Cấu Tạo Của Khoang Miệng

--- Bài mới hơn ---

  • Khuôn Ép Nhựa (Cấu Tạo, Yêu Cầu Kỹ Thuật, Phần Loại)
  • Tìm Hiểu Về Cấu Tạo Của Khuôn Ép Nhựa
  • Kết Cấu & Nguyên Lý Hoạt Động Khuôn Ép Nhựa
  • Khuôn Ép Nhựa Là Gì? Cấu Tạo Khuôn Ép Nhựa Như Thế Nào?
  • Tìm Hiểu Cấu Tạo Và Quy Trình Lắp Ráp Khuôn Ép Nhựa
  • 1. Vị trí của Khoang miệng

    Miệng hay khoang miệng hay mồm (oral cavity, buccal cavity) là phần đầu tiên của hệ tiêu hóa có nhiệm vụ nhận, nghiền nát và trộn thức ăn với nước bọt. Ngoài chức năng là nơi bắt đầu tiếp nhận và tiêu hóa thức ăn thì ở miệng người còn đóng vai trò giao tiếp, giọng nói được tạo ra ở cổ họng, lưỡi, môi và hàm trong đó ngôn ngữ là một phạm vi âm thanh có vai trò quan trọng nhất định.

    2. Cấu tạo của Khoang miệng

    Giải phẫu miệng bao gồm ổ miệng, các tuyến nước bọt, răng và lưỡi. Môi, má, khẩu cái và lợi là những cấu trúc thuộc ổ miệng. Các cung răng chia ổ miệng thành hai phần: phần trước cung là tiền đình miệng và phần sau cung là ổ miệng chính:

    • Tiền đình miệng (oral vestibule) Tiền đình được giới hạn ở bên ngoài bởi các môi và má và ở bên trong bởi lợi và răng, thông với bên ngoài qua khe miệng (oral fissure). Ở trên và dưới, tiền đình được giới hạn bởi đường lật của niêm mạc từ môi và má lên lợi tạo nên một vòm hình móng ngựa. Khi răng của hai hàm áp nhau, nó thông với ổ miệng chính thức qua những khe nằm ở phía sau các răng cối thứ ba.
    • Các môi trên và dưới (upper/lower lip) là hai nếp thịt bao quanh khe (lỗ) miệng. Chúng được lót ở mặt ngoài bằng da và ở mặt trong bằng niêm mạc, các lớp lót này bao quanh cơ vòng miệng, các mạch máu và thần kinh môi, mô xơ-mỡ và nhiều tuyến nước bọt nhỏ đổ dịch tiết vào tiền đình miệng. Hai môi gặp nhau tại các mép môi (labial commissure); các mép môi là những giới hạn bên của khe (lỗ) miệng và tạo nên các góc miệng (angle of mouth). Rãnh dọc ở giữa mặt da của môi trên được gọi là nhân trung (philtrum). Mặt trong của mỗi môi có một nếp niêm mạc nối với lợi gọi là hãm môi (frenulum of upper/lower lip).
    • Má (cheek) tạo nên thành bên của miệng, liên tiếp với môi ở phía trước. Nó được cấu tạo từ nông vào sâu bằng da, các cơ vân (cơ mút, cơ gò má lớn, cơ cười, cơ bám da cổ..) và niêm mạc. Giữa cơ và niêm mạc có thể mỡ má (buccal fad pad). Ông tuvến nước bọt mang tai đổ vào mặt trong của má bằng một lỗ ở đối diện với răng cối thứ hai hàm trên.
    • Ổ miệng chính thức (oral cavity proper) ổ miệng đích thực được giới hạn ở trước và hai bên bởi các cung huyệt răng, các răng và lợi; ờ phía sau, nó thông với hầu qua eo họng (isthmus of fauces). Trần của ổ miệng chính do khẩu cái cứng và khẩu cái mềm tạo nên, sàn miệng chủ yếu được tạo bởi phần trước của lưỡi, phần còn lại của sàn do niêm mạc từ lưỡi lật lên mặt trong xương hàm dưới tạo nên. Phần trước sàn miệng được nối với mặt dưới của lưỡi bởi một nếp niêm mạc gọi là hãm lưỡi. Ở mỗi bên của đầu dưới hãm lưỡi có một nhú niêm mạc gọi là cục dưới lưỡi, nơi mà ống tuyến dưới hàm đổ vào ổ miệng.
    • Lợi (gingiva) là một lớp mô mềm trùm phủ các cung huyệt răng được cấu tạo bằng mô sợi và được phù bởi thượng mô lát tầng. Lợi gồm hai phần: phần tự do bao quanh cổ răng và phần dính chặt vào các cung huyệt răng xương hàm trên và xương hàm dưới, ở gần răng, niêm mạc trên mặt tiền đình của lợi tạo thành những nhú cao gọi là nhú lợi (gingival papilla).
    • Khẩu cái (palate) hay vòm miệng gồm phần cứng cấu tạo bằng xương và phần mềm cấu tạo bằng cân-cơ. tất cả đều được phủ bằng niêm mạc. Khẩu cái cứng (hard palate) do mỏm khẩu cái của xương hàm trên và mảnh ngang xương khẩu cái tạo nên.Khẩu cái mềm (soft palate) là một vạt mô mềm di động bám vào bờ sau khẩu cái cứng, tỏa xuống dưới và ra sau ở giữa các phần mũi và miệng của hầu. Ở giữa bờ sau của khẩu cái mềm có một mỏm gọi là lưỡi gà (uvula) nhỏ xuống dưới. Ở mỗi bên của khẩu cái mềm có hai nếp niêm mạc chạy xuống: nếp trước là cung khẩu cái-lưỡi (palatoglossal arch) đi tới bờ bên của lưỡi tại chỗ nối giữa phần trước rãnh và phần sau rãnh của lưỡi, tạo nên các giới hạn bên của eo họng. Nếp sau là cung khẩu cái-hầu (palatopharyngeal arch) đi tới thành bên của khẩu hầu. Giữa hai cung này là hố hạnh nhân (tonsillar fossa) chứa hạnh nhân khẩu cái (palatine tonsil).
    • Có hai loại tuyến nước bọt: Các tuyến nước bọt lớn là các cặp tuyến mang tai, tuyến dưới hàm và tuyến dưới lưỡi; chúng nằm ở tương đối xa niêm mạc miệng và dịch tiết của chúng được các ống ngoại tuyến dẫn tới ổ miệng. Các tuyến nước bọt nhỏ bao gồm các tuyến môi, các tuyến má, các tuyến khẩu cái và các tuyến lưỡi, chúng nằm trong niêm mạc hoặc lớp dưới niêm mạc và đổ dịch tiết của chúng trực tiếp vào niêm mạc hoặc gián tiếp qua nhiều ống ngắn.

    Cấu tạo của miệng người còn gồm răng là những cơ quan tiêu hóa phụ góp phần vào việc tiêu hoá cơ học ở miệng:

    • Mỗi răng bao gồm một thân răng hay vành răng (crown), một chân răng hay rễ răng (root) và một cổ răng (neck/cervix) là chỗ nối giữa thân và chân răng. Chân răng được gắn với huyệt răng bằng mô quanh răng, hay dây chằng quanh răng, dày khoảng 0,2 mm. Thân răng được bao bọc bằng lớp men răng (enamel) cứng, trong mờ, dày khoảng 1,5 mm, còn chân răng được bọc bằng chất xi măng (cement) mỏng hơi vàng. Một mặt cắt dọc qua răng cho thấy rằng bền dưới men răng và chất xi măng là lớp ngà răng vây quanh ổ tuỷ (pulp cavity), hay ổ răng, ở trung tâm. Ổ tuỷ bành rộng ở đầu thân răng của nó thành ổ tuỷ thân răng (pulp cavity of crown) và thu hẹp ở chân răng thành ống chân răng (root canal). Ống chân răng mờ ra ngoài tại lỗ đỉnh chân răng. Ổ tuỷ răng chứa tủy răng, bao gồm tủy thân răng và tuỷ chân răng
    • Bộ răng sữa (deciduous teeth) có 20 chiếc. Theo trình tự từ mặt phẳng giữa tiến sang bên và ra sau, răng sữa ở mỗi nửa cung răng được gọi tên như sau: răng cửa trung tâm, răng cửa bên, răng nanh, răng cối thứ nhất và răng cối thứ hai; trong hệ thống kí hiệu Palmer, các răng sữa được chỉ ra bằng trình tự các chữ cái A, B, C, D và E, bắt đầu từ răng cửa trung tâm. Răng cửa có thân răng hình thang với mặt trước lồi và mặt sau lõm, mặt nhai chỉ là một bờ gọi là bờ cắt; răng nanh có một mấu nhọn; hai loại này thích ứng với nhiệm vụ cắt và xé thức ăn và chỉ có một chân răng. Các răng cối có bốn mấu. Răng cối hàm trên có ba chân răng: răng cối hàm dưới có hai chân ràng. Các răng cối nghiền và nhai thức ăn. Bộ răng sữa mọc trong khoảng thời gian từ 6 tháng – 30 tháng tuổi, bắt đầu từ răng cửa trung tâm. Cả bộ răng sữa được thay bằng răng vĩnh viễn trong thời gian từ 6 tới 12 tuổi. Thứ tự mọc răng sữa thường là A. B, D, C, E.
    • Bộ răng vĩnh viễn (permanent teeth) có 32 răng, mỗi nửa hàm bao gồm 2 răng cửa, 1 răng nanh. 2 răng tiền cối (hàm bé), và 3 răng cối (hàm lớn); chúng mọc trong khoảng thời gian từ 6 tuổi tới tuổi trưởng thành. Các răng cửa và răng nanh của bộ răng vĩnh viễn giống với răng sữa mà chúng thay thế nhưng các răng cối của bộ răng sữa được thay thế bằng các răng tiền cối (hay hàm bé) thứ nhất và thứ hai: răng tiền cối vĩnh viễn là những răng có hai mấu và một chân răng (riêng răng tiền cối thứ nhất của hàm trên có hai chân răng). Có ba răng cối (hay răng hàm lớn) vĩnh viễn nằm sau răng tiền cối thứ hai: chúng không thay thế cho bất kì răng sữa nào. Răng cối thứ nhất mọc lúc 6 tuổi, răng cối thứ hai mọc lúc 12 tuổi, răng cối thứ ba (răng khôn) mọc sau 17 tuổi. Răng khôn có thể không mọc mà bị vùi trong huyệt răng nếu phần cung răng ở sau răng cối thứ hai không đủ chỗ cho nó mọc. Kích thước các răng cối giảm dần từ răng cối thứ nhất tới răng cối thứ ba. Chúng thường có 4 mấu ở mặt nhai riêng răng cối thứ nhất hàm dưới có 5 mấu. Theo hệ thống Palmer, răng vĩnh viễn của mỗi nửa hàm được đánh số từ 1 tới 8, tính từ răng cửa trung tâm tới răng cối thứ ba. Thứ tự mọc răng vĩnh viễn là 6,1, 2, 3, 4, 5, 7, 8.

