Top 14 # Xem Nhiều Nhất Công Thức Tính Lợi Ích Cận Biên / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Lợi Ích Cận Biên (Marginal Utility) Là Gì? Qui Luật Lợi Ích Cận Biên Giảm Dần / 2023

Định nghĩa

Lợi ích cận biên trong tiếng Anh là Marginal Utility. Lợi ích cận biên là lợi ích tăng thêm do tiêu dùng thêm một đơn vị hành hóa, dịch vụ.

Lợi ích trong tiếng Anh là Utility. Lợi ích là sự hài lòng, thỏa mãn do tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ mang lại.

Ví dụ: Một người đang ở trong trạng thái khát nước. Sau khi uống một cốc nước mát, anh ta cảm thấy hài lòng cao độ bởi cốc nước này đã làm giảm cơn khát của anh ta.

Như vậy, anh ta đã thu được lợi ích từ việc tiêu dùng cốc nước này.

Tổng lợi ích trong tiếng Anh là Total Utility, kí hiệu TU.

Tổng lợi ích là tổng thể sự hài lòng, thỏa mãn do tiêu dùng toàn bộ hàng hóa hoặc dịch vụ mang lại.

Công thức xác định lợi ích cận biên

Công thức xác định lợi ích cận biên như sau:

MU = ΔTU / ΔQ

Trong đó:

MU là lợi ích cận biên

ΔTU là sự thay đổi về tổng lợi ích

ΔQ là sự thay đổi về lượng hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng

Giả sử nếu một người uống một cốc nước, lợi ích mà anh ta thu được là 5; uống hai cốc nước, lợi ích mà anh ta thu được là 8.

Như vậy, lợi ích cận biên được xác định theo công thức trên sẽ bằng:

MU = (8 – 5)/(2-1) = 3

Qui luật lợi ích cận biên giảm dần

– Thực tế là, độ thỏa mãn hài lòng của người khát nước trong ví dụ trên đối với mỗi cốc là không giống nhau.

– Cốc nước thứ nhất có thể cho cảm giác khoái cảm đỡ khát; cốc nước thứ hai không thể đem lại lợi ích bằng cốc nước đầu tiên… đến cốc nước thứ ba, thứ tư lợi cích thu được sẽ tiếp tục giảm…

– Như vậy, lợi ích mà người khát nước thu được từ cốc thứ nhất cao hơn cốc thứ hai, lợi ích thu được từ cốc thứ hai cao hơn cốc thứ ba và cứ thế tiếp tục.

– Có thể hiểu rằng, độ thỏa mãn hài lòng của người uống nước sẽ giảm xuống đối với mỗi cốc nước uống thêm. Hiện tượng đó được gọi là qui luật lợi ích cận biên giảm dần.

Qui luật lợi ích cận biên giảm dần được phát biểu như sau:

Lợi ích cận biên của một hàng hóa có xu hướng giảm khi lượng mặt hàng đó được tiêu dùng nhiều hơn trong một thời điểm nhất định.

Qui luật lợi ích cận biên giảm dần nói lên khi ta tiêu dùng nhiều hơn một mặt hàng nào đó, tổng lợi ích sẽ tăng lên song với tốc độ ngày càng chậm và việc tăng chậm này là do lợi ích cận biên giảm đi khi ta tiêu dùng thêm hàng hóa đó.

Chi Phí Cận Biên Và Lợi Ích Cận Biên Trong Lựa Chọn Kinh Tế / 2023

Ở kì đầu tiên, mình đã chém gió những gì mình biết về chi phí cơ hội . Tuy nhiên, ngoài chi phí cơ hội ra, còn nhiều công cụ khác giúp chúng ta lựa chọn trong đó có phân tích cận biên. Công cụ này sử dụng chi phí cận biên và lợi ích cận biên để đưa ra lựa chọn phù hợp nhất.

Lợi ích cận biên (Marginal Benefit – MB)

Theo giáo trình Kinh tế vi mô cơ bản – ĐH Ngoại thương (PGS.TS Nguyễn Thị Tường Anh), lợi ích cận biên là sự thay đổi của tổng lợi ích khi có sự thay đổi của số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ.

Theo Bánh Chuối (đứa viết blog này), lợi ích cận biên là sự thay đổi của tổng lợi ích khi có sự thay đổi của số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ.

