Top 19 # Xem Nhiều Nhất Đặc Điểm Ngành Y Tế / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Đặc Điểm Thị Trường Dịch Vụ Y Tế / 2023

Thị trường dịch vụ y tế và khả năng thỏa mãn điều kiện cạnh tranh hoàn hảo:

Các điều kiện của thị trường cạnh tranh hoàn hảo:

(1) Có số lượng lớn người mua và người bán đủ lớn và trong số những người mua và người bán đó không có ai có thể khống chế giá cả và sản lượng trên thị trường.

Đối với thị trường dịch vụ y tế thì khó có thể đáp ứng được điều kiện này do sự tập trung các cơ sở y tế tại các thị trường địa lý khác nhau thì rất khác nhau. Do vậy, đây chính là tính không hoàn hảo của thị trường dịch vụ y tế.

(2) Không có rào cản khi gia nhập thị trường và rút lui khỏi thị trường: Người sản xuất có quyền tự do gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường trong khi các yếu tố của sản xuất đều di chuyển theo tín hiệu thị trường.

Đối với thị trường dịch vụ y tế, việc tự do gia nhập thị trường là điều hiếm thấy bởi vì như chúng ta đã biết, những người cung ứng dịch vụ y tế bao gồm bệnh viện, phòng khám, phòng mạch và các bác sĩ gia đình đều phải có giấy phép thành lập và giấy phép hành nghề và có trình độ chuyên môn về lĩnh vực này.

(3) Sản phẩm phải đồng nhất, không có sự khác biệt về chất lượng.

Ðối với thị trường dịch vụ y tế thì điều này càng khó đáp ứng bởi vì quá trình khám chữa bệnh lại rất phức tạp và năng động bởi chúng sử dụng nhiều phýõng pháp khác nhau. Ðối với cùng một loại bệnh ở hai bệnh nhân khác nhau nhýng bác sĩ lại dùng hai phương pháp điều trị khác nhau bởi nó còn tùy thuộc vào thể trạng của từng bệnh nhân để bác sĩ có thể kê đơn, bốc thuốc cho phù hợp với từng bệnh nhân.

Đối với thị trường dịch vụ y tế, bệnh nhân không thể tự đưa ra quyết định tiêu thụ sản phẩm, không có hiểu biết gì về dịch vụ mà họ tiêu thụ hoặc là biết rất ít về dịch vụ đó mà họ phụ thuộc hoàn toàn quyết định của người bán (bác sĩ).

Tóm lại, nếu xét dựa trên các điều kiện cơ bản của thị trường cạnh tranh hoàn hảo thị hầu hết các điều kiện của thị trường cạnh tranh hoàn hảo đều không đáp ứng được trong thị trường này.

Cung và cầu trên thị trường dịch vụ y tế

a. Cầu: Là số lượng hàng hoá người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.

“Cầu” là cái mà cuối cùng người tiêu dùng mua. Cái họ mua, trong thị trường dịch vụ y tế thường là do ý kiến của nhà chuyên môn quyết định (bác sỹ). Trong thị trường dịch vụ y tế thì cung quyết định cầu.

b. Cung: Là lượng hàng hóa dịch vụ sẵn sàng cung ứng trên thị trường ứng với mỗi mức giá nhất định.

Trê thị trường dịch vụ y tế luôn tồn tại một vị thế độc quyền của các bệnh viện có nhiều chuyên gia, bác sỹ giỏi với cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại đặc biệt là các trang thiết bị y tế hiện đại giúp cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh được chính xác và hiệu quả.

c. Cung, cầu và trạng thái cân bằng của thị trường:

– Giá cân bằng: Là mức giá tại đó số lượng hàng hoá, dịch vụ mà người mua muốn mua đúng bằng số lượng hàng hoá, dịch vụ mà người bán muốn bán. Nói cách khác, sự cân bằng thị trường đạt được khi lượng cầu bằng lượng cung.

