Top 7 # Xem Nhiều Nhất Giải Thích Cấu Tạo Và Chức Năng Của Đại Não Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Cấu Tạo Và Chức Năng Bán Cầu Đại Não

Ðại não gồm 2 bán cầu đại não phải và trái, ngăn cách nhau bởi rãnh gian bán cầu. Mỗi bán cầu đại não có một lớp chất xám dày 2-4 mm bao xung quanh gọi là vỏ não. Gồm: thùy trán, thùy chẩm, thùy đỉnh, thùy thái dương.

Vỏ não là trung tâm của nhiều chức năng thần kinh quan trọng: Chức năng vận động.Chức năng cảm giác.Chức năng giác quan.Chức năng thực vật. Mỗi vùng của vỏ não ứng với một chức năng nhất định. Ngoài ra, vỏ não còn là trung tâm của các hoạt động thần kinh cao cấp như: tư duy, tình cảm…

Trong phần này, ta chỉ nghiên cứu các vùng chức năng của vỏ não, riêng phần hoạt động thần kinh cao cấp sẽ được đề cập trong chương khác. Ðể nghiên cứu các vùng chức năng của vỏ não, người ta phân chia vỏ não theo nhiều cách khác nhau. Trong đó, cách phân chia vỏ não thành 50 vùng đánh số từ 1 đến 50 của Brodmann là thông dụng hơn cả.

– Các vùng giác quan + Vùng thị giác: Gồm các vùng 17, 18, 19 thuộc thùy chẩm 2 bên:

Vùng 17: là vùng thị giác thông thường, vùng này cho chúng ta cảm giác ánh sáng và màu sắc nhưng không cho ta nhận biết vật nhìn thấy.

Vùng 18, 19: là vùng thị giác nhận thức, cho ta nhận biết vật nhìn thấy. Khi vùng này bị tổn thương thì nhìn thấy vật nhưng không biết là vật gì.

+ Vùng thính giác:Gồm các vùng 22, 41, 42 thuộc thùy thái dương 2 bên:

Vùng 41, 42: là vùng thính giác thông thường, cho ta cảm giác tiếng động (âm thanh thô sơ). Tổn thương vùng này gây nên điếc.

Vùng 22: là vùng thính giác nhận thức, cho ta nhận biết âm thanh loại gì.

+ Vùng vị giác: Thuộc vùng 43 của thùy đỉnh

+ Vùng khứu giác: Thuộc vùng 34 của thùy thái dương, vùng này thuộc hệ viền.

+ Vùng cảm giác: Thuộc vùng 1, 2, 3 của hồi đỉnh lên.

+ Vùng vận động: Thuộc hồi trán lên, đây là nơi xuất phát của bó tháp. So với các vùng khác thì vùng vận động có diện tích lớn nhất.

Ngoài ra, bên cạnh vùng vận động còn có vùng tiền vận động thuộc vùng 6 thùy trán, đây là nơi xuất phát các sợi đi đến các nhân xám dưới vỏ rồi theo hệ ngoại tháp chi phối các vận động tự động.

Vùng vận động và cảm giác của vỏ não có các quy luật hoạt động sau đây: Quy luật bắt chéo: Bán cầu não bên này chi phối vận động và cảm giác của nửa thân bên kia. Quy luật ưu thế: Những cơ quan nào vận động nhiều và cảm giác tinh tế thì chiếm vùng vỏ não rộng hơn (tay, miệng…).

Quy luật lộn ngược: Vùng vỏ não phía trên chi phối vận động và cảm giác của các bộ phận phía dưới cơ thể. Ngược lại, vùng vỏ não phía dưới chi phối các bộ phận phía trên.

Vùng Broca ,thuộc vùng 44, 45 của thùy trán. Ðây là vùng chi phối vận động của các cơ quan tham gia vào động tác phát âm như: thanh quản, môi, lưỡi… Khi vùng này tổn thương thì bị chứng câm nhưng vẫn hiểu lời, hiểu chữ. Bệnh nhân nghe và đọc thì hiểu nhưng không thể diễn đạt ý nghĩ của mình bằng lời nói. Tuy nhiên, họ có thể diễn đạt thông qua chữ viết.

Vùng Wernicke nằm ở thùy thái dương, đây là một vùng rất quan trọng trong việc hình thành tiếng nói và tư duy.

