Từ Và Cấu Tạo Từ (Phần Đầu)

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Sinh Học 6
  • Sơ Lược Về Cấu Trúc Của Tai Người
  • Tụ Điện Là Gì ? Cấu Tạo
  • Vậy Hãy Xem Cấu Tạo Ups, Bộ Lưu Điện Gồm Có Các
  • Cấu Tạo Bộ Lưu Điện Ups Và Những Điều Bạn Phải Biết Trước Khi Sử Dụng
  • 1. Vấn đề định nghĩa từ

    1.a. Mỗi chúng ta, đã tiếp thu và nhận ra cái gọi là từ thông qua thực tiễn học tập và sử dụng ngôn ngữ.

    Cái khó là ở chỗ phải nên ra một định nghĩa có tính lí thuyết về từ. Cho đến nay, trong ngôn ngữ học, các định nghĩa về từ đã được đưa ra không ít. Các định nghĩa ấy, ở mặt này hay mặt kia đều đúng, nhưng đều không đủ và không bao gồm hết được tất cả các sự kiện được coi là từ trong ngôn ngữ và ngay cả trong một ngôn ngữ cũng vậy. Chẳng hạn:

    Từ là một tổ hợp âm có nghĩa chăng? Từ là một tổ hợp các âm phản ánh khái niệm chăng? Từ là một đơn vị tiềm tàng khả năng trở thành câu chăng? Từ là một kí hiệu ngôn ngữ ứng với một khái niệm chăng?…

    Tình trạng phức tạp của việc định nghĩa từ, do chính bản thân từ trong các ngôn ngữ, không phải trường hợp nào cũng như nhau. Chúng có thể khác về:

    – Kích thước vật chất

    – Loại nội dung được biểu thị và các biểu thị

    – Cách thức tổ chức trong nội bộ cấu trúc

    – Mối quan hệ với các đơn vị khác trong hệ thống ngôn ngữ như hình vị, câu…

    – Năng lực và chức phận khi hoạt động trong câu nói

    Xét hai từ hợp tác xãnếu trong tiếng Việt làm ví dụ, ta sẽ thấy:

    Từ thứ nhất có kích thước vật chất lớn hơn nhiều so với từ thứ hai; và cấu trúc nội tại của nói cũng phức tạp hơn nhiều.

    Từ thứ nhất biểu thị một khái niệm, có khả năng hoạt động độc lập trong câu, làm được chủ ngữ, bổ ngữ, định ngữ… trong câu; còn từ thứ hai lại không biểu thị khái niệm, không có được năng lực để thể hiện những chức phận như từ thứ nhất…

    1.b. Vì những lẽ đó, không hiếm nhà ngôn ngữ học (kể cả F. de Saussure, S. Bally, G. Glison…) đã chối bỏ khái niệm từ, hoặc nếu thừa nhận khái niệm này thì họ cũng lảng tránh việc đưa ra một khái niệm chính thức.

    Lại có nhà nghiên cứu xuất phát từ một lĩnh vực cụ thể nào đó, đã đưa ra những định nghĩa từng mặt một như từ âm vị học, từ ngữ pháp học, từ chính tả, từ từ điển

    Dù sao, từ vẫn là đơn vị tồn tại tự nhiên trong ngôn ngữ; và chính nó là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ; bởi vì, đối với mỗi chúng ta, nói như ý của E.Sapir thì việc nhận thức từ như là cái gì đấy hiện thực về mặt tâm lí, chẳng có khó khăn gì đáng kể.

    1.c. Mong muốn của các nhà ngôn ngữ học đưa ra một định nghĩa chung, khái quát, đầy đủ về từ cho tất cả mọi ngôn ngữ, tiếc thay, cho đến nay vẫn chưa đạt được và có lẽ sẽ không thể đạt được. Chúng ta có thể đồng tình với L.Serba khi ông cho rằng từ trong ngôn ngữ khác nhau, sẽ khác nhau…, và không thể có được một khái niệm về từ nói chung.

    Tuy thế, để có cơ sở tiện lợi cho việc nghiên cứu, người ta vẫn thường chấp nhận một khái niệm nào đó về từ tuy không có sức bao quát toàn thể nhưng cũng chỉ để lọt ra ngoài phạm vi của nó một số lượng không nhiều những trường hợp ngoại lệ. Chẳng hạn:

    Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu. Quan niệm này gần với quan niệm của B.Golovin trong cuốn sách “Dẫn luận ngôn ngữ học” của ông. Nó cũng có nhiều nét gần với quan niệm của L.Bloomfield, coi từ là một ” hình thái tự do nhỏ nhất “. Có nghĩa rằng từ là một hình thái nhỏ nhất có thể xuất hiện độc lập được.

    1.d. Ngay cả những quan điểm như thế, sự thực cũng không phải là áp dụng được cho tất cả mọi ngôn ngữ và tất cả mọi kiểu từ. Chẳng hạn từ nếu vừa nói bên trên cũng như từ và, với, thì, ư… trong tiếng Việt; từ and, up, in, of … của tiếng Anh không thoả mãn được điều kiện “tái hiện tự do” trình bày trong quan niệm này.

    Gặp những trường hợp như vậy (trường hợp của những cái mà ta vẫn gọi là từ hư) người ta phải có những biện luận riêng.

    – Trước hết, tất cả chúng đề có nghĩa của mình ở dạng này hay dạng khác, thể hiện bằng cách này hay cách khác.

    – Thứ hai, khả năng “tái hiện tự do” của chúng được thể hiện “một cách không tích cực”. Cần nhớ là trong ngôn ngữ, chỉ có những đơn vị cùng cấp độ thì mới trực tiếp kết hợp với nhau. Xét hai câu bình thường trong tiếng Việt và tiếng Anh.

    – Em sống với bố và mẹ

    – He will leave here after lunch at two o’clock

    Ở đây, em, bố, mẹ, sống, he, leave, here, lunch, two, c’clock chắc chắn là các các từ. Vậy thì với, và, will, after, at cũng phải là từ.

    – Thứ ba, không hiếm từ hư trong một số ngôn ngữ đã được chứng minh là có nguồn gốc từ từ thực. Sự hao mòn ngữ nghĩa cùng với sự biến đối về chức năng của chúng đã xẩy ra. Tuy vậy, không vì thế mà tư cách từ của chúng bị xoá đi. Ví dụ: trong tiếng Hindu: me (trong) < madhya (khoảng giữa); ke arth (để, vì) < artha (mục đích) của Sanskrit… trong tiếng Hausa: bisan (trên) < bisa (đỉnh, chóp); gaban (trước) < gaba (ngực)… trong tiếng Việt: của < của (danh từ); phải < phải (động từ); bị < bị (động từ)…

    Việc xét tư cách từ cho những trường hợp như: nhà lá, áo len, đêm trắng, chó mực, cao hổ cốt … trong tiếng Việt còn phức tạp hơn nhiều. Trong các ngôn ngữ khác cũng không phải là không có tình hình tương tự.

    Mặc dù các nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm tòi những tiêu chí cơ bản, phổ biến để nhận diện từ (như: tính định hình hoàn chỉnh, tính thành ngữ, do A.Smirnitskij đưa ra chẳng hạn) nhưng khi đi vào từng ngôn ngữ cụ thể, người ta vẫn phải đưa ra hàng loạt tiêu chí khác nữa, có thể cụ thể hơn, khả dĩ sát hợp với thực tế từng ngôn ngữ hơn, và thậm chí có cả những biện luận riêng.

    Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 136-138.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Từ Và Cấu Tạo Từ Tiếng Việt
  • Cấu Tạo Tim Và Những Điều Thú Vị
  • Tìm Hiểu Tất Tần Tật Về Cấu Tạo Của Tim Người
  • Cấu Tạo Của Hệ Tim Mạch Và Các Vai Trò Quan Trọng
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tim
  • Từ Và Cấu Tạo Từ (Phần Cuối)

    --- Bài mới hơn ---

  • Móng Tay Chân Ở Người Có Tác Dụng Gì?
  • Cấu Tạo Của Nguyên Tử, Kích Thước Và Khối Lượng Của Electron Hạt Nhân
  • Cấu Tạo Nguyên Tử Và Bài Toán Các Hạt Cơ Bản
  • Các Dạng Bài Tập Chương Cấu Tạo Nguyên Tử
  • Bấm Móng Tay Giúp Chị Em Có Được Bộ Móng Siêu Xinh
  • 2. Cấu tạo từ

    2.a. Từ được cấu tạo nhờ các hình vị. Nói cách khác, từ được tạo ra nhờ một hoặc một số hình vị kết hợp với nhau theo những nguyên tắc nhất định. Ví dụ:

    Vậy hình vị là gì?

    Quan niệm thường thấy về hình vị, được phát biểu như sau:

    Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa và/hoặc có giá trị (chức năng) về mặt ngữ pháp.

    Quan niệm này xuất phát từ truyền thống ngôn ngữ học châu Âu vốn rất mạnh về hình thái học, dựa trên hàng loạt các ngôn ngữ biến hình. Chẳng hạn, trong dạng thức played của tiếng Anh người ta thấy ngay là: play-ed. Hình vị thứ nhất gọi tên, chỉ ra khái niệm về một hành động, còn hình vị thứ hai biểu thị thời của hành động đặt trong mối quan hệ với các từ khác trong câu mà played xuất hiện.

    Các hình vị được phân chia thành những loại khác nhau. Trước hết là sự phân loại thành các hình vị tự dohình vị hạn chế (bị ràng buộc).

    Hình vị tự do là những hình vị mà tự nó có thể xuất hiện với tư cách những từ độc lập. Ví dụ: house, man, black, sleep, walk… của tiếng Anh; nhà, người, đẹp, tốt, đi, làm … của tiếng Việt.

    Hình vị hạn chế là những hình vị chỉ có thể xuất hiện trong tư thế đi kèm, phụ thuộc vào hình vị khác. Ví dụ: -ing, -ed, -s, -ity… của tiếng Anh; ом, uх, е … của tiếng Nga.

    Trong nội bộ các hình vị hạn chế, người ta còn chia thành hai loại nữa: các hình vị biến đổi dạng thức (các biến tố) và các hình vị phái sinh.

    Hình vị biến tố là những hình vị làm biến đổi dạng thức của từ để biểu thị quan hệ giữa từ này với từ khác trong câu. Ví dụ:

    Hình vị phái sinh là những hình vị biến bổi một từ hiện có cho một từ mới.

    kind – kind ness; merry – merr yly, (to) work – work er… của tiếng Anh hoặc như trường hợp дом – дом ; nucать – nucат елъ của tiếng Nga.

    Lĩnh vực nghiên cứu về cấu tạo từ chú ýe trước hết đến các hình vị tự do và hình vị tái sinh.

    Nếu căn cứ vào vị trí của hình vị trong từ, người ta có thể phân chúng thành hai loại lớn: gốc từ (cái mang ý nghĩa từ vựng chân thực, riêng cho từng từ) và phụ tố (cái mang ý nghĩa ngữ pháp, chung cho từng lớp, nhiều từ). Tuỳ theo phụ tố đứng ở trước gốc từ, trong gốc từ hay sau gốc từ, người ta gọi chúng lần lượt là tiền tố, trung tố và hậu tố.

    2.b Từ trong các ngôn ngữ được cấu tạo bằng một số phương thức khác nhau. Nói khác đi, người ta có những cách khác nhau trong khi sử dụng các hình vị để tạo từ.

    1+ Dùng một hình vị tạp thành một từ. Phương thức này thực chất là người ta cấp cho một hìnhvị cái tư cách đầy đủ của một từ, vì thế, cũng không có gì khác nếu ta gọi đây là phương thức từ hoá hình vị. Ví dụ các từ: nhà, người, đẹp, ngon, viết, ngủ,… của tiếng Việt; các từ: đây, tức, phle, kôn,… của tiếng Khmer, các từ: in, of, with, and,… của tiếng Anh là những từ được cấu tạo theo phương thức này.

    (Thật ra, nói “dùng một hình vị tạo thành một từ” hoặc “từ hoá hình vị” là không hoàn toàn chặt chẽ về logic, vì điều đó ngụ ý rằng hình vị phải là cái có trước từ. Trong khi đó, xét tới ngọn nguồn và tổng thể ngôn ngữ thì từ phải là cái có trước, còn đơn vị mang tư cách hình vị và những “hình vị được từ hoá” chỉ là các kết quả có được ở hậu kì. Do vậy, đây chỉ là cách nói cho giản tiện trong việc phân loại và miêu tả mà thôi).

    2+ Tổ hợp hai hay nhiều hình vị để tạo thành từ.

    2.a. Phương thức phụ gia

    a.1. Phụ thêm tiền tố vào gốc từ hoặc một từ có sẵn.

    Ví dụ: tiền tố y- npu- беэ-… trong tiếng Nga: бежать – убежать, npuбежать; лететь – npu лететь…

    Tiền tố anti-, im-, un-… trong tiếng Anh: foreign – antiforeign, possible – im possible

    Tiền tố ch, -m trong tiếng Khmer: (trên) – chlơ (đặt lên trên); hôp (ăn) – m hôp (thức ăn)…

    a.2. Phụ thêm hậu tố

    Ví dụ: Hậu tố -uк, -ка, -шuк… của tiếng Nga trong các từ дом , студент ка, каме ншuк.

    Hậu tố -er, -ness, -less, -li, -ity… của tiếng Anh trong các từ play er, kind ness, home less

    a.3. Phụ thêm trung tố

    Ví dụ: Trung tố -uзн-, -uв- của tiếng Nga trong các từ бол uзна, крас ый… Trung tố -n của tiếng Khmer trong các từ kout (thắt, buộc) – kh nout (cái nút), back (chia) – ph nack (phần bộ phận)… Trung tố -el, -em trong tiếng Indonesia ở các từ gembung (căng, phồng lên) – g elembung (mụn nước, cái bong bóng) guruh (sấm, sét) Œ g em uruh (oang oang)…

    2.b. Ghép các yếu tố (hình vị) gốc từ

    Phương thức này cũng gọi là phương thức hợp thành.

    Ví dụ:

    trong tiếng Anh: homeland, newspaper, inkpot

    trong tiếng Việt: đường sắt, cá vàng, sân bay

    Ở đây không phải chỉ kể những trường hợp ghép các hình vị thực gốc từ, mà còn kể cả trường hợp ghép các hình vị vốn hiện diện là những từ hư, những “từ ngữ pháp” như bởi vì, cho nên … trong tiếng Việt.

    2.c. Phương thức láy

    Thực chất của phương thức này là lặp lại toàn bộ một phần của từ, hình vị ban đầu trong một số lần nào đó theo quy tắc cho phép, để cho một từ mới. Ví dụ như những từ:

    co ro, lúng túng, giỏi giang, vành vạnh… của tiếng Việt.

    thmây thây, thlay thla, srâu sro … của tiếng Khmer.

    Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 139-142.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thời Tiết Ở Huế Quanh Năm
  • Thời Tiết Huế Phú Lộc
  • Thời Tiết Ở Huế Vào Ngày Mai
  • Dự Báo Thời Tiết Phú Lộc Huế
  • Dự Báo Thời Tiết Ở Huế Vào Ngày Mai
  • Các Phương Thức Cấu Tạo Từ Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 6 Bài Soạn “từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt” Lớp 6 Hay Nhất
  • Bộ Đề Thi Hsg Lớp 5 Môn Tiếng Việt Cực Hay
  • De Chon Doi Tuyen Thi Gvdg Tinh Tieu Hoc
  • Bếp Điện Có Mấy Bộ Phận Chính , Cấu Tạo Của Bếp Điện
  • Soạn Bài : Từ Láy (Lớp 7)
  • Các từ mới không phải là những từ được tạo ra một cách lẻ tẻ, rời rạc, ngẫu nhiên mà thường được tạo ra theo những khuôn mẫu cấu tạo nhất định và làm thành những hệ thống hay kiểu từ có chung đặc điểm cấu trúc và nghĩa. Đó chính là các hệ thống cấu tạo từ hay kiểu cấu tạo từ

    1. Hệ thống cấu tạo từ (kiểu cấu tạo từ)

    Hệ thống cấu tạo từ là tập hợp những từ có chung một khuôn hình cấu tạo (ví dụ: có chung một kiểu phụ tố, tính chất của căn tố giống nhau) và ý nghĩa cấu tạo giống nhau. Chẳng hạn, các từ worker (người lao động, công nhân), writer (người viết, nhà văn), singer (người hát, ca sĩ), reader (người đọc, độc giả) của tiếng Anh làm thành một hệ thống cấu tạo từ, vì chúng có chung một kiểu phụ tố (ở đây là hậu tố -er), tính chất của căn tố trong các từ này giống nhau (đó là căn tố động từ) và ý nghĩa cấu tạo của chúng giống nhau (người thực hiện một hành động hoặc một hoạt động nào đó). Tuy nhiên, do sự phát triển của ngôn ngữ nói chung và của vốn từ vựng nói riêng, các hệ thống cấu tạo từ có thể bị phân hoá. Một số từ trong hệ thống cấu tạo từ bị mất nghĩa ban đầu và nhận thêm nghĩa mới hoặc ý nghĩa cấu tạo đã khác đi. Do đó trong các hệ thống cấu tạo từ, ta có thể phân biệt những kiểu nhỏ hơn, dựa trên cơ sở ý nghĩa cấu tạo. Chẳng hạn, trong kiểu ‘phó + danh từ’ trong tiếng Việt, ta có thể phân biệt ít nhất ba kiểu nhỏ, chẳng hạn:

    Phó giám đốc / Phó giáo sư / Phó mộc

    Phó hiệu trưởng / Phó tiến sĩ / Phó nề

    Trong các kiểu cấu tạo từ, ta còn nhận thấy rằng, có những kiểu bao gồm nhiều từ thuộc loại và có cấu trúc hình vị giống nhau, chẳng hạn như kiểu ‘căn tố động từ + phụ tố -er’ trong tiếng Anh hay kiểu ‘nhà + danh từ’ trong tiếng Việt. Đó là những kiểu cấu tạo từ đều đặn. Thường thì những kiểu này có tính sinh sản cao, tức là được sử dụng nhiều để tạo ra từ mới và hiện vẫn còn được sử dụng. Bên cạnh đó, có những kiểu chỉ bao gồm rất ít từ hoặc thậm chí chỉ gồm một từ duy nhất thuộc loại, như trường hợp kiểu ‘danh từ + hấu’ trong tiếng Việt; nó chỉ gồm có một từ thuộc loại là dưa hấu. Kiểu này không có tính sinh sản và hiện nay không còn được sử dụng để tạo thêm từ mới.

    2. Các phương thức cấu tạo từ

    Trước hết cần phải nói rằng, tất cả các từ trong ngôn ngữ đều được tạo ra theo một phương thức nào đấy. Song, đối với những từ gốc có cấu tạo bằng một hình vị cấu tạo từ, ta không thể giải thích được lý do cấu tạo của chúng, do đó không thể nói đến phương thức cấu tạo của chúng. Các từ gốc nguyên cấp đều là những từ được cấu tạo bằng một hình vị cấu tạo từ nên thường được gọi là từ đơn. Như vậy, các từ đơn là những từ không thể giải thích được về mặt cấu tạo, trừ một số từ tượng thanh và tượng hình. Mỗi từ đơn là một đơn vị duy nhất trong ngôn ngữ, xét về cách cấu tạo, và về cơ bản mang tính võ đoán. Chính vì vậy, khi nói đến các phương thức cấu tạo từ, người ta chỉ đề cập đến những cách thức mà các ngôn ngữ sử dụng để tạo ra những từ có thể giải thích được về mặt cấu tạo (tức là các từ tạo). Những từ được tạo ra theo cách đó thường mang tính hệ thống: Chúng tập hợp thành những nhóm có chung một kiểu cấu tạo. Do vậy:

    Phương thức cấu tạo từ là cách thức và phương tiện mà các ngôn ngữ sử dụng để tạo ra các kiểu cấu tạo từ.

    Các kiểu cấu tạo từ trong các ngôn ngữ có thể được mô tả ở những cấp độ khác nhau, và do đó số lượng các phương thức cấu tạo từ có thể rất lớn, song xét ở cấp độ chung nhất, có thể nêu ba phương thức cấu tạo từ chủ yếu sau đây:

    Ghép là phương thức kết hợp các hình vị cùng tính chất với nhau (chủ yếu là các căn tố với nhau) theo một trật tự nhất định để tạo ra từ mới – ví dụ: trong tiếng Việt: trong tiếng Anh: trong tiếng Pháp: từ ghép. Đây là phương thức được sử dụng phổ biến trong các ngôn ngữ,

    mua bán, thiệt hơn, thay đổi, được mất, xe hơi,

    blackboard (bảng đen), inkpot (lọ mực), vinaigre (giấm), sous-marin (tàu ngầm), manpower (nhân lực),

    Trong số các loại từ tạo thì từ ghép thường gây nên sự nghi ngờ và bất đồng ý kiến, vì rằng chúng dễ bị nhầm lẫn với cụm từ tự do. Vì vậy, người ta phải đưa ra các tiêu chuẩn nhận diện từ ghép. Ngoài các tiêu chuẩn áp dụng đối với các từ nói chung là:

    – Phải có nghĩa hoàn chỉnh, nghĩa là biểu thị một nội dung khái niệm độc lập, hoàn chỉnh.

    – Có cấu trúc hình thức chặt chẽ, nghĩa là không thể bỏ đi một hình vị (từ tố) mà nghĩa của từ vẫn được giữ nguyên, hoặc không thể chêm các thành phần khác vào giữa hình vị hay chêm các thành phần phụ cho từng hình vị riêng lẻ,

    còn có thể nêu thêm hai tiêu chuẩn sau đây:

    Phải có dấu hiệu hình thức, chẳng hạn như có hình vị nối ( liên tố) giữa các căn tố, ví dụ: hình vị nối -o- trong zvuk/ o/operator (người thu thanh) của tiếng Nga, hay speed/ o/meter (đồng hồ tốc độ) của tiếng Anh.

    Phải có sự biến âm (gọi là biến âm sandhi), nghĩa là các hình vị được ghép với nhau bị thay đổi hình thức ngữ âm, ví dụ: nguyên âm ‘e mũi’ của hình vị vin (rượu vang) biến thành của hình vị po trong từ potomu (vì vậy) trong tiếng Nga được phát âm ngắn hơn bình thường, do trọng âm của từ ghép này rơi vào âm tiết cuối.

    Láy là phương thức lặp lại toàn bộ hay một bộ phận từ gốc để tạo ra từ mới – gọi là ‘ từ láy‘. Ví dụ: đen đen, trăng trắng, sành sạch trong tiếng Việt. Phương thức láy là phương thức được sử dụng phổ biến trong các ngôn ngữ không biến hình, ví dụ như tiếng Việt, Lào, Khơme, tiếng Inđônêxia, v.v… Trong nhiều ngôn ngữ, phương thức này chỉ được sử dụng rất hạn chế, và điều quan trọng là ở đó, các kiểu cấu tạo láy không có tính sinh sản, do đó thường chỉ gồm một từ duy nhất thuộc loại, chứ không bao gồm nhiều từ thuộc loại như trong các ngôn ngữ không biến hình, ví dụ như: tiptop (đỉnh cao) so-so (tàm tạm) trong tiếng Anh hay ‘ chut-chut‘ (xuýt nữa) trong tiếng Nga. Hơn nữa, nhiều khi các từ láy ở những ngôn ngữ này lại có quan hệ với hiện tượng tượng thanh hay tượng hình, ví dụ như murmur (rì rầm) hay zigzag (ngoằn ngoèo) trong tiếng Anh, và do đó, thực ra chúng không phải là những từ tạo mà là từ gốc.

    Ngoài ra, láy còn là phương thức để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp, ví dụ: ‘ rénrén‘ trong tiếng Trung và ‘ người người‘ trong tiếng Việt không phải là từ mới mà là dạng số nhiều của từ ‘ rén‘ và ‘ người ‘. Bởi vậy, khi xác định phương thức láy cần phân biệt các dạng láy và từ láy, cũng như từ láy nguyên cấp (từ gốc) và từ láy thứ cấp – tức từ mới được tạo ra theo phương thức láy.

    Nguyễn Thị Thanh Thuỷ @ 23:33 23/11/2012

    Số lượt xem: 524

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiết 3: Từ Và Cấu Tạo Từ Tiếng Việt Tit3 Doc
  • Bai Soạn Lớp 7: Từ Hán Việt
  • Nêu Cấu Tạo Của Từ Hán Việt?nêu Cấu Tạo Của Từ Láy?nêu Cấu Tạo Của
  • Nguyên Lý Hoạt Động Của Idling Stop Trên Xe Honda, Các Hư Hỏng Và Cách Khắc Phục
  • Nguyên Lý Hoạt Động Của Hệ Thống Khởi Động Acg Trên Xe Honda
  • Các Phương Thức Cấu Tạo Từ Trong Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Đầy Đủ Về Cách Nhận Biết Các Loại Từ Trong Câu Tiếng Anh
  • 11 Điểm Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Việt
  • 4 Điểm Khác Nhau Cơ Bản Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Việt
  • Đối Chiếu Danh Từ Trong Tiếng Anh Và Tiếng Việt (Trích Đoạn A)
  • Bài Nghiên Cứu Đối Chiếu Danh Từ Trong Tiếng Anh Và Tiếng Việt
  • Các phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh là kiến thức nền cơ bản nhất của ngữ pháp tiếng Anh. Trong đó, các nội dung chính của phương thức cấu tạo từ gồm:

    • Cấu tạo từ loại đơn lẻ: danh từ, tính từ, trạng từ
    • Cấu tạo từ ghép: danh từ ghép, tính từ ghép.
    • Thay đổi hậu tố hay cách nhận biết từng loại từ

    2. Các phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh – Tính từ

    3. Các phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh – Trạng từ

    Các phương thức thông thường nhất là sự ghép tự do hai danh từ với nhau để tạo thành danh từ mới. Cách ghép tự do này có thể áp dụng đối với nhiều trường hợp và danh từ ghép có thể là hai từ hoặc một từ, đôi khi mang một nghĩa mới. A tennis club: câu lạc bộ quần vợt A swimming pool: hồ bơi A greenhouse: nhà kình Merry- go- round (trò chơi ngựa quay)Trong cấu tạo “danh từ + danh từ”, danh từ đi trước thường có dạng số ít nhưng cũng có trường hợp ở dạng số nhiều:

    A telephone bill: hóa đơn điện thoại

    A sleeping bag: túi ngủ

    A blackboard: bảng viết

    Quicksilver: thủy ngân

    Forget- me- not (hoa lưu li)

    Mother- in- law (mẹ chồng/ mẹ vợ)

    A vegetable garden (vườn rau)

    An eye test (kiểm tra mắt)

    A sports shop (cửa hàng bán đồ thể thao)

    A goods train (tàu chở hàng)

    Danh từ ghép có thể được viết như:

    A black sheep: kẻ hư hỏng

    Washing powder: bột giặt

    A train journey: chuyến đi bằng tàu hỏa

    Phần lớn danh từ ghép được tạo thành bởi:

      Một số ít danh từ ghép có thể gồm ba từ hoặc nhiều hơn:
    • Hai từ rời: book seller (người bán sách), dog trainer (người huấn luyện chó)
    • Hai từ có gạch nối ở giữa: waste- bin (giỏ rác), living-room (phòng khách)
    • Một từ duy nhất: watchmaker (thợ chế tạo đồng hồ), schoolchildren (học sinh), chairman (chủ tọa).

    b. Các phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh – Tính từ ghép

    – ise/ -ize: modernize, popularize, industrialize…

    Bằng cách thêm phụ tố (affixation) bao gồm tiền tố (pfixes) vào đầu một từ gốc hoặc hậu tố (suffixes) vào cuối từ gốc ta có cách cấu tạo một hình thái từ mới rất phổ biến trong tiếng Anh.

    – ify: beautify, purify, simplify

    -y: bushy, dirty, hairy…

    Lưu ý: Đối với các tiền tố in-, im-, ngoài ý nghĩa phủ định chúng còn mang nghĩa ‘bên trong; vào trong”, Ví dụ: internal, income, import..

      Các tiền tố un- và dis- còn được dùng để thành lập từ trái nghĩa của động từ: tie/untie, appear/disappear..hoặc đảo ngược hành động hành động của động từ: disbelieve, disconnect, dislike, disqualify, unbend, undo, undress, unfold, unload, unlock, unwrap..

    Ngoài ra ra còn có tiền tố phủ định de- và non: decentralize, nonsense…

    -ic: atomic, economic, poetic

    -al: cultural, agricultural, environmental

    -ical: biological, grammatical

    -ful: painful, hopeful, careful

    -less: painless, hopeless, careless

    -able: loveable, washable, breakable

    -ive: productive, active

    -ous: poisonous, outrageous

    * Hậu tố tạo danh từ:

    Các hậu tố hình thành danh từ thường gặp.