    Lưỡi (tongue) là một khối cơ vân được phủ bởi niêm mạc; nó là cơ quan thực hiện các chức năng nhai, nuốt, nếm và nói. Lưỡi nằm trên sàn miệng và thành trước của khẩu hầu, được chính các cơ của nó gắn với xương móng, xương hàm dưới, mỏm trâm, khẩu cái mềm và thành hầu.

    • Hình thể ngoài của lưỡi có một rễ, một đỉnh, một mặt lưng lưỡi và một mặt dưới; các mặt của lưỡi gặp nhau tại các bờ lưỡi. Rễ lưỡi (root of tongue) được gắn vào xương hàm dưới và xương móng; ở giữa các xương này, nó tiếp xúc ở dưới với các cơ cằm-móng và hàm móng. Lưng lưỡi (dorsum of tongue) được rãnh tận (terminal sulcus) chia thành hai phần: phần trước rãnh (psulcal part), hay phần miệng, tạo nên khoảng 2/3 chiều dài lưỡi và là phần được phủ bằng một niêm mạc có nhiều nhú lưỡi (lingual papillae); phần sau rãnh hay phần hầu tạo nên thành trước của khẩu hầu và được phủ bằng một niêm mạc có nhiều nang bạch huyết tập trung lại thành hạnh nhân lưỡi (lingual tonsil). Rãnh tận có hình chữ V với hai nhánh chữ V chạy về phía trước – bên từ một chỗ lõm sâu trên đường giữa gọi là lỗ tịt của lưỡi (foramen caecum of tongue). Ở mỗi bờ lưỡi, ngay trước cung khẩu cái lưỡi, có 4-5 nếp thẳng đứng gọi là các nhú dạng lá. Niêm mạc phần trước rãnh của lưng lưỡi có một rãnh giữa chạy dọc và có nhiều nhú lưỡi. Đó là một hàng các nhú dạng đài nằm trước rãnh tận, các nhú dạng nấm và các nhú dạng chỉ. Mặt dưới lưỡi (inferior surface of tongue) nhẵn, liên tiếp với nền miệng và được nối với nền miệng bởi một nếp niêm mạc trên đường giữa gọi là hãm lưỡi (frenulum of tongue); ở mỗi bên hãm lưỡi, có một nếp niêm mạc chạy về đỉnh lưỡi gọi là nếp tua (fimbriated fold).
    • Lưỡi được cấu tạo bởi một khung xương-sợi và các cơ. Khung xương-sợi gồm xương móng cùng hai màng sợi là cân lưỡi (lingual aponeurosis) và vách lưỡi (lingual septum). Các cơ của lưỡi (muscles of tongue) gồm những cơ mà các thớ phát sinh và tận hết ngay trong lưỡi (các cơ nội tại) và các cơ đi từ phần lân cận tới tận hết ở lưỡi (cơ ngoại lai). Khi co, các cơ lưỡi làm nâng, hạ lưỡi, đẩy lưỡi ra trước hoặc kéo lưỡi ra sau.
    • Mạch và thần kinh của lưỡi: Động mạch gồm các nhánh của động mạch lưỡi: nhánh lưng lưỡi và động mạch lưỡi sâu. Tĩnh mạch. Tĩnh mạch lưỡi thu máu tĩnh mạch của lưỡi và đổ về tĩnh mạch cảnh trong. Bạch huyết đổ vào các hạch dưới cằm, dưới hàm và các hạch cổ sâu.
    • Vận động cho các cơ của lưỡi do các nhánh của thần kinh hạ thiệt. Thần kinh lưỡi, nhánh của thần kinh hàm dưới, chi phối cảm giác chung cho vùng trước rãnh tận. Thừng nhĩ chi phối cảm giác vị giác cho vùng trước rãnh, trừ các nhú dạng đài. Các nhánh lưỡi của thần kinh thiệt hầu cảm giác chung và cảm giác vị giác ở phần sau rãnh tận và các nhú dạng đài.

    3. Chức năng của Khoang miệng

    Hướng về phía trước miệng, cấu trúc của miệng ở phía trên là vòm miệng cứng (hard palate) do đáy xương hàm trên tạo thành cho phép lưỡi ép vào bề mặt vững chắc nên làm cho thức ăn được pha trộn và mềm hơn còn vòm miệng mềm (soft palate) hướng về phía sau có thể di chuyển về phía trên khi thức ăn được nuốt và như vậy ngăn chặn thức ăn khỏi bị ép lên đi vào mũi hoặc các đường đi vào mũi ở phía sau miệng. Thòng xuống từ trung tâm của vòm mềm là một miếng mô gọi là lưỡi gà (Uvula) tạo thành một miếng bịt có hiệu quả ở các đường khí khi thức ăn được nuốt vào nên sẽ ngăn cản sự nghẹt thở.

    Tiêu hóa ở miệng là tiếp nhận thức ăn và nghiền xé thức ăn thành từng mảnh nhỏ thông qua các hoạt động cơ học:

    • Nhai là hoạt động cơ học của miệng có tác dụng nghiền xé và trộn đều thức ăn với nước bọt, có lúc nhai được thực hiện tự động nhưng có khi được thực hiện chủ động. Nhai tự động: Khi ăn uống bình thường, đó là một phản xạ không điều kiện do thức ăn kích thích vào niêm mạc miệng tạo nên. Nhai chủ động: Khi gặp thức ăn cứng khó nhai hoặc trong ăn uống giao tiếp.
    • Nuốt là hoạt động cơ học phối hợp giữa miệng và thực quản có tác dụng đẩy thức ăn đi từ miệng xuống đoạn cuối của thực quản, sát ngay phía trên tâm vị dạ dày. Động tác nuốt được thực hiện qua 2 giai đoạn: Giai đoạn đầu: Là một động tác nửa tự động, được thực hiện như sau: Miệng ngậm lại. Lưỡi nâng lên ép vào vòm miệng đẩy thức ăn rơi vào họng. Giai đoạn hai: Khi thức ăn rơi vào họng thì động tác nuốt chuyển sang giai đoạn hai và từ đây nuốt là 1 phản xạ không điều kiện được gọi là phản xạ ruột. Phản xạ ruột là một phản xạ đặc biệt của ống tiêu hóa, được thể hiện như sau: Khi thức ăn kích thích vào một đoạn nào đó của ống tiêu hóa thì đoạn đó và đoạn ở trên sẽ co lại trong khi đoạn dưới giãn ra. Như vậy phản xạ ruột có tác dụng đẩy thức ăn đi tới.

    Do phản xạ ruột nên khi thức ăn rơi vào họng, họng sẽ co lại, họng trước (họng miệng) và họng trên (họng mũi) cũng co lại, tiểu thiệt đậy khí thanh quản, trong khi đó phần đầu thực quản giãn ra, kết quả là thức ăn bị đẩy từ họng vào đoạn đầu của thực quản. Ở đây, thức ăn lại kích thích gây ra phản xạ ruột và tiếp tục bị đẩy xuống phía dưới. Cứ thế, thức ăn đi đến đâu, phản xạ ruột xuất hiện ở đó đẩy thức ăn đi dần dần xuống đoạn cuối của thực quản.

    Bài tiết nước bọt: Nước bọt là dịch tiêu hóa của miệng có nguồn gốc từ 3 cặp tuyến nước bọt lớn là tuyến mang tai, tuyến dưới hàm, tuyến dưới lưỡi và từ một số tuyến nhỏ khác như tuyến má, tuyến lưỡi… Nước bọt là dịch tiết hỗn hợp của các tuyến trên. Số lượng khoảng 0,8 – 1 lít/24h.

    Bên cạnh đó, miệng còn đóng vai trò giao tiếp, giọng nói được tạo ra bởi tổ hợp hoạt động của cổ họng, hàm, lưỡi và môi để tạo ra âm thanh – ngôn ngữ nói. Bởi vì là cơ quan liên kết với đường tiêu hóa và hệ thống hô hấp nên miệng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tiêu hóa và hô hấp của cơ thể.

    4. Các bệnh thường gặp

    • Ung thư lưỡi
    • Nhiệt miệng (loét miệng)
    • Ung thư khoang miệng
    • Ung thư tuyến nước bọt
    • Sâu răng
    • Viêm nhiễm miệng

    Nguồn: Vinmec

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoang Miệng: Gồm Những Cấu Trúc Nào Và Đóng Vai Trò Ra Sao?
  • Khoang Miệng Là Gì? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Khoang Miệng
  • Jack Cắm Là Gì? Các Loại Jack Thông Dụng Hiện Nay Trong Dàn Âm Thanh
  • Các Cách Đấu, Hàn Các Loại Jack Âm Thanh: Canon 3 Chân, Rca, 6 Ly, Bông Sen…
  • Các Loại Jack Tín Hiệu Âm Thanh Được Dùng Phổ Biến Hiện Nay
  • Khoang Miệng Là Gì? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Khoang Miệng

    --- Bài mới hơn ---

  • Khoang Miệng: Gồm Những Cấu Trúc Nào Và Đóng Vai Trò Ra Sao?
  • Cấu Tạo Của Khoang Miệng
  • Khuôn Ép Nhựa (Cấu Tạo, Yêu Cầu Kỹ Thuật, Phần Loại)
  • Tìm Hiểu Về Cấu Tạo Của Khuôn Ép Nhựa
  • Kết Cấu & Nguyên Lý Hoạt Động Khuôn Ép Nhựa
  • Khoang miệng – cấu tạo của khoang miệng

    Khoang miệng là phần đầu cảu hệ thống tiêu hóa gồm nhiều bộ phận cấu tạo nên như: Môi răng vòm miệng lưỡi, màn hầu niêm mạc miệng tuyến nước bọt… Phía trước miệng là môi và cung răng

    Phần trên miệng – vòm cung lõm lên trên được cấu tạo bởi đáy xương hàm trên (có thêm phần mềm kéo dài về phía sau). Đáy miệng thì gồm có sàn miệng được gắn cố định với lưỡi. Phía sau miệng thông với đường lên là lỗ mũi và hai đường xuống là phế quản và thực quản

    Đôi môi là cơ quan biểu hiện của miệng, được cấu tạo bởi các sợi cơ rải rác có mô đàn hồi và nhiều dây thần kinh nên đây là một bộ phận khá nhạy cảm. Miệng còn được lót bằng lớp màng nhầy (niêm mạc) chứa các tuyến sản xuất chất dịch hơi dính. Sự tiết dịch liên tục của các tuyến này khiến miệng luôn ẩm ướt, hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động của các tuyến nước bọt.

    Phía trước miệng là vòm miệng cứng do đáy xương hàm trên tạo nên, cho phép lưỡi ép vào một bề mặt vững chắc, giúp hoạt động làm mềm và pha trộn thức ăn dễ dàng hơn. Vòm miệng mềm phía sau có thể ngăn chặn thức ăn không bị đưa lên mũi.