Vì vậy, còn được gọi là vùng hiểu ngôn ngữ, vùng hiểu biết…Vùng này không chỉ chi phối lời nói mà còn cho ta hiểu lời, hiểu chữ…Khi vùng Wernicke bị tổn thương thì bị chứng câm kèm thêm không hiểu lời, hiểu chữ…

Vùng lời nói phân bố không đều ở 2 bán cầu. Ở người thuận tay phải (chiếm khoảng 90%), vùng Broca và Wernicke phát triển rất rộng bên bán cầu trái, bán cầu phải không đáng kể và bán cầu trái được gọi là bán cầu ưu thế. Ở người thuận tay trái (chiếm 10%), ưu thế 2 bán cầu đều nhau. Số người ưu thế bán cầu phải rất ít.

Trình Bày Cấu Tạo , Vị Trí, Chức Năng Của Trụ Não, Đại Não,

#vietjack

https://vietjack.com/giai-bai-tap-sinh-hoc-8/ly-thuyet-trac-nghiem-bai-46-tru-nao-tieu-nao-nao-trung-gian.jsp

1. Trụ não

a. Vị trí: tiếp liền với tủy sống ở phía dưới

b. Cấu tạo:

– Trụ não gồm: hành não, cầu não, não giữa (gồm cuống não và củ não sinh tư)

– Chất trắng ở ngoài: gồm đường lên (cảm giác) và đường xuống (vận động) liên hệ với tủy sống và các phần khác của não.

– Chất xám ở trong: tập trung thành các nhân xám, là nơi xuất phát của 12 đôi dây thần kinh não, gồm 3 loại:

+ Dây cảm giác

+ Dây vận động

+ Dây pha

c. Chức năng

– Điều khiển, điều hòa hoạt động của các cơ quan: tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa (các cơ quan sinh dưỡng)

2, Não trung gian:

a. Vị trí : nằm giữa trụ não và đại não

b. Cấu tạo : – Não trung gian gồm đồi thị và vùng dưới đồi

c. chức năng :

– Điều khiển các quá trình trao đổi chất và điều hòa thân nhiệt

3. Đại não

a. Vị trí : lớn nhất, nằm trên tiểu não

b. Cấu tạo :

– Đại não ở người rất phát triển, che lấp cả não trung gian và não giữa.

– Bề mặt của đại não được phủ bởi một lớp chất xám làm thành vỏ não. Bể mặt của đại não có nhiều nếp gấp, đó là các chất xám và khe và rãnh. Làm tăng diện tích bề mặt vỏ não (nơi chứa thân của các nơron) lên tới 2300 – 2500cm2. Hơn 2/3 bề mặt của vỏ não nằm trong các khe và rãnh, vỏ não chỉ dày khoảng 2 -3 mm, gồm 6 lớp, chủ yếu là các tế bào hình tháp.

– Các rãnh chia mỗi nửa đại não thành các thuỳ. Rãnh đỉnh ngăn cách thuỳ trán và thuỳ đỉnh, rãnh thái dương ngăn cách thuỳ trán và thùy đỉnh với thuỳ thái dương. Trong các thuỳ, các khe đã tạo thành các hổi hay khúc cuộn não.

– Dưới võ não là chất tráng, trong đó chứa các nhân nền (nhân dưới vỏ).

c. Chức năng :

Các khe và rãnh chia não thành các thùy và các hồi não, trong đó có các vùng cảm giác, vùng vận động, đặc biệt là vùng vận động ngôn ngữ và vùng hiểu tiếng nói và chữ viết.

4. Tiểu não

a. Vị trí: nằm phía sau trụ não

b. Chức năng :

– Điều hòa, phối hợp các cử động phức tạp và giữ thăng bằng cho cơ thể.

c. Cấu tạo :

– Chất xám ở ngoài: làm thành vỏ tiểu não và các nhân

– Chất trắng ở trong là các đường dẫn truyền nối vỏ tiểu não và các nhân với các phần khác của thần kinh

Cấu Tạo Và Chức Năng Tiểu Não

Tiểu não là phần thần kinh trung ương nằm ở hố sọ sau, ngay phía sau thân não. Tiểu não nối với thân não bằng 3 đôi cuống tiểu não: Ðôi trên nối với não giữa. Ðôi giữa nối với cầu não. Ðôi dưới nối với hành não. Thực chất các cuống tiểu não là những đường liên hệ của tiểu não với các phần khác của hệ thần kinh.