    – chỉ người thực hiện một hành động

    – ta còn dùng hậu tố này cho rất nhiều động từ để hình thành danh từ

    Writer, painter, worker, actor, operator

    Dùng chỉ vật thực hiện một công việc nhất định

    Pencil- sharpener, grater

    Bottle-opener, projector

    Chỉ người

    Chỉ hoạt động hoặc hệ tư tưởng (hai hậu tố này dùng cho chính trị , niềm tin và hệ tư tưởng hoặc ý thức hệ của con người)

    Buddhist, Marxist

    Buddhism, communism

    Còn dùng để chỉ người chơi một loại nhạc cụ, chuyên gia một lĩnh vực…

    Guitarist, violinist, pianist

    Economist, biologist

    Chỉ trạng thái, phẩm chất, tình trạng, khả năng hoặc nhóm

    Friendship, citizenship, musicianship, membership

      cautious B. cautiously C. cautional D. cautionally

    --- Bài cũ hơn ---

  • 15 Câu Trắc Nghiệm Luyện Tập: Cấu Tạo Vỏ Nguyên Tử Chọn Lọc, Có Đáp Án
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Về Cấu Tạo Nguyên Tử Hạt Nhân Có Đáp Án Năm 2022
  • 15 Câu Trắc Nghiệm Luyện Tập: Cấu Tạo Vỏ Nguyên Tử Cực Hay Có Đáp Án.
  • 15 Câu Trắc Nghiệm Cấu Tạo Vỏ Nguyên Tử Chọn Lọc, Có Đáp Án
  • Đề Cương Ôn Tập Cơ Học Lượng Tử & Vật Lý Nguyên Tử
  • Công Thức Cấu Tạo Hợp Chất Hữu Cơ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 35. Cấu Tạo Phân Tử Hợp Chất Hữu Cơ
  • Cấu Tạo Phân Tử Của Hợp Chất Hữu Cơ, Bài Tập Áp Dụng
  • Hồng Cầu Sống Được Bao Lâu Thì Chết?
  • Mọi Thứ Bạn Cần Biết Về Sinh Lý Của Hồng Cầu (Phần 1)
  • Chức Năng Của Hồng Cầu
  • CÔNG THỨC CẤU HỢP CHẤT HỮU CƠ

    1. Nội dung của thuyết cấu tạo hóa học

    Ngay từ năm 18611861, Bút-lê-rốp đã đưa ra khái niệm cấu tạo hóa học và thuyết cấu tạo hóa học gồm những luận điểm chính sau:

    – Trong phân tử hợp chất hữu cơ, các nguyên tử liên kết với nhau theo đúng hóa trị và theo một thứ tự nhất định. Thứ tự liên kết đó được gọi là cấu tạo hóa học. Sự thay đổi thứ tự liên kết đó, tức là thay đổi cấu tạo hóa học, sẽ tạo ra hợp chất khác.

    VD: Công thức phân tử C 2H 6 O có hai công thức cấu tạo (thứ tự liên kết khác nhau) ứng với 2 hợp chất sau:

    1. H 3C−O−CH 3 : đimetyl ete, chất khí, không tác dụng với Na.

    2. H 3C−CH 2 −O−H: ancol etylic, chất lỏng, tác dụng với Na giải phóng hiđro.

    – Trong phân tử hợp chất hữu cơ, cacbon có hóa trị 4. Nguyên tử cacbon không những có thể liên kết với nguyên tử các nguyên tố khác mà còn liên kết với nhau thành mạch cacbon

    – Tính chất của các chất phụ thuộc vào thành phần phân tử (bản chất, số lượng các nguyên tử) và cấu tạo hóa học (thứ tự liên kết các nguyên tử).

    – Phụ thuộc thành phần phân tử: CH 4 là chất khí dễ cháy, CCl 4 là chất lỏng không cháy; CH 3Cl là chất khí không có tác dụng gây mê, còn CHCl 3 là chất lỏng có tác dụng gây mê.

    – Phụ thuộc cấu tạo hóa học: CH 3CH 2OH và CH 3OCH 3 khác nhau cả về tính chất hóa học.

    Các ancol trongdãy: CH 3OH,C 2H 5OH,C 3H 7OH,C 4H 9OH,…,C nH 2n+1OH cũng có thành phần hơn kém nhau một hay nhiều nhóm CH 2 nhưng có tính chất hóa học tương tự nhau.

    * * Khái niệm: Những hợp chất có thành phần phân tử hơn kém nhau một hay nhiều nhóm CH 2 nhưng có tính chất hóa học tương tự nhau là những chất đồng đẳng, chúng hợp thành dãy đồng đẳng. Giải thích: Mặc dù các chất trong cùng dãy đồng đẳng có công thức phân tử khác nhau một hay nhiều nhóm CH 2 nhưng do chúng có cấu tạo hóa học tương tự nhau nên có tính chất hóa học tương tự nhau.

    Etanol và đimetyl ete là hai chất khác nhau (có tính chất khác nhau ) nhưng có cùng công thức phân tử là C Metyl axetat (CH 2H 6O. 3COOCH 3), etyl fomiat (HCOOC 2H 5) và axit propionic (CH 3CH 2COOH là ba chất khác nhau nhưng có công thức phân tử là C 3H 6O 2.

    * Khái niệm: Những hợp chất khác nhau nhưng có cùng công thức phân tử là những chất đồng phân.

    * Giải thích: Những chất đồng phân tuy có cùng công thức phân tử nhưng có cấu tạo hóa học khác nhau, chẳng hạn etanol có cấu tạo H 3C−CH 2−O−H, còn đimetyl ete có cấu tạo H 3C−O−CH 3, vì vậy chúng là những chất khác nhau, có tính chất khác nhau.

    3. Các loại công thức cấu tạo

    Công thức cấu tạo biểu diễn thứ tự và cách thức liên kết của các nguyên tử trong phân tử. Có cách viết

    khai triển, thu gọn và thu gọn nhất.

    Công thức cấu tạo khai triển: Viết tất cả các nguyên tử và các liên kết giữa chúng.

    Công thức cấu tạo thu gọn: Viết gộp nguyên tử cacbon và các nguyên tử khác liên kết với nó thành từng nhóm.

    Công thức cấu tạo thu gọn nhất: Chỉ viết các liên kết và nhóm chức, đầu mút của các liên kết chính là nhóm CHx với x đảm bảo hóa trị 4 ở C.

    Butan−1−ol và đietylete có cùng công thức phân tử C 4H 10 O nhưng do khác nhau về cấu tạo hóa học nên khác nhau về tính chất vật lí và tính chất hóa học.

    Vậy những hợp chất có cùng công thức phân tử nhưng có cấu tạo hóa học khác nhau gọi là những đồng phân cấu tạo.

    Những đồng phân khác nhau về bản chất nhóm chức gọi là đồng phân nhóm chức. Những đồng phân khác nhau về sự phân nhánh mạch cacbon gọi là đồng phân mạch cacbon. Những đồng phân khác nhau về vị trí nhóm chức gọi là đồng phân vị trí nhóm chức.

    Bài 1. Hãy viết công thức cấu tạo của các chất có công thức phân tử sau :

    Biết rằng brom có hoá trị I.

    Bài 3. Phân tử hợp chất hữu cơ A có hai nguyên tố. Khi đốt cháy 3 gam chất A thu được 5,4 gam H 2 O. Hãy xác định công thức phân tử của A, biết khối lượng mol của A là 30 gam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Trần Thuật Là Gì? Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Của Câu Trần Thuật
  • Câu Ghép Là Gì Và Cách Đặt Câu Ghép Cùng Bài Tập Về Câu Ghép
  • Phân Loại Câu Theo Cấu Tạo
  • Cấu Tạo Hữu Cơ Của Tư Bản
  • Phân Tích Cấu Tạo Hữu Cơ Của Tư Bản?
  • Đối Chiếu Từ Vựng – Bình Diện Cấu Tạo Hình Thức

    --- Bài mới hơn ---

  • Van Điện Từ Là Gì? Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Van Điện Từ
  • Van Điện Từ Là Gì? Cấu Tạo, Nguyên Lý Và Phân Loại Solenoid Vale
  • Máy Bay Mô Hình Điều Khiển Từ Xa
  • Tự Chế Tạo Máy Bay Điều Khiển Từ Xa
  • 7 Điều Thú Vị Về Tai Của Mèo
  • Lê Đình Tư

    1. Đối chiếu cấu tạo hình vị của từ

    – Các loại hình vị cấu tạo từ. Hình vị cấu tạo từ được chia thành hai loại: căn tố và phụ tố.

    – Căn tố: là hình vị cơ bản, là yếu tố cấu trúc chính của từ. Căn tố là bộ phận có thể tách khỏi từ để hoạt động độc lập, vì đây thường là những từ gốc. Ví dụ: time-less.

    – Phụ tố: là những hình vị được ghép với căn tố để tạo ra từ mới hoặc để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp.

    Trong các ngôn ngữ biến hình, người ta phân biệt hình vị từ vựng- ngữ pháp (hoặc hình vị từ vựng) và hình vị ngữ pháp, nhưng trong các ngôn ngữ không biến hình, chỉ có hình vị từ vựng-ngữ pháp mà không có ý nghĩa ngữ pháp theo cách hiểu của ngôn ngữ học châu Âu.

    Các phụ tố trong các ngôn ngữ thường được chia thành:

    *Tiền tố: là phụ tố hình vị đứng trước căn tố. Ví dụ: in-famous (t. Anh).

    * Hậu tố: là hình vị đứng sau căn tố. Ví dụ: happi-ness (t. Anh).

    * Trung tố: là hình vị được đặt xem vào giữa căn tố. Ví dụ: l-b-eun (= tốc độ)) được tạo ra từ leun (= nhanh) (t. Khơme).

    * Liên tố : là hình vị dùng để nối các căn tố với nhau, ví dụ: speed-o-meter trong tiếng Anh hay zieml-e-kop (t. Nga).

    * Bao tố: còn gọi là hình vị không liên tục. Đây là những hình vị bao quanh căn tố cả về phía đầu lẫn phía cuối. Loại hình vị này xuất hiện chủ yếu ở một số ngôn ngữ của thổ dân châu Mĩ, nhưng thời gian gần đây có một số nhà nghiên cứu cho rằng bao tố được sử dụng rộng rãi hơn ở nhiều ngôn ngữ khác. Ví dụ: roz-płakać-się (= khóc òa) (t. Ba Lan).

    * biến tố: là những hình vị thường đứng sau căn tố và phụ tố để thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp như: giống, số, cách, ngôi… Ví dụ: rek-a (t. Nga).

    2. Những sự khác biệt về cấu tạo hình vị của từ trong các ngôn ngữ

    – Các ngôn ngữ có sự khác biệt về cách sử dụng các phụ tố cấu tạo từ. Ví dụ: Các ngôn ngữ biến hình dùng các phụ tố để tạo từ mới nhưng tiếng Việt thường dùng cách ghép từ để tạo từ mới.

    – Vị trí của các phụ tố trong các ngôn ngữ có thể rất khác nhau. Ví dụ: t. Việt: tính ích kỉ/ t. Anh: selfishness

    – Trong các ngôn ngữ, các hình vị có thể khác nhau về mức độ sản sinh: tính sản sinh của các hình vị ở ngôn ngữ này cao nhưng ở ngôn ngữ kia lại thấp. Ví dụ: Hình vị ‘máy’ để tạo các danh từ trong tiếng Việt có tính sản sinh rất cao: máy nổ, máy gặt, máy tiện…, nhưng trong nhiều ngôn ngữ hình vị tương đương đều có khả năng sản sinh ít hơn tiếng Việt.

    – Các ngôn ngữ còn khác nhau về các phương thức cấu tạo từ. Sự khác nhau thường thể hiện ở hai mặt:

    * Số lượng các phương thức, ví dụ: Trong tiếng Việt có phương thức láy để tạo từ mới nhưng một số ngôn ngữ không dùng phương thức này;

    * Mức độ ưa chuộng các phương thức cấu tạo từ, ví dụ: tiếng Việt ưa chuộng phương thức ghép và phương thức láy, còn các ngôn ngữ Ấn-Âu thì ưa chuộng phương thức phụ gia và phương thức ghép.

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bạn Biết Gì Về Quang Trở Và Biến Trở?
  • Một Số Đặc Điểm Của Tiếng Nhật
  • Vị Trí Của Các Từ Loại Trong Tiếng Anh
  • Từ Láy Là Gì? Các Dạng Từ Láy Khác Nhau Và Ví Dụ Minh Họa
  • Canxi, Nhân Tố Chính Ảnh Hưởng Đến Chất Lượng Vỏ Trứng
  • Thành Phần Cấu Tạo Của Inox

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Lịch Sử Ra Đời, Phân Loại Và Cấu Tạo Của Quạt Điện
  • Nguyên Lý Hoạt Động Từ A
  • Nguyên Lý Làm Việc, Cấu Tạo, Ưu Nhược Điểm Của Quạt Hút Ly Tâm
  • Tìm Hiểu Cấu Tạo Của Quạt Phun Sương
  • Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Quạt Điều Hòa
  • Carbon là một thành phần không thể thiếu của Inox. Nó có mặt ở nhiều nhóm, nhiều loại inox – thép không gỉ khác nhau. Tuy nhiên, hàm lượng C thường ở mức thấp. Tác dụng của Carbon chính là chống chịu lại sự ăn mòn.

    Nếu Carbon kết hợp với Crom trong hợp kim, chúng sẽ gây tổn thương cho “lớp trơ” hình thành. Ở những khu vực cục bộ khác, nếu Crom<10.5% thì “lớp trơ” sẽ không hình thành.

    Có thể bạn chưa biết:

    Như chúng ta đã biết, Inox – thép không gỉ là một dạng hợp kim của sắt chứa tối thiếu 10.5% Cr. Vìvậy, Cr là một thành phần không thể thiếu của bất kì loại Inox nào.Vì Cr là nguyên tố phản ứng cao. Do đó chúng tạo bên bản chất “trơ” cho hợp kim này. Cr còn có tác dụng ngăn chặn sự ăn mòn và gỉ sét thông thường xảy ra đối với các loại thép carbon không có tấm bảo vệ bên ngoài.

    Niken là hợp kim chính của nhóm thép không gỉ Austenitic ( Nhóm 3XX). Chính sự có mặt của Niken làm cho nhóm này có độ dẻo dai cao, độ bền tốt ngay cả ở nhiệt độ hỗn hợp làm nguội.

    Nếu như ở nhóm 3XX, Niken đóng một vai trò khá quan trọng, thì đối với nhóm 2XX, Mangan là một nguyên tố không thể thiếu. Manga chính là nguyên tố thay thế cho Niken ở các mác thép 2XX này. Tác dụng chính của Mangan chính là giúp thép không gỉ khử oxy hóa,ngoài ra chúng còn có tác dụng làm ổn định mác thép Austenitic.

    Ngoài ra, Molypden còn có tác dụng chống nhiệt Clorua, đó là nguyên nhân Tấm Inox 316 ( có chứa 2% Molypden ) dùng tốt hơn các loại Tấm Inox 304 ở môi trường vùng biển. Khi lượng Molypden càng cao, thì sức chống chịu clorua lại càng cao.

    Nhà máy sản xuất Inox Hàng đầu tại Việt Nam ?

