Đoạn Văn Là Gì, Cách Viết Đoạn Văn

--- Bài mới hơn ---

  • Cách Viết Đoạn Văn Nghị Luận Xã Hội Chuẩn Cấu Trúc 6 Bước
  • Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép Adn
  • Bài 01: Xml Là Gì? Cú Pháp Căn Bản Của Xml
  • File Xml Là Gì Và Cách Mở Nó Như Thế Nào?
  • File Xml Là Gì? Đọc File Xml Bằng Cách Nào?
  • I. Thế nào là đoạn văn?

    Khái niệm đoạn văn ở trường phổ thông hiện nay được hiểu theo nhiều cách khác nhau:

    – Cách hiểu thứ nhất (đoạn ý): Đoạn văn được dùng với ý nghĩa để chỉ sự phân đoạn nội dung, phân đoạn ý của văn bản. Một văn bản bao gồm nhiều đoạn văn: Đoạn mở đầu văn bản, những đoạn khai triển văn bản, đoạn kết thúc văn bản. Mỗi đoạn phải có sự hoàn chỉnh nhất định nào đó về mặt ý, về mặt nội dung. Nhưng thế nào là một nội dung, một ý hoàn chỉnh thì không có tiêu chí để xác định rõ ràng. Một văn bản, tuỳ theo người đọc cảm nhận mà phân chia ra thành các đoạn, sự phân chia có thể không thống nhất giữa những người đọc: có người chia theo ý lớn, có người chia theo ý nhỏ. Ý lớn là đoạn bài có hai hoặc ba ý nhỏ được khai triển từ ý lớn, bao gồm hai hoặc ba đoạn văn ngắn, mỗi đoạn ngắn đó là một ý nhỏ, các đoạn này hợp ý với nhau thành một ý lớn; ý nhỏ là ý được khai triển từ ý lớn, về mặt nội dung chỉ triển khai theo một phương diện, một hướng cụ thể, mỗi ý nhỏ là một đoạn.

    Cách hiểu này khiến cho cách phân đoạn thiếu tính khách quan. Với cách hiểu này, diện mạo đoạn văn không được xác định (đoạn văn bắt đầu từ đâu, như thế nào, các câu văn trong đoạn có mối liên kết với nhau như thế nào,…) cho nên việc xây dựng đoạn văn trở nên khó khăn, phức tạp, khó rèn luyện các thao tác để trở thành kĩ năng kĩ xảo.

    – Cách hiểu thứ hai (đoạn lời): Đoạn văn được hiểu là sự phân chia văn bản thành những phần nhỏ, hoàn toàn dựa vào dấu hiệu hình thức: một đoạn văn bao gồm những câu văn nằm giữa hai dấu chấm xuống dòng.

    Cách hiểu này không tính tới tiêu chí nội dung, cơ sở ngữ nghĩa của đoạn văn. Với cách hiểu này, việc rèn luyện xây dựng đoạn văn càng trở nên mơ hồ, khó xác định vì đoạn văn không được xây dựng trên một cơ sở chung nào vì hình thức bao giờ cũng phải đi đôi với nội dung, bao chứa một nội dung nhất định và phù hợp với nội dung mà nó bao chứa.

    – Cách hiểu thứ ba (đoạn văn xét thao cả hai tiêu chí về ý và về lời): Đoạn văn vừa là kết quả của sự phân đoạn văn bản về nội dung ( dựa trên cơ sở logic ngữ nghĩa) vừa là kết quả của sự phân đoạn về hình thức ( dựa trên dấu hiệu hình thức thể hiện văn bản).

    Về mặt hình thức: đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh. Sự hoàn chỉnh đó thể hiện ở những điểm sau: mỗi đoạn văn bao gồm một số câu văn nằm giữa hai dấu chấm xuống dòng, có liên kết với nhau về mặt hình thức, thể hiện bằng các phép liên kết; mỗi đoạn văn khi mở đầu, chữ cái đầu đoạn bao giờ cũng được viết hoa và viết lùi vào so với các dòng chữ khác trong đoạn.

    Đây là cách hiểu hợp lí, thoả đáng hơn cả giúp người đọc nhận diện đoạn văn trong văn bản một cách nhanh chóng, thuận lợi đồng thời giúp người viết tạo lập văn bản bằng cách xây dựng từng đoạn văn được rõ ràng, rành mạch.

    Ví dụ về đoạn văn:

    “Vì ông lão yêu làng tha thiết nên vô cùng căm uất khi nghe tin dân làng theo giặc(1). Hai tình cảm tưởng chừng mâu thuẫn ấy đã dẫn đến một sự xung đột nội tâm dữ dội( 2). Ông Hai dứt khoát lựa chọn theo cách của ông: Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù( 3). Đây là một nét mới trong tình cảm của người nông dân thời kì đánh Pháp(4). Tình cảm yêu nước rộng lớn hơn đã bao trùm lên tình cảm đối với làng quê(5). Dù đã xác định như thế, nhưng ông Hai vẫn không thể dứt bỏ tình yêu đối với quê hương; vì thế mà ông xót xa cay đắng”(6).

    Về nội dung:

    – Chủ đề của đoạn văn trên là: tâm trạng mâu thuẫn của ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc. Chủ đề này tập trung khái quát ở câu 1, 2.

    – Đoạn văn trên có ba phần:

    Về hình thức:

    – Đoạn văn trên được tạo thành bằng 6 câu văn được liên kết với nhau bằng các phép liên kết hình thức: phép thế, phép lặp.

    – Đoạn văn trên được viết giữa hai dấu chấm xuống dòng, chữ cái đầu đoạn được viết lùi vào một chữ và viết hoa.

    II. Một số kiểu đoạn văn thường gặp.

    Trong văn bản, nhất là văn nghị luận, ta thường gặp những đoạn văn có kết cấu phổ biến: quy nạp, diễn dịch, tổng phân hợp; bên cạnh đó là đoạn văn có kết cấu so sánh, nhân quả, vấn đáp, đòn bẩy, nêu giả thiết, hỗn hợp,…

    1. Đoạn diễn dịch.

    Ví dụ: Đoạn văn diễn dịch, nội dung nói về cá tính sáng tạo trong sáng tác thơ:

    “Sáng tác thơ là một công việc rất đặc biệt, rất khó khăn, đòi hỏi người nghệ sĩ phải hình thành một cá tính sáng tạo(1).Tuy vậy, theo Xuân Diệu – tuyệt nhiên không nên thổi phồng cái cá biệt, cái độc đáo ấy lên một cách quá đáng(2). Điêù ấy không hợp với thơ và không phải phẩm chất của người làm thơ chân chính(3). Hãy sáng tác thơ một cách tự nhiên, bình dị, phải đấu tranh để cải thiện cái việc tự sáng tạo ấy không trở thành anh hùng chủ nghĩa(4) .Trong khi sáng tác nhà thơ không thể cứ chăm chăm: mình phải ghi dấu ấn của mình vào trong bài thơ này, tập thơ nọ(5). Chính trong quá trình lao động dồn toàn tâm toàn ý bằng sự xúc cảm tràn đầy, có thể nhà thơ sẽ tạo ra được bản sắc riêng biệt một cách tự nhiên, nhà thơ sẽ biểu hiện được cái cá biệt của mình trong những giây phút cầm bút”(6)..

    2. Đoạn quy nạp.

    Đoạn văn quy nạp là đoạn văn được trình bày đi từ các ý chi tiết, cụ thể nhằm hướng tới ý khái quát nằm ở cuối đoạn. Các câu trên được trình bày bằng thao tác minh hoạ, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánh giá chung.

    Ví dụ: Đoạn văn quy nạp, nội dung nói về đoạn kết bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu.

    Chính Hữu khép lại bài thơ bằng một hình tượng thơ:

    Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo(1).

    Đêm khuya chờ giặc tới, trăng đã xế ngang tầm súng(2). Bất chợt chiến sĩ ta có một phát hiện thú vị: Đầu súng trăng treo(3). Câu thơ như một tiếng reo vui hồn nhiên mà chứa đựng đầy ý nghĩa(4). Trong sự tương phản giữa súng và trăng, người đọc vẫn tìm ra được sự gắn bó gần gũi(5). Súng tượng trưng cho tinh thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược(6). Trăng tượng trưng cho cuộc sống thanh bình, yên vui(7). Khẩu súng và vầng trăng là hình tượng sóng đôi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam bất khuất và hào hoa muôn thuở(8). Chất hiện thực nghiệt ngã và lãng mạn bay bổng đã hoà quyện lẫn nhau tạo nên hình tượng thơ để đời(9).”

    3. Đoạn tổng phân hợp.

    Ví dụ: Đoạn văn tổng phân hợp, nội dung nói về đạo lí uống nước nhớ nguồn:

    “Lòng biết ơn là cơ sở của đạo làm người(1). Hiện nay trên khắp đất nước ta đang dấy lên phong trào đền ơn đáp nghĩa đối với thương binh, liệt sĩ, những bà mẹ anh hùng, những gia đình có công với cách mạng(2). Đảng và Nhà nước cùng toàn dân thực sự quan tâm, chăm sóc các đối tượng chính sách(3). Thương binh được học nghề, được trợ vốn làm ăn; các gia đình liệt sĩ, các bà mẹ Việt Nam anh hùng được tặng nhà tình nghĩa, được các cơ quan đoàn thể phụng dưỡng, săn sóc tận tình(4). Rồi những cuộc hành quân về chiến trường xưa tìm hài cốt đồng đội, những nghĩa trang liệt sĩ đẹp đẽ với đài Tổ quốc ghi công sừng sững, uy nghiêm, luôn nhắc nhở mọi người, mọi thế hệ hãy nhớ ơn các liệt sĩ đã hi sinh anh dũng vì độc lập, tự do…(5)Không thể nào kể hết những biểu hiện sinh động, phong phú của đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta(6). Đạo lí này là nền tảng vững vàng để xây dựng một xã hội thực sự tốt đẹp(7).”

    Mô hình đoạn văn: Đoạn văn gốm bảy câu:

    – Câu đầu (tổng): Nêu lên nhận định khái quát về đạo làm người, đó là lòng biết ơn.

    – Năm câu tiếp ( phân): Phân tích để chứng minh biểu hiện của đạo lí uống nước nhớ nguồn.

    – Câu cuối (hợp): Khẳng định vai trò của đạo lí uống nước nhớ nguồn đối với việc xây dựng xã hội.

    Đây là đoạn văn chứng minh có kết cấu tổng phân hợp.

    4. Đoạn so sánh

    a. So sánh tương đồng.

    Đoạn so sánh tương đồng là đoạn văn có sự so sánh tương tự nhau dựa trên một ý tưởng: so sánh với một tác giả, một đoạn thơ, một đoạn văn,… có nội dung tương tự nội dung đang nói đến.

    Ví dụ 1: Đoạn văn so sánh tương đồng, nội dung nói về câu thơ kết trong bài ” Nghe tiếng giã gạo” của Hồ Chí Minh:

    Ngày trước tổ tiên ta có câu: “Có công mài sắt có ngày nên kim”(1). Cụ Nguyễn Bá Học, một nho sĩ đầu thế kỉ XX cũng viết: “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”(2). Sau này, vào đầu những năm 40, giữa bóng tối ngục tù của Tưởng Giới Thạch, nhà thơ Hồ Chí Minh cũng đã đề cập tới tính kiên nhẫn, chấp nhận gian lao qua bài thơ “Nghe tiếng giã gạo”, trong đó có câu: “Gian nan rèn luyện mới thành công”(3). Câu thơ thể hiện phẩm chất tốt đẹp, ý chí của Hồ Chí Minh đồng thời còn là châm ngôn rèn luyện cho mỗi chúng ta(4).

    Mô hình đoạn văn: Câu nói của tổ tiên, câu nói của Nguyễn Bá Học (câu 1,2) có nội dung tương đương với nội dung câu thơ của Hồ Chí Minh (4). Đây là đoạn văn mở bài của đề bài giải thích câu thơ trích trong bài “Nghe tiếng giã gạo” của Hồ Chí Minh có kết cấu so sánh tương đồng.

    Ví dụ 2: Đoạn văn so sánh tương đồng, nội dung nói về hình ảnh “vầng trăng” trong bài “Ánh trăng” của Nguyễn Duy:

    ” Tuổi thơ Nguyễn Duy gắn bó với trăng và cả khi trở thành người lính thì trăng vẫn là người bạn tri kỉ:

    "hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thảnh tri kỉ".(1)

    Bằng nghệ thuật nhân hoá, Nguyễn Duy đã khắc hoạ vẻ đẹp tình nghĩa, thuỷ chung của hai người bạn: trăng và người lính, người lính và trăng(2). Cuộc sống trong rừng thời chiến tranh biết bao gian khổ, khó khăn nhưng trăng vẫn đến với người lính bằng một tình cảm chân thành, nồng hậu, không chút ngần ngại(3). Trăng đến toả ánh sáng dịu mát cho giấc ngủ người chiến sĩ “Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm” (Hồ Chí Minh) (4). Trăng đến bên người chiến sĩ cùng chờ giặc tới trong những đêm khuya sương muối: “Đầu súng trăng treo” ( Chính Hữu)(5). Ánh trăng cùng với người lính qua biết bao năm tháng gian khổ của đất nước để vượt lên mọi sự tàn phá của quân thù:

    "Và vầng trăng, vầng trăng đất nước Vượt qua quầng lửa, mọc lên cao". ( Phạm Tiến Duật) (6).

    Trăng với người lính trong thơ thật gần gũi và gắn bó (7). Đặc biệt, trong thơ Nguyễn Duy ánh trăng đã trở thành một biểu tượng cao đẹp: “vầng trăng tri kỉ”, “vầng trăng tình nghĩa” (9).

    Ví dụ 3: Đoạn văn so sánh tương đồng, nội dung nói về lòng yêu làng, yêu nước của ông Hai trong tác phẩm “Làng” của Kim Lân:

    Trong con người ông Hai, tình cảm dành cho làng gắn liền với lòng yêu nước. Tình yêu quê hương là cội nguồn của lòng yêu nước. Đúng như I – li – a Ê – ren – bua, một nhà văn Liên Xô cũ đã viết: ” Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất…Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên tình yêu Tổ quốc”. Với ông Hai, chân lí ấy càng đúng hơn bao giờ hết. Từ chỗ yêu con đường làng, yêu những mái nhà ngói,…tình cảm của ông Hai đã tiến dần lên lòng yêu nước mà lòng yêu nước sâu nặng thầm kín ấy lại bừng sáng rực rỡ, lung linh trong tâm hồn ông. Tình yêu làng được nâng cao, được vút lên thành đỉnh cao của vẻ đẹp trong nhân vật ông Hai mà Kim Lân tập trung khắc họa, tô đậm rõ nét. Vì yêu nước nên ông Hai căm thù bọn người phản bội đất nước. Khi nghe tin làng chợ Dầu theo Tây ông đã rít lên: “Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này!”. Tiếng rít ấy thể hiện sự căm giận đang bốc lên ngùn ngụt, thể hiện sự dồn nén kìm hãm đã ghê gớm lắm rồi trong lòng ông. Lời nói ấy ẩn chứa biết bao nhiêu oán trách, khinh bỉ, khổ đau. Cũng vì yêu nước mà chiều nào ông cũng tìm đến phòng thông tin nghe tin tức về cuộc kháng chiến. Ông hả lòng, hả dạ, sung sướng, tự hào trước những chiến tích anh hùng của mọi người dân trong cả nước. Điều đó thể hiện chân thực tấm lòng ông Hai dành cho đất nước.

    b. So sánh tương phản.

    Đoạn so sánh tương phản là đoạn văn có sự so sánh trái ngược nhau về nội dung ý tưởng: những hình ảnh thơ văn, phong cách tác giả, hiện thực cuộc sống,…tương phản nhau.

    Ví dụ 1: Đoạn văn so sánh tương phản, nội dung nói về việc học hành :

    Trong cuộc sống, không thiếu những người cho rằng cần học tập để trở thành kẻ có tài, có tri thức giỏi hơn người trước mà không hề nghĩ tới việc rèn luyện đạo đức, lễ nghĩa vốn là giá trị cao quý nhất trong các giá trị của con người( 1). Những người ý luôn hợm mình, không chút khiêm tốn, đôi khi trở thành người vô lễ, có hại cho xã hội(2). Đối với những người ấy, chúng ta cần giúp họ hiểu rõ lời dạy của cổ nhân: ” Tiên học lễ, hậu học văn”( 3).

    Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn văn là nói về quan niệm của việc học: học để làm người. Câu 1,2 nêu nội dung trái ngược với ý tưởng; câu 3 nêu ý tưởng. Nội dung tương phản với ý tưởng bao giờ cũng được đề cập trước, sau đó dẫn đến nội dung chính của ý tưởng. Đây là đoạn văn mở bài, giải thích câu nói của Khổng Tử “Tiên học lễ, hậu học văn”.

    Ví dụ 2: Đoạn văn so sánh tương phản, nội dung nói về phẩm chất của con người mới trong ” Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long:

    Thực lòng mà nói, giữa bao lo toan hối hả của cuộc sống thường ngày, có khi nào ta dành ra được những phút tĩnh lặng của cuộc đời, để lắng nghe nhịp đập bên trong thầm lặng của cuộc sống. Đọc “Lặng lẽ Sa Pa”, ta giật mình bởi những điều Nguyễn Thành Long nói tới mà ta quen nghĩ, quen nhìn hời hợt, nông cạn theo một công thức đã có sẵn mà không chịu đi sâu tìm tòi, phát hiện bản chất bên trong của nó: ” Trong cái lặng im của Sa Pa, dưới những dinh thự cũ kĩ của Sa Pa, Sa Pa mà chỉ nghe tên, người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và suy nghĩ” hết mình cho đất nước, cho cuộc sống hôm nay.

    5. Đoạn nhân quả.

    a. Trình bày nguyên nhân trước, chỉ ra kết quả sau.

    Đoạn văn có kết cấu hai phần, phần trước trình bày nguyên nhân, phần sau trình bày kết quả của sự việc, hiện tượng, vấn đề,…

    Ví dụ 1 : Đoạn văn nhân quả, nội dung nói về chi tiết Vũ Nương sống lại dưới thuỷ cung trong ” Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ:

    “Câu chuyện lẽ ra chấm hết ở đó nhưng dân chúng không chịu nhận cái tình thế đau đớn ấy và cố đem một nét huyền ảo để an ủi ta(1). Vì thế mới có đoạn hai, kể chuyện nàng Trương xuống thuỷ cung và sau lại còn gặp mặt chồng một lần nữa(2).”

    Ví dụ 2: Đoạn văn nhân quả, nội dung nói tới lời khuyên về lòng biết ơn của con cái với cha mẹ trong một bài ca dao:

    “Núi Thái Sơn là núi cao nhất, đồ sộ nhất, vững chãi nhất ở Trung Quốc, cũng như tình cha mạnh mẽ, vững chắc(1). Chính người đã dạy dỗ hướng cho ta về lẽ phải và truyền thêm cho ta sức mạnh để bay vào cuộc sống(2). Và thông qua hình tượng nước trong nguồn, dòng nước tinh khiết nhất, mát lành nhất, dạt dào mãi chẳng bao giờ cạn, ta cảm nhận ró được tình yêu của mẹ mới thật ngọt ngào, vô tận và trong lành biết bao nhiêu(3). Từ những hình ảnh cụ thể ấy mà ta có thể thấy được ý nghĩa trừu tượng về công cha nghĩa mẹ(4). Công ơn đó, ân nghĩa đó to lớn sâu nặng xiết bao; chính vì vậy mà chỉ có những hình tượng to lớn bất diệt của thiên nhiên kì vĩ mới sánh bằng(5).Vì thế mà người xưa mới khuyên nhủ chúng ta phải làm tròn chữ hiếu, để bù đắp phần nào nỗi cực nhọc, cay đắng của cha mẹ đã phải trải qua vì ta”(6).

    Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn văn là giải thích ý nghĩa câu ca dao. Sáu câu trên giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng của hình ảnh trong câu ca dao, nêu nguyên nhân. Câu 6 là kết luận về lời khuyên, nêu kết quả.

    b. Chỉ ra kết quả trước, trình bày nguyên nhân sau.

    Đoạn văn có kết cấu hai phần. Phần đầu nêu kết quả, phần sau nêu nguyên nhân.

    Ví dụ: Đoạn văn nhân quả, nội dung nói về lòng hiếu nghĩa của Kiều trong lúc lưu lạc:

    Chính trong hoàn cảnh lưu lạc quê người của nàng ta mới thấy hết được tấm lòng chí hiếu của người con gái ấy(1). Nàng biết sẽ còn bao cơn “cát dập sóng vùi” nhưng nàng vẫn chỉ lo canh cánh lo cho cha mẹ thiếu người đỡ đần phụng dưỡng vì hai em còn “sân hoè đôi chút thơ ngây”(2). Bốn câu mà dùng tới bốn điển tích “người tựa cửa”, “quạt nồng ấp lạnh”, “sân lai”, “gốc tử(3)”. Nguyễn Du đã làm cho nỗi nhớ của Kiều đậm phần trang trọng, thiết tha và có chiều sâu nhưng cũng không kém phần chân thực(4).

    Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn bình về lòng hiếu của Kiều. Câu 1 nêu kết quả, ba câu còn lại nêu nguyên nhân.

    6. Đoạn vấn đáp.

    Ví dụ: Đoạn văn vấn đáp, nội dung nói về cái hồn dân tộc trong bài “Ông đồ” của Vũ Đình Liên:

    Cứ đọc kĩ mà xem, sẽ thấy cái xót xa thấm đậm quay cuồng trong câu hỏi cuối: “Những người muôn năm cũ”, những người ấy là những tâm hồn đẹp thanh cao bên câu đối đỏ của ông đồ, hay những ông đồ trên phố phường Hà Nội xưa(1)? Tôi nghĩ là cả hai(2). Thắc mắc của tác giả rất có lí, và chính vì có lí nên nó thật tàn nhẫn và đau lòng(3). Những cái đẹp cao quý sâu kín, cái đẹp của hồn người Hà Nội, cái đẹp của hồn Việt Nam cứ ngày càng mai một, càng bị cuộc sống với những quy tắc rất thực tế lấn át, chà đạp và xô đẩy sang lề đường để rồi biến mất như ông đồ già kia, và có lẽ sẽ mãi mãi không còn nếu như không có những Vũ Đình Liên đáng khâm phục(4). “Hồn ở đâu bây giờ”(5)? Câu hỏi ấy là tiếng chuông cảnh tỉnh người đọc ở mọi thế hệ mọi thời đại, thức dậy những gì sâu xa đã bị lãng quên, chon vùi dưới cuộc sống ồn ào náo nhiệt(6). Làm sao để tìm lại cái hồn thanh cao cho mỗi con người Việt Nam, để khôi phục lại cái hồn cho cả dân tộc, đó là điều nhà thơ Vũ Đình Liên muốn nhắn gửi chúng ta(7).

    Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn văn là giải thích và bình về hai câu thơ. Phần nêu câu hỏi là câu 1, phần trả lời là câu 2,3,4.

    7. Đoạn đòn bẩy.

    Đoạn văn có kết cấu đòn bẩy là đoạn văn mở đầu nêu một nhận định, dẫn một câu chuyện hoặc những đoạn thơ văn có nội dung gần giống hoặc trái với ý tưởng (chủ đề của đoạn) tạo thành điểm tựa, làm cơ sở để phân tích sâu sắc ý tưởng đề ra.

    Ví dụ: Đoạn văn đòn bẩy, nội dung nói về hai câu thơ tả cảnh xuân trong ” Truyện Kiều” của Nguyễn Du:

    Trong ” Truyện Kiều” có hai câu thơ tả cảnh mùa xuân rất đẹp:

    " Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa"(1).

    Thơ cổ Trung Hoa cũng có hai câu thơ tả cảnh đầy ấn tượng:

    " Phương thảo liên thiên bích Lê chi sổ điểm hoa(2).

    …Tác giả Trung Quốc chỉ nói : “Lê chi sổ điểm hoa” (trên cành lê có mấy bông hoa(3)). Số hoa lê ít ỏi như bị chìm đi trong sắc cỏ ngút ngàn(4). những bông lê yếu ớt bên lề đường như không thể đối chọi với cả một không gian trời đất bao la rộng lớn(5). Nhưng những bông hoa trong thơ Nguyễn Du là hoàn toàn khác: ” Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”(6). Nếu như bức tranh xuân ấy lấy phông nền là màu xanh của của cỏ thì những bông hoa lê là một nét chấm phá vô cùng sinh động và tài tình(7). Sắc trắng của bông hoa lê – cái sắc trắng chưa từng xuất hiện trong câu thơ cổ Trung Hoa- nổi bật trên nền xanh tạo ra thanh khiết trong sáng vô cùng(8). Tuy chỉ là một vài chấm nhỏ trên bức tranh nhưng lại là điểm nhấn toả sáng và nổi bật trên bức tranh toàn cảnh(9). Những bông hoa “trắng điểm” thể hiện sự tài tình gợi tả gợi cảm trong lời thơ(10). Cành hoa lê như một cô thiếu nữ đang e ấp dịu dàng(11). Câu thơ cũng thể hiện bản lĩnh hội hoạ của Nguyễn Du(12). Hai sắc màu xanh và trắng hoà quyện với nhau trong bức tranh xuân vừa đẹp vừa dào dạt sức sống đầy xuân sắc, xuân hương và xuân tình(13).

    8. Nêu giả thiết.

    Ví dụ: Đoạn văn nêu giả thiết, nội dung nói về chi tiết “cái bóng” trong “Chuyện người con gái Nam Xương”:

    Giáo sư Phan Trọng Luận không sai khi nói: “Cái bóng đã quyết định số phận con người”, đây phải chăng là nét vô lí, li kì vẫn có trong các truyện cổ tích truyền kì(1)? Không chỉ dừng lại ở đó, “cái bóng còn là tượng trưng cho oan trái khổ đau, cho bất hạnh của biết bao người phụ nữ sống dưới xã hội đương thời(2). Nỗi oan của họ rồi cũng chỉ là những cái bóng mờ ảo, không bao giờ được sáng tỏ(3). Hủ tục phong kiến hay nói đúng hơn là cái xã hội phong kiến đen tối đã vùi dập, phá đi biết bao tâm hồn, bao nhân cách đẹp, đẩy họ đến đường cùng không lối thoát(4). Để rồi chính những người phụ nữ ấy trở thành “cái bóng” của chính mình, của gia đình, của xã hội(5). Chi tiết “cái bóng” được tác giả dùng để phản ánh số phận, cuộc đời người phụ nữ đầy bất công ngang trái nhưng cũng như bao nhà văn khác ông vẫn dành một khoảng trống cho tiếng lòng của chính nhân vật được cất lên, được soi sáng bởi tâm hồn người đọc(5). “Cái bóng” được đề cao như một hình tượng đẹp của văn học, là viên ngọc soi sáng nhân cách con người(6). Bạn đọc căm phẫn cái xã hội phong kiến bao nhiêu thì lại càng mở lòng yêu thương đồng cảm với Vũ Nương bấy nhiêu(7). “Cái bóng” là sản phẩm tuyệt vời từ tài năng sáng tạo của Nguyễn Dữ góp phần nâng câu chuyện lên một tầm cao mới: chân thực hơn và yêu thương hơn(8).