Tiểu não gồm có thùy nhộng ở giữa và 2 bán cầu tiểu não ở 2 bên. Mỗi bán cầu tiểu não có một lớp chất xám bao bọc bên ngoài gọi là vỏ tiểu não, bên trong là chất trắng chứa một số nhân xám quan trọng như nhân răng (Dentate nucleus) và nhân mái (Fastigial nucleus).

Vỏ tiểu não gồm có 3 lớp. Lớp ngoài cùng là lớp phân tử chứa các nơron. Lớp giữa là lớp tế bào Purkinje. Lớp trong cùng là lớp hạt chứa các tế bào Golgi. Căn cứ theo bậc thang tiến hóa, người ta chia tiểu não ra làm 3 phần:

Phần này nhận những đường dẫn truyền từ tủy sống đưa lên, trong đó quan trọng là đường cảm giác sâu không có ý thức để từ đó tiểu não điều hòa các động tác tự động, điều hòa trương lực cơ và giữ thăng bằng cho cơ thể.

Là phần phát triển muộn nhất theo bậc thang tiến hóa. Tiểu não mới phát triển ở những động vật cấp cao và ở người là hoàn thiện nhất.

2. Các đường liên hệ của tiểu não

Những đường liên hệ đi vào và đi ra khỏi tiểu não đều đi qua 3 đôi cuống tiểu não: (1).Những đường đi vào tận cùng ở vỏ tiểu não.(2).Những đường đi ra xuất phát từ nhân mái và nhân răng.

Vỏ tiểu não đóng vai trò trung gian giữa 2 đường này.

– Những đường đi vào tiểu não

+ Bó tủy – tiểu não chéo (bó Gowers) và bó tủy – tiểu não thẳng (bó Flechsig). Hai bó này xuất phất từ các bộ phận nhận cảm ở gân, cơ, khớp sau đó đi vào tủy sống rồi tận cùng ở vỏ tiểu não (tiểu não cổ), cho tiểu não cảm giác về trương lực cơ (cảm giác sâu không có ý thức).

+ Bó Goll và Burdach. Hai bó này dẫn truyền cảm giác sâu có ý thức, chủ yếu đi lên vỏ não nhưng có một phần nhỏ đi vào tiểu não, cho tiểu não cảm giác bản thể.

+ Bó tiền đình – tiểu não. Xuất phát từ một bộ phận nhận

+ Bó tiểu não – hành não. Xuất phát từ nhân mái đi đến cấu trúc lưới ở hành não.

+ Bó tiểu não – nhân đỏ.Xuất phát từ nhân răng đi đến nhân đỏ ở não giữa rồI đi xuống tủy sống và theo nhánh vận động đi ra ngoài.

+ Bó tiểu não – đồi thị – vỏ não. Xuất phát từ nhân răng đi lên đồi thị và đi đến vùng vận động của vỏ não.

3. Chức năng của tiểu não

Tiểu não có chức năng điều hòa trương lực cơ, qua đó giữ cảm thăng bằng của tai trong là mê cung, sau đó đi tới nhân tiền đình ở hành não rồi tận cùng ở thùy nhộng (nguyên tiểu não), cho tiểu não cảm giác về thăng bằng. + Bó vỏ – cầu – tiểu não. Xuất phát từ các vùng vận động của vỏ não, sau đó đi xuống cầu não và tận cùng ở vỏ tiểu não, dẫn truyền các xung động vận động của vỏ não.

+ Bó tiểu não – tiểu não. Xuất phát từ nhân răng của bán cầu tiểu não bên kia và tận cùng ở vỏ tiểu não bên này, bó này giữ mối liên hệ giữa 2 bán cầu tiểu não.

– Những đường đi ra khỏi tiểu não

+ Bó tiểu não – tiền đình. Xuất phát từ nhân mái đi đến nhân tiền đình rồi chia làm 2: một đường đi đến các dây vận nhãn, một đường đi xuống tủy sống rồi đi ra theo dây vận động.thăng bằng cho cơ thể. Ðồng thời, tiểu não được xem là một cơ quan kiểm soát và điều chỉnh các vận động cả tự động lẫn chủ động.