Đối với thị trường dịch vụ y tế, cầu về dịch vụ y tế khám, chữa bệnh của người dân phụ thuộc vào tình trạng bệnh tật của người dân và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân. Trên thị trường này thường xuyên mất cân bằng giữa cung và cầu. Tình trạng các quốc gia không kiểm soát được tình trạng dịch bệnh để dịch bệnh lây lan, không kiểm soát được ô nhiễm môi trường có thể sẽ gây mắc bệnh hàng loạt đối với dân cư tại các khu vực dân cư bị ô nhiễm môi trường.

Những thất bại của thị trường dịch vụ y tế:

Theo Giáo sư Josef Stiglitz – nguyên cố vấn trưởng kinh tế của Ngân hàng thế giới và nhiều nhiều chuyên gia kinh tế đã cảnh báo về những thất bại thị trường dịch vụ y tế.

Việc cung ứng hàng hóa dịch vụ trên thị trường dịch vụ y tế thường gặp các thất bại cơ bản sau: Thông tin bất đối xứng (giữa bệnh nhân và bác sỹ; giữa người mua bảo hiểm y tế, cơ sở cung ứng dịch vụ y tế với cơ quan bảo hiểm y tế); Độc quyền trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ y tế; Ngoại ứng (bao gồm: ngoại ứng tiêu cực và ngoại ứng tích cực); Tình trạng bất công bằng xã hội…

Đặc điểm thị trường dịch vụ y tế

Admin Mr.Luân

Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP. Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : luanvanaz@gmail.com ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

Tìm Hiểu Về Đặc Điểm Của Ngành Y Dược Nước Ta / 2023

Hiện nay, cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, nhu cầu chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh bằng thuốc của con người ngày càng trở nên cấp thiết hơn. Do đó, mọi người đều cần và sử dụng thuốc ở các mức độ khác nhau. Đó có thể là những viên thuốc cảm sốt, thuốc bổ sung vitamin thông thường hay đến các loại thuốc đặc biệt điều trị các căn bệnh nan y. Ở nước ta hiện có 2 loại thuốc khá phong phú và rất đa dạng về chủng loại, chủ yếu là Tây y và Đông y.

Đây là một loại thuốc gắn với nền Y học cổ truyền dân tộc, có nguồn gốc từ xa xưa. Nguyên liệu của thuốc Đông y chính là lá, củ, thân, rễ cây cỏ hay động vật, khoáng vật. Nhìn chung, những loại thuốc này được bào chế được theo phương pháp cổ truyền của dân tộc. Một số thuốc khác được bào chế dưới dạng hiện đại như: chè tan, các loại viên nang, viên nén… để tăng tính tiện dụng cho những người sử dụng.

So với Tây y, thuốc Đông y thường có tác dụng chữa trị bệnh chậm hơn. Tuy nhiên, Đông y có thể chữa trị và giải quyết một số căn bệnh mãn tính theo cơ chế điều hòa cân bằng cho cơ thể. Đây chính là điểm mạnh của thuốc Đông y mà các loại thuốc khác không có.

Tân dược được du nhập vào nước ta cùng với nền y học hiện đại, do đó còn được gọi là thuốc Tây. Các loại thuốc này được sản xuất từ các hóa chất, vi nấm hay các loại hợp chất từ cây cỏ được bào chế dưới dạng tinh khiết. Trong một số trường hợp, chúng còn là hợp chất tự nhiên bán tổng hợp thành các chất khác. Ngoài ra, một số loại thuốc tân dược khác còn được bào chế từ sản phẩm động vật tự nhiên.

Ưu điểm nổi bật của thuốc Tây y là có hiệu lực trị bệnh nhanh và tiện dụng. Tuy nhiên, do nguồn gốc của chúng chủ yếu là từ hóa chất nên có thể gây ra một số tác dụng phụ bất lợi cho người bệnh khi dùng thuốc thường xuyên.