    Với thâm niên hàng chục năm trên thị trường mua bán Inox tại Việt Nam và Thế Giới. Inox Đại Dương đã và đang tiếp tục là nhà sản xuất và bán ống inox 304/201/ 430 hàng đầu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thành Phần Cấu Tạo Nên Mặt Trời Là Gì?
  • Giải Bài Tập Hóa 11 Bài 29: Anken (Olefin)
  • Bai Tap Tu Luan Ve Anken
  • Phương Pháp Làm Dạng Bài Về Chủ Ngữ, Vị Ngữ Trong Câu Kể “ai Làm Gì”
  • Thế Là Nào Chủ Ngữ, Vị Ngữ, Trạng Ngữ
  • Thành Phần Cấu Tạo Nguyên Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 25. Kim Loại Kiềm Và Hợp Chất Quan Trọng Của Kim Loại Kiềm
  • Bài 28. Kim Loại Kiềm
  • Tính Chất Hoá Học Của Kim Loại Kiềm, Hợp Chất Của Kim Loại Kiềm Và Bài Tập
  • Tìm Hiểu Nguyên Lý Làm Việc Của Nhà Máy Điện Hạt Nhân
  • Nhà Máy Điện Hạt Nhân Có Kết Cấu Thế Nào?
  • I. Thành phần cấu tạo nguyên tử

    Từ những kết quả thực nghiệm, người ta chứng minh được xác định thành phần nguyên tử gồm có hạt nhân và lớp vỏ electron.

    1. Lớp vỏ electron

    Lớp vỏ electron gồm các hạt electron mang điện tích âm (-) chuyển động trong không gian xung quanh hạt nhân. Electron kí hiệu là e.

    • Khối lượng: me = 9,1094.10-31 kg
    • Điện tích: qe = -1,602.10-19 C (culông)
    • Điện tích của electron được kí hiệu là – eo và quy ước bằng 1-.

    2. Hạt nhân nguyên tử

    Hạt nhân nguyên tử gồm các hạt proton mang điện tích dương (+) và notron không mang điện. Hạt proton kí hiệu là p, hạt notron kí hiệu là n.

    • Khối lượng proton: mp = 1,6726.10-27 (kg)
    • Điện tích của proton: qp = + 1,602.10-19 C (culông)
    • Khối lượng notron: mn = 1,6748.10-27 (kg)
    • Điện tích của notron: qn = 0

    Như vậy, thành phần cấu tạo nguyên tử gồm:

    – Hạt nhân nguyên tử nằm ở tâm của nguyên tử gồm các hạt proton và notron.

    – Vỏ nguyên tử gồm các electron chuyển động xung quanh hạt nhân.

    Thành phần cấu tạo nguyên tử

    II. Kích thước và khối lượng của nguyên tử

    1. Kích thước nguyên tử

    • Kích thước của nguyên tử: mỗi nguyên tử có kích thước khoảng 10-10 m = 0,1 nm. Nguyên tử nhỏ nhất là nguyên tử H có bán kính r = 0,053 nm.
    • Đường kính của hạt nhân nguyên tử khoảng 10-5 nm.
    • Đường kính của e lectron và proton khoảng 10-8 nm.

    2. Khối lượng nguyên tử

    – Để biểu thị khối lượng của một nguyên tử, phân tử hay các hạt e, p, n, người ta dùng đơn vị khối lượng nguyên tử, kí hiệu là u. u còn được gọi là đvC.

    – 1u = 1/12 khối lượng của 1 nguyên tử đồng vị Cacbon 12. Nguyên tử này có khối lượng là 19,9265.10-27 kg.

    1u = 19,9265.10-27/12 ≈ 1,6605.10-27 kg

    Ví dụ:

    • Khối lượng của 1 nguyên tử H là 1,6738.10-27 ≈ 1u.
    • Khối lượng của 1 nguyên tử C là 9,9265.10-27 = 12 u.

    Bài tập về nguyên tử

    Bài 1. Các hạt cấu tạo nên hạt nhân của hầu hết các nguyên tử là:

    A. Electron và proton

    B. Proton và nơtron

    C. Nơtron và electron

    D. Electron, proton và nơtron

    Chọn đáp án đúng.

    Giải: chọn đáp án B

    Cấu tạo của hầu hết các hạt nhân nguyên tử là proton và nơtron, trừ hạt nhân nguyên tử của hiđro chỉ có proton.

    Bài 2. Các hạt cấu tạo nên hầu hết các nguyên tử là:

    A. Proton và electron

    B. Nơtron và electron

    C. Nơtron và proton

    D. Nơtron, proton và electron

    Giải: chọn đáp án D

    Các hạt cấu tạo nên hầu hết các nguyên tử là nơtron, proton và electron, trừ nguyên tử của hiđro chỉ có proton và electron.

    Bài 3. Nguyên tử có đướng kính lớn gấp khoảng 10 000 lần đường kính hạt nhân. Nếu ta phóng đại hạt nhân lên thành một quả bóng có đường kính 6 cm thì đường kính của nguyên tử sẽ là:

    A. 200 m

    B. 300 m

    C. 600 m

    D. 1200 m

    Giải: chọn đáp án C

    Đường kính nguyên tử sẽ là 6 x 10 000 = 60 000 cm = 600 m.

    Bài 4. Tìm tỉ số về khối lượng của electron sơ với proton và nơtron.

    Giải:

    Tỉ số về khối lượng của electron sơ với proton:

    (9,1095.10-31)/(1,6726.10-27) = 1/1836

    Tỉ số về khối lượng của electron sơ với nơtron:

    (9,1095.10-31)/(1,6748.10-27) = 1/1839

    Bài 5. Nguyên tử kẽm có bán kính r = 1,35.10-1 nm và có khối lượng nguyên tử là 65 u.

    a) Tính khối lượng riêng của nguyên tử kẽm.

    b) Thực tế hầu như toàn bộ khối lượng nguyên tử kẽm tập trung ở hạt nhân với bán kính r = 2.10-6 nm. Tính khối lượng riêng của hạt nhân nguyên tử kẽm.

    Cho biết V hình cầu = 4/3.π.r 3

    Giải:

    1 u = 1,6605.10-27 kg = 1,6605.10-24 g

    Lời Kết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Chuyên Đề Cấu Tạo Nguyên Tử (Lý Thuyết + Bài Tập)
  • Chuyên Đề: Cấu Tạo Nguyên Tử (P1)
  • Giải Sách Bài Tập Hóa Học 8
  • Cấu Tạo Của Kim Loại Và Vị Trí Của Kim Loại Trong Bảng Htth
  • Cách Giải Bài Tập Về Cấu Tạo Chất: Nguyên Tử, Phân Tử Cực Hay.
  • Bài Tập Viết Công Thức Cấu Tạo Của Các Phân Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Ê Tô Là Gì? Cấu Tạo, Công Dụng Và Cách Sử Dụng Ê Tô
  • Êto Là Gì? Công Dụng Phân Loại Eto Nhật Bãi
  • Ê Tô Thủy Lực Nhật Đã Qua Sử Dụng
  • Ê Tô Thủy Lực Vh Cho Máy Phay Cnc, Eto Thuy Luc
  • Đặc Tính Ê Tô Thường Và Ê Tô Thủy Lực
  • BÀI TẬP VIẾT CÔNG THỨC CẤU TẠO CỦA CÁC PHÂN TỬ

    Hợp chất tạo bởi các nguyên tố phi kim là hợp chất có lk CHT ( h/c cộng hóa trị)

    Giải thích: Viết cấu hình e của các nguyên tử tạo hợp chất

    Tính nhẩm số e mỗi nguyên tử góp chung = 8 – số e lớp nc

    Biểu diễn các e lớp nc và các cặp e chung (bằng các dấu chấm) lên xung quanh kí hiệu ng/tửà Công thức electron

    Thay mỗi cặp e chung bằng 1 gạch ngangà Công thức cấu tạo

    (CT e) (CTCT)

    cặp e chung lk đơn

    H + H H ¾ Cl

    (CT e) (CTCT)

    Sau khi hình thành các liên kết cộng hóa trị, N (chứ không phải O) sẽ cho 1 cặp electron đến nguyên tử O thứ ba (đang thiếu 2e để đạt cấu hình khí trơ) hình thành liên kết cho – nhận .

    – Cấu tạo phân tử và biểu diễn với liên kết cho nhận là để phù hợp với quy tắc bát tử.

    – Với nguyên tử cho cặp electron có 3 lớp trở lên, có thể có hóa trị lớn hơn 4 nên còn biểu diễn bằng liên kết cộng hóa trị.

    Ví dụ 2. Cách biểu diễn sau nêu được hóa trị của S và Cl và cũng chứng tỏ rằng quy tắc bát tử chỉ đúng với một số trường hợp mà thôi.

    H 2SO 4 S có hóa trị là 6

    HClO 4 Cl có hóa trị 7

    Ví dụ 3. công thức electron và công thức cấu tạo các ion đa nguyên tử sau: CO 32-, HCO 3

    Ví dụ 4. Viết công thức cấu tạo các chất sau:

    Ví dụ 5. R là một nguyên tố phi kim. Tổng đại số số oxi hóa dương cao nhất với 2 lần số oxi hóa âm thấp nhất của R là +2. Tổng số proton và nơtron của R nhỏ hơn 34.

    2. X là hợp chất khí của R với hiđro, Y là oxit của R có chứa 50% oxi về khối lượng. Xác định công thức phân tử của X và Y.

    1. Gọi số oxi hóa dương cao nhất và số oxi hóa âm thấp nhất của R lần lượt là +m và -n.

    Số oxi hóa cao nhất của R trong oxit là +m nên ở lớp ngoài cùng nguyên tử R có m electron.

    Số oxi hóa trong hợp chất của R với hiđro là -n nên để đạt được cấu hình 8 electron bão hòa của khí hiếm, lớp ngoài cùng nguyên tử R cần nhận thêm n electron.

    Ta có: m + n = 8. Mặt khác, theo bài ra: +m + 2(-n) = +2 m – 2n = 2.

    Từ đây tìm được: m = 6 và n = 2. Vậy R là phi kim thuộc nhóm VI.

    Số khối của R < 34 nên R là O hay S. Do oxi không tạo được số oxi hóa cao nhất là +6 nên R là lưu huỳnh.

    2. Trong hợp chất X, S có số oxi hóa thấp nhất nên X có công thức là H 2 S.

    Gọi công thức oxit Y là SO n.

    Do %S = 50% nên = n = 2. Công thức của Y là SO 2.

    Ví dụ 6. Để khử hoàn toàn 8 gam oxit của một kim loại thành kim loại cần dùng 3,36 lit H 2. Hòa tan hết lượng kim loại thu được vào dung dịch HCl loãng thấy thoát ra 2,24 lit khí H 2. Biết các khí đo ở đktc.

    Xác định công thức của oxit. Cho biết số oxi hóa và hóa trị của kim loại trong oxit.

    (mol): a ay ax

    Ta có: a(Mx + 16y) = 8 và ay = 0,15. Như vậy Max = 5,6.

    (mol): ax 0,5nax

    Ta có: 0,5nax = 0,1 hay nax = 0,2.

    Lập tỉ lệ: . Vậy M = 28n.

    Ta lập bảng sau:

    Vậy kim loại M là Fe.

    Số oxi hóa của sắt trong oxit là +3, hóa trị của sắt là III.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo, Cách Viết 29 Chữ Cái
  • Cách Viết Công Thức Cấu Tạo Của H2S04, Hn03 Theo Quy Tắc Bát Tử
  • Cách Viết Công Thức Cấu Tạo Của Các Phân Tử Hay, Chi Tiết
  • Cấu Tạo Vỏ Electron Nguyên Tử
  • Cấu Hình Electron Nguyên Tử (Chi Tiết)
  • Cấu Tạo Ô Tô Phần 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Opamp Là Gì? #1 Nguyên Lý Cơ Bản Của Mạch Khuếch Đại Đảo Op
  • Xe Ev Car Là Gì? So Sánh Ô Tô Điện Ev Và Xe Fcv
  • Ozone Là Gì? Tính Chất Và Công Dụng Của Khí Ozone
  • Tính Chất Hóa Học, Điều Chế Và Ứng Dụng Của Ozon (O3)
  • Phân Tích Chi Tiết Về Công Nghệ Oled: Về Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động
  • 3.2

    /

    5

    (

    9

    bình chọn

    )

    ĐẠI CƯƠNG VỀ Ô TÔ

    Suốt thế kỷ XIX, ngành vận tải đã tiến hành các cuộc cách mạng. Đầu tiên là ngành

    đường sắt, đó là các đầu máy có khả năng vận chuyển những khối hàng khổng lổ. Cuối thế

    kỷ XIX, sự vận chuyển bằng đường bộ cũng bắt đầu tiến bộ với sự phát triển của xe hơi.

    Vận chuyển hàng không, bằng hình thức khí cầu cũng đã bắt đầu. Nhưng bước đột phá đó

    là chiếc phi cơ vận hành động lực đầu tiên do hai anh em nhà Wright ở Hoa Kỳ sáng chế.

    Sự vận chuyển đường thuỷ có khuynh hướng chậm hơn, bởi sự ma sát với nước. Tốc độ của

    tàu thuyền không cải thiên được nhiều so với trước đây, những loại tàu hiên đại chỉ đáp ứng

    vận tải trên các đoạn đường ngắn ( tàu cánh ngầm, tàu đêm không khí ).

    Các loại phương tiện vận tải.

    Có thể phân loại phương tiên vận tải theo những loại chính sau:

    + Phương tiên vận tải đường bộ.

    + Phương tiên vận tải đường sắt.

    + Phương tiên vận tải đường thuỷ.

    + Phương tiên vận tải hàng không.

    ô tô là phương tiên cơ giới đường bộ dùng để chở người, hàng hoá hoặc phục vụ thực hiên

    một nhiêm vụ đặc biệt.

    Lịch sử phát trien phương tiện vận tải ô tô.

    Năm 1650 chiếc xe có bốn bánh vận chuyển bằng các lò xo tích năng được thiết kế bởi

    nghê sỹ, nhà phát minh người ý Leonardo da Vinci. Sau đó là sự phát triển của nguổn động

    lực cho ôtô : động cơ gió, động có không khí nén. Năm 1769 đánh dấu sự ra đời của động

    cơ máy hơi nước ( khói đen, ổn , khó vận hành.. ) và vào thời kỳ này chiếc ô tô tải đầu tiên

    ra đời.

    Năm 1860 động cơ bốn kỳ chạy ga ra đời đánh dấu cho sự ra đời của ô tô con ( loại

    xe này dùng cho giới thượng lưu người Pháp).

    Năm 1864 động cơ bốn kỳ chạy xăng ra đời và sau 10 năm loại xe với động cơ này đạt

    được công suất 20 kw và có thể đạt vận tốc 40 km/h.

    Năm 1885, Karl Benz chế tạo một chiếc xe có một máy xăng nhỏ đó là chiếc ô tô đầu

    tiên.