– Chức năng điều hòa trương lực cơ và giữ thăng bằng cho cơ thể

Tiểu não nhận cảm giác thăng bằng từ mê cung của tai trong (bó tiền đình – tiểu não) và nhận cảm giác trương lực cơ từ đường cảm giác sâu không có ý thức (bó tủy – tiểu não chéo và thẳng).

Tiểu não sẽ truyền những xung động đi xuống (qua các bó tiểu não – tiền đình, tiểu não – nhân đỏ) để điều hòa trương lực cơ và giữ thăng bằng cho cơ thể.

– Chức năng điều hòa các động tác tự động

Ðường ngoại tháp xuất phát từ vùng tiền vận động của vỏ não và các nhân xám dưới vỏ trước khi đi xuống tủy sống đều gửi các xung động đi đến tiểu não, từ đó tiểu não góp phần điều hòa các động tác tự động.

– Chức năng điều hòa các động tác chủ động

Vận động chủ động thực chất do vỏ não điều khiển (vùng vận động). Tuy nhiên, các xung động từ vùng vận động vỏ não trước khi đi xuống tủy sống đều gửi một phần đi đến tiểu não. Ðồng thời, tiểu não cũng nhận một phần cảm giác sâu có ý thức từ dưới đi lên (bó Goll và Burdach). Vì vậy, tiểu não cũng tham gia điều hòa các động tác chủ động. Khi tiểu não tổn thương, các động tác chủ động sẽ bị rối loạn.

Khi tiểu não bị tổn thương (u, nhiễm khuẩn, chấn thương…) sẽ xuất hiện các triệu chứng bệnh lý. Tập hợp các triệu chứng bệnh lý đó gọi là hội chứng tiểu não. Một hội chứng tiểu não đầy đủ gồm những biểu hiện: Giảm trương lực cơ.Hội chứng 3 sai: sai tầm, sai hướng, sai nhịp.Run: run khi làm việc, động tác càng phức tạp càng run nhiều.Giật nhãn cầu. Mất thăng bằng: đi lảo đảo, dễ bị ngã, đi hình zích zắc. Rối loạn phát âm: nói khi nhanh khi chậm, khi to khi nhỏ, nói khó.

Giải Phẫu Học Và Chức Năng Của Não Bộ

Não bộ giữ nhiều chức năng quan trọng. Nó diễn giải ý nghĩa của những điều diễn ra xung quanh chúng ta. Thông qua năm giác quan: thị giác, khướu giác, thính giác, vị giác và xúc giác. Não bộ thu nhận nhiều tín hiệu cùng một lúc.

Não bộ điều khiển suy nghĩ, trí nhớ, lời nói, vận động của tay chân và chức năng của nhiều cơ quan trong cơ thể. Nó cũng xác định cách con người phản ứng lại trong những tình huống căng thẳng (ví dụ: làm bài thi, mất việc làm, sinh con, bệnh tật, …) bằng cách điều hòa nhịp tim và nhịp thở. Não bộ là một cấu trúc có tổ chức, được chia thành nhiều thành phần có những chức năng riêng biệt và quan trọng.

Trọng lượng của não người thay đổi từ khi mới sinh cho đến khi trưởng thành. Lúc mới sinh, não của 1 đứa trẻ trung bình nặng khoảng 450 gram và phát triển đến khoảng 910 gram trong thời thơ ấu. Não của một người phụ nữ trưởng thành nặng trung bình khoảng 1220 gram, trong khi đó ở người đàn ông trưởng thành nặng khoảng 1360 gram.

Hệ thần kinh thường được chia thành hệ thần kinh trung ương và hệ thần kinh ngoại biên. Hệ thần kinh trung ương bao gồm não, các dây thần kinh sọ và tủy gai. Hệ thần kinh ngoại biên gồm các dây thần kinh gai sống bắt nguồn từ tủy gai và hệ thần kinh tự chủ (gồm hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm).

Bộ não được tạo thành từ hai loại tế bào: các neuron và các tế bào đệm (còn được gọi là thần kinh đệm). Các neuron thần kinh chịu trách nhiệm gửi và nhận các tín hiệu hay xung thần kinh. Các tế bào thần kinh đệm là những tế bào thần kinh không neuron, làm nhiệm vụ nâng đỡ và nuôi dưỡng. Chúng duy trì cân bằng nội môi, hình thành myelin và tạo điều kiện cho tín hiệu được truyền đi trong hệ thần kinh. Trong não người, các tế bào thần kinh đệm nhiều hơn neuron thần kinh khoảng 50 lần. Trong các khối u não nguyên phát, tế bào thần kinh đệm là loại tế bào được tìm thấy nhiều nhất.

