nghĩa rộng là cộng đồng người có chung nền văn hóa, nhóm sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc, lịch sử; đôi khi bao gồm nhiều nhóm sắc tộc. Dân tộc trong trường hợp quốc gia dân tộc còn được gọi là quốc dân.

+ Sắc tộc: chỉ nhóm xã hội được phân loại dựa trên nhiều nét chung như di sản văn hóa, nguồn gốc, lịch sử, ngôn ngữ hoặc phương ngữ.

Một số định nghĩa khác về dân tộc:

Dân tộc có thể chỉ một cộng đồng người chia sẻ một ngôn ngữ, văn hóa, sắc tộc, nguồn gốc, hoặc lịch sử. Tuy nhiên, nó cũng có thể chỉ những người có chung lãnh thổ và chính quyền (ví dụ những người trong một quốc gia có chủ quyền) không kể nhóm sắc tộc.

Trong trường hợp gắn liền với một quốc gia dân tộc, dân tộc còn được gọi là quốc dân. “Dân tộc” mang nhiều nghĩa và phạm vi nghĩa của thuật ngữ thay đổi theo thời gian.

Hầu hết mọi dân tộc sống trong một lãnh thổ cụ thể gọi là quốc gia. Một số dân tộc khác lại sống chủ yếu ngoài tổ quốc của mình. Một quốc gia được công nhận là tổ quốc của một dân tộc cụ thể gọi là “nhà nước – dân tộc”. Hầu hết các quốc gia hiện thời thuộc loại này mặc dù vẫn có những tranh chấp một cách thô bạo về tính hợp pháp của chúng. Ở các nước có tranh chấp lãnh thổ giữa các dân tộc thì quyền lợi thuộc về dân tộc nào sống ở đó đầu tiên. Đặc biệt ở những vùng người châu Âu định cư có lịch sử lâu đời, thuật ngữ “dân tộc đầu tiên” dùng cho những nhóm người có chung văn hóa cổ truyền, cùng tìm kiếm sự công nhận chính thức hay quyền tự chủ.

Khái niệm dân tộc, sắc tộc thường có nhiều cách sử dụng không thống nhất trên toàn thế giới:

Thường thì những thuật ngữ như dân tộc, nước, đất nước hay nhà nước được dùng như những từ đồng nghĩa. Ví dụ như: vùng đất chỉ có một chính phủ nắm quyền, hay dân cư trong vùng đó hoặc ngay chính chính phủ. Chúng còn có nghĩa khác là nhà nước do luật định hay nhà nước thực quyền. Trong tiếng Anh các thuật ngữ trên không có nghĩa chính xác mà thường được dùng uyển chuyển trong cách nói viết hàng ngày và cũng có thể giải nghĩa chúng một cách rộng hơn.

Khi xét chặt chẽ hơn thì các thuật ngữ “dân tộc”, “sắc tộc” và “người dân” (chẳng hạn người dân Việt Nam) gọi là nhóm thuộc về con người. “Nước” là một vùng theo địa lý, còn “nhà nước” diễn đạt một thể chế cầm quyền và điều hành một cách hợp pháp. Điều rắc rối là hai tính từ “quốc gia” và “quốc tế” lại dùng cho thuật ngữ nhà nước, chẳng hạn từ “luật quốc tế” dùng trong quan hệ giữa các nhà nước hoặc giữa nhà nước và các cá nhân, các công dân.

Thuật ngữ “dân tộc” thường dùng một cách ẩn dụ để chỉ những nhóm người có chung đặc điểm hay mối quan tâm.

1

Công tác dân tộc

Công tác dân tộc là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Nghị định 05/2011/NĐ-CP

6

Dân tộc thiểu số tại chỗ

Là đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn gốc, tổ tiên sinh sống lâu đời trên địa bàn

15/2008/QĐ-UBND

(Hết hiệu lực)

Tỉnh Đắk Lắk

7

bao gồm các đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đề tài khoa học xã hội và nhân văn. Đề tài có thể độc lập hoặc thuộc dự án, chương trình.

9

Mạng Ủy ban Dân tộc

Là tên viết tắt của hệ thống mạng thông tin của Ủy ban

10

Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ của Ủy ban Dân tộc

là những vấn đề khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác dân tộc cần giải quyết, được xác định, thực hiện theo quy định của Nhà nước về quản lý khoa học và công nghệ và những quy định tại Thông tư này;

11

Trường phổ thông dân tộc bán trú

là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này bao gồm trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú.

