Top 16 # Xem Nhiều Nhất Chức Năng Log Off Là Gì / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Các Tùy Chọn Của Log Off / 2023

Các tùy chọn của Log Off – Turn Off

Khi chọn Turn Off Computer, Windows XP hiển thị 4 tùy chọn trong việc tắt máy: Stand By (chế độ chờ), Turn Off (tắt máy tính), Restart (khởi động lại máy tính), Hibernate (chế độ ngủ đông). Còn khi bạn chọn Log Off máy tính có 2 tùy chọn Switch User và Log Off. Vậy những tùy chọn này có ý nghĩa như thế nào?

1/ Switch User Cho phép người sử dụng có thể dẽ dàng chuyển đổi giữa các tài khoản(account) sử dụng trên cùng 1 PC.

Ở ví dụ này có nhiều account như Administrator, Guest và anhlt. Khi người sử dụng muốn chuyển đổi giữa các account này, họ sẽ sử dụng chức năng Switch user như trên.Chọn Start / Log Off / Switch User

2/ Log Off, Turn Off, và RestartCòn Log-off có thể hiểu nôm na là “đóng cửa tạm thời” tài khoản đang sử dụng, khi cần quay trở lại tài khoản đó, chỉ cần sử dụng chức năng Log-on ngay tại màn hình chờ. Tương đươngTurn Off là tắt hẳn máy tính, Restart là khởi động lại

3/ Hibernate và Stand ByNgười dùng thường nhầm lẫn và khó phân biệt rạch ròi sự khác nhau giữa hai chế độ Stand By và Hibernate trong Windows XP. Cả 2 chế độ đều có lợi điểm tiết kiệm năng lượng, tuy nhiên, hiểu rõ và sử dụng hợp lý mỗi chế độ sẽ đem lại lợi ích tốt nhất, đặc biệt là đối với các máy laptop mà tiết kiệm nguồn năng lượng khi sử dụng pin là một vấn đề quan trọng.Khi chọn Turn Off Computer, Windows XP hiển thị 4 tùy chọn trong việc tắt máy: Stand By (chế độ chờ), Turn Off (tắt máy tính), Restart (khởi động lại máy tính), Hibernate (chế độ ngủ đông). Hầu hết mọi người đều hiểu rõ chế độ Turn Off và Restart vì thường xuyên sử dụng, nhưng lại hay lẫn lộn giữa 2 chế độ Stand By và Hibernate.– Chế độ Stand ByTrong chế độ Stand By, máy tính ở trạng thái “chờ” và sẵn sàng hoạt động khi người dùng nhấn một phím hoặc nhấn nút Power. Khi đang Stand By, nguồn điện cung cấp cho một số bộ phận, chẳng hạn đĩa cứng và màn hình, bị ngắt bỏ. Máy tính ở tình trạng sử dụng năng lượng ít nhất (nhưng vẫn có sử dụng năng lượng) dù vẫn đang bật. Khi được kích hoạt, máy tính sẽ hoạt động trở lại nhanh chóng chỉ trong vài giây. Sở dĩ máy tính có thể làm được điều này vì mọi dữ liệu được lưu trữ trong RAM,và từng bộ phận trong máy tính sẽ lần lượt khởi động trở lại. Chế độ Stand By đặc biệt hữu ích đối với những người sử dụng laptop, cần tiết kiệm pin lúc không sử dụng. Tuy nhiên, trong trường hợp nguồn điện bị ngắt (hết pin), người dùng sẽ bị mất hết dữ liệu và thông tin đang thao tác. Chế độ Hibernate khắc phục được điểm này.– Chế độ HibernateSự khác biệt lớn nhất của chế độ Hibernate so với Stand By là trong chế độ Hibernate, máy tính tắt đi, không còn sử dụng năng lượng nhưng dữ liệu vẫn được lưu trữ. Khác biệt thứ hai là dữ liệu được lưu trữ trên đĩa cứng chứ không phải trên RAM. Do vậy, chế độ Hibernate tạo sự an toàn hơn cho dữ liệu, nhưng mất thời gian hơn khi muốn kích hoạt lại máy tính.Hibernate lưu trữ mọi dữ liệu trên desktop và các file đang mở thành file chúng tôi File này có kích thước lớn và thường nằm tại thư mục gốc (c:hiberfil.sys). Kích thước file thường bằng dung lượng RAM của máy tính. Chẳng hạn laptop của bạn có dung lượng 2G RAM, bạn phải tốn khoảng 2G đĩa cứng cho file chúng tôi Bạn chỉ có thể xóa file chúng tôi khi tắt không sử dụng chế độ Hibernate.Tiến trình kích hoạt lại máy tính của Hibernate không nhanh chóng như chế độ Stand By, nhưng lại nhanh hơn khi khởi động lại máy tính vì Windows đã bỏ qua một số thao tác như xác định phần cứng chẳng hạn.Tùy biến chế độ Standby – HibernateMặc định trong Windows XP, chế độ Hibernate không được hiển thị. Khi chọn Turn Off Computer để tắt máy tính, Windows sẽ hiển thị hộp thoại như hình 1. Nếu người dùng nhấn và giữ phím Shift, nút bấm Stand By sẽ đổi thành Hibernate