Bộ não được bao bọc trong một lớp vỏ ngoài là xương bản sọ. Xương bản sọ bảo vệ não khỏi bị tổn thương. Xương bản sọ kết hợp với các xương bảo vệ mặt tạo thành hộp sọ. Giữa hộp sọ và bộ não là các màng não. Chúng gồm ba lớp mô che phủ và bảo vệ não bộ, tủy gai. Từ ngoài vào trong lần lượt là: màng cứng, màng nhện và màng nuôi.

Trong não, màng cứng gồm hai lớp màng màu trắng, không đàn hồi. Lớp ngoài cùng được gọi là màng xương. Lớp bên trong gọi là màng cứng, phủ bên trong toàn bộ hộp sọ và tạo nếp gấp nhỏ hoặc các ngăn bảo vệ các thành phần của bộ não. Hai nếp gấp đặc biệt của màng cứng trong não được gọi là liềm đại não và lều tiểu não. Liềm đại não phân cách bán cầu não bên phải với bên trái. Lều tiểu não phân cách nhu mô não tầng trên lều với dưới lều.

Lớp màng não thứ hai là màng nhện. Màng này mỏng và mềm, bao phủ toàn bộ não. Có một khoang giữa màng cứng và màng nhện được gọi là khoang dưới màng cứng. Màng nhện được tạo thành từ mô đàn hồi mềm mại và các mạch máu với nhiều kích thước khác nhau.

Lớp màng trong cùng sát bề mặt não nhất được gọi là màng nuôi. Màng nuôi có nhiều mạch máu đi sâu vào đến bề mặt nhu mô não. Màng nuôi bao phủ toàn bộ bề mặt của bộ não, đi theo những nếp gấp của các cuộn não. Các động mạch lớn nuôi não chia các nhánh đến màng nuôi. Khoang ngăn cách màng nhện và màng nuôi được gọi là khoang dưới nhện. Dịch não tủy lưu thông trong khoang dưới nhện.

Dịch não tủy có trong não, bao quanh não bộ và tủy gai. Nó là một chất lỏng trong suốt giúp làm giảm bớt chấn thương cho não và tủy gai. Chất lỏng này lưu thông qua các kênh xung quanh não bộ và tủy gai, liên tục được hấp thu và bổ sung. Dịch não tủy được tạo ra trong các kênh rỗng trong não gọi là các não thất. Một cấu trúc đặc biệt trong mỗi não thất được gọi là các đám rối mạch mạc. Chúng chịu trách nhiệm chính trong việc tạo ra dịch não tủy. Trong điều kiện bình thường, não duy trì sự cân bằng giữa hấp thu và sản xuất dịch não tủy. Tuy nhiên, sự gián đoạn trong hệ thống này có thể xảy ra.

Hệ thống não thất được chia thành bốn khoang được kết nối với nhau bởi các lỗ và ống.

Hai não thất bên trong các bán cầu não được gọi là não thất bên (thứ nhất và thứ hai). Chúng thông với não thất ba qua một lỗ riêng biệt gọi là lỗ Munro. Não thất thứ ba ở trung tâm của não, thành của nó được tạo từ đồi thị và vùng hạ đồi.

Não thất thứ ba thông với não thất thứ tư qua một ống dài gọi là cống Sylvius.

Dịch não tủy chảy xuống não thất thứ tư, chảy xung quanh não và tủy sống bằng cách đi qua một loạt các lỗ hở.

Chức năng và thành phần của não

Trung não là một trung tâm quan trọng cho các cử động của mắt trong khi cầu não chịu trách nhiệm cho việc phối hợp cử động của mắt và mặt, cảm giác khuôn mặt, nghe và thăng bằng.

Hành tủy kiểm soát nhịp thở, huyết áp, nhịp tim và nuốt. Tín hiệu từ vỏ não đến tủy gai và các dây thần kinh gai sống được truyền thông qua cầu não và thân não. Phá hủy các vùng này của não bộ sẽ dẫn đến “chết não”. Nếu không có những chức năng chủ chốt này, con người không thể tồn tại được.