    Khoang miệng là phần đầu của hệ thống tiêu hóa gồm răng, môi…

    Chức năng của khoang miệng

    Miệng là phần đầu của hệ tiêu hóa có chức năng tiếp nhận và bắt đầu tiêu hóa thức ăn bằng cách nghiền nát thức ăn với hoạt động của hàm răng thành những miếng nhỏ vụ hơn rồi trộn với nước bọt. Miệng là nơi đầu tiên của ống tiêu hóa, tiếp nhận và nghiền xé thức ăn rồi đưa thức ăn đã được nghiền nhỏ xuống đoạn tiếp nối với thực quản.

    Hoạt động của miệng: Nhai, nuốt, bài viết nước bọt để giúp thức ăn dính vào nhau, trơn và dễ nuốt hơn. Ngoài ra, các tuyến nước bọt trong miệng còn có thể bảo vệ niêm mạc miệng khỏi các tác nhân có hại trong thức ăn, chống nhiễm trùng và cung cấp enzyme tiêu háo, phân giải một phần tinh bột chính thành đường maltose.

    Bên cạnh đó, miệng còn đóng vai trò giao tiếp, giọng nói được tạo ra bởi tổ hợp hoạt động của cổ họng, hàm, lưỡi và môi để tạo ra âm thanh – ngôn ngữ nói. Bởi vì là cơ quan liên kết với đường tiêu hóa và hệ thống hô hấp nên miệng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tiêu hóa và hô hấp của cơ thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Jack Cắm Là Gì? Các Loại Jack Thông Dụng Hiện Nay Trong Dàn Âm Thanh
  • Các Cách Đấu, Hàn Các Loại Jack Âm Thanh: Canon 3 Chân, Rca, 6 Ly, Bông Sen…
  • Các Loại Jack Tín Hiệu Âm Thanh Được Dùng Phổ Biến Hiện Nay
  • Đấu Nối Jack Trong Âm Thanh: Dây Giắc Canon
  • Jfet Là Gì? Tìm Hiểu Về Jfet
  • Khoang Miệng Là Gì? Khái Niệm Và Cấu Tạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Sinh Học 8 Bài 41: Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da
  • Cấu Tạo Khuôn Ép Nhựa (P2)
  • Kết Cấu & Nguyên Lý Hoạt Động Của Khuôn Ép Nhựa
  • Đặc Điểm Chung Của Khuôn Ép Nhựa 2 Tấm Và Khuôn Ép Nhựa 3 Tấm
  • Hướng Dẫn Phân Biệt Khuôn Ép Nhựa Mà Nhiều Người Đang Nhầm Lẫn
  • Miệng, khoang miệng (oral cavity, buccal cavity) hay mồm là phần đầu tiên của hệ tiêu hóa có chức năng nhận thức ăn và bắt đầu tiêu hóa bằng cách nghiền nát cơhọc thức ăn thành kích thước nhỏ hơn và trộn với nước miếng. Ngoài chức năng là nơi bắt đầu tiếp nhận và tiêu hóa thức ăn, ở người, miệng còn đóng vai trò giao tiếp. Dù giọng nói được tạo ra ở cổ họng, lưỡi, môi và hàm cũng có vai trò tạo ra một phạm vi âm thanh nhất định, trong đó gồm có ngôn ngữ.

    • Chính đôi môi đêm lại cho miệng sự biểu hiện của nó. Chúng được tạo nên từ các sợi cơ rải rác có các mô đàn hồi và được cung cấp rất nhiều dây thần kinh làm cho đôi môi vô cùng nhạy cảm. Bao phủ đôi môi là một dạng thay đổi của da, là một kiểu cấu trúc trung gian giữa da thật bao phủ mặt và màng lót bên trong của miệng. Không giống như da thật, da môi không có lông, tuyến mồ hôi hoặc tuyến tiết bã nhờn.
    • Miệng được lót bằng màng nhầy (niêm mạc), chứa đựng các tuyến sản xuất chất dịch trong hơi dính được gọi là niêm dịch. Sự tiết ra liên tục của các tuyến này giữ cho bên trong miệng thường xuyên ẩm ướt, được giúp đỡ bởi hoạt động của các tuyến nước bọt. Niêm mạc lót trong hai má nhận lãnh mức độ hao mòn rất lớn và có khả năng tái sinh đặc biệt.
    • Hướng về phía trước miệng, ở phía trên là vòm miệng cứng (hard palate) còn vòm miệng mềm (soft palate) hướng về phía sau. Vòm cứng do đáy xương hàm trên tạo thành, cho phép lưỡi ép vào bề mặt vững chắc và vì vậy làm cho thức ăn được pha trộn và làm mềm. Độ mềm của vòng cần thiết vì nó có thể di chuyển về phía trên khi thức ănđược nuốt và như vậy ngăn chặn thức ăn khỏi bị ép lên đi vào mũi và các đường đi vào mũi ở phía sau miệng
    • Thòng xuống từ trung tâm của vòm mềm là một miếng mô gọi là lưỡi gà (Uvula). Chức năng chính xác của nó là một điều bí mật, nhưng một số ý kiến cho rằng nó tạo thành một miếng bịt có hiệu quả ở các đường khí khi thức ăn được nuốt vào, vì vậy ngăn cản sự nghẹt thở.

    Cấu Tạo Khoang Miệng

    • Tổng số răng của con người có 32 chiế
    • Xương hàm trên được nối với xương mặt bằng khớp bất động: cố định và bất động khi nhai
    • Xương hàm dưới được nối với xương sọ bằng khớp động: thực hiện nhai, đưa hàm lên, xuống, sang phải, trái.

    Cấu tạo

    • Men răng: Cứng và bền, có tác dụng bảo vệ răng
    • Ngà răng: Có cấu tạo giống như cấu tạo xương
    • Tuỷ răng: Gồm mô liên kết, các mạch máu và nhánh thần kinh

    Chức năng: cắn, xé, nhai, nghiền nhỏ thức ăn

    Phân loại

    • Răng cửa: Có hình dạng như cái đục, có nhiệm vụ cắt thức ăn
    • Răng nanh: Nhọn, có nhiệm vụ cắn xé thức ăn
    • Răng hàm: Phẳng, có mấu lồi, thích nghi với nhiệm vụ nghiền nhỏ thức ăn

    Cấu tạo

    • Lưỡi là một khối cơ vân chắc, rất mềm dẻo
    • Phần gốc lưỡi dày hơn gọi là cuống lưỡi, dính với nền hầu sau miệng
    • Trong lưỡi có nhiều mạch máu và các sợi thần kinh

    Chức năng

    • Xáo trộn thức ăn
    • Cho biết các vị giác của thức ăn
    • Tham gia vào việc hình thành tiếng nói.

    Như vậy, các bạn đã được hiểu về cấu tạo của miệng/khoang miệng. Hi vọng Nha Khoa Hollywood đã đem đến cho các bạn những thông tin cần thiết và bổ ích!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Học Sinh Giỏi De Hsg 8 Phu Khanh Doc
  • Top 20 Loại Bàn Chải Đánh Răng Tốt Nhất 2022 Sạch Sâu Của Nhật Hàn Mỹ
  • Giải Vbt Sinh Học Lớp 6 Bài 28: Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hoa
  • Giáo Án Sinh Học 6 Tiết 33: Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hoa
  • Giáo Án Hóa Học Lớp 10
  • Ngành Ruột Khoang: Đặc Điểm Chung

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Chung Và Vai Trò Của Ngành Ruột Khoang
  • Lợi Ích Kỳ Diệu Của Nước Đối Với Cơ Thể
  • 13+ Lợi Ích Của Nước Ích Lợi Của Nước Đối Với Con Người
  • Nicotin Là Gì? Tác Hại Và Tác Dụng Của Nicotine Mà Bạn Nên Biết
  • Hiểu Đúng Về Thuốc Lá Điện Tử
  • Đặc điểm chung của ngành ruột khoang

    Thuỷ tức nước ngọt, sứa, hải quỳ, sinh vật biển…là những thay mặt cho ngành ruột khoang. Tuy chúng có hình dạng, kích thước và lối sống khác nhau nhưng đều sở hữu chung những đặc điểm về kết cấu.

    Trong ngành ruột khoang nhiều hơn thế khoảng chừng 10 nghìn loài khác nhau. Trừ số lượng nhỏ sống ở nước ngọt như thủy tức, còn đa số các loài ruột khoang khác thì sinh sống ở biển. Vậy đặc điểm chung và vai trò của ngành ruột khoang là gì?

    Ngành Ruột khoang rất đa dạng và phong phú từ:

    • Số lượng loài nhiều.
    • Kết cấu cơ thể và lối sống phong phú.
    • Các loài có hình dạng và kích thước rất khác nhau.

    Những đặc điểm chung của ngành ruột khoang là:

    • Cơ thể đối xứng tỏa tròn.
    • Là những sinh vật dị dưỡng.
    • Thành cơ thể gồm 2 lớp tế bào, giữa là tầng keo.
    • Ruột dạng túi.
    • Tấn công và tự vệ bằng tế bào gai.

    Vai trò của ngành ruột khoang là gì?

    Lợi ích trong tự nhiên

    • Ngành ruột khoang có ý nghĩa sinh thái xanh so với biển và đại dương, cung cấp thức ăn và nơi ẩn náu cho một số động vật hoang dã.
    • Ngành ruột khoang tạo ra một phong cảnh thiên nhiên vô cùng độc đáo và là tham dự để phát triển du lịch như hòn đảo sinh vật biển vùng nhiệt đới gió mùa.

    Lợi ích so với đời sống

    • Ngành ruột khoang là nguyên liệu dùng làm làm đồ trang sức quý, trang trí như vòng tay, vòng cổ… làm bằng sinh vật biển.
    • Làm vật liệu xây dựng: sinh vật biển đá
    • Là vật thông tư cho tầng địa chất: hóa thạch sinh vật biển
    • Làm thực phẩm: gỏi sứa
    • Một số loài sứa có thể gây ngứa và độc: sứa lửa
    • Cản trở giao thông đường thủy: hòn đảo sinh vật biển ngầm

    Vừa rồi là những đặc điểm chung và vai trò của ngành ruột khoang trong sinh học. Phần tiếp theo của nội dung bài viết sẽ nhắc đến những loài thay mặt cho ngành ruột khoang.

    Một số loài thay mặt cho ngành ruột khoang

    Sứa

    Kết cấu cơ thể sứa:

    • Cơ thể đối xứng tỏa tròn.
    • Phủ ngoài cơ thể là lớp ngoài và lớp trong tạo thành khoang vị. Ống vị giữa hai lớp có tầng trung gian dày, chứa nhiều chất keo trong suốt. Chất này hỗ trợ cho cơ thể sứa nổi trên mặt nước và khoang tiêu hóa thu hẹp lại, thông với lỗ miệng quay về phía dưới.
    • Thân của sứa có hình bán cầu, trong suốt.
    • Phía sườn lưng có hình dù, Phần Viền trên có nhiều tua dù. Phía miệng có miệng và các tua miệng. Phía phía trên các xúc tua có nọc độc làm tê liệt con mồi và kẻ thù.