    Mô hình đoạn văn: Đoạn văn có câu thứ nhất nêu giả thiết về chi tiết “cái bóng”. Các câu tiếp theo khẳng định giá trị của chi tiết đó.

    9. Đoạn móc xích.

    Đoạn văn có mô hình kết câu móc xích là đoạn văn mà ý các câu gối đầu lên nhau, đan xen nhau và được thể hiện cụ thể bằng việc lặp lại một vài từ ngữ ở câu trước trong câu sau.

    Ví dụ: Đoạn văn móc xích, nội dung nói về vấn đề trồng cây xanh để bảo vệ môi trường sống:

    Muốn làm nhà thì phải có gỗ. Muốn có gỗ thì phải trồng cây gây rừng. Trồng cây gây rừng thì phải coi trọng chăm sóc, bảo vệ để có nhiều cây xanh bóng mát. Nhiều cây xanh bóng mát thì cảnh quan thiên nhiên đẹp, đất nước có hoa thơm trái ngọt bốn mùa, có nhiều lâm thổ sản để xuất khẩu. Nước sẽ mạnh, dân sẽ giàu, môi trường sống được bảo vệ.

    B. LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN

    I. Luyện viết đoạn văn theo nội dung đọc – hiểu văn bản nghệ thuật.

    Để đọc hiểu một tác phẩm văn học, bạn đọc nói chung và bạn đọc trong nhà trường là học sinh nói riêng thường đọc hiểu theo một quy trình chung:

    – Đọc và tìm hiểu chi tiết: đọc phân tích từng phần như phân tích đoạn văn, đoạn thơ, phân tích nhân vật, phân tích hình tượng, hình ảnh, chi tiết, hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ,…từ đó đọc ra tư tưởng, thái độ tình cảm của tác giả trước vấn đề xã hội, trước hiện thực cuộc sống được gửi gắm trong tác phẩm. Trên cơ sở kiến thức về đọc hiểu tác phẩm, để kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra, đánh giá kĩ năng nói viết của bạn đọc học sinh về những kiến thức đọc hiểu cụ thể, cần có những bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn.

    Các loại đoạn văn cần luyện viết theo nội dung đọc – hiểu thường là:

    1. Đoạn văn giới thiệu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.

    2. Đoạn văn tóm tắt tác phẩm.

    3. Đoạn văn giải thích ý nghĩa nhan đề của tác phẩm.

    4. Đoạn văn phân tích một chi tiết quan trọng, từ ngữ đặc sắc của tác phẩm.

    5. Đoạn văn phân tích đặc điểm nhân vật.

    6. Đoạn văn phân tích hiệu quả nghệ thật của biện pháp tu từ.

    7. Đoạn văn phân tích, cảm nhận về một đoạn văn, đoạn thơ.

    Những bài tập luyện viết đoạn văn trong nhà trường thường có yêu cầu phối hợp giữa yêu cầu về nội dung, đề tài với yêu cầu về hình thức diễn đạt.

    Ví dụ: Viết một đoạn văn diễn dịch, kết thúc đoạn là một câu cảm thán, phân tích lòng yêu nghề, say mê công việc của anh thanh niên trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long.

    Thông thường, các thao tác viết đoạn được diễn ra như sau:

    – Người viết đọc kĩ bài tập, xác định đúng những yêu cầu của bài tập về nội dung và hình thức. Với bài tập trên, yêu cầu về nội dung là phân tích lòng yêu nghề, say mê công việc của nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm ” Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long; yêu cầu về hình thức là viết đoạn văn theo mô hình diễn dịch, kết thúc đoạn là một câu cảm than.

    – Người viết lập ý cho đoạn văn và định hình vị trí các câu trong đoạn ,phương tiện liên kết đoạn; đặc biệt là các yêu cầu cụ thể về viết câu (câu cảm thán, câu hỏi tu từ, câu ghép,…) trong đoạn.

    + Tìm ý cho đoạn văn. Với bài tập trên: đây là đoạn văn phân tích đặc điểm nhân vật, đặc điểm nổi bật của anh thanh niên trong tác phẩm là lòng yêu nghề, say mê công việc. Vậy muốn tìm ý cần trả lời các câu hỏi: nghề nghiệp, công việc cụ thể của anh là gì? Công việc đó có ý nghĩa như thề nào? Anh có những suy nghĩ gì về công việc của mình? Em có nhận xét, đánh giá về suy nghĩ của anh thanh niên như thế nào?…

    + Xác định và định hình kiểu câu và vị trí kiểu câu đó trong đoạn văn cần viết; hoặc phép liên kết cần viết trong đoạn văn đó. Với bài tập trên, kết thúc đoạn là câu cảm thán: câu cuối đoạn nhận xét và thể hiện thái độ tình cảm của người viết theo hướng ngợi ca tinh thần trách nhiệm, nhận thức hoặc suy nghĩ của nhân vật anh thanh niên.

    – Đọc lại và sửa chữa. Viết xong, người viết cần đọc kiểm tra lại xem đoạn văn đã đáp ứng được những yêu cầu của bài tập về nội dung và hình thức chưa; nếu thấy chỗ nào chưa ổn cần chỉnh sửa lại.

    1. Đoạn văn giới thiệu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.

    Hướng dẫn viết.

    Yêu cầu về nội dung:

    – Nêu chính xác tên tác phẩm, tên tác giả của tác phẩm đó, năm sáng tác, in trong tập sách nào,…Ví dụ: “Sang thu” ( Hữu Thỉnh) được viết cuối năm 1977, in trong tập “Từ chiến hào tới thành phố” xuất bản tháng 5.1985.

    – Nêu hoàn cảnh rộng:

    Thời đại, hoàn cảnh xã hội mà tác giả sống:

    Hữu Thỉnh viết ” Sang thu” vào cuối năm 1977, khi đất nước đã được thống nhất, người lính xe tăng thiết giáp như Hữu Thỉnh từ cuộc chiến trở về trong đời thường hoà bình, thời trai trẻ đã trôi qua trong cuộc chiến tranh ái quốc nay chợt thấy mình đã “sang thu” .

    Cuối thế kỉ XVIII, người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ đã xuất hiện: vị chiến tướng dùng mưu hạ thành Phú Xuân, vị thống tướng đó đã tiêu diệt ba vạn quân Xiêm xâm lược tại Rạch Gầm – Xoài Mút trong một trận thuỷ chiến trời long đất lở. Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải đã đạp đổ ngai vàng Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài chốn Bắc Hà rồi kết duyên cùng Ngọc Hân công chúa. Nguyễn Huệ – vua Quang Trung đã tiêu diệt 29 vạn quân Thanh xâm lược, xây nên gò Đống Đa lịch sử bất tử. “Hoàng Lê nhất thống chí” đã phản ánh hiện thực đó.

    Thời đại, hoàn cảnh xã hội của cuộc sống được nói tới trong tác phẩm – chỉ nêu những yếu tố có ảnh hưởng tới sự ra đời cụ thể của tác phẩm, có ảnh hưởng tới sáng tác của tác giả. Ví dụ : Truyện ” Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XVI như một bức tranh toàn cảnh về xã hội thời Lê thu nhỏ lại. ” Chuyện người con gái Nam Xương” là một truyện ngắn hay rút trong tác phẩm này.

    – Nêu hoàn cảnh hẹp: Hoàn cảnh cụ thể ra đời của tác phẩm.

    Đó có thể là hoàn cảnh gia đình rất đặc biệt: Bằng Việt chủ yếu sống với bà ngoại nên khi đi xa nhớ về bà, hình ảnh bà ngoại gắn liền với “bếp lửa” .

    Đó có thể là hoàn cảnh của bản thân trước một sự kiện, hiện tượng, hình ảnh, …trong cuộc sống, tác giả nảy sinh ý tưởng, cảm hứng muốn gửi gắm ý tưởng, tình cảm, tư tưởng thái độ,… của mình qua sáng tác:

    Tác phẩm “Đoàn thuyền đánh cá” ( Huy Cận) được sáng tác trong chuyến đi thực tế năm 1958 ở Cẩm Phả, Hòn Gai (Quảng Ninh) giữa lúc miền Bắc nước ta phấn khởi lao động xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Nhà thơ hướng tới những con người lao động làm nghề đánh bắt cá biển là chủ nhân trong cuộc sống mới.

    Tác phẩm ” Mùa xuân nho nhỏ” ( Thanh Hải) được làm năm 1980, trong khung cảnh hoà bình, xây dựng đất nước nhưng khi ấy nhà thơ bệnh nặng, chỉ ít lâu sau đó ông đã mất, vậy mà thi phẩm vẫn chan chứa tình yêu cuộc sống.

    Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Ông viết bài thơ ” Bếp lửa” vào tuổi 19, đó là năm 1963 khi còn là sinh viên đang học Đại học ở nước ngoài.

    Từ mái trường Đại học Hà Nội, Phạm Tiến Duật bước vào đời lính chiến đấu và hoạt động (công tác tuyên huấn) trên con đường chiến lược Trường Sơn những năm tháng đánh Mĩ ác liệt nhất. Khói lửa chiến trường, chủ nghĩa anh hùng Việt Nam, những cô gái thanh niên xung phong, những chiến sĩ lái xe dũng cảm,…in dấu chói lọi, kì vĩ như những tượng đài trong thơ Phạm Tiến Duật. ” Bài thơ về tiểu đội xe không kính” tiêu biểu cho hồn thơ Phạm Tiến Duật trong ” Vầng trăng – Quầng lửa” là bài ca chiến trận thấm đẫm màu sắc lãng mạn ghi lại hình ảnh người chiến sĩ lái xe vận tải trên con đương Trường Sơn, con đường huyết mạch của Tổ Quốc trong cuộc chiến.

    – Nêu đề tài hoặc nội dung chính, đặc sắc của tác phẩm:

    Phạm Tiến Duật bằng giọng thơ chắc khoẻ, đượm chất văn xuôi, đã tạo nên giọng nói riêng biệt, mới mẻ trong nền thơ ca chống Mĩ. Thơ ca của anh, đặc biệt trong ” Vầng trăng – Quầng lửa” không phải là sự chắt ra từ đời sống mà là toàn vẹn đời sống thường nhật ở chiến trường. Phạm Tiến Duật đã góp vào vườn thơ đất nước một hình tượng chiến sĩ khá độc đáo với “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (1969). Bài thơ đã ghi lại những nét ngang tàng dũng cảm và lạc quan của người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mĩ, tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng của tuổi trẻ một thời máu lửa.

    Chế Lan Viên viết bài thơ ” Con cò” vào năm 1962, in trong tập ” Hoa ngày thường, chim báo bão” (1967). Bài ” Con cò” mang âm điệu đồng dao, nhịp thơ và giọng thơ thấm vào hồn ca dao, dân ca một cách đằm thắm, nhẹ nhàng. 51 câu thơ tự do, câu ngắn nhất 2 chữ, câu dài nhất 8 chữ, đan xen, kết chuỗi thành lời ru ngân nga, ngọt ngào, biểu hiện tình thương và ước mơ của người mẹ hiền đối với con thơ!

    Yêu cầu về hình thức:

    – Đoạn văn bao gồm những câu văn gắn kết với nhau theo một cấu trúc nhất định, cùng hướng về giới thiệu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, được liên kết bằng các phương tiện liên kết, phối hợp các kiểu câu. Đoạn văn phải được diễn đạt mạch lạc, từ ngữ dùng chính xác, chân thực, có tính hình tượng.

    – Luyện viết đoạn văn theo yêu cầu cụ thể: viết đoạn văn có câu ghép và phương tiện liên kết; đoạn văn có câu hỏi tu từ, đoạn văn kết bằng câu cảm thán,…

    Để viết đoạn văn giới thiệu hoàn cảnh ra đời cầu tác phẩm theo yêu cầu cụ thể như có sử dụng câu ghép, một hoặc hai phương tiện liên kết, người viết trước hết phải có ý, nghĩa là đã có nội dung để viết, sau đó xác định câu ghép (ghép ý nào với ý nào trong các ý đã xác định), tiếp theo là xác định phép liên kết sẽ sử dụng là gì. Sau khi đã xác định yêu cầu về nội dung, yêu cầu về hình thức của đoạn văn cần viết, người viết bắt tay vào viết. Cuối cùng, cần kiểm tra lại đoạn văn vừa viết xem đã hoàn chỉnh chưa, đã đáp ứng những yêu cầu đề ra chưa.

    Ví dụ 1:

    – Bài tập Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ” Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của tác giả Phạm Tiến Duật bằng một đoạn văn ngắn (khoảng 5 câu), có sử dụng câu ghép và phép thế.

    – Đoạn văn minh hoạ: ” Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (1969) là tác phẩm thuộc chùm thơ của Phạm Tiến Duật được tặng giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1969 – 1970, sau in trong tập ” Vầng trăng – Quầng lửa” (1). Năm 1964, rời mái trường Đại học Sư phạm Hà Nội với tuổi 23, chàng sinh viên quê Phú Thọ Phạm Tiến Duật bước vào đời lính chiến đấu và hoạt động (công tác tuyên huấn) trên con đường chiến lược Trường Sơn những năm tháng đánh Mĩ ác liệt nhất (2). Thơ ca của Phạm Tiến Duật không phải là sự chắt ra từ đời sống mà là toàn vẹn đời sống thường nhật ở chiến trường( 3). Khói lửa chiến trường, chủ nghĩa anh hùng Việt Nam, những cô gái thanh niên xung phong, những chiến sĩ lái xe dũng cảm,…in dấu chói lọi, kì vĩ như những tượng đài trong thơ ông (4). Ông đã góp vào vườn thơ đất nước một hình tượng người lính khá độc đáo với ” Bài thơ về tiểu đội xe không kính” – người chiến sĩ lái xe dũng cảm, lạc quan và có chút bốc tếu ngang tàng trên tuyến đường huyết mạch Trường Sơn thời đánh Mĩ (5).

    ( Câu 3 là câu ghép; dùng phép thế đại từ: Phạm Tiến Duật – ông).

    Ví dụ 2:

    – Bài tập Viết đoạn văn ngắn trình bày hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ” Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận, trong đó có sử dụng câu hỏi tu từ ( gạch chân câu văn đó).

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào “Thơ mới” giai đoạn 1932 – 19459(1). Sau Cách mạng, thơ Huy Cận có phần chững lại(2). Năm 1958 các văn nghệ sĩ đi thực tế tìm hiểu cuộc sống mới để lấy đề tài, cảm hứng sáng tác, nhà thơ Huy Cận đã đi thực tế dài ngày ở Quảng Ninh(3). Vẻ đẹp của vùng biển Hòn Gai cùng với không khí làm ăn sôi nổi, hào hùng tràn đầy niềm tin trong những năm đầu xây dựng XHCN ở miền Bắc làm cho hồn thơ của Huy Cận “nảy nở” trở lại(4). Ông đã sáng tác bài thơ ” Đoàn thuyền đánh cá” trong thời gian ấy, bài thơ được in trong tập thơ ” Trời mỗi ngày lại sáng”(5). Phải chăng bài thơ là ” món quà vô giá” mà nhà thơ tặng lại vùng biển Hòn Gai yêu dấu?(6) Bài thơ làm bằng cảm hứng lãng mạn kết hợp với cảm hứng về thiên nhiên vũ trụ tạo ra những hình ảnh thơ rực rỡ, huy hoàng, tráng lệ(7). Nó không chỉ ca ngợi vẻ đẹp lung linh, kì ảo của biển Hòn Gai mà còn ca ngợi không khí là ăn tập thể của HTX ngư dân trong những năm đầu xây dựng CNXH(8).

    ( Câu 6 là câu hỏi tu từ)

    Ví dụ 3:

    – Bài tập Viết đoạn văn trình bày hoàn cảnh ra đời của bài thơ ” Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh Hải, trong đó có câu mở rộng thành phần ( gạch chân câu đó).

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Thanh Hải là một nhà thơ cách mạng, tham gia hai cuộc kháng chiến, bám trụ ở quê hương Thừa – Thiên – Huế(1). Ông có công trong việc xây dựng nền văn học cách mạng miền Nam từ những ngày đầu kháng chiến (2). Bài thơ ” Mùa xuân nho nhỏ” được sáng tác tháng 11 năm 1980, chỉ ít lâu sau thì nhà thơ qua đời(3). Mặc dù bị bệnh trọng, đang nằm trên giường bệnh nhưng với tình yêu đời, yêu cuộc sống, Thanh Hải mở rộng hồn mình để cảm nhận mùa xuân thiên nhiên của đất nước, mùa xuân của Cách mạng(4). Bài thơ như một lời tâm niệm chân thành, gửi gắm thiết tha của nhà thơ để lại cho đời trước lúc ông đi xa (5).

    ( Câu 4 là câu mở rộng thành phần)

    Ví dụ 4:

    – Bài tập Nêu hoàn cảnh ra đời cảu tác phẩm ” Sang thu” của nhà thơ Hữu Thỉnh bằng một đoạn văn có sử dụng phép thế.

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Nhà thơ Hữu Thỉnh quê ở Tam Dương, Vĩnh Phúc. Ông trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Từ một người lính tăng – thiết giáp, ông trở thành cán bộ văn hoá, tuyên huấn trong quân đội và sang tác thơ. Hữu Thỉnh là nhà thơ đi nhiều, viết nhiều và có một số bài thơ đặc sắc về con người cùng cuộc sống ở nông thôn. Bài thơ ” Sang thu” được sáng tác vào cuối năm 1977, in lần đầu tiên trên báo Văn Nghệ. Nội dung thể hiện tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến của nhà thơ trước những chuyển biến tinh tế của đất trời và là bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp của nông thôn đồng bằng Bắc bộ lúc giao mùa từ hạ sang thu.

    Luyện tập:

    – Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ” Vũ trung tuỳ bút” của tác giả Phạm Đình Hổ, bằng một đoạn văn ngắn có sử dụng câu ghép.

    – Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ” Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô gia văn phái, bằng một đoạn văn ngắn, có sử dụng phép nối.

    – Viết một đoạn văn ngắn ( khoảng 5 câu), trong đó có sử dụng phép thế: Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ” Đồng chí” của nhà thơ Chính Hữu.

    – Viết một đoạn văn ngắn ( khoảng 5 câu), trong đó có sử dụng phép nối: Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ” Đoàn thuyền đánh cá” của nhà thơ Huy Cận.

    – Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ” Bếp lửa” của nhà thơ Bằng Việt bằng một đoạn văn ngắn ( khoảng 5 câu), trong đó có sử dụng phép thế.

    – Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ” Khúc hát ru những em bé ngủ trên lưng mẹ” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm bằng một đoạn văn ngắn ( khoảng 5 câu), trong đó có sử dụng phép lặp từ ngữ.

    – Viết một đoạn văn ngắn ( khoảng 5 câu), trong đó có ít nhất một câu ghép và một phép liên kết: Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ” Ánh trăng” của nhà thơ Nguyễn Duy.

    – Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ” Làng” của nhà văn Kim Lân bằng cách viết một đoạn văn ngắn ( khoảng 5 câu), trong đó có ít nhất một câu ghép và một phép liên kết.

    – Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ” Lặng lẽ Sa Pa” của nhà Nguyễn Thành Long bằng một đoạn văn ngắn khoảng 5 câu, trong đó có một câu ghép và một phương tiện liên kết.

    – Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ” Chiếc lược ngà” của nhà Nguyễn Quang Sáng.

    – Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ” Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh Hải.

    – Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ” Viếng lăng Bác” của nhà thơ Viễn Phương.

    – Viết đoạn văn quy nạp, có sử dụng phép nối: Nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ” Sang thu” của nhà thơ Hữu Thỉnh.

    – Viết một đoạn văn theo kiểu diễn dịch, phân tích tâm hồn trong sáng, mơ mộng, tinh thần dũng cảm của cô thanh niên xung phong Phương Định trong tác phẩm ” Những ngôi sao xa xôi” của nhà văn Lê Minh Khuê. Trong đoạn văn, sử dụng ít nhất hai phép liên kết câu (gạch dưới những từ ngữ này)

    2. Đoạn văn tóm tắt tác phẩm.

    Yêu cầu về nội dung:

    – Nêu được những sự việc chính theo trình tự của cốt truyện, sự việc mở đầu, các sự việc phát triển trong đó có sự việc đỉnh điểm của cốt truyện, sự việc kết thúc.

    Yêu cầu về hình thức:

    – Nối kết các sự việc chính của truyện thành đoạn văn hoàn chỉnh, ngắn gọn bằng lời của người viết.

    – Đoạn văn có kết cấu nhất định, giữa các câu có sử dụng các phép liên kết về nội dung và hình thức.

    Ví dụ 1:

    – Bài tập

    Viết đoạn văn ngắn, tóm tắt ” Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ.

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương là người con gái thuỳ mị nết na, xinh đẹp được Trương Sinh cưới về làm vợ. Trương Sinh là con nhà khá giả, ít học lại có tính đa nghi. Cuộc sống gia đình đang êm ấm thì chàng Trương phải đi lính. Ở nhà, ít lâu sau, Vũ Nương sinh con trai và đặt tên là Đản. Bà mẹ Trương Sinh vì nhớ con mà sinh bệnh, Vũ Nương hết lòng chăm sóc, thuốc thang nhưng bà không qua khỏi. Năm sau, Trương Sinh trở về, bé Đản không chịu nhận chàng là cha mà một mực nói cha Đản buổi tối mới đến. Trương Sinh nghi ngờ vợ, mắng nhiếc, đuổi Vũ Nương đi. Vũ Nương oan ức nên gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Một đêm dưới ngọn đèn dầu, bé Đản chỉ bóng Trương Sinh bảo đó là cha. Trương Sinh tỉnh ngộ, thấy nỗi oan của vợ nhưng chuyện đã quá muộn. Vũ Nương trẫm mình nhưng được các nàng tiên dưới thuỷ cung cứu sống, nàng ở trong cung điện của Linh Phi. Một lần Linh Phi mở tiệc khoản đãi Phan Lang người cùng làng với Vũ Nương, là ân nhân của Linh Phi bị chết đuối được Linh Phi cứu sống), trong bữa tiệc, tình cờ Phan Lang nhận ra Vũ Nương. Vũ Nương bày tỏ nỗi oan khuất và nàng nhờ họ Phan gửi cho chồng chiếc thoa vàng làm tin, mong chồng lập đàn giải oan cho mình. Trương Sinh tin lời, lập đàn giải oan cho vợ, Vũ Nương hiện lên giữa dòng sông trong khung cảnh lộng lẫy, rực rỡ cờ hoa. Nhưng nàng chỉ hiện lên trong chốc lát, nói với chồng mấy lời từ biệt ” Xin đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa” rồi biến mất.

    Ví dụ 2:

    – Bài tập Tóm tắt đoạn trích ” Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng bằng một đoạn văn ngắn, có sử dụng thành phần biệt lập ( gạch chân câu có thành phần biệt lập).

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Ông Sáu, một cán bộ cách mạng, sau tám năm đi xa giờ mới được về thăm nhà, thăm con gái tám tuổi từ ngày sinh chưa một lần được gặp ba. Ông vô cùng hồi hộp, xúc động khi gặp con, nhưng bé Thu – con ông – lại sợ hãi bỏ chạy. Trong ba ngày nghỉ phép ở nhà. Ông dành tất cả tình yêu thương, gần gũi, chăm sóc con bế, nhưng con bé xa lánh, lạnh nhạt, khước từ mọi cử chỉ yêu thương của ông và nó nhất định không gọi ông là cha. Một lần trong bữa ăn ông gắp cho nó một miếng trứng cá rất ngon, nó bất ngờ hất tung ra mâm. Giận quá, ông Sáu phát vào mông con, con bé bỏ sang bà ngoại. Được bà ngoại giải thích về vết thẹo, con bé mới hiểu rằng ông Sáu đích thị là cha nó. Nó trở về, đó cũng là ngày cuối cùng ông Sáu phải lên đường. lúc chia tay, ông Sáu chỉ khẽ chào con, vì sợ nó bỏ chạy. Không ngờ đúng lúc ấy, tình cha con trỗi dậy, bé thét lên gọi ba, ôm hôn ba, bộc lộ tất cả tình yêu mãnh liệt của mình với ba. Khi chia tay con, ông Sáu hứa sẽ mua một cây lược cho con. Ông Sáu không ra Bắc tập kết mà ở lại rừng hoạt động cách mạng. Ông luôn nhớ về con, hối hận vì đánh con. Một lần ông bắt được khúc ngà, ông tỉ mỉ, kì công làm chiếc lược ngà cho con. Ông mong được gặp con, nhưng ông chưa thực hiện được điều đó thì đã hi sinh trong một trận càn. Người bạn ông – ông Ba – hứa với ông trước lúc ông ra đi, sẽ đưa chiếc lược đến tận tay bé Thu thay ông.

    Ví dụ 3:

    – Bài tập Tóm tắt truỵên ngắn ” Làng” của Nguyễn Thành Long bằng một đoạn văn tổng phân hợp, trong đó có sử dụng câu ghép.

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Nhân vật ông Hai tiêu biểu cho những người nông dân thời kì đầu kháng chiến chống Pháp có sự chuyển biến mới trong nhận thức và tình cảm: tình yêu làng quê gắn bó với tình yêu đất nước và tinh thần chiến đấu chống xâm lăng. Ông Hai là người làng Chợ Dầu ở Bắc Ninh. Ông tự hào, kiêu hãnh về cái làng Chợ Dầu quê ông – cái gì cũng hơn hẳn các làng khác. Ông mắc tật ” khoe làng” với mọi người. Theo lệnh của uỷ ban kháng chiến, ông Hai phải đưa vợ con đi tản cư, tránh những cuộc càn quét bất ngờ của giặc Pháp. Ở nơi tản cư, ông luôn nhớ tới làng, mong muốn được trở về cùng du kích lập làng kháng chiến. Nghe tin làng Chợ Dầu làm ” Việt gian” theo giặc, ông Hai đau đớn, phẫn nộ và tủi nhục, không dám gặp ai, nhìn ai. Ông rơi vào tâm trạng đầy mâu thuẫn: vừa yêu thương, vừa căm giận, vừa tin tưởng, vừa ngờ vực. Được chủ tịch xã thông báo dân làng Chợ Dầu vẫn bền gan chiến đấu chống Pháp, ông Hai vui mừng khôn xiết, lại hớn hở đi khắp nơi cải chính tin đồn thất thiệt và hết lời ca ngợi dân làng Chợ Dầu yêu nước. Ông Hai đã buồn vui, sướng khổ, đã kiêu hãnh tự hào về làng Chợ Dầu quê hương ông. Đó chính là vẻ đẹp mới trong tâm hồn người nông dân thời kì kháng chiến chống pháp đã được nhà văn kim Lân khám phá và thể hiện rất thành công.

    Ví dụ 4:

    – Bài tập Tóm tắt ngắn gọn ( không quá nửa trang giấy thi) tác phẩm ” Bến quê” của nhà văn Nguyễn Minh Châu bằng đoạn văn diễn dịch, trong đó có câu hỏi tu từ.