10 trong số 12 dây thần kinh sọ xuất phát từ thân não, kiểm soát thính giác, cử động mắt, cảm giác khuôn mặt, vị giác, nuốt và cử động của mặt, cổ, vai và các cơ của lưỡi. Các dây thần kinh sọ não kiểm soát khướu giác và thị giác xuất phát từ đại não. Bốn cặp dây thần kinh sọ xuất phát từ cầu não: dây thần kinh số 5 đến số 8.

Tiểu não nằm ở phía sau của não bộ, bên dưới thùy chẩm. Nó được ngăn cách với đại não bởi lều tiểu não (nếp gấp của màng cứng). Tiểu não giúp phối hợp các động tác hay tạo nhịp điệu khi cử động. Ví dụ các cử động tinh vi của các ngón tay khi thực hiện phẫu thuật hoặc vẽ một bức tranh. Nó giúp ta duy trì tư thế, cảm giác cân bằng hoặc thăng bằng, bằng cách kiểm soát trương lực các cơ và vị trí của tay chân. Tiểu não rất quan trọng để giúp một người có khả năng thực hiện một hành động nhanh chóng và lặp đi lặp lại như chơi một trò chơi video. Đối với tiểu não, bất thường ở bán cầu nào sẽ gây những triệu chứng trên cùng bên của cơ thể.

Đại não – thành phần chính của não, được chia thành hai phần chính: bán cầu não phải và trái. Đại não là một thuật ngữ thường được sử dụng để mô tả toàn bộ não. Rãnh ngăn cách hai bán cầu được gọi là khe não dọc. Hai bán cầu não được nối với nhau ở phần đáy bởi thể chai. Thể chai liên kết hai nửa của bộ não với nhau và đưa thông tin từ nửa bên này sang bên kia. Bề mặt của đại não chứa hàng tỷ các tế bào neuron thần kinh và các tế bào đệm tạo thành vỏ não.

Vỏ não có màu nâu xám màu được gọi là “chất xám”. Bề mặt của não có các nếp nhăn. Vỏ não có các khe (rãnh nhỏ), những rãnh (rãnh lớn hơn) và chỗ lồi giữa các rãnh gọi là các hồi não. Các nhà khoa học có tên riêng biệt cho những chỗ lồi và các rãnh này. Sau nhiều thập kỷ nghiên cứu, các nhà khoa học đã khám phá ra các chức năng chuyên biệt của các vùng khác nhau của não bộ. Bên dưới vỏ não hay bề mặt của não bộ, các sợi liên kết các neuron thần kinh với nhau tạo nên một vùng màu trắng được gọi là “chất trắng”.

Bán cầu đại não có một vài rãnh đặc biệt. Dựa vào các rãnh này, đại não có thể được chia thành các cặp “thùy”. Thùy chỉ đơn giản là một khu vực rộng lớn của não. Đại não được chia thành các cặp thùy trán, thùy thái dương, thùy đỉnh và thùy chẩm. Mỗi bán cầu có một thùy trán, một thùy thái dương, một thùy đỉnh và một thùy chẩm. Mỗi thuỳ có thể được phân chia một lần nữa thành các khu vực có chức năng rất chuyên biệt. Các thùy não không hoạt động riêng lẻ – chúng hoạt động trong mối quan hệ rất phức tạp với các thùy não khác.

Tín hiệu được dẫn truyền trong não theo nhiều cách. Các tín hiệu được vận chuyển dọc theo các tuyến đường được gọi là đường dẫn truyền. Một khối u gây ra sự phá hủy mô não có thể làm gián đoạn thông tin liên lạc giữa các phần khác nhau của não bộ. Kết quả sẽ dẫn đến mất một chức năng nào đó như nói, đọc, hay khả năng làm theo những mệnh lệnh đơn giản. Tin nhắn có thể đi từ một chỗ lồi này của não đến một chỗ lồi khác (từ hồi não đến hồi não), từ thùy này đến thùy khác, từ bán cầu bên này đến bán cầu bên kia, từ một thùy của não đến các cấu trúc sâu bên trong não, ví dụ đồi thị hoặc từ các cấu trúc sâu của não đến các khu vực khác trong hệ thống thần kinh trung ương.