Bạn có thể bật hoặc tắt việc sử dụng chế độ Hibernate. Bạn vào menu Start Control Panel Power Options để mở hộp thoại Power Options Properties. Trong hộp thoại này, bạn chọn thẻ Hibernate, chọn hoặc bỏ dấu kiểm ở dòng “Enable hibernation”

Take Off Có Nghĩa Là Gì? Những Trường Hợp Nên Dùng Từ Take Off / 2023

Take Off có nghĩa là gì? Những trường hợp nên dùng từ Take Off

“Take Off” là một cụm phrasal verb được sử dụng phổ biến trong tiếng Anh. Đây cũng là một cụm từ sở hữu nhiều ngữ nghĩa khác nhau.

Tuy vậy, cũng không phải trường hợp nào cũng có thể dùng được từ này. Sẽ có những ngữ cảnh nhất định dành riêng cho từng nghĩa của cụm từ.

Người dùng Tiếng Anh cần đặc biệt lưu ý khi sử dụng để tránh bị hiểu nhầm lẫn hoặc gây khó hiểu cho người khác. Bài viết sẽ chia sẻ một vài thông tin về Take Off là gì cũng như các trường hợp dùng Take Off sau đây.

Các nghĩa của từ “Take Off”

Take off là gì chắc hẳn là câu hỏi của nhiều người. Đặc biệt là những ai đang học tiếng Anh. Đây là một cụm phrasal verb cực kỳ phổ biến và dễ sử dụng. Bất kỳ ai khi sử dụng tiếng Anh cũng nên tìm hiểu ý nghĩa của từ này.

Việc sử dụng nhiều phrasal verb trong câu không chỉ khiến cho lời nói trở nên tự nhiên mà còn mạnh lạc, dễ hiểu. Đồng thời, sử dụng phrasal verb đúng chỗ càng thể hiện trình độ cũng như khả năng sử dụng Tiếng Anh như người bản xứ của bạn. Từ “take off” theo từ điển tiếng Anh có một số nghĩa sau đây:

Sự cởi bỏ, rũ bỏ: thông thường chỉ dùng khi nói về quần áo, giày dép, mũ nón… Khi có nhu cầu cởi bỏ quần áo, người ta thường sử dụng từ “take off”.

Cất cánh: thông thường nghĩa này sẽ sử dụng khi nói về máy bay. Trái ngược lại với “land” là hạ cánh.

Nghỉ phép: “take off” còn có nghĩa là nghỉ phép, nghỉ một ngày. Người ta thường chèn các ngày thứ trong tuần vào giữa “take off”. Ví dụ như “take Thursday off” tức là nghỉ một ngày thứ năm.

Sự rời đi, bỏ đi: Một nghĩa khác cũng khác phổ biến của phrasal verb “take off” đó là sự bỏ đi đột ngột, đi nhưng không báo trước.

Cách dùng từ “Take Off”

Tùy vào từng nghĩa của từ “take off” mà cách sử dụng cũng được điều chỉnh cho linh hoạt theo. Từ này khi sử dụng trong những câu khác nhau. Cấu trúc khác nhau hay ngữ cảnh khác nhau sẽ mang đến những hàm ý, ý nghĩa khác nhau.

Tùy cùng là một cụm từ kết hợp giữa động từ và giới từ. Thế nhưng việc sử dụng cần được tìm hiểu thật kỹ để tránh những nhầm lẫn không đáng có.

Đối với nghĩa cởi bỏ quần áo, mũ nón, giày dép: He took off his hat before getting home (Anh ấy cởi nón của mình ra trước khi vào nhà)

Đối với nghĩa cất cánh: The plane B1007 will take off at 7:00 in the next morning (Máy bay số B1007 sẽ cất cánh vào lúc 7 giờ sáng ngày mai)

Đối với nghĩa nghỉ phép: All staffs of the ABC joint stock company will take the next Monday off (Tất cả nhân viên của công ty cổ phần ABC sẽ được nghỉ vào thứ hai tiếp theo)

Đối với nghĩa rời đi đột ngột: He took off without saying anything to his wife (Anh ta đã rời đi mà không nói với vợ một tiếng nào)

Tuy vậy, cũng có một vài trường hợp ngoại lệ cũng như lưu ý các bạn có thể tham khảo ở phần tiếp theo.

Những lưu ý khi sử dụng từ “take off”

Khi sử dụng phrasal verb nói chung và từ “take off” nói riêng. Bất kỳ ai kể cả người bản xứ cũng đều cần quan tâm đến ngữ nghĩa của cụm này. Như đã đề cập ở trên, “take off” sở hữu 4 nghĩa cơ bản. Có thể được sử dụng một cách linh hoạt trong đời sống hàng ngày.