12

Trường phổ thông dân tộc bán trú

Là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập nhằm đáp ứng yêu cầu học tập của con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho địa phương, bao gồm: trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, các tỷ lệ này ổn định

Tỉnh Đắk Lắk

13

Vùng dân tộc thiểu số

Vùng dân tộc thiểu sốlà địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nghị định số 05/2011/NĐ-CP

Nguồn: Thư viện pháp luật

3. Đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam

Nước ta là quốc gia đa dân tộc và có nhiều đặc điểm quan trọng, nổi bật. Trong đó cần chú ý các đặc điểm sau:

– Các dân tộc sinh sống trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết.

– Các dân tộc ở Việt Nam cư trú xen kẽ nhau.

– Các dân tộc ở Việt Nam trình độ phát triển kinh tế – xã hội không đều nhau.

– Sự phân bố dân cư không đều; trên vùng núi, biên giới, chủ yếu là các dân tộc thiểu số đang sinh sống.

4. Thế nào là công tác dân tộc? Các nguyên tắc cơ bản của dân tộc?

” Công tác dân tộc ” là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Tại Điều 3 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc quy định các nguyên tắc cơ bản sau:

– Thực hiện chính sách dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.

– Đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.

– Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc.

– Các dân tộc có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

5. Các hành vi bị nghiêm cấm trong công tác dân tộc ở Việt Nam là gì?

Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

– Mọi hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử, chia rẽ, phá hoại đoàn kết các dân tộc.

– Lợi dụng các vấn đề về dân tộc để tuyên truyền xuyên tạc, chống lại đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

– Lợi dụng việc thực hiện chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về công tác dân tộc để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

– Các hành vi khác trái với quy định của Chính phủ.

Trân trọng./.

Các câu hỏi thường gặp

“Lợi Ích Của Quốc Gia, Dân Tộc Là Tối Thượng” / 2023

Một trong những sự kiện chính trị hàng đầu của Việt Nam năm 2018 được các cơ quan truyền thông Việt Nam và quốc tế quan tâm là việc 100% đại biểu Quốc hội có mặt tại hội trường Diên Hồng ngày 23-10-2018 đã nhất trí bỏ phiếu kín bầu Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng giữ trọng trách Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng

1. Trong lịch sử 89 năm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có 12 đời Tổng Bí thư và lịch sử 72 năm của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau này là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với 11 đời Chủ tịch nước, thì đây là lần thứ hai Tổng Bí thư giữ nhiệm vụ Chủ tịch nước. Lần thứ nhất, là từ năm 1954 đến năm 1969, Bác Hồ vừa là Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam vừa là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến lúc Người qua đời. Vào thời điểm ấy, về Đảng, đồng chí Lê Duẩn giữ nhiệm vụ Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Bác Tôn Đức Thắng được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thời Bác Hồ giữ nhiệm vụ Chủ tịch Đảng đồng thời là Chủ tịch nước trong bối cảnh lịch sử đặc biệt khó khăn. Đất nước bị chia cắt bởi quy định của Hiệp định Genève do các cường quốc áp đặt, vĩ tuyến 17 với con sông Bến Hải trở thành điểm đối đầu của cuộc Chiến tranh Lạnh giữa hai ý thức hệ tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Bác Hồ cùng với Trung ương Đảng, Chính phủ phải ngày đêm lo công tác đối nội, đối ngoại, xây dựng và củng cố miền Bắc xã hội chủ nghĩa; đấu tranh chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Mặc dù, không được vào thăm đồng bào miền Nam, chứng kiến ngày vinh quang trên TP.Hồ Chí Minh nhưng Người luôn là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng chiến đấu anh dũng viết nên những trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc. Giữ vững 5 lời thề trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ sau 6 năm khi Người đi xa, các thế hệ cháu con đã hoàn thành sứ mệnh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, đổi mới và chủ động hội nhập quốc tế, làm cho quốc lực ngày càng lớn mạnh.