    – Đoạn văn minh hoạ:

    ” Bến quê” là truyện ngắn chứa đựng những suy nghĩ, trải nghiệm sâu sắc của nhà văn trước cuộc đời, thức tỉnh mọi người về những vẻ đẹp và giá trị cao quý của những điều bình dị, gần gũi quanh ta. Nhân vật trung tâm của tác phẩm là Nhĩ. Anh đã đi hầu hết các nơi trên thế giới, mấy năm nay không may mắc phải căn bệnh hiểm nghèo nên phải sống nốt quãng đời còn lại trên chiếc giường kê cạnh cửa sổ, trông ra bến sông. Chính vào thời điểm ấy, anh đã phát hiện ra vẻ đẹp của những gì gần gũi xung quanh: vẻ đẹp của nơi bến quê thân thuộc. Nhĩ khao khát được một lần đặt chân lên bờ bãi bên kia sông, mảnh đất giờ đây đã trở nên xa xôi đối với anh. Anh đành nhờ con trai thực hiện giúp mình ước muốn ấy nhưng con trai anh lại quá vô tình, không hiểu được ý định của bố. Nhĩ sợ con sẽ lỡ mất chuyến đò ngang duy nhất trong ngày. Từ trong cửa sổ nhìn ra, Nhĩ nhìn thấy cảnh vật thiên nhiên thật đẹp. Anh say mê thưởng thức như mới được nhìn thấy lần đầu. Khi sắp giã biệt cuộc đời, Nhĩ mới thấy thấm thía về phẩm chất tốt đẹp, dung dị của người vợ hiền thục, tần tảo, giàu đức hi sinh. Anh nhận ra rằng gia đình có vai trò rất lớn đối với con người và là nơi nương tựa đáng tin cậy nhất. Anh cũng nhận ra rằng mọi người xung quanh ta dù là những em bé hay người già đã về hưu đều đáng yêu, đáng quý bởi họ luôn có tấm lòng nhân ái ” thương người như thể thương thân”. Và, phải chăng cũng với sự chiêm nghiệm của mình, anh đã nhận ra rằng người ta thường dễ bỏ qua những giá trị bền vững và sâu sắc của cuộc sống, lúc thức tỉnh thì đã quá muộn?

    Mô hình cấu trúc đoạn văn: Đoạn diễn dịch.

    Câu cuối cùng là câu hỏi tu từ.

    Luyện tập:

    – Viết đoạn tổng phân hợp, có sử dụng hai phép liên kết: tóm tắt tác phẩm ” Truyện Kiều” của thi hào Nguyễn Du ( không qua nửa trang giấy thi).

    – Tóm tắt ngắn gọn ( không quá nửa trang giấy thi) về tác phẩm ” Chuyện người con gái Nam Xương” của nhà văn Nguyễn Dữ bằng đoạn văn tổng phân hợp, có sử dụng một câu hỏi tu từ.

    – Tóm tắt ngắn gọn ( không quá nửa trang giấy thi) tác phẩm ” Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh” của nhà văn bằng đoạn văn quy nạp, có sử dụng câu ghép.

    – Tóm tắt ngắn gọn ( không quá nửa trang giấy thi) tác phẩm ” Hoàng Lê nhất thống chí ” của Ngô gia văn phái bằng đoạn văn quy nạp.

    – Giới thiệu ngắn gọn ( không quá nửa trang giấy thi) về tác phẩm ” Lặng lẽ Sa Pa” của nhà văn Nguyễn Thành Long bằng một đoạn văn có sử dụng phép thế bằng một đoạn văn có sử dụng phép nối.

    – Tóm tắt ngắn gọn ( không quá nửa trang giấy thi) tác phẩm ” Bến quê” của nhà văn Nguyễn Minh Châu bằng đoạn văn diễn dịch, trong đó có câu hỏi tu từ.

    – Tóm tắt ngắn gọn ( không quá nửa trang giấy thi) tác phẩm ” Những ngôi sao xa xôi” của nhà văn Lê Minh Khuê bằng đoạn văn tổng phân hợp, có sử dụng phép nối.

    3. Đoạn văn giải thích về ý nghĩa nhan đề tác phẩm.

    Hướng dẫn viết đoạn.

    – Yêu cầu về nội dung:

    – Nêu được chính xác tên tác phẩm, tên tác giả.

    – Khẳng định giá trị của nhan đề tác phẩm. Cũng có thể kết hợp đánh giá về tác giả, tác phẩm.

    – Yêu cầu về hình thức:

    – Viết đoạn văn ngắn từ 5 – 7 câu, các câu văn được liên kết với nhau theo mô hình kết cấu nhất định, sử dụng các phép liên kết nội dung và hình thức.

    – Sử dụng linh hoạt các kiểu câu để viết đoạn văn.

    Ví dụ 1:

    – Bài tập

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Nguyễn Du, đại thi hào của dân tộc đã sáng tác ” Truyện Kiều”, truyện thơ bằng chữ Nôm, một kiệt tác của văn học trung đại Việt Nam. Tác phẩm đó được nhà thơ lấy tên là ” Đoạn trường tân thanh” với nghĩa là tiếng kêu mới xé lòng đứt ruột. Ngay trong nhan đề, tác phẩm đã thể hiện được tấm lòng nhân đạo sâu sắc của thi nhân. Ông thương cảm, xót xa cho số phận bất hạnh của nàng Kiều, một người con gái tài hoa bị vùi dập trong kiếp đoạn trường đau khổ. Viết về Kiều, về cuộc đời trầm luân bể khổ của nàng, tác giả muốn nói lên những tiếng kêu than xé lòng đứt ruột, thương cho kiếp đời tài sắc nhưng bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội xưa. Nhan đề tác phẩm thể hiện rõ nội dung, tư tưởng tác phẩm; nhưng nhân dân ta đã đặt tên lại, gọi ngắn gọn là ” Truyện Kiều”. Cái tên này nôm na, dễ nhớ, dễ hiểu, lấy tên nhân vật chính ( nàng Thuý Kiều) đặt tên cho tác phẩm. Đây là cách đặt tên thường thấy trong văn học dân gian. Tác phẩm tự sự này xoay quanh kể về cuộc đời của nhân vật chính là nàng Kiều, người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng bị những thế lực hắc ám vùi dập, đoạ đày thật thương tâm. Thương thay cho số phận bất hạnh của nàng Kiều, của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa! Như vậy cùng một tác phẩm nhưng mỗi tên gọi thể hiện một dụng ý là như thế đó!

    Câu kết thúc đoạn văn là câu cảm thán.

    – Ví dụ 2:

    – Bài tập Viết một đoạn văn ngắn giải thích nhan đề của truyện ngắn ” Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long ( trong đó có sử dụng một câu hỏi tu từ kết thúc đoạn).

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Câu kết thúc đoạn văn là một câu hỏi tu từ.

    Ví dụ 3:

    – Bài tập Viết đoạn văn ( khoảng 5 câu) theo cách tổng phân hợp thể hiện sự cảm nhận của em về ý nghĩa nhan đề tác phẩm ” Bến quê” của Nguyên Minh Châu.

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Có những tác phẩm tuy đã khép lại nhưng những dư âm, những trăn trở vẫn còn mãi trong lòng người đọc. Nhan đề ” Bến quê” phải chăng cũng ẩn chứa một ý nghĩa sâu xa? Bến quê là nơi ghi dấu bao kỉ niệm từ thời thơ ấu cho đến lúc trưởng thành. Ở đó mỗi con người đã được nuôi dưỡng và lớn lên cả về thể chất lẫn tâm hồn. Bến quê là điểm tựa bình yên cho cả một cuộc đời mỗi con người. Được sống trong tình yêu thương của mọi người, được bao bọc trong vẻ đẹp bình dị của quê hương mới thật là hạnh phúc. Đó là ” Bến quê” của tâm hồn mỗi chúng ta. Những điều tác giả gửi gắm đến người đọc càng trở nên tự nhiên nhờ sự miêu tả tâm lí tinh tế, nhiều hình ảnh giàu tính biểu tượng. Cách xây dựng tình huống truyện, đặc biệt là trần thuật theo dòng tâm trạng của nhân vật chính. Thật chân thực, gần gũi khi những điều Nguyễn Minh Châu thể hiện lại được bộc lộ qua suy nghĩ, lời nói của nhân vật chính là Nhĩ. Lấy ” Bến quê” làm nhan đề truyện ngắn, Nguyễn Minh Châu đã gửi gắm những suy nghĩ, trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về con người và cuộc đời, thức tỉnh ở mọi người sự trân trọng những vẻ đẹp và giá trị bình dị, gần gũi của gia đình, của quê hương.

    Mô hình cấu trúc đoạn văn: Đoạn văn tổng phân hợp.

    Các câu tiếp theo phân tích, lí giải về nhan đề truyện.

    Ví dụ 4:

    – Bài tập Viết một đoạn văn ngắn giải thích nhan đề của tác phẩm ” Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải (trong đó có sử dụng phép thế và một câu hỏi tu từ kết thúc đoạn).

    – Đoạn văn minh hoạ:

    ” Bài thơ ” Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh Hải ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp của đất nước, một mùa xuân tươi vui, tràn đầy sức sống. Tác giả của bài thơ là người sống hết mình thuỷ chung cho đất nước, đem cả cuộc đời phục vụ cho Tổ quốc. Khi đất nước bị mĩ – Diệm và bè lũ tay sai âm mưu chia cắt làm hai miền, ông hoạt động bí mật trong vùng giặc, gây dựng phong trào cách mạng, coi thường cảnh máu chảy đầu rơi. Cảm động hơn nữa là bài thơ ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt, khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh, một tháng trước lúc ông qua đời. Bởi thế nên ” Mùa xuân nho nhỏ” không chỉ thể hiện lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước của tác giả mà còn thể hiện tình yêu trước cuộc đời của người nghệ sĩ. Nhan đề bài thơ chứa đựng một ý nghĩa sâu sắc: mỗi con người hãy trở thành “một mùa xuân nho nhỏ” để làm nên mùa xuân bất tuyệt của đất nước. Ai cũng phải có ích cho đời. ” Mùa xuân nho nhỏ” là một ẩn dụ đầy sáng tạo khắc sâu ý tưởng: ” Mỗi cuộc đời đã hoá núi sông ta” (Nguyễn Khoa Điềm). Nhà thơ Thanh Hải đã góp cho thơ ca dân tộc một bài thơ xuân đẹp, đậm đà tình nghĩa. Tuy một tâm hồn, tài năng thơ đã khép lại, nhưng những gì thuộc về chất ngọc trong trái tim, tấm lòng nhà thơ còn để đời cho hậu thế trân trọng nâng niu. Làm sao không quý, không yêu những vần thơ của một hồn thơ đáng kính nhường này?”

    Phép thế đại từ: Thanh Hải, nhà thơ, ông, hồn thơ.

    Câu kết thúc đoạn văn là câu hỏi tu từ.

    Luyện tập:

    – Viết đoạn văn ( khoảng 5 câu) theo cách tổng phân hợp, có sử dụng câu ghép, thể hiện sự cảm nhận của em về ý nghĩa nhan đề tác phẩm ” Đồng chí” của Chính Hữu.

    – Viết đoạn văn ( khoảng 5 câu) theo cách tổng phân hợp, có sử dụng câu mở rộng thành phần, thể hiện sự cảm nhận của em về ý nghĩa nhan đề tác phẩm ” Bếp lửa” của Bằng Việt.

    – Viết đoạn văn ( khoảng 5 câu) theo cách diễn dịch, có sư dụng câu ghép, thể hiện sự cảm nhận của em về ý nghĩa nhan đề tác phẩm ” Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm.

    – Viết đoạn văn ( khoảng 5 câu) theo cách quy nạp, cs sử dụng câu hỏi tu từ, thể hiện sự cảm nhận của em về ý nghĩa nhan đề tác phẩm ” Ánh trăng” của Nguyễn Duy.

    – Viết đoạn văn ( khoảng 5 câu) theo cách tổng phân hợp thể hiện sự cảm nhận của em về ý nghĩa nhan đề tác phẩm ” Sang thu” của Hữu Thỉnh.

    – Viết đoạn văn ( khoảng 5 câu) theo cách diễn dịch, có sử dụng phép liên kế câu, thể hiện sự cảm nhận của em về ý nghĩa nhan đề tác phẩm ” Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê.

    4. Đoạn văn phân tích một chi tiết quan trọng hoặc một từ ngữ, hình ảnh đặc sắc trong tác phẩm.

    Hướng dẫn viết đoạn:

    Yêu cầu về nội dung:

    – Giới thiệu chi tiết quan trọng hoặc từ ngữ, hình ảnh đặc sắc trong tác phẩm cần phân tích.

    – Phân tích chi tiết (từ ngữ, hình ảnh) đó hay, đặc sắc như thế nào về nội dung, hình thức.

    Yêu cầu về hình thức: như yêu cầu chung về hình thức của đoạn văn.

    Ví dụ 1:

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Ví dụ 2:

    – Bài tập Em hãy chọn một chi tiết đặc sắc thể hiện tình yêu tha thiết làng quê mình của ông Hai trong tác phẩm ” Làng” của Kim Lân, viết một đoạn văn ngắn phân tích chi tiết đó ( sử dụng câu hỏi tu từ cuối đoạn).

    – Đoạn văn minh hoạ:

    ” Tình yêu làng trào dâng như sóng và trở thành một niềm cảm hứng mãnh liệt trong ông Hai. Bằng cách để nhân vật tự kể về mình, nhà văn đã giúp ta hiểu phần nào tâm trạng của ông Hai. Niềm vui sướng của ông khi kể chuyện làng lan sang cả trang sách, len lỏi vào lòng người đọc. Không những vật, ông còn tự hào về làng mình có những đường hầm, hào liên tiếp, có những ụ giao thông, những buổi tập quân sự của các cụ phụ lão cứu quốc…Điều đó thể hiện một tình cảm sâu kín thấm vào da thịt ông rất giản dị mà cao quý. Tình cảm đó càng được nhân lên gấp bội khi ông nghe tin làng chợ Dầu đi Việt gian: ” Cổ ông nghẹn đắng lại, da mặt ông tê rân”…Chỉ bằng một chi tiết nhỏ nhưng rất đặc sắc, Kim Lân đã diễn tả thành công sự đau khổ đang giày vò, giằng xé tâm can ông Hai. Nhà văn rất tài tình khi xây dựng, dâng tình tiết truyện lên đến kịch tính, đưa câu chuyện lên đến đỉnh cao mâu thuẫn để bộc lộ đáy sâu tâm hồn ông Hai. Biết tin sét đánh này, ông nghẹn ngào, choáng váng, nói không ra lời như một cái gì nuốt không nổi. Suy cho cùng, nỗi đau đớn ấy cũng xuất phát từ tình yêu làng của ông mà ra. Bởi vì yêu làng quá, tin làng quá nên ông mới xấu hổ, tủi hổ khi nghe cái tin ấy. Tình yêu làng của ông thật cao đẹp, to lớn biết nhường nào?”

    Câu kết thúc đoạn là câu hỏi tu từ.

    Ví dụ 3:

    – Bài tập Em hãy chọn một chi tiết đặc sắc thể hiện sự chiêm nghiệm của Nhĩ trong tác phẩm ” Bến quê” của Nguyễn Minh Châu, viết một đoạn văn ngắn, có câu hỏi tu từ, phân tích chi tiết đó.

    – Đoạn văn minh hoạ:

    ” Bến quê” là một truyện ngắn thấm đẫm ý vị triết lí về con người và cuộc đời. Bài học về lẽ sống được đặt ra trong tác phẩm thật cảm động. Nhĩ là nhân vật trung tâm của tác phẩm. Anh là người thành đạt, bước chân của anh đã in dấu nhiều nơi trên trái đất, giờ đây lại bị cột chặt vào giường bệnh. Chính vào thời điểm này, thời điểm đối mặt với cái chết, đối mặt với chính mình Nhĩ mới chợt nhận ra, chợt thấu hiểu giá trị đích thực của cuộc sống. Vậy điều chiêm nghiệm lớn lao nhất của Nhĩ là gì? Nằm bên cửa sổ, trông ra bến quê Nhĩ lúc này mới phát hiện ra vẻ đẹp thầm kín, bình dị của bãi bồi bên kia sông Hồng “một chân trời gần gũi mà lại xa lắc”. Trong anh chợt bừng lên một niềm khao khát vươn tới: sang bên kia sông. Thoạt nghe tưởng chừng lạ lùng nhưng thực ra đó là điều mong muốn chính đáng. Nhĩ bệnh trọng nên anh trao niềm mong muốn đó cho con trai anh – thằng Tuấn, hi vọng con trai thay thay mình khám phá được vẻ đẹp của mảnh đất thân thuộc. Đến đây Nhĩ gặp phải nghịch lí: đứa con không hiểu được ước muốn của cha. Tuấn còn trẻ – cái độ tuổi chưa đủ chín chắn, do đó Tuấn làm một cách miễn cưỡng và hờ hững để rồi lại bị cuốn hút vào trò chơi phá cờ thế trên đường phố. Nhưng Nhĩ không trách con mà anh chỉ buồn bởi Tuấn dẫm theo vết xe đổ của bản thân mình. Nguyễn Minh Châu đã sử dụng nhiều hình ảnh mang lớp nghĩa biểu tượng để thể hiện điều chiêm nghiệm của tác giả qua suy nghĩ của nhân vật Nhĩ. Trò chơi phá cờ thế trên hè phố chính là tượng trưng cho những cám dỗ, những điều hấp dẫn khiến con người đi sai hướng. Mà cơ hội thì khó xuất hịên hai lần như chuyến đò ngang chở khách qua sông duy nhất một lần trong ngày. Đó cũng là quy luật phổ biến của đời người: “Con người trên đường đời thật khó tránh được những điều vòng vèo hoặc chùng chình”. Đây chính là điều mà đến lúc sắp giã biệt cuộc đời Nhĩ mới kịp nhận ra nhưng cũng đã muộn, đây cũng chính là điều chiêm nghiệm lớn lao nhất của Nhĩ. Con đường trong tâm thức Nhĩ là vòng vèo, chùng chình vì nhiều người bị lạc đường, lạc hướng, thiếu trí tuệ. Hình ảnh con đò cập bến phải chăng là biểu tượng cho con đò đưa Nhĩ đến bến bờ hư không của một kiếp người? Chính giây phút đó, Nhĩ sắp từ giã cõi đời mà anh vẫn chưa thực hiện được mong muốn cuối cùng. Cái mảnh đất đầy phù sa bên kia sông vẫn cứ xa lắc. Hình ảnh kết thúc truyện cứ ám ảnh mãi trong lòng người đọc với hình ảnh Nhĩ cố giơ tay ra hiệu cho người con trai khi chiếc đò cập bến. Nhưng mọi cố gắng của anh dường như là vô vọng…Hình ảnh này cứ xoáy váo tâm trí người đọc một cảm xúc khó tả đến nao lòng.

    Ví dụ 4:

    – Bài tập Trong đoạn thơ sau:

    " Cá nhụ cá chim cùng cá đé Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long"

    Em thích hình ảnh nào nhất? Hãy viết một đoạn văn quy nạp, phân tích hình ảnh đó.

    – Đoạn văn minh hoạ:

    “Đoàn thuyến đánh cá” là bài thơ hay của nhà thơ Huy Cận, miêu tả nhiều cảnh của một chuyến ra khơi đánh cá của một đoàn thuyền từ lúc “mặt trời xuống biển” chiều hôm trước, đến tận lúc “mặt trời đội biển nhô màu mới” sáng hôm sau mới trở về. Đoàn thuyến ra khơi đi tìm được luồng cá trong lòng biển. Lưới đã thả và luồng cá hiện ra. Những con cá hiện ra thật đẹp “cá nhụ cá chim cùng cá đé”. Có rất nhiều loại cá và ta có thể nhận thấy đó là những loài cá quý. Trong tầm nhìn, từng đàn cá chen nhau đông đúc. Dưới ánh trăng, thân hình cá lấp lánh lung linh, và giữa các đàn cá đó, nổi bật lên hình ảnh:

    " Cá nhụ cá chim cùng cá đé Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé Đêm thở sao lùa nước Hạ Long"

    Đoạn thơ cho ta thấy đầy đủ sắc màu rực rỡ của con cá song. Đặc biệt hình ảnh đuôi cá được miêu tả thật độc đáo, sống động: ” Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé”. Giữa muôn ngàn cá, con nào cũng đẹp, nhưng cá song nổi bật lên không chỉ ở màu sắc rực rỡ như ngọn đuốc của cá làm cho trăng đẹp hơn, sáng hơn mà là ở cái đuôi “quẫy” khiến trăng “vàng choé”. Chính cử động ấy đã làm tâm hồn nhà thơ rung động và bật lên tiếng “em” trìu mến. Câu thơ đã góp phần làm cho bức tranh cá đầy màu sắc, ánh sáng, có hồn, và có giá trị thẩm mĩ đặc sắc: gợi tả và ca ngợi biển quê hương giàu đẹp.

    Ví dụ 5:

    – Bài tập Trong phần thứ nhất của bài thơ ” Mùa xuân nho nhỏ” Thanh Hải viết:

    " Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng"

    Đoạn thơ đẹp như một bức tranh. Em thích nhất hình ảnh nào trong bức tranh đó? Hãy viết một đoạn văn, có sử dụng câu ghép, phân tích hình ảnh ấy.

    – Đoạn văn minh hoạ 1:

    ” Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải là một bài thơ ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp của đất nước, một mùa xuân vui tươi, tràn đầy sức sống. Sáu câu thơ đầu đẹp như một bức tranh, bức tranh thơ được vẽ bằng nét bút tài hoa của người nghệ sĩ, bằng một niềm yêu mến thiết tha cảnh sắc thiên nhiên đất nước. Khung cảnh mùa xuân đã khơi nguồn cho bao thi sĩ. Mùa xuân trong thơ Trần Nhân Tông với hình ảnh:

    "Song song đôi bướm trắng Phất phới sấn hoa bay". ( Xuân hiểu)

    Hay trong thơ Nguyễn Trãi đó lại là hình ảnh:

    " Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan" ( Cuối xuân tức sự)

    Trong thơ Nguyễn Du ta mới bắt gặp hình ảnh:

    " Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa" ( Truyện Kiều)

    Ta đã được chiêm ngưỡng nhiều bức tranh về mùa xuân song bức tranh mùa xuân trong thơ Thanh Hải lại mang một nét đẹp hoàn toàn mới mẻ, tạo cho người xem một nguồn cảm hứng hoàn toàn mới lạ nhưng cũng dạt dào tha thiết. Trong bức tranh mùa xuân này, hình ảnh thơ ấn tượng nhất là:

    " Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc"

    Ở đây tác giả sử dụng biện pháp đảo ngữ với dụng ý là làm nổi bật lên hình ảnh bông hoa tím biếc giữa dòng sông xanh. Lẽ ra phải viết là: “Một bông hoa tím biếc – Mọc giữ dòng sông xanh” thì tác giả lại viết: “Mọc giữa dòng sông xanh – Một bông hoa tím biếc” để diễn tả sự trầm trồ ngạc nhiên trước tín hiệu đầu xuân. Dòng sông xanh được nói đến là con sông Hương – bài thơ trữ tình của cố đô Huế. Đúng là một bức tranh đẹp với những nét vẽ tài hoa của người nghệ sĩ, một bức tranh có đủ đường nét màu sắc. Ở đây các gam màu được phối hợp một cách hài hoà: giữa cái nền xanh của dòng sông nổi lên sắc tím biếc của bông hoa. Phải nói rằng Thanh Hải có một cái nhìn rất tinh tế của một hoạ sĩ thực thụ trong sự hoà phối các gam màu để tạo nên cho bức tranh xuân một vẻ đẹp dịu dàng nhưng thật đằm thắm, tạo cảm giác êm ái trong lòng người đọc mỗi khi xuân về.

    – Đoạn văn minh hoạ 2:

    Bài thơ ” Mùa xuân nho nhỏ” được Thanh Hải viết vào năm 1980, trong khung cảnh hoà bình, xây dựng đất nước. Một hồn thơ trong trẻo. Một điệu thơ ngân vang. Sáu câu thơ đầu như một tiếng hát reo vui đón chào một mùa xuân đẹp đã về. Tín hiệu đầu xuân là bông hoa tím biếc mọc trên dòng sông xanh của quê hương. Màu xanh của nước hoà với màu “tím biếc” của hoa đã tạo nên bức tranh xuân chấm phá mà đằm thắm. Bức tranh thơ ấy sống động hơn, có giá trị thẩm mĩ đặc sắc bởi một hình ảnh thơ gợi tả gợi cảm: tiếng chim. Đứng trước dòng sông xanh, bông hoa tím, ngẩng nhìn bầu trời, nhà thơ vui sướng lắng tai nghe chim chiền chiện hót. Chim chiền chiện còn gọi là chim sơn ca, bạn của nhà nông. Từ “ơi” cảm thán biểu lộ niềm vui ngây ngất khi nghe chim hót:

    "Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời"

    Hai tiếng ” hót chi” là giọng điệu thân thương của người dân Huế được tác giả đưa vào diễn tả cảm xúc thiết tha giữa người với tạo vật. Chim chiền chiện hót gọi xuân về, tiếng chim ngân vang, rung động đất trời đem đến bao niềm vui. Ngắm dòng sông, nhìn bông hoa đẹp, nghe chim hót, nhà thơ bồi hồi sung sướng:

    " Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng"

    “Đưa tay…hứng” là một cử chỉ bình dị trân trọng, thể hiện sự xúc động sâu xa. ” Giọt long lanh” là sự liên tưởng đầy chất thơ. Là giọt sương mai, hay giọt âm thanh tiếng chim chiền chiện? Sự chuyển đổi cảm giác ( thính giác – thị giác) đã tạo nên hình khối thẩm mĩ của âm thanh. Chỉ với ba nét vẽ: dòng sông xanh, bông hoa tím biếc và đặc biệt là tiếng chim chiền chiện hót …,Thanh Hải đã vẽ nên một bức tranh xuân đẹp tươi và dáng yêu vô cùng. Đó là vẻ đẹp đầy sức sống mặn mà của đất nước vào xuân.

