Top 16 # Xem Nhiều Nhất Đặc Điểm Cấu Tạo Của Khoang Miệng / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Cấu Tạo Của Khoang Miệng / 2023

1. Vị trí của Khoang miệng

Miệng hay khoang miệng hay mồm (oral cavity, buccal cavity) là phần đầu tiên của hệ tiêu hóa có nhiệm vụ nhận, nghiền nát và trộn thức ăn với nước bọt. Ngoài chức năng là nơi bắt đầu tiếp nhận và tiêu hóa thức ăn thì ở miệng người còn đóng vai trò giao tiếp, giọng nói được tạo ra ở cổ họng, lưỡi, môi và hàm trong đó ngôn ngữ là một phạm vi âm thanh có vai trò quan trọng nhất định.

2. Cấu tạo của Khoang miệng

Giải phẫu miệng bao gồm ổ miệng, các tuyến nước bọt, răng và lưỡi. Môi, má, khẩu cái và lợi là những cấu trúc thuộc ổ miệng. Các cung răng chia ổ miệng thành hai phần: phần trước cung là tiền đình miệng và phần sau cung là ổ miệng chính:

Tiền đình miệng (oral vestibule) Tiền đình được giới hạn ở bên ngoài bởi các môi và má và ở bên trong bởi lợi và răng, thông với bên ngoài qua khe miệng (oral fissure). Ở trên và dưới, tiền đình được giới hạn bởi đường lật của niêm mạc từ môi và má lên lợi tạo nên một vòm hình móng ngựa. Khi răng của hai hàm áp nhau, nó thông với ổ miệng chính thức qua những khe nằm ở phía sau các răng cối thứ ba.

Các môi trên và dưới (upper/lower lip) là hai nếp thịt bao quanh khe (lỗ) miệng. Chúng được lót ở mặt ngoài bằng da và ở mặt trong bằng niêm mạc, các lớp lót này bao quanh cơ vòng miệng, các mạch máu và thần kinh môi, mô xơ-mỡ và nhiều tuyến nước bọt nhỏ đổ dịch tiết vào tiền đình miệng. Hai môi gặp nhau tại các mép môi (labial commissure); các mép môi là những giới hạn bên của khe (lỗ) miệng và tạo nên các góc miệng (angle of mouth). Rãnh dọc ở giữa mặt da của môi trên được gọi là nhân trung (philtrum). Mặt trong của mỗi môi có một nếp niêm mạc nối với lợi gọi là hãm môi (frenulum of upper/lower lip).

Má (cheek) tạo nên thành bên của miệng, liên tiếp với môi ở phía trước. Nó được cấu tạo từ nông vào sâu bằng da, các cơ vân (cơ mút, cơ gò má lớn, cơ cười, cơ bám da cổ..) và niêm mạc. Giữa cơ và niêm mạc có thể mỡ má (buccal fad pad). Ông tuvến nước bọt mang tai đổ vào mặt trong của má bằng một lỗ ở đối diện với răng cối thứ hai hàm trên.

Ổ miệng chính thức (oral cavity proper) ổ miệng đích thực được giới hạn ở trước và hai bên bởi các cung huyệt răng, các răng và lợi; ờ phía sau, nó thông với hầu qua eo họng (isthmus of fauces). Trần của ổ miệng chính do khẩu cái cứng và khẩu cái mềm tạo nên, sàn miệng chủ yếu được tạo bởi phần trước của lưỡi, phần còn lại của sàn do niêm mạc từ lưỡi lật lên mặt trong xương hàm dưới tạo nên. Phần trước sàn miệng được nối với mặt dưới của lưỡi bởi một nếp niêm mạc gọi là hãm lưỡi. Ở mỗi bên của đầu dưới hãm lưỡi có một nhú niêm mạc gọi là cục dưới lưỡi, nơi mà ống tuyến dưới hàm đổ vào ổ miệng.

Lợi (gingiva) là một lớp mô mềm trùm phủ các cung huyệt răng được cấu tạo bằng mô sợi và được phù bởi thượng mô lát tầng. Lợi gồm hai phần: phần tự do bao quanh cổ răng và phần dính chặt vào các cung huyệt răng xương hàm trên và xương hàm dưới, ở gần răng, niêm mạc trên mặt tiền đình của lợi tạo thành những nhú cao gọi là nhú lợi (gingival papilla).

Khẩu cái (palate) hay vòm miệng gồm phần cứng cấu tạo bằng xương và phần mềm cấu tạo bằng cân-cơ. tất cả đều được phủ bằng niêm mạc. Khẩu cái cứng (hard palate) do mỏm khẩu cái của xương hàm trên và mảnh ngang xương khẩu cái tạo nên.Khẩu cái mềm (soft palate) là một vạt mô mềm di động bám vào bờ sau khẩu cái cứng, tỏa xuống dưới và ra sau ở giữa các phần mũi và miệng của hầu. Ở giữa bờ sau của khẩu cái mềm có một mỏm gọi là lưỡi gà (uvula) nhỏ xuống dưới. Ở mỗi bên của khẩu cái mềm có hai nếp niêm mạc chạy xuống: nếp trước là cung khẩu cái-lưỡi (palatoglossal arch) đi tới bờ bên của lưỡi tại chỗ nối giữa phần trước rãnh và phần sau rãnh của lưỡi, tạo nên các giới hạn bên của eo họng. Nếp sau là cung khẩu cái-hầu (palatopharyngeal arch) đi tới thành bên của khẩu hầu. Giữa hai cung này là hố hạnh nhân (tonsillar fossa) chứa hạnh nhân khẩu cái (palatine tonsil).