2. Tìm hiểu đặc điểm của ngành y dược Việt Nam

Trong lịch sử ngành y dược Việt Nam, trải các triều đại phong kiến, nền y dược dân tộc vẫn luôn được chú trọng và quan tâm phát triển. Đến năm 1858, khi thực dân pháp tiến hành xâm lược nước ta đã đưa nền y học phương tây du nhập theo. Ngành Dược Tây y đã phát triển vào thập niên 90 và thực sự phát triển khi nền kinh tế bước vào hội nhập và phát triển bền vững. Đặc điểm của ngành y dược nước ta như sau:

Đối tượng lao động: Tất cả loại hóa chất và dược liệu đều có thể bào chế thành các sản phẩm thuốc chữa bệnh. Chúng không chỉ có tác dụng chữa bệnh cho con người mà còn dùng để chữa bệnh cho động vật như gà, trâu, bò, chó, mèo, khỉ…

Nội dung lao động: Các loại thuốc đều được điều chế bằng các phương pháp hóa học. Khi bào chế thuốc, người ta sẽ phải tuân thủ theo những tỷ lệ nhất định để tạo ra những loại thuốc chữa bệnh một cách chi tiết, cụ thể nhất.

Công cụ lao động: Các dụng cụ, thiết bị thí nghiệm, các loại máy móc và dây chuyền sản xuất trong các nhà máy sản xuất Dược phẩm hiện tại.

Yêu cầu trình độ: Để có thể làm việc trong lĩnh vực Dược học, người làm phải sở hữu bằng tốt nghiệp ngành Dược từ Trung cấp trở lên. Các cá nhân làm việc trong ngành này phải có kiến thức chuyên sâu về Dược và các kỹ năng cần có của một người Dược sĩ.

Điều kiện lao động: Dược sĩ phải thường xuyên làm việc trong phòng thí nghiệm hay các nhà sản xuất thuốc. Do đó, họ phải tiếp xúc với nhiều hóa chất độc hại và không hề có lợi cho sức khỏe. Nhìn chung, mỗi một cá nhân đều phải tuân thủ nghiêm ngặt chặt chẽ theo yêu cầu của các cơ quan, các tổ chức.

Chống chỉ định y học: Người làm trong lĩnh vực y dược cần phải có sức khỏe tốt và không mắc các bệnh truyền nhiễm hay tim mạch. Đặc biệt, các Dược sĩ không dị ứng với những loại hóa chất điều chế thuốc.

Từ xưa đến nay, khi con người cảm thấy cơ thể không khỏe hay vấn đề gì bất thường đều có thói quen tìm đến các loại thuốc chữa trị bệnh phù hợp. Vì vậy, ngành Dược có vai trò quan trọng trong xã hội cũng như trong hệ thống y tế. Nếu công tác đào tạo ngành Dược trong nhà trường tốt thì các Dược sĩ sau khi ra trường sẽ có kiến thức và kỹ năng chuyên môn cao để thực hành nghề khi ra trường. Đồng thời đóng góp tích cực trong việc khám chữa bệnh, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho quốc gia.

Bên cạnh đó, ngành Dược còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người. Vì vậy, Dược sĩ không chỉ có vai trò trong việc chẩn đoán, kê toa, hướng dẫn cho người bệnh mà họ cũng cần phải có cái tâm, đạo đức nghề nghiệp.

Tìm Hiểu Đặc Điểm Của Hệ Thống Y Tế New Zealand / 2023

Là thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), New Zealand là một quốc gia có nền kinh tế ở tầm trung bình với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người khoảng 30.000 đô-la Mỹ (35.000 đô-la New Zealand). Dân số gần 4,5 triệu người trải rộng trên hai hòn đảo chính và các đảo nhỏ khác. Một phần ba dân số cư trú tại Auckland – một thành phố ở phía bắc đảo Bắc. Khoảng một phần tư dân số sống trên đảo Nam rộng lớn hơn. Dân số còn lại phân bố trên nhiều thành phố và thị trấn nhỏ hơn ở khắp đất nước. Điều này tạo ra những thách thức đối với tiếp cận dịch vụ y tế của người dân. Tuổi thọ trung bình năm 2011 là 81,2 tuổi (83 đối với nữ; 79,4 đối với nam). Tuy nhiên, vẫn còn sự bất bình đẳng đáng kể, với tuổi thọ của người dân tộc (Māori và Thái Bình Dương) thấp hơn 10 tuổi so với những người New Zealand khác và tỷ lệ mắc các bệnh khác nhau cũng cao hơn.