Lần này là lần thứ hai trong lịch sử của Đảng, Nhà nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được quốc dân thông qua Quốc hội tín nhiệm bầu giữ cương vị Chủ tịch nước – nhiệm vụ của người đứng đầu Đảng, Nhà nước lần này cũng hết sức nặng nề. Một mặt, ông phải là người có trách nhiệm cao nhất trong việc giữ vững độc lập, tự do, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia, và mặt khác phải quyết liệt chống tham nhũng – “giặc nội xâm”, đưa đất nước hội nhập, phát triển bền vững, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, phấn đấu làm cho cơ đồ từng bước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

2. Dưới cờ đỏ sao vàng mang hồn thiêng sông núi, tay phải đặt lên bản Hiến pháp 2013 màu đỏ, tay trái giơ lên cao, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với trang phục vét đen, cà-ra-vát đỏ long trọng tuyên thệ nhận nhiệm vụ Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tuyên thệ nhậm chức Chủ tịch nước

Sau khi tuyên thệ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước phát biểu: “Xin có một vài ý kiến có tính chất báo cáo thêm với Quốc hội và trình bày đôi chút về tâm tư, tình cảm của mình”. Trong nội dung “đôi chút tâm tư, tình cảm…”, ông trải lòng: “Đây là tâm trạng thật lòng, cũng giống như cách đây 12 năm, tôi nhớ vào ngày 26-6-2006, lúc 16 giờ Quốc hội lúc bấy giờ bầu tôi giữ chức Chủ tịch Quốc hội, tôi cũng vừa mừng vừa lo. Lo vì chưa quen công việc của Quốc hội, nói vui là chưa được làm Chủ tịch Quốc hội bao giờ, rất bỡ ngỡ”.

Lời chia sẻ của người đứng đầu Nhà nước Việt Nam chứng tỏ ông là một người rất khiêm tốn, khi tân Chủ tịch nước bộc bạch: “trình độ, năng lực, sự hạn chế của tôi rất rõ. Sự hiểu biết là không đáp ứng được yêu cầu, thực tình tôi rất lo… Trong khi đó tuổi tác thì ngày càng lớn rồi. Bác Hồ đã nói rồi, tuổi càng cao sức khỏe càng thấp, điều đó không có gì lạ. Tôi luôn chuẩn bị sẵn tinh thần…”. Rồi ông khiêm cung bày tỏ bằng cách lẩy Kiều: “Nghĩ mình thân mỏng cánh chuồn/ Khuôn xanh có biết vuông tròn mà hay”. Điều này, càng chứng tỏ ông là một người hết sức khiêm tốn, một đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam.

Nếu như khiêm tốn là biểu hiện qua lời nói, cử chỉ, cách ăn mặc, hành động thiệt tâm… và muốn nhận dạng một người khiêm tốn qua những nội dung ấy, thì Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đều có cả. Đặc biệt, ở ông – một người nói đi đôi với làm, làm cẩn trọng nhưng quyết liệt, làm đến nơi đến chốn và lấy thước đo hiệu quả để chứng minh cho lời nói và việc làm của mình.

Chẳng hạn như trong lĩnh vực chống tham nhũng – “giặc nội xâm”, ông từng phát đi nhiều thông điệp mạnh mẽ: “Tôi đã nói, nếu ai cảm thấy cản trở, nhụt ý chí thì dẹp sang một bên cho người khác làm”; “cái lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy”; “muốn chống tham nhũng có hiệu quả, trước hết phải chống tham nhũng trong các cơ quan chống tham nhũng”; “phải nhốt quyền lực vào trong cái lồng cơ chế…”. Những thông điệp mạnh mẽ này, được đưa ra đi kèm với những lời nhắc nhở chân tình: “Mỗi người chúng ta cần luôn ghi nhớ trong tâm khảm của mình rằng, lợi ích của quốc gia dân tộc của nhân dân, của Đảng là tối thượng và danh dự là điều thiêng liêng cao quý nhất đối với mỗi con người trước hết là đối với mỗi cán bộ, đảng viên”. Rồi ông còn căn dặn một cách cụ thể: “Bản thân mỗi đồng chí và vợ con phải giữ gìn sự trong sạch, rồi mới chống tham nhũng được. Nếu không nói chẳng ai nghe, tay đã nhúng chàm thì không thể làm gì khác được”. Cùng với những lời khuyên chân thành, ông đã quyết liệt đấu tranh chống giặc nội xâm với hàng loạt cán bộ đương chức hoặc nghỉ hưu thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, như ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Trung ương Đảng, bộ trưởng, thứ trưởng, bí thư, phó bí thư cấp tỉnh, thành phố, cán bộ mang quân hàm cấp tướng… đã bị kỷ luật thỏa đáng hoặc phải ra hầu tòa, lãnh án.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri quận Ba Đình (Hà Nội)