    Năm 1891 ô tô điên ra đời ở Mỹ do hãng Morris et Salon ở Philadel sản xuất.

    Sau khi lốp khí nén ra đời, 1892 Rudolf Diesel đã cho ra đời động cơ Diesel và đã cho

    chế tạo hàng loạt. Vào thời gian này, đã hình thành tổng thể ôtô con, ôtô tải, ôtô chở người

    với lốp khí nén.

    Cuộc cách mạng xe hơi chỉ bắt đầu vào 1896 do Henry Ford hoàn thiên và bắt đầu lắp

    ráp hàng loạt lớn. Vào nhưng năm tiếp theo là sự ra đời các loại xe hơi của các hãng

    Renault và Mercedes (1901). Peugeot (1911).

    Ngày nay chiếc ô tô không ngừng phát triển và hiên đại, công nghiêp xe hơi đã trở

    thành ngành công nghiêp đa ngành.

    Xe hơi có hộp số tự động ra đời vào năm 1934

    Năm 1967 xe hơi có hê thống phun xăng cơ khí.

    ô tô phát triển đi cùng với tính năng an toàn: 1971 ABS: Anti-lock Brake System (hê

    thống trống bó cứng bánh xe khi phanh),1979 (Đk kỹ thuật số ), EBD: Electronic Brake

    Distrition (phân phối lực phanh điên tử), TRC: Traction Control (điều khiển lực kéo), điều

    khiển thân xe:Active Body Control (ABC)….

    Tốc độ của xe cũng được cải thiên không ngừng: Năm 1993 vận tốc của xe đạt 320 km/h

    và đến năm 1998, VMax= 378 km/h. Cho đến nay ô tô có thể đạt tốc độ lớn hơn 400km/h.

    2

    1. Khái niệm, phân loại
    2. Khái niệm

    Ồ tô là phương tiên cơ giới đường bô dùng để chở người, hàng hoá hoặc phục vụ thực

    hiên môt nhiêm vụ đặc biệt.

    1. 2. Phân loại

    a. Phân loại theo mục đích sử dụng.

    b. Phân loại theo loại nhiên liệu dùng

    3

    Logo một số ô tô

    ($ị)VOLKSWAGEN

    NISSAN

    VOLVO

    ISU2U

    $ SU2UKI

    0HINO

    (QỊD; MekonG AutO

    4

    1. Câu tạo chung ô tô

    ô tô cấu tạo gổm các phần sau:

    + Động cơ.

    + Phần gầm

    + Phần thân vỏ

    + Phần hê thống điên (không học trong học phẩn này có môn học riêng)

    1. Động cơ

    Động cơ là nguồn động lực phát ra năng lượng để ô tô hoạt động. Động cơ thường dùng

    trên ô tô là động cơ đốt trong kiểu piston.

    Nhiên liêu dùng cho động cơ: Xăng, Diesel, khí ga…

    Các bộ phận chính của động cơ:

    • Thân vỏ động cơ.
    • Cơ cấu trục khuỷu – thanh truyền
    • Cơ cấu phối khí
    • Hê thống cung cấp nhiên liêu
    • Hê thống làm mát
    • Hê thống bôi trơn
    • Hê thống điên.
    1. Gẩm ô tô
    • Hê thống truyền lực
    • Các bộ phận chuyển động
    • Các hê thống điều khiển
    1. Thân vỏ

    Dùng để chứa người lái hành khách, hàng hoá

    • ô tô tải: Cabin + thùng chứa hàng
    • ô tô chở người: Khoang người lái + khoang hành khách
    1. Hệ thông điên.
    • Hê thống điên động cơ: Hê thống khởi động, hê thống nạp, hê thống đánh lửa động

      cơ xăng.

    • Hê thống điên thân xe: Hê thống chiếu sáng, hê thống gạt nước mưa, hê thống điều

      khiển khác…

    1. Bô’ trí chung của ô tô
    2. Bô trí động cơ.

    + Vị trí đặt động cơ: Đặt trước, đặt giữa đặt sau ô tô

    + Bố trí: Ngang, dọc ô tô

    a. ớ tô con:

    5

    b.

    c.

    1. Động cơ đặt trước cầu trước chủ đông- đông cơ đặt ngang
    2. Động cơ đặt trước- cầu sau chủ động, động cơ đặt dọc
    3. Động cơ đặt sau cầu sau chủ động
    4. Động cơ đặt trước hai cầu chủ động.

    ô tô khách

    -ờ

    ( )

    < í

    -ữ

    a)

    b)

    ( )

    ô tô tải

    c)

    b)

    c)

    (—

    —)

    <

    )

    (—

    —)

    <

    >

    r

    1

    (

    (

    (

    )

    <—

    )

    <

    )

    -V

    (

    )

    (

    >

    e)

    f)

    6

    Chương I: ĐỘNG CƠ Ô TÔ

    Hiên nay động cơ thường được sử trên các ô tô là đông cơ đốt trong kiểu piston, nhiên

    liêu dùng cho loại động cơ này là xăng, Diesel, khí ga, khí H2… Ngoài động cơ đốt trong,

    trên một số ô tô còn sử dụng động cơ lai (Hybrid), động cơ điên.

    Trong bài giảng này chỉ giới thiêu về động cơ đốt trong kiểu piston.

    1. Những vân để chung vể đông cơ đốt trong

    Động cơ đốt trong nói chung, động cơ xăng và động cơ Diesel nói riêng kiểu piston

    thuộc loại động cơ nhiệt, hoạt động nhờ quá trình biến đổi hoá năng thành nhiệt năng do

    nhiên liệu trong buồng kín bị đốt cháy rổi chuyển sang dạng cơ năng. Toàn bộ quá trình này

    được thực hiện trong buồng kín của xy lanh động cơ

    Trên ô tô động cơ là bộ phận quan trọng quyết định đến các thông số cơ bản của ô tô

    như: công suất, tốc độ, trọng lượng hàng hoá hay hành khách chuyên chở của ô tô và các

    tính năng khác. Có tác động trực tiếp đến môi trường: gây ồn, gây ô nhiểm mối trường… do

    khí thải gây ra. Vì vậy, động cơ chiếm số % lớn về giá thành của cả ô tô (20^30%).

    1. Phân loại đông cơ:

    + Phân loại theo nhiên liệu :

    – Động cơ xăng

    Động cơ INNOVA

    7

    Động cơ Diesel KAMAZ V8

    • Động cơ dùng nhiên liêu khí (ga, H2..)
    • Động cơ Hybrid:

    + Phân loại theo chu chinh hoạt động:

    • Động cơ hai kỳ: Hiên nay không còn sử dụng trên ô tô
    • Động cơ bốn kỳ: Đang được sử dụng phổ biến trên các ôtô.

    + Phân loại theo cách bố trí xy lanh:

    Động cơ ô tô thường có nhiều hơn một xy lanh, có thể là: 3, 4, 6, 8,10, 12,…Do vậy, cần

    xắp xếp vị trí của các xy lanh hợp lý để đảm bảo động cơ làm việc hiệu quả. Hiên nay xy

    lanh được bố trí theo hai cách :

    • Động cơ có xy lanh bố trí thẳng hàng: Với động có có số xy lanh < 6

    8

      có ký hiệu ở bên ngoài thân vỏ ô tô. Ví dụ:V6 24V).
    1. Câu tạo chung đông cơ

    Các bộ phận chính của động cơ:

    • Thân vỏ động cơ.
    • Cơ cấu trục khuỷu – thanh truyền
    • Cơ cấu phối khí
    • Hệ thống cung cấp nhiên liệu
    • Hệ thống làm mát
    • Hệ thống bôi trơn
    • Hệ thống điện.(không giới thiệu ở bài giảng này)
    • Hệ thống điều khiển động cơ.
    1. Môt sô’ khái niệm và chỉ tiêu kỹ thuật của đông cơ đôt trong kiểu piston:
    • Điểm chết : Là vị trí mà tại đó piston đổi chiều chuyển động( không chuyển động tiếp

      được nữa). Có điểm chết dưới ( ĐCD) và điểm chết trên ( ĐCT), khi piston ở vị trí này thì thể

      tích của buồng công tác đạt giá trị Vmax và Vmin.

    Khoảng cách giữa hai điểm chết gọi là hành trình piston ( S).

    • Kỳ : là một phần của chu trình công tác xảy ra trong thời gian piston dịch chuyển một

      hành trình.

    • Chu trình công tác:
    • Thê’ tích công tác xy lanh: Là thể tích của buồng xy lanh và piston giữa hai điểm chết

    TTŨ2

    Vh = — S ( D: đường kính xy lanh, S là hành trình piston)

    – Tỷ sô’ nén : là tỷ số giữa Vmax và Vmin: s

    max

    min

    • Công suât, Mômen xoắn cực đại, sô’ vòng quay cực đại: (Kw; N.m; v/p)
    • Lương tiêu hao nhiên liệu: (g/Kwh, lit/100km)

    9

    Thông số động cơ:

    Động cơ

    1TR-FE

    (INNOVA)

    7KE

    (Zace)

    Số xy lanh và cách bố trí

    4-xi lanh thẳng hàng

    4-xi lanh thẳng hàng

    Cơ cấu phối khí

    16-xu páp, cam kép DOHC có

    VVT-i, dẫn động xích

    8-valve, OHV, dẫn động

    xích

    Dung tích xi lanh

    86.0 x 86.0

    80.5 X 87.5

    Tỷ số nén

    9.8

    9.1

    Hệ thống nhiên liệu

    L-EFI (Lucft)

    D-EFI (Druck)

    Hệ thống đánh lửa

    DIS

    Dùng bộ chia điện

    Công suất phát tối đa SAE-NET

    Xéc măng hơi số 1

    được xử lý PVD*

    Xéc măng hơi số 2

    được mạ Chrome

    Xéc măng dầu

    *PVD: Physical Vapor Deposition

    20

    1. Thanh truyền – Trục khuỷu

    a. Thanh truyền

    + Nhiệm vụ:

    Truyền lực từ Piston đến trục khuỷu trong kỳ sinh công và theo chiều ngược lại trong các

    kỳ khác.

    + Cấu tạo:

    b. Trục khuỷu

    + Nhiệm vụ:

    Tiếp nhận lực từ Piston do thanh truyền chuyể tới và biến lực thành mô men xoắn.

    + Cấu tạo: Trục khuỷu thường chế tạo bằng phương pháp dập hoặc đúc

    21

    22

    + Trục cân bằng

    1. Cơ câu phôi khí
    2. Công dụng, phân loại.

    Cơ cấu phối khí hay còn goi là hê thống phân phối khí có công dụng điều khiển quá trình

    trao đổi khí trong xy lanh. Thực hiên các công việc đóng mở các cửa nạp và cửa xả với mục

    đích nạp đầy không khí, hỗn hợp cháy (hỗn hợp cháy

    gổm xăng – không khí đối với đông cơ xăng) và thải

    sạch khí cháy ra khỏi xy lanh.

    Có thể phân loại hệ thống phân phối khí thành các

    loại sau:

    + Loại dùng trục cam – xupáp : loại này có kết cấu

    đơn giản được dùng phổ biến trên các loại đông cơ

    hiện nay.

    + Loại dùng van trượt: loại này có kết cấu phức tạp

    khó chế tạo, đa số dùng trong các xe đặc chủng như

    xe đua.

    + Loại dùng piston đóng mở cửa nạp và cửa thải ( của

    đông cơ hai kỳ) có kết cấu đơn giản, không phải điều

    chỉnh nhưng chất lượng trao đổi khí không cao.

    1. Cấu tạo và nguyên lý làm việc của hệ thống

    phối khí dùng xupáp: 1: Trục cam; 2: Con đội; 3: Lò xo

    – Cơ cấu phân phối khí dùng xupáp đặt xupáp; 4: Xupáp; 5: Náp máy; 6: Thân

    máy

    + Nguyên lý làm việc: Trục cam chuyển động quay nhờ dẫn động từ trục khuỷu của động

    cơ. Vấu cam trên trục cam quay đẩy con đội đi lên. Con đội đi lên nén lò xo lại và tỳ vào

    đuôi xupáp đẩy xupáp đi lên làm mở cửa nạp ( xả). Vấu cam sau khi qua điểm cao nhất (

    cửa mở lớn nhất) chuyển động đi xuống, lò xo bị giãn ra kéo xupáp chuyển động xuống

    đóng kín cửa nạp ( xả).

    ở loại này, toàn bộ cơ cấu phối khí bố trí ở thân

    động cơ nên chiều cao thân máy giảm, dễ bố trí trên

    các loại phương tiện vận tải tuy nhiên khó bố trí buồng

    cháy gọn nên loại này chỉ được dùng trong một số động

    cơ xăng.

    – Cơ cấu phân phối khí dùng xupáp treo:

    Có hai loại là dẫn động trực tiếp và gián tiếp

    Loại dẫn động gián tiếp:

    + Nguyên lý làm việc: Chuyển động quay của trục

    khuỷu dẫn động trục cam 1 quay. Vấu cam quay tỳ lên

    con đội 2, đẩy con đội chuyển động đi lên, thông qua

    đũa đẩy7 làm cho đòn gánh 8, giàn cò 9 tỳ vào đuôi

    xupáp 4 đẩy xupáp chuyển động xuống phía dưới mở

    van nạp( xả), lò xo 3 bị ép lại. Khi vấu cam đi qua điểm

    cao nhất chuyển động quay xuống thông qua các chi

    tiết, lò xo bị giãn ra kéo xupáp trở lại vị trí đóng như ban

    đầu.

    1: Trục cam; 2: Con đôi; 3: Lò

    xo xupáp; 4: Xupáp; 5: Nắp

    máy; 6: Thân máy;7: Đũa đẩy;

    8: Đòn gánh; 9: Cò mổ

    Loại dẫn động trực tiếp:

    + Nguyên lý làm việc: ở loại này, vấu cam sẽ trực tiếp tỳ lên đuôi xupáp hoặc thông qua

    đòn gánh. Loại này có ưu điểm ít chi tiết xong việc dẫn động từ trục khuỷu lên trục cam rất

    xa( thông thường dùng dẫn động xích).

    Loại xupáp treo cho phép có được buồng cháy gọn nên có thể cho tỷ số nén cao và tăng

    hiệu quả của buồng cháy. Loại này được sử dụng rộng rãi cho cả động cơ xăng và động cơ

    điesel.