Các nghiên cứu đã xác định rằng tác động vào một bên của não sẽ gửi tín hiệu điện về phía đối bên của cơ thể. Tác động vào vùng vận động ở phía bên phải của não sẽ tạo ra những cử động ở nửa bên trái của cơ thể. Kích thích vỏ não vận động nguyên phát bên trái sẽ làm cho phía bên phải của cơ thể cử động. Các thông tin vận động và cảm giác của não đi qua phía đối bên để làm cho các chi phía đối bên cử động hoặc có cảm giác. Phía bên phải của não bộ điều khiển phía bên trái của cơ thể và ngược lại. Vì vậy, nếu có một khối u ở bán cầu não bên phải tại vùng kiểm soát hoạt động của cánh tay thì cánh tay bên trái sẽ bị yếu hoặc liệt.

Các dây thần kinh sọ: Có 12 đôi dây thần kinh sọ xuất phát từ não. Những dây thần kinh này chịu trách nhiệm cho các hoạt động rất chuyên biệt và được đặt tên, đánh số như sau :

Dây thần kinh khướu giác: Mùi

Dây thần kinh thị giác: Thị trường và thị lực

Dây thần kinh vận nhãn: Cử động mắt, mở mí mắt

Dây thần kinh ròng rọc: Cử động mắt

Dây thần kinh sinh ba: Cảm giác ở mặt

Dây thần kinh vận nhãn ngoài: Cử động mắt

Dây thần kinh mặt: Khép mi mắt, biểu hiện trên khuôn mặt, cảm giác về mùi vị

Dây thần kinh tiền đình ốc tai: Nghe, thăng bằng

Dây thần kinh thiệt hầu: Cảm giác về mùi vị, nuốt

Dây thần kinh lang thang: Nuốt, cảm giác về mùi vị

Dây thần kinh phụ: Điều khiển các cơ cổ và vai

Dây thần kinh hạ thiệt: Cử động lưỡi

Vùng hạ đồi là một cấu trúc nhỏ có chứa các liên kết thần kinh gửi tín hiệu đến tuyến yên. Vùng hạ đồi xử lý thông tin đến từ hệ thống thần kinh tự động. Nó có vai trò trong việc kiểm soát các chức năng như ăn, hành vi tình dục và ngủ, điều hòa thân nhiệt, cảm xúc, sự tiết các nội tiết tố và vận động. Tuyến yên phát triển từ phần mở rộng của vùng hạ đồi xuống dưới và từ một thành phần thứ hai là từ vòm miệng mở rộng lên.

Thùy trán là lớn nhất trong bốn thùy chịu trách nhiệm cho nhiều chức năng khác nhau. Các chức năng này bao gồm các kĩ năng như vận động tự ý, lời nói, chức năng trí tuệ và hành vi. Những vùng tạo ra các cử động của các bộ phận cơ thể nằm ở vỏ não vận động nguyên phát hay hồi trước trung tâm. Vỏ não trán trước đóng vai trò quan trọng về trí nhớ, trí thông minh, sự tập trung, tính khí và cá tính.

Vỏ não tiền vận động là vùng nằm bên cạnh vỏ não vận động nguyên phát. Nó hướng dẫn cử động của mắt và đầu và cảm giác định hướng của một người. Vùng Broca, quan trọng trong tạo ra ngôn ngữ, nằm ở thùy trán, thường ở phía bán cầu trái.

Thùy này nằm ở phía sau của não và cho phép con người tiếp nhận, xử lý thông tin thị giác. Nó ảnh hưởng lên quá trình con người cảm nhận màu sắc và hình dạng. Thùy chẩm bên phải diễn giải tín hiệu hình ảnh từ thị trường bên trái, trong khi các thùy chẩm trái thực hiện chức năng tương tự cho thị trường bên phải.

Thùy này phân tích đồng thời các tín hiệu nhận được từ các khu vực khác nhau của não như thị giác, thính giác, vận động, cảm giác và trí nhớ. Dựa vào trí nhớ và các thông tin cảm giác mới nhận được để đưa ra ý nghĩa cho các sự vật.

Thùy này nằm ngang vị trí tai ở mỗi bên của não bộ và có thể được chia thành hai phần. Một phần là nằm ở phía dưới (bụng) của mỗi bán cầu và phần kia nằm ở phía bên (ngoài) của mỗi bán cầu. Một vùng ở bên phải là tham gia vào bộ nhớ thị giác, giúp con người nhận biết sự vật và khuôn mặt người. Một vùng ở bên trái tham gia vào bộ nhớ ngôn ngữ, giúp con người ghi nhớ và hiểu ngôn ngữ. Phần phía sau của thùy thái dương cho phép con người phân tích cảm xúc và phản ứng của người khác.

Tuyến tùng phát triển từ phía sau hoặc phần sau của não thất ba. Ở một số động vật có vú, nó điều khiển các phản ứng với bóng tối và ánh sáng. Ở người, nó có vai trò nào đó trong sự trưởng thành sinh dục, tuy nhiên chức năng chính xác của tuyến tùng ở người vẫn chưa được xác định rõ.

Tuyến yên là một tuyến nhỏ dính vào đáy não (phía sau mũi), nằm trong một hố được gọi là hố yên. Tuyến yên thường được gọi là “tuyến chủ” vì nó kiểm soát sự tiết nội tiết tố. Tuyến yên chịu trách nhiệm kiểm soát và điều hòa:

Quá trình tăng trưởng và phát triển

Chức năng của nhiều cơ quan trong cơ thể (ví dụ thận, vú và tử cung)

Chức năng của các tuyến khác (ví dụ: tuyến giáp, tuyến sinh dục và tuyến thượng thận)

Đây là một khoang ở phần sau của hộp sọ, chứa tiểu não, thân não và dây thần kinh sọ não số 5-12.

Đồi thị đóng vai trò như một trạm chuyển tiếp cho gần như tất cả các thông tin đến và đi khỏi vỏ não. Nó có vai trò trong cảm giác đau, sự chú ý và sự tỉnh táo. Nó gồm bốn phần: vùng hạ đồi, vùng trên đồi, đồi thị bụng, và đồi thị lưng. Các hạch nền là cụm các tế bào thần kinh xung quanh đồi thị.

Chức năng ngôn ngữ và lời nói

Nói chung, bán cầu não trái chịu trách nhiệm về ngôn ngữ và lời nói. Vì vậy, nó được gọi là bán cầu ” ưu thế”. Bán cầu não phải có vai trò lớn trong việc xử lý thông tin thị giác và xác định không gian. Trong khoảng một phần ba những người thuận tay trái, vùng chi phối chức năng nói có thể nằm ở bán cầu não phải. Người thuận tay trái có thể cần được làm xét ​​nghiệm chuyên biệt để xác định xem trung tâm ngôn ngữ của họ là ở phía bên trái hay bên phải trước khi được phẫu thuật khu vực đó.

Nhiều nhà thần kinh học cho rằng bán cầu não trái và có thể các phần khác của não bộ rất quan trọng trong ngôn ngữ. Mất ngôn ngữ chỉ đơn giản là một sự rối loạn về chức năng ngôn ngữ. Một số vùng nhất định của não chịu trách nhiệm cho một số chức năng chuyên biệt về ngôn ngữ. Có rất nhiều loại mất ngôn ngữ, tùy thuộc vào vùng não nào bị tổn thương và vai trò của vùng đó trong vấn đề ngôn ngữ.

Có một vùng ở thùy trán của bán cầu não trái được gọi là vùng Broca. Bên cạnh nó là các vùng kiểm soát sự chuyển động của cơ mặt, lưỡi, hàm và cổ họng. Nếu vùng này bị tổn thương, người này sẽ gặp khó khăn trong việc phát âm, vì không có khả năng cử động lưỡi hay cơ mặt để tạo ra âm của từ ngữ. Một người bị mất ngôn ngữ Broca vẫn có thể đọc và hiểu được ngôn ngữ nói nhưng gặp khó khăn trong việc nói và viết.

Có một vùng ở thùy thái dương trái gọi là vùng Wernicke. Tổn thương vùng này gây ra chứng mất ngôn ngữ Wernicke. Khi đó người này có thể tạo ra âm thanh lời nói nhưng lời nói đó vô nghĩa (mất tiếp nhận ngôn ngữ) vì những âm thanh đó không có bất kỳ ý nghĩa gì.

http://www.aans.org/en/Patient%20Information/Conditions%20and%20Treatments/Anatomy%20of%20the%20Brain.aspx