Có hai loại tuyến nước bọt: Các tuyến nước bọt lớn là các cặp tuyến mang tai, tuyến dưới hàm và tuyến dưới lưỡi; chúng nằm ở tương đối xa niêm mạc miệng và dịch tiết của chúng được các ống ngoại tuyến dẫn tới ổ miệng. Các tuyến nước bọt nhỏ bao gồm các tuyến môi, các tuyến má, các tuyến khẩu cái và các tuyến lưỡi, chúng nằm trong niêm mạc hoặc lớp dưới niêm mạc và đổ dịch tiết của chúng trực tiếp vào niêm mạc hoặc gián tiếp qua nhiều ống ngắn.

Cấu tạo của miệng người còn gồm răng là những cơ quan tiêu hóa phụ góp phần vào việc tiêu hoá cơ học ở miệng:

Mỗi răng bao gồm một thân răng hay vành răng (crown), một chân răng hay rễ răng (root) và một cổ răng (neck/cervix) là chỗ nối giữa thân và chân răng. Chân răng được gắn với huyệt răng bằng mô quanh răng, hay dây chằng quanh răng, dày khoảng 0,2 mm. Thân răng được bao bọc bằng lớp men răng (enamel) cứng, trong mờ, dày khoảng 1,5 mm, còn chân răng được bọc bằng chất xi măng (cement) mỏng hơi vàng. Một mặt cắt dọc qua răng cho thấy rằng bền dưới men răng và chất xi măng là lớp ngà răng vây quanh ổ tuỷ (pulp cavity), hay ổ răng, ở trung tâm. Ổ tuỷ bành rộng ở đầu thân răng của nó thành ổ tuỷ thân răng (pulp cavity of crown) và thu hẹp ở chân răng thành ống chân răng (root canal). Ống chân răng mờ ra ngoài tại lỗ đỉnh chân răng. Ổ tuỷ răng chứa tủy răng, bao gồm tủy thân răng và tuỷ chân răng

Bộ răng sữa (deciduous teeth) có 20 chiếc. Theo trình tự từ mặt phẳng giữa tiến sang bên và ra sau, răng sữa ở mỗi nửa cung răng được gọi tên như sau: răng cửa trung tâm, răng cửa bên, răng nanh, răng cối thứ nhất và răng cối thứ hai; trong hệ thống kí hiệu Palmer, các răng sữa được chỉ ra bằng trình tự các chữ cái A, B, C, D và E, bắt đầu từ răng cửa trung tâm. Răng cửa có thân răng hình thang với mặt trước lồi và mặt sau lõm, mặt nhai chỉ là một bờ gọi là bờ cắt; răng nanh có một mấu nhọn; hai loại này thích ứng với nhiệm vụ cắt và xé thức ăn và chỉ có một chân răng. Các răng cối có bốn mấu. Răng cối hàm trên có ba chân răng: răng cối hàm dưới có hai chân ràng. Các răng cối nghiền và nhai thức ăn. Bộ răng sữa mọc trong khoảng thời gian từ 6 tháng – 30 tháng tuổi, bắt đầu từ răng cửa trung tâm. Cả bộ răng sữa được thay bằng răng vĩnh viễn trong thời gian từ 6 tới 12 tuổi. Thứ tự mọc răng sữa thường là A. B, D, C, E.

Bộ răng vĩnh viễn (permanent teeth) có 32 răng, mỗi nửa hàm bao gồm 2 răng cửa, 1 răng nanh. 2 răng tiền cối (hàm bé), và 3 răng cối (hàm lớn); chúng mọc trong khoảng thời gian từ 6 tuổi tới tuổi trưởng thành. Các răng cửa và răng nanh của bộ răng vĩnh viễn giống với răng sữa mà chúng thay thế nhưng các răng cối của bộ răng sữa được thay thế bằng các răng tiền cối (hay hàm bé) thứ nhất và thứ hai: răng tiền cối vĩnh viễn là những răng có hai mấu và một chân răng (riêng răng tiền cối thứ nhất của hàm trên có hai chân răng). Có ba răng cối (hay răng hàm lớn) vĩnh viễn nằm sau răng tiền cối thứ hai: chúng không thay thế cho bất kì răng sữa nào. Răng cối thứ nhất mọc lúc 6 tuổi, răng cối thứ hai mọc lúc 12 tuổi, răng cối thứ ba (răng khôn) mọc sau 17 tuổi. Răng khôn có thể không mọc mà bị vùi trong huyệt răng nếu phần cung răng ở sau răng cối thứ hai không đủ chỗ cho nó mọc. Kích thước các răng cối giảm dần từ răng cối thứ nhất tới răng cối thứ ba. Chúng thường có 4 mấu ở mặt nhai riêng răng cối thứ nhất hàm dưới có 5 mấu. Theo hệ thống Palmer, răng vĩnh viễn của mỗi nửa hàm được đánh số từ 1 tới 8, tính từ răng cửa trung tâm tới răng cối thứ ba. Thứ tự mọc răng vĩnh viễn là 6,1, 2, 3, 4, 5, 7, 8.