Tổng lợi ích nhận được của chúng ta là TB – Total Benefit

Lượng hàng hóa, dịch vụ thì hãy gọi là Q – Quantity Lợi ích cận biên hãy cọi là MB – Marginal Benefit

Như vậy, nếu Q tăng lên thì TB cũng sẽ tăng lên đúng chứ? Hãy gọi theo kiểu toán học ngầu lòi, rằng khoản tăng thêm của tổng lợi ích là ΔTB và khoản tăng thêm của lượng hàng hóa dịch vụ là ΔQ.

Khi đó, cô Tường Anh dẫn ra một công thức như thế này:

Có gì lạ ở công thức này không? Đúng rồi, nếu đọc ở câu định nghĩa bên trên: “lợi ích cận biên là sự thay đổi của tổng lợi ích khi CÓ SỰ THAY ĐỔI của số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ”, ta sẽ thấy nó hơi khác với công thức một chút. Nếu như công thức có ΔQ ở mẫu số, vậy thì lợi ích cận biên là lợi ích của MỘT đơn vị hàng hóa tăng thêm, chứ đâu phải là lợi ích của ΔQ đơn vị hàng hóa tăng thêm với điều kiện ΔQ khá lớn??

Hãy lấy một ví dụ như thế này: Chuối đi làm ở một cửa hàng tiện lợi X vào buổi tối từ 19h đến 21h mỗi ngày. Mức lương mà Chuối nhận được cho mỗi giờ đồng hồ làm việc là 20k. Một buổi tối đặc biệt nào đấy, cửa hàng đông khách nên bác chủ cửa hàng đề nghị Chuối làm thêm 1 tiếng nữa, tức là đến 22h, thay vì 21h như thường ngày. Khi Chuối làm việc thêm 1 giờ đồng hồ nữa, tổng số tiền Chuối được trả cho buổi tối đó là 70k. Như vậy theo những điều chúng ta phân tích bên trên, lợi ích cận biên mà Chuối thu được cho việc làm việc thêm 1 giờ nữa là 30k. Ta có MB = 30,000 VNĐ

Cần lưu ý rằng lợi ích cận biên không phải là khoảng tiền chênh lệch giữa 1 tiếng làm việc thêm từ 21h đến 22h với 1 tiếng làm bình thường của Chuối, tức là không phải 30k – 20k = 10k.

Nếu như Chuối làm việc thêm 1 tiếng từ 21h đến 22h mà thời gian này vẫn chỉ được trả 20k/tiếng như làm việc thông thường, thì lợi ích cận biên mà Chuối thu được của việc làm thêm 1 tiếng vẫn là 20k.

Chi phí cận biên (Marginal Cost – MC)

Vẫn theo giáo trình Vi mô cơ bản của cô Tường Anh: “Chi phí cận biên là sự thay đổi của tổng chi phí khi có sự thay đổi của số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ”.

Tương tự như những phân tích ở trên thì chi phí cận biên chính là chi phí phải chi thêm khi phát sinh thêm một đơn vị hàng hóa hoặc dịch vụ.

Với MC là chi phí cận biên (Marginal Cost – MC) TC là tổng chi phí phải trả (Total Cost – TC) Quay lại về ví dụ việc làm bán thời gian của bạn Chuối. Bình thường nếu chỉ làm 2 tiếng từ 19h đến 21h, Chuối sẽ ăn tối bằng một gói mì Hảo Hảo trị giá 3500 VNĐ. Tuy nhiên buổi tối đặc biệt đó, nếu Chuối chấp nhận làm việc thêm 1 tiếng nữa thì sẽ phải gặp nhiều khách hàng hơn và mất nhiều năng lượng hơn. Chính vì thế, Chuối cần ăn nhiều hơn, cụ thể ngoài gói mì đó, bạn ấy đã tự mua thêm cho mình một quả trứng với giá 3000 VNĐ. Như vậy, chi phí cận biên cho 1 giờ làm thêm này của bạn Chuối là 3000 VNĐ, tức là MC = 3000 VNĐ

Phần này ngắn chưa :))) Nó tương tự như MB thôi mà!!

So sánh chi phí cận biên và lợi ích cận biên

Một quy luật mà có thể trẻ con cũng biết, đấy là nếu làm việc gì thì cái mình thu về phải lớn hơn cái mình bỏ ra đã, trong ngắn hạn hoặc trong dài hạn. Điều đó đúng trong việc phân tích cận biên: Bạn nên lựa chọn việc có chi phí cận biên MC nhỏ hơn hoặc bằng lợi ích cận biên MB.