    24

    25

    26

    27

    28

    cảu xupáp

    Trục cò mò

    Chót dán hướng

    Vít diẽu chỉnh (T)

    Cỏ mỏ xupáp

    Xupãp xả

    Aupáp nạp

    Con an

    Vitdiẻu chình (2)

    cẳu xiipãp

    Trục cam

    Chéi dãn hướng

    Cò mõ XLipãp

    VH điéu Chĩnh (1)

    ‘^bn

    Cầu xupáp

    Vit diẻu chỉnh (2)

    ” ”

    Chỏi dán hưởng

    + Pha phối khí

    29

    + Điều chỉnh khe hở nhiêt

    Bạc dản hcớng/-

    Xiipáp j

    MáL xupáp

    Xupáp hút

    Xupáp hút

    Xupápxả

    30

    + Cơ cấu bánh răng phụ (bánh răng cắt kéo)

    Trong bánh răng dẫn động của trục cam có một bánh răng phụ dùng để giảm tiếng ồn

    Bánh răng phụ này luôn luôn được lò xo đẩy theo hướng quay, giảm khe hở của bánh răng

    bằng cách giữ ăn khớp với bánh răng dẫn động, để giảm tiếng ồn.

    Con đôi thuỷ lực: Tự động điều chỉnh khe hở nhiệt

    31

    Piston đẩy

    Buồng áp suất

    thấp

    Đường dầu

    Van bi 1 chiều

    Lò xo van bi

    Buồng áp suất cao

    Lò xo piston đẩy

    Piston

    đẩy

    Buồng

    áp

    suất

    32

    Tiêu chuẩn khí xả

    Un ^

    Tíùl OlìÙH

    ÌPỈi

    cõ í HC

    E-uyí

    Khi động cơ nổ máy và áp suất dầu vượt qua một mức xác định, dầu sẽ ép lên màng bên

    trong công tắc dầu. Nhờ thế, công tắc được ngắt ra và đèn cảnh báo áp suất dầu tắt.

    42

    Tốt nhất là nhiệt độ

    dầu động cơ không lên

    cao quá 100oC. Nếu

    nhiệt độ dầu lên trên

    125 o C thì các đặc tính

    bôi trơn của dầu sẽ bị

    huỷ hoại ngay. Vì vậy,

    một số động cơ có

    trang bị bộ làm mát

    dầu để duy trì đặc tính

    bôi trơn. Thông

    thường, toàn bộ dầu

    đều chảy qua bộ làm

    mát rồi sau đó đi đến

    các bộ phận của động

    cơ. Ở nhiệt độ thấp,

    dầu có độ nhớt cao

    hơn và có khuynh

    hướng tạo ra áp suất

    cao hơn. Khi chênh

    lệch áp suất giữa đầu

    vào và đầu ra của bộ

    làm mát vượt quá một

    trị số xác định, van an

    toàn sẽ mở, và dầu từ

    máy bơm sẽ bỏ qua bộ

    làm mát và đi tới các

    bộ phận khác của động

    cơ, nhờ thế mà tránh

    được sự cố.

    43

    1. Hệ thông cung câp nhiên liệu
    2. Công dụng

    Hê thống cung cấp nhiên liêu nói chung có nhiêm vụ cung cấp nhiên liêu đã tạo thành hỗn

    hợp cho động cơ phù hợp với mọi chế đô làm việc của đông cơ. Do những đặc điểm có tính

    chất đặc thù khác nhau nên hệ thống cung cấp nhiên liệu cho động cơ xăng và động cơ

    Diesel có khác nhau.

    1. Phân loại
    2. Hệ thống cung cấp nhiên liệu đọng cơ xăng:
    • Công dụng : Hệ thống cung cấp nhiên liệu động cơ xăng có nhiệm vụ hoà trộn xăng và

    không khí theo một tỷ lệ nhất định theo các chế độ làm việc, đưa vào buồng đốt và đưa

    khí cháy ra khỏi buồng đốt của động cơ

    • Phân loại:

    + Hệ thống nhiên liệu động cơ xăng dùng chế hoà khí:

    + Hệ thống nhiên liệu động cơ phun xăng ( cơ khí, điện tử).

    • Hệ thông cung câp nhiên liệu cho đông cơ xăng dùng che hoà khí:

    Nhiệm vụ:

    Chuẩn bị và cung cấp hỗn hợp xăng và không khí, đảm bảo số lượng và thành phần

    hỗn hợp luôn phù hợp với mọi chế độ làm việc của động cơ. Dự trữ, cung cấp, lọc sạch

    nhiên liệu và không khí.

    Hệ thống được chia làm hai loại :

    + Loại chảy cưỡng bức: có bơm chuyển nhiên liệu.

    + Loại tự chảy: Không có bơm chuyển nhiên liệu.

    • Tỷ lệ không khí-nhiên liệu (hỗn hợp cháy)

    Trong động cơ đốt trong kiểu piston thì tỷ lệ giữa xăng và không khí gọi là hỗn hợp cháy

    là lượng không khí cần để đốt cháy hết lượng nhiên liệu. Khi lượng không khí quá nhiều

    hoặc quá ít thì xăng cháy không tốt, dẫn đến cháy không hết.Tối thiểu phải có 14,7 phần

    không khí để đốt cháy hoàn toàn một phần xăng. Tỷ lệ này được gọi là tỷ lệ không khí-

    nhiên liệu lí thuyết. Tuy nhiên, trên thực tế thì dù xăng đã được phun vào động cơ theo tỷ

    lệ lí thuyết, không phải toàn bộ xăng đều được hoá hơi và trộn với không khí. Vì thế, trong

    một số điều kiện cần phải sử dụng tỷ lệ hỗn hợp đậm hơn

    *Các chế độ làm việc của động cơ:

    • Khi khởi động:

    Khi khởi động, thành của đường ống nạp, các xy lanh và nắp quy lát còn lạnh, nên nhiên

    liệu được phun vào bị dính lên các thành. Trong trường hợp này hỗn hợp không khí-nhiên

    liệu trong buồng đốt bị nhạt đi. Vì thế cần có hỗn hợp không khí-nhiên liệu đậm.

    • Hâm nóng động cơ:

    Nhiệt độ của nước làm mát càng thấp, xăng càng khó hoá hơi, làm cho xăng bắt lửa

    kém. Vì thế cần hỗn hợp không khí-nhiên liệu đậm

    • Khi tăng tốc:

    Khi bàn đạp ga được ép xuống, sẽ xuất hiện sự trì hoãn trong cung cấp nhiên liệu do

    thay đổi tải trọng, dẫn đến hỗn hợp nhiên liệu nghèo đi. Vì vậy, cần bổ sung một lượng

    nhiên liệu phun vào hỗn hợp.

    • Khi chạy với tốc độ không đổi:

    Sau khi động cơ đã được hâm nóng, hỗn hợp nhiên liệu cung cấp cho động cơ gần như

    tỷ lệ không khí-nhiên liệu lí thuyết

    • Khi chịu tải nặng:

    44

    Khi cần sản ra công suất lớn, động cơ được cung cấp hỗn hợp nhiên liệu hơi giàu để

    giảm nhiệt độ đốt cháy và đảm bảo toàn bộ lượng không khí cung cấp sẽ được sử dụng để

    đốt cháy.

    – Khi giảm tốc độ:

    Khi không cần công suất lớn, nhiên liệu được cắt giảm một phần để làm sạch khí xả.

    Cấu tạo và nguyên lý làm việc của hê thống cung cấp nhiên liêu dùng chế hoà khí loại

    chảy cưỡng bức dùng trên động cd ôtô:

    1. bình xăng, 2. lọc xăng; 3.bơm xăng; 4. buồng phao; 5. gíclơ;

      6. họng khuyếch tán; 7. bướm ga

    Bơm xăn

    Xăng

    từ bình chứa 1 được bơm hút 3 qua lọc đến buồng nhiên liệu (buồng phao) của bộ chế hoà

    khí. Cơ cấu van kim-phao giữ cho mức xăng trong bình luôn ổn định trong suốt quá trình

    làm việc. Trong quá trình nạp,

    không khí được hút vào động cơ

    phải lưu động qua họng khuếch

    tán 6 có tiết diện bị thu hẹp. Do

    tác dụng của độ chân không,

    xăng được hút ra từ buồng phao

    qua gíclơ 5. Sau khi ra khỏi

    họng khếch tán, nhiên liệu được

    dòng không khí xé tơi bay hơi

    và hoà trộn tạo thành hỗn hợp

    nạp vào buồng đốt của động

    cơ. Lượng nhiên liệu vào hay ít

    nhờ bướm ga 7.

    ♦ Hệ thông phun xăng điện tử:

    Hệ thống phun xăng điện tử được chia thành hai loại

    + Hệ thống phung xăng trực tiếp GDI

    + Hệ thống phung xăng trên đường ống nạp: được dùng phổ biến hiện nay

    • Phung đơn điểm: một vòi phun cho các xi lanh (ít dùng)
    • Phung đa điểm: mỗi xi lanh có một vòi phun riêng (dùng phổ biến)

    45

    Hệ thống EFI sử dụng các cảm biến khác nhau để phát hiện tình trạng của động cơ và

    điều kiện chạy xe. ECU động cơ tính toán lượng phun nhiên liệu tối ưu và điều khiển cho

    các vòi phun phun nhiên liệu

    ECU động cơ: tính thời gian phun nhiên liệu tối ưu dựa vào các tín hiệu từ các cảm biến.

    Cảm biến lưu lượng khí nạp hoặc cảm biến áp suất đường ống nạp: Cảm biến này

    phát hiện khối lượng không khí nạp hoặc áp suất của ống nạp.

    Cảm biến vị trí trục khuỷu: Cảm biến này phát hiện góc quay trục khuỷu và tốc độ của

    động cơ.

    Cảm biến vị trí trục cam: Cảm biến này phát hiện góc quay chuẩn và thời điểm của trục

    cam.

    Cảm biến nhiệt độ nước: Cảm biến này phát hiện nhiệt độ của nước làm mát.

    Cảm biến vị trí bướm ga: Cảm biến này phát hiện góc mở của bướm ga.

    Cảm biến oxy: Cảm biến này phát hiện nồng độ của oxy trong khí xả.

    MPI: Multi Point Injection

    46

    + Các loại EFI:

    Có hai loại hệ thống EFI được phân loại theo phương pháp phát hiện lượng không khí

    nạp.

    vào đường ống nạp. Có hai phương pháp phát hiện: Một loại trực tiếp đo khối không khí

    nạp, và một loại thực hiện các hiệu chỉnh dựa vào thể tích không khí.

    – D-EFI (Loại điều khiên áp suât đường ống nạp)

    Loại này đo áp suất trong đường ống nạp để phát hiện lượng không khí nạp theo tỷ trọng

    của không khí nạp.

    + Các bô phận chính của hệ thông phun xăng điện tử:

    • Bình nhiên liệu
    • Cụm bơm nhiên liệu

    Bơm nhiên liệu

    Lưới lọc của bơm nhiên liệu

    Bộ lọc nhiên liệu

    ^ Bộ điều áp(có loại lắp sau ống phân phối)

    • Ống phân phối
    • Vòi phun
    • Bộ giảm rung động

    47

    – Bơm nhiên liêu: Bơm nhiên liệu được lắp trong bình nhiên liệu và được kết hợp với bộ lọc

    nhiên liệu, bộ điều áp, bộ đo nhiên liệu, v.v..

    48

    – Bộ điều áp: Bộ điều áp này điều chỉnh

    áp suất nhiên liệu vào vòi phun ở 324

    kPa (3.3 kgf/cm2). (Các giá trị này có thể

    thay đổi tuỳ theo kiểu của động cơ).

    Ngoài ra, bộ điều áp còn duy trì áp suất

    dư trong đường ống nhiên liệu cũng

    như cách thức duy trì ở van một chiều

    của bơm nhiên liệu.Có hai loại phương

    pháp điều chỉnh nhiên liệu.

    Loại 1: Loại này điều chỉnh áp suất

    nhiên liệu ở một áp suất không thay đổi.

    Khi áp suất nhiên liệu vượt quá lực ép

    của lò xo trong bộ điều áp, van này mở

    ra để trả nhiên liệu trở về bình nhiên

    liệu và điều chỉnh áp suất.

    Loại 2: Loại này có ống phân phối liên

    tục điều chỉnh áp suất nhiên liệu để giữ

    cho áp suất nhiên liệu cao hơn áp suất

    được xác định từ áp suất đường ống

    nạp.

    Hoạt động cơ bản cũng giống như

    loại 1, nhưng độ chân không của đường

    ống nạp được đặt vào buồng trên của

    màng chắn, áp suất nhiên liệu được

    điều chỉnh bằng cách thay đổi áp suất

    nhiên liệu khi van mở ra theo độ chân

    không của đường ống nạp. Nhiên liệu

    được trả về bình nhiên liệu qua ống hồi

    nhiên liệu.

    49

    – Bộ giảm rung động: Bộ giảm rung

    này dùng một màng ngăn để hấp thụ

    một lượng nhỏ xung của áp suất nhiên

    liệu sinh ra bởi việc phun nhiên liệu và

    độ nén của bơm nhiên liệu.

    – Vòi phun: Vòi phun

    phun nhiên liệu vào

    các cửa nạp của các xi

    lanh theo tín hiệu từ

    ECU động cơ. Các tín

    hiệu từ ECU động cơ

    làm cho dòng điện

    chạy vào cuộn dây

    điện từ, làm cho

    píttông bơm bị kéo, mở

    van để phun nhiên liệu.

    Vì hành trình của pít

    tông bơm không thay

    đổi, lượng phun nhiên

    liệu được điều chỉnh tại

    thời điểm dòng điện

    chạy vào cuộn điện từ

    này.

    50

    ĐẠI CƯƠNG VỀ Ô TÔ

    Suốt thế kỷ XIX, ngành vận tải đã tiến hành các cuộc cách mạng. Đầu tiên là ngành

    đường sắt, đó là các đầu máy có khả năng vận chuyển những khối hàng khổng lổ. Cuối thế

    kỷ XIX, sự vận chuyển bằng đường bộ cũng bắt đầu tiến bộ với sự phát triển của xe hơi.

    Vận chuyển hàng không, bằng hình thức khí cầu cũng đã bắt đầu. Nhưng bước đột phá đó

    là chiếc phi cơ vận hành động lực đầu tiên do hai anh em nhà Wright ở Hoa Kỳ sáng chế.

    Sự vận chuyển đường thuỷ có khuynh hướng chậm hơn, bởi sự ma sát với nước. Tốc độ của

    tàu thuyền không cải thiên được nhiều so với trước đây, những loại tàu hiên đại chỉ đáp ứng

    vận tải trên các đoạn đường ngắn ( tàu cánh ngầm, tàu đêm không khí ).

    Các loại phương tiện vận tải.

    Có thể phân loại phương tiên vận tải theo những loại chính sau:

    + Phương tiên vận tải đường bộ.

    + Phương tiên vận tải đường sắt.

    + Phương tiên vận tải đường thuỷ.

    + Phương tiên vận tải hàng không.

    ô tô là phương tiên cơ giới đường bộ dùng để chở người, hàng hoá hoặc phục vụ thực hiên

    một nhiêm vụ đặc biệt.