Lưỡi (tongue) là một khối cơ vân được phủ bởi niêm mạc; nó là cơ quan thực hiện các chức năng nhai, nuốt, nếm và nói. Lưỡi nằm trên sàn miệng và thành trước của khẩu hầu, được chính các cơ của nó gắn với xương móng, xương hàm dưới, mỏm trâm, khẩu cái mềm và thành hầu.

Hình thể ngoài của lưỡi có một rễ, một đỉnh, một mặt lưng lưỡi và một mặt dưới; các mặt của lưỡi gặp nhau tại các bờ lưỡi. Rễ lưỡi (root of tongue) được gắn vào xương hàm dưới và xương móng; ở giữa các xương này, nó tiếp xúc ở dưới với các cơ cằm-móng và hàm móng. Lưng lưỡi (dorsum of tongue) được rãnh tận (terminal sulcus) chia thành hai phần: phần trước rãnh (presulcal part), hay phần miệng, tạo nên khoảng 2/3 chiều dài lưỡi và là phần được phủ bằng một niêm mạc có nhiều nhú lưỡi (lingual papillae); phần sau rãnh hay phần hầu tạo nên thành trước của khẩu hầu và được phủ bằng một niêm mạc có nhiều nang bạch huyết tập trung lại thành hạnh nhân lưỡi (lingual tonsil). Rãnh tận có hình chữ V với hai nhánh chữ V chạy về phía trước – bên từ một chỗ lõm sâu trên đường giữa gọi là lỗ tịt của lưỡi (foramen caecum of tongue). Ở mỗi bờ lưỡi, ngay trước cung khẩu cái lưỡi, có 4-5 nếp thẳng đứng gọi là các nhú dạng lá. Niêm mạc phần trước rãnh của lưng lưỡi có một rãnh giữa chạy dọc và có nhiều nhú lưỡi. Đó là một hàng các nhú dạng đài nằm trước rãnh tận, các nhú dạng nấm và các nhú dạng chỉ. Mặt dưới lưỡi (inferior surface of tongue) nhẵn, liên tiếp với nền miệng và được nối với nền miệng bởi một nếp niêm mạc trên đường giữa gọi là hãm lưỡi (frenulum of tongue); ở mỗi bên hãm lưỡi, có một nếp niêm mạc chạy về đỉnh lưỡi gọi là nếp tua (fimbriated fold).

Lưỡi được cấu tạo bởi một khung xương-sợi và các cơ. Khung xương-sợi gồm xương móng cùng hai màng sợi là cân lưỡi (lingual aponeurosis) và vách lưỡi (lingual septum). Các cơ của lưỡi (muscles of tongue) gồm những cơ mà các thớ phát sinh và tận hết ngay trong lưỡi (các cơ nội tại) và các cơ đi từ phần lân cận tới tận hết ở lưỡi (cơ ngoại lai). Khi co, các cơ lưỡi làm nâng, hạ lưỡi, đẩy lưỡi ra trước hoặc kéo lưỡi ra sau.

Mạch và thần kinh của lưỡi: Động mạch gồm các nhánh của động mạch lưỡi: nhánh lưng lưỡi và động mạch lưỡi sâu. Tĩnh mạch. Tĩnh mạch lưỡi thu máu tĩnh mạch của lưỡi và đổ về tĩnh mạch cảnh trong. Bạch huyết đổ vào các hạch dưới cằm, dưới hàm và các hạch cổ sâu.

Vận động cho các cơ của lưỡi do các nhánh của thần kinh hạ thiệt. Thần kinh lưỡi, nhánh của thần kinh hàm dưới, chi phối cảm giác chung cho vùng trước rãnh tận. Thừng nhĩ chi phối cảm giác vị giác cho vùng trước rãnh, trừ các nhú dạng đài. Các nhánh lưỡi của thần kinh thiệt hầu cảm giác chung và cảm giác vị giác ở phần sau rãnh tận và các nhú dạng đài.

3. Chức năng của Khoang miệng

Hướng về phía trước miệng, cấu trúc của miệng ở phía trên là vòm miệng cứng (hard palate) do đáy xương hàm trên tạo thành cho phép lưỡi ép vào bề mặt vững chắc nên làm cho thức ăn được pha trộn và mềm hơn còn vòm miệng mềm (soft palate) hướng về phía sau có thể di chuyển về phía trên khi thức ăn được nuốt và như vậy ngăn chặn thức ăn khỏi bị ép lên đi vào mũi hoặc các đường đi vào mũi ở phía sau miệng. Thòng xuống từ trung tâm của vòm mềm là một miếng mô gọi là lưỡi gà (Uvula) tạo thành một miếng bịt có hiệu quả ở các đường khí khi thức ăn được nuốt vào nên sẽ ngăn cản sự nghẹt thở.

Tiêu hóa ở miệng là tiếp nhận thức ăn và nghiền xé thức ăn thành từng mảnh nhỏ thông qua các hoạt động cơ học:

Nhai là hoạt động cơ học của miệng có tác dụng nghiền xé và trộn đều thức ăn với nước bọt, có lúc nhai được thực hiện tự động nhưng có khi được thực hiện chủ động. Nhai tự động: Khi ăn uống bình thường, đó là một phản xạ không điều kiện do thức ăn kích thích vào niêm mạc miệng tạo nên. Nhai chủ động: Khi gặp thức ăn cứng khó nhai hoặc trong ăn uống giao tiếp.