Những biện pháp cứng rắn đối với “giặc nội xâm” của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã làm giảm nhiệt lượng về sự bức xúc trong xã hội và từng bước khôi phục niềm tin của nhân dân đối với chế độ, được dư luận quốc tế cũng hết sức quan tâm, tin tưởng vào quyết tâm chống tham nhũng của Việt Nam.

3. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng sinh trước Cách mạng Tháng Tám hơn 1 năm, nên có thể nói ông sớm hít thở không khí độc lập, tự do – dù rất ngắn ngủi. Rồi sau khi lớn lên, tham gia cùng cả nước trong suốt 2 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, hẳn ông rất hiểu chân lý vĩnh cửu mà Bác Hồ đã tổng kết bằng 8 từ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở ngoại thành Hà Nội, nên tuổi thơ ông không mấy ngọt ngào, nếu không muốn nói là rất gian nan, vất vả. Cô giáo hồi tiểu học của ông từng kể: “Trò Trọng” hằng ngày phải đi bộ qua cánh đồng xa 3km trên con đất rất khó đi, nhất là những ngày mưa dầm, cậu học trò nhỏ phải cố bấm ngón chân xuống đường để cho khỏi ngã. Suốt thời gian học lớp 4, cậu chỉ mặc một bộ quần áo màu nâu, đi chân đất không kể mùa đông hay mùa hè…”.Từ một người học trò nghèo, nhờ nghị lực, tài năng đã đưa ông bước qua giảng đường đại học, trở thành Giáo sư – Tiến sĩ, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương. Từ một đảng viên đến Bí thư Thành ủy Hà Nội, Chủ tịch Quốc hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, ông luôn nhất quán một tấm lòng của người trí thức xuất phát từ công nông đối với vận mệnh của Đảng, của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân.

Những người một thời cùng học ở Trường đại học tổng hợp Hà Nội cho đến những cộng sự gần gũi và cấp trên của ông đều nhận xét: Ông là một người giàu ý chí, có lý tưởng, tâm huyết, trách nhiệm nhưng có cuộc sống giản dị, khiêm cung, nhân hậu, mẫn tiệp, lịch sự theo phong cách người Tràng An.

Những phẩm chất ấy kết hợp với sự trải nghiệm thực tiễn sinh động từ thời chiến tranh, thời bao cấp đến thời đổi mới, giúp ông có thái độ, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt theo nguyên tắc nhưng rất bình tĩnh, bao dung, có sức thuyết phục cảm hóa sâu sắc.

Đặc biệt, là một nhà lý luận của Đảng, chắc hẳn ông là người hiểu hơn ai hết 2 nhiệm vụ chiến lược “Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” trong thời đại mới. Còn nhớ, tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, ông đã lưu ý: “Tạo chuyển biến rõ rệt trong việc thực hiện ba đột phá chiến lược, đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế…”. Rồi trước những thành tựu của 2 năm 2017-2018, ông nhắc nhở: “Tuyệt nhiên không chủ quan, thỏa mãn; không say sưa với thành tích, thắng lợi, bởi đất nước vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Đừng ngủ quên trên vòng nguyệt quế…”.

Riêng vấn đề bảo vệ Tổ quốc, ông đã từng nói: “Kiên quyết, kiên trì giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”. Nói về vấn đề này, chúng ta còn nhớ hồi giữa năm 2014, khi Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 cùng với 86 tàu khác, trong đó có các tàu mang tên lửa và cả máy bay quân sự vào vùng biển nước ta để khiêu khích, trước tình hình độc lập, chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc bị xâm phạm, lúc đó với tư cách là người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, phải “đứng mũi chịu sào” trước một vấn đề hết sức nóng và đầy nhạy cảm, ông đã xử lý một cách bình tĩnh, khôn khéo nhưng rất kiên quyết cả đối ngoại lẫn đối nội. Cuối cùng, Trung Quốc buộc phải rút giàn khoan cùng các tàu ra khỏi vùng biển nước ta một cách lặng lẽ, trả lại sự bình yên cho ngư dân Việt Nam ra khơi bám biển, giữ vững chủ quyền quốc gia.