    Ví dụ 6:

    – Bài tập Phân tích cách dùng từ ” nghĩa là” của Phạm Tiến Duật trong khổ thơ sau bằng đoạn văn quy nạp :

    " Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm"

    – Đoạn văn minh hoạ:

    ” Cuộc trú quân dã chiến của tiểu đội xe không lính ngắn ngủi mà thắm tình đồng chí, đồng đội. Đời lính rất giản dị, bình dị mà lại rất sang trọng. Giữa chiến trường ác liệt đầy bom đạn họ vẫn đàng hoàng ” Bếp Hoàng cầm ta dựng giữa trời”. Giữa trời là giữa thanh thiên bạch nhật. Bữa cơm dã chiến chỉ có bát canh rau rừng, có lương khô…thế mà rất đậm đà: ” Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”. Một chữ ” chung” rất hay gợi tả gia tài người lính, tấm lòng, tình cảm người lính. Tiểu đội xe không kính trở thành một tiểu gia đình chan chứa tình thương. ” Thơ là nữ hoàng nghệ thuật” thì ngôn từ là chiếc áo của nữ hoàng. Hai chữ “nghiã là” chỉ dùng để đưa đẩy nhưng dưới ngòi bút của những nhà thơ tài hoa thì nó trở nên óng ánh, duyên dáng, đậm đà. Với Xuân Diệu, mùa xuân, tuổi trẻ, thật đáng yêu, một đi không trở lại:

    " Xuân đang tới nghĩ là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân đã già Mà xuân hết nghĩa là tôi cững mất..." ( " Vội vàng" - 1938)

    Với Tố Hữu, người thanh niên cộng sản quyết chiến đấu và hi sinh vì một lí tưởng cách mạng cao đẹp thì hận, nhục, tranh đấu là lẽ sống thiêng liêng:

    " Tôi chưa chết nghĩa là chưa hết hận Nghĩa là chưa hết nhục của muôn đời Nghĩa là còn tranh đấu mãi không thôi Còn trừ diệt cả một loài thú độc!" ( "Tâm tư trong tù" 1939)

    Và Phạm Tiến Duật, 1969, thì tình đồng đội cũng là tình anh em ruột thịt, vô cùng thân thiết:

    "Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy"

    Thi sĩ có thực tài mới có thể thổi hồn vào ngôn từ. Chỉ qua hai chữ “nghĩa là”, ta đủ thấy nhà thơ trẻ rất xứng đáng với các thi sĩ đàn anh. Sau một bữa cơm thân mật, một vài câu chuyện thân tình lúc nằm võng, những người lính trẻ lại lên đường, tiền phương đang vẫy gọi:

    "Lại đi, lại đi trời xanh thêm"

    Điệp ngữ “lại đi” diễn tả nhịp bước hành quân, những cung đường, những chặng đường tiến quân lên phía trước của tiểu đội xe không kính. Hình ảnh “trời xanh thêm” là một nét vẽ rất tài hoa mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc: lạc quan, yêu đời, chứa chan hi vọng. Là hi vọng, là chiến công đang chờ. Đây là đoạn thơ thể hiện sinh động sinh hoạt vật chất và tinh thần người lính thời đánh Mĩ, rất hay, rất độc đáo mà ta ít gặp thời ấy”.

    Mô hình cấu trúc đoạn văn: Đoạn văn quy nạp.

    Các câu trên phân tích cảm nhận từng từ ngữ, hình ảnh thơ.

    Luyện tập:

    – Phân tích chi tiết cái chết của ông Sáu trong truyện ngắn ” Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng để làm sáng tỏ nhận xét của nhân vật ông Ba trong tác phẩm : ” Hình như chỉ có tình cha con là không chết được”.

    – Viết một đoạn văn phân tích cảnh chia tay cảm động của cha con ông Sáu trong truyện ” Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng để làm rõ cảm giác của nhân vật ông Ba trong truyện ” Nhìn cảnh ấy, bà con xung quanh có người không cầm được nước mắt, còn tôi bỗng thấy khó thở như có bàn tay ai đó nắm lấy trái tim tôi”.

    – Viết một đoạn văn ngắn phân tích chi tiết mang tính biểu tượng ở cuối tác phẩm “Bến quê” của nguyễn Minh Châu: ” Nhĩ đang thu hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô người ra ngoài, giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó”.

    – Viết một đoạn văn phân tích hình ảnh hàng tre trong khổ thơ sau:

    " Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi hàng tre xanh xanh Việt nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng" ( " Viếng lăng Bác" - Viễn Phương)

    – Viết một đoạn văn, có sử dụng câu hỏi tu từ, phân tích hình ảnh vầng trăng trong khổ thơ cuối bài “Ánh trăng” của Nguyễn Duy:

    " Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình".

    – Viết một đoạn văn, có sử dụng câu mở rộng phành phần, phân tích hình ảnh đám mây trong hai câu thơ sau:

    " Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu" ( " Sang thu" - Hữu Thỉnh)

    5. Đoạn văn phân tích đặc điểm nhân vật

    Hướng dẫn viết đoạn văn:

    Yêu cầu về nội dung:

    – Giới thiệu nhân vật cần phân tích với một vài nét chính như tên nhân vật, nhân vật của tác phẩm, tác giả nào, đặc điểm cần phân tích.

    – Dùng lí lẽ, dẫn chứng phân tích làm rõ đặc điểm đó.

    – Đánh giá nhân vật.

    Yêu cầu về hình thức: như yêu cầu về hình thức chung của đoạn văn.

    Ví dụ 1:

    – Bài tập Viết đoạn văn tổng phân hợp dài 10 – 12 câu, phân tích Quang Trung là bậc kì tài quân sự (qua hồi 14 trong tác phẩm ” Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô gia văn phái).

    – Đoạn văn minh hoạ 1:

    Đọc hồi thứ 14 ” Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô gia văn phái, ta thấy tác giả đã xây dựng được một hình tượng kì vĩ tráng lệ là người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ; Nguyễn Huệ (xưng vương là Quang Trung) là một bậc kì tài quân sự(1). Khi nghe được tin cấp báo quân Thanh sang xâm lược nước ta, ông vạch phương hướng ràng(2). Ông trực tiếp chỉ huy đại binh tiến ra Bắc thần tốc, bí mật chưa từng thấy trong lịch sử(3). Ông có tài điều binh khiển tướng, tài đó được thể hiện rõ trong lời dụ của ông trước ba quân và thể hiện trong cách xử tướng(4). Lời dụ của ông trước quân tướng sang sảng, hùng hồn như lời hịch lúc ra quân, kích thích lòng yêu nước, khơi gợi chí căm thù và khích lệ tinh thần xả thân cứu nước(5). Cách đánh giặc của ông đa dạng, linh hoạt, phong phú, luôn ở thế chủ động khiến giặc trở tay không kịp(6). Khi thì bao vây đánh giặc ở Hà Hồi, lúc thì áp sát đánh giặc dũng cảm sáng tạo ở Ngọc Hồi, lúc đánh nghi binh ở đê Yên Duyên, khi mai phục ở Đầm Mực,…(7) Quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Quang Trung tiến quân như vũ bão khiến giặc đại bại “thây chất đầy đồng, máu trôi đỏ nước”, tướng Sầm Nghi Đống “thắt cổ tự vẫn”, Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy về nước “ngựa không kịp đóng yên”,…(8)Quả thật, Quang Trung là bậc anh hùng lão luyện, là nhà quân sự đại tài mà lịch sử đời đời ghi nhớ, nhân dân ta đời đời biết ơn(9). Xây dựng và khắc hoạ hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ là một thành công đặc sắc của các văn sĩ trong “Ngô gia văn phái” (10). Nó làm cho trang văn “Hoàng Lê nhất thống chí” thấm đẫm chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng Đại Việt (11).

    Mô hình cấu trúc đoạn văn: Đoạn văn tổng phân hợp:

    Các câu triển khai: câu 2 đến câu 8. Tài cầm quân của Nguyễn Huệ.

    – Đoạn văn minh hoạ 2:

    Đọc Hồi thứ 14 ” Hoàng Lê nhất thống chí” (Ngô gia văn phái), hình tượng người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã để lại trong tâm hồn ta ấn tượng không phai mờ(1). Nguyễn Huệ thật ” lão luyện dũng mãnh và có tài cầm quân”(2). Ngày 24 tháng Chạp năm Mậu Thân ( 1788) nhận được tin cấp báo về thế giặc ở Thăng Long, để danh chính ngôn thuận xuất quân đánh giặc cõi Bắc, ông lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung(3). Ngày 25 còn ở Thuận Hoá thế mà ngày 19 đã hành quân tới Nghệ An, mộ thêm binh tinh, tổ chức duyệt binh và truyền hịch đánh giặc cứu nước(4). Chỉ hơn một ngày đêm, ông dã kéo quân tới Tam Điệp, lệnh cho tướng sĩ ăn tết trước, hẹn đến mùng 7 vào thành Thăng Long sẽ mở tiệc ăn mừng, rồi chia đại quân thành 5 đạo binh lớn ” gióng trống lên đường ra Bắc”( 5). Ông đã lấy yếu tố bất ngờ để đánh thắng giặc: bắt sống toàn bộ quân giặc do thám ở sông Thanh Quyết và đồn Hà Hồi; bao vây tiêu diệt đồn Ngọc Hồi, hàng vạn giặc bị giết “thây nằm đầy đồng, máu chảy thành suối”(6). Tại Đầm Mực làng Quỳnh Đô, giặc Thanh bị bủa vây “quân Tây Sơn lùa voi cho giày đạp, chết đến hàng vạn người”( 7). Trong khi đó, một trận “rồng lửa” diễn ra ác liệt tại Khương Thượng, xác giặc chất thành 12 gò cao như núi(8). Nguyễn Huệ đã tiến công như vũ bão, khác nào “Tướng ở trên trời rơi xuống, quân chui dưới đất lên”, làm cho Tôn Sĩ Nghị “sợ mất mật ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp…nhắm hướng bắc mà chạy”(9). Trưa mùng 5, Nguyễn Huệ và đại quân kéo vào thành Thăng Long trước kế hoạch tác chiến 2 ngày( 10). Chiến thắng Đống Đa năm Kỉ Dậu ( 1789) đã dựng lên tượng đài tráng lệ, hùng vĩ về vua Quang Trung để dân tộc ta đời đời tự hào và ngưỡng mộ:

    " Mà nay áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước biết bao công trình" ("Ai tư vãn" - Ngọc Hân công chúa) (11).

    Mô hình cấu trúc đoạn văn: Đoạn văn tổng phân hợp:

    Các câu khai triển: câu 2 -10. Chứng minh tài cầm quân của Nguyễn Huệ.

    Ví dụ 3:

    – Bài tập Viết một đoạn văn diễn dịch, phân tích lòng yêu nghề, say mê công việc của anh thanh niên trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long (kết thúc đoạn là một câu cảm thán).

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long là một người yêu nghề, say mê công việc, có tinh thần trách nhiệm cao. Công việc của anh là làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu với nhiệm vụ cụ thể là đo gió, đo mưa, tính nắng, tính mây, đo sự chấn động của vỏ trá đất. Anh làm việc đó một mình ở đỉnh Yên Sơn cao 2600 mét , nơi chỉ có cây cỏ và sương mù bao phủ quanh năm. Công việc anh làm gian khổ, thầm lặng nhưng có ý nghĩa giúp dự báo thời tiết để nhân dân ta sản xuất và chiến đấu. Phải là người yêu nghề, say mê với công việc, anh mới trụ vững ở đỉnh Yên Sơn, mới chiến thắng được sự cô đơn một mình. Đam mê với công việc nên anh tìm thấy niềm vui trong công việc ” Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao có trể gọi là một mình được”. Thật cảm động khi anh tâm sự bày tỏ với ông hoạ sĩ ” Công việc gian khổ như thế đấy, nhưng cất nó đi, cháu buồn chết đi được”. Suy nghĩ của anh chính là suy nghĩ của thế hệ trẻ ở thập niên 70 của thế kỉ XX, thật đẹp biết bao!”

    Mô hình cấu trúc đoạn văn: Đoạn văn diễn dịch:

    Các câu sau triển khai chứng minh cho đặc điểm đó.

    Câu kết đoạn đánh giá suy nghĩ về lẽ sống đẹp của anh.

    Ví dụ 4:

    – Bài tập

    Viết một đoạn văn khoảng 10 – 12 câu, theo cách lập luận diễn dịch phân tích về đặc điểm nổi bật của nhân vật ông Hai trong truyện Ngắn ” Làng” của Kim Lân. Đoạn văn có sử dụng yếu tố miêu tả, biểu cảm (gạch chân yếu tố miêu tả, biểu cảm đó).

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Ông Hai trong truyện ngắn ” Làng” của kim Lân là nhân vật điển hình cho người nông dân trong kháng chiến chống Pháp có tình yêu làng, yêu nước cảm động. Ông Hai yêu làng Chợ Dầu của mình nên thường khoe và tự hào làng của ông là làng cách mạng, làng kháng chiến. Vì hoàn cảnh ông phải đi tản cư, ông luôn nhớ về làng ” Chao ôi, lão thấy nhớ làng mình quá!”. Gặp đoàn tản cư ông lão hỏi thăm tin tức làng Chợ Dầu thì được người tản cư cho biết làng ông làm Việt gian theo Tây. Ông cảm thấy đau đớn, xấu hổ ” da mặt tê rân rân, cổ nghẹn đắng lại, không thở được”, “ông cúi gằm mặt, lảng đi về nhà”. Tin dữ ám ảnh ông, biến ông thành con người khác, chỉ ru rú ở nhà không dán ra ngoài, hay cáu bẳn, gắt gỏng. Khi mụ chủ nhà có ý định đuổi khéo gia đình ông, ông rơi vào trạng thái bế tắc, tuyệt vọng. Ở hoàn cảnh đó ông đấu tranh giằng xé: hay là về làng? Nhưng vừa nghĩ ông đã gạt phắt đi vì về làng tức là theo Tây, bỏ Cụ Hồ, bỏ kháng chiến. Trong sự bế tắc đó, ông tâm sự với con út như một cách ngỏ lòng mình rằng: ở ông, tình yêu làng, trung thành với cách mạng, với kháng chiến không bao giờ thay đổi. Khi được tin cải chính, ông Hai như người chết sống lại, ông lại sung sướng đi khoe làng bị đốt, nhà mình bị cháy. Đó là minh chứng hùng hồn chứng minh làng ông là làng Cách mạng, làng kháng chiến.

    Mô hình cấu trúc đoạn văn: Đoạn văn diễn dịch:

    Các câu sau triển khai chứng minh lòng yêu làng, yêu nước của ông Hai.

    Ví dụ 5:

    – Bài tập – Viết một đoạn văn theo kiểu quy nạp, phân tích tâm hồn trong sáng, mơ mộng, tinh thần dũng cảm của cô thanh niên xung phong Phương Định trong tác phẩm ” Những ngôi sao xa xôi” của nhà văn Lê Minh Khuê. Trong đoạn văn, sử dụng ít nhất hai phép liên kết câu (gạch dưới những từ ngữ này)

    – Đoạn văn minh hoạ:

    ” Những ngôi sao xa xôi” của nữ nhà văn Lê Minh Khuê kể về ba nữ thanh niên xung phong là Nho, Phương định và chị Thao làm thành “tổ trinh sát mặt đường”. Họ ở trên một cao điểm giữa một vùng trong điểm trên tuyến đường Trường Sơn – con đường huyết mạch, con đường nối hậu phương miền Bắc với tiền phương miền Nam, con đường trọng yếu của cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh. Cả ba cô gái trong tác phẩm đều đáng mến, đáng cảm phục. Nhưng người đọc vẫn có ấn tượng sâu sắc nhất với Phương Định. Vốn là một cô gái thành phố, thích mơ mộng, cô có một thời học sinh hồn nhiên, vô tư bên người mẹ, một căn buồng nhỏ ở một đường phố yên tĩnh. Những kỉ niệm ấy luôn sống lại trong cô ngay giữa chiến trường dữ dội. Nó vừa là niềm khao khát, vừa làm dịu mát tâm hồn cô trong hoàn cảnh căng thẳng, khốc liệt. Vào chiến trường đã ba năm, đã quen với những thử thách và nguy hiểm, giáp mặt hằng ngày với cái chết, nhưng ở cô cũng như ở đồng đội không mất đi sự hồn nhiên, trong sáng và những ước mơ về tương lai. Định còn là một cô gái rất hồn nhiên, yêu đời và thích hát. Định hát ngay trong những khoảnh khắc “im lặng”, khi máy bay trinh sát bay rè rè. Cô hát cả khi “máy bay rít, bom nổ, nổ trên cao điểm, cách cái hang này khoảng 300 mét”. Đúng là ” tiếng hát át tiếng bom”. Cô yêu quý hai người đồng đội, đặc biệt cô dành tình cảm và niềm cảm phục cho tất cả những chiến sĩ mà cô gặp hằng đêm trên trọng điểm của con đường ra mặt trận. Cũng giống như những cô gái mới lớn, Phương Định nhạy cảm và quan tâm tới hình thức của mình: ” Nói một cách khiêm tốn tôi là một cô gái khá, hai bím tóc dày tương đối mềm, cái cổ cao kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!” . Cô biết mình được nhiều người, nhất là các anh lính trẻ để ý và có thiện cảm. Điều đó làm cô thấy vui và cả tự hào nhưng chưa dành riêng tình cảm của mình cho một ai. Nhạy cảm nhưng cô lại không hay bộc lộ tình cảm của mình, tỏ ra kín đáo giữa đám đông, tưởng như là kiêu kì. Phương Định hay hồi tưởng về những kỉ niệm của tuổi học trò hồn nhiên, vô tư pha một chút tinh nghịch và mơ mộng của một thiếu nữ: “Cô hay ngồi trên thành cửa sổ để hát, hát say sưa đến nỗi suýt lộn nhào xuống đất”! Công việc phá bom đối với cô là một công việc quen thuộc nhưng cũng rất nguy hiểm. Thậm chí một ngày phá tới năm quả bom. Mỗi lần là một thử thách với giây thần kinh cho tới từng cảm giác. Nhân vật Phương Định còn để lại trong lòng người đọc những tình cảm sâu sắc bởi chính tâm hồn trong sáng, mộng mơ của cô. Giữa tuyến lửa Trường Sơn, cô vẫn dành một khoảng tâm hồn mình nhớ về hình ảnh người mẹ, nhớ về Hà Nội, nhớ về những ngôi sao trên bầu trời thành phố, nhớ về cái vòm tròn của nhà hát. Tất cả những kỉ niệm đó chính là niềm động viên, khích lệ cô gái hoàn thành nhiệm vụ cao cả của mình. Hình ảnh của Phương Định cùng các đồng đội, với vẻ đẹp của lòng dũng cảm, vẻ đẹp của tinh thần lạc quan, yêu đời, vẻ đẹp của tâm hồn trong sáng mãi mãi lung linh, toả sáng như những ngôi sao trên bầu trời.

    Mô hình cấu trúc đoạn văn: Đoạn văn quy nạp:

    – Các câu trên phân tích, chứng minh những vẻ đẹp của nhân vật Phương Định.

    – Câu kết đoạn nêu cảm nhận, đánh giá về nhân vật.

    Phép liên kết:

    – Phép nối: Cả… nhưng.

    – Phép thế: nữ thanh niên…họ…đồng đội; Phương Định…cô gái…cô.

    Luyện tập:

    – Viết một đoạn văn có sử dụng phép lặp, phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm ” Chuyện người con gái Nam Xương” của nhà văn Nguyễn Dữ.

    – Viết một đoạn văn có sử dụng phép nối, phân tích nhân vật ông Hai trong tác phẩm ” Làng” của Kim Lân.

    – Viết một đoạn văn có sử dụng phép thế, phân tích nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm ” Lặnh lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long.

    – Viết một đoạn văn quy nạp có sử dụng than từ, phân tích tình yêu ba mãnh liệt của bé Thu trong truyện ” Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.

    – Viết một đoạn văn theo kiểu diễn dịch, phân tích tâm hồn trong sáng, mơ mộng, tinh thần dũng cảm của cô thanh niên xung phong Phương Định trong tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi” của nhà văn Lê Minh Khuê. Trong đoạn văn, sử dụng ít nhất hai phép liên kết câu (gạch dưới những từ ngữ này)

    6. Đoạn văn phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ.

    Hướng dẫn viết đoạn:

    Yêu cầu về nội dung:

    – Xác định chính xác câu thơ, câu văn trích trong tác phẩm nào, của tác giả nào, nội dung phản ánh là gì; biện pháp tu từ được sử dụng trong câu đó là biện pháp gì.

    – Phân tích hiệu quả tu từ của biện pháp tu từ trong việc thể hiện nội dung.

    – Đánh giá câu thơ, câu văn đó.

    Yêu cầu về hình thức: như yêu cầu về hình thức chung của đoạn văn.

    Ví dụ 1:

    – Bài tập

    Viết một đoạn văn phân tích giá trị gợi hình và biểu cảm của các từ láy trong hai câu thơ sau:

    " Một bếp lửa chờn vờn trong sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm". ( " Bếp lửa" - Bằng Việt)

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Đây là hai câu thơ mở đầu bài thơ ” Bếp lửa”, khơi nguồn cho kí ức Bằng Việt từ nơi xa nhớ về quê hương, nhớ về người bà kính yêu của mình:

    " Một bếp lửa chờn vờn trong sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm".

    Nhà thơ nhớ về những kỉ niệm gắn với hình ảnh “bếp lửa”: “Một bếp lửa chờn vờn trong sương sớm”. Từ láy tượng hình “chờn vờn” gợi ánh lửa cháy bập bùng được nhìn qua làn sương mỏng giăng giăng buổi sớm. Đó là một hình ảnh thực in dấu trong tâm khảm, được nhà thơ nhớ lại nó thành một hình ảnh huyền ảo trong ánh hồi quang, mang đầy kỉ niệm đẹp về bếp lửa quê hương. Từ hình ảnh ấy nhà thơ cảm nhận được một sức ấm nóng toả ra không chỉ từ bếp lửa hồng sớm mai: “Một bếp lử ấp iu nồng đượm”. Từ láy tượng hình “ấp iu” trong câu thơ có giá trị biểu cảm cao, gợi đôi bàn tay nhóm lửa khéo léo, tần tảo, chịu thương, chịu khó của bà ” mỗi sớm, mỗi chiều lại bếp lửa bà nhen”. Đồng thời từ “ấp iu” còn gợi tấm lòng chăm chút yêu thương của tình bà dành cho cháu trong suốt những năm tháng tuổi thơ sống bên bà. Tình cảm bà cháu lớn lên cùng hình ảnh bếp lửa ngày càng “nồng đượm”. Với sự góp mặt của hai từ láy “chờn vờn”, “ấp iu” khiến cho câu thơ mang nặng kỉ niệm về kí ức ân tình, về bếp lửa, về tấm lòng bà, về tình bà cháu thiêng liêng.

    Ví dụ 2:

    – Bài tập

    Viết một đoạn văn tổng phân hợp trình bày cảm nhận của em về hai câu thơ:

    " Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa". ( "Truyện Kiều" - Nguyễn Du)

    ( Trong đó có sử dụng câu văn đánh giá, so sánh câu thơ của Nguyễn Du với câu thơ cổ Trung Quốc có nội dung tương tự).

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Hai câu thơ trên trích trong bài “Cảnh mùa xuân” ( ” Truyện Kiều” – Nguyễn Du) là hai câu thơ đặc sắc tả cảnh thiên nhiên mùa xuân trong tiết thanh minh. Nguyễn Du không miêu tả nhiều mà ông chỉ chọn tả một số hình ảnh đặc sắc, tiêu biểu, đó là hình ảnh “cỏ non xanh” tận chân trời, “cành lê trắng” điểm vài bông hoa. Cỏ xanh non, tươi tốt mơn mởn, mỡ màng được trải dài đến tận chân trời dường như còn được nối với xanh của bầu trời mùa xuân. Thảm cỏ non làm nền để làm nổi bật vẻ đẹp của mấy cành lê đang ra hoa, hoa nở điểm xuyết trên cành. Bằng nghệ thuật đảo ngữ ” trắng điểm”, tác giả đã tạo nên một điểm nhấn cho bức tranh, tô đậm sắc trắng tinh khiết của hoa lê nổi bật trên nền xanh non của cỏ. Hai câu thơ của Nguyễn Du thực ra có mượn hai câu thơ cổ của Trung Quốc:

    " Phương thảo liên thiên bích Lê chi sổ điểm hoa" ( Cỏ thơm liền với trời xanh Cành lê có điểm một vài bông hoa)

    Hai câu thơ cổ Trung Quốc chỉ gợi mà không tả, còn hai câu thơ của Nguyễn Du tả rõ màu sắc khiến câu thơ sinh động, có hồn với màu sắc tươi tắn đậm chất hội hoạ. Từ câu thơ ngũ ngôn mang phong vị Đường thi, dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Du thành câu thơ lục bát uyển chuyển mang đậm hồn thơ dân tộc. Chỉ với hai câu thơ tả cảnh với bút pháp chấm phá, Nguyễn Du cho ta cảm nhận được bức tranh xuân tươi tắn, tràn đầy sức sống phơi phới của mùa xuân.

    Đoạn văn có mô hình cấu trúc tổng phân hợp:

    – Các câu tiếp triển khai phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của hai câu thơ đó, có so sánh với hai câu thơ cổ Trung Quốc.

    Ví dụ 3:

    – Bài tập

    Viết một đoạn văn ngắn phân tích hiệu quả nghệ thuật được sử dụng trong hai câu thơ sau ( trong đó có sử dụng câu mở rộng thành phần, gạch chân câu đó):

    " Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng" ( " Khúc hát ru những em bé trên lưng mẹ" - Nguyễn Khoa Điềm)

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Trong chiến tranh gian khổ, xuất hiện những con người giàu đức hi sinh, cống hiến hết mình cho đất nước. Tiêu biểu cho những con người đó là bà mẹ Tà – ôi, Nguyễn Khoa Điềm đã khắc hoạ hình ảnh của bà mẹ:

    " Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng"

    Với hai câu thơ này, người đọc thấy hiện ra trước mắt hình ảnh bà mẹ Tà – ôi địu con lên núi Ka – lưi trỉa bắp thật thân thương. Trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm có dãy núi hoang sơ, có nương bắp đang trồng, có mặt trời trên đỉnh núi, có ” mặt trời” trên lưng mẹ. Hình ảnh mặt trời ở câu thơ thứ nhất là mặt trời của tự nhiên, của vũ trụ toả sáng đem sự sống đến cho vạn vật. Còn ở câu thơ thứ hai, hình ảnh mặt trời mang ý nghĩa ẩn dụ thật độc đáo. Em bé Cu – tai nằm trên lưng mẹ được tác giả ví như ” mặt trời của mẹ”. Em là mặt trời bé bỏng, đáng yêu, ấm áp của lòng mẹ. Em là ánh sáng là niềm vui, là báu vật, là hạnh phúc của đời mẹ. Hai hình ảnh sóng đôi ” mặt trời của bắp”, ” mặt trời của mẹ” tạo nên một sự liên tưởng bất ngờ, thú vị. Mặt trời có ý nghĩa với muôn loài thế nào thì em Cu – tai có ý nghĩa thiêng liêng với đời mẹ như thế. Với cách viết như vậy, Nguyễn Khoa Điềm đã tạo ra một câu thơ hay, độc đáo trong thơ hiện đại.

    Câu mở rộng thành phần bổ ngữ: Với hai câu thơ này, người đọc thấy hiện ra trước mắt hình ảnh bà mẹ Tà – ôi địu con lên núi Ka – lưi trỉa bắp thật thân thương.

    – Đề ngữ: Với hai câu thơ này.

    – Chủ ngữ: người đọc.