    Nước là thành phần chủ yếu của sứa. Sứa cũng luôn có những đặc điểm chung và vai trò của ngành ruột khoang. Có một số loại sứa có thể ăn được, có tác dụng giải khát như sứa sen, sứa rô…

    Cách di chuyển của sứa: Khi di chuyển, sứa co bóp dù để đẩy nước ra qua lỗ miệng, sau đó tiến về phía trước và ngược lại.

    So sánh giữa sứa và thủy tức đó là: Sứa và thủy tức đều sở hữu kết cấu chung khá giống nhau. Nhưng sứa đơn sơ thích nghi với đời sống di chuyển ở biển hơn.

    Hải quỳ

    Hải quỳ gồm có nhiều loài khác nhau, cũng luôn có những đặc điểm chung của ngành ruột khoang. Hầu hết hải quỳ có cơ thể hình trụ, nhiều sắc tố. Kết cấu của hải quỳ:

    • Cơ thể đối xứng tỏa tròn, có hình trụ, kích thước khoảng chừng từ 2 đến 5 cm. Hải quỳ có thân và đế bám, trên thân có tế bào gai để tự vệ và săn bắt mồi.
    • Lỗ miệng của hải quỳ có nhiều tua miệng được xếp đối xứng nhau và có sắc tố rực rỡ như cánh hoa.

    Hải quỳ sống bám vào bờ đá hoặc các sinh vật khác và thức ăn của nó là các động vật hoang dã nhỏ. Hải quỳ di chuyển bằng phương pháp dựa vào tôm ở nhờ mà di chuyển và xua đuổi kẻ thù, giúp loài tôm nhút nhát tồn tại dưới đại dương rộng lớn. Điều này sẽ sở hữu lợi cho tất cả hai bên.

    Sinh vật biển

    Sinh vật biển có nhiều hình dạng phong phú và sắc tố đa dạng. Sinh vật biển có những đặc điểm chung và vai trò của ngành ruột khoang.

    Sinh vật biển sinh sản vô tính bằng phương pháp mọc chồi, cơ thể của con không tách rời mà dính lấy cơ thể của mẹ. Những tập đoàn sinh vật biển sau nhiều năm liên kết với nhau sẽ tạo ra rạn sinh vật biển.

    Tóm tắt đặc điểm chung và vai trò của ngành ruột khoang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mì Tôm Làm Từ Gì? Cùng Tìm Câu Trả Lời Về Nguồn Gốc Của Mì Tôm
  • Mì Ăn Liền Có Tốt Cho Sức Khỏe?
  • Tác Hại Đáng Sợ Của Việc Ăn Nhiều Mì Tôm
  • Những Sự Thật Về Mì Tôm♨️ Không Phải Ai Cũng Biết❓❓❓
  • Ăn Mì Tôm Có Tốt Không? Đừng Quá Lạm Dụng Món Ăn Nhanh Này
  • Đặc Điểm Chung Và Vai Trò Của Ngành Ruột Khoang

    --- Bài mới hơn ---

  • Lợi Ích Kỳ Diệu Của Nước Đối Với Cơ Thể
  • 13+ Lợi Ích Của Nước Ích Lợi Của Nước Đối Với Con Người
  • Nicotin Là Gì? Tác Hại Và Tác Dụng Của Nicotine Mà Bạn Nên Biết
  • Hiểu Đúng Về Thuốc Lá Điện Tử
  • How Does Nicotine Affect Your Brain?
  • Số lượt đọc bài viết: 15.554

    Thuỷ tức nước ngọt, sứa, hải quỳ, san hô…là những đại diện cho ngành ruột khoang. Tuy chúng có hình dạng, kích thước và lối sống khác nhau nhưng đều có chung những đặc điểm về cấu tạo.

    Trong ngành ruột khoang có đến khoảng 10 nghìn loài khác nhau. Trừ số lượng nhỏ sống ở nước ngọt như thủy tức, còn đa số các loài ruột khoang khác thì sinh sống ở biển. Vậy đặc điểm chung và vai trò của ngành ruột khoang là gì?

    Ngành Ruột khoang rất đa dạng và phong phú từ:

    • Số lượng loài nhiều.
    • Cấu tạo cơ thể và lối sống phong phú.
    • Các loài có hình dạng và kích thước không giống nhau.

    Những đặc điểm chung của ngành ruột khoang là:

    Vai trò của ngành ruột khoang là gì?

    • Ngành ruột khoang có ý nghĩa sinh thái đối với biển và đại dương, cung cấp thức ăn và nơi ẩn nấp cho một số động vật.
    • Ngành ruột khoang tạo ra một cảnh quan thiên nhiên vô cùng độc đáo và là điều kiện để phát triển du lịch như đảo san hô vùng nhiệt đới.
    • Ngành ruột khoang là nguyên liệu dùng để làm đồ trang sức, trang trí như vòng tay, vòng cổ… làm bằng san hô.
    • Làm vật liệu xây dựng: san hô đá
    • Là vật chỉ thị cho tầng địa chất: hóa thạch san hô
    • Làm thực phẩm: gỏi sứa

    Tác hại của ngành ruột khoang là gì?

    • Một số loài sứa có thể gây ngứa và độc: sứa lửa
    • Cản trở giao thông đường biển: đảo san hô ngầm

    Vừa rồi là những đặc điểm chung và vai trò của ngành ruột khoang trong sinh học. Phần tiếp theo của bài viết sẽ nhắc đến những loài đại diện cho ngành ruột khoang.

    Một số loài đại diện cho ngành ruột khoang

    Cấu tạo cơ thể sứa:

    • Cơ thể đối xứng tỏa tròn.
    • Phủ ngoài cơ thể là lớp ngoài và lớp trong tạo thành khoang vị. Ống vị giữa hai lớp có tầng trung gian dày, chứa nhiều chất keo trong suốt. Chất này giúp cho cơ thể sứa nổi trên mặt nước và khoang tiêu hóa thu hẹp lại, thông với lỗ miệng quay về phía dưới.
    • Thân của sứa có hình bán cầu, trong suốt.
    • Phía lưng có hình dù, phần bên trên có nhiều tua dù. Phía miệng có miệng và các tua miệng. Phía bên trên các xúc tua có nọc độc làm tê liệt con mồi và kẻ thù.

    Nước là thành phần chủ yếu của sứa. Sứa cũng có những đặc điểm chung và vai trò của ngành ruột khoang. Có một số loại sứa có thể ăn được, có tác dụng giải khát như sứa sen, sứa rô…

    Cách di chuyển của sứa: Khi di chuyển, sứa co bóp dù để đẩy nước ra qua lỗ miệng, sau đó tiến về phía trước và ngược lại.

    So sánh giữa sứa và thủy tức đó là: Sứa và thủy tức đều có cấu tạo chung khá giống nhau. Nhưng sứa dễ thích nghi với đời sống di chuyển ở biển hơn.

    Hải quỳ bao gồm nhiều loài khác nhau, cũng có những đặc điểm chung của ngành ruột khoang. Hầu hết hải quỳ có cơ thể hình trụ, nhiều màu sắc. Cấu tạo của hải quỳ:

    • Cơ thể đối xứng tỏa tròn, có hình trụ, kích thước khoảng từ 2 đến 5 cm. Hải quỳ có thân và đế bám, trên thân có tế bào gai để tự vệ và săn bắt mồi.
    • Lỗ miệng của hải quỳ có nhiều tua miệng được xếp đối xứng nhau và có màu sắc rực rỡ như cánh hoa.

    Hải quỳ sống bám vào bờ đá hoặc các sinh vật khác và thức ăn của nó là các động vật nhỏ. Hải quỳ di chuyển bằng cách dựa vào tôm ở nhờ mà di chuyển và xua đuổi kẻ thù, giúp loài tôm nhút nhát tồn tại dưới đại dương rộng lớn. Điều này sẽ có lợi cho cả hai bên.

    San hô có nhiều hình dạng phong phú và màu sắc đa dạng. San hô có những đặc điểm chung và vai trò của ngành ruột khoang.

    Cấu tạo của san hô: San hô sống thành một tập thể lớn, mỗi cá thể của tập đoàn có cấu tạo gồm: lỗ miệng và tua miệng. Giữa những cá thể trong tập đoàn san hô đều có sự liên kết với nhau. Cá thể này có thể kiếm thức ăn để nuôi cá thể kia.

    Tóm tắt đặc điểm chung và vai trò của ngành ruột khoang

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngành Ruột Khoang: Đặc Điểm Chung
  • Mì Tôm Làm Từ Gì? Cùng Tìm Câu Trả Lời Về Nguồn Gốc Của Mì Tôm
  • Mì Ăn Liền Có Tốt Cho Sức Khỏe?
  • Tác Hại Đáng Sợ Của Việc Ăn Nhiều Mì Tôm
  • Những Sự Thật Về Mì Tôm♨️ Không Phải Ai Cũng Biết❓❓❓
  • Khoang Miệng: Gồm Những Cấu Trúc Nào Và Đóng Vai Trò Ra Sao?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Của Khoang Miệng
  • Khuôn Ép Nhựa (Cấu Tạo, Yêu Cầu Kỹ Thuật, Phần Loại)
  • Tìm Hiểu Về Cấu Tạo Của Khuôn Ép Nhựa
  • Kết Cấu & Nguyên Lý Hoạt Động Khuôn Ép Nhựa
  • Khuôn Ép Nhựa Là Gì? Cấu Tạo Khuôn Ép Nhựa Như Thế Nào?
    • Môi, má ở phía trước( ngoài) và phía bên.
    • Khẩu cái ở phía trên
    • Sàn miệng ở phía dưới
    • Yết hầu ở phía sau(trong) ăn thông với khoang miệng.

    Khoang miệng mở ra mặt thông qua khe miệng. Trong khi phía sau khoang miệng thông với hầu họng thông qua một lối đi hẹp gọi là eo hầu họng, được bao quanh bởi vòm miệng mềm và vòm hầu.

    Một số xương đóng góp vào khung hình thành khoang miệng. Bao gồm các xương hàm trên, xương khẩu cái và xương thái dương được ghép nối với nhau. Các xương bướm và xương móng đơn độc.

    Cung răng phân chia khoang miệng thành 2 khu vực:

    • Ngoài cung răng là hành lang miệng (tiền đình miệng)
    • Trong cung răng là xoang miệng chính.

    Bên trong khoang miệng liên tục được bôi trơn bởi các tuyến nước bọt cũng tham gia vào quá trình tiêu hóa thức ăn bằng cách tiết ra các enzyme bắt đầu quá trình tiêu hóa carbohydrate. Các tuyến này là các tuyến mang tai, dưới hàm và dưới lưỡi.

    2/ Các đặc điểm giải phẫu trong khoang miệng

    Được cấu tạo bởi mô cơ và mô tuyến, phủ bên ngoài là da và bên trong là niêm mạc.