Nuốt là hoạt động cơ học phối hợp giữa miệng và thực quản có tác dụng đẩy thức ăn đi từ miệng xuống đoạn cuối của thực quản, sát ngay phía trên tâm vị dạ dày. Động tác nuốt được thực hiện qua 2 giai đoạn: Giai đoạn đầu: Là một động tác nửa tự động, được thực hiện như sau: Miệng ngậm lại. Lưỡi nâng lên ép vào vòm miệng đẩy thức ăn rơi vào họng. Giai đoạn hai: Khi thức ăn rơi vào họng thì động tác nuốt chuyển sang giai đoạn hai và từ đây nuốt là 1 phản xạ không điều kiện được gọi là phản xạ ruột. Phản xạ ruột là một phản xạ đặc biệt của ống tiêu hóa, được thể hiện như sau: Khi thức ăn kích thích vào một đoạn nào đó của ống tiêu hóa thì đoạn đó và đoạn ở trên sẽ co lại trong khi đoạn dưới giãn ra. Như vậy phản xạ ruột có tác dụng đẩy thức ăn đi tới.

Do phản xạ ruột nên khi thức ăn rơi vào họng, họng sẽ co lại, họng trước (họng miệng) và họng trên (họng mũi) cũng co lại, tiểu thiệt đậy khí thanh quản, trong khi đó phần đầu thực quản giãn ra, kết quả là thức ăn bị đẩy từ họng vào đoạn đầu của thực quản. Ở đây, thức ăn lại kích thích gây ra phản xạ ruột và tiếp tục bị đẩy xuống phía dưới. Cứ thế, thức ăn đi đến đâu, phản xạ ruột xuất hiện ở đó đẩy thức ăn đi dần dần xuống đoạn cuối của thực quản.

Bài tiết nước bọt: Nước bọt là dịch tiêu hóa của miệng có nguồn gốc từ 3 cặp tuyến nước bọt lớn là tuyến mang tai, tuyến dưới hàm, tuyến dưới lưỡi và từ một số tuyến nhỏ khác như tuyến má, tuyến lưỡi… Nước bọt là dịch tiết hỗn hợp của các tuyến trên. Số lượng khoảng 0,8 – 1 lít/24h.

Bên cạnh đó, miệng còn đóng vai trò giao tiếp, giọng nói được tạo ra bởi tổ hợp hoạt động của cổ họng, hàm, lưỡi và môi để tạo ra âm thanh – ngôn ngữ nói. Bởi vì là cơ quan liên kết với đường tiêu hóa và hệ thống hô hấp nên miệng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tiêu hóa và hô hấp của cơ thể.

4. Các bệnh thường gặp

Ung thư lưỡi

Nhiệt miệng (loét miệng)

Ung thư khoang miệng

Ung thư tuyến nước bọt

Sâu răng

Viêm nhiễm miệng

Nguồn: Vinmec

Khoang Miệng Là Gì? Khái Niệm Và Cấu Tạo / 2023

Miệng, khoang miệng (oral cavity, buccal cavity) hay mồm là phần đầu tiên của hệ tiêu hóa có chức năng nhận thức ăn và bắt đầu tiêu hóa bằng cách nghiền nát cơhọc thức ăn thành kích thước nhỏ hơn và trộn với nước miếng. Ngoài chức năng là nơi bắt đầu tiếp nhận và tiêu hóa thức ăn, ở người, miệng còn đóng vai trò giao tiếp. Dù giọng nói được tạo ra ở cổ họng, lưỡi, môi và hàm cũng có vai trò tạo ra một phạm vi âm thanh nhất định, trong đó gồm có ngôn ngữ.

Chính đôi môi đêm lại cho miệng sự biểu hiện của nó. Chúng được tạo nên từ các sợi cơ rải rác có các mô đàn hồi và được cung cấp rất nhiều dây thần kinh làm cho đôi môi vô cùng nhạy cảm. Bao phủ đôi môi là một dạng thay đổi của da, là một kiểu cấu trúc trung gian giữa da thật bao phủ mặt và màng lót bên trong của miệng. Không giống như da thật, da môi không có lông, tuyến mồ hôi hoặc tuyến tiết bã nhờn.

Miệng được lót bằng màng nhầy (niêm mạc), chứa đựng các tuyến sản xuất chất dịch trong hơi dính được gọi là niêm dịch. Sự tiết ra liên tục của các tuyến này giữ cho bên trong miệng thường xuyên ẩm ướt, được giúp đỡ bởi hoạt động của các tuyến nước bọt. Niêm mạc lót trong hai má nhận lãnh mức độ hao mòn rất lớn và có khả năng tái sinh đặc biệt.

Hướng về phía trước miệng, ở phía trên là vòm miệng cứng (hard palate) còn vòm miệng mềm (soft palate) hướng về phía sau. Vòm cứng do đáy xương hàm trên tạo thành, cho phép lưỡi ép vào bề mặt vững chắc và vì vậy làm cho thức ăn được pha trộn và làm mềm. Độ mềm của vòng cần thiết vì nó có thể di chuyển về phía trên khi thức ănđược nuốt và như vậy ngăn chặn thức ăn khỏi bị ép lên đi vào mũi và các đường đi vào mũi ở phía sau miệng

Thòng xuống từ trung tâm của vòm mềm là một miếng mô gọi là lưỡi gà (Uvula). Chức năng chính xác của nó là một điều bí mật, nhưng một số ý kiến cho rằng nó tạo thành một miếng bịt có hiệu quả ở các đường khí khi thức ăn được nuốt vào, vì vậy ngăn cản sự nghẹt thở.