    – Vị ngữ: thấy hiện ra trước mắt hình ảnh bà mẹ Tà – ôi địu con lên núi Ka – lưi trỉa bắp thật thân thương.

    – Động từ trung tâm: thấy.

    – Bổ ngữ: hiện ra trước mắt hình ảnh bà mẹ Tà – ôi địu con lên núi Ka – lưi trỉa bắp thật thân thương.

    – Trong bổ ngữ có:

    + Chủ ngữ: mắt hình ảnh bà mẹ Tà – ôi địu con lên núi Ka – lưi trỉa bắp.

    + Vị ngữ: thật thân thương.

    Ví dụ 4:

    – Bài tập Viết một đoạn văn phân tích giá trị tu từ của những thanh bằng trong câu thơ cuối của khổ thơ sau:

    " Không có kính ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi".

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Khổ thơ thứ tư, nhà thơ lại tiếp tục ghi lại những gian khổ mà người lính đã trải qua:

    " Không có kính ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng gió lùa mau khô thôi".

    Lại một lần nữa, người đọc bắt gặp hình ảnh người lái xe trong cái vẻ ngang tàng, chấp nhận mọi thử thách: “Ừ thì ướt áo” như một tiếng tặc lưỡi. Luôn luôn là một thái độ bất cần, bất chấp hoàn cảnh. Khó khăn, gian khổ cũng không làm ảnh hưởng đến ý chí của họ, không gì ngăn nổi bánh xe lăn, không gì cản được trái tim người chiến sĩ hướng về tiền phương. Nhiệt tình cách mạng của người lái xe không còn là trừu tượng nữa mà được tính bằng cung đường “lái trăm cây số nữa”. Những cung đường ấy trong mưa bom bão đạn phải trả bằng mồ hôi xương máu. Gian khổ là vậy, nhưng hình ảnh người lái xe vẫn phơi phới niềm tin, tràn đầy nghị lực đã được thể hiện qua câu thơ cuối khổ bốn:

    " Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi".

    Một câu thơ với cấu trúc khá đặc biệt, có bảy từ mà đến sáu thanh bằng góp phần diễn tả sự lâng lâng bay bổng. Trong hoàn cảnh nghiệt ngã không chỉ ở mưa bom bão đạn của kẻ thù mà còn là “mưa rừng Trường Sơn” – những cơn mưa lũ xối xả, người chiến sĩ lái xe không hề chùn bước, ngại ngùng. Trái lại, như thép đã tôi luyện, họ càng dày dạn, vững vàng, coi mưa gió là chuyện thường. Ngồi sau vô lăng, chạy xe trong mưa rừng, tranh thủ từng phút vượt qua cung đường dài đầy nguy hiểm để đưa hàng tới đích phục vụ tiền phương. Câu thơ không chỉ là miêu tả, không chỉ là lời tự động viên, đằng sau câu thơ là một tâm hồn yêu đời lạc quan, một tính cách trẻ trung đầy chất lính.

    Ví dụ 5:

    – Bài tập Viết một đoạn văn phân tích giá trị tu từ của biện pháp hoán dụ trong khổ thơ cuối bài thơ ” Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật:

    " Không có kính, rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim".

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Khổ cuối đã làm nổi bật cái dữ dội và khốc liệt của chiến tranh. Chiếc xe mang đầy thương tích:

    " Không có kính, rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước"

    Hai dòng thơ với sự tập hợp của ba cái “không có” và chỉ có một cái “có”. Tất cả đã khắc hoạ lên trước mắt người đọc hình ảnh những chiếc xe vận tải quân sự mang đầy thương tích chiến tranh. Nhưng những chiếc xe không kính đó vẫn chạy bon bon trên đường Trường Sơn với một niềm tự hào, khẳng định dáng đứng và tâm thế của người lính – thể hiện tuổi trẻ Việt Nam:

    " Chỉ cần trong xe có một trái tim"

    Hình ảnh hoán dụ ” trái tim” là biểu tượng của ý chí, của bầu nhiệt huyết, của khát vọng tự do, hoà bình cháy bỏng trong tim người chiến sĩ. Không mà lại có, cái có của người lính lái xe là một trái tim, một người yêu nước, một lòng khao khát giải phóng miền Nam thì tất cả những cái thiếu kia đâu có hề gì. Vậy đó, khí phách ngang tàng mà vẫn tha thiết yêu thương, đó là anh lính lái xe thời chống Mĩ của Phạm Tiến Duật.

    Luyện tập:

    – Phân tích ý nghĩa của các từ láy trong đoạn thơ:

    " Nao nao dòng nước uốn quanh Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang Sè sè nắm đất bên đàng Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh" ( Trích " Truyện Kiều" - Nguyễn Du).

    – Trong câu thơ “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”, nhà thơ đã sử dụng biện pháp tu từ gì? Nêu rõ hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ ấy.

    – Em hãy phân tích cái đặc sắc của hai câu thơ sau:

    " Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá" ( Trích "Đồng chí" - Chính Hữu)

    – Nói về nỗi nhớ gia đình, quê hương của anh bộ đội Cụ Hồ trong những năm dài máu lửa, Chính Hữu đã viết: ” Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”. Em hãy cho biết cái hay của câu thơ là ở chỗ nào?

    – Xác định và chỉ rõ tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng ở câu cuối cùng của bài thơ ” Bài thơ về tiểu đội xe không kính” ( Phạm Tiến Duật): ” Chỉ cần trong xe có một trái tim”.

    – Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau:

    " Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa" ( Trích "Đoàn thuyền đánh cá" - Huy Cận)

    – Em hãy phân tích ý nghĩa của biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:

    " Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng" ( Trích " Đoàn thuyền đánh cá" - Huy Cận).

    – Phân tích ý nghĩa tu từ trong hai câu thơ sau:

    " Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào" ( Trích " Đoàn thuyền đánh cá" - Huy Cận)

    – Em hãy phân tích ý nghĩa của biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:

    " Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi". ( Trích " Đoàn thuyền đánh cá" - Huy Cận).

    – Phân tích ý nghĩa tu từ trong đoạn thơ sau:

    " Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen Một ngọn lửa, lòng bà luôn ấp ủ Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng..." Trích " Bếp lửa" - Bằng Việt)

    – Phân tích ý nghĩa tu từ trong đoạn thơ sau:

    " Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ , em nằm trên nương" ( Trích " Khúc hát ru những em bé ngủ trên lưng mẹ" - Nguyễn Khoa Điềm)

    – Em hãy phân tích ý nghĩa của biện pháp tu từ trong những câu thơ sau đây:

    "Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng". ( Trích " Mùa xuân nho nhỏ" - Thanh Hải)

    – Em hãy phân tích ý nghiã biện pháp tu từ trong những câu thơ sau đây:

    " Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc" (Trích " Mùa xuân nho nhỏ" - Thanh Hải)

    – Xác định và chỉ rõ tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng ở trong những câu thơ sau:

    "Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng". ( Trích " Viếng lăng Bác" - Viễn Phương)

    – Xác định và chỉ rõ tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong những câu thơ sau:

    " Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ". ( Trích " Viếng lăng Bác" - Viễn Phương)

    – Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong những câu thơ sau:

    " Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân" ( Trích " Viếng lăng Bác" - Viễn Phương)

    – Viết đoạn văn tổng phân hợp trong đó có sử dụng câu hỏi tu từ, phân tích cái hay được sử dụng trong khổ thơ cuối bài ” Đồng chí” của Chính Hữu:

    "Đêm nay, rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo".

    – Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về hai câu thơ sau ( trong đó có sử dụng một câu ghép):

    " Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm". ( " Bài thơ về tiểu đội xe không kính" - Phạm Tiến Duật)

    7 . Đoạn văn phân tích, cảm nhận về một đoạn văn, đoạn thơ.

    Hướng dẫn viết đoạn:

    Yêu cầu về nội dung:

    – Xác định chính xác đoạn thơ, đoạn văn trích trong tác phẩm nào, của tác giả nào.

    – Đặc sắc về nội dung hoặc nghệ thuật của đoạn là gì, phân tích nội dung và hiệu quả của biện pháp nghệ thuật trong việc thể hiện nội dung đó.

    – Đánh giá đoạn thơ, đoạn văn đó ( có thể kết hợp đánh giá về tác giả, tác phẩm).

    Yêu cầu về hình thức: như yêu cầu về hình thức chung của đoạn văn.

    Ví dụ 1:

    – Bài tập

    Viết một đoạn văn phân tích giá trị gợi hình và biểu cảm của hai hình ảnh thơ song đôi trong khổ thơ sau:

    " Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy quang lưng. Mùa xuân người ra đồng, Lộc trải đầy nương mạ". ( " Mùa xuân nho nhỏ"- Thanh Hải)

    – Đoạn văn minh hoạ:

    ” Mùa xuân nho nhỏ” là bài thơ ngũ ngôn trường thiên của Thanh Hải ra đời vào những ngày tháng cuối năm 1980. Nó được phổ nhạc thành ca khúc mùa xuân làm xao xuyến và say đắm lòng người. Bài thơ có những hình ảnh xuân của thiên nhiên, của đất nước, của con người thật đẹp, trong đó có bốn câu thơ nói về mùa xuân sản xuất và chiến đấu của nhân dân ta. Cấu trúc thơ song hành đối xứng để chỉ rõ hai nhiệm vụ chiến lược ấy:

    " Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy quanh lưng. Mùa xuân người ra đồng, Lộc trải đầy nương mạ".

    ” Lộc” là chồi non, cành biếc mơn mởn. Khi mùa xuân về cây cối đâm chồi nảy lộc. ” Lộc” trong văn cảnh này tượng trưng cho vẻ đẹp mùa xuân và sức sống mãnh liệt của đất nước. Người lính khoác trên lưng vành lá nguỵ trang xanh biếc, mang theo sức sống mùa xuân, sức mạnh của dân tộc để bảo vệ Tổ quốc. Người nông dân, đem mồ hôi và sức lao động cần cù làm nên màu xanh cho ruộng đồng, “trải dài nương mạ” bát ngát quê hương. Ý thơ vô cùng sâu sắc: máu và mồ hôi của nhân dân đã góp phần tô điểm mùa xuân và để giữ lấy mùa xuân mãi mãi.

    Ví dụ 2:

    – Bài tập Viết đoạn văn diễn dịch trong đó có câu ghép (gạch chân câu ghép đó): phân tích khổ thơ đầu bài thơ ” Sang thu” của hữu Thỉnh:

    " Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về".

    – Đoạn văn minh hoạ:

    ” Từ chiến hào tới thành phố” là tập thơ – đoá hoa đầu mùa của Hữu Thỉnh, xuất bản vào tháng 5.1985. Cái duyên của nhà thơ- người lính lái xe thiết giáp này thể hiện khá đậm đà ở một số bài thơ ngũ ngôn, trong đó có bài ” Sang thu”. Mở đầu bài thơ là một nét chớm thu nơi đồng quê êm đềm, dịu dàng và thơ mộng được cảm nhận và diễn tả một cách tinh tế, tài hoa:

    " Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về".

    Mùa thu là mùa đẹp nhất, đáng yêu nhất. nắng vàng tươi, trời xanh trong bao la. Có trăng sáng, có gió mát. Nhiều thi sĩ xưa nay đã nói thật hay, thật đẹp về thu:

    " Long lanh đáy nước in trời Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng" ( Nguyễn Du) "Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu" ( Nguyễn Khuyến)

    Hữu Thỉnh cũng góp cho thơ thu dân tộc một nét thu: đất trời, quê hương ngày đầu thu, buổi chớm thu. Hình như đã nhiều ngày đêm chờ mong thu về, sớm nay nhà thơ khẽ reo lên:

    " Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió thu"

    Mùa thu là mùa của trái chín: chuối tiêu trứng cuốc, chuối ngự vàng ươm, trái hồng đỏ mọng,…Hương vị thu là ” hương cốm mới”, là hương thơm ngọt ngào của trái cây. Với Hữu Thỉnh, cái tín hiệu báo mùa thu đang tới là hương ổi nơi vườn quê; cái hương thơm nồng nàn ấy, thân thuộc ấy đang ” phả vào trong gió se”. Gió thu lành lạnh, khô khô, se se . Hương ổi toả ra nồng nàn như ” phả” vào cảnh vật, được gió thu mang đi, làm ngây ngất hồn người. Hương ổi là một thi liệu độc đáo thể hiện bút pháp nghệ thuật Hữu thỉnh. Chữ ” bỗng” trong câu thơ ” Bỗng nhận ra hương ổi” diễn tả sự ngạc nhiên, niềm vui bất ngờ chợt đến, mới cảm nhận được, mới phát hiện ra. Không chỉ là hương ổi, là gió se, tín hiệu sang thu còn có sương thu:

    " Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về"

    Hai chữ ” chùng chình” đã nhân hoá sương thu. Sương thu ngập ngừng vấn vương, chờ đợi… một chút gì bâng khuâng. Nhìn thấy sương trắng nhạt phủ mờ ngõ nhỏ, nhà thơ cảm thấy thu đã về. Hai chữ “hình như” là phỏng đoán, nửa tin nửa ngờ. Nhà thơ cảm nhận bước đi của mùa thu trong khoảnh khắc chớm thu không chỉ bằng khứu giác (nhận ra hương ổi), không chỉ bằng xúc giác (gió se), bằng thị giác (sương chùng chình qua ngõ) mà còn bằng tất cả sự rung động của tâm hồn, linh hồn. Bâng khuâng, rạo rực, rung động và xôn xao. Không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật và tâm trạng nghệ thuật đồng hiện khá tinh tế, đầy chất thơ.

    Mô hình cấu trúc đoạn văn : Đoạn văn diễn dịch:

    – Các câu khai triển phân tích cảm nhận những đặc sắc đó.

    Câu ghép được gạch chân.

    Ví dụ 3:

    – Bài tập Viết một đoạn văn phát biểu cảm nhận của em về tình mẹ qua đoạn thơ sau trong bài thơ “Con cò” của Chế Lan Viên (trong đó, kết thúc đoạn là một câu hỏi tu từ):

    "Ngủ yên! Ngủ yên! Ngủ yên! Cành có mềm,mẹ đã sẵn tay nâng! Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân! Con chưa biết con cò, con vạc Con chưa biết những cành mềm mẹ hát Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân."

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Tình mẫu tử thiêng liêng tự cổ chí kim là đề tài muôn thuở của các văn nhân, thi sĩ. Mỗi tác giả khai thác đề tài này ở những khía cạnh khác nhau. Chế Lan Viên với bài thơ “Con cò” đã nói về sự nâng đỡ dịu dàng và bền bỉ của người mẹ đối với các con. Bài thơ mở đầu là lời ru của mẹ bên nôi, đưa con vào giấc ngủ êm đềm, chập chờn cánh cò, cánh vạc trong ca dao xưa…rồi hình ảnh cò mẹ lặn lội kiếm ăn ban đêm để nuôi đàn con bé bỏng, chẳng may “đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao”…lời ru của mẹ chứa đựng nỗi ngậm ngùi xót thương cho những thân phận vất vả, nhọc nhằn trong cuộc sống thời xưa. Ngắm nhìn con ngủ say, mẹ càng thấy con của mẹ may mắn được sống đầy đủ, no ấm trong vòng tay mẹ:

    "Ngủ yên! Ngủ yên! Ngủ yên! Cành có mềm,mẹ đã sẵn tay nâng! Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân! Con chưa biết con cò, con vạc Con chưa biết những cành mềm mẹ hát Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân."

    Mẹ đã dành cho con thơ tất cả: cánh tay dịu hiền của mẹ, lời ru câu hát êm đềm của mẹ, dòng sữa ngọt ngào của mẹ. những hoán dụ nghệ thuật ấy đã hình tượng hoá tình mẫu tử bao la. Nhịp thơ cũng là nhịp võng, nhịp cánh nôi nhẹ đưa, vỗ về. Điệp ngữ “ngủ yên”, “con chưa biết” và “con cò” láy đi láy lại nhiều lần làm cho giọng thơ trở nên đầm ấm, ngọt ngào, tha thiết dìu dịu chan chứa hạnh phúc yêu thương. Lời ru đậm đà tình nghĩa, ẩn chứa lời dạy về đạo lí làm người, qua âm hưởng, nhịp điệu trầm bổng theo tháng ngày mà thấm vào máu thịt, vào tâm hồn của đứa con yêu. Đọc những câu thơ như thế, ai mà không xúc động trước tình mẹ mênh mông như biển rộng, bất tận như suối nguồn?

    Câu kết đoạn là câu hỏi tu từ.

    Ví dụ 4:

    – Bài tậpViết một đoạn văn quy nạp nêu cảm nhận của em về đoạn văn miêu tả tâm lí nhân vật ông Hai ( trong ” Làng” của Kim Lân) khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc.

    – Đoạn văn minh hoạ:

    Trong lúc ông Hai đang hồ hởi với những chiến tích kháng chiến, những gương dũng cảm anh hùng của quân và dân ta thì ông như bị sét đánh về cái tin “dữ” cả làng Chợ Dầu “Việt gian theo Tây”… “vác cờ thần ra hoan hô” lũ giặc cướp! Ông tủi nhục cúi gằm mặt xuống mà đi, nằm vật ra giường như bị ốm nặng, nước mắt cứ tràn ra, có lúc ông chửi thề một cách chua chát! Ông sống trong bi kịch triền miên. Vợ con ông vừa buồn vừa sợ, “gian nhà lặng đi, hiu hắt”. Ông sợ mụ chủ nhà…có lúc ông nghĩ quẩn ” hay là quay về làng”… nhưng rồi ông lại kiên quyết: ” Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù!”. Cuộc đối thoại giữa hai bố con ông là một tình tiết cảm động và thú vị:

    – Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!”

    Nghe con ngây thơ nói mà nước mắt ông chảy ròng ròng trên hai má…lòng trung thành của cha con ông, của hàng triệu nông dân Việt Nam đối với lãnh tụ là vô cùng sâu sắc, kiên định. Vẻ đẹp tâm hồn ấy của họ rất đáng tự hào, ca ngợi. Kim Lân rất sâu sắc và tinh tế khi miêu tả những biến thái vui, buồn, lo, sợ, …của người nông dân về cái làng quê của mình. Họ đã yêu làng trong tình yêu nước, đặt tình yêu nước lên trên tình yêu làng. Đó là một bài học vô cùng quý giá và sâu sắc của ông Hai đem đến cho chúng ta. Đọc xong đoạn văn, chúng ta bồi hồi xúc động về tình yêu làng của ông Hai, về nghệ thuật kể chuyện tạo tình huống hấp dẫn, hồi hộp của nhà văn Kim Lân.

    Ví dụ 5:

    – Bài tập Viết một đoạn văn tổng phân hợp, phát biểu cảm nhận của em khi đọc đoạn văn sau trong tác phẩm ” Bến quê” của Nguyễn Minh Châu:

    ” Bên kia những cây bằng lăng, tiết trời đầu thu đem đến cho con sông Hồng một màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra. Vòm trời cũng như cao hơn. Những tia nắng sớm đang từ từ chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi bên kia sông, và cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi ở bên kia sông Hồng lúc này đang phô ra trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà Nhĩ một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non – những sắc màu thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ…”.

    Đoạn văn minh hoạ:

    Vẻ đẹp của thiên nhiên trong một buổi sáng đầu thu được miêu tả qua cái nhìn và cảm xúc tinh tế của nhân vật Nhĩ. Cảnh vật được miêu tả theo tầm nhìn của Nhĩ từ gần đến xa, tạo thành một không gian có nhiều sâu, chiều rộng. Đầu tiên, anh nhìn thấy những bông bằng lăng tím ngay phía ngoài cửa sổ, rồi đến con sông Hồng với màu nước đỏ nhạt và sau cùng là bãi bồi bên kia sông. Cảnh vật thiên nhiên hiện ra với vẻ đẹp vô cùng quyến rũ. Không gian và những cảnh vốn quen thuộc, gần gũi, nhưng hầu như rất mới mẻ đối với Nhĩ. Tưởng chừng như lần đầu trong đời, anh cảm nhận được vẻ đẹp phong phú của nó. Từ hoàn cảnh cụ thể của mình, Nhĩ đã quan sát, suy nhẫm để rút ra quy luật giống như một nghịch lí của đời người. Vào buổi sáng hôm ấy, khi nhận ra vẻ đẹp bình dị, gần gũi của cảnh vật qua ô của sổ, đồng thời cũng hiểu rằng mình sắp giã biệt cõi đời, trong tâm thức Nhĩ bừng lên một nhát khao vô vọng là được đặt chân một lần lên cái bãi bồi bên kia sông. Điều ước muốn ấy chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững của những điều bình thường và sâu sắc của cuộc sống thường bị người ta bỏ qua hoặc lãng quên. Sự thức tỉnh của Nhĩ xen lẫn niềm ân hận, xót xa: Hoạ chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi phương trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia.

    Luyện tập:

    – Viết đoạn văn quy nạp( 5 -6 câu), trong đó có sử dụng phép nối, nhận xét về nghệ thuật tả người trong đoạn trích “Chị em Thuý Kiều” ( Trích “Truyện Kiều” – Nguyễn Du).

    – Viết khoảng đoạn văn diễn dịch ( 5 – 6 câu), trong đó có sử dụng ít nhất một phép liên kết câu, nhận xét về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ “Cảnh ngày xuân” trích trong “Truyện Kiều” ( Nguyễn Du).

    – Nhận xét về nghệ thuật tả người của Nguyễn Du qua đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều” (Truyện Kiều) bằng một đoạn văn tổng phân hợp (5 – 6 câu), trong đó có sử dụng một câu hỏi tu từ.

    – Nhận xét về nghệ thuật miêu tả nội tâm của Nguyễn Du qua đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” (Truyện Kiều) bằng một đoạn văn diễn dịch (5 – 6 câu), trong đó có một câu hỏi tu từ.

    – Suy nghĩ về nhân vật Lục Vân Tiên trong đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” (Trích ” Lục Vân Tiên” – Nguyễn Đình Chiểu) bằng một đoạn văn tổng phân hợp (Khoảng 5 – 6 câu), trong đó có sử dụng ít nhất một phép liên kết câu. (Chú ý: Gạch chân từ ngữ dùng làm phương tiện liên kết câu).

    – Trong bài thơ “Đồng chí”, Chính hữu viết rất xúc động về người chiến sĩ trong kháng chiến chống Pháp:

    " Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay"

    Dựa vào đoạn thơ trên, hãy viết một đoạn văn ( khoảng 10 câu) theo cách lập luận tổng phân hợp trong đó có sử dụng phép thế và một câu phủ định để làm rõ sự đồng cảm, sẻ chia giữa những người đồng đội.

    – Khổ thơ sau gợi lên hình ảnh của người chiến sĩ lái xe:

    " Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng" ( Trích " Bài thơ về tiểu đội xe không kính" - Phạm Tiến Duật)

    Em hãy viết một đoạn văn ( 10 câu) theo phép lập luận diễn dịch, trong đó có sử dụng phép thế và một câu có tình thái từ.

    – Trong bài thơ ” Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận, có đoạn:

    " Cá nhụ cá chim cùng cá đé, Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long".

    – Trong bài thơ ” Bếp lửa” của Bằng Việt có đoạn:

    " Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!"

    Hãy viết một đoạn văn ( 8 – 10 câu) nêu cảm nghĩ của em về hình ảnh bếp lửa trong đoạn thơ trên theo phép lập luận tổng phân hợp, trong đó có sử dụng ít nhất hai phép liên kết câu.( Chú ý: Gạch chân từ ngữ liên kết câu)

    – Viết một đoạn văn ( khoảng 10 câu) phân tích đoạn thơ sau theo phép lập luận diễn dịch trong đó có một câu hỏi tu từ:

    " Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ Em ngủ cho ngoan, đừng rời lưng mẹ Mẹ đang trỉa bắp trên núi Ka-lưi Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ Em ngủ ngoan em đừng làm mẹ mỏi Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a- kay hỡi Mẹ thương a-kay, mẹ thương làng đói Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều Mai sau con lớn phát mười Ka-lưi..."

    – Bài thơ ” Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn khoa Điềm là lời hát ru có ba khúc với kết cấu giống nhau, đều kết thúc bằng lời ru trực tiếp của người mẹ. Hãy chép lại từng lời ru trực tiếp của người mẹ và viết một đoạn văn ( 10 câu) theo phép lập luận tổng phân hợp về cấu trúc tình cảm của lời ru.

    – Viết một đoạn văn quy nạp có sử dụng phương pháp liên kết câu ( 8 – 10 câu), với đề tài: Cảm nghĩ của em về hình ảnh người mẹ Tà Ôi trong bài thơ ” Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.

    – Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ ” Ánh trăng” của Nguyễn Duy mang nhiều tầng ý nghĩa. Em hãy làm rõ ý kiến trên bằng một đoạn văn diễn dịch ( 10 – 12 câu), trong đó có câu hỏi tu từ.

    – Trong bài thơ ” Việt Bắc” sáng tác năm 1954, có đoạn là lời của nhân dân Việt Bắc nhắn nhủ cán bộ miền xuôi:

    " Mình về thành thị xa xôi Nhà cao, còn nhớ núi đồi nữa chăng? Phố đông còn nhớ bản làng Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?" ( Tố Hữu)

    – Viết một đoạn văn ( 8 – 10 câu) trong đó có sử dụng lời dẫn gián tiếp, phân tích tâm trạng lo âu, đau khổ của ông Hai trong truyện ngắn “Làng” (Kim Lân ) khi nghe được tin “cả cái làng Dầu Việt gian theo Tây” .

    – Viết một đoạn văn ( 8 – 10 câu) trong đó có sử dụng lời dẫn trực tiếp, phân tích tâm trạng hả hê sung sướng của ông Hai trong truyện ngắn “Làng” (Kim Lân) khi được tin làng Dầu không phải ” Việt gian theo Tây” như lời đồn.

    – Viết một đoạn văn ( 8 – 10 ) theo phép lập luận tổng phân hợp, trong đó có sử dụng lời dẫn trực tiếp, phân tích những phẩm chất tốt đẹp của anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu trên đỉnh Yên Sơn trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” (Nguyễn Thành Long).

    – Viết một đoạn văn diễn dịch có sử dụng phép lặp từ ngữ (8 – 10 câu) nên cảm nghĩ của em về những nhân vật trong “Lặng lẽ Sa Pa” (Nguyễn Thành Long) với câu mở đầu: “Đây là những nhân vật, những tâm hồn trong trẻo, bình dị, hồn hậu và tràn ngập tình thương”.

    – Viết đoạn văn tổng phân hợp ( 10 câu) phân tích ý nghĩa của hai tình huống trong truyện “Chiếc lược ngà” (Nguyễn Quang Sáng).

    – Viết một đoạn văn tổng phân hợp, có sử dụng phương pháp liên kết câu (khoảng 6 – 8 câu) với đề tài: Cảm nhận của em về nhân vật bé Thu trong tác phẩm “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.

    – Trong bài thơ “Con cò ” (Chế Lan Viên) có đoạn:

    " Một con cò thôi Con cò mẹ hát Cũng là cuộc đời Vỗ cánh qua nôi"

    Em hãy viết một đoạn văn tổng phân hợp (8 – 10 câu), trong đó có sử dụng phép lặp từ ngữ, cảm nhận về lời ru trong đoạn thơ trên.