Người ta nói rằng, trong con người trí thức xuất thân từ công nông ấy, tiềm ẩn một quyết tâm phi thường vì nước, vì dân, như ông nói lợi ích của quốc gia dân tộc… là tối thượng.

Mai Sông Bé

Lợi Ích Quốc Gia Và Dân Tộc Là Trên Hết! / 2023

Những ngày tháng 4 lịch sử, Bà Rịa – Vũng Tàu cùng cả nước tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 43 năm ngày Đại thắng 30-4, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, non sông liền một giải. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, tạc vào lịch sử Việt Nam thêm một mốc son chói lọi, tô thắm truyền thống hào hùng của một dân tộc “không bao giờ cúi đầu” trước sự xâm lược của ngoại bang. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước toàn thắng, đất nước ta hưởng trọn niềm vui độc lập dân tộc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế càng được nâng cao.

Tháng 4 lịch sử hôm nay, tại Khu chuồng cọp nhà tù Côn Đảo, Chiến khu Minh Đạm, địa đạo Long Phước, Bến tàu không số Lộc An, Khu tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu… và các địa chỉ đỏ khác của Bà Rịa – Vũng Tàu, hàng ngàn đoàn viên thanh viên, học sinh trong và ngoài tỉnh, nhiều đoàn du khách tổ chức nhiều hoạt động “uống nước nhớ nguồn” thiết thực, nhiều ý nghĩa. Hơn lúc nào hết, thế hệ trẻ hôm nay càng phải được giáo dục truyền thống anh hùng của thế hệ cha ông đã đổ bao nhiêu xương máu để giành và giữ độc lập của dân tộc. Vẫn còn đó bao huyền thoại, nhiều câu hỏi và lời giải về lịch sử hào hùng của dân tộc cần được khẳng định và tri ân, gìn giữ, học tập và lan tỏa, khắc cốt ghi tâm.

Ngày nay, tình hình thế giới còn nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Vì những toan tính lợi ích, các nước lớn thay đổi chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh vào cục diện thế giới và các khu vực. Việt Nam kiên định quan điểm độc lập, tự chủ, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ chính trị và an ninh đất nước, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã kết thúc và lùi xa 43 năm, nhưng hôm nay những bài học chiến thắng rất sống động ấy vẫn mang đậm tính thời sự nóng hổi. Một đất nước đã và đang hồi sinh nhanh chóng từ đống tro tàn hủy diệt và đổ nát của chiến tranh đang phải đối mặt và vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, vững bước đi lên xây dựng cuộc sống mới – sớm đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại – dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Cùng với cả nước, BR-VT phát huy truyền thống anh hùng, năng động sáng tạo, đồng lòng đồng sức xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp.

HẢI VÂN

Phải Đặt Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Lên Trên Hết! / 2023

(ĐCSVN) – Tổng kết 30 năm đổi mới, dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XII đã nêu lên 5 bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó có bài học thứ tư : “… phải đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết là đúng đắn và cần thiết để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

– Vấn đề dân tộc và giai cấp luôn luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau, giải quyết tốt mối quan hệ này mang lại những thắng lợi bền vững cho sự nghiệp cách mạng. Trong lịch sử phong trào cộng sản trên thế giới, các tư tưởng tả khuynh, tuyệt đối hóa quan điểm giai cấp, chỉ mang lại những kết quả tức thời, không bền vững và để lại nhưng hậu quả nặng nề, khó khắc phục. Ngay trong điều kiện đối đầu hai cực từ năm 1949 đến năm 1991, khi sự đồng nhất về ý thức hệ là nhân tố gắn kết các nước xã hội chủ nghĩa lại với nhau, vấn đề dân tộc trong mỗi quốc gia và lợi ích quốc gia dân tộc trong quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa vẫn là một yêu tố rất quan trọng, là nguyên nhân của những mâu thuẫn, bất hòa, xung đột, trừng phạt, thậm chí chiến tranh giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Điều này càng thấy rõ hơn, cụ thể hơn sau khi Liên Xô tan rã, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ. Các nước có chế độ chính trị khác nhau vừa đấu tranh, vừa hợp tác. Lợi ích quốc gia dân tộc nổi trội lên, tuy không phải là duy nhất, nhưng là cơ sở quan trọng nhất để các quốc gia xác định mối quan hệ hợp tác và đấu tranh. Đó là điểm nổi bật trong chính sách đối ngoại của các quốc gia, dân tộc trên thế giới ngày nay.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, sự bình đẳng giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, phải được quán triệt trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay là trong lĩnh vực kinh tế. (Ảnh: Báo HNM)

Đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết không phải là bỏ qua chủ nghĩa quốc tế vô sản, bỏ qua trách nhiệm quốc tế vì sự tiến bộ và phát triển của tất cả các dân tộc. Cần xác định rõ rằng, ngày nay, mọi việc làm vì tiến bộ và phát triển chung của nhân loại đều làm cho nhân loại tiến gần hơn đến chủ nghĩa xã hội. Đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết đồng thời với tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, mong muốn là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong quan hệ quốc tế vì độc lập, hòa bình và tiến bộ là làm tốt nghĩa vụ quốc tế của dân tộc Việt Nam.

– Mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên, lên trước trong cách mạng Việt Nam đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giải quyết ngay từ đầu, trong quá trình vận động thành lập Đảng và lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập. Tiếp thu, vận dụng sáng tạo các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn phương Đông, vào phong trào giải phóng dân tộc, vào Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò đại đoàn kết toàn dân tộc, khi khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp phong trào yêu nước, phong trào công nhân và chủ nghĩa Mác – Lênin. Người vạch ra đường lối cách mạng Việt Nam là “trước làm cách mạng quốc gia, sau làm cách mạng thế giới”, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên, lên trước… Thực tế cách mạng Việt Nam từ khi thành lập đến nay đã khẳng định: giải quyết tốt quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong đường lối chiến lược cách mạng, đặt vấn đề dân tộc lên trên, lên trước là nguyên nhân thành công của cách mạng ở Việt Nam và thế giới.

– Đối với nước ta hiện nay, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết có ý nghĩa rất thiết thực, là cơ sở cho sự ổn định, phát triển và tạo nên nguồn lực to lớn cho công cuộc đổi mới. Trong thực tiễn biến đổi của quan hệ giữa các nước trên thế giới sau khi Liên Xô ta rã đã khẳng định sức mạnh to lớn nhất, nguồn lực chủ yếu nhất để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay là sức mạnh toàn dân tộc. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là rất cần thiết để tạo nên nguồn lực to lớn đó. Mặt khác, trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần, hội nhập quốc tế, chỉ có lợi ích quốc gia – dân tộc mới là tiêu điểm chung để đoàn kết tất cả các giai cấp, tầng lớp của dân tộc Việt Nam trong và ngoài nước vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

– Rút ra được bài học đúng đắn là quan trọng trong tổng kết thực tiễn, nhưng điều cần thiết hơn là vận dụng cho được các bài học trong hoạch định, tổ chức và thực hiện đường lối đổi mới. Đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết đầu tiên phải thể hiện rõ mục tiêu phát triển dân tộc trong đường lối phát triển. Mục tiêu phát triển dân tộc quy định mọi chủ trương, đường lối, chính sách phải vì lợi ích chung của toàn dân tộc, đảm bảo lợi ích chính đáng của mỗi cộng đồng dân tộc, của mỗi người dân. Trong điều kiện kinh tế thị trường, sự bình đẳng giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc phải được quán triệt trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay là trong lĩnh vực kinh tế. Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần kinh tế, phải đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, bình đẳng trong khai thác và sử dụng các tài nguyên, trong sự thụ hưởng những thành quả đạt được…Đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết cần có những biện pháp rõ ràng và kiên quyết để đấu tranh với “lợi ích nhóm”, một tệ nạn đang vận động rất phức tạp, là yếu tố hàng đầu đe dọa đến sự đoàn kết thống nhất của dân tộc, mục tiêu cao nhất của đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết hiện nay./.