Cấu Tạo Khoang Miệng

Tổng số răng của con người có 32 chiế

Xương hàm trên được nối với xương mặt bằng khớp bất động: cố định và bất động khi nhai

Xương hàm dưới được nối với xương sọ bằng khớp động: thực hiện nhai, đưa hàm lên, xuống, sang phải, trái.

Cấu tạo

Men răng: Cứng và bền, có tác dụng bảo vệ răng

Ngà răng: Có cấu tạo giống như cấu tạo xương

Tuỷ răng: Gồm mô liên kết, các mạch máu và nhánh thần kinh

Chức năng: cắn, xé, nhai, nghiền nhỏ thức ăn

Phân loại

Răng cửa: Có hình dạng như cái đục, có nhiệm vụ cắt thức ăn

Răng nanh: Nhọn, có nhiệm vụ cắn xé thức ăn

Răng hàm: Phẳng, có mấu lồi, thích nghi với nhiệm vụ nghiền nhỏ thức ăn

Cấu tạo

Lưỡi là một khối cơ vân chắc, rất mềm dẻo

Phần gốc lưỡi dày hơn gọi là cuống lưỡi, dính với nền hầu sau miệng

Trong lưỡi có nhiều mạch máu và các sợi thần kinh

Chức năng

Xáo trộn thức ăn

Cho biết các vị giác của thức ăn

Tham gia vào việc hình thành tiếng nói.

Như vậy, các bạn đã được hiểu về cấu tạo của miệng/khoang miệng. Hi vọng Nha Khoa Hollywood đã đem đến cho các bạn những thông tin cần thiết và bổ ích!

Khoang Miệng: Gồm Những Cấu Trúc Nào Và Đóng Vai Trò Ra Sao? / 2023

Môi, má ở phía trước( ngoài) và phía bên.

Khẩu cái ở phía trên

Sàn miệng ở phía dưới

Yết hầu ở phía sau(trong) ăn thông với khoang miệng.

Khoang miệng mở ra mặt thông qua khe miệng. Trong khi phía sau khoang miệng thông với hầu họng thông qua một lối đi hẹp gọi là eo hầu họng, được bao quanh bởi vòm miệng mềm và vòm hầu.

Một số xương đóng góp vào khung hình thành khoang miệng. Bao gồm các xương hàm trên, xương khẩu cái và xương thái dương được ghép nối với nhau. Các xương bướm và xương móng đơn độc.

Cung răng phân chia khoang miệng thành 2 khu vực:

Ngoài cung răng là hành lang miệng (tiền đình miệng)

Trong cung răng là xoang miệng chính.

Bên trong khoang miệng liên tục được bôi trơn bởi các tuyến nước bọt cũng tham gia vào quá trình tiêu hóa thức ăn bằng cách tiết ra các enzyme bắt đầu quá trình tiêu hóa carbohydrate. Các tuyến này là các tuyến mang tai, dưới hàm và dưới lưỡi.

2/ Các đặc điểm giải phẫu trong khoang miệng

Được cấu tạo bởi mô cơ và mô tuyến, phủ bên ngoài là da và bên trong là niêm mạc.

Môi trên đụng đến đáy mũi và tiếp giáp với vùng má qua “rãnh môi má mũi”. Rãnh này xuất phát từ cánh mũi chạy xuống dưới và ra bên ngoài đến tận cùng gần khóe mép.

Ở người trẻ, môi dưới và má không có đường phân chia rõ ràng. Ở người già thì có rãnh bờ môi đi từ khóe mép vòng xuống dưới gần đến bờ xương hàm dưới. Môi dưới tiếp giáp với vùng cằm qua rãnh môi cằm.

Môi trên và môi dưới tiếp giáp nhau ở 2 bên góc miệng. Nơi đó thấy có một nếp gấp mỏng khi miệng ngậm , đó là Khóe mép. Khóe mép thường ở vị trí tương ứng răng nanh.

Ở môi có sự chuyển tiếp da của da bên ngoài và niêm mạc. Vùng chuyển tiếp màu đỏ gọi là vành môi. Ngay trung điểm vành môi trên phồng lên tạo củ môi. Từ củ môi, một rãnh rộng nhưng cạn chạy thẳng lên đáy mũi, đó là nhân trung. Ở trung tâm vành môi dưới đôi khi có một rãnh mờ gọi là rãnh môi cằm.

Phần di động của má được cấu tao bởi: cơ mút, mô mỡ (cục mỡ Bichat). Má được phủ bên ngoài là da và bên trong là niêm mạc má. Niêm mạc má mày hồng nhạt và nhẵn mịn, phía trên và dưới niêm mạc má gập lại để tiếp giáp với niêm mạc xương ổ răng tạo đáy hành lạng miệng ở phía sau. Ở phía trước, niêm mạc má liên tục với niêm mạc môi. Giới hạn sau của niêm mạc má là một nếp gấp của niêm mạc đi từ niêm mạc má phía trên và sau cung răng trên phía sau cung răng dưới. Nếp gấp này do đường đan chân bướm hàm đội lên.

Thường trên niêm mạc má nổi lên một đường trắng do sự in dấu của mặt nhai các răng cối. Đó là đường nhai. Ở phía sau niêm mạc má, nơi tương ứng với cổ răng 6 hàm trên, có một nốt nhỏ gọi là gai ống stenon hay gai mang tai. Đó là nơi ống stenon mở ra trong miệng.