    – Trong bài thơ “Nói với con” của Y Phương có đoạn:

    " Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng".

    Hãy viết một đoạn văn (7 – 8 câu) cảm nhận về đoạn thơ trên, theo phép lập luận diễn dịch, trong đó sử dụng ít nhất hai phép liên kết câu.

    – Bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương có đoạn:

    " Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn là cây tre trung hiếu chốn này"

    Hãy viết một đoạn văn ( 8 – 10 câu) cảm nhận về đoạn thơ trên, theo phép lập luận diễn dịch, trong đó có sử dụng ít nhất hai phép liên kết câu.

    – Viết đoạn văn cảm nhận của em trước lòng kính yêu tha thiết của nhân dân miền Nam đối với chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài thơ ” Viếng lăng Bác “, theo phép lập luận diễn dịch ( khoảng 10 câu) trong đó có dùng phương pháp liên kết câu. ( Chú ý: Gạch chân từ ngữ được sử dụng làm phương tiện liên kết câu).

    – Viết một đoạn văn cảm nhận về vẻ đẹp trong lối sống, tâm hồn của nhân vật Phương Định trong truyện “Những ngôi sao xa xôi ” (Lê Minh Khuê), theo phép lập luận quy nạp trong đó có sử dụng phép thế ( khoảng 10 câu).

    – Viết một đoạn văn theo phương pháp diễn dịch (khoảng 6 – 8 câu), trong đoạn văn có sử dụng một câu hỏi tu từ, phân tích ý nghĩa của đoạn thơ sau:

    " Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy quanh lưng Mùa xuân người ra trận Lộc trải dài nương mạ Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao... Đất nước bốn ngàn năm Vất vả và gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước". ( Trích " Mùa xuân nho nhỏ" - Thanh Hải)

    – Trong bài thơ ” Mùa xuân nho nhỏ”, Thanh Hải viết:

    " Ta làm con chim hót Ta làm một nhành hoa".

    Kết thúc bài ” Viếng lăng Bác”, Viễn Phương viết:

    " Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác".

    – Bài thơ “Đồng chí ” (Chính Hữu) viết về hình ảnh người lính trong kháng chiến chống Pháp, bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính ” (Phạm Tiến Duật) viết về hình ảnh người lính trong kháng chiến chống Mĩ.

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    Loạt bài Ôn thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn được các Giáo viên hàng đầu biên soạn bám sát kiến thức trọng tâm, hệ thống lại câu hỏi phần Tiếng Việt, các tác phẩm văn học, bài thơ có trong đề thi tuyển sinh vào lớp 10 môn Văn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Đọc Kt: Cấu Trúc Một Đoạn Văn
  • Đặc Điểm Cấu Trúc Của Bộ Vi Xử Lý
  • Kết Cấu Thép Là Gì
  • Sơn Chống Cháy Cho Cấu Trúc Thép Có Gì Đặc Biệt?
  • Thép Là Gì? Ứng Dụng Của Thép
  • Phương Pháp Đọc Kt: Cấu Trúc Một Đoạn Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Đoạn Văn Là Gì, Cách Viết Đoạn Văn
  • Cách Viết Đoạn Văn Nghị Luận Xã Hội Chuẩn Cấu Trúc 6 Bước
  • Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép Adn
  • Bài 01: Xml Là Gì? Cú Pháp Căn Bản Của Xml
  • File Xml Là Gì Và Cách Mở Nó Như Thế Nào?
  • Như đã trình bày trong bài viết: “Ba phương pháp phân tích, ba cách đặt câu hỏi” , hai phương pháp phân tích bản văn Kinh Thánh phổ biến hiện nay là phân tích thuật chuyện và phân tích cấu trúc. Bài viết này sẽ tìm hiểu các kiểu cấu trúc một đoạn văn. Tìm hiểu cấu trúc đoạn văn là bước quan trọng để xem các ý tưởng trong đoạn văn được sắp xếp và xây dựng như thế nào. Trong đoạn văn được chọn để phân tích, điều gì nói trước, điều gì nói sau, và các ý tưởng tiến triển theo thứ tự nào. Độc giả cần chú ý xem có các ý tưởng song song hay có các từ ngữ lặp đi lặp lại không. Mục đích của việc tìm hiểu cấu trúc là để biết đoạn văn được xây dựng như thế nào, có bao nhiêu ý, đề tài nào được nhấn mạnh, câu chuyện dùng từ ngữ nào v.v…

    Bất cứ đoạn văn nào cũng có thể xếp vào ba loại cấu trúc tổng quát như sau: (1) Cấu trúc đồng tâm; (2) Cấu trúc song song; (3) Cấu trúc theo tiểu đoạn.

    Mc 2,1-3,6 là một đoạn văn dài gồm năm trình thuật nối tiếp nhau, được cấu trúc theo dạng đồng tâm như sau:

    Có trường hợp cấu trúc đồng tâm xuất hiện chỉ trong một câu như ở Mc 4,13. Sau khi kể dụ ngôn hạt giống (Mc 4,1-9), Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Anh em không hiểu biết dụ ngôn này sao? Vậy làm sao anh em hiểu biết được tất cả các dụ ngôn? (Mc 4,13). Câu này cấu trúc đồng tâm:

    2. Cấu trúc song song

    Một đoạn văn có cấu trúc song song, khi các ý tưởng được sắp xếp theo dạng song song: A, B, C, A’, B’, C’. Trong đó, A // A’, B // B’, C // C’. Cấu trúc song song cũng có thể tìm thấy trong một vài câu hay trong nhiều đoạn văn.

    Chẳng hạn, lời rao giảng của Đức Giê-su ở Mc 1,15: “Thời gian đã viên mãn, và Triều Đại của Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và hãy tin vào tin mừng” có cấu trúc song song A, B, A’, B’ như sau:

    Yếu tố A: “Thời kỳ đã mãn” // A’: Lời mời gọi “sám hối”. B: “Triều Đại của Thiên Chúa đã đến gần” // B’: Lời mời gọi “tin vào tin mừng”. Cấu trúc trên làm rõ hai lời mời gọi tương ứng với hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là “sám hối” quay lưng lại với những gì đã cũ. Giai đoạn thứ hai là “tin vào tin mừng” vì “Triều Đại của Thiên Chúa đã đến gần”. Mc 1,15 thuộc lời tựa sách Tin Mừng Mác-cô (Mc 1,1-15), là phần nói về mục đích sứ vụ công khai của Đức Giê-su. Tất cả những gì thuật lại trong Tin Mừng Mác-cô nhằm mục đích dẫn độc giả đến hành động “sám hối” và “tin vào tin mừng”. Nếu đọc hết sách Tin Mừng mà độc giả chưa bước vào tiến trình “sám hối” và “tin vào tin mừng” thì vẫn chưa đáp trả trọn vẹn lời mời gọi của sách Tin Mừng Mác-cô.

    Đoạn văn dài trong Tin Mừng Gio-an (Ga 10,1-21) dùng hai hình ảnh “cửa ràn chiên” và “mục tử” có cấu trúc song song: A, B, C, A’, B’, C’.Dụ ngôn cửa ràn chiên và mục tử tốt(Ga 10,1-21) có cấu trúc song song với hai phần: (I) Đức Giê-su kể dụ ngôn. (II) Đức Giê-su giải thích dụ ngôn. Đoạn văn Ga 10,1-21 được cấu trúc như sau:

    Phần I: “Dụ ngôn” (Đức Giê-su dùng đại từ ngôi thứ ba) song song với Phần II: “Giải thích dụ ngôn” (Đức Giê-su dùng đại từ ngôi thứ nhất). Mỗi phần gồm ba yếu tố, vừa song song, vừa soi sáng lẫn nhau. Nếu như trong yếu tố A, Đức Giê-su nói về “cửa ràn chiên” thì trong yếu tố A’ Đức Giê-su cho biết “cửa” đó là chính Người. Nếu như trong yếu tố B Đức Giê-su nói về “mục tử và người lạ” thì trong yếu tố B’ Đức Giê-su cho biết chính Người là “Mục tử tốt”. Nếu như trong yếu tố C người thuật chuyện cho độc giả biết “những người Pha-ri-sêu không hiểu” thì trong yếu tố C’ người thuật chuyện cho biết: “Những người Do Thái chia rẽ”, nghĩa là có những người Do Thái đón nhận Đức Giê-su và có những người Do Thái không đón nhận Người.

    3. Cấu trúc theo tiểu đoạn

    Trong trường hợp không có các yếu tố đồng tâm hay song song trong đoạn văn, độc giả có thể xây dựng cấu trúc theo các đề tài. Chẳng hạn, bốn trình thuật khởi đầu sứ vụ của Đức Giê-su trong Mác-cô (Mc 1,21-45) có cấu trúc:

    Sau khi chọn bốn môn đệ đầu tiên (Mc 1,16-20), Đức Giê-su khởi đầu sứ vụ công khai qua bốn đoạn văn như trong bảng cấu trúc trên. Cấu trúc này làm lộ ra những hoạt động chính trong sứ vụ Đức Giê-su: “giảng dạy”, “trừ quỷ”, “chữa lành” và “cầu nguyện”.

    Ở cuối hai tiểu đoạn 1, 2 (1,32-33) và cuối hai tiểu đoạn 3, 4 (1,45), bản văn nói đến sự thành công của Đức Giê-su. Thành công giai đoạn 1 (1,32-33) xảy ra ở Ca-pha-na-um, cụ thể là mọi người tụ tập trước cửa nhà ông Si-môn. Thành công giai đoạn 2 (1,39.45) xảy ra khi dân chúng khắp vùng Ga-li-lê đến với Người. Sự thành công ngày càng lan rộng theo hướng: Ca-pha-na-umàGa-li-lêàVùng lân cận. Cấu trúc trên cho thấy tiến triển thần học Tin Mừng Mác-cô: Giới thiệu căn tính của Đức Giê-su và niềm vui lớn lao của dân chúng được gặp gỡ Người. Liệu độc giả có hăm hở tìm đến với Đức Giê-su để được nghe Người giảng, được Người chữa lành và được ở với Người như dân chúng khắp vùng Ga-li-lê không?

    Tin Mừng Gio-an, chương 17 cũng có cấu trúc theo các đề tài như sau:

    Ga 17 được chia thành năm tiểu đoạn với những đề tài cụ thể cho từng tiểu đoạn.Qua cấu trúc trên, độc giả nhận ra ý tưởng chính của Ga 17 không phải là ” Lời nguyện hiến tế” như người ta gán cho Ga 17 mà dựa vào nội dung, Ga 17 là “Lời nguyện sứ vụ”. Trong Ga 17, Đức Giê-su trình bày với Cha về sứ vụ của Người. Người đã hoàn thành sứ vụ Cha giao phó (Ga 17,4). Tiếp đến, Đức Giê-su ngỏ lời với Cha về sứ vụ của các môn đệ trong thế gian. Người xin cho các môn đệ qua mọi thời đại được hiệp nhất nên một (Ga 17,21-23). Sự hiệp nhất giữa các môn đệ là lời chứng sống động có khả năng làm cho thế gian “nhận biết” Đức Giê-su là ai và “tin” vào Người (Ga 17,21.23).

    Kết luận

    Mục đích của việc tìm hiểu cấu trúc bản văn là để biết câu chuyện được xây dựng và kết cấu như thế nào. Phần cấu trúc đoạn văn thường được trình bày trong một bảng đóng khung gồm các tiểu đoạn theo trình tự câu chuyện (không đảo lộn thứ tự các câu văn). Tiếp đến là lý giải cấu trúc bằng cách trả lời các câu hỏi: Bản văn được chia làm mấy phần? Tại sao chia các tiểu đoạn như thế? Đề tài chính của mỗi tiểu đoạn là gì? Các đề tài được diễn tả bằng từ ngữ nào? Các ý tưởng tiến triển và liên kết với nhau ra sao? Vấn đề đặt ra ở đầu trình thuật được giải quyết như thế nào ở cuối trình thuật?

    Những quan sát trên giúp độc giả hiểu rõ bản văn trước khi phân tích bản văn. Trong quá trình phân tích chi tiết bản văn có thể dẫn đến chỉnh sửa cấu trúc, nhằm làm cho phần cấu trúc có sức thuyết phục hơn và rõ ràng hơn. Như thế, trong tinh thần tôn trọng bản văn, tìm hiểu cấu trúc là một phần quan trọng trong tiến trình tìm hiểu bản văn. Các bước chuẩn bị khác để tìm hiểu bản văn là tìm hiểu phân đoạn, bối cảnh văn chương và các yếu tố nhân vật, thời gian và không gian. Những yếu tố này sẽ được trình bày trong các bài viết khác. Xem đề tài này trongtập sáchPhân tích thuật chuyện và cấu trúc áp dụng vào Tin Mừng thứ tư ./.

    Ngày 11 tháng 03 năm 2012.

    Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

    http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2012/03/phuong-phap-oc-kt-cau-truc-mot-oan-van.html

    Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Cấu Trúc Của Bộ Vi Xử Lý
  • Kết Cấu Thép Là Gì
  • Sơn Chống Cháy Cho Cấu Trúc Thép Có Gì Đặc Biệt?
  • Thép Là Gì? Ứng Dụng Của Thép
  • Cấu Trúc Và Thành Phần Hóa Học Của Thép
  • Từ Vựng Và Cấu Trúc Cho Đoạn Văn Miêu Tả Reasons Trong

    --- Bài mới hơn ---

  • Phần Còn Lại Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Restful Api Là Gì? Cách Thiết Kế Restful Api
  • Cấu Trúc Câu Had Better Do Something Và It’s Time Someone Did Something
  • It Seems Like Là Gì Trong Tiếng Anh? Cách Dùng Seem, Sau Seem Dùng Gì
  • Tổng Hợp 18 Cấu Trúc Thường Có Trong Bài Thi Tiếng Anh
  • Ngày hôm nay mình sẽ tiếp tục chia sẻ với các bạn về khía cạnh thứ ba là nguyên nhân của vấn về. Các bạn cùng bắt đầu tìm hiểu nào!

    1) Các từ hoặc cụm từ miêu tả lý do của vấn đề

     a) Các danh từ chỉ ra nguyên nhân

    Reason/ Explanation/ Grounds/ Basis/ Excuse/ Motive/ Justification/ Pretext/ Cause

    E.g 1: One of the reasons leading to obesity is the overconsumption of fast food which is rich in fat and sugar.

    Các bạn đặc biệt lưu ý cho mình từ “ground” có rất nhiều nghĩa, tuy nhiên nếu mang nghĩa lý do thì từ “ground” luôn có đuôi “s”.

    Với các danh từ trên, giới từ đứng sau chúng là “for”.

    E.g 2: The most likely explanation for her absence is that her plane was delayed.

    b) Các động từ hay cụm động từ nói về nguyên nhân

    Lead to/ result in/ bring about/ contribute to/ cause + Noun/ V-ing (result)

    Result from/ stem from/ derive from + Noun/V-ing (reason)

    E.g 2: The migration of people in the countryside to urban areas results in overpopulation and traffic congestion.

    E.g 3: Childhood obesity results from the lack of regular exercise and the school pssure.

    c) Các cụm từ nối về nguyên nhân

    Because of/ By reason of/ Due to/ As a result of/ As a consequence of/ On account of/ Owning to/ Thanks to + Noun/ V-ing, Mệnh đề

    On the grounds/ basis/ ptext of + Noun/ V-ing, clause

    E.g 1: Due to the expansion of too many factories, the air is becoming polluted seriously.

    E.g 2: Thanks to the development of technological devices such as computer or telephone, communication among human beings becomes much easier.

    d) Các từ nối giữa hai mệnh đề

    Because/ since/ as/ seeing that/ for/ in that/ in as much as/ now that/ because of the fact that + mệnh đề 1 (chỉ nguyên nhân), mệnh đề 2 (chỉ kết quả)

    E.g 1: Because many technological devices are created, communication among human beings becomes much easier.

    E.g 2: The number of juvenile delinquents is on the rise, for children watch too many violent movies and imitate their behaviors.

    2) Cách viết đoạn văn miêu tả lý do trong Writing task 2

    Cách bố cục phổ biến nhất của một đoạn văn như sau:

    • Topic sentence: Bao quát chung rằng vấn đề A có rất nhiều những lý do khác nhau.

    • Main idea 1 – Explain – Example: Nêu ra lý do đầu tiên của A, với các từ cụm từ để giải thích lý do và đưa ra ví dụ.

    • Main idea 2 – Explain – Example: Nêu ra lý do thứ hai của A, với các từ cụm từ để giải thích lý do và đưa ra ví dụ.

    E.g 1: There are various reasons why it might be considered beneficial to allow people to be paid extremely high salaries. If companies offer excellent pay packages, they can attract the most talented people in their fields to work for them. For example, technology companies like Google are able to employ the best programmers because of the huge sums that they are willing to pay. Furthermore, these well-paid employees are likely to be highly motivated to work hard and therefore drive their businesses successfully. In theory, this should result in a thriving economy and increased tax revenues, which means that paying high salaries benefits everyone.

    Ví dụ thứ hai mình muốn chia sẻ với các bạn cũng được trích từ bài viết của thầy Simon đó là các lý do tại sao sự phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu đối với một quốc gia.

    E.g 2: There are three key reasons why economic growth is seen as a fundamental goal for countries. Firstly, a healthy economy results in job creation, a high level of employment, and better salaries for all citizens. Secondly, economic progress ensures that more money is available for governments to spend on infrastructure and public services. For example, a government with higher revenues can invest in the country’s transport network, its education system and its hospitals. Finally, a strong economy can help a country’s standing on the global stage, in terms of its political influence and trading power.

     

    Like và Follow fanpage BEC English Centre để update thêm các từ vựng và Sample mẫu HOT nhất trong IELTS!

    Tham gia ngay cộng đồng IELTS SPEAKING tại BEC : https://bitly.vn/1vby để cập nhật các bài học cũng như đề thi IELTS mới nhất từ cộng đồng các bạn học viên của BEC.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Past Simple Tense (Thì Quá Khứ Đơn) — Tiếng Anh Lớp 9
  • Các Cấu Trúc Nhấn Mạnh Được Sử Dụng Trong Tiếng Anh
  • “The Moment” Và “It Was Love At First Sight”
  • Cách Viết Mở Bài Writing Task 1
  • Áp Dụng 3 Cấu Trúc Để Writing Task 1 Đạt Thấp Nhất 5.0
  • Cách Viết Đoạn Văn Nghị Luận Xã Hội Chuẩn Cấu Trúc 6 Bước

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Trúc Chuỗi Xoắn Kép Adn
  • Bài 01: Xml Là Gì? Cú Pháp Căn Bản Của Xml
  • File Xml Là Gì Và Cách Mở Nó Như Thế Nào?
  • File Xml Là Gì? Đọc File Xml Bằng Cách Nào?
  • Định Dạng File Đuôi Xml Là Gì ?
  • 21 Tháng 11, 2022

    Trong cấu trúc Nhìn chung, chúng đều có chung đề thi môn Ngữ văn hiện nay thường xuất hiện dạng bài nghị luận xã hội với câu hỏi viết đoạn văn 200 chữ. Đề tài thường dựa vào câu hỏi đọc hiểu ở phần 1 hoặc cũng có thể là một câu hỏi độc lập. cách viết đoạn văn nghị luận cơ bản theo từng bước: giới thiệu sơ lược, phân tích biểu hiện, phân tích nguyên nhân, phân tích ảnh hưởng và cuối cùng là rút ra bài học.

    1, Hướng dẫn cách viết đoạn văn nghị luận xã hội chung

    Bước 1: Phân tích sơ lược về vấn đề: Bước đầu tiên trong một bài nghị luận xã hội là dẫn dắt, giới thiệu và phân tích vấn đề xã hội được đặt ra trong

    Bước 2 cách viết đoạn văn nghị luận: Phân tích biểu hiện và thực trạng của vấn đề xã hội

    • Những biểu hiện và thực trạng được thể hiện trong đề bài
    • Những dẫn chứng được nghe, được biết và được chứng kiến
    • Những dẫn chứng được lấy từ phạm vi rộng (xã hội) cho đến phạm vi hẹp hơn (gia đình, trường lớp, địa phương nơi em sinh sống)

    Bước 3: Phân tích nguyên nhân của vấn đề xã hội

    Bước 4: Phân tích ảnh hưởng của vấn đề xã hội

    Khi phân tích ảnh hưởng của vấn đề cần phân tích trên 3 phương diện như sau

    • Đối với nhân vật trong tác phẩm (nếu có): Phân tích từ thực trạng và tình huống của nhân vật để rút ra kết luận
    • Đối với xã hội: từ những biểu hiện và thực trạng đã phân tích, học sinh nêu lên những ảnh hưởng của vấn đề đối với xã hội
    • Đối với mỗi người: từ những tác động tới xã hội dẫn đến ảnh hưởng đối với mỗi người/ mỗi nhóm người

    Bước 5 trong cách viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ: Hướng phân tích và bàn luận sâu thêm về vấn đề trong dàn ý bài văn nghị luận xã hội

    Trước hết cần khẳng định lại quan điểm của học sinh về vấn đề xã hội đang được bàn luận: Tốt hay xấu, nên suy tôn hay nên bác bỏ. Sau đó là một số lí giải ngắn gọn theo quan điểm của bản thân giải thích cho khẳng định vừa nêu. Bước khẳng định này ngoài việc nhấn mạnh ý kiến của bản thân còn đóng vai trò là câu văn chuyển ý cho đoạn

    Khi mở rộng vấn đề xã hội đang được bàn luận, ta có thể áp dụng một hoặc nhiều cách viết đoạn văn nghị luận sau đây

    • Một là mở rộng bằng cách giải thích và chứng minh vấn đề
    • Hai là mở rộng bằng cách đào sâu thêm vấn đề. Ta có thể mở rộng đối tượng được đề cập, mở rộng phạm vi mà vấn đề xã hội đó gây ảnh hưởng,…
    • Ba là mở rộng bằng lật ngược lại vấn đề. Ta có thể đặt ra giả thiết trái ngược lại so với thực trạng hiện tại của vấn đề, sau đó tiến hành phân tích mặt lợi và của vấn đề.

    Bước 6 cách viết đoạn văn nghị luận: Rút ra bài học cho bản thân

    Bước cuối cùng của bài nghị luận xã hội, ta cần nêu lên được bài học kinh nghiệm cho bản thân và rút ra thông điệp chung cho vấn đề xã hội được đặt ra từ đầu

    2, Hướng dẫn cách viết đoạn văn nghị luận trong đề thi minh họa

    Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

    Một tư tưởng chuẩn bị cho một tương lai vững bền là phải bắt đầu làm điều gì đó trước, để đón nhận nó và song vì chân lí đó. Trồng cây xanh là một lẽ sống không chỉ một công việc mà là một triết lí nảy sinh từ sự phát triển cho sự nghiệp và dân tộc. Bác thể hiện tư tưởng của mình một cách giản dị khi phát động “Tết trồng cây” rằng, chúng ta sẽ có những cây vừa ăn quả, vừa có hoa, vừa có cả cây làm cột nhà. Thêm nữa, Người còn tô đậm cho một tương lai của môi trường sống; khi ấy phong cảnh nước ta sẽ ngày càng tươi đẹp hơn, khí hậu điều hòa hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của dân tộc ta. […]

    Tư tưởng của Bác Hồ ngày càng sâu sắc và là ngọn đuốc chỉ đường cho một tương lai của dân tộc ta trong nhiều lĩnh vực kinh tế khác. Nếu điểm lại những vụ cháy rừng, hay những trận lũ lụt liên tiếp xảy ra trên vùng cao, mới thấy triết lí của Bác trong “Tết trồng cây” thấu tình đạt lí làm sao. Sự hối hận đã trở nên muộn màng khi con người triệt phá rừng cây. Bọn lâm tặc là những kẻ tội đồ cần phải trừng phạt. Nhưng con người nếu không có trách nhiệm với mỗi cây xanh, mỗi cánh rừng cũng sẽ trở nên đồng phạm phá hoại màu xanh và tàn phá sự sống của chính mình. Mỗi cây xanh bị đốn chặt là một tội ác. Hạ sát thiên nhiên bao giờ cũng để lại hậu quả lâu dài. Và máu người lại đổ xuống. Mạng người lại bị vùi lấp trong những cơn lũ tràn về bất ngờ hay những trận lở núi ập xuống đem lại tai họa khó lường.

    (Chung Tử, 55 mùa xuân và “Tết trồng cây”, Số Xuân Ất Mùi tạp chí Tri thức và Thời đại, 1+2/2015)

    Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến được nêu ra ở phần đọc hiểu: Nhưng con người nếu không có trách nhiệm với mỗi cây xanh, mỗi cảnh rừng cũng sẽ trở nên đồng phạm phá hoại màu xanh và tàn phá sự sống của chính mình.

    Hướng triển khai chung cho chuyên đề: viết đoạn văn nghị luận xã hội

    – Vai trò của cây xanh với sự sống con người

    – Hậu quả của việc chặt phá cây xanh, tàn phá môi trường sống;

    – Ý thức của con người trong việc bảo vệ cuộc sống của chính mình.

    – Vai trò của cây xanh đối với cuộc sống:

    + Tạo nên cảm giác nhẹ nhàng và thư thái, như tìm được chốn yên bình sau khoảng thời gian ồn ào vội vã của cuộc sống.

    + Việc kết hợp hài hòa cây xanh và các công trình kiến trúc góp phần tôn tạo thêm vẻ đẹp, phát huy tác dụng của các công trình xung quanh như nhà ở cao tầng, biệt thự, bồn hoa, tượng đài…

    – Hậu quả của việc chặt phá cây xanh, phá hủy môi trường sống:

    + Cây xanh được xem là một máy điều hòa không khí, máy hút bụi.. .thiếu cây xanh sẽ làm mất cân bằng hệ sinh thái;

    + Không có cây xanh thì các vấn đề thiên tai như lũ lụt, hạn hán, sạt lở đất, sẽ xảy ra thường xuyên, gây thiệt hại rất lớn về người và của;

    + Chặt phá rừng thiếu quy hoạch dẫn đến vấn nạn nhiều loài động vật hoang dã cũng đang trên đà tuyệt chủng…

    – Ý thức, trách nhiệm của con người trong việc trồng cây xanh, bảo vệ môi trường sống

    + Bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp không phải là một nhiệm vụ hay một “công trình” mà đó là ý thức trách nhiệm của từng người, từng cá nhân. Mỗi chúng ta phải biết tự giữ gìn nguồn sống của chính mình. Muốn vậy, chúng ta phải ý thức được trách nhiệm bảo vệ môi trường, cũng chính là bảo vệ sự sống của chúng ta.

    + Môi trường là mái nhà chung của toàn nhân loại, bảo vệ môi trường không phải là một lời nói suông mà đang đòi hỏi cấp thiết và nên phải hành động ngay, bởi lẽ bảo vệ môi trường là bảo vệ cuộc sống của chúng ta.