Một thay đổi lớn khác đối với hệ thống y tế New Zealand đó là sự ra đời của 20 Hội đồng y tế quận (District Health Board – DHB) chịu trách nhiệm lập kế hoạch và cấp kinh phí hoạt động cho các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ theo khu vực địa lý, bao gồm cả chăm sóc ban đầu và chăm sóc tại bệnh viện. Các thành viên của hội đồng được bầu từ địa phương và được Bộ Y tế bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Y tế. Bên cạnh đó, Hội đồng Y tế Quốc gia (National Health Board – NHB) được thành lập vào năm 2009 với tư cách là một đơn vị kinh doanh thuộc Bộ Y tế với trách nhiệm cấp ngân sách, theo dõi và lập kế hoạch cho các DHB.

Trong những năm qua, hệ thống y tế New Zealand đã trải qua nhiều lần tái cấu trúc, đặc biệt là trong giai đoạn từ cuối những năm 1980 đến 2000. Hệ thống phân phối chăm sóc sức khỏe ngày nay có 20 DHB khu vực (được ban hành theo Đạo luật Dịch vụ Y tế và Khuyết tật Công cộng New Zealand). Mỗi DHB có các đặc điểm của một hệ thống y tế địa phương tích hợp, chịu trách nhiệm về các dịch vụ y tế cho một dân số theo địa bàn địa lý, bệnh viện là một thành phần và được đặt dưới sự quản lý của hệ thống DHB và có quyền tự chủ hạn chế. Hầu hết các DHB đều có Giám đốc điều hành hoặc tương đương, đồng thời cũng là giám đốc điều hành bệnh viện. Bản thân các bệnh viện có một đội ngũ quản lý, và luôn liên kết với DHB triển khai các dịch vụ y tế cho địa phương, vượt ra ngoài bức tường bệnh viện.

Các DHB sở hữu các bệnh viện công lập, và mua các dịch vụ chăm sóc ban đầu, dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật, dịch vụ sức khỏe tâm thần, dịch vụ y tế công cộng và các dịch vụ dựa trên cộng đồng khác từ các nhà cung cấp phù hợp và sẵn có. Mỗi DHB được yêu cầu theo luật phải có 3 tiểu ban quản lý các lĩnh vực hoạt động khác nhau: ủy ban y tế công cộng; ủy ban dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật; và một ủy ban tư vấn bệnh viện. Mỗi ủy ban đều có các thành viên DHB được bầu và bổ nhiệm.

Đầu những năm 1990, dưới thời CHE, các nhà quản lý có bằng quản trị kinh doanh, có kinh nghiệm ngoài ngành y tế, đã được tuyển dụng để điều hành và quản lý các bệnh viện ở New Zealand, nhưng hiệu quả không đạt được như mong đợi. Vào giữa những năm 1990, những người có nhiều kinh nghiệm hơn về y tế và là bác sĩ lâm sàng đã được đưa trở lại vai trò quản lý, mặc dù không có yêu cầu nào quy định giám đốc điều hành bệnh viện phải là bác sĩ. Tuy nhiên, hầu hết các bệnh viện lúc bấy giờ đều có một Giám đốc chuyên môn (Chief Medical Officer: CMO) là bác sĩ thực hành, và là thành viên của nhóm điều hành bệnh viện.