    Môi trên đụng đến đáy mũi và tiếp giáp với vùng má qua “rãnh môi má mũi”. Rãnh này xuất phát từ cánh mũi chạy xuống dưới và ra bên ngoài đến tận cùng gần khóe mép.

    Ở người trẻ, môi dưới và má không có đường phân chia rõ ràng. Ở người già thì có rãnh bờ môi đi từ khóe mép vòng xuống dưới gần đến bờ xương hàm dưới. Môi dưới tiếp giáp với vùng cằm qua rãnh môi cằm.

    Môi trên và môi dưới tiếp giáp nhau ở 2 bên góc miệng. Nơi đó thấy có một nếp gấp mỏng khi miệng ngậm , đó là Khóe mép. Khóe mép thường ở vị trí tương ứng răng nanh.

    Ở môi có sự chuyển tiếp da của da bên ngoài và niêm mạc. Vùng chuyển tiếp màu đỏ gọi là vành môi. Ngay trung điểm vành môi trên phồng lên tạo củ môi. Từ củ môi, một rãnh rộng nhưng cạn chạy thẳng lên đáy mũi, đó là nhân trung. Ở trung tâm vành môi dưới đôi khi có một rãnh mờ gọi là rãnh môi cằm.

    Phần di động của má được cấu tao bởi: cơ mút, mô mỡ (cục mỡ Bichat). Má được phủ bên ngoài là da và bên trong là niêm mạc má. Niêm mạc má mày hồng nhạt và nhẵn mịn, phía trên và dưới niêm mạc má gập lại để tiếp giáp với niêm mạc xương ổ răng tạo đáy hành lạng miệng ở phía sau. Ở phía trước, niêm mạc má liên tục với niêm mạc môi. Giới hạn sau của niêm mạc má là một nếp gấp của niêm mạc đi từ niêm mạc má phía trên và sau cung răng trên phía sau cung răng dưới. Nếp gấp này do đường đan chân bướm hàm đội lên.

    Thường trên niêm mạc má nổi lên một đường trắng do sự in dấu của mặt nhai các răng cối. Đó là đường nhai. Ở phía sau niêm mạc má, nơi tương ứng với cổ răng 6 hàm trên, có một nốt nhỏ gọi là gai ống stenon hay gai mang tai. Đó là nơi ống stenon mở ra trong miệng.

    Trên đường giữa hàm trên và hàm dưới có nếp gấp niêm mạc nối tiếp với niêm mạc xương ổ răng với môi. Các nếp gấp này hình lưỡi liềm, có độ dày mỏng, dài ngắn thay đổi từng người. Đó là hai thắng môi giữa trên và dưới. Thắng môi trên to và dày hơn thắng môi dưới.

    Ở hai bên vùng răng nanh và răng cối nhỏ trên, dưới, cũng có những nếp gấp tương tự. Chúng gọi là thắng bên. Thường thì thắng bên hàm dưới to và dày hơn ở hàm trên.

    Trong cuộc đời của mỗi người sẽ trải qua 2 hệ răng: răng sữa và răng vĩnh viễn.

    Răng sữa gồm 20 chiếc: 8 răng cửa sữa, 4 răng nanh sữa, 8 răng cối sữa. Bộ răng sữa được hoàn thiện vào năm 3 tuổi. Bắt đầu từ 6 tuổi, các răng sữa sẽ dần rụng đi và được thay thế bởi răng vĩnh viễn.

    Thông thường, một người trưởng thành có 32 răng vĩnh viễn, mỗi hàm 16 cái. Chúng được chia thành bốn góc phần tư với 8 răng mỗi phần: 2 răng cửa, 1 răng nanh 2 răng cối nhỏ và 3 răng cối lớn tạo thành một góc phần tư.

    Mỗi răng nằm trong một ổ răng và được giữ ở vị trí nhờ dây chằng nha chu. Răng bao gồm: men răng, ngà răng , tủy răng. Bề mặt chân răng không có men che phủ, thay vào đó là xê măng.

    Men – đây là phần bên ngoài và là mô khoáng cứng nhất trong cơ thể. Men có thể bị hư hỏng do sâu răng nếu không được chăm sóc đúng cách.

    Ngà răng – đây là lớp dưới men răng. Nếu sâu răng đi qua men răng, sẽ tấn công ngà răng – nơi hàng triệu ống ngà nhỏ dẫn trực tiếp vào tủy răng.

    Tủy răng – đây là mô mềm được tìm thấy ở trung tâm của tất cả các răng. Tủy răng chứa mô thần kinh và mạch máu. Nếu sâu răng đến tủy, bạn thường cảm thấy đau và có thể phải làm thủ thuật lấy tủy.

    Niêm mạc xương ổ mỏng, nhẵn mịn, màu đỏ sậm, ôm sát theo những lồi lõm chân răng tạo ra ở bề mặt xương ổ. Chúng có thể di động được so với bề mặt xương này.

    Niêm mạc nướu bám sát theo các cổ răng, dày và săn chắc hơn niêm mạc xương ổ. Chúng có màu hồng nhạt và có lấm tấm da cam. Nướu dính chặt vào răng và xương bên dưới trừ ở đường viền nướu tự do rất mỏng (1-2 mm). Đây được gọi là nướu rời, để phân biệt với phần còn lại là nướu dính.

    Bờ tự do của nướu nhọn lên tạo gai nướu. Đường tiếp giáp giữa niêm mạc xương ổ răng và nướu là một đường uốn khúc song song với bờ nướu và cách 4mm. Phía sau cung răng dưới, niêm mạc xương ổ phủ lên tam giác hậu hàm. Phía sau cung răng trên, niêm mạc xương ổ phủ lên lồi cùng.

    Vòm khẩu cái tạo thành trần của xoang miệng chính. Khẩu cái có hình vòm cung và gồm hai phần:

    Niêm mạc khẩu cái cứng dày màu hồng nhạt, dính chặt vào bề mặt xương bên dưới. Trên đường giữa ngay phía sau hai răng cửa giữa nổi lên một u thịt hình thuẫn gọi là gai khẩu hay gai cửa. Từ gai cửa, một nếp gấp niêm mạc thấp và hẹp chạy ra sau gọi là đường đan giữa khẩu cái. Từ đường này tỏa ra những nếp gấp ngang gọi là vân khẩu cái.

    Nhìn kỹ niêm mạc khẩu cái có những lỗ nhỏ li ti có khi còn đọng những giọt nước bọt. Đó là những lỗ của các ống dẫn tuyến nước bọt phụ khẩu cái.

    Niêm mạc khẩu cái mềm màu đỏ sậm, mỏng và mịn gần đường tiếp giáp vòm cứng. Bờ tự do của khẩu cái mềm ở giữa tạo thành lưỡi gà. Ở hai bên thì chẻ đôi tạo thành hai trụ hầu. Trụ trước còn gọi là cung khẩu lưỡi. Trụ sau là cung khẩu hầu. Giữa hai trụ là một hốc hình tam giác chứa hạch hạnh nhân. Phần xuống của màng hầu và 2 trụ hầu tạo thành eo hầu. Qua đó khoang miệng ăn thông với khẩu hầu.

    Lưỡi có một phần di động và một phần cố định gọi là đáy lưỡi. Mặt trên lưỡi hay lưng lưỡi được phủ lớp niêm mạc sần sùi hồng nhạt. Mặt này được chia là 2 phần bởi một dãy 8 hay 9 gai vị giác (gai đài) xếp thành chữ V có đỉnh quay vào trong (V lưỡi). Phía trước lưng lưỡi có 3 loại gai vị giác:

    • Gai chỉ: Rất nhỏ, mỏng như sợi chỉ màu trắng
    • Nấm: tròn, màu đỏ tươi nằm lẫn lộn gai chỉ
    • Lá: nằm ở 2 bên bờ lưỡi phía sau, tạo ra những nếp gấp không đều, song song với nhau.

    Niêm mạc lưỡi có nhiều nốt lympho hình tròn, gọi là amidan lưỡi. Mặt dưới lưỡi hay bụng lưỡi được phủ một lớp niêm mạc mỏng. Trên đường giữa có một nếp gấp niêm mạc gắn liền với sàn miệng. Đó là thắng lưỡi. Ở hai bên thắng, có thể thấy 2 u thịt do cơ cằm lưỡi đội lên. Trên đó là 2 nếp gấp niêm mạc rất mỏng. Ngoài ra còn có thể thấy các tĩnh mạch dưới lưỡi chạy ngoằn ngoèo hai bên bụng lưỡi.

    Sàn miệng có hình móng ngựa, ở dưới đầu lưỡi phía trước và ở hai bên của đáy lưỡi. Do đó còn gọi là rãnh dưới lưỡi. Ở đường giữa có thắng lưỡi. Hai bên thắng lưỡi là tuyến dưới lưỡi, đội lên thành hai dãy dưới lưỡi. Trên bề mặt dãy dưới lưỡi có những ống dấn phụ (hay ống Rivinus) của tuyến dưới lưỡi mở ra trong miệng. Dãy dưới lưỡi tận cùng ở gần chỗ thắng lưỡi gắn vào sàn miệng, có 1 gai nhỏ gọi là gai dưới lưỡi. Đó là nơi ổng Wharton của tuyến dưới hàm và có khi ống Bartholin của tuyến dưới lưỡi mở ra trong miệng.

    Có ba cặp tuyến nước bọt chính bao gồm: tuyến dưới lưỡi, tuyến dưới hàm và tuyến mang tai.

    Tuyến mang tai là tuyến lớn nhất trong số các tuyến nước bọt. Tuyến mang tai là tuyến nước bọt tiết thanh dịch. Ống tiết là ống Stenon, chạy ở mặt ngoài cơ cắn, đổ vào miệng ở mặt trong má tương ứng vị trí răng số 6,7 hàm trên.

    Tuyến dưới lưỡi là tuyến nước bọt nhỏ nhất và nằm dưới lưỡi, trên cơ hoành. Tuyến dưới lưỡi: bao gồm rất nhiều tuyến nhỏ, là tuyến nước bọt hỗn hợp. Các ống dưới lưỡi chính kết thúc ở phần dưới lưỡi và bắt nguồn từ phần trước của tuyến. Các ống dẫn dưới lưỡi ngắn hơn dẫn đến sàn khoang miệng.

    Tuyến dưới hàm nằm giữa cơ hai bên, trong tam giác dưới hàm. Tuyến dưới hàm: là tuyến nước bọt hỗn hợp, ống tiết là ống Wharton.

    Sinh lý của tuyến nước bọt

    Các tuyến nước bọt sản xuất 0,5 – 1,5 lít nước bọt mỗi ngày. Nước bọt có chứa các enzyme đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu hóa và bôi trơn khoang miệng để tạo điều kiện cho thức ăn nuốt vào. Nước bọt do tuyến nước bọt tiết ra mỏng và chứa rất nhiều enzyme tiêu hóa.

    Tuyến mang tai là một tuyến thanh dịch. Các tuyến nhầy tiết ra một chất lỏng nhầy nhụa với độ nhớt cao. Sự tiết chất nhầy rất giàu glycoprotein. Cả hai tế bào tuyến thanh dịch và nhầy đều có mặt trong các tuyến dưới lưỡi và dưới hàm.