    Bởi vậy, tất cả chúng ta hãy chung tay lũy sức bảo vệ môi trường và tránh gây ô nhiễm. Vì tương lai của một trái đất xanh, sạch, đẹp và vì cuộc sống của chính chúng ta và của các thế hệ sau.

    + Vấn đề thiết kế cây xanh cần được tiến hành sớm và có kế hoạch rõ ràng ngay từ đầu. Cần nghiên cứu, bố trí hợp lí, khoa học, tránh chắp vá, sửa đổi quá nhiều sau này cũng như tránh gây trở ngại cho các công trình khác. Những phần diện tích nếu có kế hoạch cụ thể trước sẽ rất thuận lợi, chủ động cho việc thiết kế hệ thống cây xanh ở mỗi khu vực.

    Bước cuối cùng trong cách viết đoạn văn nghị luận là nêu lên thông điệp:

    “Hãy đối xử tốt với thiên nhiên, sống thân thiện với môi trường, ta sẽ tận hưởng được những giây phút thư giãn, thoải mái trong bầu không khí trong lành, được tận hưởng những cảnh đẹp từ thiên nhiên. Bảo vệ môi trường là bảo vệ sự sống của chính mình”

    “Mỗi cây xanh được trồng sẽ là một cam kết về hành động cụ thể nhằm chống lại biến đổi khí hậu, là niềm hi vọng hướng tới tương lai bền vững và tốt đẹp hơn”

    Để viết được một đoạn văn hay một bài văn nghị luận không khó, chỉ cần các em tuân thủ cách viết đoạn văn nghị luận theo 6 bước phía trên. Cuối cùng, ngoài các kiến thức trong sách giáo khoa, học sinh nên tăng cường hiểu biết về đời sống để có vốn kiến thức xã hội cho bài văn nghị luận.

    Mọi thông tin xin mời liên hệ:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đoạn Văn Là Gì, Cách Viết Đoạn Văn
  • Phương Pháp Đọc Kt: Cấu Trúc Một Đoạn Văn
  • Đặc Điểm Cấu Trúc Của Bộ Vi Xử Lý
  • Kết Cấu Thép Là Gì
  • Sơn Chống Cháy Cho Cấu Trúc Thép Có Gì Đặc Biệt?
  • Từ Vựng Và Cấu Trúc Cho Đoạn Văn Miêu Tả Reasons Trong Ielts Writing Task 2

    --- Bài mới hơn ---

  • All The Way Là Gì? Ý Nghĩa Và Cách Sử Dụng All The Way
  • Cách Dùng Những Cấu Trúc Động Từ Nguyên Mẫu Sau Động Từ Bị Động, Sau Các Động Từ Acknowledge (Thừa Nhận), Assume (Cho Là), Believe (Till),
  • Cách Dùng Can Và Be Able To Trung Tâm Tiếng Anh Ibest
  • Khi Nào Dùng Was Were Trong Tiếng Anh
  • Cách Dùng Was Và Were Trong Tiếng Anh
  • Ngày hôm nay mình sẽ tiếp tục chia sẻ với các bạn về khía cạnh thứ ba là nguyên nhân của vấn về. Các bạn cùng bắt đầu tìm hiểu nào!

    1) Các từ hoặc cụm từ miêu tả lý do của vấn đề

    a) Các danh từ chỉ ra nguyên nhân

    Reason/ Explanation/ Grounds/ Basis/ Excuse/ Motive/ Justification/ Pretext/ Cause

    Các bạn đặc biệt lưu ý cho mình từ “ground” có rất nhiều nghĩa, tuy nhiên nếu mang nghĩa lý do thì từ “ground” luôn có đuôi “s”.

    Với các danh từ trên, giới từ đứng sau chúng là “for”.

    b) Các động từ hay cụm động từ nói về nguyên nhân

    Lead to/ result in/ bring about/ contribute to/ cause + Noun/ V-ing (result)

    Result from/ stem from/ derive from + Noun/V-ing (reason)

    c) Các cụm từ nối về nguyên nhân

    Because of/ By reason of/ Due to/ As a result of/ As a consequence of/ On account of/ Owning to/ Thanks to + Noun/ V-ing, Mệnh đề

    On the grounds/ basis/ ptext of + Noun/ V-ing, clause

    d) Các từ nối giữa hai mệnh đề

    Because/ since/ as/ seeing that/ for/ in that/ in as much as/ now that/ because of the fact that + mệnh đề 1 (chỉ nguyên nhân), mệnh đề 2 (chỉ kết quả)

    2) Cách viết đoạn văn miêu tả lý do trong Writing task 2

    Cách bố cục phổ biến nhất của một đoạn văn như sau:

    • Topic sentence: Bao quát chung rằng vấn đề A có rất nhiều những lý do khác nhau.
    • Main idea 1 – Explain – Example: Nêu ra lý do đầu tiên của A, với các từ cụm từ để giải thích lý do và đưa ra ví dụ.
    • Main idea 2 – Explain – Example: Nêu ra lý do thứ hai của A, với các từ cụm từ để giải thích lý do và đưa ra ví dụ.

    E.g 1: There are various reasons why it might be considered beneficial to allow people to be paid extremely high salaries. If companies offer excellent pay packages, they can attract the most talented people in their fields to work for them. For example, technology companies like Google are able to employ the best programmers because of the huge sums that they are willing to pay. Furthermore, these well-paid employees are likely to be highly motivated to work hard and therefore drive their businesses successfully. In theory, this should result in a thriving economy and increased tax revenues, which means that paying high salaries benefits everyone.

    Ví dụ thứ hai mình muốn chia sẻ với các bạn cũng được trích từ bài viết của thầy Simon đó là các lý do tại sao sự phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu đối với một quốc gia.

    E.g 2: There are three key reasons why economic growth is seen as a fundamental goal for countries. Firstly, a healthy economy results in job creation, a high level of employment, and better salaries for all citizens. Secondly, economic progress ensures that more money is available for governments to spend on infrastructure and public services. For example, a government with higher revenues can invest in the country’s transport network, its education system and its hospitals. Finally, a strong economy can help a country’s standing on the global stage, in terms of its political influence and trading power.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Unit 5: Thì Hiện Tại Hoàn Thành (Present Perfect)
  • Viết Theo Cấu Trúc Mệnh Đề Quan Hệ
  • Cách Dùng Nguyên Mẫu Sau Động Từ Và Thành Ngữ, The Only Thing To Do /we Call Do Is (To) Write To Him. (Điều Duy Nhất Ta Có Thể Làm Là Viết Thư Cho Anh
  • Bí Kíp Phân Biệt ‘a Number Of’ Và ‘the Number Of’
  • “there Was” Và “there Were” Trong Thì Quá Khứ Đơn
  • Sequence Paragraph – Đoạn Văn Tường Thuật

    --- Bài mới hơn ---

  • Động Từ Nguyên Mẫu Sau Tính Từ
  • ” Cụm Từ Rắc Rối” Trong Tiếng Anh
  • Cách Phân Biệt At The End Và In The End
  • Áp Dụng 3 Cấu Trúc Để Writing Task 1 Đạt Thấp Nhất 5.0
  • Cách Viết Mở Bài Writing Task 1
  • I. ĐỊNH NGHĨA

    Đoạn văn tường thuật là đoạn văn được dùng để kể cho người đọc về những tình tiết, sự kiện… diễn ra trong một câu chuyện. Hay nói một cách đơn giản hơn, đoạn văn tường thuật chính là đoạn văn kể chuyện.

    Đoạn văn tường thuật thường bao gồm các yếu tố cần thiết cho sự phát triển của một câu chuyện, ví dụ như: nhân vật chính, nhân vật phụ, các sự kiện… Chính vì vậy, đoạn văn tường thuật thường yêu cầu người viết sắp xếp sự kiện theo thứ tự liên tục hoặc theo trình tự thời gian. Phần thân của đoạn văn tường thuật thường gồm nhiều yếu tố nhưng nếu viết đúng cách, nét nổi bật của đoạn văn sẽ là tình tiết, sự kiện chứ không phải là miêu tả.

    Ví dụ: Kể về câu chuyện bạn đã đỗ Đại học như thế nào? Kể về quá trình bạn học tiếng Anh và đạt được IELTS 8.0…

    CHÚ Ý: Vì mang tính chất tường thuật, kể loại một câu chuyện nên đoạn văn tường thuật thường được viết ở thì Quá khứ đơn (tham khảo tại LINK).

     

    II. CÁCH VIẾT

    Nét đặc trưng của đoạn văn tường thuật chính là các tình tiết, sự kiện… diễn ra theo trình tự thời gian nên việc biết và sử dụng các liên từ, trạng từ chỉ thời gian trong đoạn văn tường thuật là tương đối quan trọng.

    1. Trạng từ, liên từ chỉ thứ tự, trình tự

    • First, Firstly:

      đầu tiên là

    • Second, Secondly: thứ hai là
    • Third, Thirdly: thứ ba là

    Ví dụ: First, you need to become a leader of a political party. Second, you need to win a seat in the House of Commons. Third, your party must have a majority of seats.

    (Đầu tiên, bạn cần phải trở thành một nhà lãnh đạo của một đảng chính trị. Thứ hai, bạn cần phải có được một vị trí trong Hạ viện. Thứ ba, bên bạn phải chiếm được đa số phiếu.)

     

    • In the beginning: Lúc đầu, ban đầu, lúc bắt đầu

    Ví dụ: In the beginning, you need to become a leader of a political party.

    (Lúc bắt đầu, bạn cần phải trở thành một nhà lãnh đạo của một đảng chính trị.)

     

    • Before: Trước khi, trước đó, trước

    Ví dụ: Before becoming the prime minister, you need to become the leader of a political party.

    (Trước khi trở thành thủ tướng, bạn cần phải trở thành người lãnh đạo của một đảng chính trị.)

     

    • Then: Sau đó, tiếp theo đó

    Ví dụ: Then, you must win a seat in the House of Commons.

    (Sau đó, bạn phải có được một vị trí trong Hạ viện.)

     

    • After: Sau đó, sau khi, sau

    Ví dụ: After winning a seat in the House of Commons, you must make sure you have a majority of seats.

    (Sau khi giành một ghế trong Hạ viện, bạn phải chắc chắn rằng bạn có đa số phiếu.)

     

    • Finally: Cuối cùng

    Ví dụ: Finally, after all these steps, you can call yourself the prime minister.

    (Cuối cùng, sau tất cả các bước này, bạn có thể tự gọi mình là thủ tướng.)

     

    • At last: Cuối cùng

    Ví dụ: At last, you can call yourself the prime minister.

    (Cuối cùng, bạn có thể gọi mình là thủ tướng.)

     

    • Subsequently: Sau đó, theo sau, tiếp theo đó

    Ví dụ: Subsequently, you must make sure you have a majority of seats in the House of Commons.

    (Sau đó, bạn phải chắc chắn rằng bạn có đa số phiếu trong Hạ viện.)

     

    2. Trạng từ, liên từ chỉ thời gian

    • Recently: Gần đây

    Ví dụ: She was recently elected prime minister.

    (Gần đây cô đã được bầu làm Thủ tướng.)

     

    • Previously: Trước đó

    Ví dụ: She is the new prime minister. Previously, she worked as a lawyer in Toronto.

    (Cô là Thủ tướng mới. Trước đó, cô đã làm luật sư ở Toronto.)

     

    • Afterwards: Sau đó

    Ví dụ: She won the party leadership last year. Afterwards, she won the election.

    (Cô đã giành được lãnh đạo đảng năm ngoái. Sau đó, cô giành chiến thắng trong cuộc bầu cử.)

     

    • When: Khi

    Ví dụ: When she won the party leadership, she was still working as a lawyer.

    (Khi cô giành được lãnh đạo đảng, cô ấy vẫn đang làm luật sư.)

     

    • At + thời gian: Lúc … giờ

    Ví dụ: At 7pm she got out of her house.

    (Lúc 7 giờ tối cô ấy đi ra khỏi nhà.)

     

    III. ĐOẠN VĂN TƯỜNG THUẬT THAM KHẢO

    In the morning, we got up early to ppare for the trip. Then, my younger sister and I helped our mother pack up some delicious food and fruit while my father checked the car. At 6 a.m we departed, and 2 hours later we reached our destination which is 50 km away from Hanoi. After choosing an ideal place in deep shadow, we put down blankets to rest. Lying on my back, I enjoyed delightful scenery, pure air and beautiful sounds of country birds. Surprisingly, while we were eating our picnic lunch, some lovely little birds swooped down. We fed those friendly birds with bread and watermelon. After meal, we sang aloud, laughed happily and took some photos. Early in the afternoon, we went fishing in a small river nearby. I was extremely excited as that was the first time I have tried fishing. Three hours of fishing passed by, and we were all happy with our total catch of eight fish. At nearly 5 p.m we hurriedly gathered things to come back home.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Say Và Tell
  • Bí Quyết Phân Biệt Say Tell Talk Speak Trong Tiếng Anh
  • Những Dạng Ngữ Pháp Cần Dùng Cho Ielts Writing Đạt 7.0
  • Chủ Từ Giả It – Elearnkit
  • Tất Tần Tật Về Động Từ Khiếm Khuyết Trong Tiếng Anh
  • Văn Hóa Và Cấu Trúc Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Anh Chị Hãy Nêu Những Nét Lớn Về Cấu Trúc Văn Hóa.
  • Lập Trình Hướng Đối Tượng Dành Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Lập Trình Cấu Trúc Và Lập Trình Hướng Đối Tượng
  • Cấu Trúc Hệ Điều Hành
  • Bài Giảng Cấu Trúc Máy Tính: Lập Trình Hợp Ngữ
  • 1. VĂN HÓA VÀ CẤU TRÚC VĂN HÓA

    1.1. Khái niệm văn hóa. Các đặc trưng và chức năng của văn hóa

    1.1.0. Từ “văn hóa” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau. Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn),… “Đề cương về văn hóa Việt Nam” của Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1943 đã xếp văn hóa bên cạnh kinh tế, chính trị và xem nó bao gồm cả tư tưởng, học thuật (= khoa học, giáo dục), nghệ thuật. Ủy ban UNESCO của Liên hiệp quốc thì xếp văn hóa bên cạnh khoa học và giáo dục, tức là đặt hai lĩnh vực này ra ngoài khái niệm văn hóa.

    Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise”, văn hóa là một phạm trù khoa học biểu thị một lĩnh vực hoạt động đặc biệt chỉ có ở riêng xã hội loài người, với những quy luật hành chức và phát triển riêng của mình. Tuy nhiên, tính giá trị cho phép phân biệt văn hóa với hậu quả của nó hoặc những hiện tượng phi văn hóa, loại ra những cách hiểu quá rộng, quy về văn hóa mọi hoạt động của con người. Chẳng hạn, theo L. White . Nhiệm vụ của đất nước học là giới thiệu thiên nhiên – đất nước – con người, đối tượng của nó bao gồm cả các giá trị tự nhiên. Và không nhất thiết chỉ bao gồm các giá trị. Về mặt này thì nó rộng hơn văn hóa học. Mặt khác, đất nước học chủ yếu quan tâm đến các vấn đề đương đại, về mặt này thì nó hẹp hơn văn hóa học.

    Do gắn liền với con người và hoạt động của con người trong xã hội, văn hóa trở thành một công cụ giao tiếp quan trọng. Chức năng giao tiếp là chức năng thứ ba của văn hóa. Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó; điều đó đúng với giao tiếp giữa các cá nhân trong một dân tộc, lại càng đúng với giao tiếp giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau và giao tiếp giữa các nền văn hóa.

    1.1.4. Văn hóa còn có tính LỊCH SỬ. Tính lịch sử của văn hóa thể hiện ở chỗ nó bao giờ cũng hình thành trong một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ. Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu; và chính nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị.

    Tính lịch sử của văn hóa được duy trì bằng truyền thống văn hóa. Truyền thống (truyền = chuyển giao, thống = nối tiếp) là cơ chế tích lũy và truyền đạt kinh nghiệm qua không gian và thời gian trong cộng đồng.Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian và được cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận….

    Truyền thống văn hóa tồn tại được nhờ giáo dục. Chức năng giáo dục là chức năng quan trọng thứ tư của văn hóa. Nhưng văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống), mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành. Các giá trị đã ổn định và những giá trị đang hình thành tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới. Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách ở con người, trồng người (dưỡng dục nhân cách). Một đứa trẻ sau khi ra đời nếu được sống với cha mẹ, nó sẽ được giáo dục theo truyền thống văn hóa nơi nó sinh ra, còn nếu bị rơi vào rừng, nó sẽ mang tính cách của loài thú. Không phải ngẫu nhiên mà trong các ngôn ngữ phương Tây, từ “văn hóa” (culture, cultura) đều có chứa một nghĩa chung là chăm sóc, giáo dục…

    Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử: Nếu gien sinh học di truyền lại cho các thế hệ sau hình thể con người thì văn hóa là một thứ “gien” xã hội di truyền phẩm chất con người lại cho các thế hệ mai sau.

    1.1.5. Trở lên là những đặc trưng cơ bản. Những đặc trưng khác, nếu có, chỉ là biến dạng của bốn đặc trưng này. Tổng hợp bốn đặc trưng đó, ta sẽ có được khái niệm “văn hóa”.

    Trên cơ sở này, ta có thể nêu ra một định nghĩa về văn hóa như sau:

    VĂN HÓA là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.

    1.2. Văn hóa với các khái niệm văn minh, văn hiến, văn vật

    Văn hóa và văn minh còn khác nhau ở tính lịch sử: trong khi văn hóa luôn luôn có bề dày của quá khứ (tính lịch sử) thì văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại, nó chỉ cho biết trình độ phát triển của văn hóa; từ “văn minh” có thể được định nghĩa khác nhau trong các từ điển khác nhau, song chúng thường có chung một nét nghĩa là nói đến “trình độ phát triển”. Văn minh luôn là đặc trưng của một thời đại: nếu như vào thế kỷ XIX, chiếc đầu máy hơi nước đã từng là biểu tượng của văn minh thì sang thế kỷ XX, nó trở thành biểu tượng của sự lạc hậu, nhường chỗ cho tên lửa vũ trụ và máy vi tính. Một dân tộc có trình độ văn minh cao vẫn có thể có một nền văn hóa rất nghèo nàn, và ngược lại, một dân tộc lạc hậu vẫn có thể có một nền văn hóa phong phú.

    Sự khác biệt của văn hóa và văn minh về giá trị tinh thần và tính lịch sử dẫn đến sự khác biệt về phạm vi: Văn hóa mang tính dân tộc, bởi lẽ nó có giá trị tinh thần và tính lịch sử, mà cái tinh thần và cái lịch sử là của riêng, không dễ gì mua bán hoặc thay đổi được; còn văn minh thì có tính quốc tế, nó đặc trưng cho một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại, bởi lẽ nó chứa giá trị vật chất, mà cái vật chất thì dễ phổ biến, lây lan.

    Và sự khác biệt thứ tư, về nguồn gốc: Văn hóa gắn bó nhiều hơn với phương Đông nông nghiệp, còn văn minh gắn bó nhiều hơn với phương Tây đô thị. Các nền văn hóa cổ đại hình thành từ trên hai nghìn năm trước công nguyên như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Hoa… đều là sản phẩm của phương Đông. Nền văn hóa phương Tây sớm nhất là văn hóa Hy Lạp thì cũng sau các nền văn hóa phương Đông cổ đại tới hàng nghìn năm (thế kỷ XI-III trước công nguyên) và được hình thành trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của các nền văn hóa phương Đông gần nó nhất là Ai Cập và Lưỡng Hà – từ hệ thống thần thoại, lịch pháp cho đến chữ viết – chỗ nào cũng thấy dấu ấn của ảnh hưởng phương Đông. Về vị trí và đặc điểm kinh tế thì các nền văn hóa phương Đông đều hình thành ở lưu vực các con sông lớn là những nơi sản xuất nông nghiệp. Trong các ngôn ngữ phương Tây, từ “văn hóa” bắt nguồn từ chữ cultus tiếng La-tinh có nghĩa là “trồng trọt”. Từ trồng trọt phát triển ra nghĩa chăm sóc (cây cối), từ “chăm sóc (cây cối)” dẫn đến chăm sóc (con người) = giáo dục. Trong khi đó thì từ “văn minh” trong các ngôn ngữ phương Tây đều bắt nguồn từ chữ civitas tiếng La-tinh có nghĩa là “thành phố”. Nghĩa gốc này kéo theo mình hàng loạt từ và nghĩa phái sinh trong các ngôn ngữ châu Âu: “thị dân”, “công dân” (civilis)…, từ đó đến civilisation, civilization là “làm cho trở thành đô thị”, đầy đủ tiện nghi như đô thị (= văn minh).

    Như vậy, VĂN MINH (văn = vẻ đẹp, minh = sáng) là khái niệm mang tính quốc tế, có nguồn gốc từ phương Tây đô thị và chỉ trình độ phát triển nhất định của văn hóa chủ yếu về phương diện vật chất.

    1.2.2. Ở Việt Nam còn có các khái niệm “văn hiến” và “văn vật”. Từ điển thường định nghĩa văn hiến là “truyền thống văn hóa lâu đời”, còn văn vật là “truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và nhiều di tích lịch sử”, “công trình, hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử”. So sánh các định nghĩa này, ta thấy “văn hiến” và “văn vật” thực ra chỉ là những khái niệm bộ phận của “văn hóa”, chúng chỉ khác văn hóa ở độ bao quát các giá trị: Văn hiến là văn hóa thiên về “truyền thống lâu đời”, mà truyền thống lâu đời còn lưu giữ được không bị chiến tranh và thời gian hủy hoại chính là các giá trị tinh thần, còn văn vật là văn hóa thiên về các giá trị vật chất (nhân tài, di tích, công trình, hiện vật). Chính vì vậy mà ông cha ta thường nói đất nước 4000 năm văn hiến (chứ không nói …văn vật, vì trải qua 4000 năm, phần lớn các giá trị vật chất đã bị tàn phá), nhưng lại nói Hà Nội – Thăng Long ngàn năm văn vật (vì trong 1000 năm trở lại đây, từ khi Lý Công Uẩn định đô ở Thăng Long, các giá trị vật chất còn lưu giữ được nhiều).

    Phương Tây không có hai khái niệm “văn hiến” và “văn vật”, cho nên hai khái niệm này không thể dịch ra các ngôn ngữ phương Tây được. Văn vật và văn minh tuy cùng thiên về giá trị vật chất, nhưng lại rất khác xa nhau.

    Để dễ phân biệt các khái niệm văn hóa, văn minh, văn hiến, văn vật, những điều nói trên được trình bày trong bảng 1.2.

    Bảng 1.2: So sánh văn hóa, văn minh, văn hiến, văn vật

    Hình 1.1: Cấu trúc của hệ thống văn hóa.

    [1] Tạp chí Người đưa tin UNESCO, tháng 11-1989, tr.5.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thiết Lập Lại Cấu Trúc Hệ Thống Giáo Dục Phổ Thông Để Học Thực Chất
  • Tự Học Lập Trình Web
  • Tái Cấu Trúc Mã Nguồn
  • Cấu Trúc Chương Trình Và Mã Lệnh Trong Lập Trình Cnc
  • Tổng Hợp Các Công Cụ Lập Trình Android Mà Bạn Nên Biết (Phần 1)
  • Viết Đoạn Văn Từ 8

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Luận Tiếng Anh Về Mặt Trái Của Cuộc Sống Ở Thành Phố
  • Lợi Ích Khi Bỏ Thuốc Lá
  • Lợi Ích Và Những Khó Khăn Khi Bỏ Thuốc Lá
  • Lợi Thế Gia Đình Sống Ở Nông Thôn
  • 5 Lợi Thế Của Việc Sống Ở Nông Thôn / Văn Hóa Chung
  • City is a place where life has become modern and comfortable and also mechanised. It is a huge habitation with brilliant life and life style to be seen everywhere.

    People throng to a city basically for their employment i.e. for a means for a living or earning. This of course is absolutely necessary for all human beings and a city offers more avenues and has greater potential for jobs and there are more job opportunities. It is for this main reason that people come and crowd the cities.

    This does pay as; the city has more to offer for people of all categories. This is not available in smaller places or villages. No matter what the talents and capacities of inpiduals, all of them get absorbed in cities as; it offers them all the power to sustain themselves.

    Since every inpidual is busy looking for opportunities of livelihood there is bound to be in city a tough competition. Whether it is a competition for a job, for an examination or space or an office, or, as much as, even an area for begging, a city offers a very keen competition for all no matter what they follow.

    This in turn results in the obvious tensions and hurry found in city life. In a city if we watch for some time, the impssion we get is that, everyone is or at least seems to be running to his destination, lest someone else reaches there before.

    There is besides the tensions of city life, a lot of glamour in most of them. This glamour also has its own attraction for the people rushing to cities. Life style becomes good as, there is a lot of money flowing in a city.

    Just as job avenues are in plenty, the entertainment avenues are also in plenty. These avenues of entertainment and the light of glamour in cities have their charm and also their drawbacks.

    The city children try to ape the scenes they see around full of glamour and priceless enjoyment. Seeing all this when most of them grow to be bereft of most of this, they feel left out and frustrated.

    One most attractive point of city life is that here we find multifaceted avenues of education, which is completely lacking in small places. This gives the children a vast spectrum of choices of study to follow.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viết Đoạn Văn Tiếng Anh Về Lợi Ích Sống Ở Thành Phố Lớp 9
  • Những Thuận Lợi Và Khó Khăn Khi Sống Ở Các Thành Phố Lớn
  • Bài Luận Tiếng Anh Về Cuộc Sống Ở Thành Phố
  • Write About Advantages Of Living In A Big City
  • Viết Đoạn Văn Tiếng Anh Về Lợi Ích Sống Ở Thành Phố
  • Văn Bản Và Cấu Trúc Ngoài Văn Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Và Giải Thích Cấu Trúc
  • Soạn Bài: Tiêu Chí Và Cấu Trúc Của Văn Bản Văn Học
  • Soạn Bài Văn Bản Văn Học
  • Cấu Trúc Bài Báo Cáo Công Việc Bằng Tiếng Anh.
  • Cấu Trúc Viết Báo Cáo Khoa Học
  • Rất khó định nghĩa khái niệm văn bản. Trước hết, cần phải chống lại thói quen đồng nhất văn bản với quan niệm về chỉnh thể của tác phẩm nghệ thuật. Hoàn toàn không có cơ sở để đối lập, theo kiểu hết sức phổ biến hiện nay, giữa văn bản như một thứ hiện thực của các quan niệm, tư tưởng nào đó với sự hiểu biết được xem là cái gì đó rất đỏng đảnh và chủ quan trong toàn bộ cái vẻ bên ngoài của nó.