Trên đường giữa hàm trên và hàm dưới có nếp gấp niêm mạc nối tiếp với niêm mạc xương ổ răng với môi. Các nếp gấp này hình lưỡi liềm, có độ dày mỏng, dài ngắn thay đổi từng người. Đó là hai thắng môi giữa trên và dưới. Thắng môi trên to và dày hơn thắng môi dưới.

Ở hai bên vùng răng nanh và răng cối nhỏ trên, dưới, cũng có những nếp gấp tương tự. Chúng gọi là thắng bên. Thường thì thắng bên hàm dưới to và dày hơn ở hàm trên.

Trong cuộc đời của mỗi người sẽ trải qua 2 hệ răng: răng sữa và răng vĩnh viễn.

Răng sữa gồm 20 chiếc: 8 răng cửa sữa, 4 răng nanh sữa, 8 răng cối sữa. Bộ răng sữa được hoàn thiện vào năm 3 tuổi. Bắt đầu từ 6 tuổi, các răng sữa sẽ dần rụng đi và được thay thế bởi răng vĩnh viễn.

Thông thường, một người trưởng thành có 32 răng vĩnh viễn, mỗi hàm 16 cái. Chúng được chia thành bốn góc phần tư với 8 răng mỗi phần: 2 răng cửa, 1 răng nanh 2 răng cối nhỏ và 3 răng cối lớn tạo thành một góc phần tư.

Mỗi răng nằm trong một ổ răng và được giữ ở vị trí nhờ dây chằng nha chu. Răng bao gồm: men răng, ngà răng , tủy răng. Bề mặt chân răng không có men che phủ, thay vào đó là xê măng.

Men – đây là phần bên ngoài và là mô khoáng cứng nhất trong cơ thể. Men có thể bị hư hỏng do sâu răng nếu không được chăm sóc đúng cách.

Ngà răng – đây là lớp dưới men răng. Nếu sâu răng đi qua men răng, sẽ tấn công ngà răng – nơi hàng triệu ống ngà nhỏ dẫn trực tiếp vào tủy răng.

Tủy răng – đây là mô mềm được tìm thấy ở trung tâm của tất cả các răng. Tủy răng chứa mô thần kinh và mạch máu. Nếu sâu răng đến tủy, bạn thường cảm thấy đau và có thể phải làm thủ thuật lấy tủy.

Niêm mạc xương ổ mỏng, nhẵn mịn, màu đỏ sậm, ôm sát theo những lồi lõm chân răng tạo ra ở bề mặt xương ổ. Chúng có thể di động được so với bề mặt xương này.

Niêm mạc nướu bám sát theo các cổ răng, dày và săn chắc hơn niêm mạc xương ổ. Chúng có màu hồng nhạt và có lấm tấm da cam. Nướu dính chặt vào răng và xương bên dưới trừ ở đường viền nướu tự do rất mỏng (1-2 mm). Đây được gọi là nướu rời, để phân biệt với phần còn lại là nướu dính.

Bờ tự do của nướu nhọn lên tạo gai nướu. Đường tiếp giáp giữa niêm mạc xương ổ răng và nướu là một đường uốn khúc song song với bờ nướu và cách 4mm. Phía sau cung răng dưới, niêm mạc xương ổ phủ lên tam giác hậu hàm. Phía sau cung răng trên, niêm mạc xương ổ phủ lên lồi cùng.

Vòm khẩu cái tạo thành trần của xoang miệng chính. Khẩu cái có hình vòm cung và gồm hai phần:

Niêm mạc khẩu cái cứng dày màu hồng nhạt, dính chặt vào bề mặt xương bên dưới. Trên đường giữa ngay phía sau hai răng cửa giữa nổi lên một u thịt hình thuẫn gọi là gai khẩu hay gai cửa. Từ gai cửa, một nếp gấp niêm mạc thấp và hẹp chạy ra sau gọi là đường đan giữa khẩu cái. Từ đường này tỏa ra những nếp gấp ngang gọi là vân khẩu cái.

Nhìn kỹ niêm mạc khẩu cái có những lỗ nhỏ li ti có khi còn đọng những giọt nước bọt. Đó là những lỗ của các ống dẫn tuyến nước bọt phụ khẩu cái.

Niêm mạc khẩu cái mềm màu đỏ sậm, mỏng và mịn gần đường tiếp giáp vòm cứng. Bờ tự do của khẩu cái mềm ở giữa tạo thành lưỡi gà. Ở hai bên thì chẻ đôi tạo thành hai trụ hầu. Trụ trước còn gọi là cung khẩu lưỡi. Trụ sau là cung khẩu hầu. Giữa hai trụ là một hốc hình tam giác chứa hạch hạnh nhân. Phần xuống của màng hầu và 2 trụ hầu tạo thành eo hầu. Qua đó khoang miệng ăn thông với khẩu hầu.

Lưỡi có một phần di động và một phần cố định gọi là đáy lưỡi. Mặt trên lưỡi hay lưng lưỡi được phủ lớp niêm mạc sần sùi hồng nhạt. Mặt này được chia là 2 phần bởi một dãy 8 hay 9 gai vị giác (gai đài) xếp thành chữ V có đỉnh quay vào trong (V lưỡi). Phía trước lưng lưỡi có 3 loại gai vị giác:

Gai chỉ: Rất nhỏ, mỏng như sợi chỉ màu trắng

Nấm: tròn, màu đỏ tươi nằm lẫn lộn gai chỉ

Lá: nằm ở 2 bên bờ lưỡi phía sau, tạo ra những nếp gấp không đều, song song với nhau.