    Enzyme tiêu hóa alpha-amylase được tìm thấy trong nước bọt. Nó thủy phân các liên kết 1,4-glycosid trong tinh bột. Enzim hoạt động mạnh nhất ở pH 6,9. Tuy nhiên, không hoạt động trong dạ dày do độ pH cực kỳ axit. Ngoài ra, nước bọt có chứa globulin miễn dịch, đặc biệt là IgA, cũng như các chất điện giải như natri, kali, clorua và các chất khác.

    2.9/ Hệ thống bạch huyết của khoang miệng

    Các quá trình thở và ăn liên tục vận chuyển vi khuẩn vào cơ thể. Hầu họng là một trong những điểm xâm nhập của vi khuẩn vào cơ thể và được bao quanh bởi các mô bạch huyết dưới dạng amidan. Được gọi là vòng amidan Waldeyer. Amidan đóng vai trò chính trong việc phát hiện các sinh vật có khả năng gây hại.

    Vòng amidan Waldeyer bao gồm: Amidan khẩu cái , Amidan lưỡi ở gốc lưỡi , Amidan ống quanh lỗ miệng của ống Eustachian, Amidan họng ở vùng họng

    Đường tiêu hóa bắt đầu ở miệng. Quá trình tiêu hóa bắt đầu khi thức ăn được đưa vào miệng, nghiền nát nhờ răng và làm ẩm bằng nước bọt. Nước bọt có một loại enzyme gọi là amylase bắt đầu phân hủy carbohydrate thành đường. Chuyển động của lưỡi giúp đẩy khối thức ăn ướt, mềm ra phía sau miệng nơi có thể nuốt được. Khi nuốt nắp thanh quản đóng trên khí quản để đảm bảo thức ăn được dẫn vào thực quản – ống dẫn đến dạ dày.

    Nếu cơ quan lưỡi, xương hàm và hệ thống thần kinh sinh ba không khỏe mạnh, chúng ta có thể mất thăng bằng Tai của chúng ta là cơ quan cân bằng và nhận vai trò thính giác của chúng ta. Chúng gắn chặt với hàm ta. Xương hàm trên còn hỗ trợ hoạt động của nhãn cầu . Nếu nó không phát triển đầy đủ có thế gây áp lực cho nhãn cầu và tất cả các cơ hỗ trợ.

    Nếu vòm miệng không phát triển đúng vị trí, cấu tạo sẽ ảnh hưởng đến quá trình dẫn lưu xoang với môi trường ngoài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoang Miệng Là Gì? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Khoang Miệng
  • Jack Cắm Là Gì? Các Loại Jack Thông Dụng Hiện Nay Trong Dàn Âm Thanh
  • Các Cách Đấu, Hàn Các Loại Jack Âm Thanh: Canon 3 Chân, Rca, 6 Ly, Bông Sen…
  • Các Loại Jack Tín Hiệu Âm Thanh Được Dùng Phổ Biến Hiện Nay
  • Đấu Nối Jack Trong Âm Thanh: Dây Giắc Canon
  • Đặc Điểm Cấu Tạo Của Virus Cúm

    --- Bài mới hơn ---

  • Vi Sinh Đại Cương Virus
  • Virus Máy Tính Là Gì? Cách Phòng Chống Và Ngăn Chặn Tác Hại Của Nó
  • Nhận Xét Về Những Đặc Điểm Nổi Bật Của Sự Vật, Phong Cảnh Được Miêu Tả Trong Mỗi Đoạn Văn….
  • Đặc Điểm Hình Dáng Bên Ngoài Của Sự Vật
  • Bạn Có Biết Xi Măng Làm Từ Gì? Xi Măng Có Tính Chất Gì Không?
  • Cúm là bệnh lý cấp tính đường hô hấp do virus cúm gây ra. Bệnh có tốc độ lây lan nhanh, dễ phát triển thành dịch nếu không được kiểm soát tốt. Hiểu được đặc điểm cấu tạo của virus cúm như thế nào sẽ giúp nâng cao hiệu quả phòng ngừa căn bệnh này.

    1. Bệnh cúm là gì?

    Bệnh cúm là bệnh nhiễm virus cúm cấp tính đường hô hấp. Người bệnh thường có biểu hiện sốt, mệt mỏi, đau đầu, đau cơ, đau họng và ho kéo dài, có thể kèm theo triệu chứng buồn nôn, nôn ói và tiêu chảy (hay gặp ở trẻ em). Thông thường, bệnh diễn biến khá lành tính, hồi phục trong vòng 2 – 7 ngày. Tuy nhiên, ở trẻ em và người lớn tuổi, người mắc các bệnh về tim, phổi, thận, thiếu máu, bệnh chuyển hóa hoặc người bị suy giảm miễn dịch, bệnh cúm có thể tiến triển nặng hơn, gây viêm tai, viêm phế quản, viêm phổi và viêm não, thậm chí dẫn tới tử vong.

    2. Đặc điểm virus cúm

    Tác nhân gây bệnh cúm là virus cúm (Influenza virus), thuộc nhóm Orthomyxoviridae. Virus cúm được chia thành 3 tuýp là A, B và C. 3 tuýp virus này gây bệnh trên động vật có xương sống, bao gồm chim, các động vật có vú và con người. Chúng được nhận diện nhờ sự khác biệt trong cấu trúc kháng nguyên bề mặt, phức hợp protein và khả năng gây bệnh trên động vật có xương sống. Virus cúm A là căn nguyên gây các đại dịch cúm trên người, một số loài chim và một số động vật có vú. Virus cúm B gây bệnh chủ yếu trên người và một số loài hải cẩu. Virus cúm C gây bệnh chủ yếu trên con người và một số loài lợn.

    Đặc điểm virus cúm có hình cầu, đường kính 80 – 120 nm. Khi được cấy truyền nhiều lần qua phôi gà, virus cúm có hình sợi. Về khả năng tồn tại ở môi trường bên ngoài, vì bản chất của virus cúm là lipoprotein nên virus cúm có sức đề kháng yếu và dễ bị bất hoại bởi bức xạ mặt trời hay tia tử ngoại. Đồng thời, virus cúm cũng dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ 56°C và các chất hòa tan lipid như beta-propiolactone, ether, chloramine, formol, cồn,… Tuy nhiên, ở ngoại cảnh, virus cúm có thể tồn tại hàng giờ, đặc biệt trong điều kiện thời tiết lạnh và độ ẩm thấp. Ở nhiệt độ từ 0 – 4°C, đặc điểm virus cúm có thể sống được vài tuần. Ở nhiệt độ -20°C và đông khô, virus cúm có thể tồn tại cả năm.

    3. Đặc điểm cấu tạo của virus cúm

    Virus cúm hoàn chỉnh có cấu trúc phức tạp, gồm 3 phần:

    • Lõi virus cúm: Là RNA một sợi đơn;
    • Vỏ capsid: Gồm các capsome sắp xếp theo kiểu đối xứng xoắn;
    • Vỏ virus cúm ngoài cùng: Là một lớp lipid có nguồn gốc từ tế bào chủ. Có 2 loại glycoprotein xuyên qua màng tạo thành các gai nhú (khoảng 500 chồi gai khác nhau), xếp xen kẽ nhau trên bề mặt của virus cúm. 2 cấu trúc này là 2 kháng nguyên đặc trưng, quan trọng của virus cúm, đó là kháng nguyên ngưng kết hồng cầu Hemagglutinin (H) và kháng nguyên trung hòa Neuraminidase (N). Kháng nguyên H giúp virus bám vào tế bào niêm mạc đường hô hấp và từ đó xâm nhập vào trong tế bào. Kháng nguyên N có hoạt tính enzyme làm loãng các chất nhầy ở đường hô hấp, giúp virus tiếp xúc dễ hơn với tế bào của niêm mạc, xâm nhập tế bào dễ dàng hơn.

    Về đặc điểm của các kháng nguyên: Có 15 loại kháng nguyên H và 9 loại kháng nguyên N. Những cách tổ hợp khác nhau của 2 loại kháng nguyên H và N tạo nên các phân tuýp khác nhau của virus cúm A. Trong quá trình lưu hành của virus cúm A, 2 kháng nguyên này, đặc biệt là kháng nguyên H luôn biến đổi. Những biến đổi nhỏ liên tục thường gây các đợt dịch cúm vừa và nhỏ. Những biến đổi nhỏ dần tích tụ lại thành các biến đổi lớn, tạo nên phân tuýp kháng nguyên mới.

    Các kháng nguyên H và N quyết định tính kháng nguyên đặc hiệu của từng tuýp virus cúm khác nhau. Chúng cũng là vị trí gắn kết và phát huy tác dụng của các thuốc kháng virus. Bên cạnh đó, kháng nguyên H và N cũng có vai trò quan trọng trong việc sản xuất vắc-xin phòng bệnh cúm.

    Phần lõi virus cúm cũng chứa 1 phân tử ARN và protein – tương ứng với kháng nguyên S (soluble). Kháng nguyên này mang toàn bộ mã di truyền của virus nhưng không có ý nghĩa với cơ chế miễn dịch bảo vệ của cơ thể.

    Chủ động phòng ngừa cúm bằng cách tiêm vắc-xin phòng bệnh sẽ giúp mang lại hiệu quả thiết thực. Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec có cung cấp dịch vụ tiêm vắc-xin cúm.

    Lựa chọn tiêm vắc-xin tại Bệnh viện Vinmec, khách hàng sẽ được hưởng những lợi ích sau:

      Trẻ được các bác sĩ chuyên khoa Nhi – Vắc-xin thăm khám, sàng lọc đầy đủ các vấn đề về thể trạng và sức khỏe, tư vấn về vắc-xin phòng bệnh và phác đồ tiêm, cách theo dõi và chăm sóc trẻ sau tiêm chủng trước khi ra chỉ định tiêm vắc-xin theo khuyến cáo mới nhất của Bộ Y tế & Tổ chức Y tế Thế giới nhằm đảm bảo hiệu quả tốt nhất và an toàn nhất cho trẻ.
    • Đội ngũ bác sĩ và điều dưỡng nhi giàu kinh nghiệm, chuyên nghiệp, hiểu tâm lý trẻ và áp dụng cách giảm đau hiệu quả cho trẻ trong quá trình tiêm chủng.
    • 100% trẻ tiêm chủng được theo dõi 30 phút sau tiêm và đánh giá lại sức khỏe trước khi ra về.
    • Được theo dõi đa khoa trước, trong và sau tiêm chủng tại Hệ thống y tế Vinmec và luôn có ekip cấp cứu sẵn sàng phối hợp với phòng tiêm chủng xử trí các trường hợp sốc phản vệ, suy hô hấp – ngừng tuần hoàn, đảm bảo xử lý kịp thời, đúng phác đồ khi có sự cố xảy ra.
    • Phòng tiêm chủng thoáng mát, có khu vui chơi, giúp trẻ có cảm giác thoải mái và tâm lý tốt trước và sau khi tiêm chủng.
    • Vắc-xin được nhập khẩu và bảo quản tại hệ thống kho lạnh hiện đại, với dây chuyền bảo quản lạnh (Cold chain) đạt tiêu chuẩn GSP, giữ vắc-xin trong điều kiện tốt nhất để đảm bảo chất lượng.
    • Bố mẹ sẽ nhận tin nhắn nhắc lịch trước ngày tiêm và thông tin tiêm chủng của bé sẽ được đồng bộ với hệ thống thông tin tiêm chủng quốc gia.

    Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec hiện đang cung cấp Chương trình tiêm chủng trọn gói với nhiều loại vắc-xin đa dạng cho các đối tượng khác nhau, từ trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, người lớn, phụ nữ trước và trong khi mang thai.

    Riêng trong tháng 12/2019, Vinmec miễn phí tiêm Vắc-xin Viêm gan B sơ sinh (tiêm ngay sau khi sinh) cho bé khi đăng ký Gói tiêm chủng trọn gói dành cho trẻ từ 0-1 tuổi hoặc từ 0-2 tuổi.

    Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Việc Làm, Vai Trò Của Việc Làm Và Giải Quyết Việc Làm
  • Phân Tích Khái Niệm, Vai Trò Và Ý Nghĩa Của Việc Làm
  • Làm Việc Nhóm Là Gì? Làm Việc Nhóm Và Những Điều Bạn Cần Biết.
  • Phân Tích Công Việc Là Gì?
  • Mô Hình Đặc Điểm Công Việc (Job Characteristics Model) Là Gì?
  • Đặc Điểm Cấu Tạo Của Hoa Lan

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Thân Của Cây Hoa Lan
  • Thuyết Minh Về Một Loài Hoa Truyền Thống Của Dân Tộc Việt Nam (Hoa Mai )
  • Thuyết Minh Về Cây Hoa Mai Ngày Tết
  • Các Đặc Điểm Của Cây Hoa Mai Vàng
  • Viết Đoạn Văn Tả Cây Hoa Mai
  • Đặc Điểm Cấu Tạo Của Hoa Lan cũng gần giống như những thực vật khác

    Hình thái của Hoa lan

    A. Cơ Quan Sinh Dục Của Hoa Lan

    Cơ quan sinh dục của tất cả Hoa Lan chủ yếu có 7 bộ phận: 3 lá dài, 3 cánh hoa, 1 trụ (trục hợp nhụy, phần sinh dục).

    ♦ 3 lá dài: thường cùng màu nằm ở phía sau.

    ♦ 3 cánh hoa: nằm kề bên trong, 2 cánh bên thường giống nhau về màu sắc và hình dạng. Cánh còn lại nằm phía dưới, thường có màu sắc và hình dạng đặc sắc, khác hẳn 2 cánh bên trên; còn được gọi là môi hay lưỡi. Chính cánh môi này quyết định giá trị thẩm mỹ của hoa Lan.

    Trước khi hoa nở, môi nằm ở vị trí phía trên, nhưng khi hoa nở nó đã bị xoay đi 180 o làm cho môi quay xuống phía dưới tạo thành một bãi đáp cho côn trùng đến thụ phấn.

    Chính một cánh biến thái này khiến cho hoa Lan khác hẳn với những hoa khác.

    ♦Trụ (nhụy):

    Ở giữa hoa có một cái trụ nổi lên, đó cũng là phần sinh dục của hoa, giúp duy trì nòi giống của cây Lan. Trụ gồm chung hai phần đực và cái phối hợp lại nên còn gọi là Trục Hợp Nhụy.

    Phần đực nằm bên trên của trụ, thường có nắp che chở, bên trong chứa phấn khối (màu vàng).

    Phần cái nằm ở dưới cái mõ có hóc lõm còn gọi nuỗm có chứa chất nhầy để giữ các hạt phấn khi chúng chạm vào, đó cũng là nơi tiếp nhận phấn hoa của bộ phận đực trong sự thụ phấn để thành lập trái về sau. (Phấn hoa dính lại thành khối, không dời từng hạt như ở các loại hạt khác.)

    Sự hiện diện của trụ là phần hợp nhất của bộ phận sinh dục đực và cái. Đó là đặc điểm quan trọng chỉ có ở Phong Lan.

    Tóm lại, Hoa Lan tổ chức theo kiểu tam phân: 3 lá dài, 3 cánh hoa, 3 tâm bì.

    ♦ Bầu noãn:

    Tiếp nối với trụ là bầu noãn. Bên trong bầu noãn có một buồng do 3 phần làm ra gọi là 3 tâm bì. Trong buồng ấy chứa vô số những hạt nhỏ li ti gọi là tiểu noãn, nằm theo chiều dài của tâm bì còn gọi là 3 đường thai tòa. Sau khi thụ phấn và thụ tinh thì các tiểu noãn sẽ biến đổi và phát triển thành hột trong khi bầu noãn sẽ to ra và thành trái. Trái chin sẽ nứt ra theo 6 đường dọc và đường thai tòa để phóng thích hột ra ngoài.

    – Căn cứ vào cấu trúc của cây Lan, đa số tập trung vào 2 nhóm: Đa Thân và Đơn Thân.

    Nhóm Đơn Thân gồm có: Vanda, Phaleanopsis ( Hồ Điệp ), Aerodes, Rhychostylis, Mokara,… Đây là nhóm cây chỉ tăng trưởng theo chiều cao. Ở nhóm này là được thành hai hàng đối nhau, lá trên một hàng xen kẽ với hàng kia. Ở một số giống như Phaleanopsis các đốt rất ngắn và lá trở nên dài đặc.

    Nhóm Đa Thân:

    ♦ Đây là nhóm phát triển theo chiều ngang và đi tới, cây tăng trưởng liên tục. Nhóm này chia làm 2 nhóm phụ, căn cứ vào cách ra hoa:

    • Nhóm ra hoa ở đỉnh ngọn: gồm Laelia, Cattleya,… (ra hoa ở giả hành mới)
    • Nhóm ra hoa ở thân: Dendrobium, Cymbidium, Oncidium,…

    o Nhóm này giả hành rất biến động, có nhiều hoa, giả hành ở dạng thân cây. Các loài của giống Dendrobium thường cho các giả hành mới trên ngọn thân giả hành cũ. Mỗi đợt tăng trưởng mới bắt đầu khi các mắt phát triển. Cánh hoa cũng thay đổi, vài loài hoa các giả hành mới như: Laelia, Cattleya,… còn các loài khác được hình thành trên các giả hành cũ như: Dendrobium, Epidendrum,…

    ♦ Giả hành:

    Có sự biến động rất lớn về giả hành của Lan từ giống này sang giống khác và ngay trong cùng một giống. Giả hành của Lan chỉ xuất hiện trên các loài Lan thuộc nhóm đa thân. Giả hành là bộ phận rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của Lan. Khác với các loài thực vật khác, giả hành tuy là thân nhưng lại chứa diệp lục tố, đây là bộ dự trữ chất dinh dưỡng rất cần thiết cho sự phát triển giả hành mới, sau khi Lan trổ hoa và nghỉ ngơi. Giả hành cũng là cơ quan dự trữ nước, vì thế nếu sự thiếu nước xảy ra thì các nhóm đa thân duy trì sự sống lâu hơn nhóm đơn thân.

    Giả hành có nhiều dạng: dạng hình thoi như: Cattleya,…; hình trụ như: dendro,…; hình tháp như Cymbidium,…;…

    ♦ Thân:

    Thân Lan không có nhiều bộ phận dự trữ chất dinh dưỡng và nước khoáng như giả hành. Thân Lan chỉ có ở các loài đơn thân (chỉ có một số loài thuộc giống Dendrobium và Epidendrum vừa có thân vừa có giả hành). Thân thường biến động rất lớn từ 10-20cm và có thể cao 3-4m hoặc cao hơn nữa.

    Thân thường mang rễ và lá. Ở nhóm đơn thân, rễ và lá thường mọc theo hai chiều thẳng góc nhau. Phát hoa cũng xuất hiện trên thân từ các nách lá, phát hoa thường mọc song song với lá và thẳng góc với rễ.

    ♦ Lá: Tùy theo loài mà Lan thường có nhiều loại lá khác nhau. Lá có những loài bản rộng, bìa lá có thể có răng cưa. Lá có thể mọc đối xứng hoặc không. Đuôi lá có thể tròn hoặc nhọn hoặc khuyết. Tuy nhiên điểm chung nhất ở các loài Lan là lá thường rộng, dài gắn và thân hoặc giả hành bởi một cuống lá dài hay ngắn. Cấu trúc và trạng thái của lá có thể cho biết một số điều sau:

    o Lá càng dày: chịu hạn tốt.

    o Lá mỏng và mềm: phải thường xuyên tưới nước và giữ ấm.

    o Lá hình que, hình trụ: thể hiện chịu nắng tốt, có thể chịu trực tiếp ánh sáng sáng của Mặt trời.

    ♦ Căn hành: chỉ có ở Lan đa thân. Căn hành là nơi cấu tạo các cơ quan dinh dưỡng mới, trên căn hành có nhiều mắt sống, chết hoặc lưu niên. Chính tại giả hành tiếp xúc với căn hành từ 1 đến 2 mắt. Mắt là nơi hình thành những giả hành mới. Căn hành cũng mang rất nhiều rễ để nuôi sống cây Lan. Do đó, căn hành là bộ phận quan trọng nhất cho việc duy trì và phát triển số lượng Lan theo phương pháp cắt chiết thông thường.

    ♦ Rễ: Ở loài Lan đa thân, rễ thường được hình thành từ căn hành. Rễ loài Lan đa số có hình trụ, thường rất dài và phân nhánh. Ở các loài đơn thân thì rễ mọc thẳng từ thân và xen kẽ với lá. Trên bề mặt rễ Lan có sự cấu trúc đặc biệt khác với những loài thực vật khác: đó là chất mô xốp. Chúng thường có màu trắng nhưng khi được thấm nước chúng trở nên xanh trong, chất liệu này hết sức quan trọng, có tác dụng hút nhiều nhất và nhanh nhất. Vì vậy, để phát triển chúng phải có sự đột biến giữa khô và ướt. Do đó, cây Lan cần điều kiện thông thoáng của rễ bằng cách điều chỉnh chế độ tưới sao cho hợp lý, không nên tưới quá nhiều nước. Trạng thái của rễ cũng thể hiện trạng thái của cây Lan có phát triển tốt hay không. Tưới nước nhiều, bón phân không thích hợp, sự phân hủy của giá thể (đất trồng) sẽ đem đến sự ức chế cho rễ, làm cho rễ ngưng phát triển.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuột Không Dây Nào Tốt Nhất, Giá Rẻ (Mới 2022)
  • “bắt Bệnh” Chuột Không Dây Và Cách “chữa Trị” Hiệu Quả
  • 4 Chuột Không Dây Genius Dùng Pin Sạc Tốt Nhất
  • Chuột Không Dây Genius Nx 7010
  • 5 Chuột Không Dây Genius Chính Hãng Tốt Nhất
  • Đặc Điểm Cấu Tạo Của Virus Gây Bệnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Adn Và Gen
  • 5 Chuột Không Dây Genius Chính Hãng Tốt Nhất
  • Chuột Không Dây Genius Nx 7010
  • 4 Chuột Không Dây Genius Dùng Pin Sạc Tốt Nhất
  • “bắt Bệnh” Chuột Không Dây Và Cách “chữa Trị” Hiệu Quả
  • Bài viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Trần Thị Vượng – Khoa Xét nghiệm – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng Virus là một trong những tác nhân nhiễm trùng có kích thước rất nhỏ (đường kính từ 20-300mm), cấu tạo đơn giản nhưng khả năng gây bệnh cho con người cực kỳ nhanh chóng. Virus có đặc tính cơ bản của một sinh vật nhưng chúng không có cấu tạo tế bào, không có khả năng tự sinh sản và không có quá trình trao đổi chất.