Có thể chèn danh từ vào giữa cụm “take off”: Người dùng có thể chèn các danh từ như clothes, monday, one day…. vào giữa từ “take off” giúp cho lời nói được tự nhiên và dễ hiểu hơn.

Không lạm dụng cụm “take off” vào các trường hợp không rõ nghĩa: Một số trường hợp cần một trong những nghĩa trên của từ “take off”. Nhưng người dùng không nắm rõ ngữ pháp cũng như ngữ cảnh thì không nên dùng để tránh sự hiểu lầm.

Chỉ sử dụng “take off” trong văn nói hàng ngày: Đây cũng là một trong những lưu ý quan trọng mà các bạn cần ghi nhớ. Do sự giản dị, gần gũi của các cụm phrasal verb nên cụm “take off” hoàn toàn không phù hợp với văn viết, các bài luận án, đề tài đòi hỏi sự trang trọng. Mặc dù trong văn bản sẽ có những lúc cần nghĩ của từ này. Tuy vậy người dùng cũng không nên sử dụng mà thay vào đó là kiếm một từ cùng nghĩa trang trọng hơn.

Tổng kết

5

/

5

(

1

bình chọn

)

Off Road Là Gì? Top 5 Loại Hình Off Road Thú Vị Nhất / 2023

Off road hay off-roading là hoạt động lái xe trên những con đường không có bề mặt bằng phẳng thường thấy mà thay vào đó là các bề mặt như cát, sỏi, lòng sông, bùn, tuyết, đá và địa hình tự nhiên khác.

Các loại phạm vi off-road phân chia theo cường độ, từ thuần giải trí với xe không thay đổi kết cấu đến thi đấu với các xe được “độ” lại.

Lái xe off road có nhiều hình thức khác nhau, từ khám phá các cung đường mòn ít người biết đến vào dịp cuối tuần đến những thử thách vượt dốc cao, lội suối hoặc các vũng bùn lầy…

Để chạy được trên các loại địa hình off-road yêu cầu xe phải phù hợp với điều kiện như khoảng sáng gầm lớn, lốp xe địa hình và một động cơ với sức mạnh vượt trội.

Một chiếc xe off-road là bất kỳ chiếc xe cơ giới nào được thiết kế hoặc điều chỉnh cho mục đích sử dụng off road.

Nó thường được đặc trưng bởi các lốp xe lớn với rãnh sâu, hệ thống treo linh hoạt và khoảng sáng gầm xe lớn.

Xe vượt địa hình off road rất được chào đón từ người yêu thích mạo hiểm và thể thao vì tính linh hoạt của chúng.

Các loại xe ô tô phục vụ nhu cầu off road thường thấy tại Việt Nam có thể kể đến như các dòng xe SUV và Pickup vì đặc điểm của những loại xe này đều có gầm xe cao, bánh to, khung xe chắc chắn, động cơ mạnh mẽ và thường có hệ truyền động 4 bánh 4WD.

Đặc Điểm Của Loại Xe Chuyên Dùng Off Road

Điều đầu tiên và quan trọng: Để có được lực kéo cần thiết cho hoạt động off-road, xe phải sử dụng một bộ lốp xe địa hình tốt và bơm chúng ở áp suất phù hợp.

Chúng được thiết kế để bám các bề mặt như cát, đá, cỏ ướt hoặc bùn, trong khi lốp xe thường chỉ được thiết kế để bám mặt đường truyền thống.

Hệ dẫn động bốn bánh (4WD hoặc 4×4): Khi bạn có các bánh xe có độ bám đường tốt, trục trước và sau của bạn cần quay với tốc độ khác nhau khi bạn đi quanh các góc.

Khi bạn chuyển sang 4WD, bộ vi sai cho phép các trục đó quay ở các tốc độ khác nhau được đóng lại, khóa tốc độ của chúng lại với nhau. Điều này tăng gấp đôi khả năng chiếc xe của bạn để tận dụng độ bám đường đạt được của lốp xe của bạn.

Ngoài vi sai trung tâm 4WD, một chiếc xe cũng có thể được trang bị khóa vi sai ở một hoặc cả hai trục.

Bằng cách khóa tốc độ của bánh xe bên trái và bên phải trên một trục với nhau, bạn đảm bảo rằng lực được gửi đến trục đó phải quay cả hai bánh với tốc độ bằng nhau thay vì truyền toàn bộ sức mạnh tới bánh xe với lực kéo ít nhất.

Một chiếc xe hơi AWD thông thường thì tất cả mô-men xoắn sẽ được truyền đến bánh xe quay nhanh nhất. Đó là bánh xe có độ bám thấp nhất, là bánh xe đang bị kẹt trong bùn, tuyết hoặc cát.

Đó là lý do tại sao các nhà sản xuất thiết kế nhiều chiếc xe AWD với vi sai trung tâm có khả năng đạt được một số mức độ khóa, sau đó hướng sức mạnh đến cả hai trục tăng khả năng truyền lực đến lốp xe của bạn.

Các Dạng Off Road Thường Gặp

Nếu bạn quan tâm đến offroad và đã thực hiện một số tìm kiếm trực tuyến về nó, rất có thể bạn có một ý tưởng khá tốt về những gì off-road trông như thế nào.

Trước khi bạn bắt đầu sửa đổi chiếc xe của mình bằng cách thay bánh xe và lốp xe, nâng hệ thống treo của bạn hoặc thêm cản xe bằng thép , bạn có thể muốn xem xét tất cả các loại xe địa hình bạn có thể thử.

Mỗi loại mang đến một sự trải nghiệm khác nhau, đòi hỏi các kỹ năng khác nhau và có nghĩa là đầu tư vào các sửa đổi khác nhau.

Loại địa hình: Sỏi, đường đất, Đồng cỏ.

Thiết bị cần thiết: Xe 4 bánh.

Mức độ khó: Người mới bắt đầu.

Lái xe trên những con đường mòn hoặc đồng cỏ là cách đơn giản và an toàn nhất trong các lựa chọn off-road của bạn và là một lựa chọn tốt cho người mới bắt đầu chỉ muốn được trải nghiệm cảm giác thích thú vừa phải trong thế giới off-road.

Hãy nghiên cứu và xem những con đường mòn có sẵn trong khu vực của bạn hoặc nếu không tìm được thì bạn có thể lên các diễn đàn về xe cộ hoặc off-road để hỏi.

Nếu bạn chưa quen với off-road, hãy chắc chắn rằng bạn cảm thấy thoải mái với mức độ khó này. Đừng cố gắng leo dốc hoặc xuống dốc hoặc vượt qua bất kỳ con suối nào, đặc biệt nếu chiếc xe của bạn cũng đóng vai trò là phương tiện di chuyển hàng ngày của bạn.

Loại địa hình: Cát.

Thiết bị cần thiết: Xe 4 bánh, máy nén khí và lốp xe.

Cấp độ khó: Trung bình.

Trước khi bạn bắt đầu chạy trên cồn cát, hãy chắc chắn rằng bạn chạy xe ở những nơi được cho phép. Hầu hết các bãi biển sẽ được đánh dấu rõ ràng chỉ định cho dù khu vực có thể chạy xe ô tô xuống không, hoặc những đồi cát có cho phép chạy xe lên không.

Vì lực kéo của bánh xe không được truyền tốt trên bề mặt cát nên hầu hết xe sẽ cần giảm áp suất không khí trong lốp xuống từ 15 đến 20psi (giống như một người mang giày tuyết có thể đi trên một bề mặt mềm mà không bị chìm, nhưng một người đi giày bình thường thì không thể).

Điều này cho phép lốp xe xẹp hơn, tăng diện tích tiếp xúc bề mặt cát và bám chặt (nhớ ngay lập tức điều chỉnh bơm lốp xe trở lại mức khuyến nghị trước khi lái xe trên hè phố).

Động lượng là chìa khóa khi đi trên địa hình lỏng lẻo như cát, vì vậy hãy chắc chắn rằng nếu bạn đang lái xe qua cát mềm, bạn không được giảm tốc độ trừ khi thực sự cần thiết.

Nếu bạn cảm thấy chiếc xe lún xuống hoặc bị kẹt trong khi di chuyển, hãy xoay bánh xe sang trái và phải lặp đi lặp lại để cho phép lốp xe bám địa hình mới và có lực kéo tốt hơn.

Loại địa hình: Bùn, Nước cạn (6 inch trở xuống).

Thiết bị cần thiết: Xe 4 bánh, lốp xe địa hình hoặc bùn.

Cấp độ khó: Trung bình.

Xu hướng lái xe trong bùn là trải nghiệm cảm giác quay lốp xe, bùn văng tứ tung và có thể trượt chiếc xe xung quanh một chút.

Nó mang đến thử thách để có thể thực sự vượt qua bùn mà không bị mắc kẹt. Nghe có vẻ dễ dàng, có tất cả các loại bùn khác nhau, từ bùn lỏng và đến bùn dày, dính hoặc thậm chí là cát ướt. Để vượt qua từng chướng ngại vật bùn khác nhau đòi hỏi những thiết bị và kỹ năng khác nhau.

Trong khi điều này chắc chắn là thú vị, nó cũng có rủi ro. Khi xe của bạn bắt đầu trượt, nó sẽ không dừng cho đến khi nó muốn và bạn đã mất quyền kiểm soát chiếc xe.

Chắc chắn, nó sẽ gây ấn tượng với bạn bè của bạn khi thấy bạn thực hiện cú xoay 360 độ mà bạn đang mơ ước, nhưng họ sẽ quên mất họ ấn tượng như thế nào khi động tác hoàn thiện của bạn kết thúc bằng một cú húc vào cái cây xung quanh.

Nhiều nguyên tắc tương tự áp dụng cho lái xe trong bùn như lái xe trên cát. Duy trì động lượng nếu có thể.

Nếu bạn cảm thấy mình đang bị kẹt, hãy nhanh chóng và lặp đi lặp lại xoay bánh xe sang trái và phải.

Quan trọng nhất, nếu xe bạn bị mắc kẹt trong sình lầy, điều cuối cùng bạn muốn làm là tự đào sâu hơn xuống bùn, vì vậy tránh việc đạp mạnh chân ga và quay lốp xe quá nhanh.

Đầu tiên, hãy ra ngoài và nhìn xung quanh để tìm những gì có thể giúp ích cho bạn. Tùy thuộc vào mức độ xấu của tình hình, bạn có thể lái nó ra ngoài hoặc bạn có thể không.

Hãy thử lắc xe qua lại bằng cách chuyển từ lùi sang lái, với tốc độ RPM thấp nếu bạn nghĩ rằng nó có thể thoát được. Nếu không, biện pháp cuối cùng là nhờ bạn bè của mình để kéo chiếc xe lên.

Độ khó: Cao.

Leo đồi đá có độ dốc lớn đòi hỏi bạn phải có kế hoạch cẩn thận để leo lên mà không trượt hoặc lăn qua cũng như đi xuống mà không bị treo lên ở lưng chừng.

Leo dốc đá có lẽ là hoạt động đáng chú ý nhất mà mọi người nghĩ đến khi ai đó đề cập đến off-road; tuy nhiên, nó chắc chắn không dành cho người mới bắt đầu.

Các kỹ năng phù hợp là điều cần thiết và bạn phải tạo ra các tùy chỉnh phù hợp với xe của bạn, bao gồm lốp xe , các thành phần hệ thống treo cho phép lớn hơn trục khớp , và những thay đổi khác của hộp số để có được đặc điểm thích hợp cho hoạt động tốc độ thấp để vượt qua chướng ngại vật.

Qua bài viết này, Ô Tô Hoàng Long hi vọng gửi đến bạn những thông tin tổng hợp hữu ích nhất để giúp bạn hiểu rõ off road là gì? và những loại hình off road phổ biến nhất.

Phục Hồi Chức Năng Là Gì? / 2023

Khiếm khuyết là tình trạng bất thường, thiếu hụt hay mất về cấu trúc, tâm lý hoặc chức năng sinh lý của một hay nhiều cơ quan trong cơ thể do bệnh, thương tật hay tai nạn gây nên.

Ví dụ: một trẻ sinh ra có tật bàn chân khoèo (bất thường bẩm sinh), một bệnh nhân bị đục thủy tinh thể do đái tháo đường (bất thường mắc phải) làm giảm khả năng nhìn, một trẻ bẩm sinh bị thiếu hai tay (thiếu hụt bẩm sinh), một người bị tai nạn phải cắt cụt 1/3 giữa đùi phải (mất cấu trúc) làm giảm chức năng đi lại, trẻ bị câm điếc, trẻ chậm phát triển tâm thần, trẻ chậm phát triển trí tuệ do bệnh Down…

Hình 2.1. Dị tật bàn chân khoèo (trái), thiếu hụt tay (phải).

Giảm khả năng là tình trạng người bệnh bị giảm hoặc không thể thực hiện được một hoạt động nào đó (so với người bình thường) do khiếm khuyết gây nên.

Ví dụ: người bị suy tim làm giảm khả năng hoạt động thể lực, người bị cụt một hoặc cả hai chân làm giảm khả năng di chuyển. Trẻ chậm phát triển tâm thần dẫn đến khó khăn về học. Trẻ bị dị tật sứt môi, hở hàm ếch sẽ gặp khó khăn khi bú mẹ, ăn uống, nói. Người bị đục thủy tinh thể dẫn đến giảm thị lực sẽ khó khăn trong việc đi lại, hoạt động.

Ngày 17/06/2010, Quốc hội ban hành Luật Người khuyết tật số 51/2010/QH12, theo đó: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Trong đó người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây:

a) Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày.

b) Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày.

c) Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này.

Tàn tật là tình trạng người bệnh bị giảm hoặc không tự thực hiện được vai trò của mình để tồn tại trong cộng đồng, mà phải phụ thuộc một phần hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào người khác để có thể tồn tại do khiếm khuyết hoặc giảm khả năng gây nên.

Đối chiếu với định nghĩa người khuyết tật của Luật Người khuyết tật Việt Nam thì người tàn tật là người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng.

Một người có khiếm khuyết hoặc giảm khả năng nhưng họ vẫn có thể tự mình tồn tại trong cộng đồng mà không phải lệ thuộc vào người khác thì người đó không phải là người tàn tật. Nếu một người có khiếm khuyết hoặc giảm khả năng mà không thể tự mình tồn tại được trong cộng đồng như những người cùng giới, cùng tuổi, cùng hoàn cảnh, người đó phải lệ thuộc một phần hoặc lệ thuộc hoàn toàn vào người khác để tồn tại thì được coi là người tàn tật.

– Phân loại theo tổn thương về cấu trúc:

+ Khuyết tật do rối loạn tâm thần, bao gồm cả trẻ em chậm phát triển trí tuệ. Ví dụ: người bệnh tâm thần, trẻ em bị bại não.

+ Khuyết tật về thể chất bao gồm:

. Khuyết tật do rối loạn vận động: liệt nửa người do đột qụy não, liệt hai chi dưới do tổn thương tủy sống, các tổn thương thần kinh ngoại biên gây liệt.

. Khuyết tật do rối loạn cảm giác: người khó khăn về nhìn do tổn thương thị giác, người khó khăn về nghe và nói, người mất cảm giác do bị bệnh hủi.

. Khuyết tật do tổn thương các cơ quan nội tạng: người bị suy tim mạn tính, người bị suy thận mạn tính, người bị xơ gan.

+ Đa khuyết tật: một người có hai khuyết tật trở lên là đa khuyết tật. Người bị đột quỵ não gây liệt nửa người kèm rối loạn ngôn ngữ. Người bị liệt hai chi dưới kèm suy thận mạn tính do biến chứng viêm thận – bể thận mạn tính. Trẻ chậm phát triển trí tuệ kèm rối loạn vận động do bị bại não, bị bệnh Down…

– Phân loại theo tổn thương chức năng (cách phân loại này thường được áp dụng trong cộng đồng vì dễ được cộng chấp nhận):

+ Người có khó khăn về vận động: người cụt chi, người liệt nửa người, người liệt hai chi dưới, trẻ bại não…

+ Người có khó khăn về học: trẻ chậm phát triển trí tuệ, trẻ bại não.

+ Người có khó khăn về nhìn: người bị đục thủy tinh thể, người mù.

+ Người có khó khăn về nghe nói: người bị giảm thính lực hay điếc.

+ Người có hành vi xa lạ: người bị bệnh tâm thần.

+ Người bị động kinh: động kinh cơn lớn, động kinh cơn nhỏ.

+ Người bị mất cảm giác: người bị bệnh phong.

Quá trình từ người khỏe mạnh, bị bệnh trở thành người bệnh, người bệnh trở thành người khiếm khuyết, người khiếm khuyết trở thành người giảm khả năng, người giảm khả năng trở thành người tàn tật được gọi là quá trình khuyết tật.

2. PHÒNG NGỪA KHUYẾT TẬT

Phòng ngừa khuyết tật bước 1 là phòng ngừa không để xảy ra khiếm khuyết.

– Làm tốt công tác giáo dục sức khỏe cho cộng đồng.

– Làm tốt công tác phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu, bao gồm cả tiêm chủng, sinh đẻ có kế hoạch, chăm sóc dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em, cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường.

– Phát hiện bệnh sớm và điều trị tích cực.

– Làm tốt công tác bảo hộ lao động, hạn chế tối đa các tai nạn và rủi ro nghề nghiệp.

– Hạn chế tối đa tai nạn giao thông.

– Phát hiện sớm các khuyết tật bẩm sinh ngay từ giai đoạn trước sinh, trong sinh và sau sinh để có biện pháp khắc phục và điều trị thích hợp, làm tốt công tác chăm sóc thai sản.

Sơ đồ 2.1. Các bước phòng ngừa khuyết tật.

Phòng ngừa khuyết tật bước 2 là phòng ngừa không để khiếm khuyết dẫn đến giảm khả năng.

– Phát hiện sớm và có biện pháp can thiệp sớm khiếm khuyết, không để xảy ra giảm khả năng.

– Tạo điều kiện cho người khiếm khuyết có công ăn việc làm, có thu nhập và hòa nhập xã hội.

– Tạo điều kiện cho trẻ khuyết tật được học hành, vui chơi.

– Phát triển hệ thống phục hồi chức năng đến tuyến cơ sở để có thể can thiệp sớm.

Phòng ngừa khuyết tật bước 3 là phòng ngừa giảm khả năng không trở thành tàn tật.

– Làm tốt công tác phục hồi chức năng cho người tàn tật, cung cấp các dụng cụ thay thế trợ giúp cho người tàn tật.

– Thực hiện các chính sách xã hội, giải quyết vấn đề việc làm có thu nhập kinh tế cho người tàn tật.

– Tổ chức giáo dục hướng nghiệp, tạo điều kiện cho người tàn tật tái hòa nhập và hòa nhập cộng đồng.

Phục hồi chức năng là một chuyên ngành y học, nghiên cứu và ứng dụng mọi biện pháp như y học, kỹ thuật phục hồi chức năng, giáo dục học, xã hội học… nhằm làm cho người khuyết tật có thể thực hiện được tối đa những chức năng đã bị giảm hoặc mất do khiếm khuyết và giảm khả năng gây nên, giúp cho người khuyết tật có thể sống độc lập tối đa, hòa nhập hoặc tái hòa nhập xã hội, có cơ hội bình đẳng và tham gia vào các hoạt động xã hội.

Theo Thông tư số 46/2013 của Bộ Y tế: “Phục hồi chức năng là quá trình trợ giúp cho người bệnh và người khuyết tật bằng phương pháp y học, kỹ thuật phục hồi chức năng, biện pháp giáo dục và xã hội làm giảm tối đa ảnh hưởng của khuyết tật, giúp người bệnh có cơ hội bình đẳng tham gia các hoạt động xã hội và hòa nhập cộng đồng”.

“A set of measures that assist individuals who experience, or are likely to experience [resulting from impairment, regardless of when it accurred (congenital, early or late)] to achieve and maintain oftimal funtioning in interation with there enviroments”.

Who, world report on disability (2011)

3.2. Mục tiêu của phục hồi chức năng

– Ngăn ngừa bệnh tật thứ phát.

– Giúp cho người khuyết tật thực hiện được tối đa các chức năng sinh lý, tinh thần và nghề nghiệp đã bị giảm hoặc mất do khiếm khuyết và giảm khả năng gây nên.

– Tạo cho người khuyết tật có cuộc sống tự lập tối đa.

– Giúp người khuyết tật hòa nhập được với gia đình, xã hội và hoạt động nghề nghiệp có thu nhập.

3.3. Nội dung tiến hành phục hồi chức năng

– Sử dụng các biện pháp y học như điều trị, phẫu thuật, chăm sóc sức khỏe để tạo thuận lợi cho phục hồi chức năng. Ví dụ: khớp gối bị cứng do bất động sau gãy xương phải phẫu thuật tái tạo khớp gối, vá dị tật hở hàm ếch và sứt môi, cắt cụt chi lần hai để giúp cho mang chi giả.

– Sử dụng các kỹ thuật phục hồi chức năng để làm bệnh nhân thực hiện được tối đa các chức năng bị giảm hoặc mất, bao gồm:

+ Khám và lượng giá chức năng để đánh giá đúng tình trạng sức khỏe và mức độ khuyết tật của bệnh nhân, từ đó lập kế hoạch cho công tác phục hồi chức năng.

+ Vật lý trị liệu để hỗ trợ cho phục hồi chức năng.

+ Vận động trị liệu giúp phục hồi khả năng vận động.

+ Hoạt động trị liệu, tái giáo dục nghề nghiệp.

+ Ngôn ngữ trị liệu được áp dụng với các bệnh nhân gặp khó khăn về nói.

+ Các biện pháp giáo dục đặc biệt: dạy cách dùng ký hiệu để giao tiếp đối với người bị câm điếc, dạy chữ nổi cho người khiếm thị… giúp họ thực hiện được các chức năng giao tiếp đã bị mất.

+ Sử dụng các dụng cụ trợ giúp, thay thế như máy trợ thính, chân tay giả, nẹp, nạng, xe lăn…

– Làm thay đổi tích cực suy nghĩ, quan niệm của người khuyết tật và xã hội, tạo sự bình đẳng trong xã hội đối với người khuyết tật.

– Cải thiện điều kiện sống: cải tạo nhà ở, trường học, phương tiện giao thông, công sở để người khuyết tật có thể hòa nhập, có cơ hội vui chơi, học hành, tham gia vào các hoạt động xã hội.

– Tạo việc làm như dạy nghề, thành lập các xưởng sản xuất dành cho người khuyết tật… để giúp họ có thu nhập.

3.4. Các hình thức phục hồi chức năng

3.4.1. Phục hồi chức năng tại các trung tâm phục hồi chức năng hoặc các khoa phục hồi chức năng của bệnh viện

Phục hồi chức năng tại các trung tâm hoặc các khoa phục hồi chức năng là hình thức người khuyết tật đến các trung tâm hoặc các khoa phục hồi chức năng của các bệnh viện để được tiến hành phục hồi chức năng.

+ Tập trung nhiều phương tiện và cán bộ chuyên khoa nên có thể đạt được kết quả cao nhất, nhất là các trường hợp khó phục hồi.

+ Có thể làm công tác nghiên cứu, đào tạo cán bộ.

+ Người khuyết tật phải đi đến trung tâm để được phục hồi chức năng. Điều này là một khó khăn đối với bản thân người khuyết tật và gia đình họ, vì phần lớn gia đình người khuyết tật là những gia đình khó khăn cả về nhân lực và kinh tế.

+ Số lượng người khuyết tật được phục hồi chức năng ít, vì số trung tâm và khả năng tiếp nhận của các trung tâm có giới hạn, trong khi số người khuyết tật nhiều. Những khó khăn về kinh tế và nhân lực của người khuyết tật và gia đình họ cũng làm hạn chế số người khuyết tật đến các trung tâm để được phục hồi chức năng.

– Phục hồi không sát với nhu cầu người khuyết tật tại địa phương họ. Mỗi địa phương nơi người khuyết tật sinh sống có những đặc điểm riêng về địa lý, tập quán sinh hoạt, điều kiện kinh tế. Vì vậy, phục hồi chức năng tại các trung tâm hoặc bệnh viện khó đáp ứng được hết mọi điều kiện để họ thích nghi được với điều kiện tại địa phương nơi họ sinh sống.

– Giá thành cao: Người khuyết tật và gia đình họ phải chi trả tốn kém, đồng thời chi phí xây dựng và hoạt động của các trung tâm cũng cao, vì vậy không thể đáp ứng được với số lượng đông người khuyết tật.

3.4.2. Phục hồi chức năng ngoài bệnh viện

Phục hồi chức năng ngoài bệnh viện là hình thức thành lập các tổ công tác phục hồi chức năng, bao gồm các cán bộ làm công tác phục hồi đem phương tiện đến nơi có người khuyết tật sinh sống để tiến hành phục hồi chức năng.

+ Số lượng người khuyết tật được phục hồi chức năng có thể tăng.

+ Phục hồi sát với nhu cầu của người khuyết tật tại gia đình và địa phương.

+ Thiếu cán bộ phục hồi chức năng.

+ Chi phí lớn cho công tác phục hồi chức năng.

3.4.3. Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là hình thức mà người khuyết tật được phục hồi chức năng tại gia đình, địa phương, nơi họ sinh sống với sự giúp đỡ của người thân hoặc người tình nguyện trong cộng đồng và nhân viên y tế cơ sở, dưới sự hướng dẫn của cán bộ chuyên ngành phục hồi chức năng.

+ Đây là cách xã hội hóa công tác phục hồi chức năng tốt nhất trong phạm vi quốc gia, quốc tế. Phục hồi chức năng tại cộng đồng có thể thu hút được những người thân trong gia đình, những người tình nguyện trong cộng đồng, các đoàn thể xã hội như đoàn thanh niên, hội phụ nữ, Mặt trận Tổ quốc, thu hút được hệ thống chính quyền cơ sở tham gia vào công tác phục hồi chức năng cho người khuyết tật tại địa phương. Đây là hình thức tốt nhất để làm thay đổi quan niệm của cộng đồng đối với người khuyết tật, tạo thuận lợi nhất cho những người khuyết tật hòa nhập với gia đình và xã hội.

+ Tỷ lệ người khuyết tật được phục hồi cao nhất. Phục hồi chức năng tại cộng đồng có thể triển khai rộng rãi trên cả nước, nhờ đó số người khuyết tật có cơ hội được phục hồi chức năng nhiều nhất.

+ Đáp ứng được nhu cầu cơ bản của người khuyết tật, phù hợp với nơi họ sinh sống, giúp họ có cơ hội hòa nhập với xã hội. Người khuyết tật vẫn sống tại gia đình và địa phương, vì vậy các chương trình phục hồi chức năng được thiết kế phù hợp với hoàn cảnh địa lý, tập quán sinh hoạt, điều kiện kinh tế tại địa phương, giúp người khuyết tật dễ dàng hòa nhập.

+ Chi phí cho phục hồi chức năng ít tốn kém, dễ chấp nhận. Phục hồi chức năng tại cộng đồng tận dụng được các phương tiện tại chỗ như chế tạo các dụng cụ trợ giúp hoặc phương tiện tập luyện bằng các nguyên liệu sẵn có tại địa phương như tre, gỗ làm giảm chi phí cho công tác phục hồi chức năng. Tận dụng được nhân lực tại địa phương giúp khắc phục được tình trạng thiếu nhân lực.

Hình 2.2. Thanh song song làm bằng tre cho người khuyết tật tập đi tại cộng đồng.

+ Có thể gắn chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng vào công tác của hệ thống y tế hiện có. Ở mỗi quốc gia đều có hệ thống y tế từ trung ương tới cơ sở, công tác phục hồi chức năng tại cộng đồng được gắn với hệ thống này. Vì vậy, giải quyết được vấn đề nhân lực, ngân quỹ và công tác quản lý.

Kết quả phục hồi chức năng cho những trường hợp khó thường thấp, các trường hợp này cần được chuyển về các trung tâm phục hồi chức năng có đủ phương tiện và cán bộ chuyên ngành.

Nguồn: Hà Hoàng Kiệm (2016). Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng. Giáo trình dùng cho đại học. Học viện Quân y. NXB QĐND.

CHIA SẺ BÀI VIẾT