    Lịch sử phát trien phương tiện vận tải ô tô.

    Năm 1650 chiếc xe có bốn bánh vận chuyển bằng các lò xo tích năng được thiết kế bởi

    nghê sỹ, nhà phát minh người ý Leonardo da Vinci. Sau đó là sự phát triển của nguổn động

    lực cho ôtô : động cơ gió, động có không khí nén. Năm 1769 đánh dấu sự ra đời của động

    cơ máy hơi nước ( khói đen, ổn , khó vận hành.. ) và vào thời kỳ này chiếc ô tô tải đầu tiên

    ra đời.

    Năm 1860 động cơ bốn kỳ chạy ga ra đời đánh dấu cho sự ra đời của ô tô con ( loại

    xe này dùng cho giới thượng lưu người Pháp).

    Năm 1864 động cơ bốn kỳ chạy xăng ra đời và sau 10 năm loại xe với động cơ này đạt

    được công suất 20 kw và có thể đạt vận tốc 40 km/h.

    Năm 1885, Karl Benz chế tạo một chiếc xe có một máy xăng nhỏ đó là chiếc ô tô đầu

    tiên.

    Năm 1891 ô tô điên ra đời ở Mỹ do hãng Morris et Salon ở Philadel sản xuất.

    Sau khi lốp khí nén ra đời, 1892 Rudolf Diesel đã cho ra đời động cơ Diesel và đã cho

    chế tạo hàng loạt. Vào thời gian này, đã hình thành tổng thể ôtô con, ôtô tải, ôtô chở người

    với lốp khí nén.

    Cuộc cách mạng xe hơi chỉ bắt đầu vào 1896 do Henry Ford hoàn thiên và bắt đầu lắp

    ráp hàng loạt lớn. Vào nhưng năm tiếp theo là sự ra đời các loại xe hơi của các hãng

    Renault và Mercedes (1901). Peugeot (1911).

    Ngày nay chiếc ô tô không ngừng phát triển và hiên đại, công nghiêp xe hơi đã trở

    thành ngành công nghiêp đa ngành.

    Xe hơi có hộp số tự động ra đời vào năm 1934

    Năm 1967 xe hơi có hê thống phun xăng cơ khí.

    ô tô phát triển đi cùng với tính năng an toàn: 1971 ABS: Anti-lock Brake System (hê

    thống trống bó cứng bánh xe khi phanh),1979 (Đk kỹ thuật số ), EBD: Electronic Brake

    Distrition (phân phối lực phanh điên tử), TRC: Traction Control (điều khiển lực kéo), điều

    khiển thân xe:Active Body Control (ABC)….

    Tốc độ của xe cũng được cải thiên không ngừng: Năm 1993 vận tốc của xe đạt 320 km/h

    và đến năm 1998, VMax= 378 km/h. Cho đến nay ô tô có thể đạt tốc độ lớn hơn 400km/h.

    2

    1. Khái niệm, phân loại
    2. Khái niệm

    Ồ tô là phương tiên cơ giới đường bô dùng để chở người, hàng hoá hoặc phục vụ thực

    hiên môt nhiêm vụ đặc biệt.

    1. 2. Phân loại

    a. Phân loại theo mục đích sử dụng.

    b. Phân loại theo loại nhiên liệu dùng

    3

    Logo một số ô tô

    ($ị)VOLKSWAGEN

    NISSAN

    VOLVO

    ISU2U

    $ SU2UKI

    0HINO

    (QỊD; MekonG AutO

    4

    1. Câu tạo chung ô tô

    ô tô cấu tạo gổm các phần sau:

    + Động cơ.

    + Phần gầm

    + Phần thân vỏ

    + Phần hê thống điên (không học trong học phẩn này có môn học riêng)

    1. Động cơ

    Động cơ là nguồn động lực phát ra năng lượng để ô tô hoạt động. Động cơ thường dùng

    trên ô tô là động cơ đốt trong kiểu piston.

    Nhiên liêu dùng cho động cơ: Xăng, Diesel, khí ga…

    Các bộ phận chính của động cơ:

    • Thân vỏ động cơ.
    • Cơ cấu trục khuỷu – thanh truyền
    • Cơ cấu phối khí
    • Hê thống cung cấp nhiên liêu
    • Hê thống làm mát
    • Hê thống bôi trơn
    • Hê thống điên.
    1. Gẩm ô tô
    • Hê thống truyền lực
    • Các bộ phận chuyển động
    • Các hê thống điều khiển
    1. Thân vỏ

    Dùng để chứa người lái hành khách, hàng hoá

    • ô tô tải: Cabin + thùng chứa hàng
    • ô tô chở người: Khoang người lái + khoang hành khách
    1. Hệ thông điên.
    • Hê thống điên động cơ: Hê thống khởi động, hê thống nạp, hê thống đánh lửa động

      cơ xăng.

    • Hê thống điên thân xe: Hê thống chiếu sáng, hê thống gạt nước mưa, hê thống điều

      khiển khác…

    1. Bô’ trí chung của ô tô
    2. Bô trí động cơ.

    + Vị trí đặt động cơ: Đặt trước, đặt giữa đặt sau ô tô

    + Bố trí: Ngang, dọc ô tô

    a. ớ tô con:

    5

    b.

    c.

    1. Động cơ đặt trước cầu trước chủ đông- đông cơ đặt ngang
    2. Động cơ đặt trước- cầu sau chủ động, động cơ đặt dọc
    3. Động cơ đặt sau cầu sau chủ động
    4. Động cơ đặt trước hai cầu chủ động.

    ô tô khách

    -ờ

    ( )

    < í

    -ữ

    a)

    b)

    ( )

    ô tô tải

    c)

    b)

    c)

    (—

    —)

    <

    )

    (—

    —)

    <

    >

    r

    1

    (

    (

    (

    )

    <—

    )

    <

    )

    -V

    (

    )

    (

    >

    e)

    f)

    6

    Chương I: ĐỘNG CƠ Ô TÔ

    Hiên nay động cơ thường được sử trên các ô tô là đông cơ đốt trong kiểu piston, nhiên

    liêu dùng cho loại động cơ này là xăng, Diesel, khí ga, khí H2… Ngoài động cơ đốt trong,

    trên một số ô tô còn sử dụng động cơ lai (Hybrid), động cơ điên.

    Trong bài giảng này chỉ giới thiêu về động cơ đốt trong kiểu piston.

    1. Những vân để chung vể đông cơ đốt trong

    Động cơ đốt trong nói chung, động cơ xăng và động cơ Diesel nói riêng kiểu piston

    thuộc loại động cơ nhiệt, hoạt động nhờ quá trình biến đổi hoá năng thành nhiệt năng do

    nhiên liệu trong buồng kín bị đốt cháy rổi chuyển sang dạng cơ năng. Toàn bộ quá trình này

    được thực hiện trong buồng kín của xy lanh động cơ

    Trên ô tô động cơ là bộ phận quan trọng quyết định đến các thông số cơ bản của ô tô

    như: công suất, tốc độ, trọng lượng hàng hoá hay hành khách chuyên chở của ô tô và các

    tính năng khác. Có tác động trực tiếp đến môi trường: gây ồn, gây ô nhiểm mối trường… do

    khí thải gây ra. Vì vậy, động cơ chiếm số % lớn về giá thành của cả ô tô (20^30%).

    1. Phân loại đông cơ:

    + Phân loại theo nhiên liệu :

    – Động cơ xăng

    Động cơ INNOVA

    7

    Động cơ Diesel KAMAZ V8

    • Động cơ dùng nhiên liêu khí (ga, H2..)
    • Động cơ Hybrid:

    + Phân loại theo chu chinh hoạt động:

    • Động cơ hai kỳ: Hiên nay không còn sử dụng trên ô tô
    • Động cơ bốn kỳ: Đang được sử dụng phổ biến trên các ôtô.

    + Phân loại theo cách bố trí xy lanh:

    Động cơ ô tô thường có nhiều hơn một xy lanh, có thể là: 3, 4, 6, 8,10, 12,…Do vậy, cần

    xắp xếp vị trí của các xy lanh hợp lý để đảm bảo động cơ làm việc hiệu quả. Hiên nay xy

    lanh được bố trí theo hai cách :

    • Động cơ có xy lanh bố trí thẳng hàng: Với động có có số xy lanh < 6

    8

      có ký hiệu ở bên ngoài thân vỏ ô tô. Ví dụ:V6 24V).
    1. Câu tạo chung đông cơ

    Các bộ phận chính của động cơ:

    • Thân vỏ động cơ.
    • Cơ cấu trục khuỷu – thanh truyền
    • Cơ cấu phối khí
    • Hệ thống cung cấp nhiên liệu
    • Hệ thống làm mát
    • Hệ thống bôi trơn
    • Hệ thống điện.(không giới thiệu ở bài giảng này)
    • Hệ thống điều khiển động cơ.
    1. Môt sô’ khái niệm và chỉ tiêu kỹ thuật của đông cơ đôt trong kiểu piston:
    • Điểm chết : Là vị trí mà tại đó piston đổi chiều chuyển động( không chuyển động tiếp

      được nữa). Có điểm chết dưới ( ĐCD) và điểm chết trên ( ĐCT), khi piston ở vị trí này thì thể

      tích của buồng công tác đạt giá trị Vmax và Vmin.

    Khoảng cách giữa hai điểm chết gọi là hành trình piston ( S).

    • Kỳ : là một phần của chu trình công tác xảy ra trong thời gian piston dịch chuyển một

      hành trình.

    • Chu trình công tác:
    • Thê’ tích công tác xy lanh: Là thể tích của buồng xy lanh và piston giữa hai điểm chết

    TTŨ2

    Vh = — S ( D: đường kính xy lanh, S là hành trình piston)

    – Tỷ sô’ nén : là tỷ số giữa Vmax và Vmin: s

    max

    min

    • Công suât, Mômen xoắn cực đại, sô’ vòng quay cực đại: (Kw; N.m; v/p)
    • Lương tiêu hao nhiên liệu: (g/Kwh, lit/100km)

    9

    Thông số động cơ:

    Động cơ

    1TR-FE

    (INNOVA)

    7KE

    (Zace)

    Số xy lanh và cách bố trí

    4-xi lanh thẳng hàng

    4-xi lanh thẳng hàng

    Cơ cấu phối khí

    16-xu páp, cam kép DOHC có

    VVT-i, dẫn động xích

    8-valve, OHV, dẫn động

    xích

    Dung tích xi lanh

    86.0 x 86.0

    80.5 X 87.5

    Tỷ số nén

    9.8

    9.1

    Hệ thống nhiên liệu

    L-EFI (Lucft)

    D-EFI (Druck)

    Hệ thống đánh lửa

    DIS

    Dùng bộ chia điện

    Công suất phát tối đa SAE-NET

    Xéc măng hơi số 1

    được xử lý PVD*

    Xéc măng hơi số 2

    được mạ Chrome

    Xéc măng dầu

    *PVD: Physical Vapor Deposition

    20

    1. Thanh truyền – Trục khuỷu

    a. Thanh truyền

    + Nhiệm vụ:

    Truyền lực từ Piston đến trục khuỷu trong kỳ sinh công và theo chiều ngược lại trong các

    kỳ khác.

    + Cấu tạo:

    b. Trục khuỷu

    + Nhiệm vụ:

    Tiếp nhận lực từ Piston do thanh truyền chuyể tới và biến lực thành mô men xoắn.

    + Cấu tạo: Trục khuỷu thường chế tạo bằng phương pháp dập hoặc đúc

    21

    22

    + Trục cân bằng

    1. Cơ câu phôi khí
    2. Công dụng, phân loại.

    Cơ cấu phối khí hay còn goi là hê thống phân phối khí có công dụng điều khiển quá trình

    trao đổi khí trong xy lanh. Thực hiên các công việc đóng mở các cửa nạp và cửa xả với mục

    đích nạp đầy không khí, hỗn hợp cháy (hỗn hợp cháy

    gổm xăng – không khí đối với đông cơ xăng) và thải

    sạch khí cháy ra khỏi xy lanh.

    Có thể phân loại hệ thống phân phối khí thành các

    loại sau:

    + Loại dùng trục cam – xupáp : loại này có kết cấu

    đơn giản được dùng phổ biến trên các loại đông cơ

    hiện nay.

    + Loại dùng van trượt: loại này có kết cấu phức tạp

    khó chế tạo, đa số dùng trong các xe đặc chủng như

    xe đua.

    + Loại dùng piston đóng mở cửa nạp và cửa thải ( của

    đông cơ hai kỳ) có kết cấu đơn giản, không phải điều

    chỉnh nhưng chất lượng trao đổi khí không cao.

    1. Cấu tạo và nguyên lý làm việc của hệ thống

    phối khí dùng xupáp: 1: Trục cam; 2: Con đội; 3: Lò xo

    – Cơ cấu phân phối khí dùng xupáp đặt xupáp; 4: Xupáp; 5: Náp máy; 6: Thân

    máy

    + Nguyên lý làm việc: Trục cam chuyển động quay nhờ dẫn động từ trục khuỷu của động

    cơ. Vấu cam trên trục cam quay đẩy con đội đi lên. Con đội đi lên nén lò xo lại và tỳ vào

    đuôi xupáp đẩy xupáp đi lên làm mở cửa nạp ( xả). Vấu cam sau khi qua điểm cao nhất (

    cửa mở lớn nhất) chuyển động đi xuống, lò xo bị giãn ra kéo xupáp chuyển động xuống

    đóng kín cửa nạp ( xả).

    ở loại này, toàn bộ cơ cấu phối khí bố trí ở thân

    động cơ nên chiều cao thân máy giảm, dễ bố trí trên

    các loại phương tiện vận tải tuy nhiên khó bố trí buồng

    cháy gọn nên loại này chỉ được dùng trong một số động

    cơ xăng.

    – Cơ cấu phân phối khí dùng xupáp treo:

    Có hai loại là dẫn động trực tiếp và gián tiếp

    Loại dẫn động gián tiếp:

    + Nguyên lý làm việc: Chuyển động quay của trục

    khuỷu dẫn động trục cam 1 quay. Vấu cam quay tỳ lên

    con đội 2, đẩy con đội chuyển động đi lên, thông qua

    đũa đẩy7 làm cho đòn gánh 8, giàn cò 9 tỳ vào đuôi

    xupáp 4 đẩy xupáp chuyển động xuống phía dưới mở

    van nạp( xả), lò xo 3 bị ép lại. Khi vấu cam đi qua điểm

    cao nhất chuyển động quay xuống thông qua các chi

    tiết, lò xo bị giãn ra kéo xupáp trở lại vị trí đóng như ban

    đầu.

    1: Trục cam; 2: Con đôi; 3: Lò

    xo xupáp; 4: Xupáp; 5: Nắp

    máy; 6: Thân máy;7: Đũa đẩy;

    8: Đòn gánh; 9: Cò mổ

    Loại dẫn động trực tiếp:

    + Nguyên lý làm việc: ở loại này, vấu cam sẽ trực tiếp tỳ lên đuôi xupáp hoặc thông qua

    đòn gánh. Loại này có ưu điểm ít chi tiết xong việc dẫn động từ trục khuỷu lên trục cam rất

    xa( thông thường dùng dẫn động xích).

    Loại xupáp treo cho phép có được buồng cháy gọn nên có thể cho tỷ số nén cao và tăng

    hiệu quả của buồng cháy. Loại này được sử dụng rộng rãi cho cả động cơ xăng và động cơ

    điesel.

    24

    25

    26

    27

    28

    cảu xupáp

    Trục cò mò

    Chót dán hướng

    Vít diẽu chỉnh (T)

    Cỏ mỏ xupáp

    Xupãp xả

    Aupáp nạp

    Con an

    Vitdiẻu chình (2)

    cẳu xiipãp

    Trục cam

    Chéi dãn hướng

    Cò mõ XLipãp

    VH điéu Chĩnh (1)

    ‘^bn

    Cầu xupáp

    Vit diẻu chỉnh (2)

    ” ”

    Chỏi dán hưởng

    + Pha phối khí

    29

    + Điều chỉnh khe hở nhiêt

    Bạc dản hcớng/-

    Xiipáp j

    MáL xupáp

    Xupáp hút

    Xupáp hút

    Xupápxả

    30

    + Cơ cấu bánh răng phụ (bánh răng cắt kéo)

    Trong bánh răng dẫn động của trục cam có một bánh răng phụ dùng để giảm tiếng ồn

    Bánh răng phụ này luôn luôn được lò xo đẩy theo hướng quay, giảm khe hở của bánh răng

    bằng cách giữ ăn khớp với bánh răng dẫn động, để giảm tiếng ồn.

    Con đôi thuỷ lực: Tự động điều chỉnh khe hở nhiệt

    31

    Piston đẩy

    Buồng áp suất

    thấp

    Đường dầu

    Van bi 1 chiều

    Lò xo van bi

    Buồng áp suất cao

    Lò xo piston đẩy

    Piston

    đẩy

    Buồng

    áp

    suất

    32

    Tiêu chuẩn khí xả

    Un ^

    Tíùl OlìÙH

    ÌPỈi

    cõ í HC

    E-uyí

    Khi động cơ nổ máy và áp suất dầu vượt qua một mức xác định, dầu sẽ ép lên màng bên

    trong công tắc dầu. Nhờ thế, công tắc được ngắt ra và đèn cảnh báo áp suất dầu tắt.

    42

    Tốt nhất là nhiệt độ

    dầu động cơ không lên

    cao quá 100oC. Nếu

    nhiệt độ dầu lên trên

    125 o C thì các đặc tính

    bôi trơn của dầu sẽ bị

    huỷ hoại ngay. Vì vậy,

    một số động cơ có

    trang bị bộ làm mát

    dầu để duy trì đặc tính

    bôi trơn. Thông

    thường, toàn bộ dầu

    đều chảy qua bộ làm

    mát rồi sau đó đi đến

    các bộ phận của động

    cơ. Ở nhiệt độ thấp,

    dầu có độ nhớt cao

    hơn và có khuynh

    hướng tạo ra áp suất

    cao hơn. Khi chênh

    lệch áp suất giữa đầu

    vào và đầu ra của bộ

    làm mát vượt quá một

    trị số xác định, van an

    toàn sẽ mở, và dầu từ

    máy bơm sẽ bỏ qua bộ

    làm mát và đi tới các

    bộ phận khác của động

    cơ, nhờ thế mà tránh

    được sự cố.

    43

    1. Hệ thông cung câp nhiên liệu
    2. Công dụng

    Hê thống cung cấp nhiên liêu nói chung có nhiêm vụ cung cấp nhiên liêu đã tạo thành hỗn

    hợp cho động cơ phù hợp với mọi chế đô làm việc của đông cơ. Do những đặc điểm có tính

    chất đặc thù khác nhau nên hệ thống cung cấp nhiên liệu cho động cơ xăng và động cơ

    Diesel có khác nhau.

    1. Phân loại
    2. Hệ thống cung cấp nhiên liệu đọng cơ xăng:
    • Công dụng : Hệ thống cung cấp nhiên liệu động cơ xăng có nhiệm vụ hoà trộn xăng và

    không khí theo một tỷ lệ nhất định theo các chế độ làm việc, đưa vào buồng đốt và đưa

    khí cháy ra khỏi buồng đốt của động cơ

    • Phân loại:

    + Hệ thống nhiên liệu động cơ xăng dùng chế hoà khí:

    + Hệ thống nhiên liệu động cơ phun xăng ( cơ khí, điện tử).

    • Hệ thông cung câp nhiên liệu cho đông cơ xăng dùng che hoà khí:

    Nhiệm vụ:

    Chuẩn bị và cung cấp hỗn hợp xăng và không khí, đảm bảo số lượng và thành phần

    hỗn hợp luôn phù hợp với mọi chế độ làm việc của động cơ. Dự trữ, cung cấp, lọc sạch

    nhiên liệu và không khí.

    Hệ thống được chia làm hai loại :

    + Loại chảy cưỡng bức: có bơm chuyển nhiên liệu.

    + Loại tự chảy: Không có bơm chuyển nhiên liệu.

    • Tỷ lệ không khí-nhiên liệu (hỗn hợp cháy)

    Trong động cơ đốt trong kiểu piston thì tỷ lệ giữa xăng và không khí gọi là hỗn hợp cháy

    là lượng không khí cần để đốt cháy hết lượng nhiên liệu. Khi lượng không khí quá nhiều

    hoặc quá ít thì xăng cháy không tốt, dẫn đến cháy không hết.Tối thiểu phải có 14,7 phần

    không khí để đốt cháy hoàn toàn một phần xăng. Tỷ lệ này được gọi là tỷ lệ không khí-

    nhiên liệu lí thuyết. Tuy nhiên, trên thực tế thì dù xăng đã được phun vào động cơ theo tỷ

    lệ lí thuyết, không phải toàn bộ xăng đều được hoá hơi và trộn với không khí. Vì thế, trong

    một số điều kiện cần phải sử dụng tỷ lệ hỗn hợp đậm hơn

    *Các chế độ làm việc của động cơ:

    • Khi khởi động:

    Khi khởi động, thành của đường ống nạp, các xy lanh và nắp quy lát còn lạnh, nên nhiên

    liệu được phun vào bị dính lên các thành. Trong trường hợp này hỗn hợp không khí-nhiên

    liệu trong buồng đốt bị nhạt đi. Vì thế cần có hỗn hợp không khí-nhiên liệu đậm.

    • Hâm nóng động cơ:

    Nhiệt độ của nước làm mát càng thấp, xăng càng khó hoá hơi, làm cho xăng bắt lửa

    kém. Vì thế cần hỗn hợp không khí-nhiên liệu đậm

    • Khi tăng tốc:

    Khi bàn đạp ga được ép xuống, sẽ xuất hiện sự trì hoãn trong cung cấp nhiên liệu do

    thay đổi tải trọng, dẫn đến hỗn hợp nhiên liệu nghèo đi. Vì vậy, cần bổ sung một lượng

    nhiên liệu phun vào hỗn hợp.

    • Khi chạy với tốc độ không đổi:

    Sau khi động cơ đã được hâm nóng, hỗn hợp nhiên liệu cung cấp cho động cơ gần như

    tỷ lệ không khí-nhiên liệu lí thuyết

    • Khi chịu tải nặng:

    44

    Khi cần sản ra công suất lớn, động cơ được cung cấp hỗn hợp nhiên liệu hơi giàu để

    giảm nhiệt độ đốt cháy và đảm bảo toàn bộ lượng không khí cung cấp sẽ được sử dụng để

    đốt cháy.

    – Khi giảm tốc độ:

    Khi không cần công suất lớn, nhiên liệu được cắt giảm một phần để làm sạch khí xả.

    Cấu tạo và nguyên lý làm việc của hê thống cung cấp nhiên liêu dùng chế hoà khí loại

    chảy cưỡng bức dùng trên động cd ôtô:

    1. bình xăng, 2. lọc xăng; 3.bơm xăng; 4. buồng phao; 5. gíclơ;

      6. họng khuyếch tán; 7. bướm ga

    Bơm xăn

    Xăng

    từ bình chứa 1 được bơm hút 3 qua lọc đến buồng nhiên liệu (buồng phao) của bộ chế hoà

    khí. Cơ cấu van kim-phao giữ cho mức xăng trong bình luôn ổn định trong suốt quá trình

    làm việc. Trong quá trình nạp,

    không khí được hút vào động cơ

    phải lưu động qua họng khuếch

    tán 6 có tiết diện bị thu hẹp. Do

    tác dụng của độ chân không,

    xăng được hút ra từ buồng phao

    qua gíclơ 5. Sau khi ra khỏi

    họng khếch tán, nhiên liệu được

    dòng không khí xé tơi bay hơi

    và hoà trộn tạo thành hỗn hợp

    nạp vào buồng đốt của động

    cơ. Lượng nhiên liệu vào hay ít

    nhờ bướm ga 7.

    ♦ Hệ thông phun xăng điện tử:

    Hệ thống phun xăng điện tử được chia thành hai loại

    + Hệ thống phung xăng trực tiếp GDI

    + Hệ thống phung xăng trên đường ống nạp: được dùng phổ biến hiện nay

    • Phung đơn điểm: một vòi phun cho các xi lanh (ít dùng)
    • Phung đa điểm: mỗi xi lanh có một vòi phun riêng (dùng phổ biến)

    45

    Hệ thống EFI sử dụng các cảm biến khác nhau để phát hiện tình trạng của động cơ và

    điều kiện chạy xe. ECU động cơ tính toán lượng phun nhiên liệu tối ưu và điều khiển cho

    các vòi phun phun nhiên liệu

    ECU động cơ: tính thời gian phun nhiên liệu tối ưu dựa vào các tín hiệu từ các cảm biến.

    Cảm biến lưu lượng khí nạp hoặc cảm biến áp suất đường ống nạp: Cảm biến này

    phát hiện khối lượng không khí nạp hoặc áp suất của ống nạp.

    Cảm biến vị trí trục khuỷu: Cảm biến này phát hiện góc quay trục khuỷu và tốc độ của

    động cơ.

    Cảm biến vị trí trục cam: Cảm biến này phát hiện góc quay chuẩn và thời điểm của trục

    cam.

    Cảm biến nhiệt độ nước: Cảm biến này phát hiện nhiệt độ của nước làm mát.

    Cảm biến vị trí bướm ga: Cảm biến này phát hiện góc mở của bướm ga.

    Cảm biến oxy: Cảm biến này phát hiện nồng độ của oxy trong khí xả.

    MPI: Multi Point Injection

    46

    + Các loại EFI:

    Có hai loại hệ thống EFI được phân loại theo phương pháp phát hiện lượng không khí

    nạp.

    vào đường ống nạp. Có hai phương pháp phát hiện: Một loại trực tiếp đo khối không khí

    nạp, và một loại thực hiện các hiệu chỉnh dựa vào thể tích không khí.

    – D-EFI (Loại điều khiên áp suât đường ống nạp)

    Loại này đo áp suất trong đường ống nạp để phát hiện lượng không khí nạp theo tỷ trọng

    của không khí nạp.

    + Các bô phận chính của hệ thông phun xăng điện tử:

    • Bình nhiên liệu
    • Cụm bơm nhiên liệu

    Bơm nhiên liệu

    Lưới lọc của bơm nhiên liệu

    Bộ lọc nhiên liệu

    ^ Bộ điều áp(có loại lắp sau ống phân phối)

    • Ống phân phối
    • Vòi phun
    • Bộ giảm rung động

    47

    – Bơm nhiên liêu: Bơm nhiên liệu được lắp trong bình nhiên liệu và được kết hợp với bộ lọc

    nhiên liệu, bộ điều áp, bộ đo nhiên liệu, v.v..

    48

    – Bộ điều áp: Bộ điều áp này điều chỉnh

    áp suất nhiên liệu vào vòi phun ở 324

    kPa (3.3 kgf/cm2). (Các giá trị này có thể

    thay đổi tuỳ theo kiểu của động cơ).

    Ngoài ra, bộ điều áp còn duy trì áp suất

    dư trong đường ống nhiên liệu cũng

    như cách thức duy trì ở van một chiều

    của bơm nhiên liệu.Có hai loại phương

    pháp điều chỉnh nhiên liệu.

    Loại 1: Loại này điều chỉnh áp suất

    nhiên liệu ở một áp suất không thay đổi.

    Khi áp suất nhiên liệu vượt quá lực ép

    của lò xo trong bộ điều áp, van này mở

    ra để trả nhiên liệu trở về bình nhiên

    liệu và điều chỉnh áp suất.

    Loại 2: Loại này có ống phân phối liên

    tục điều chỉnh áp suất nhiên liệu để giữ

    cho áp suất nhiên liệu cao hơn áp suất

    được xác định từ áp suất đường ống

    nạp.

    Hoạt động cơ bản cũng giống như

    loại 1, nhưng độ chân không của đường

    ống nạp được đặt vào buồng trên của

    màng chắn, áp suất nhiên liệu được

    điều chỉnh bằng cách thay đổi áp suất

    nhiên liệu khi van mở ra theo độ chân

    không của đường ống nạp. Nhiên liệu

    được trả về bình nhiên liệu qua ống hồi

    nhiên liệu.

    49

    – Bộ giảm rung động: Bộ giảm rung

    này dùng một màng ngăn để hấp thụ

    một lượng nhỏ xung của áp suất nhiên

    liệu sinh ra bởi việc phun nhiên liệu và

    độ nén của bơm nhiên liệu.

    – Vòi phun: Vòi phun

    phun nhiên liệu vào

    các cửa nạp của các xi

    lanh theo tín hiệu từ

    ECU động cơ. Các tín

    hiệu từ ECU động cơ

    làm cho dòng điện

    chạy vào cuộn dây

    điện từ, làm cho

    píttông bơm bị kéo, mở

    van để phun nhiên liệu.

    Vì hành trình của pít

    tông bơm không thay

    đổi, lượng phun nhiên

    liệu được điều chỉnh tại

    thời điểm dòng điện

    chạy vào cuộn điện từ

    này.

    50

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Ngực Phụ Nữ Và Sự Phát Triển Ngực Vào Tuổi Dậy Thì
  • Cấu Tạo Bên Trong Và Bên Ngoài Của Nồi Chiên Không Dầu
  • Nơron Thần Kinh – Cấu Tạo Và Phân Loại Các Chức Năng Cơ Bản
  • Tổng Quan Về Chức Năng Não
  • Máu Là Gì? Chức Năng Của Máu
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100