Niêm mạc lưỡi có nhiều nốt lympho hình tròn, gọi là amidan lưỡi. Mặt dưới lưỡi hay bụng lưỡi được phủ một lớp niêm mạc mỏng. Trên đường giữa có một nếp gấp niêm mạc gắn liền với sàn miệng. Đó là thắng lưỡi. Ở hai bên thắng, có thể thấy 2 u thịt do cơ cằm lưỡi đội lên. Trên đó là 2 nếp gấp niêm mạc rất mỏng. Ngoài ra còn có thể thấy các tĩnh mạch dưới lưỡi chạy ngoằn ngoèo hai bên bụng lưỡi.

Sàn miệng có hình móng ngựa, ở dưới đầu lưỡi phía trước và ở hai bên của đáy lưỡi. Do đó còn gọi là rãnh dưới lưỡi. Ở đường giữa có thắng lưỡi. Hai bên thắng lưỡi là tuyến dưới lưỡi, đội lên thành hai dãy dưới lưỡi. Trên bề mặt dãy dưới lưỡi có những ống dấn phụ (hay ống Rivinus) của tuyến dưới lưỡi mở ra trong miệng. Dãy dưới lưỡi tận cùng ở gần chỗ thắng lưỡi gắn vào sàn miệng, có 1 gai nhỏ gọi là gai dưới lưỡi. Đó là nơi ổng Wharton của tuyến dưới hàm và có khi ống Bartholin của tuyến dưới lưỡi mở ra trong miệng.

Có ba cặp tuyến nước bọt chính bao gồm: tuyến dưới lưỡi, tuyến dưới hàm và tuyến mang tai.

Tuyến mang tai là tuyến lớn nhất trong số các tuyến nước bọt. Tuyến mang tai là tuyến nước bọt tiết thanh dịch. Ống tiết là ống Stenon, chạy ở mặt ngoài cơ cắn, đổ vào miệng ở mặt trong má tương ứng vị trí răng số 6,7 hàm trên.

Tuyến dưới lưỡi là tuyến nước bọt nhỏ nhất và nằm dưới lưỡi, trên cơ hoành. Tuyến dưới lưỡi: bao gồm rất nhiều tuyến nhỏ, là tuyến nước bọt hỗn hợp. Các ống dưới lưỡi chính kết thúc ở phần dưới lưỡi và bắt nguồn từ phần trước của tuyến. Các ống dẫn dưới lưỡi ngắn hơn dẫn đến sàn khoang miệng.

Tuyến dưới hàm nằm giữa cơ hai bên, trong tam giác dưới hàm. Tuyến dưới hàm: là tuyến nước bọt hỗn hợp, ống tiết là ống Wharton.

Sinh lý của tuyến nước bọt

Các tuyến nước bọt sản xuất 0,5 – 1,5 lít nước bọt mỗi ngày. Nước bọt có chứa các enzyme đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu hóa và bôi trơn khoang miệng để tạo điều kiện cho thức ăn nuốt vào. Nước bọt do tuyến nước bọt tiết ra mỏng và chứa rất nhiều enzyme tiêu hóa.

Tuyến mang tai là một tuyến thanh dịch. Các tuyến nhầy tiết ra một chất lỏng nhầy nhụa với độ nhớt cao. Sự tiết chất nhầy rất giàu glycoprotein. Cả hai tế bào tuyến thanh dịch và nhầy đều có mặt trong các tuyến dưới lưỡi và dưới hàm.

Enzyme tiêu hóa alpha-amylase được tìm thấy trong nước bọt. Nó thủy phân các liên kết 1,4-glycosid trong tinh bột. Enzim hoạt động mạnh nhất ở pH 6,9. Tuy nhiên, không hoạt động trong dạ dày do độ pH cực kỳ axit. Ngoài ra, nước bọt có chứa globulin miễn dịch, đặc biệt là IgA, cũng như các chất điện giải như natri, kali, clorua và các chất khác.

2.9/ Hệ thống bạch huyết của khoang miệng

Các quá trình thở và ăn liên tục vận chuyển vi khuẩn vào cơ thể. Hầu họng là một trong những điểm xâm nhập của vi khuẩn vào cơ thể và được bao quanh bởi các mô bạch huyết dưới dạng amidan. Được gọi là vòng amidan Waldeyer. Amidan đóng vai trò chính trong việc phát hiện các sinh vật có khả năng gây hại.

Vòng amidan Waldeyer bao gồm: Amidan khẩu cái , Amidan lưỡi ở gốc lưỡi , Amidan ống quanh lỗ miệng của ống Eustachian, Amidan họng ở vùng họng

Đường tiêu hóa bắt đầu ở miệng. Quá trình tiêu hóa bắt đầu khi thức ăn được đưa vào miệng, nghiền nát nhờ răng và làm ẩm bằng nước bọt. Nước bọt có một loại enzyme gọi là amylase bắt đầu phân hủy carbohydrate thành đường. Chuyển động của lưỡi giúp đẩy khối thức ăn ướt, mềm ra phía sau miệng nơi có thể nuốt được. Khi nuốt nắp thanh quản đóng trên khí quản để đảm bảo thức ăn được dẫn vào thực quản – ống dẫn đến dạ dày.