Nhiều cơ hội đào tạo quản lý cho các bác sĩ lâm sàng bắt đầu xuất hiện vào cuối những năm 1990. Năm 1998, New Zealand đã gia nhập Trường Quản trị Y khoa Hoàng gia Úc, nơi cung cấp chương trình đào tạo sau đại học 3 năm về quản trị y tế. Hơn nữa, một số trường đại học ở New Zealand bắt đầu cung cấp các chương trình đào tạo thạc sĩ quản lý y tế công cộng và quản lý dịch vụ y tế. Từ năm 2001, việc quản lý các bệnh viện công đã được giám sát bởi các DHB.

Sơ đồ tổ chức của hệ thống y tế ở New Zealand

Đặc Điểm Cấu Tạo Khẩu Trang Y Tế 4 Lớp Kháng Khuẩn / 2023

Hình ảnh cấu tạo khẩu trang y tế 4 lớp kháng khuẩn

Cấu tạo của khẩu trang y tế 4 lớp

Đánh giá có tác dụng bảo vệ hiệu quả sức khỏe con người trước sự lây lan của các loại vi khuẩn gây bệnh. Loại khẩu trang này thường được sử dụng nhiều trong các cơ sở y tế, bệnh viện,… Cấu tạo cơ bản của khẩu trang y tế thường bao gồm lớp vải, quai đeo và nẹp nhựa cố định vị trí. Trong đó 4 lớp vải giúp ngăn chặn bụi mịn cùng các loại dịch bệnh hiệu quả cụ thể:

2 lớp vải ở mặt trong và ngoài được thiết kế bằng vải chống thấm. Ngăn tình trạng các giọt chứa vi khuẩn thấm vào bên trong cũng như phát tán ra bên ngoài.

1 lớp vải kháng khuẩn có tác dụng ngăn chặn vi khuẩn và bụi bẩn có kích thước nhỏ.

1 lớp giấy lọc than hoạt tính.

Với những đặc tính trên, ngoài sử dụng tại các bệnh viện, phòng khám sức khỏe. Khẩu trang y tế 4 lớp còn được khuyên dùng tại các hầm mỏ, những nơi có môi trường không khí nhiều bụi bẩn.

Cấu tạo của khẩu trang y tế sử dụng 4 lớp kháng khuẩn.

Ưu điểm của Sản phẩm khẩu trang y tế 4 lớp

Một số ưu điểm nổi bật của sản phẩm giúp đạt được nhiều sự quan tâm của người tiêu dùng việt nam hiện nay như:

Thiết kế 4 lớp kháng khuẩn bảo vệ hệ hô hấp của cơ thể tốt nhất.

Thoáng mát, dễ dàng hô hấp, cảm giác thoải mái, dễ chịu.

Sản phẩm phù hợp với mọi làn da, không gây kích ứng ngứa ngáy cho da.

Độ an toàn đã được bộ y tế kiểm định phân phối toàn quốc.

Thiết kế kiểu dáng và màu sắc phù hợp với mọi người, mọi lứa tuổi. Trẻ em, người lớn, nam nữ, nhân viên văn phòng, y tế,… để có thể sử dụng.

Gọng nhựa cố định vị trí, ôm sát mặt.

Dây đeo bằng vải thun co dãn theo sự vận động của mặt không gây đau mỏi trong thời gian dài đeo.

Ngoài ra, khi sử dụng khẩu trang y tế 4 lớp còn giúp bạn ngăn chặn một số loại khí độc khác như: HN3, SO2, H2S, CO,… hiệu quả hơn các loại khẩu trang khác lên đến 90%

Quy cách đóng 1 hộp 50 chiếc khẩu trang.

Cách sử dụng khẩu trang y tế

Hiện nay, trên thị trường có 3 dạng khẩu trang y tế chính là 3 lớp, 4 lớp, và 5 lớp. Cách sử dụng của cả 3 dòng sản phẩm các bạn đều có thể thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: 2 tay cầm dây đeo giữ khẩu trang hai bên, đặt sát mặt. Phần có gọng nhựa mềm đặt phía trên.

Bước 3: Bóp nhẹ phần gọng nhựa để cố định khẩu trang với khuôn mặt. Kéo phần dưới của khẩu trang xuống bao quát toàn bộ cằm.