    Virus hay còn được gọi là siêu vi trùng có đặc điểm cấu trúc, kiểu sao chép trong tế bào vật chủ khác với những loại vi khuẩn ký sinh nội bào. Một virus sẽ được coi là hoàn chỉnh về cấu trúc khi nó có khả năng tạo ra được sự truyền acid nucleic từ một tế bào này sang một tế bào khác. Mỗi loại virus chỉ có một trong hai loại vật liệu di truyền, hoặc là ARN (acid ribonucleic) hoặc là AND (acid deoxyribonucleic), không có enzym chuyển hóa và enzym hô hấp nên chúng bắt buộc phải ký sinh trong tế bào cảm thụ khác.

    Cấu trúc của virus bao gồm:

    1.1 Cấu trúc chung:

    Gồm hai phần chính là acid nucleic và capsid.

    • Acid nucleic- Vật liệu di truyền: Mỗi loại virus chỉ có một trong hai loại vật liệu di truyền, hoặc là ARN hoặc là ADN. Acid nucleic đóng vai trò quan trọng như: Mang thông tin di truyền, đặc trưng cho từng virus, quyết định khả năng gây nhiễm trùng của virus trong tế bào cảm thụ, quyết định chu kỳ nhân lên của virus trong tế bào cảm thụ và mang tính bán kháng nguyên đặc hiệu của virus

    1.2 Cấu trúc đặc trưng

    Cấu trúc đặc trưng của virus còn được gọi là cấu trúc đặc biệt, chỉ có ở một số loại virus nhất định để thực hiện những chức năng đặc trưng cho virus đó và đây cũng là cơ sở để định loại virus.

    • Virus có vỏ bao ngoài và virus trần
    • Virus có một số enzym đặc trưng

    Virus có thể phân loại theo triệu chứng lâm sàng, theo hình thể, đường truyền hoặc theo cấu trúc vật liệu di truyền.

    2.1 Phân loại theo hình thể của virus

    Thực tế mỗi loại virus sẽ có các đặc điểm hình thể khác nhau như hình sợi, hình cầu, hình khối phức tạp, hình que, hình chùy…

    2.2 Phân loại theo cách sắp xếp của capsid và acid nuleic

    Có thể phân loại virus theo cách sắp xếp của acid nuleic và capsid bởi virus được chia thành 2 loại đối xứng là đối xứng hình khối và đối xứng theo hình xoáy trôn ốc. Trong trường hợp virus đối xứng theo hình xoáy trôn ốc thì acid nucleic và các capsomer sẽ được sắp xếp dọc theo hình lò xo đều hay không đều, còn trong trường hợp đối xứng hình khối thì các capsomer sẽ được sắp xếp thành các hình khối cầu đa diện.

    2.3. Phân loại theo triệu chứng học

    Đây là cách phân loại cổ điển, có ưu điểm là thuận lợi về mặt lâm sàng nhưng cơ bản không chính xác về mặt virus học vì trên thực tế, một loại virus cũng có khả năng gây ra nhiều bệnh khác nhau hoặc một bệnh có thể do nhiều loại virus khác nhau gây ra:

    • Virus gây phát ban: Sốt vàng, dengue sốt xuất huyết, virus bệnh đậu mùa, đậu bò, sởi, rubella
    • Virus gây bệnh ở hệ thống thần kinh: Virus dại, viêm não ngựa miền Đông – miền Tây, virus viêm não Nhật Bản, virus sởi, virus HIV, virus Herpes simplex…
    • Virus gây bệnh ở mắt: Newcastle, Herpes, virus Adeno…
    • Virus gây bệnh ở gan: Virus gây bệnh viêm gan A, B, C, D, E…
    • Virus gây viêm dạ dày, ruột: Norwalk, virus Rota
    • Virus lây truyền qua đường sinh dục: Virus HIV, virus papiloma, virus viêm gan B, virus herpes…
    • Virus gây bệnh ở đường hô hấp: virus cúm, virus hợp bào đường hô hấp, virus adeno…
    • Virus gây bệnh khu trú ở da, cơ, niêm mạc: virus herpes simplex typ 1 gây bệnh xung quanh niêm mạc miệng, typ 2 gây bệnh ở niêm mạc đường sinh dục, virus zona gây viêm da…

    Để đăng ký khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, Quý Khách có thể liên hệ Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc, hoặc đăng ký khám trực tuyến TẠI ĐÂY

    XEM THÊM:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Của Virut Bai 30 Cau Truc Virut Ppt
  • Nguyên Lý Hoạt Động Của Máy Phát Điện (Electric Generator)
  • Đồng Hồ Nước Thông Minh Đo Lưu Lượng Xuất Xứ Đức Anh Malaysia
  • Nguyên Lý Cấu Tạo Và Hoạt Động Của Đồng Hồ Nước Điện Từ
  • Giúp Bạn Phân Loại Đồng Hồ Dựa Vào Kiểu Giáng Bên Ngoài Và Cấu Tạo Của Đồng Hồ
  • Đặc Điểm Và Cấu Tạo Hóa Học Của Adn

    --- Bài mới hơn ---

  • Dàn Ngưng Tụ Làm Mát Bằng Không Khí Là Gì?
  • Bình Ngưng Tụ Là Gì? Bình Ngưng Trong Tháp Giải Nhiệt Nước Có Tác Dụng Gì?
  • Bình Ngưng Ống Chùm Nằm Ngang By Openstax (Page 1/7)
  • Đề Tài: Tìm Hiểu Về Nhà Máy Nhiệt Điện Vĩnh Tân 4, Hay, 9Đ
  • Tìm Hiểu Về Thiết Bị Ngưng Tụ (Condenser) Sử Dụng Trong Nhà Máy Nhiệt Điện
  • Mỗi gốc nucleotit trong ADN được cấu tạo từ 3 thành phần: Đường deoxiribozo (C5H10O4), axit photphoric (H3PO4), một gốc bazơ nitơ (A, T, G, X). Trong đó, các gốc bazơ nitơ T, X có kích thước bé còn A, G có kích thước lớn hơn.

    Vì các nucleotit chỉ khác nhau ở các bazơ nitơ nên người ta gọi tên các gốc này theo tên của bazơ nitơ tức A, T, G, X. Sự liên kết giữa các nucleotit được thực hiện bằng liên kết hóa trị từ đó tạo nên các chuỗi polinucleotit. Đây là liên kết giữa các gốc đường C5H10O4 với của nucleotit này với gốc H3PO4 của nucleotit khác.

    ADN được cấu tạo từ chuỗi xoắn kép gồm 2 mạch polinucleotit xoắn đều quanh một trục. Chuỗi này xoắn theo chiều từ trái sang phải, trong đó, mỗi vòng xoắn gồm 10 cặp nucleotit với độ dài 34 Angstron, đường kính 20 Angstron.

    Trong phân tử ADN có các sự liên kết sau: liên kết trong một mạch đơn và liên kết giữa hai mạch đơn. Liên kết trong một mạch đơn chính là liên kết hóa trị đã giới thiệu ở trên. Liên kết giữa hai mạch đơn là liên kết hóa trị. Đây là liên kết giữa các cặp nucleotit ở hai mạch đối diện với nhau, thực hiện theo nguyên tắc bổ sung (A liên kết với T, G liên kết với X).

    Nhờ nguyên tắc bổ sung, khi biết trình tự sắp xếp của nucleotit trên mạch đơn này, chúng ta có thể tìm ra trình tự sắp xếp của mạch còn lại. Bên cạnh đó, với mỗi phân tử ADN của mỗi loài, tỉ số (A+T)/(G+X) là một hằng số.

    Với cấu tạo hóa học của ADN mang tính đặc thù, vì vậy, mỗi loài sẽ có số lượng thành phần cũng như trình tự sắp xếp các nucleotit theo trật tự riêng. Và sự đặc thù này mang tính nghiêm ngặt, mỗi loài có một trình tự và thành phần riêng. Do đó, ADN mang tính đặc trưng cho từng loài.

    Bên cạnh đó, ADN còn có tính đa dạng. Khi bạn thay đổi cách sắp xếp của các nucleotit bạn sẽ có được các chuỗi ADN khác nhau. Hai tính chất này của ADN chính là cơ sở để tạo nên sự đặc thù và đa dạng cho các loài sinh vật trên Trái Đất hiện nay.

    Chức năng của ADN

    Do mang tính đặc thù và đa dạng cho từng loài, ADN có ý nghĩa quan trọng trong di truyền. Đây là bộ phận đóng vai trò lưu trữ, bảo quyển và truyền đạt thông tin di truyền trong cơ thể sinh vật. Các cấu trúc phân tử và protein đẻ được truyền thông qua phân tử ADN nhờ vậy, cấu trúc ADN quy định tính trạng cơ thể sinh vật.

    Kiến thức về ADN và cấu tạo hóa học của ADN là kiến thức sinh học không thể thiếu trong sự phát triển của khoa học công nghệ hiện nay. Những kiến thức và phân tích về phân tử này giúp con người ứng dụng nhiều trong việc chẩn đoán tính di truyền, pháp y, đa dạng loài, phát triển hệ sinh thái,….

    Việc xét nghiệm ADN có thể thực hiện khi lấy các mẫu như mẫu máu, mẫu nước bọt, mẫu móng tay móng chân, mẫu tóc,… Kết quả xét nghiệm ADN là chính xác nhất nếu muốn thử mối quan hệ huyết thống.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giàn Giáo Ringlock Là Gì? Cấu Tạo Giàn Giáo Ringlock? Báo Giá Giàn Giáo Ringlock 2022
  • So Sánh Adn Và Arn, Mối Liên Hệ Giữa Adn, Arn Trong Sự Sống
  • 1/ So Sánh Cấu Tạo Chức Năng Adn Và Arn 2/ Phân Biệt Cấu Tạo Chức Năng Của Marn , Rarn , Tarn Câu Hỏi 22345
  • So Sánh Cấu Tạo Và Hoạt Động Của Adn Với Arn Câu Hỏi 1228914
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100