Nếu cơ quan lưỡi, xương hàm và hệ thống thần kinh sinh ba không khỏe mạnh, chúng ta có thể mất thăng bằng Tai của chúng ta là cơ quan cân bằng và nhận vai trò thính giác của chúng ta. Chúng gắn chặt với hàm ta. Xương hàm trên còn hỗ trợ hoạt động của nhãn cầu . Nếu nó không phát triển đầy đủ có thế gây áp lực cho nhãn cầu và tất cả các cơ hỗ trợ.

Nếu vòm miệng không phát triển đúng vị trí, cấu tạo sẽ ảnh hưởng đến quá trình dẫn lưu xoang với môi trường ngoài.

Đặc Điểm Cấu Tạo Của Virus Gây Bệnh / 2023

Bài viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Trần Thị Vượng – Khoa Xét nghiệm – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng Virus là một trong những tác nhân nhiễm trùng có kích thước rất nhỏ (đường kính từ 20-300mm), cấu tạo đơn giản nhưng khả năng gây bệnh cho con người cực kỳ nhanh chóng. Virus có đặc tính cơ bản của một sinh vật nhưng chúng không có cấu tạo tế bào, không có khả năng tự sinh sản và không có quá trình trao đổi chất.

Virus hay còn được gọi là siêu vi trùng có đặc điểm cấu trúc, kiểu sao chép trong tế bào vật chủ khác với những loại vi khuẩn ký sinh nội bào. Một virus sẽ được coi là hoàn chỉnh về cấu trúc khi nó có khả năng tạo ra được sự truyền acid nucleic từ một tế bào này sang một tế bào khác. Mỗi loại virus chỉ có một trong hai loại vật liệu di truyền, hoặc là ARN (acid ribonucleic) hoặc là AND (acid deoxyribonucleic), không có enzym chuyển hóa và enzym hô hấp nên chúng bắt buộc phải ký sinh trong tế bào cảm thụ khác.

Cấu trúc của virus bao gồm:

1.1 Cấu trúc chung:

Gồm hai phần chính là acid nucleic và capsid.

Acid nucleic- Vật liệu di truyền: Mỗi loại virus chỉ có một trong hai loại vật liệu di truyền, hoặc là ARN hoặc là ADN. Acid nucleic đóng vai trò quan trọng như: Mang thông tin di truyền, đặc trưng cho từng virus, quyết định khả năng gây nhiễm trùng của virus trong tế bào cảm thụ, quyết định chu kỳ nhân lên của virus trong tế bào cảm thụ và mang tính bán kháng nguyên đặc hiệu của virus

1.2 Cấu trúc đặc trưng

Cấu trúc đặc trưng của virus còn được gọi là cấu trúc đặc biệt, chỉ có ở một số loại virus nhất định để thực hiện những chức năng đặc trưng cho virus đó và đây cũng là cơ sở để định loại virus.

Virus có vỏ bao ngoài và virus trần

Virus có một số enzym đặc trưng

Virus có thể phân loại theo triệu chứng lâm sàng, theo hình thể, đường truyền hoặc theo cấu trúc vật liệu di truyền.

2.1 Phân loại theo hình thể của virus

Thực tế mỗi loại virus sẽ có các đặc điểm hình thể khác nhau như hình sợi, hình cầu, hình khối phức tạp, hình que, hình chùy…

2.2 Phân loại theo cách sắp xếp của capsid và acid nuleic

Có thể phân loại virus theo cách sắp xếp của acid nuleic và capsid bởi virus được chia thành 2 loại đối xứng là đối xứng hình khối và đối xứng theo hình xoáy trôn ốc. Trong trường hợp virus đối xứng theo hình xoáy trôn ốc thì acid nucleic và các capsomer sẽ được sắp xếp dọc theo hình lò xo đều hay không đều, còn trong trường hợp đối xứng hình khối thì các capsomer sẽ được sắp xếp thành các hình khối cầu đa diện.

2.3. Phân loại theo triệu chứng học

Đây là cách phân loại cổ điển, có ưu điểm là thuận lợi về mặt lâm sàng nhưng cơ bản không chính xác về mặt virus học vì trên thực tế, một loại virus cũng có khả năng gây ra nhiều bệnh khác nhau hoặc một bệnh có thể do nhiều loại virus khác nhau gây ra:

Virus gây phát ban: Sốt vàng, dengue sốt xuất huyết, virus bệnh đậu mùa, đậu bò, sởi, rubella…

Virus gây bệnh ở hệ thống thần kinh: Virus dại, viêm não ngựa miền Đông – miền Tây, virus viêm não Nhật Bản, virus sởi, virus HIV, virus Herpes simplex…

Virus gây bệnh ở mắt: Newcastle, Herpes, virus Adeno…

Virus gây bệnh ở gan: Virus gây bệnh viêm gan A, B, C, D, E…

Virus gây viêm dạ dày, ruột: Norwalk, virus Rota…

Virus lây truyền qua đường sinh dục: Virus HIV, virus papiloma, virus viêm gan B, virus herpes…

Virus gây bệnh ở đường hô hấp: virus cúm, virus hợp bào đường hô hấp, virus adeno…

Virus gây bệnh khu trú ở da, cơ, niêm mạc: virus herpes simplex typ 1 gây bệnh xung quanh niêm mạc miệng, typ 2 gây bệnh ở niêm mạc đường sinh dục, virus zona gây viêm da…

Để đăng ký khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, Quý Khách có thể liên hệ Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc, hoặc đăng ký khám trực tuyến TẠI ĐÂY

XEM THÊM: