Chức Năng Của Văn Học Là Gì?

--- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Của Văn Học
  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Và Vai Trò Của Văn Học
  • Văn Học Nghệ Thuật Và Chức Năng
  • Về Ý Nghĩa Ba Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức Năng Giáo Dục Và Chức Năng Thẩm Mỹ. Anh (Chị) Hiểu Gì Về Ba Chức Năng Đó? Phân Tích Một Tác Phẩm Tr
  • Chức năng của văn học là gì?

    I. Chức năng:

    Có rất nhiều tiêu chí phân biệt sự khác nhau giữa văn học và các môn khoa học khác. Nhưng có lẽ M. Gorki đã từng nói rất đứng đặc thù của bộ môn: “Văn học là nhân học”. Văn học là khoa học, khám phá thế giới tâm hồn, tính cách con người, văn học có chức năng riêng, biểu hiện trên ba mặt chính : nhận thức – giáo dục – thấm mỹ.

    1. Chức năng nhận thức:

    Văn học có chức năng khám phá những quy luật khách quan của đời sống xã hội và đời sống tâm hồn của con người. Nó có khả năng đáp ứng nhu cầu của con người muốn hiểu biết về thế giới xung quanh và chính bản thân mình. Không phải ngẫu nhiên đã có người cho rằng: “Văn học là cuốn sách giáo khoa của đời sống”. Chính cuốn sách ấy đã thể hiện một cách tinh tế và sắc sảo từng đổi thay, từng bước vận động của xã hội. Nó tựa như “chiếc chìa khoá vàng mở ra muôn cánh cửa bí ẩn, đưa con người tới ngưỡng cửa mới của sự hiểu biết thế giới xung quanh”

    2. Chức năng giáo dục:

    Nghệ thuật là hình thái đặc trưng, hình thành từ những tìm tòi, khám phá của người nghệ sĩ về hiện thực đời sống. Nghệ thuật mang đến cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn về xã hội, thể hiện những quan điểm của người nghệ sĩ, từ đó tác động mạnh mẽ đến nhận thức, tình cảm, cảm xúc của người tiếp nhận.

    Chính vì vậy, nghệ thuật luôn ẩn chứa sử mệnh cao cả và thiêng liêng, góp phần làm đẹp cho cuộc đời. Tố Hữu đã từng phát biểu: “Nghệ thuật là câu trả lời đầy thẩm mĩ cho con người; thay đổi, cải thiện thế giới tinh thần của con người, nâng con người lên”. Còn Nguyên Ngọc thì khẳng định: “Nghệ thuật là sự vươn tới, sự hướng về, sự níu giữ mãi mãi tính người cho con người”

    3. Chức năng thẩm mĩ:

    Văn học đem đến cho con người những cảm nhận chân thực, sâu sắc và tinh tế nhất. Nghệ thuật sáng tạo trên nguyên tắc cái đẹp, vì thế không thể thoát khỏi quy luật của cái đẹp.

    Văn học luôn khai thác cái đẹp ở nhiều góc độ: thiên nhiên, đất nước, con người, con người, dân tộc. Giá trị thẩm mi của tác phẩm ẩn chứa cả nội dung và hình thức nghệ thuật. Nó đem đến cho người đọc cảm nhận, rung cảm về những nét đẹp giản dị, gần gũi ở cả cuộc đời thường lẫn những nét đẹp tượng trưng, mới lạ. Cách thức xây dựng ngôn từ của mỗi nhà văn, nhà thơ cũng đem lại nét đẹp cho tác phẩm. Ta vẫn yêu biết bao cái sắc Huế trong những vần thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử:

    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ

    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

    Vười ai mướt quá xanh như ngọc

    Lả trúc che ngang mặt chữ điền”.

    (Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mạc Tử)

    Câu thơ mở đầu hầu hết là thanh bằng, gợi âm điệu ngọt ngào của giọng người xứ Huế. Phải chăng đó là lời thăm hỏi, lời mời trách dịu dàng, tha thiết của người xưa đang vang trong trí tưởng tượng của thi nhân? Hay đây là lời thi nhân đang tự nhủ, tự nói với chính mình trong giây phút nhớ thương về quá khứ, về miền đất đẹp đẽ bình yên có người xưa? Chẳng biết. Chỉ biết rằng sau lời mời trách ấy, tâm hồn đau thương và cô đơn của thi sĩ hồi sinh, thi sĩ đã sống trong một trời cảm xúc với bao nhiêu kỉ niệm về thôn Vĩ.

    Cảnh đất trời xứ Huế đã hiện ra thật đẹp, rất thơ, rất thực, tràn đầy sức sống với khu vườn xanh mát đang tắm mình trong khoảnh khắc của hừng đông. Ánh nắng ban mai tinh khôi, trong trẻo như đang tỏa hương chan hòa khắp thôn Vĩ. Cảnh vật gần gũi, giản dị, mộc mạc đơn sơ như chính gương mặt người xứ Huế “lá trúc che ngang mặt chữ điền”.

    Vẻ đẹp của con người và thiên nhiên với bao đường nét kỳ thú như vậy đã trơ thành một đặc trưng cho những cảm hửng của thơ ca lãng mạn đầu thế kỷ XX.

    II. Mối quan hệ giữa các chức năng văn học:

    Bên cạnh việc chuyển tải nội dung thẩm mĩ, tác phẩm nghệ thuật còn tác động đến nhận thức của con người, đánh thức những tình cảm, cảm xúc, bản năng của con người, khơi dậy sức sống và niềm tin yêu, hi vọng vào thế giới ấy.

    Một tác phẩm dù lớn hay nhỏ đều ẩn chứa những giá trị nhận thức riêng biệt. Một Xuân Diệu nồng nàn, tươi trẻ với những bước chân vội vàng, cuống quýt, vồ vập trong tình yêu; một Huy Cận mang mang thiên cổ sầu; một Hàn Mặc Tử yêu đời, yêu cuộc sống đến tha thiết nhưng đành “bó tay nhìn thể phách và linh hồn tan rã” … Những nhà thơ Mới mỗi người một vẻ, một sắc thái nhưng đã hòa cùng dòng chảy của văn học, mang đến những cảm nhận mới lạ, tinh tể, tác động mạnh mẽ tới tri giác, đánh thức những bản năng khát yêu, khát sống trong mỗi con người.

    Còn dòng văn học hiện thực lại tác động vào con người theo những hình tượng nhân vật. Một chị Dậu giàu đức hi sinh đã kiên cường đấu tranh với kẻ thống trị để bảo vệ gia đình; một Chí Phèo bước ra từ những trang văn lạnh lùng nhưng ẩn chứa nhiều đớn đau của Nam Cao; một Xuân Tóc Đỏ với bộ mặt “chó đểu” của xã hội… Tất cả đã tác động lên người đọc nhận thức đầy đủ, phong phú về xã hội. Từ đó khơi dậy ý thức đấu tranh giai cấp để giành lại quyền sống, ý thức cải tạo xã hội và y thức về giá trị con người.

    Trên hành trình kiếm tìm, vươn tới nghệ thuật, mỗi người nghệ sĩ lại tìm cho mình một định nghĩa, một chuẩn mực để đánh giá văn chương, nghệ thuật. Có người cho rằng giá trị cao nhất của văn chương là vì con người. Có người lại quý văn chương ở sự đồng điệu tri âm: “Thơ ca giúp ta đi từ chân trời một người đến với chân trời triệu người”. Còn có người lại coi văn chương nghệ thuật là “một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người trong sạch và phong phú thêm” (Thạch Lam). Nguyên Ngọc cũng từng khẳng định: “nghệ thuật là phương thức tồn tại của con người”…

    Tất cả những quan điểm các nhà nghệ sĩ đã giúp cho chúng ta nhận ra văn học là một yêu cầu thiết yếu, một nhu cầu không thể thiếu của con người. Ta tự hỏi con người sẽ sống như thế nào nếu mai kia chẳng còn văn chương? Có lẽ tâm hồn con người sẽ khô cằn, chai sạn lắm bởi văn chương cho ta được là CON NGƯỜI với hai chữ viết hoa, với đầy đủ những ý nghĩa cao đẹp.

    “Văn chương giữ cho con người mãi mãi là con người, không sa xuống thành con vật”. Văn chương nâng con người lớn dậy, thanh lọc tâm hồn con người. Bởi vậy, hành trình đến với văn chương là hành trình kiếm tìm, vươn tới. “Nghệ thuật là sự vươn tới, sự hướng về, sự níu giữ mãi mãi tính người cho con người”. Xét đến cùng, hành trình của một tác phẩm văn chương là hướng con người đến con đường CHÂN – THIỆN – MĨ.

    Một tác phẩm văn chương đích thực bao giờ cũng là sự hòa quyện của chức năng. Chức năng thẩm mỹ là đặc trưng của nghệ thuật. Chức năng giáo dục là nhiệm vụ của nghệ thuật. Chức năng nhận thức là bản chất của văn chương. ‘

    Ba chức năng của văn chương có quan hệ khăng khít và xuyên thấu vào nhau để cùng tác động vào con ngươi. Chức năng này đồng thời biểu hiện chức năng kia và ngược lại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước
  • Chức Năng Của Nhà Nước Là Gì ? Cách Phân Loại Chức Năng Của Nhà Nước ?
  • Khái Niệm Chính Sách Xã Hội, Chức Năng Của Chính Sách Xã Hội
  • Chính Sách Xã Hội Là Gì? Tại Sao Xã Hội Cần Chính Sách Xã Hội?
  • Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Một Số Nhiệm Vụ Cơ Bản Thể Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ta
  • Triết Học Và Thế Giới Quan (World Outlook) Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • 80 Cấu Trúc Ngữ Pháp Tiếng Nhật N4 (Phần Cuối)
  • Ngọc Trai Là Gì? Hiểu Đúng Về Các Loại Ngọc Trai
  • Sử Dụng Tham Chiếu Có Cấu Trúc Với Bảng Excel
  • Cấu Trúc N4 Thể Sai Khiến Và Cách Dùng
  • Một Số Cấu Trúc Sai Khiến Trong Tiếng Anh
  • Thế giới quan là hệ thống những nguyên tắc, quan điểm, niềm tin, khái niệm, biểu tượng về toàn bộ thế giới, bao gồm:

    – về những sự vật, hiện tượng

    – về quy luật chung của thế giới

    – về chỉ dẫn phương hướng hoạt động của người, một nhóm người trong xã hội nói chung đối với thực tại (nhằm phát triển sao cho tốt hơn)

    Thế giới quan chính là biểu hiện của cách nhìn bao quát (bức tranh) đối với thế giới bao gồm cả thế giới bên ngòai, cả con người và cả mối quan hệ của người – thế giới (tức là mối quan hệ của người đối với thế giới). Nó quy định thái độ của con người đối với thế giới và là kim chỉ nan cho hành động của con người.

    2. Nguồn gốc

    Thế giới quan của mỗi cá nhân dựa trên cơ sở kiến thức khoa học của nhân loại ở một giai đoạn lịch sử nhất định. Kiến thức khoa học đó bao gồm cả các quan điểm triết học, xã hội học, chính trị, đạo đức, kinh tế học và khoa học nói chung.

    Với bất kỳ ai nó chịu ảnh hưởng bởi:

    1. Những kiến thức tiếp nhận được

    2. Những kinh nghiệm cuộc sống đã trải nghiệm

    3. Thành phần của Thế giới quan

    Thế giới quan hình thành gồm những yếu tố thuộc về tất cả thuộc hình thái ý thức xã hội:

    – Quan điểm triết học

    – Quan điểm khoa học, chính trị, đạo đức, thẩm mỹ

    – Quan điểm tôn giáo: sản phẩm của tâm thức, mô tả kiến thức qua trực giác cảm nhận.

    – Kiến thức Khoa học nhằm đến mục tiêu phương hướng thực tiễn trực tiếp cho con người trong tự nhiên và xã hội dựa theo quan sát và dữ kiện từ thực tiễn, phân tích tổng hợp chặt chẽ và có kiểm nghiệm đối sách khách quan lại với thực tiễn.

    – Các nguyên tắc và tiêu chuẩn đạo đức đóng vai trò điều chỉnh những quan hệ qua lại và hành vi của con người.

    – Những quan điểm thẩm mỹ quy định những quan hệ với môi trường xung quanh, với những hình thức, mục tiêu và kết quả của hoạt động.

    Quan điểm và niềm tin triết học tạo nên nền tảng cho thế giới quan đúng đắn bởi:

    – Triết học lý giải về lý luận toàn bộ các dữ liệu của khoa học và thực tiễn

    – Triết học biểu diễn kết quả và hình thức một bức tranh thực tại khách quan nhất.

    4. Ý nghĩa Thế giới quan

    Như vậy từ các hiểu biết về thế giới chúng ta có được bức tranh về thế giới trong ý thức tức THẾ GIỚI QUAN và từ đó nó quyết định lại thái độ và hành vi đối với thế giới.

    Có một thế giới quan đúng đắn sẽ hướng con người hoạt động theo sự phát triển lôgic của xã hội và góp phần vào sự tiến bộ của xã hội.Vì thế, thế giới quan là trụ cột về mặt hệ tư tưởng của nhân cách, là cơ sở cho đạo đức, chính trị và hành vi

    Triết học là khoa học về các quy luật chung của cả tồn tại lẫn tư duy của con người, quá trình nhận thức phải phục tùng.

    Chúng ta có được kiến thức Triết lý, Triết học thì điều kiện cần là:

    1. Điều kiện tiên quyết là dám can đảm nhìn nhận chân lý và tin vào khả năng của lý tính (tư duy).

    2. Điều kiện thứ hai là lý tính không phải là tuyệt đối và thần thánh.

    Vấn đề triết học là vấn đề ý thức của con người về mình, đem mọi chuyện cuộc đời ra ánh sáng dưới lý trí chứ không phải để đem lại ích lợi vật chất.

    Thứ nhất, sống khác với việc đem cuộc sống ra ánh sáng của lý trí. Nó lại không phải như những tư tưởng biệt lập của các ngành khoa học khác mà là phần triết lý toàn diện về đời người. Chính vì vậy nó chiếm một vị trí trong toàn diện đời người. Mặc dù nó là ý thức của con người về đời người và người đời nhưng triết lý của mỗi người mỗi khác do kinh nghiệm sống, suy nghĩ và ý thức của mỗi người mỗi khác. Để có thể đạt được triết lý chung như các dòng triết học chính của toàn nhân loại – người ta phải dựa trên kinh nghiệm thực phổ biến và dùng cái Lý phổ biến, những kết quả của mọi khoa học khác đương đại.

    Vậy để có triết học phải thoả mãn 2 điều kiện

    – Thứ nhất, can đảm nhìn nhận chân lý và tin tưởng vào khả năng của lý trí

    – Thứ hai, lý tính là thước đo kinh nghiệm của con người nên không phải là tuyệt đối hay là thần thánh.

    Con người bước đầu ý thức về mình như 1 thực thể tách khỏi giới tự nhiên. Tư duy con người hướng sự “phản tư” (tiếng Hy Lạp reflxio nghĩa là suy ngẫm, đánh giá) vào chính hoạt động của bản thân mình; từ đó hình thành nên một phương thức mới của tư duy để nhận thức thế giới – tư duy triết học.

    Thuật ngữ Triết học có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là ” yêu thích (philos) sự thông thái (sophia) “. Triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức; nhà triết học là nhà thông thái có khả năng tiếp cận chân lý, nghĩa là có thể làm sáng tỏ bản chất của mọi vật. Như vậy thời cổ đại, triết học được coi là toàn bộ tri thức cùa nhân loại, mọi cái đều là đối tượng nghiên cứu.

    Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học thế kỷ XV, XVI đã ra đời các chuyên ngành khoa học thực nghiệm cả tự nhiên và xã hội nên triết học đã phát triển và phân tách thành 2 dòng chính:

    – Triết học duy vật chủ yếu dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm

    – Triết học duy tâm, tôn giáo

    Đối tượng nghiên cứu của triết học dần dần bị thu hẹp lại.

    – Heghen là người cuối cùng xem triết học là 1 hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học.

    – Mác đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của các khoa hocj” và coi đối tượng nghiên cứu Triết học là giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    – Tất cả các học thuyết triết học đều có chung đối tượng nghiên cứu là những vấn đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và con người, mối quan hệ của con người và tư duy của con người đối với thế giới.

    Phương pháp nghiên cứu của Triết học là xem xét thế giới như 1 chỉnh thể và tìm cách đưa ra 1 hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Điều này có được khi nó dựa trên những thành tựu khoa học mới nhất của thời đại cũng như tổng kết những tư tưởng triết học trong suốt lịch sử của ngành.

    Triết học chính là sự diễn tả thế giới quan bằng lý luận, chính là hạt nhân lý luận của thế giới quan.

    Từ bé, mỗi người đều cần hiểu biết về thế giới và bản thân, ai cũng đặt ra những câu hỏi mà chính là những câu hỏi của triết học mọi thời đại:

    • Nó bắt đầu từ đâu và kết thúc hay không?

    • Sức mạnh nào chi phối sự tồn tại và biến đổi của nó?

    • Con người là gì? Nó được sinh ra như thế nào?

    • Quan hệ của nó với thế giới bên ngoài ra sao?

    • Con người có thể biết gì và làm gì với thế giới đó?

    • Vì sao có người tốt, kẻ xấu?

    • Cuộc sống của con người có ý nghĩa gì?…

    những kiểu như vậy được đặt ra với mức độ sâu sắc khác nhau và được con người từ thời nguyên thuỷ, đến nay và mai sau tìm cách trẻ lời.

    Quá trình tìm tòi giải đáp những câu hỏi trên hình thành nên mỗi người những quan niệm nhất định, hoà trộn cả những yếu tố về cảm xúc, trí tuệ, niềm tin, lý tưởng… thành 1 khối thống nhất gọi là thế giới quan của 1 người, 1 cộng đồng ở 1 thời đại. Đó chính là toàn bộ những quan niệm về thế giới, về vị trí của con người trong thế giới đó, về chính bản thân và cuộc sống của con người và loài người.

    Huyền thoại và Triết học đều đóng góp hình thành nên thế giới quan của 1 người. Huyền thoại yếu tố biểu tượng, cảm tính đóng vai trò chủ đạo còn triết học tư duy lý luận là chủ yếu và thông qua hệ thống các phạm trù triết học.

    Triết học cũng như thế giới quan được hình thành từ toàn bộ tri thức và kinh nghiệm sống của con người và xã hội loài người. Tri thức của các khoa học cụ thể thì đưa lại cơ sở trực tiếp cho sự hình thành những quan niêm nhất định về từng mặt, từng bộ phận của thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Và Cách Dùng So Sánh Bằng Trong Tiếng Anh
  • Chỉ Tiêu Đánh Giá Cấu Trúc Và Hiệu Quả Tài Chính Của Doanh Nghiệp
  • Tái Cấu Trúc Tài Chính Doanh Nghiệp Là Gì? Khi Nào Cần Tái Cấu Trúc Tài Chính?
  • Tài Chính Doanh Nghiệp Là Gì? Những Công Việc Chính Của Tài Chính Doanh Nghiệp!
  • Tái Cấu Trúc Tài Chính Doanh Nghiệp
  • Xương Mác: Vị Trí, Cấu Tạo Và Chức Năng

    --- Bài mới hơn ---

  • Gãy Xương Mác Là Bệnh Gì?
  • Bị Ngã Gãy Xương Ngón Chân Có Cần Bó Bột Không
  • Giải Phẫu Cột Sống Và Hình Ảnh Chấn Thương Cột Sống Trên Clvt
  • Download Bao Cao Tuan 1: Cau Tao Giai Phau Cua He Co Va Xuong Lung
  • Đặc Điểm Giải Phẫu Sinh Lý Cột Sống Cổ
    • Cẳng chân được tạo thành bởi hai xương – xương chày và xương mác. Xương mác là xương dài, nhỏ, nằm ở ngoài cẳng chân và ngoài xương chày. Nó chạy song song với xương chày.
    • Hai xương này được kết nối với nhau bằng khớp chày mác và bao gồm cả màng gian cốt.
    • Xương mác hợp với xương chày tạo thế đứng thẳng cho chân. Đồng thời nó góp phần ổn định khớp gối và cổ chân, giúp chân cử động linh hoạt.
    • Nếu đặt xương thẳng đứng:
      • Đầu dẹp, nhọn xuống dưới
      • Hố của đầu này ở phía sau
      • Mỏm nhọn của đầu này ra ngoài

    Thân xương có hình lăng trụ tam giác, có 3 mặt và 3 bờ. Phần dưới thân dưới xương bị xoắn từ sau vào trong. Thân xương là vùng chính để cơ bám vào.

    Xương có 3 bờ:

    • Bờ trước mỏng, sắc. ở phía dưới, bờ trước đi ra ngoài và chia đôi, ôm lấy mắt cá ngoài.
    • Gian cốt ở phía trong, sắc, có màng gian cốt bám.
    • Bờ sau tròn. Thật ra chỉ có một phần tư dưới có bờ sau rõ. Ba phần tư trên bờ sau nằm ở phía ngoài.
    • Ngoài: nằm giữa hai bờ trước và sau
    • Trong: nằm giữa hai bờ trước và bờ gian cốt
    • Sau: nằm giữa bờ gian cốt và bờ sau. Ở một phần tư dưới do xương bị xoắn vặn, bờ gian cốt biến đi, nên mặt sau và mặt trong thành một mặt duy nhất.

    MÔ TẢ CẤU TRÚC VÀ LIÊN QUAN

    • Đầu trên: còn được gọi là chỏm mác. Mặt trong chỏm mác có diện khớp chỏm mác tiếp khớp với xương chày. Ngoài ra, sau diện khớp có đỉnh có thể sờ được ngay dưới da.
    • Đầu dưới dẹp và nhọn hơn đầu trên. Đầu này tạo thành mắt cá ngoài. Mắt cá ngoài lồi hơn, sâu hơn và thấp hơn mắt cá trong khoảng 1 cm.

    Các diện khớp

    • Mặt trong mắt cá ngoài có diện khớp mắt cá. Diện này tiếp xúc với diện mắt cá ngoài của ròng rọc xương sên. Hai hiện khớp mắt cá của xương chày và xương mác tạo thành gọng kìm giữ các xương cổ chân.
    • Phía sau diện khớp mắt cá có hố mắt cá ngoài. Hố này để cho dây chằng mác sên bám vào.
    • Chỏm xương mác ăn khớp với diện mác trên mâm chày ngoài để tạo thành khớp chày mác gần.
    • Mắt cá ngoài ăn khớp với rãnh mác của xương chày để tạo thành khớp chày mác xa và xương sên để tạo thành phần trên của khớp cổ chân.

    MỐC GIẢI PHẪU BỀ MẶT ( CÓ THỂ SỜ ĐƯỢC TRÊN DA)

    Chỏm xương mác: Rất nông. Có thể sờ thấy ở mặt ngoài sau của đầu gối, nằng ngang mức lồi củ chày.

    Thân xương mác: 1/4 xa có thể sờ thấy được.

    Mắt cá ngoài: Khối xương nổi rõ ở mặt ngoài cổ chân

    3. Chức năng của xương mác

    Như đã biết, xương mác và xương chày là hai xương cấu tạo nên cẳng chân. Xương chày là xương to hơn và chịu trọng lực cơ thể. Còn xương mác tuy là xương nhỏ hơn, nhưng cũng có những vai trò riêng của nó.

    • Xương mác không chịu lực, nhưng có khả năng chống lại lực xoắn vặn và gập cẳng chân vào trong. Đồng thời, nó cũng là nơi bám cho các cơ vùng cẳng chân.
    • Xương mác hợp với xương chày tạo thế đứng thẳng cho chân. Đồng thời nó góp phần ổn định khớp gối và cổ chân, giúp chân cử động linh hoạt.

    Nhìn chung, so với xương chày, xương mác mỏng manh hơn. Tuy nhiên do ít chịu sức nặng nên ít khi gãy đơn thuần mà chỉ kèm sau gãy xương chày. Tai nạn giao thông là nguyên nhân phổ biến nhất. Xương mác liền xương khá nhanh. Vì thế khi gãy hai xương cẳng chân, sự liền xương của xương mác thường cản trở sự liền xương của xương chày.

    NGUYÊN NHÂN

    Có nhiều nguyên nhân dẫn đến gãy xương mác. Gãy xương xảy ra khi áp lực tác động lên xương vượt quá khả năng chịu lực của nó. Có thể chia nguyên nhân gãy xương thành 2 nhóm chính theo cơ chế gãy xương:

    • Cơ chế trực tiếp. Xảy ra khi vị trí tác động của lực chấn thương cũng chính là vị trí gãy xương. Gặp trong các trường hợp va chạm mạnh như tai nạn giao thông, bị vật nặng đè lên cẳng chân. Đường gãy trong trường hợp này thường là gãy ngang, có thể kết hợp với gãy nhiều mảnh.
    • Cơ chế gián tiếp: thường do té ngã từ trên cao xuống nền cứng. Một số môn thể thao như trượt ván, trượt tuyết, thường xuyên thực hiện các động tác xoắn, xoay chân cũng là nguyên nhân gây gãy xương mác gián tiếp thường gặp.

    DẤU HIỆU GÃY XƯƠNG

    Triệu chứng lâm sàng của gãy xương mác bao gồm:

    • Đau: sau khi bị chấn thương bệnh nhân thường thấy đau chói tại chỗ gãy. Đây là một triệu chứng gợi ý gãy xương.
    • Bầm tím da xuất hiện muộn sau chấn thương, kèm theo sưng nề vùng chi bị gãy
    • Mất cơ năng: chân bị gãy không vận động được.
    • Biến dạng chi: cẳng chân có thể cong vẹo, nhìn thấy đầu gãy ngay dưới da. Cẳng chân bên gãy thường ngắn hơn bên lành, lệch trục nếu gãy xương có di lệch.
    • Dị cảm tê rần da nếu có tổn thương thần kinh.

    CÁC BIỆN PHÁP CHẨN ĐOÁN

    Các triệu chứng lâm sàng kể trên chỉ mang tính chất gợi ý đến gãy xương mác. Khi nghi ngờ, bác sĩ sẽ chỉ định các phương tiện chẩn đoán hình ảnh để chẩn đoán xác định một trường hợp gãy xương, bao gồm:

    • Xquang xương cẳng chân. Xquang giúp đánh giá tính chất xương gãy, đường gãy, độ di lệch và các tổn thương khớp kèm theo. Ngoài ra còn giúp đánh giá các biến chứng như chậm liền xương và khớp giả. Cần chụp phim cẳng chân ở cả hai tư thế thẳng và nghiêng. Phim chụp cần lấy hết khớp gối và khớp cổ chân.

    NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ GÃY XƯƠNG

    Các yếu tố gia tăng nguy cơ gãy xương nói chung bao gồm cả gãy xương mác bao gồm:

    • Người cao tuổi
    • Phụ nữ trong độ tuổi mãn kinh
    • Hút thuốc lá
    • Chơi các môn thể thao va chạm mạnh như bóng đá, bầu dục
    • Mắc bệnh về xương khớp như viêm xương khớp, thoái hóa khớp, loãng xương cũng gây gãy xương mác.

    ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG

    Mục tiêu chung của việc điều trị gãy xương mác là:

    • Cố định tốt xương gãy
    • Phục hồi lại giải phẫu và chức năng của xương
    • Điều trị triệu chứng đau
    • Ngăn ngừa các biến chứng và phục hồi chức năng.

    Gãy xương mác bao lâu thì lành.

    Đây là vấn đề được nhiều người bệnh quan tâm nhất khi điều trị. Thời gian liền xương mác phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó bao gồm:

    • Mức độ tổn thương xương và các tổ chức phần mềm
    • Đặc điểm xương gãy như số ổ gãy, kiểu gãy, kiểu di lệch nếu có
    • Tuổi của bệnh nhân
    • Chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt hằng ngày
    • Mức độ tuân thủ các chỉ định của bác sĩ
    • Các phương pháp điều trị được lựa chọn

    Trung bình khoảng 5 đến 6 tuần đoạn xương mác gãy sẽ được phục hồi. tiên lượng quá trình liền xương trong gãy xương mác cẳng chân khá tốt, kể cả khi gãy xương có di lệch

    Quá trình liền xương diễn ra qua 3 giai đoạn:

    • Giai đoạn cal xơ: kéo dài khoảng 1 – 1,5 tháng kể từ khi chấn thương. Máu trong ổ gãy tạo thành xơ, sợi để liên kết các mảnh xương gãy. Thời kì này đạt được hiệu quả tốt khi chân gãy được cố định tốt, mảnh gãy áp sát nhau.
    • Giai đoạn cal sụn: bắt đầu sau khoảng 2 – 3 tháng kể từ khi gãy.
    • Giai đoạn cal xương: diễn ra từ tháng thứ 3 trở đi. Khi đó tổ chức xương mới chính thức được hình thành trong ổ gãy.

    Chọn phương pháp điều trị gãy xương mác phụ thuộc chủ yếu vào kiểu gãy và mức độ chấn thương. Có 2 phương pháp điều trị chính:

    Điều trị bảo tồn

    Đây là phương pháp điều trị không cần bó bột. Thường áp dụng trong các trường hợp gãy xương kín ít hoặc không di lệch, đường gãy đơn giản.

    Bó bột từ 1/3 trên đùi tới bàn chân. Nên rạch dọc bột bó cẳng chân để tránh biến chứng chèn ép khoang. Vì đây là vùng có nhiều lớp cơ dày dễ gây tăng áp lực. Theo dõi sát trong 24-48 giờ đầu. Giữ bột trong khoảng 8-10 tuần.

    Nắn chỉnh bằng khung Bohler rồi bó bột:

    Với các trường hợp gãy kín có di lệch, nắn chỉnh bằng tay thường không mang lại kết quả tốt. Do đó bệnh nhân cần được nắn trên khung nắn của Bohler.

    Các bệnh nhân gãy xương mác được điều trị không phẫu thuật cần kết hợp mang nẹp xương mác hoặc mang bốt đi bộ để tăng tính vững cho việc cố định xương gãy. Chân gãy trong thời gian bó bột không chịu được trọng lực như chân lành. Vì vậy bệnh nhân cần sử dụng nạng hỗ trợ.

    Điều trị phẫu thuật

    Phẫu thuật được chỉ định điều trị gãy xương mác trong các trường hợp:

    • Gãy xương kèm tổn thương mạch máu, thần kinh
    • Có biến chứng chèn ép khoang đi kèm
    • Gãy xương hở
    • Gãy xương kín điều trị bảo tồn thất bại như di lệch thứ phát hoặc bị chậm liền xương, có khớp giả.

    Phẫu thuật kết hợp xương sử dụng các phương tiện như đinh nội tủy, nẹp vít, khung cố định ngoài. Mỗi phương tiện kết hợp xương có các ưu nhược điểm riêng, phù hợp với từng trường hợp cụ thể, đôi khi được sử dụng phối hợp với nhau.

    Tập phục hồi chức năng

    Bệnh nhân cần được hướng dẫn tập bài tập phục hồi chức năng trong và sau thời gian điều trị. Các bài tập nên được thay đổi dần từ bài tập thụ động, chủ động và tập với dụng cụ với mức độ tăng dần.

    Xương mác là xương mỏng nhưng đóng vai trò quan trọng ở cẳng chân. Nó giúp chân chống lại lực xoay và xoắn vặn đồng thời ổn định khớp gối và cổ chân. Gãy xương mau lành nhưng thường có biến chứng va tổn thương đi kèm. Hiểu biết thêm về cấu tạo và chức năng xương mác giúp ta chủ động hơn tong phòng ngừa và điều trị gãy xương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xương Mác Chân Bị Lệch Có Tự Khỏi Không?
  • Gãy Xương Mác Phải Bó Bột Bao Lâu Thì Lành?
  • Xương Mác Chân Nằm Ở Đâu? Vì Sao Xương Mác Dễ Bị Gãy?
  • ✅ Trắc Nghiệm Bài 39: Cấu Tạo Trong Của Thằn Lằn
  • Cấu Tạo Bộ Xương Động Vật
  • Xương Mác Là Xương Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Gãy Hai Mắt Cá Cổ Chân
  • Xương Mác Gãy Bao Lâu Thì Lành? Bạn Đã Biết Hay Chưa
  • Đặc Điểm Giải Phẫu Vùng Cột Sống Thắt Lưng
  • Top 3 Cách Làm Xương Quai Hàm Nhỏ Lại Bạn Đã Biết Chưa?
  • 3 Cách “Hô Biến” Xương Quai Hàm Trở Nên V
  • 1. Vị trí của Xương mác

    vì thế người ta có thể lấy bỏ 2/3 trên xương mác cũng không ảnh hưởng đến chức năng của chi dưới. Xương mác rất dễ liền xương vì thế khi gãy cả 2 xương cẳng chân, xương mác thường liền xương trước và sự liền xương này lại cản trở đến sự liền xương của xương chày.

    2. Cấu tạo của Xương mác

    Định hướng

    • Đầu dẹt hình 3 góc xuống dưới.
    • Diện khớp của đầu này vào trong.
    • Rãnh ở đầu này ra sau.

    Mô tả

    Thân xương hình lăng trụ tam giác có 3 mặt, 3 bờ.

    • Ba mặt: mặt ngoài ở trên phẳng ở dưới lõm thành rãnh. Mặt trong có 1 mào thẳng. Mặt sau lồi và gồ ghề.
    • Ba bờ: bờ trước mỏng và sắc bờ trong sắc ở giữa, bờ ngoài tròn và nhẵn ở dưới.

    Hai đầu

    • Đầu trên: là chỏm xương mác, mặt trong chỏm có diện khớp với xương chày.
    • Đầu dưới: tạo nên mắt cá ngoài. Mắt cá ngoài xuống thấp hơn mắt cá trong lcm. Mặt trong có diện khớp với xương chày.

    3. Chức năng của Xương mác

    Vai trò của xương mác là giúp ổn định và hỗ trợ cẳng chân, mắt cá và các cơ chân. Xương mác chạy song song với xương chày, gắn vào khớp mắt cá chân và khớp gối. Gãy xương mác xảy ra khi có áp lực lớn tác động vào xương nhiều hơn sức tải của nó.

    4. Những điều cần lưu ý

    Khi chúng ta bị gãy xương mác, cần theo hướng dẫn của bác sĩ và các chuyên gia y tế. Sau khi phẫu thuật và bó bột phần xương mác thì người bệnh không nên tạo ra trạng thái bất động cho cơ thể. Điều này có thể làm cho cơ thể mất đi cảm giác nhận thức môi trường xung quanh. Nặng hơn có thể làm cơ, thịt bị teo đi, vi khuẩn tấn công gây lở loét, suy hô hấp. Vậy nên cần phòng tránh và thực hiện các phương pháp:

    Hoạt động khớp

    Sự thật là khi khớp mà không được hoạt động đều đặn sẽ khiến chúng bị co ngắn lại. Cùng với đó là các hệ lụy như là bao khớp cơ rúm, mỡ trong bao hoạt dịch tăng lên, lớp sụn đầu khớp mỏng đi. Cho nên việc vận động khớp hợp lý trong thời gian phục hồi sau gãy xương mác này sẽ giải quyết được tất cả các vấn đề trên. Hằng ngày bạn nên thực hiện động tác co duỗi chậm rãi trong khoảng 30 giây. Mỗi lần nên thực hiện liên tục trong khoảng 10 phút, mỗi ngày khoảng 5 lần là tốt nhất.

    Tập đi

    • Khi biện pháp trên bạn đã thực hiện một cách thuần thục và đơn giản thì là lúc bạn chuyển qua giai đoạn này. Sử dụng các nạng gỗ để hỗ trợ khi xương chưa lành. Tuy nhiên cần chú ý là thanh ngang trên đầu của nạng không được để tỳ vào nách mà nên ép vào lồng ngực nếu không sẽ không thể đạt được hiệu quả của biện pháp phục hồi sau gãy xương mác này.
    • Tư thế lúc này cũng cần phải chú ý. Nên đi thẳng, mắt hướng về phía trước, không được cúi mặt xuống đất. Tạo thế cân bằng cơ thể dựa vào độ cao của 2 bà vai, nên sử dụng 2 chiếc nạng dù có bị gãy xương mác ở một bên chân.

    Tận dụng nhiệt

    • Đây là một biện pháp phục hồi sau gãy xương mác được nhiều bác sĩ khuyên dùng. Chúng có tác dụng giảm đi những cơn đau nhức, khó chịu mỗi khi chúng ta vận động. Nên sử dụng túi chườm nhiệt nóng lên khu vực gần xương mác.
    • Tuyệt đối là những phương pháp tạo nhiệt bằng sóng điện từ hay sóng điện từ. Bởi có thể trong quá trình phẫu thuật có thể sử dụng các thiết bị kim loại để cố định xương. Điều này sẽ có nguy cơ làm hỏng chúng gây viêm rò.

    Hoạt động thường ngày

    Những động tác trong sinh hoạt như là đi lên xuống cầu thang, bậc thềm nhà hoặc là đứng lên ngồi xuống. Thực hiện một cách thường xuyên đến khi chân không còn đau nữa tức là quá trình phục hồi sau gãy xương mác đã đạt được hiệu quả tốt. Thông thường quá trình này phải thực hiện liên tục trong khoảng từ 1 đến 2 năm tùy thuộc vào mức độ gãy xương.

    Xoa bóp thường xuyên

    Hãy tạo dựng thói quen xoa nắn xung quanh và tại vị trí xương mác bị gãy. Tuy nhiên chỉ nên sử bằng tay không và tuyệt đối không được dùng những sản phẩm như dầu gió, cồn, thuốc xoa. Nếu không rất dễ khiến tình trạng xơ cứng khớp cũng như vôi hóa có thể diễn ra.

    Nguồn: Vinmec

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Xương Bò: Giải Phẫu Và Sơ Đồ Cấu Tạo, Tên Các Bộ Xương Và Hệ Thống, Cơ Quan Nội Tạng
  • Cấu Tạo Cột Sống Của Con Người, Chức Năng Và 3 Bệnh Thường Gặp
  • Cấu Tạo Xương Cột Sống Và Các Bệnh Liên Quan Đến Cột Sống.
  • Khuỷu Tay Và Các Bệnh Lý Liên Quan
  • Giải Phẫu Và Sinh Lý Xương Bả Vai: Phức Tạp Ghê …
  • Y Học Chức Năng Là Gì? Giới Thiệu

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngành Y Đa Khoa Là Gì? Ngành Y Đa Khoa Học Những Gì
  • Hậu Quả Của Suy Giảm Chức Năng Tuyến Yên
  • Chức Năng Tuyến Yên Là Gì? Tuyến Yên Nằm Ở Đâu?
  • Yêu Cầu Chức Năng Hay Phi Chức Năng?
  • Ngành Y Tá Điều Dưỡng
  • El Paso, Tx. Bác sĩ trị liệu, Tiến sĩ Alexander Jimenez khảo sát Y học chức năng. Nó là gì và nó có thể giúp ích như thế nào trong việc có một lối sống lành mạnh.

    Thách thức

    Trong tổng chi phí chăm sóc sức khoẻ ở Hoa Kỳ, hơn 86% là do các bệnh mãn tính.1 Trong 2022, chi tiêu chăm sóc sức khoẻ đạt $ 3.2 nghìn tỷ, chiếm 17.8% trong GDP.2 Điều này vượt quá chi phí liên bang dành cho quốc phòng, an ninh quốc gia, giáo dục và phúc lợi. Bởi 2023, nếu chúng ta không thay đổi cách chúng ta đối mặt với thách thức này, hàng năm chi phí chăm sóc sức khoẻ ở Mỹ sẽ tăng lên hơn $ 400000000, 3,4 tương đương, trong một năm duy nhất của bốn cuộc chiến Iraq, làm cho chi phí chăm sóc bằng cách sử dụng mô hình hiện tại kinh tế không bền vững. Nếu kết quả sức khoẻ của chúng tôi tương xứng với những chi phí như vậy, chúng tôi có thể quyết định rằng họ xứng đáng. Thật không may, Hoa Kỳ chi hai lần chi phí bình quân đầu người của các nước công nghiệp hóa khác, như được tính toán bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), 5 mặc dù có những kết quả tương đối nghèo nàn cho một đầu tư khổng lồ như vậy.XUNX

    Mô hình chăm sóc sức khoẻ hiện tại của chúng tôi không thể đương đầu với cả hai nguyên nhân và các giải pháp cho bệnh mãn tính và phải được thay thế bằng một mô hình chăm sóc toàn diện nhằm điều trị và đảo ngược điều này một cách hiệu quả. system.7

    Mô hình lâm sàng đã lỗi thời

    Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong việc điều trị và ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm và chấn thương, mô hình chăm sóc cấp tính thống trị y học thế kỷ XNUM chưa có hiệu quả trong việc điều trị và ngăn ngừa bệnh mãn tính.

    • Nhận biết và xác nhận các mô hình lâm sàng thành công và thích hợp hơn
    • Định hình lại giáo dục và thực hành lâm sàng của các chuyên gia y tế để giúp họ đạt được thành thạo trong việc đánh giá, điều trị và phòng ngừa bệnh mãn tính
    • Hoàn trả một cách công bằng cho thuốc phong cách sống và các chiến lược phòng ngừa mở rộng, thừa nhận rằng các mối đe dọa sức khoẻ lớn nhất hiện nay phát sinh từ cách chúng ta sống, làm việc, ăn, chơi và di chuyển

    Quan điểm này hoàn toàn đồng nhất với cái mà chúng ta có thể gọi là cuộc cách mạng “omics”. Trước đây, các nhà khoa học tin rằng khi chúng ta giải mã hệ gen người, chúng ta sẽ có thể trả lời hầu hết các câu hỏi về nguồn gốc của bệnh tật. Trên thực tế, con người không phải là người cứng rắn về di truyền đối với hầu hết các bệnh; thay thế, biểu hiện gen được thay đổi bởi vô số những ảnh hưởng, bao gồm môi trường, lối sống, chế độ ăn uống, các mô hình hoạt động, các yếu tố tâm linh-xã hội-tinh thần và căng thẳng. Những lựa chọn lối sống và những phơi nhiễm môi trường có thể đẩy chúng ta tới (hoặc không) bệnh bằng cách biến đổi hoặc – gen.Những hiểu biết sâu sắc đã giúp thúc đẩy sự quan tâm của toàn cầu về Y học chức năng, vốn có nguyên tắc đó ở cốt lõi của nó.

    Đáp ứng chiến lược

    Y học Chức năng là gì?

    Các yếu tố của y học chức năng

    Cơ sở tri thức – hay “dấu chân” – của Dược liệu chức năng được định hình bởi sáu cơ sở cốt lõi:

    • Liên hệ Giữa Môi trường: Y học chức năng dựa trên sự hiểu biết về quá trình trao đổi chất của từng cá nhân ở cấp độ tế bào. Bằng cách biết gen và môi trường của mỗi người tạo ra các mô hình hóa sinh độc nhất, có thể thiết kế các can thiệp có mục tiêu nhằm điều chỉnh các vấn đề cụ thể dẫn đến các quá trình phá hoại như viêm và oxy hóa, vốn là nguồn gốc của nhiều bệnh.
    • Điều chế tín hiệu thượng nguồn: Các can thiệp về chức năng Y học nhằm ảnh hưởng đến các quá trình sinh hóa “thượng nguồn” và ngăn ngừa việc sản xuất quá nhiều các sản phẩm cuối cùng gây hại hơn là ngăn chặn ảnh hưởng của những sản phẩm cuối cùng này. Ví dụ, thay vì sử dụng các loại thuốc ngăn chặn bước cuối cùng trong việc sản xuất các chất trung gian gây viêm (NSAIDs, vv), các phương pháp điều trị bằng Thuốc Yếu tố nhằm ngăn chặn việc điều chỉnh các biện pháp hòa giải ở nơi đầu tiên.
    • Kế hoạch điều trị Đa thức: Phương pháp Y học Chức năng sử dụng một loạt các can thiệp để đạt được sức khoẻ tối ưu bao gồm chế độ ăn uống, dinh dưỡng, tập thể dục và vận động; kiểm soát căng thẳng; ngủ và nghỉ ngơi, bổ sung dinh dưỡng thực vật, dinh dưỡng và dược phẩm; và các liệu pháp phục hồi và hồi phục khác.Các can thiệp này đều được thiết kế phù hợp để giải quyết các tiền thân, gây nên, và trung gian của bệnh hoặc rối loạn chức năng trong từng bệnh nhân.
    • Hiểu biết bệnh nhân trong bối cảnh: Y học chức năng sử dụng một quá trình có cấu trúc để khám phá những sự kiện sống quan trọng của lịch sử mỗi bệnh nhân để hiểu rõ hơn về họ là ai. Các công cụ IFM (“Timeline” và “Ma trận” mô hình) là một phần của quá trình này cho vai trò của họ trong tổ chức dữ liệu lâm sàng và mediating lâm sàng nhìn thấy. Cách tiếp cận này để gặp phải lâm sàng đảm bảo rằng bệnh nhân được nghe, engenders mối quan hệ trị liệu , mở rộng các lựa chọn điều trị, và cải thiện sự hợp tác giữa bệnh nhân và bác sĩ lâm sàng.
    • Hệ thống Phương pháp tiếp cận dựa trên sinh học: Y học chức năng sử dụng sinh học hệ thống để hiểu và xác định sự mất cân bằng cơ bản trong các hệ sinh học cụ thể có thể biểu hiện ở các bộ phận khác của cơ thể. Thay vì cách tiếp cận dựa vào cơ chế nội tạng, Y học chức năng sẽ giải quyết các quá trình sinh lý cốt lõi bao gồm: sự đồng hóa các chất dinh dưỡng, bảo vệ và sửa chữa tế bào, tính toàn vẹn của cấu trúc, các cơ chế truyền thông di động và vận chuyển, sản xuất năng lượng và sự biến đổi sinh học. “Là công cụ then chốt của bác sỹ lâm sàng để hiểu được những ảnh hưởng trên mạng lưới và tạo cơ sở cho việc thiết kế các chiến lược điều trị đa thức có hiệu quả.
    • Bệnh nhân làm trung tâm và đạo diễn: Các bác sĩ Y khoa Chức năng làm việc với bệnh nhân để tìm ra kế hoạch điều trị phù hợp nhất và chấp nhận được để sửa chữa, cân bằng và tối ưu hóa các vấn đề căn bản trong cõi tâm, thân thể và tinh thần. Bắt đầu với một lịch sử chi tiết và cá nhân, bệnh nhân được hoan nghênh trong quá trình khám phá câu chuyện của họ và các nguyên nhân tiềm năng của vấn đề sức khoẻ của họ. Bệnh nhân và nhà cung cấp làm việc cùng nhau để xác định quá trình chẩn đoán, đặt ra các mục tiêu về sức khoẻ có thể đạt được, và thiết kế cách tiếp cận điều trị thích hợp.

    Để hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng trong việc hiểu và áp dụng Y học chức năng, IFM đã tạo ra một cách sáng tạo để đại diện cho các dấu hiệu, triệu chứng của bệnh nhân và các con đường chung của bệnh. Sự thích nghi, tổ chức và tích hợp vào Ma trận Y tế Chức năng, bảy hệ thống sinh học trong đó sự mất cân bằng lâm sàng chính được tìm thấy thực sự tạo ra một cầu nối giữa các văn bản khoa học cơ bản phong phú về cơ chế sinh lý của bệnh và các nghiên cứu lâm sàng, chẩn đoán lâm sàng và kinh nghiệm lâm sàng trong quá trình đào tạo y tế.Những sự mất cân bằng lâm sàng cốt lõi này kết hợp các cơ chế của bệnh với các biểu hiện và chẩn đoán bệnh.

    • Đồng hóa: tiêu hóa, hấp thu, vi sinh vật / GI, hô hấp
    • Quốc phòng và sửa chữa: miễn dịch, viêm, nhiễm trùng / vi khuẩn
    • Năng lượng: điều tiết năng lượng, chức năng ti thể
    • Biotransformation và loại bỏ: độc, giải độc
    • Vận chuyển: hệ tim mạch và bạch huyết
    • Truyền thông: chất nội tiết, các chất dẫn truyền thần kinh, các chất trao đổi chất miễn dịch
    • Tính toàn vẹn kết cấu: màng dưới tế bào đến sự toàn vẹn cơ xương

    Sử dụng cấu trúc này, có thể thấy rằng một bệnh / tình trạng có thể có nhiều nguyên nhân (như mất cân bằng lâm sàng), giống như một sự mất cân bằng cơ bản có thể là gốc rễ của nhiều điều khác biệt dường như khác nhau (xem hình 2).

    Cộng đồng khoa học đã có những bước tiến đáng kinh ngạc trong việc giúp các học viên hiểu môi trường và cách sống, tương tác liên tục qua di sản di truyền của một cá nhân, kinh nghiệm về tâm lý xã hội và niềm tin cá nhân, có thể làm giảm một hoặc tất cả bảy sự mất cân bằng lâm sàng cốt lõi. IFM đã phát triển các khái niệm và công cụ giúp thu thập, tổ chức và hiểu được dữ liệu thu được từ lịch sử mở rộng, khám sức khoẻ và đánh giá phòng thí nghiệm, bao gồm:

    Mô hình HÃY ĐẾN ĐÓ , đưa ra một phương pháp hợp lý để gợi lên toàn bộ câu chuyện của bệnh nhân và đảm bảo rằng việc đánh giá và điều trị phù hợp với câu chuyện đó:

    G = Thu thập thông tin

    O = Thông tin về Tổ chức

    T = Nói câu chuyện hoàn chỉnh Quay lại với Bệnh nhân

    O = Đặt hàng và Ưu tiên

    I = Bắt đầu điều trị

    T = Theo dõi kết quả

    • Chu trình Y học Chức năng, giúp kết nối các sự kiện quan trọng trong cuộc đời bệnh nhân với sự xuất hiện các triệu chứng rối loạn chức năng.
    • Ma trận Yếu tố chức năng, cung cấp cách duy nhất và gọn gàng để tổ chức và phân tích tất cả dữ liệu sức khoẻ của bệnh nhân (xem Hình 3).

    1. Xác định các máy ATM của bệnh nhân mắc bệnh và rối loạn chức năng.

    2. Khám phá các yếu tố trong lối sống của bệnh nhân và môi trường ảnh hưởng đến sự biểu hiện của sức khoẻ hoặc bệnh tật.

    3. Áp dụng tất cả các dữ liệu thu thập được về bệnh nhân vào một ma trận các hệ thống sinh học, trong đó các rối loạn chức năng bắt nguồn và được biểu hiện.

    4. Tích hợp tất cả các thông tin này để tạo ra một bức tranh tổng thể về những gì đang gây ra các vấn đề của bệnh nhân, nơi chúng bắt nguồn, điều gì đã ảnh hưởng đến sự phát triển của chúng, và – như là kết quả của phân tích quan trọng này – nơi can thiệp để bắt đầu đảo ngược quá trình bệnh hoặc cải thiện đáng kể Sức khỏe.

    Sự hỗ trợ khoa học cho phương pháp tiếp cận điều trị Y học Y học chức năng có thể được tìm thấy trong một cơ sở bằng chứng lớn và đang mở rộng nhanh chóng về hiệu quả điều trị dinh dưỡng (bao gồm cả việc lựa chọn chế độ ăn kiêng và sử dụng lâm sàng các vitamin, chất khoáng, và các chất dinh dưỡng khác như dầu sh) 13,15,15; thực vật học16,17,18; tập thể dục19 (thể dục nhịp điệu, tập luyện sức mạnh, linh hoạt); xử lý stress 20; cai nghiện 21,22,23; châm cứu 24,25,26; thuốc hướng dẫn sử dụng (massage, thao tác) 27,28,29; và tâm / cơ thể kỹ thuật 30,31,32 như thiền định, hình ảnh có hướng dẫn và phản hồi sinh học.

    Tất cả các công việc này được thực hiện trong bối cảnh hợp tác bình đẳng giữa người thực hành và bệnh nhân. Người học sẽ phối hợp với bệnh nhân trong mối quan hệ hợp tác, tôn trọng vai trò của bệnh nhân và kiến ​​thức về bản thân, và đảm bảo rằng bệnh nhân học cách tự chịu trách nhiệm lựa chọn và tuân thủ các biện pháp can thiệp. Học cách đánh giá mức độ sẵn sàng thay đổi của bệnh nhân và sau đó cung cấp hướng dẫn, huấn luyện và hỗ trợ cần thiết cũng quan trọng bằng việc yêu cầu các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm và kê đơn đúng cách.

    Tổng kết

    Thực hành Y học chức năng bao gồm bốn thành phần thiết yếu: (1) gợi lên câu chuyện hoàn chỉnh của bệnh nhân trong thời gian dùng thuốc chức năng; (2) xác định và giải quyết những thách thức của bệnh nhân các yếu tố lối sống có thể điều chỉnh và tiếp xúc môi trường; (3) tổ chức sự mất cân bằng lâm sàng của bệnh nhân bằng các nguyên nhân cơ bản của bệnh trong ma trận sinh học hệ thống khuôn khổ; và (4) thành lập trao đổi quyền lực giữa học viên và bệnh nhân.

    Y học chức năng đóng một vai trò quan trọng trong nỗ lực để giải quyết hiện đại dịch bệnh mãn tính đang tạo ra một cuộc khủng hoảng sức khỏe cả ở cấp quốc gia và trên toàn cầu. Vì bệnh mãn tính là một hiện tượng có ảnh hưởng đến thực phẩm và lối sống, bị ảnh hưởng bởi môi trường và di truyền, chúng ta phải có cách chăm sóc tích hợp tất cả các yếu tố này trong bối cảnh câu chuyện hoàn chỉnh của bệnh nhân. Y học chức năng chỉ làm điều đó và cung cấp một cách tiếp cận ban đầu và sáng tạo để thu thập và phân tích các mảng thông tin rộng lớn này. Sử dụng tất cả các khái niệm và công cụ mà IFM đã phát triển, các bác sỹ Y khoa Chức năng đóng góp các kỹ năng quan trọng để điều trị và làm ngược lại bệnh mãn tính phức tạp.

    Nguồn: Nhà Lãnh đạo Toàn cầu về Y học chức năng

    dự án

    1 Trung tâm kiểm soát và phòng chống bệnh tật. Đã truy cập April 14, 2022, https://www.cdc.gov/chronicdisease.

    2 Trung tâm Dịch vụ Medicare & Medicaid. Tờ thông tin NHE. Truy cập ngày 14 tháng 2022 năm XNUMX, https://www.cms.gov/research-stosystem-data-and-systems/statisticstrends-and-reports/nationalhealthexpenddata/nhe-fact-sheet.html.

    3 DeVol R, Bedroussian A. Một Hoa Kỳ không lành mạnh: gánh nặng kinh tế của bệnh mãn tính – biểu đồ một khóa học mới để cứu sống người và tăng năng suất và tăng trưởng kinh tế. Viện Milken; 2007. Truy cập April 14, 2022, http://assets1c.milkeninstitute.org/assets/Publication/ResearchReport/PDF/chronic_disease_report.pdf.

    4 Bodenheimer T, Chen E, Bennett H. Đối đầu với gánh nặng bệnh tật mãn tính: nhân viên chăm sóc sức khoẻ của Hoa Kỳ có thể làm việc được không? Sức khoẻ Aff. 2009; 28 (1): 64-74. doi: 10.1377 / hlthaff.28.1.64.

    5 Văn phòng Giáo dục Lao động, Đại học Maine. Hệ thống chăm sóc sức khoẻ của Hoa Kỳ: Tốt nhất trên thế giới, Hoặc Chỉ tốn kém nhất? 2001. Đã truy cập April 14, 2022, http://www.suddenlysenior.com/pdf_files/UShealthcare.pdf.

    6 Radley DC, McCarthy D, Hayes SL. Nhằm mục đích cao hơn: kết quả từ bảng điểm của Quỹ Khối thịnh vượng chung về hoạt động của hệ thống y tế nhà nước (2017 ed.). Quỹ Khối thịnh vượng chung; 2022. Đã truy cập April 14, 2022, http://www.commonwealthfund.org/interactives/2017/mar/state-scorecard/.

    7 Jones DS, Hofmann L, Quinn S. 21st thế kỷ thuốc: một mô hình mới cho giáo dục y tế và thực hành. Gig Harbor, WA: Viện Y học Chức năng; 2011.

    8 Jones DS, Hofmann L, Quinn S. 21st thế kỷ thuốc: một mô hình mới cho giáo dục y tế và thực hành. Gig Harbor, WA: Viện Y học Chức năng; 2009.

    9 Willett WC. Cân bằng cuộc sống và nghiên cứu bộ gen về phòng bệnh. Khoa học. 2002; 296 (5568): 695-97. doi: 10.1126 / science.1071055.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cây Thuốc Chức Năng & Nguyên Tắc Của Nó
  • Đề Cương Chuyên Đề 1
  • Các Chức Năng Của Pháp Luật, Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam Hiện Nay
  • Phân Tích Các Chứng Năng Xã Hội Của Giáo Dục
  • Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất Cac Chuc Nang Cua Giao Duc Doc
  • Gãy Xương Mác Là Bệnh Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bị Ngã Gãy Xương Ngón Chân Có Cần Bó Bột Không
  • Giải Phẫu Cột Sống Và Hình Ảnh Chấn Thương Cột Sống Trên Clvt
  • Download Bao Cao Tuan 1: Cau Tao Giai Phau Cua He Co Va Xuong Lung
  • Đặc Điểm Giải Phẫu Sinh Lý Cột Sống Cổ
  • Tìm Hiểu Về Bệnh Đau Xương Quai Hàm Và Những Biện Pháp Khắc Phục
  • Khi nào bạn cần gặp bác sĩ?

    Nếu bạn có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nêu trên hoặc có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ. Cơ địa mỗi người là khác nhau. Vì vậy hãy hỏi ý kiến bác sĩ để lựa chọn được phương án thích hợp nhất.

    Nguyên nhân nào gây ra gãy xương mác?

    Những lý do phổ biến nhất gây gãy xương mác là:- Va chạm mạnh: thường xảy ra do tai nạn xe máy hoặc ô tô và có thể dẫn đến gãy xương rất nghiêm trọng.

    – Té ngã, đặc biệt là ở độ cao rất lớn và bề mặt cứng: vận động viên và người cao tuổi thường bị chấn thương với lý do này nhất.

    – Các vận động xoắn, chẳng hạn như xoay vòng: các môn thể thao như trượt ván, trượt tuyết là nguyên nhân phổ biến gây ra gãy xương mác.

    Một số bệnh cũng có thể ảnh hưởng đến gãy xương mác, bao gồm các bệnh xương như viêm xương khớp.

    Gãy xương mác phổ biến như thế nào?

    Những yếu tố nào làm tăng nguy cơ mắc gãy xương mác?

    Nghiên cứu cho thấy yếu tố nguy cơ lớn nhất gây gãy xương mác là khối lượng xương thấp. Khối lượng xương thấp làm giảm khả năng chịu lực hoặc chấn thương ở xương mác.

    Các yếu tố làm giảm khối lượng , làm tăng nguy cơ bị gãy xương, bao gồm:- Hút thuốc lá;

    – Phụ nữ mãn kinh;

    – Cao tuổi;

    Các yếu tố khác làm tăng nguy cơ gãy xương bao gồm:- Chơi thể thao có va chạm, chẳng hạn như bóng đá và bóng bầu dục;

    – Chơi các môn thể thao thường xuyên thay đổi hướng, chẳng hạn như trượt ván.

    Điều trị hiệu quả

    Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ.

    Những kỹ thuật y tế nào dùng để chẩn đoán gãy xương mác?

    Những người bị chấn thương chân hay nghi ngờ mình bị gãy xương mác nên tham khảo ý kiến bác sĩ để được chẩn đoán. Các bước chẩn đoán gồm:- Khám lâm sàng: bác sĩ sẽ tiến hành kiểm tra kỹ lưỡng và tìm kiếm bất kỳ dị dạng đáng chú ý nào;

    – X-quang: giúp bác sĩ xem vết nứt và đánh giá xương đã bị lệch khỏi vị trí hay chưa

    – Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI): phương pháp này cung cấp hình ảnh chi tiết của xương và các mô mềm.

    Xạ hình xương, chụp cắt lớp vi tính (CT) và các xét nghiệm khác có thể được yêu cầu để chẩn đoán chính xác hơn và đánh giá mức độ nghiêm trọng của gãy xương mác.

    Những phương pháp nào dùng để điều trị gãy xương mác?

    Phương pháp điều trị gãy xương mác có thể khác nhau và phụ thuộc rất nhiều vào mức độ nghiêm trọng của gãy xương.

    Gãy xương hở (gãy xương phức tạp)

    Trong gãy xương hở hoặc là xương xuyên qua da, bạn có thể nhìn thấy xương hoặc một vết thương sâu lộ xương qua da. Gãy xương hở thường là do chấn thương rất mạnh, chẳng hạn như té ngã hay va chạm xe.

    Các bác sĩ sẽ điều trị gãy xương hở ngay lập tức và tìm các chấn thương khác. Kháng sinh sẽ được dùng để ngăn ngừa nhiễm trùng. Bạn cũng được tiêm một mũi uốn ván nếu cần. Vết thương sẽ được làm sạch kỹ lưỡng, kiểm tra, cố định xương. Bác sĩ có thể tiến hành phẫu thuật và cố định xương gãy bên trong với tấm kim loại và ốc vít. Nếu xương không kết hợp được, bạn sẽ được ghép xương để thúc đẩy quá trình lành bệnh.

    Gãy xương kín (gãy đơn giản)

    Trong gãy xương kín, xương bị gãy nhưng da vẫn còn nguyên vẹn

    Mục tiêu điều trị gãy xương kín là đưa xương trở lại vị trí, kiểm soát cơn đau, chờ thời gian xương gãy tự lành, ngăn ngừa các biến chứng và phục hồi chức năng bình thường. Việc điều trị bắt đầu với nâng chân cao. Bạn cũng có thể sử dụng nước đá để làm giảm đau và sưng.

    Nếu không phẫu thuật, bạn cần sử dụng nạng để di chuyển hoặc mang nẹp đeo, bó bột hoặc bốt đi bộ khi đang lành bệnh. Một khi xương đã lành, bệnh nhân có thể kéo căng và tăng cường các khớp bị yếu với sự trợ giúp của nhà trị liệu vật lý.

    Tham khảo sản phẩm đai, nẹp hỗ trợ chấn thương “gãy xương mác” tại link: http://hdn.com.vn/danh-sach-san-pham/215/nep-chan-thuong-va-ho-tro-dau-goi-chan-va-mat-ca-chan.html

    Có hai loại phẫu thuật chính nếu bệnh nhân cần: – Nắn xương kín bao gồm sắp xếp xương trở lại vị trí ban đầu mà không cần phải rạch da ở chỗ gãy

    – Nắn xương hở và sắp xếp cố định xương bị gãy về vị trí ban đầu bằng cách sử dụng tấm kim loại, đinh vít và thanh nẹp

    Mắt cá chân sẽ được bó bột hoặc mang bốt đi bộ cho đến khi lành bệnh hoàn toàn.

    Những thói quen sinh hoạt nào giúp bạn hạn chế diễn tiến của gãy xương mác?

    Thời gian phục hồi xương phụ thuộc vào các yếu tố như:- Mức độ nghiêm trọng của thương tích và các thương tích khác

    – Tuổi tác

    – Mức độ tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    – Phẫu thuật

    – Thời gian tiến hành vật lý trị liệu

    – Các tình trạng khác.

    Trong thời gian phục hồi, bác sĩ sẽ lên kế hoạch theo dõi X-quang để đảm bảo xương được chữa lành đúng cách.

    Các mẹo tại nhà:- Nằm nghỉ và nâng chân bó bột lên cao

    – Sử dụng nạng để tránh làm tổn thương chỗ gãy

    – Có chế độ ăn nhiều chất dinh dưỡng như vitamin D, canxi và kẽm để phục hồi xương.

    – Cung cấp đủ lượng calo và protein cho cơ thể

    – Uống thuốc giảm đau và chống viêm nếu cần thiết để giảm đau và sưng tấy.

    Với những chấn thương không quá nặng, xương mác thường bị gãy kín và được điều trị bảo tồn bằng cách bó bột cẳng chân. Gãy xương mác không gây biến dạng chân nhiều do còn xương chày to hơn làm nhiệm vụ chống chịu lực. Để xương có thể lành tốt, bạn nên tuân thủ lời khuyên của bác sĩ. Tránh vận động nặng hay bỏ bột trước thời gian quy định, bổ sung nhiều canxi và vitamin D để xương lành tốt, vận động thể lực trong giới hạn cho phép cũng là cách thúc đẩy quá trình lành xương nhanh và làm xương chắc khỏe hơn.

    Tác giả: Hoàng HiệpTham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh.

    Theo: https://hellobacsi.com/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xương Mác: Vị Trí, Cấu Tạo Và Chức Năng
  • Xương Mác Chân Bị Lệch Có Tự Khỏi Không?
  • Gãy Xương Mác Phải Bó Bột Bao Lâu Thì Lành?
  • Xương Mác Chân Nằm Ở Đâu? Vì Sao Xương Mác Dễ Bị Gãy?
  • ✅ Trắc Nghiệm Bài 39: Cấu Tạo Trong Của Thằn Lằn
  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Và Vai Trò Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Học Nghệ Thuật Và Chức Năng
  • Về Ý Nghĩa Ba Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức Năng Giáo Dục Và Chức Năng Thẩm Mỹ. Anh (Chị) Hiểu Gì Về Ba Chức Năng Đó? Phân Tích Một Tác Phẩm Tr
  • Chức Năng Inverter Của Bếp Từ Là Gì?
  • Máy Giặt Inverter Là Gì? Có Những Ưu Điểm Vượt Trội Nào?
  • Khái niệm văn học thường bị nhầm lẫn với văn chương. Tuy nhiên, về bản chất thì văn học mang ý nghĩa rộng hơn và bao gồm văn chương. Sự khác nhau rõ nhất giữa hai khái niệm này chính là bởi văn chương thường nhấn mạnh nhiều đến tính thẩm mỹ, sự sáng tạo hay phương diện ngôn ngữ cùng nghệ thuật của ngôn từ.

    Các thể loại chính của văn học:

    Một số khái niệm trong văn học

    • Đề tài: Thường được sử dụng nhằm chỉ sự vật, hiện tượng đời sống được phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học. Như vậy thì đề tài chính là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm.
    • Tư tưởng tác phẩm văn học: Thể hiện sự nhận thức, là những lí giải hay thái độ của chính tác giả trong nội dung tác phẩm.
    • Nhân vật văn học: Ở đây chính là con người cụ thể được thể hiện trong tác phẩm văn học. Thông thường nhân vật văn học có thể có hoặc không tên riêng.
    • Kết cấu: Theo định nghĩa, kết cấu trong văn học chính là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm. Bố cục trong văn học nhằm chỉ sự phân bố hay sắp xếp các bộ phận, chương đoạn của tác phẩm theo trình tự nhất định. Như vậy, bố cục chính là phương diện của kết cấu và khái niệm kết cấu cho thấy nội dung phức tạp hơn, rộng rãi hơn.

    Chức năng nhận thức của văn học

    Văn học giúp người đọc nhận thức rõ về bản thân mình. Văn học giúp phản ánh hiện thực để đem lại những kiến thức mênh mông về đời sống vật chất lẫn tinh thần của con người. Bởi thế mà có người cho rằng văn học chẳng khác gì bách khoa toàn thư của cuộc sống. Ta từng thấy Ăng-ghen nhận xét khi đọc về tiểu thuyết của Ban-zắc – đó là giúp người đọc hiểu hơn về xã hội của nước Pháp.

    Bên cạnh đó, chức năng nhận thức của văn học còn thể hiện ở việc giúp người đọc tự nhận thức về bản thân mình. Những câu hỏi về sự tự nhận thức bản thân cũng được văn học giải đáp một cách chi tiết nhất.

    Chức năng thẩm mĩ của văn học

    Chức năng thẩm mỹ của văn học là một chức năng đặc trưng. Thẩm mỹ chính là cái đẹp. Cái đẹp ở đây đến từ nhiều phương diện, nhưng tựu trung lại con người luôn thích chiêm ngưỡng cái đẹp. Đó chính là bản chất của con người, là nhu cầu mà con người luôn hướng đến.

    Mỗi người sẽ có định nghĩa khác nhau về cái đẹp, nên không có một thước đo chuẩn xác cho cái đẹp, bởi lẽ nó khởi phát trong lòng người. Nhưng chức năng của cái đẹp, sự tác động của cái đẹp thì ta có thể thấy rõ và cảm nhận được. Cái đẹp xoa dịu tâm hồn con người, gạt bỏ mọi điều xấu xa khỏi tâm hồn con người chỉ để lại những gì thanh khiết trong tâm hồn con người.

    Cái đẹp có chức năng cứu rỗi là vì thế. Chính nhờ có cái đẹp mà con người sẽ cảm thấy thêm yêu cuộc đời này, thấy cuộc sống có thêm ý nghĩa. Đó chính là giá trị chức năng đặc trưng của các loại hình nghệ thuật nói chung, của văn học nói riêng.

    Cái đẹp của văn học đến từ cả hai phương diện hình thức và nội dung. Hình thức của văn học chính là thể loại chính là ngôn ngữ, hình ảnh được tác giả sử dụng. Nếu họa sĩ dùng màu sắc để vẽ tranh, nhà điêu khắc dùng đường nét để khắc họa, nhạc sĩ dùng âm nhạc để nói nên nỗi lòng mình thì nhà văn lại dùng ngòi bút để tạo nên đứa con tinh thần của mình. Ngôn ngữ chính là chìa khóa vạn năng để thi nhân mở ra cánh cửa của muôn vàn cảm xúc. Nhà văn nhà thơ là người chắt lọc và sử dụng ngôn ngữ để diễn tả nỗi lòng của mình. Cái đẹp ấy chính là ngôn ngữ.

    Như câu thơ của Quang Dũng trong bài Tây Tiến dù cách đây đã lâu nhưng vẫn đủ sức làm lay động trái tim người đọc mọi thời đại

    Câu thơ với cách ngắt nhịp 4/3 cùng với sự lặp lại từ “dốc” ở đầu mỗi phần ngắt nhịp đã tạo nên một hình ảnh độc đáo. Sự bẻ đôi của câu thơ cũng đã phần nào diễn tả được độ dốc của địa hình. Và câu thơ có nhiều thanh trắc càng gợi được sự khó khăn trúc trắc trên bước đường hành quân của người lính.

    Nhịp thơ như chính hơi thở của người lính trên hành trình leo dốc đầy gian nan này. Trên bước đường hành quân, khó khăn gian khổ là điều không thể tránh khỏi nhưng quan trọng là cách ta đối diện với khó khăn. Những người lính Tây Tiến cũng thế. Họ chấp nhận khó khăn và đối diện nó một cách đầy hiên ngang nhưng không kém phần tinh nghịch.

    Biện pháp đảo ngữ đưa từ láy “heo hút” lên đầu đã nhấn mạnh sự vắng vẻ của khung cảnh nơi đây đồng thời còn nhấn mạnh sự hoang sơ của khung cảnh nơi đây không một bóng người. Thường với không gian hoang vắng như thế, con người sẽ oán than cuộc đời hoặc cảm thấy mình bé nhỏ cô độc nhưng những người lính không thế. Họ nhìn xa hơn vào cái hoang vắng ấy để thấy “súng ngửi trời”.

    “Súng ngửi trời” là một hình ảnh nhân hóa đầy thú vị. Súng đeo trên vai luôn theo sát người lính ở mọi bước đường hành trình. Đi trên con dốc khiến người lính có cảm tưởng như chạm đến mây. HÌnh ảnh ấy gợi được độ cao của con dốc. Nhưng qua cái nhìn của người lính Tây Tiến khung cảnh hiện lên có cảm giác thật nhẹ nhàng, tinh nghịch như một bộ phim hoạt hình. Thế nhưng chính sự lạc quan tươi vui ấy lại là một phẩm chất cần có ở người lính. Bởi lẽ nó là chất xúc tác giúp người lính có thể vượt qua mọi khó khăn.

    Câu thơ “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” là một nét phác họa gợi cho ta liên tưởng đến một bức tranh thủy mặc thời cổ của một thi sĩ nào đó. Chính nét phác họa ấy đã tạo nên một bức tranh nhiều chiều, dường như không chỉ là độ cao mà nó còn là độ sâu nữa. Dù hình ảnh người lính không xuất hiện trực tiếp nhưng trên phông nền hùng vĩ của thiên nhiên ấy, ta có thể tưởng tượng hình ảnh người lính xuất hiện hùng tráng biết bao như các chiến sĩ thời trung đại.

    Có lẽ chính vì có lí tưởng, có mục đích chiến đấu cao cả nên người lính Tây Tiến không hề bé nhỏ cô đơn mà ngược lại. Kết thúc bức tranh núi rừng tây tiến hoang sơ nhưng hùng vĩ ấy là một hình ảnh thật nên thơ thơ mộng với “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ chỉ toàn thanh bằng khiến người đọc có một cảm giác thật nhẹ nhàng lãng mạn….

    Trong những giây phút dừng chân hiếm hoi, người lính Tây Tiến phóng tầm mắt ra xa tìm kiếm một nơi ấm, một mái nhà ấm áp. Chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng đủ làm dấy lên trong lòng họ ngọn lửa ấm áp. Đó chính là cái đẹp mà văn học mang lại nhưng cái đẹp đó không đơn thuần là ở bên ngoài mà còn tác động đến tầng sâu cảm xúc làm lắng đọng những suy tư. Chính vì vậy, cái đẹp của văn học mới có thể tồn tại.

    Chức năng giáo dục của văn học

    Lý giải văn học với chức năng giáo dục

    Giáo dục chính là một mục đích tuyệt vời của văn học. Chức năng giáo dục của văn học cũng là một trong những điều đặc biệt mà văn học mang lại. Sự giáo dục mà văn học mang lại không đơn thuần là những kiến thức sách vở mà đó là những bài học tác động đến tình cảm, cách ta nhìn nhận thế giới. Vì vậy, bên cạnh nhiều yếu tố khác, văn học chính là một trong những nhân tố giúp con người hình thành tam quan – thế giới quan, nhân sinh quan, giá trị quan.

    Văn học mang đến bài học giáo dục con người theo mỗi cách khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào người đọc giải mã tác phẩm thế nào. Mỗi người có một cách đọc, một cách nhìn nhận và lí giải tác phẩm khác nhau. Nhà văn sẽ mã hóa thông điệp của mình vào một hình ảnh, một chi tiết hay một nhân vật nào đó trong tác phẩm của mình.

    Như khi đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du, ta nhận thấy Nguyễn Du gửi gắm sự đồng cảm đối với những bất công ngang trái mà những người tài hoa bạc mệnh phải gánh chịu. Thúy Kiều là một cô gái tài sắc nhưng phải chịu số phận hẩm hiu không chỉ rời xa gia đình êm ấm, mối tình đầu dang dở nhưng nàng lại phải chịu đựng kiếp làm lẽ, bị người đời chà đạp.

    Đời một người con gái tài hoa cuối cùng lại chỉ đành “khép cửa phòng tu” mà thôi. Bởi lẽ trong một xã hội đầy bất công, thế lực đồng tiền lên ngôi thì con người có tài hoa mấy rồi cuối cùng chỉ dang dở mà thôi. Chính vì vậy đọc truyện Kiều, ta không chỉ xót xa đồng cảm cho số phận của Kiều mà còn cảm thấy chán ghét bức bối trước xã hội thối nát.

    Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, đọc những vần thơ về Kiều ta càng thêm khâm phục tài sắc và cả nhân cách của Kiều. Trân trọng ngợi ca cái đẹp cái tài cũng chính là một cách để thể hiện tấm lòng của tác giả đối với Nhưng bên cạnh đó còn là ước mơ về người anh hùng được gửi gắm qua nhân vật Từ Hải.

    Chức năng giáo dục của văn học thiếu nhi

    Nhưng không chỉ có những tác phẩm lớn mà ngay những tác phẩm văn học thiếu nhi cũng đã hàm chứa chức năng giáo dục. Đó là giáo dục tình yêu thiên nhiên yêu quê hương đất nước. Chỉ một bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa cũng đã đủ để khơi dậy trong lòng người đọc nhiều ý nghĩ

    Chỉ những hình ảnh đó thôi cũng đã khiến mọi người nhớ đến hình ảnh làng quê êm đềm với những hạt gạo mà bác nông dân phải một nắng hai sương xay giã giần sàng.

    Văn học thiếu nhi tuy hướng đến đối tượng chính là thiếu nhi nhưng những bài học tác giả gửi gắm vào đó không hề giản đơn tùy tiện mà luôn chứa một chiều sâu vừa đủ để chạm đến tâm hồn của các độc giả trẻ tuổi cũng như vừa đủ để người lớn khi đọc lại vẫn cảm thấy vỡ lẽ ra nhiều điều thú vị.

    Chỉ vài dòng thơ trong bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân QUỳnh mà ta như sống lại với bao kỷ niệm ấu thơ về người bà hiền hậu tảo tần sớm hôm để lo cho đàn cháu nhỏ dại. Bà thắp lên những ngọn lửa không chỉ soi sáng không gian tăm tối mà còn soi sáng cả cuộc đời cháu…

    Chức năng giao tiếp của văn học

    Văn học bên cạnh chức năng giáo dục, thẩm mỹ còn có chức năng giao tiếp. Chức năng giao tiếp của văn học không trực tiếp cụ thể mặt đối mặt như các kiểu giao tiếp thông thường trong cuộc sống mà nó là sự đối thoại đặc biệt giữa tác giả và người đọc. Tác giả sẽ truyền tải câu chuyện thông điệp vào trong từng trang viết.

    Cuộc đời thi nhân dường như trải ra tâm trạng của người viết cũng được phơi bày một cách trung thực nhất không giấu giếm không lừa dối. Bởi lẽ thơ ca chỉ có thể tác động đến trái tim người đọc khi nó đi ra từ chính trái tim của người viết. Trái tim mới có thể đi đến trái tim. Nếu như những gì anh viết không phải là tình cảm nồng hậu chân thành thì làm sao có thể rung lên ở người đọc vô vàn xúc cảm. Như đọc những vần thơ của Xuân Diệu:

    Hay những vần thơ của Hàn Mặc Tử:

    Nếu đó không phải là những vần thơ xuất phát từ trái tim của thi nhân – một trái tim cô đơn khát khao tìm kiếm tình yêu thì làm sao những vần thơ ấy còn được lưu truyền đến ngày nay. Thời gian là dòng chảy khắc nghiệt nhất phũ phàng nhất có thể hủy hoại hết mọi thứ. Nhưng với tác phẩm văn học, thời gian lại chính là thước đo giá trị chính xác nhất.

    Bởi tác phẩm sẽ còn tồn tại, nhà văn nhà thơ sẽ còn tồn tại đến khi nào người đọc thôi nhớ, thôi xúc động khi đọc tác phẩm. Muốn như thế thì trước hết tác phẩm phải là cái tình của nhà thơ. Đó là lí do vì sau đã hơn nghìn năm nhưng mỗi lần đọc lại những câu ca dao xưa ông bà để lại ta không khỏi xúc động trước một nỗi niềm

    Văn học là thế, không cần những mĩ từ ngợi ca mà nó được người đời tung hô bởi những giá trị tự thân, mà giá trị ấy do nhiều yếu tố hợp thành như nhà văn, tư tưởng của tác phẩm, người đọc,… Một tác phẩm hội tụ đầy đủ những giá trị chwusc năng này ắt hẳn sẽ không phải là một tác phẩm nông cạn, trôi tuột trong kí ức người đọc mà ngược lại sẽ neo đậu trong lòng người đọc bao thế hệ.

    Bản chất và đặc trưng của văn học

    • Đặc trưng về đối tượng phản ánh.
    • Đặc trưng về nội dung phản ánh của văn học.
    • Đặc trưng về phương tiện phản ánh của văn học.
    • Tính phi vật thể của ngôn từ nghệ thuật.

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Văn Học
  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì?
  • Đổi Mới Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước
  • Chức Năng Của Nhà Nước Là Gì ? Cách Phân Loại Chức Năng Của Nhà Nước ?
  • Khái Niệm Chính Sách Xã Hội, Chức Năng Của Chính Sách Xã Hội
  • Phòng Chức Năng Là Gì? Khái Niệm, Chức Năng Phòng Chức Năng

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiểu Đúng Về “suy Giảm Chức Năng Gan”
  • Xét Nghiệm Chức Năng Gan Gồm Những Gì? Hướng Dẫn Xem Các Chỉ Số Xét Nghiệm Gan
  • Bảo Vệ Chức Năng Gan Bằng Xét Nghiệm Got
  • Vai Trò Của Gan Là Gì? Chức Năng Chính Của Gan Trong Cơ Thể?
  • Chức Năng, Vị Trí Của Danh Từ
  • Việc làm Hành chính – Văn phòng

    1. Khái niệm Phòng chức năng là gì?

    Trong tiếng anh phòng chức năng được dịch là Line Department, đây là chỉ những tổ chức bao gồm nhiều cán bộ, nhân viên kinh doanh, kỹ thuật,…được phân công riêng biệt vào các phòng ban theo chuyên môn, phân công theo chuyên môn hóa hoặc sẽ phân công theo các chức năng quản trị.

    Phòng chức năng xuất hiện ở nhiều công ty, doanh nghiệp, bệnh viện,…mang các chức năng chuyên biệt ở từng bộ phận, công ty riêng. Ví dụ: phòng chức năng trong bệnh viện có các phòng như phòng cấp cứu, phòng hồi sức, phòng khám bệnh,…

    Phòng chức năng có nhiệm vụ chung là giúp cấp trên để chuẩn bị các quyết định, theo dõi các phòng ban, cập nhập tình hình các xưởng sản xuất, đốc thúc nhân viên cấp dưới thực hiện công việc kịp thời,… Trách nhiệm của phòng chức năng nói chung là khá nhiều yêu cầu, vừa phải hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, vừa phải liên kết hỗ trợ với các phòng khác để công việc diễn ra suôn sẻ.

    Ngoài ra thì phòng chức năng không có quyền hạn để chỉ huy hay điều động các phòng ban khác trong công ty, doanh nghiệp khi chưa có sự phê duyệt của các cấp lãnh đạo. Một doanh nghiệp có thể có nhiều phòng ban, nhất là với các doanh nghiệp tư nhân tự chủ sản xuất kinh doanh. Việc tự chủ kinh doanh, tự chủ cơ chế quản lý, cơ chế kinh tế, cơ chế quản trị doanh nghiệp giúp các công ty, doanh nghiệp tự do và chủ động hơn trong việc tự tổ chức cơ cấu phòng ban chức năng phù hợp với doanh nghiệp hay công ty của mình.

    2. Các loại phòng chức năng trong doanh nghiệp

    Thông thường trong doanh nghiệp có nhiều phòng ban, mỗi phòng ban lại có một loại chức năng cùng nhiệm vụ khác nhau, tùy vào văn hóa doanh nghiệp cũng như hình thức kinh doanh thì sẽ có những chức năng và tên gọi khác nhau. Tuy nhiên sẽ có những tên gọi chức danh cho một số phòng ban chức năng cơ bản của mô hình doanh nghiệp. Một số phòng chức năng cơ bản trong doanh nghiệp gồm:

    Phòng hành chính sẽ tham dự vào các hoạt động hành chính của công ty, doanh nghiệp như:

    – Tổ chức tham mưu về phòng ban, nhân sự theo mô hình để phù hợp với văn hóa và hình thức kinh doanh cũng như mô hình kinh doanh của doanh nghiệp.

    – Tuyển dụng và phát triển nhân lực, lên kế hoạch phỏng vấn nhân sự.

    – Lưu trữ, bàn giao, các hợp đồng, giấy tờ quan trọng.

    – Phòng hành chính sẽ kiêm chức năng đón tiếp, nhiều doanh nghiệp thì lễ tân sẽ làm việc trong phòng hành chính luôn để đón tiếp khách hàng, đối tác của công ty, doanh nghiệp.

    – Các tài sản của công ty sẽ do phòng hành chính kiểm soát, mua bán, sửa chữa cũng như bảo dưỡng các tài sản cố định.

    2.2. Phòn g kinh doanh

    Đây là bộ phận, phòng chức năng mà hầu hết các doanh nghiệp đều có, phòng kinh doanh là phòng mang lại kinh tế chủ lực cho doanh nghiệp. Vì vậy phòng kinh doanh sẽ có những chức năng như:

    – Tổ chức chiến lược. tham mưu với lãnh đạo về đường hướng phát triển của doanh nghiệp để đẩy mạnh nền tảng kinh doanh, mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    – Kế hoạch phát triển của công ty sẽ do phòng kinh doanh xây dựng và sẽ có mục tiêu, chiến lược để phát triển rõ ràng, theo thời gian, có kế hoạch nhất định.

    – Đảm bảo sự vận hành giữa các bộ phận có sự thống nhất bằng việc giám sát cũng như kiểm tra chất lượng công việc của bộ phận khác.

    – Quyền hạn và trách nghiệm nghiên cứu cũng như đề xuất các chiến lược kinh doanh với cấp trên.

    – Chọn lựa, tham mưu với cấp trên về đối tác để chọn lựa đối tác phù hợp nhất, nhằm lựa chọn đối tác để liên kết phù hợp.

    – Dựa vào tình hình kinh doanh để lên kế hoạch mua sắm các trang thiết bị, máy móc phục vụ cho công việc thuận lợi hơn.

    – Báo cáo về tình hình kinh doanh, tiến độ thực hiện chiến lược, kế hoạch của bộ phận để có những phương án thay thế và hoàn thiện hơn.

    – Nghiên cứu về đối thủ, về thị trường phát triển của doanh nghiệp, nghiên cứu đường hướng phát triển phù hợp.

    Phòng kinh doanh cũng là một trong những phòng chức năng trong doanh nghiệp, đây là phòng gần như quan trọng nhất trong doanh nghiệp.

    Đây là phòng có thể được coi là cầm tài sản của công ty, doanh nghiệp. Nhiệm vụ chính của phòng kế toán có chức năng riêng biệt với các phòng ban khác. Chức năng của phòng kế toán gồm:

    – Nắm bắt tình hình tài chính của doanh nghiệp từ đó xây dựng hệ thống kế toán phù hợp, cách làm việc sao cho phù hợp với văn hóa doanh nghiệp.

    – Đóng thuế, theo dõi, cập nhập nội dung liên tục đến các loại chính sách nhằm đáp ứng đúng theo quy định pháp luật.

    – Kiểm soát sát sao các dòng tiền, đầu vào cũng như đầu ra tiền của công ty.

    – Báo cáo tài chính doanh nghiệp cho cấp trên, thông báo về nguồn tiền, các khoản chi tiêu cũng như tình hình lỗ, lại của doanh nghiệp.

    – Tham mưu với cấp trên để thay đổi tích cực tình hình tài chính của công ty.

    – Giải quyết lương, chế độ cho nhân viên. Các chế độ như thai sản, ốm đau, các loại thưởng,…

    – Quản lý công nợ, doanh thu, tài sản lưu động cũng như tài sản cố định, hàng tồn,…

    Vì tính chất đặc trưng của phòng kế toán, mà nhân viên trong phòng kế toán thường sẽ phải chịu áp lực cao từ công việc. Công việc trong phòng kế toán cần rõ ràng, chính sách và có sổ sách kèm theo.

    Ở một số công ty hoặc doanh nghiệp nhỏ không có văn phòng to hoặc sẽ mở chi nhánh nhưng không đủ nhân lực nên lựa chọn hình thức văn phòng đại diện. Văn phòng đại diện thông thường sẽ có nhân viên trực và đón tiếp khi có khách đến.

    Chức năng của văn phòng đại diện là:

    – Đón tiếp khách hàng đến văn phòng.

    – Nghiên cứu thị trường cũng như sự phát triển cho doanh nghiệp tại nơi đặt văn phòng đại diện.

    – Thực hiên, hỗ trợ, giải quyết các hợp đồng đã ký và giải quyết vấn đề còn tồn đọng.

    – Xây dựng, phát triển, quảng bá, truyền tải phủ rộng thương hiệu của doanh nghiệp.

    – Tuyển dụng nhân sự cho văn phòng đại diện sao cho hợp lý với công việc của doanh nghiệp.

    Văn phòng đại diện thường có cơ cấu tổ chức đơn giản nhất trong những văn phòng trong doanh nghiệp.

    Việc làm Kế toán – Kiểm toán

    3. Các bước tổ chức hình thành phòng chức năng

    Công tác tổ chức để hình thành lên các phòng chức năng cho doanh nghiệp cần sự chuyên nghiệp, chuyên môn cao và phải được tiến hành theo quy trình các bước nhất định. Các bước để tổ chức hình thành phòng chức năng gồm:

    Việc phân tích sự phù hợp, chức năng, nhiệm vụ của mỗi bộ phận hết sức quan trọng. Dựa vào bước đầu sẽ giúp cho doanh nghiệp hình thành được các công việc cụ thể, phân công công việc cho từng bộ phận, đúng chức năng.

    Việc lập sơ đồ tổ chức doanh nghiệp sẽ nhằm mục đích mô hình hóa mối quan hệ giữa các phòng chức năng trong doanh nghiệp với nhau, giữa các phòng chức năng với giám đốc, phó giám đốc.

    Việc lập sơ đồ tổ chức còn có nhiệm vụ là ghi rõ chức năng mà mỗi phòng ban cần phụ trách thực hiện để tránh trường hợp sai nhiệm vụ, chồng chéo dẫm đạp lên hoặc không có bộ phận nào nhận nhiệm vụ, đùn đẩy trách nhiệm.

    Căn cứ vào số lượng cán bộ, công nhân viên của mỗi phòng ban để thiết chặt quản lý, giảm thiểu chi phí không hữu ích. Công việc sẽ bao gồm tính toán, xác định chính xác cán bộ số lượng mỗi phòng ban, hoạch định kế hoạch tuyển dụng để cân bằng nhân sự giữa các phòng ban.

    Việc tính toán chính xác số lượng công nhân viên mỗi phòng chức năng giúp cho mỗi bộ phận sẽ vừa đủ nhân lực để hoàn thành công việc một cách khoa học và hiệu quả, đảm bảo mỗi phòng ban hoàn thành tốt nhiệm vụ, trách nhiệm của mỗi phòng ban, giảm bớt tỉ lệ nhân viên quản trị, chi phí quản lý cũng sẽ được giảm tới tối đa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ban Tổng Giám Đốc Tiếng Anh Là Gì Và Những Bạn Cần Biết!
  • Thực Phẩm Chức Năng Tiếng Anh Là Gì? Ví Dụ Sử Dụng?
  • Thực Phẩm Chức Năng Tiếng Anh Là Gì?
  • Chức Năng Ngữ Pháp Trong Tiếng Anh Là Gì?
  • Top Phần Mềm Dịch Ngôn Ngữ Trên Máy Tính
  • Ram Là Gì? Chức Năng Của Ram Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Ram Là Gì? Những Hiểu Biết Cơ Bản Về Ram Máy Tính
  • Ram Là Gì? Nguyên Tắc Hoạt Động Của Ram Trong Máy Tính Như Nào?
  • Cách Xem Bus Của Ram, Main, Cpu Máy Tính, Laptop Bằng Cpu
  • Những Loài Rùa Lạ Nhất Thế Giới
  • Phương Pháp Giao Dịch Con Rùa (Turtle Trading) Là Gì? Đặc Điểm
  • RAM là gì?

    RAM (Random Access Memory) được định nghĩa một cách ngắn gọn là một bộ nhớ tạm của máy tính giúp lưu trữ thông tin hiện hành để CPU có thể truy xuất và xử lý. RAM không thể lưu trữ được dữ liệu khi ngừng cung cấp nguồn cho nó. Nếu như máy tính bị mất nguồn, tắt máy thì dữ liệu trên Ram sẽ bị xóa sạch.

    Dữ liệu trên RAM được lưu trên từng ô nhớ và mỗi ô nhớ đều có địa chỉ khác nhau và tốc độ đọc và ghi dữ liệu trên từng ô nhớ là bằng nhau. Nếu RAM càng lớn thì lượng công việc nó giải quyết được càng nhiều, chính vì vậy bộ nhớ RAM lớn có tốc xử lý cao hơn.

    Một máy tính mà có bộ nhớ RAM lớn thì có thể xử lý nhiều công việc khác nhau mà không gây nên tình trạng bị giật lag. Hiện nay có nhiều loại RAM có cấu tạo và dung lượng khác nhau.

    Như định nghĩ phía trên thì bộ nhớ ram càng lớn thì khả năng xử lý đa nhiệm, ram là một trong những yếu tố quyết định đến sức mạnh của một chiếc máy tính. Vậy các loại RAM phổ biến hiện nay là gì? Đây là phần tiếp theo mà chúng tôi muốn chia sẻ đến cho các bạn.

    Về cấu tạo, thì RAM được chia làm 2 loại chính, cụ thể là:

    • RAM tĩnh: Còn gọi là SRAM (Static Random Access Memory) sản xuất theo công nghệ điện hóa phát quang ECL. SRAM là nơi lưu trữ dữ liệu để khởi động laptop, SRAM là bộ nhớ nhanh và không bị mất nội dung sau khi được nạp. Có nghĩa là SRAM là một nơi lưu trữ các tập tin của CMOS dùng cho việc khởi động máy.

    • RAM động: Còn gọi là DRAM (Dynamic Random Access Memory) khác với RAM tĩnh thì những dữ liệu của DRAM sẽ bị mất sau và phải nạp lại dữ liệu theo chu kỳ. Vì việc ghi nhớ dữ liệu dựa vào việc duy trì điện tích nạp vào tụ điện và như vậy việc đọc một bit nhớ làm nội dung bit này bị hủy. Đây cũng là điều mà giải thích vì sao mỗi khi tắt nguồn máy tính là bộ nhớ RAM bị xóa sạch. Vậy mỗi lần đọc và ghi thì bộ nhớ này phải viết lại nội dung ở ô nhớ đó.

    Có nhiều thế hệ RAM phổ biến trên Laptop, chúng được thiết kế dành cho Laptop và được phân loại như sau:

    SDR là chuẩn RAM đầu tiên xuất hiện trên những chiếc máy tính khoảng vào những năm cuối thế kỷ 20. Nhược điểm của loại RAM này là tốc độ truy xuất khá chậm, và dung lượng bộ nhớ tích hợp nhỏ. Chuẩn RAM SDR ngày nay không còn được sử dụng nữa và được thay bởi các chuẩn RAM mới có tốc độ truy xuất tối ưu và dung lượng bộ nhớ ram lớn hơn.

    DDR2 là phiên bản nâng cấp của DDR, nên DDR2 có khả năng xử lý và dung lượng bộ nhớ tích hợp cao hơn nhiều. Ngoài ra DDR2 còn giúp tiết kiệm một lượng điện năng tiêu thụ đáng kể. Có nghĩa là mọi nhược điểm của DDR đều được DDR2 khắc phục. Loại RAM này xuất hiện thay thế vào những năm 2003-2009.

    DDR3 xuất hiện vào năm 2010, mặc dù chuẩn RAM này đã được nghiên cứu từ năm 2007. Đây là chuẩn RAM nâng cấp và cải thiện từ DDR2 và đã cho tốc độ truy xuất nhanh hơn, dung lượng bộ nhớ lớn hơn, tiết kiệm năng lượng hơn 30% so với chuẩn DDR2 trước đây. Điều này đã làm cho DDR3 trở nên phổ biến và sử dụng rộng rãi cho đến nay.

    Vào năm 2022 thì chuẩn RAM DDR4 xuất hiện. Đây là chuẩn RAM mạnh mẽ nhất cho đến nay. Với xung nhịp hơn hơn nên cho tốc độ xử lý vượt trội. Dung lượng RAM có thể tích hợp lên đến 512GB. DDR4 hỗ trợ các chuẩn bao gồm 1600MHz, 1866MHz, 2133 MHz, 2400 MHz, 2666 MHz, 3200 MHz và cuối cùng là 4266 MHz.

      Tại sao bạn có thể tăng bộ nhớ RAM trên Windows 10?

    ReadyBoost là một trong những tính năng mới đã được giới thiệu trong phiên bản Windows Vista. Nhờ có tính năng này mà người dùng có thể tăng bộ nhớ RAM lên. Tính năng này đã được rất nhiều người quan tâm, cho phép sử dụng một ổ đĩa flash (USB) thành RAM ảo để giúp cải thiện tốc độ và hiệu suất cho máy tính. Đây là điều đã được chứng thực, kiểm nghiệm và để thực hiện được điều này thì cần có các yếu tố sau:

    Như đã nói thì tính năng ReadyBoost sẽ giúp cải thiện tốc độ và hiệu suất máy. Vậy sau đây là các bước có thể kích hoạt ReadyBoost nhanh nhất.

    Bước 1: Kết nối thiết bị USB hoặc thẻ nhớ vào máy tính

    Bước 2: Ngay lúc đó sẽ có bảng AutoPlay xuất hiện, bạn hãy nhấn vài tùy chọn Speed up my system. Hoặc không thì bạn cần phải nhấn chuột phải vào tên USB, chọn Properties và nhấn vào tab ReadyBoost.

      Hướng dẫn vô hiệu hóa tính năng ReadyBoost

    Bước 1: Kết nối thiết bị USB hoặc thẻ nhớ vào máy tính

    Bước 2: Nhấn chuột phải vào tên USB và chọn Format

    Như vậy bạn sẽ vô hiệu hóa tính năng ReadyBoost một cách đơn giản nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sầu Riêng Ri6 Và Sầu Riêng Monthong Có Gì Khác Biệt?
  • Đặc Điểm Lợi Ích Của Sầu Riêng Ri6
  • Giống Sầu Riêng Ri6 Trái Sai Đạt Tiêu Chuẩn Xuất Khẩu
  • Rúng Động Rắn Hổ Mây Khổng Lồ Xuất Hiện Ở Rừng Ngập Mặn Vĩnh Châu
  • Rắn Hổ Mây Là Loại Rắn Gì?
  • Đối Tượng, Phương Pháp Và Chức Năng Của Kinh Tế Chính Trị Mác

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Cơ Bản Của Gia Đình Là Gì ? Các Chức Năng Xã Hội Cơ Bản Của Gia Đình ?
  • Xem Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất
  • Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất Cac Chuc Nang Cua Giao Duc Doc
  • Phân Tích Các Chứng Năng Xã Hội Của Giáo Dục
  • Các Chức Năng Của Pháp Luật, Liên Hệ Thực Tiễn Việt Nam Hiện Nay
  • Đối tượng của kinh tế chính trị Mác – Lênin

    Lịch sử cho thấy quá trình hình thành và phát triển môn kinh tế chính trị có những nhận thức khác nhau về đối tượng nghiên cứu. Chủ nghĩa trọng thương cho rằng, đối tượng nghiên cứu của môn kinh tế chính trị là lĩnh vực lưu thông mà chủ yếu là ngoại thương. Chủ nghĩa trọng nông chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, nhưng lại chỉ giới hạn ở sản xuất nông nghiệp. Kinh tế chính trị tư sản cổ điển xác định kinh tế chính trị là khoa học khảo sát về bản chất và nguyên nhân của sự giàu có, có những phát hiện nhất định về những quy luật kinh tế chi phối nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng lại coi các quy luật của chủ nghĩa tư bản là quy luật của quá trình lao động nói chung của loài người, phủ định tính chất lịch sử của chủ nghĩa tư bản. Một số nhà kinh tế học hiện đại ở các nước tư bản chủ nghĩa lại tách chính trị khỏi kinh tế, biến kinh tế chính trị thành khoa học kinh tế thuần tuý, che đậy quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và mâu thuẫn giai cấp trong chủ nghĩa tư bản.

    Quan niệm của chủ nghĩa Mác về đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị được thể hiện rõ trong tác phẩm Chống Đuyrinh của Ph.Ăngghen. Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh: “Kinh tế chính trị học, theo nghĩa rộng nhất, là khoa học về những quy luật chi phối sự sản xuất và sự trao đổi những tư liệu sinh hoạt vật chất trong xã hội loài người… Những điều kiện trong đó người ta sản xuất sản phẩm và trao đổi chúng, đều thay đổi tuỳ từng nước, và trong mỗi nước, lại thay đổi tuỳ từng thế hệ. Bởi vậy không thể có cùng một môn kinh tế chính trị duy nhất cho tất cả mọi nước và cho tất cả mọi thời đại lịch sử được… Vậy môn kinh tế chính trị, về thực chất là một môn khoa học có tính chất lịch sử. Nó nghiên cứu tư liệu có tính chất lịch sử, nghĩa là một tư liệu luôn luôn thay đổi; nó nghiên cứu trước hết là những quy luật đặc thù của từng giai đoạn phát triển của sản xuất và của trao đổi, và chỉ sau khi nghiên cứu như thế xong xuôi rồi nó mới có thể xác định ra một vài quy luật hoàn toàn có tính chất chung, thích dụng, nói chung, cho sản xuất và trao đổi… Chẳng hạn như việc dùng tiền kim loại đã làm cho một loạt quy luật phát huy tác dụng, những quy luật này có hiệu lực cho bất cứ nước nào và bất cứ giai đoạn lịch sử nào mà tiền kim loại được dùng làm phương tiện trao đổi”

    .

    Phương thức phân phối sản phẩm cũng phụ thuộc vào phương thức sản xuất và trao đổi của một xã hội nhất định trong lịch sử, vào những tiền đề lịch sử của xã hội đó. Tuy vậy, phân phối không chỉ đơn thuần là một kết quả thụ động của sản xuất và trao đổi, nó cũng có tác động trở lại đối với sản xuất và trao đổi.

    Theo nghĩa hẹp, kinh tế chính trị nghiên cứu sự phát sinh, phát triển của một phương thức sản xuất nhất định và tính tất yếu của sự thay thế phương thức sản xuất đó bằng một phương thức sản xuất cao hơn. Tác phẩm Tư bản của C. Mác là một kiểu mẫu về kinh tế chính trị theo nghĩa hẹp, trong đó phân tích sự phát sinh, phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nêu lên những nhân tố phủ định của chủ nghĩa tư bản và sự chuẩn bị những tiền đề cho sự ra đời của phương thức sản xuất mới. Trong lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất tác phẩm này, C. Mác đã xác định đối tượng nghiên cứu là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và những quan hệ sản xuất và trao đổi thích ứng với phương thức ấy và mục đích cuối cùng của tác phẩm này là tìm ra quy luật vận động kinh tế của xã hội hiện đại.

    V.I. Lênin cũng xác định: Kinh tế chính trị “tuyệt nhiên không nghiên cứu “sự sản xuất” mà nghiên cứu những quan hệ xã hội giữa người với người trong sản xuất, nghiên cứu chế độ xã hội của sản xuất” và phê phán quan điểm cho rằng kinh tế chính trị là khoa học về kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa.

    Như vậy, kinh tế chính trị nghiên cứu quan hệ xã hội của con người hình thành trong quá trình sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất và vạch rõ những quy luật điều tiết sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng những của cải đó trong những trình độ nhất định với sự phát triển xã hội loài người. Tóm lại, đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là phương thức sản xuất hay nói cách khác là nó nghiên cứu các quan hệ sản xuất trong mối liên hệ và sự tác động lẫn nhau với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng.

    Các quan hệ sản xuất phải phù hợp một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến sự biến đổi của quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất, đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.

    Kinh tế chính trị không nghiên cứu bản thân đối tượng lao động và tư liệu lao động mà nghiên cứu việc phát triển lực lượng sản xuất trong mức độ làm rõ sự phát triển của quan hệ sản xuất do sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định. Nó cũng không nghiên cứu bản thân của cải vật chất, mà nghiên cứu quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng những của cải này.

    Kinh tế chính trị cũng quan tâm đến mối liên hệ giữa quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng, bởi vì các quan hệ sản xuất là cơ sở của kiến trúc thượng tầng và kiến trúc thượng tầng, nhất là quan hệ chính trị, pháp luật, v.v. tác động trở lại quan hệ sản xuất và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, biểu hiện rõ nhất là vai trò kinh tế của nhà nước trong xã hội hiện đại.

    Kinh tế chính trị nghiên cứu quan hệ sản xuất trong mối liên hệ và tác động với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng, nhưng không phải là nghiên cứu những biểu hiện bề ngoài của các hiện tượng kinh tế mà đi sâu vạch rõ bản chất, tìm ra những mối liên hệ và sự lệ thuộc bên trong của các hiện tượng và quá trình kinh tế trên cơ sở đó hình thành các phạm trù và khái niệm như hàng hoá, tiền tệ, tư bản, thu nhập quốc dân, v.v.. Kết quả cao nhất của sự phân tích khoa học các quan hệ sản xuất, các quá trình kinh tế nói chung là phát hiện ra các quy luật, tính quy luật kinh tế và sự tác động của chúng nhằm mục đích ứng dụng một cách có hiệu quả trong thực tiễn.

    Quy luật kinh tế phản ánh những mối liên hệ nhân quả bản chất, tất yếu, thường xuyên lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế. Cũng như các quy luật tự nhiên, các quy luật kinh tế có tính khách quan, không lệ thuộc vào ý chí và nhận thức chủ quan của con người. Nhưng, khác với quy luật tự nhiên, quy luật kinh tế chỉ xuất hiện trong quá trình hoạt động kinh tế của con người. Vì vậy quy luật kinh tế có tính lịch sử, nó chỉ tồn tại trong những điều kiện lịch sử nhất định. Có những quy luật kinh tế tồn tại trong mọi phương thức sản xuất, gọi là quy luật chung (như quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, quy luật tiết kiệm thời gian, quy luật nâng cao nhu cầu, v.v.). Lại có những quy luật kinh tế chỉ tác động trong một số hình thái kinh tế – xã hội nhất định, như quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, v.v., đó là những quy luật đặc thù.

    Cần chú ý rằng, quy luật kinh tế và chính sách kinh tế là hai vấn đề khác nhau.

    Chính sách kinh tế là tổng thể các biện pháp kinh tế của nhà nước nhằm tác động vào các ngành kinh tế theo những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định. Nó là một khái niệm thuộc hoạt động chủ quan của nhà nước. Khi tình hình kinh tế thay đổi thì chính sách kinh tế cũng thay đổi theo. Nó có thể được nhà nước sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện sau khi đã được ban hành. Nghiên cứu kinh tế chính trị chưa phải là nghiên cứu chính sách kinh tế, nhưng việc nghiên cứu các chính sách kinh tế đòi hỏi phải nghiên cứu kinh tế chính trị, dựa trên cơ sở khoa học của kinh tế chính trị.

    Cần phân biệt kinh tế chính trị với các môn kinh tế khác, cụ thể như: kinh tế phát triển, kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp. Giữa kinh tế chính trị và các bộ môn nói trên có sự khác nhau về trình độ khái quát hoá. Những nguyên lý và những quy luật kinh tế do kinh tế chính trị phát hiện có ý nghĩa phổ biến đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân, có thể ứng dụng trong các ngành và các cơ sở kinh tế. Còn những kết luận, những nguyên lý của các bộ môn kinh tế khác chỉ có thể ứng dụng trong phạm vi ngành hoặc những đơn vị kinh tế thuộc ngành đó.

    Kinh tế chính trị là bộ môn khoa học cơ bản, cung cấp những nguyên lý lý luận cho các bộ môn khoa học kinh tế khác. Đồng thời, nó định hướng cho các hoạt động thực tiễn kinh tế. Ý nghĩa thực tiễn và sức sống của kinh tế chính trị thể hiện ở chỗ các phạm trù, quy luật, nguyên lý của nó phản ánh sát thực tiễn kinh tế – xã hội của đất nước.

    Cần có sự nhận thức đúng về sự giống nhau giữa kinh tế chính trị Mác- Lênin và kinh tế học. Không ít người đã đối lập một cách cực đoan hai môn khoa học này. Nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế cho thấy hai môn khoa học này có chung một nguồn gốc, hay nói khác, đều nằm trong dòng phát triển của lịch sử các học thuyết kinh tế. Trong dòng lịch sử đó, kinh tế học là một nhánh “phái sinh” của kinh tế chính trị tư sản, nên nó chịu ảnh hưởng của A. Smith và D. Ricardo và thích ứng với yêu cầu lịch sử cụ thể của chủ nghĩa tư bản.

    Ưu điểm của kinh tế chính trị Mác – Lênin ở chỗ phát hiện những nguyên lý chung và những quy luật trừu tượng chi phối quá trình sản xuất xã hội. Còn kinh tế học tuy phiến diện nhưng lại có ưu điểm là vận dụng phương pháp tiếp cận tình huống (case study) và minh hoạ bằng đồ thị, biểu đồ gắn với những hiện tượng cụ thể diễn ra trên bề mặt xã hội. Bởi vậy, không nên đối lập một cách cực đoan kinh tế học với kinh tế chính trị Mác – Lênin. Thái độ đúng đắn nhất là nắm vững những nguyên lý của kinh tế chính trị Mác – Lênin, coi đó là nền tảng phương pháp của các môn khoa học kinh tế khác, và tiếp thu có phê phán, có chọn lọc những thành tựu khoa học của kinh tế học làm phong phú thêm kinh tế chính trị Mác – Lênin. C. Mác đã khẳng định học thuyết của mình là hệ thống kinh tế chính trị “mở” biện chứng và phát triển không ngừng.

    Phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin

    Để nhận thức hiện thực khách quan và tái hiện đối tượng nghiên cứu vào tư duy, cấu thành một hệ thống những phạm trù và quy luật, khoa học kinh tế chính trị cũng sử dụng phép biện chứng duy vật và những phương pháp khoa học chung như mô hình hoá các quá trình và hiện tượng nghiên cứu, xây dựng các giả thuyết, tiến hành thử nghiệm, quan sát thống kê, trừu tượng hoá, phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống… Đó là những phương pháp được sử dụng cả trong khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Tuy nhiên, khác với các môn khoa học tự nhiên, kinh tế chính trị không thể tiến hành các phương pháp thực nghiệm trong phòng thí nghiệm mà chỉ có thể thử nghiệm trong đời sống hiện thực, trong các quan hệ xã hội hiện thực. Các thử nghiệm về kinh tế đụng chạm đến lợi ích của con người, vì vậy kiểm tra những giải pháp, thử nghiệm cụ thể chỉ được tiến hành trong những phạm vi rất hạn chế. Do vậy, phương pháp quan trọng của kinh tế chính trị là trừu tượng hoá khoa học. Phương pháp trừu tượng hoá khoa học đòi hỏi gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiên xảy ra trong những quá trình và những hiện tượng được nghiên cứu, tách ra những cái điển hình, bền vững, ổn định trong những hiện tượng và quá trình đó, trên cơ sở ấy nắm được bản chất của các hiện tượng, từ bản chất cấp một tiến đến bản chất ở trình độ sâu hơn, hình thành những phạm trù và những quy luật phản ánh những bản chất đó. Vấn đề quan trọng hàng đầu trong phương pháp này là giới hạn của sự trừu tượng hoá. Việc loại bỏ những cái cụ thể nằm trên bề mặt của cuộc sống phải bảo đảm tìm ra được mối quan hệ bản chất giữa các hiện tượng dưới dạng thuần tuý nhất của nó; đồng thời phải bảo đảm không làm mất nội dung hiện thực của các quan hệ được nghiên cứu; không được tuỳ tiện, loại bỏ cái không được phép loại bỏ, hoặc ngược lại, giữ lại cái đáng loại bỏ. Giới hạn trừu tượng hoá cần thiết và đầy đủ này được quy định bởi chính đối tượng nghiên cứu. Thí dụ, để vạch ra bản chất của chủ nghĩa tư bản hoàn toàn có thể và cần phải trừu tượng hoá sản xuất hàng hoá nhỏ, mặc dù nó thực sự tồn tại với mức độ ít hoặc nhiều ở tất cả các nước tư bản chủ nghĩa, nhưng không được trừu tượng hoá bản thân quan hệ hàng hoá – tiền tệ, bởi vì tư bản lấy quan hệ hàng hoá – tiền tệ làm hình thái tồn tại của mình; hơn nữa, càng không được trừu tượng hoá việc chuyển hoá sức lao động thành hàng hoá, bởi vì không có hàng hoá – sức lao động thì chủ nghĩa tư bản không còn là chủ nghĩa tư bản nữa.

    Trừu tượng hoá khoa học gắn liền với quá trình nghiên cứu đi từ cụ thể đến trừu tượng, nhờ đó nêu lên những khái niệm, phạm trù và vạch ra những mối quan hệ giữa chúng, phải được bổ sung bằng một quá trình ngược lại – đi từ trừu tượng đến cụ thể. Cái cụ thể này không còn là những hiện tượng hỗn độn, ngẫu nhiên mà là bức tranh có tính quy luật của đời sống xã hội.

    Phương pháp trừu tượng hoá khoa học cũng đòi hỏi gắn liền với phương pháp kết hợp lôgíc với lịch sử.

    Bởi lẽ, lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình tư duy lôgíc cũng phải bắt đầu từ đó. Theo cách nói của Ph. Ăngghen, sự vận động tiếp tục của nó chẳng qua là sự phản ánh quá trình lịch sử dưới một hình thái trừu tượng và nhất quán về lý luận. Nó là sự phản ánh đã được uốn nắn, nhưng uốn nắn theo những quy luật mà bản thân quá trình lịch sử hiện thực đã cung cấp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cn 12 Mạch Tạo Xung
  • Vì Sao Xung Đột Hình Thành Trong Các Tổ Chức Mức Độ Xung Đột Ảnh Hưởng Như Thế Nào Đến Năng Suất Của Tổ Chức Giải Quyết Xung Đột Như Thế Nào
  • Xung Đột (Conflict) Là Gì? Các Bước Giải Quyết Xung Đột
  • Wirelesss Access Point Là Gì? Wireless Router Là Gì?
  • Access Point Là Gì? Ưu Điểm Của Access Point
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100