Ở ví dụ của bạn Chuối xuyên suốt bài viết này: MC = 3000 VNĐ, MB = 30,000 VNĐ.

Tuy nhiên chúng ta đang phân tích kinh tế, do đó hãy chọn những lựa chọn có tính kinh tế nhất. Tổng quát lại thì chúng ta có những điều sau khi so sánh MB với MC:

Nếu MB<MC: nên thu hẹp quy mô hoạt động, giảm số lượng hàng hóa dịch vụ vì chi phí bỏ ra cho 1 đơn vị tăng thêm nhỏ hơn lợi ích thu về từ đơn vị đó.

Nếu MB=MC: quy mô lúc này là perfect, đừng thay đổi làm gì. Lí do là tại điểm có lượng hàng là Q mà MB=MC, nếu bạn làm thêm nữa (mở rộng quy mô ra) hoặc thu hẹp quy mô lại thì tiền thu về cũng chỉ bằng tiền bỏ ra thôi, làm gì có lãi, vậy thì sao phải tốn sức!

Tại sao lại có suy luận trên về tương quan MB – MC?

Phần này hơi dài, và chẳng thú vị gì đâu, nhưng bạn cứ nên đọc thử vậy!

Để giải thích vì sao lại có ba dấu chấm đen kia, chúng ta hãy ngẫm lại một chút.

Lan man quá, trở về việc giải thích nói trên.

Nếu MB = ΔTB/ΔQ và MC = ΔTC/ΔQ (ΔQ rất nhỏ) thì chúng ta hoàn toàn có thể viết được rằng MB = TB’ và MC = TC’ (đạo hàm theo biến Q)

Xem xét trên thực tế thì lợi nhuận thu được TB và chi phí bỏ ra TC của chúng ta đều phụ thuộc vào số lượng hàng hóa dịch vụ Q mà chúng ta cung cấp. Do đó, quy về toán học thì:

Bạn biết khái niệm lợi ích ròng (net benefit – NB) chứ? Lợi ích ròng, tạm hiểu theo kiểu của mình, là lợi ích sau khi bạn đã trừ đi mọi chi phí bạn bỏ ra. Lúc này, vấn đề kinh tế của chúng ta sẽ là làm sao để có được lợi ích ròng to nhất, tức là hàm NB đạt giá trị cực đại.

Ta có: h(Q) = NB = TB – TC.

Thế thì để NB đạt cực trị, ta cần NB’ = 0 tức là h'(Q)=0.

Điều này tương đương với TB’ – TC’ = 0 hay MB – MC = 0, tức là MB = MC

Vậy thì tại điểm Q mà MB = MC, quy mô sản xuất của chúng ta là tối ưu.

Tương tự suy ra hai cái chấm đen còn lại. 😀

Tóm lại, để phân tích cận biên, ta tạm nhớ những điều sau:

Lợi ích (chi phí) cận biên là lợi ích thu được (chi phí bỏ ra) thêm khi phát sinh thêm một đơn vị hàng hóa hay dịch vụ.

Nếu MB<MC: nên thu hẹp quy mô hoạt động, giảm số lượng hàng hóa dịch vụ.

Nếu MB=MC: quy mô lúc này là perfect, đừng thay đổi làm gì

Biên Lợi Nhuận Là Gì Và Công Thức Để Tính Toán Hiệu Quả / 2023

Biên Lợi Nhuận Là Gì Và Công Thức Để Tính Toán Hiệu Quả

Biên lợi nhuận là yếu tố nhằm đánh giá khả năng hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên có rất nhiều người vẫn chưa có khái niệm rõ ràng về thuật ngữ này.

1. Biên lợi nhuận là gì?

Tức là tỷ suất lợi nhuận hay lợi nhuận ròng. Còn được hiểu là mức chênh lệch giữa giá bán của một sản phẩm và chi phí sản xuất cộng với chi phí tiêu thi của nó. Mức lãi gộp của doanh nghiệp phụ thuộc vào thặng số tính bằng phần trăm chi phí khi xác định giá bán. Mức lãi gộp này bằng tỷ lệ lợi nhuận / doanh thu.

Chỉ số biên cho biết mỗi đồng doanh thu thu về sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Dùng chỉ số biên để tiến hành so sánh các công ty trong cùng 1 ngành, công ty nào có biên cao hơn. Cho thấy công ty đó có lãi hơn và kiểm soát chi phí hiệu quả hơn so với các đối thủ cạnh tranh.

2. Cách tính biên lợi nhuận

Những doanh nghiệp nhỏ thường xem xét dựa trên hai tỷ suất lợi nhuận:

Biên lợi nhuận gộp (Gross profit margin)

Thường áp dụng cho một sản phẩm hoặc một dòng sản phẩm cụ thể. Áp dụng chỉ số này cho từng sản phẩm sẽ giúp công ty thiết lập được chính sách giá. Đồng thời sử dụng để đàm phán các chi phí mua nguyên vật liệu với các nhà cung cấp.

Công thức tính:

Biên lợi nhuận gộp = Doanh thu (đã trừ thuế) – Chi phí nguyên vật liệu (đã trừ thuế)

Lợi nhuận gộp cận biên = (Lợi nhuận gộp / doanh thu hàng bán) x 100%

Lưu ý: Giá vốn hàng bán bao gồm chi phí sản phẩm trực tiếp ngoại trừ chi phí gián tiếp như tiền thuê nhà, văn phòng. Ví dụ: Doanh nghiệp thu được doanh số là 8.000 USD và tổng chi phí là 6.000 USD. Biên lợi nhuận gộp = 8000 – 6000 = 2000 USD. Lợi nhuận gộp cận biên = (2000/8000) x 100% = 25%

Biên lợi nhuận ròng (Net profit margin)

Phản ánh khoản thu nhập ròng (lợi nhuận sau thuế) của doanh nghiệp so với doanh thu. Đây là chỉ số dùng để xác định khả năng sinh lời của công ty. Nó được thể hiện bằng phần trăm, số phần trăm càng cao thì công ty sẽ càng có lãi. Nếu biên thấp cho thấy doanh nghiệp đang gặp nhiều vấn đề cản trở tiềm năng lợi nhuận. Như là các khoản chi phí không cần thiết, năng suất hoặc vấn đề về quản lý,…

Công thức tính:

Hệ số biên lợi nhuận ròng = Lợi nhuận sau thuế / Doanh thu

Ví dụ: Nếu lợi nhuận sau thuế của một doanh nghiệp là 100 tỷ VNĐ và doanh thu là 1000 tỷ VNĐ. Hệ số = 100 tỷ VNĐ/ 1000 tỷ VNĐ = 10%

Mức độ ổn định của hệ số biên ròng giữa các ngành phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế. Các doanh nghiệp khi được quản lý tốt đạt mức lợi nhuận ròng tương đối cao hơn. Vì các doanh nghiệp này quản lý nguồn vốn của mình có hiệu quả hơn.

Giúp người ta có thể đánh giá được doanh nghiệp đó có lợi nhuận hay không? Lợi nhuận có đủ để đáp ứng yêu cầu kinh doanh hay không? Bạn cũng nên tái đầu tư một phần thu nhập để phát triển doanh nghiệp. Khi gạt bỏ phần vốn đầu tư đó, lợi nhuận còn lại có đủ để đáp ứng nhu cầu không?

So sánh các doanh nghiệp với nhau trong cùng một ngành. Từ đó giúp doanh nghiệp có thể xác định được chỗ đứng cho mình. Nếu làm hồ sơ vay, ngân hàng sẽ cho bạn biết mức biên mong muốn dành cho kích cỡ hay loại hình doanh nghiệp. Nếu là công ty lớn hơn đối thủ cạnh tranh, bạn có thể nghiên cứu những công ty này. Về việc tìm biên của họ và so sánh với chúng.

Doanh nghiệp có thể thay đổi phần trăm yếu tố này bằng cách tạo nhiều doanh thu. Hoặc thậm chí là giảm chi phí doanh nghiệp. Đồng thời, kể cả khi biên lợi nhuận không đổi, nếu tăng tổng doanh thu và chi phí, thu nhập ròng vẫn tăng. Xem xét doanh nghiệp của bạn, sự cạnh tranh và mức chấp nhận rủi ro khi thử tăng giá hay cắt giảm chi phí.

DragonLend được thành lập bởi Fram^ – một tập đoàn công nghệ Thụy Điển. Mục tiêu của DragonLend là hỗ trợ doanh nghiệp nhận được nguồn vốn cấp thiết mà họ cần để phát triển.

Khi đến với DragonLend khách hàng sẽ được:

Tư vấn miễn phí

Tìm kiếm, kết nối đánh giá hồ sơ khách hàng với ngân hàng và các tổ chức tài chính.

Hỗ trợ thu thập tài liệu và chuẩn bị hồ sơ.

Theo sát toàn bộ quy trình vay vốn với khách hàng, hỗ trợ lập tức khi cần thiết.

Qua đây, chúng ta đã biết được chỉ số profit margin là gì. Cũng như những cách tính chỉ số này để xác định lợi nhuận của một doanh nghiệp. Hy vọng các thông tin về biên lợi nhuận này sẽ giúp các bạn hiểu thêm về thuật ngữ này trong kinh doanh, tài chính.

Chi Phí Xã Hội Cận Biên (Marginal Social Cost) Là Gì? Công Thức Và Vấn Đề Định Lượng / 2023

Chi phí xã hội cận biên

Khái niệm

Chi phí xã hội cận biên trong tiếng Anh là Marginal Social Cost, viết tắt là MSC.

Chi phí xã hội cận biên (MSC) là tổng chi phí xã hội phải trả cho việc sản xuất thêm một đơn vị hoặc thực hiện thêm hành động trong nền kinh tế.

MSC được tính như sau: Chi phí xã hội cận biên MSC = MPC + MEC

Trong đó:

MPC = chi phí tư nhân cận biên (marginal private cost)

MEC = chi phí ngoại ứng biên (tích cực hoặc tiêu cực) (marginal external cost)

Chi phí xã hội cận biên phản ánh tác động của việc sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa hoặc dịch vụ mà một nền kinh tế phải chịu.

Ví dụ về Chi phí xã hội cận biên

Ví dụ về sự ô nhiễm của con sông của thành phố gây ra bởi một nhà máy than gần đó.

Nếu chi phí xã hội cận biên MSC cao hơn chi phí tư nhân cận biên MPC của nhà máy, thì chi phí ngoại ứng biên MEC dương, và dẫn đến ngoại ứng tiêu cực, nghĩa là nó tạo ra tác động tiêu cực đến môi trường.

Chi phí năng lượng do nhà máy thải ra tạo ra nhiều ảnh hưởng nhiều hơn mức mà công ty phải trả vì môi trường xung quanh phải chịu chi phí cho việc dòng sông bị ô nhiễm.

Khía cạnh tiêu cực này phải được nêu lên nếu công ty muốn thực hiện trách nhiệm xã hội hoặc trách nhiệm của mình để mang lại lợi ích cho môi trường xung quanh nó và xã hội.

Lưu ý đối với Chi phí xã hội cận biên

Khi xác định chi phí xã hội cận biên, phải tính cả chi phí cố định và chi phí biến đổi. Chi phí cố định là những chi phí không dao động – chẳng hạn như tiền lương hoặc chi phí đầu tư ban đầu.

Chi phí biến đổi, là chi phí thay đổi. Ví dụ, chi phí biến đổi có thể là chi phí thay đổi dựa trên khối lượng sản xuất.

Vấn đề định lượng về Chi phí xã hội cận biên

Chi phí xã hội cận biên là một nguyên tắc kinh tế ảnh hưởng đến toàn cầu, tuy nhiên, rất khó để định lượng bằng số tiền hữu hình.

Chi phí phát sinh do hành vi sản xuất, chẳng hạn như chi phí hoạt động và tiền được sử dụng cho vốn khởi nghiệp, khá đơn giản để tính bằng số tiền hữu hình.

Vấn đề phát sinh là khi sản xuất có các tác động sâu rộng cũng phải được tính đến. Chi phí như vậy rất khó tính, không thể xác định một số tiền chính xác, và trong nhiều trường hợp, không có giá nào có thể tính cho ngoại tác được.

Do đó, chi phí xã hội cận biên là nguyên tắc quan trọng, được sử dụng để hỗ trợ các nhà kinh tế và lập pháp phát triển cơ cấu hoạt động và sản xuất, đề xuất các tập đoàn cắt giảm chi phí cho các hành động của họ.

Tác động của các đơn vị sản xuất thêm lên cung và cầu cũng được nghiên cứu. Chi phí xã hội cận biên cũng có thể được so sánh với lợi ích cận biên, là nguyên tắc xác định số tiền mà người tiêu dùng sẽ từ bỏ để có thêm một đơn vị sản phẩm.

(Theo Investopedia)

Minh Hằng