    Là một mô hình thế giới cụ thể, một thông tin nào đó bằng ngôn ngữ nghệ thuật, tác phẩm nghệ thuật không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ ấy, cũng như bên ngoài tất cả các ngôn ngữ giao tiếp xã hội khác. Với người đọc muốn dựa vào các bộ mã được lựa chọn tuỳ tiện và chủ quan để giải mã, nghĩa sẽ bị xuyên tạc nghiêm trọng, còn với người đọc muốn tiếp xúc với một văn bản bị tách ra khỏi tổng thể các mối liên hệ ngoài văn bản, thì tác phẩm sẽ chẳng còn là nhân tố đại diện cho bất kỳ một loại ý nghĩa nào. Toàn bộ các mã được hình thành trong quá trình lịch sử biến văn bản thành nhân tố biểu nghĩa bao giờ cũng có quan hệ với phạm vi của các mối liên hệ ngoài văn bản. Nhưng đó là những mối liên hệ rất thực tế. Tính thực tế của khái niệm “tiếng Nga” hoàn toàn không nhỏ hơn so với tính thực tế của khái niệm “văn bản bằng tiếng Nga”, dù đó là thực tế thuộc những loại khác nhau và phương pháp nghiên cứu chúng cũng khác nhau.

    Các mối liên hệ ngoài tác phẩm có thể mô tả như là quan hệ giữa vô số yếu tố được định hình trong văn bản với vô số yếu tố mà từ đó có thể tiến hành lựa chọn một yếu tố khả dụng nào đấy. Rõ ràng, việc sử dụng một loại nhịp điệu nào đó trong một hệ thống không cho phép có ngoại lệ, trong hệ thống cho phép lựa chọn một khả năng thay thế, hoặc đưa ra 5 kiểu tổ chức câu thơ có giá trị ngang nhau, – sẽ cho chúng ta những cấu trúc nghệ thuật hoàn toàn khác nhau, dù về mặt vật chất, bình diện được định hình của tác phẩm – văn bản của nó, chẳng hề có gì thay đổi.

    Nên nhớ, cấu trúc ngoài văn bản cũng có cấp độ giống như ngôn ngữ của tác phẩm nghệ thuật nói chung. Hơn nữa, khi nhập vào những tầng bậc khác nhau của trật tự cấp độ, yếu tố này hay yếu tố kia của văn bản có thể tham gia vào các mối liên kết khác nhau ngoài văn bản (tức là có một đại lượng biểu thị độ bất ổn định khác nhau). Chẳng hạn, nếu chúng ta xác định văn bản nào đó là một tác phẩm thơ Nga, thì ở đây, khả năng sử dụng mọi vận luật tiêu biểu cho câu thơ Nga nói chung đều có xác suất như nhau. Nếu chúng ta thu hẹp ranh giới biên niên của cấu trúc mà chúng ta sẽ liệt vào đấy một văn bản nào đó cho tới phạm trù “tác phẩm của một nhà thơ Nga thế kỷ XIX”, hay chúng ta làm như thế với một thể loại (“ballad”), thì xác suất sẽ thay đổi. Nhưng văn bản lại nhất loạt thuộc về tất cả các cấu trúc ấy, và đó là điều cần phải tính đến khi xác định mức độ bất ổn định của nó.

    Việc đặc điểm của một văn bản thuộc về các thể loại, phong cách khác nhau, về thời đại, tác giả v.v… làm thay đổi mức độ bất ổn định của những yếu tố riêng lẻ của nó không chỉ buộc phải xem các mối liên hệ ngoài văn bản như một cái gì đó hoàn toàn thực tế, mà còn chỉ ra một số cách thức làm thay đổi thực tế ấy.

    Cần phân biệt các mối liên hệ ngoài văn bản ở cấp độ ngôn ngữ nghệ thuật và cấp độ thông báo nghệ thuật. Ở trên, chúng tôi đã dẫn ra những ví dụ về các mối liên hệ ngoài văn bản ở cấp độ ngôn ngữ nghệ thuật. Ở cấp độ thông báo nghệ thuật, đó là những trường hợp, khi việc không sử dụng yếu tố này hay yếu tố kia, sự vắng mặt có nghĩa, “thủ pháp-âm”[1] trở thành một bộ phận hữu cơ của văn bản đã được định hình dưới dạng văn tự. Chẳng hạn, sự bỏ qua các khổ đã được đánh số trong văn bản cuối cùng của Evgheni Oneghin, việc Pushkin thay thế đoạn kết đã có sẵn trong bài thơ Napoleon bằng một mẩu câu bỏ lửng: “Thế giới trở nên hoang vắng…”, việc sử dụng câu thơ không vần trên cái nền chờ vần của độc giả v.v… Tương quan giữa yếu tố không sử dụng – thủ pháp-âm – với cấu trúc được độc giả chờ đợi và, đến lượt nó, tương quan giữa cấu trúc được chờ đợi với mức độ xác suất sử dụng trong vị thế cấu trúc nào đó của một yếu tố được định hình về mặt văn bản sẽ biến thông tin do sự thủ pháp-âm mang lại thành một đại lượng hoàn toàn thực tế và có thể đo lường. Vấn đề này là một phần của vấn đề mang tính khái quát cao hơn – vai trò cấu trúc của chỗ trống có nghĩa (“zero-probleme”), giá trị ngữ nghĩa của chỗ ngắt giọng, quy mô thông tin do sự im lặng nghệ thuật mang lại.

    Điều kiện thiết yếu ở đây, như chúng ta thấy, là làm thế nào để yếu tố có nghĩa hoặc một tập hợp các yếu tố có nghĩa thuộc loại đồng nghĩa nào đó được đặt vào đúng vị trí giữ vai trò của thủ pháp-âm trong văn bản thuộc cấp độ này hay cấp độ kia phù hợp với cấu trúc mã của nó. Cho nên, văn bản dứt khoát phải nhập vào một cấu trúc ngoài văn bản phức tạp để tạo thành một cặp đối lập với nó.

    Vẫn còn một nguyên nhân khác khiến cho vấn đề trở nên phức tạp: các cấu trúc ngoài văn bản làm thay đổi mức độ xác suất ở những yếu tố nào đó của chúng tuỳ thuộc vào việc, chúng có quan hệ hay không với “các cấu trúc của người nói” – tác giả, hay “các cấu trúc của người nghe”- độc giả, với toàn bộ sự phức tạp của vấn đề này trong nghệ thuật như là hệ quả tất yếu sẽ xẩy ra.

    Khái niệm văn bản

    Hoàn toàn có thể đưa ra những định nghĩa như sau làm nền tảng cho khái niệm văn bản:

    1. Tính biểu thị. Văn bản được định hình bằng những ký hiệu cụ thể và với ý nghĩa như thế, nó đối lập với các cấu trúc ngoài văn bản. Với văn học nghệ thuật, trước hết, đó là sự biểu thị của văn bản bằng các ký hiệu của ngôn ngữ tự nhiên. Sự biểu thị, trái ngược với sự không biểu thị, buộc phải xem văn bản là sự hiện thực hoá một hệ thống nào đấy, là sự phản ánh vật chất của nó. Trong cặp đối lập ngôn ngữ và lời nói của de Saussure, văn bản bao giờ cũng thuộc về lĩnh vực lời nói. Với lý do như thế, văn bản bao giờ cũng có hàng loạt yếu tố hệ thống và những yếu tố ngoài hệ thống. Thật ra, việc kết hợp các nguyên tắc về trật tự cấp độ và sự chồng xếp đa tầng cấu trúc sẽ dẫn tới chỗ: cái ngoài hệ thống từ giá độ của một trong số những tiểu cấu trúc có thể trở thành cái hệ thống từ giác độ của một tiểu cấu trúc khác; và việc chuyển mã của văn bản sang ngôn ngữ cảm thụ nghệ thuật của cử toạ hoàn toàn có thể chuyển bất kỳ yếu tố nào vào tầng bậc của những cái thuộc hệ thống. Và toàn bộ sự hiện diện của các yếu tố ngoài hệ thống – hệ quả tất yếu của sự vật chất hoá, cũng như cảm giác cho rằng, cùng là những yếu tố như thế, nhưng ở cấp độ này, chúng có thể là những yếu tố thuộc hệ thống, nhưng ở cấp độ khác, chúng lại là những yếu tố ngoài hệ thống, – nhất thiết sẽ đi kèm với văn bản.

    2. Tính phân giới. Tính phân giới là đặc trưng của văn bản. Về phương diện này, một mặt, văn bản đối lập với tất cả các ký hiệu được biểu hiện bằng vật chất không thuộc thành phần của nó, theo nguyên tắc can dự, nó đối lập với cái không can dự. Mặt khác, nó đối lập với tất cả các cấu trúc có dấu hiệu không phân giới – ví như cấu trúc của các ngôn ngữ tự nhiên, và các cấu trúc không phân giới (“cấu trúc mở”) của các văn bản bằng lời nói của nó. Nhưng trong hệ thống các ngôn ngữ tự nhiên cũng vẫn có những cấu trúc có phạm trù biểu hiện sự phân giới rõ rệt: ví như từ và, đặt biệt là câu. Không phải ngẫu nhiên mà chúng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc tổ chức văn bản nghệ thuật. Khi xưa, A.A.Potebnhia từng nói về tính đẳng cấu giữa từ với văn bản nghệ thuật. A.M.Piatigorski đã chỉ ra, mối văn bản có một ý nghĩa văn bản duy nhất và ở phương diện này, có thể xem nó là một tín hiệu không thể chia tách. “Thành tiểu thuyết”, “thành bài ký”, “thành văn khấn” – điều đó có nghĩa là hiện thực hoá một chức năng văn hoá nào đó và truyền đạt một ý nghĩa toàn vẹn nào đó. Mỗi một văn bản được người đọc xác định bằng một tổ hợp các dấu hiệu. Vì vậy, chuyển ký hiệu cho một văn bản khác là một trong những phương thức cơ bản dùng để tổ chức các nghĩa mới (dấu hiệu văn bản của một tài liệu được chuyển cho tác phẩm nghệ thuật v.v…).

    Trong những loại hình văn bản khác nhau, khái niệm ranh giới được biểu hiện theo những kiểu khác nhau: đó là mở đầu và kết thúc ở cấu trúc triển khai trong thời gian, khung trong hội hoạ, hàng đèn trước sân khấu trong nhà hát. Sự phân giới giữa không gian cấu trúc (nghệ thuật) với không gian phi cấu trúc là phương thức cơ bản của điêu khắc và kiến trúc.

    Tính phân cấp của văn bản, việc hệ thống của nó được tách ra thành cấu trúc phức tạp của những tiểu hệ thống sẽ dẫn tới chỗ: hàng loạt yếu tố thuộc cấu trúc bên trong sẽ được phân giới trong các tiểu hệ thống thuộc một loại hình khác (ranh giới của các chương, các khổ, các câu thơ, của các nhịp, phách…). Ranh giới chỉ cho người đọc, rằng anh ta đang tiếp xúc với văn bản bằng cách gợi dậy trong ý thức của anh ta toàn bộ hệ thống của các mã nghệ thuật tương ứng, rằng anh ta đang đứng ở một vị thế cấu trúc vững chắc. Do một loạt yếu tố này thì là tín hiệu của một ranh giới nào đó, còn những yếu tố khác lại là những tín hiệu của một số ranh giới trùng với vị thế chung trong văn bản (kết thúc chương cũng là kết thức cuốn sách), nên trật tự đẳng cấp của các cấp độ cho phép ta nói về vị thế chủ đạo của các ranh giới này hay ranh giới kia (ranh giới các chương giữa vị thế chủ đạo hơn so với ranh giới các khổ, ranh giới của tiểu thuyết giữ vị thế chủ đạo so với ranh giới các chương), nó mở ra khả năng đối sánh vai trò của các tín hiệu phân giới nào đó về phương diện cấu trúc. Song song với điều đó, sự bão hoà ranh giới nội tại của văn bản (sự hiện diện của “ngắt dòng”, phân khổ, hay phân đoạn cấu trúc, chia nhỏ thành các chương v.v…) và sự đánh dấu các ranh giới bên ngoài (mức độ đánh dấu các ranh giới bên ngoài có thể hạ sát tới mức mô phỏng chỗ ngắt máy móc của văn bản) cũng tạo ra cơ sở để phân loại các dạng kiến tạo văn bản.

    3. Tính cấu trúc. Văn bản không phải là một trình tự giản đơn của các ký hiệu nằm ở khoảng cách giữa hai ranh giới bên ngoài. Văn bản bao giờ cũng là một tổ chức nội tại biến nó thành một chỉnh thể cấu trúc ở cấp độ ngữ đoạn. Vì thế, muốn thừa nhận một tổ hợp câu nào đó của ngôn ngữ tự nhiên là một văn bản nghệ thuật, cần phải chứng minh, chúng tạo thành một cấu trúc thuộc loại thứ cấp nào đó ở cấp độ tổ chức nghệ thuật.

    Nên nhớ, tính cấu trúc và tính phân giới của văn bản gắn bó chặt chẽ với nhau.

    Trật tự thứ bậc của khái niệm văn bản

    Cần nhấn mạnh rằng, khi bàn về tính biểu thị vật chất của văn bản, chúng tôi muốn nói tới một đặc điểm thể hiện tính riêng biệt cao nhất của các hệ thống ký hiệu. Thực thể vật chất hiện ra trong các hệ thống ký hiệu không phải là các “sự vật”, mà là tương quan giữa các sự vật. Cũng như thế, điều này còn thể hiện cả trong vấn đề văn bản nghệ thuật, loại văn bản được kiến tạo như một hình thái tổ chức, tức là như một hệ thống các quan hệ nào đó của những đơn vị vật chất tạo nên nó. Đây là lý do giải thích vì sao giữa các cấp độ khác nhau của văn bản có thể xác lập những mối liên hệ cấu trúc mang tính bổ trợ: quan hệ giữa các loại hình hệ thống. Có thể tháo dỡ văn bản thành nhiều tiểu văn bản (cấp độ âm vị, cấp độ cú pháp v.v…), trong đó, mỗi tiểu văn bản có thể xem là một đơn vị tổ chứ độc lập. Quan hệ cấu trúc giữa các cấp độ thể hiện đặc trưng của văn bản trong chỉnh thể của nó. Chính những mối liên hệ vững bền này (bên trong các cấp độ và giữa các cấp độ) mang lại cho văn bản đặc điểm của cái bất biến. Hoạt động của văn bản trong hoàn cảnh xã hội sẽ tạo ra xu hướng phân chia văn bản thành các biến thể. Với folklo và văn học trung đại, hiện tượng này đã được nghiên cứu kỹ lưỡng. Người ta thường nghĩ rằng, kỹ nghệ in ấn khiến văn hoá hiện đại bị lệ thuộc vào ngôn ngữ chữ viết, và như thế, nó sẽ làm triệt tiêu các biến thể của văn bản văn học. Điều này, không hẳn là như vậy. Chỉ cần ghi âm cách đọc cùng một bài thơ của nhiều người đọc khác nhau, ta sẽ thấy, văn bản in chỉ cho ra một loại hình văn bản cố định nào đó (ví như, ở cấp độ ngữ điệu), còn bản ghi âm thì có nhiều biến thể của nó. Nếu không nghiên cứu văn học hiện đại từ quan điểm nhà văn như chúng ta vẫn quen làm, mà nghiên cứu từ quan điểm độc giả, thì sự bảo tồn biến thể là thực tế hiển nhiên. Cuối cùng, vấn đề văn bản và các biến thể của nó cũng là vấn đề đối với các nhà văn bản học.

    Việc văn bản là một hệ thống cố định của nhiều mối quan hệ bộc lộ rất rõ khi nghiên cứu giải cấu trúc các tác phẩm dở dang hoặc đã bị thất lạc. Hơn nữa, dù giới folklore đã có nhiều thành tựu trong việc nghiên cứu vấn đề này, dù với các nhà nghiên cứu văn hoá cổ-trung đại, nhiệm vụ ấy đã thành truyền thống, nhưng nó vẫn xuất hiện thường xuyên trước các nhà nghiên cứu văn học hiện đại. Cho nên, có thể chỉ ra, nhất là trong lĩnh vực Pushkin học, nhiều thử nghiệm giải cấu trúc các ý tưởng và dự định sáng tác của nhà thơ, những thử nghiệm lý thú nhằm khôi phục các văn bản đã bị thất lạc. Nếu văn bản không phải là một cấu trúc bất biến nào đó trong giới hạn của nó, thì không có cơ sở để đặt ra những nhiệm vụ như vậy.

    Những rõ ràng là, từ hướng tiếp cận vấn đề như thế, có thể tập hợp một nhóm văn bản (ví như hài kịch Nga thế kỷ XVIII), rồi khảo sát nhóm văn bản ấy như một văn bản bằng cách mô tả hệ thống luật lệ cố định của nó và gắn toàn bộ những khác biệt với các biến nảy sinh trong quá trình hoạt động xã hội của nó. Cũng có thể tạo ra một sự trừu xuất tương tự như thế ở một cấp độ rất cao. Chắc chắn, nếu khảo sát khái niệm “văn học nghệ thuật thế kỷ XX” như một văn bản được đem ra mô tả nào đó với những tương quan phức tạp giữa các mối liên hệ biến thái và bất biến, trong hệ thống và ngoài hệ thống, thì đó là nhiệm vụ hoàn toàn khả thi.

    Từ những gì đã nói, có thể thấy, nếu chọn một nhóm văn bản đẳng cấu theo một tương quan nào đó, rồi miêu tả chúng như một văn bản, thì trong tương quan với các văn bản được miêu tả, sự miêu tả tương tự như thế chỉ bao hàm các yếu tố của hệ thống, còn bản thân các văn bản, trong tương quan với sự miêu tả ấy, chỉ hoạt động như là sự kết hợp phức tạp của các yếu tố có tổ chức (yếu tố hệ thống, xung yếu) và vô tổ chức (ngoài hệ thống, thứ yếu). Bởi vậy, văn bản thuộc cấp độ cao hơn sẽ hoạt động như một ngôn ngữ miêu tả trong tương quan với các văn bản ở cấp độ thấp hơn. Và, đến lượt mình, ngôn ngữ miêu tả của các văn bản nghệ thuật, trong một tương quan nào đó, mang tính đẳng cấu với các văn bản ấy. Có một hệ quả khác: sự mô tả ở cấp độ cao nhất (ví như “văn bản nghệ thuật”), nếu nó chỉ bao hàm các tương quan hệ thống, sẽ là ngôn ngữ dùng để mô tả các văn bản khác, nhưng bản thân sự mô tả ấy không phải là văn bản (theo quy tắc: là hệ thống vật chất hoá, văn bản chứa đựng các yếu tố ngoài hệ thống).

    Dựa vào các luận điểm nêu trên, có thể rút ra một quy tắc bổ ích. Thứ nhất: ngôn ngữ miêu tả văn bản là một trật tự cấp bậc. Không thể xáo trộn sự mô tả ở những cấp độ khác nhau. Cần phải giới thuyết chính xác, sự miêu tả đang được tiến hành ở cấp độ (các cấp độ) nào. Thứ hai: trong giới hạn của một cấp độ nào đó, sự miêu tả phải có tính cấu trúc và toàn vẹn. Thứ ba: các siêu ngôn ngữ ở những cấp độ khác nhau của sự miêu tả dứt khoát phải khác nhau.

    Tuy nhiên, cần nhấn mạnh, rằng hiện thực được mô tả trong nghiên cứu không hoàn toàn đồng nhất với hiện thực được người đọc cảm nhận: trong sự mô tả của nhà nghiên cứu, trật tự cấp bậc của các văn bản tựa những chồng xếp lên nhau là một thực tế. Nhưng với người đọc, chỉ có một văn bản duy nhất do tác giả sáng tạo ra lại là một thực tế. Thể loại có thể là một văn bản thống nhất, nhưng không thể biến nó thành đối tượng thụ cảm nghệ thuật. Khi thụ cảm một văn bản do tác giả sáng tạo ra như một bản thể duy nhất, người tiếp nhận thông tin bao giờ cũng phân tích tất cả những gì được kiến tạo ở đó như một trật tự cấp bậc của các bộ mã làm hiển lộ ngữ nghĩa tiềm ẩn trong một tác phẩm nghệ thuật hiện hữu nào đấy với anh ta.

    Bởi vậy, rõ ràng là, sẽ khôngthể có một định nghĩa hoàn chỉnh về văn bản nghệ thuật, nếu thiếu sự phân loại bổ trợ ở bình diện “người phát-người nhận”. Chẳng hạn, nhiều cách lý giải qua diễn xuất khác nhau của một vai, một vở nhạc kịch, một loại truyện kể trong hội hoạ (ví như bức Madonna và hài đồng) v.v…, nếu thụ cảm từ quan điểm này, thì chúng chỉ là sự lặp lại của một văn bản (sự khác biệt không được phát hiện. Cử toạ thiếu trình độ chuyên môn: trong bảo tàng Hermitage “mọi thứ giống hệt nhau”, “tất cả tranh thánh đều giống nhau như đúc”, hoặc “không thể phân biệt các nhà thơ thế kỷ XVIII”), hoặc là các phiên bản của cùng một văn bản cố định, nhưng nếu thụ cảm từ quan điểm khác chúng lại là những văn bản khác nhau, thậm chí đối lập với nhau.

    Ký hiệu tạo hình bằng ngôn từ (hình tượng)

    Thuộc tính mã hoá của các văn bản nghệ thuật – các hệ thống mô hình hoá – sẽ dẫn tới chỗ: một số dấu hiệu đặc trưng của chính văn bản như nó vốn dĩ, trong quá trình giao tiếp nghệ thuật được chuyển qua phạm vi của hệ thống mã hoá. Chẳng hạn, tính phân giới không chỉ là dấu hiệu cảu văn bản, mà còn trở thành thuộc tính cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật.

    Bây giờ chúng tôi sẽ dừng lại ở vấn đề vềếy nghĩa tính phân giới như một nguyên tắc cấu trúc đối với kết cấu, mà cụ thể là sẽ dừng lại ở chỗ: điều ấy có hệ quả thế nào đối với ngôn ngữ nghệ thuật?

    Nghệ thuật ngôn từ chỉ thực sự trở thành nghệ thuật khi nó nỗ lực khắc phục đặc điểm cố hữu của từ như một ký hiệu ngôn ngữ – mối liên hệ giữa các bình diện nội dung và biểu hiện không có sự chế định lẫn nhau – và xây dựng một mô hình nghệ thuật bằng lời theo nguyên tắc hình tượng hệt như trong các nghệ thuật tạo hình. Đó chẳng phải là điều ngẫu nhiên và nó gắn bó hữu cơ với số phận của các ký hiệu trong lịch sử văn hoá của nhân loại.

    Với tính ước lệ trong quan hệ giữa cái được biểu đạt với cái biểu đạt, do chỉ có thể hiểu khi được gắn với một bộ mã nào đó, các ký hiệu của ngôn ngữ tự nhiên rất dễ trở thành cái không thể hiểu được và bất kỳ ở đâu, hễ hệ thống ngữ nghĩa mã hoá được bện kết vào đời sống xã hội là chúng lại trở thành cái dối trá. Ký hiệu như là nguồn mạch thông tin cũng dễ dàng trở thành phương tiện phao tin nhảm nhí, đánh lạc hướng xã hội.ỏTong đời sống văn hoá của nhân loại, xu hướng đấu tranh với ngôn từ, ý thức về khả năng lừa dối cắm rễ rất sâu trong bản chất của nó là nhân tố thường trực, chẳng kém gì xu hướng thán phục trước sức mạnh của nó. Không phải ngẫu nhiên mà hình thức thấu hiểu cao nhất đối với nhiều loại hình văn hoá được đặt vào dạng thức “thông hiểu không lời” và được liên hệ với sự giao tiếp ngoài lời như âm nhạc, tình yêu và ngôn ngữ biểu cảm cận ngôn ngữ học.

    Các ký hiệu tạo hình có một đặc tính ưu việt: do cấu trúc ký hiệu và nội dung của đó đã nói lên sự tương đồng bền ngoài, mang tính trực quan, nên cũng không đòi hỏi phải am hiểu những bộ mã phức tạp (người tiếp nhận những thông tin như thế có cảm giác trong trường hợp này anh ta không sử dụng bất kỳ một loại mã nào cả). Có thể dẫn ra đây một thí dụ về ký hiệu giao thông theo kiểu hỗn hợp do hai yếu tố tạo thành: vạch cấm và mõm ngựa. Yếu tố thứ nhất có tính ước lệ: muốn hiểu ý nghĩa của nó cần nắm vững bộ mã dành riêng cho ký hiệu giao thông. Yếu tố thứ hai mang tính hình tượng và chỉ có thể dùng kinh nghiệm đời sống đã tích luỹ được để giải mã (người chưa bao giờ nhìn thấy ngựa sẽ không thể hiểu được). Nhưng chúng ta sẽ làm một thí nghiệm thầm trong óc: kết hợp ký hiệu cấm với một chữ số hoặc một từ. Cả hai yếu tố đều đúng luật, nhưng mức độ ước lệ của chúng sẽ rất khác nhau. Trên cái nền của ký hiệu giao thông tự động, có thể dựa vào một bộ mã chuyên ngành, chỉ có một phạm vi rất hẹp am hiểu, để giải mã, thì từ và chữ số sẽ trở nên nổi bật nhờ vào sự hiểu biết chung và về mặt chức năng chúng cũng tương đương như cái mõm ngựa hoặc bất kỳ một yếu tố hình tượng nào khác. Thí dụ về một ký hiệu ước lệ có thể tương đương với một ký hiệu tạo hình về mặt chức năng hết sức lý thú đối với văn học. Bằng chất liệu từ ngôn ngữ tự nhiên – hệ thống các ký hiệu ước lệ, nhưng được tập thể hiểu rõ tới mức, người ta không còn cảm thấy tính ước lệ ấy nữa trên cái nền của những “ngôn ngữ” khác, mang tính chuyên biệt lớn hơn,- và thế là xuất hiện ký hiệu thứ sinh thuộc loại tạo hình (có lẽ cần phải gắn nó với “hình tượng” của lý luận văn học truyền thống). Ký hiệu tạo hình thứ sinh có những đặc điểm của ký hiệu hình tượng: sự tương đồng trực tiếp với đối tượng, tính trực quan, nó tạo ra ấn tượng về sự chế định của mã ít hơn và vì thế – có vẻ như – đảm bảo tính chân thực lớn hơn, sự tường minh lớn hơn so với các ký hiệu ước lệ. Ở loại ký hiệu này có hai phương diện không thể tách riêng: sự tương đồng với đối tượng được nó biểu nghĩa và sự khác biệt với đối tượng được nó biểu nghĩa. Hai khái niệm ấy không thể tồn tại tách rời nhau.

    Người dịch: Lã Nguyên

    Những tin mới hơn

    Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xác Định Cấu Trúc Văn Bản, Hỗ Trợ Kỹ Năng Đọc Hiểu
  • Nâng Mũi Bán Cấu Trúc 4D Là Gì? Có Khác Gì Với Nâng Mũi Cấu Trúc?
  • Nâng Mũi Bán Cấu Trúc Là Gì? Nên Nâng Mũi Bán Cấu Trúc Hay Cấu Trúc?
  • Bài 22. Đột Biến Cấu Trúc Nhiễm Sắc Thể
  • Bài 4. Cấu Trúc Bảng
  • Viết Đoạn Văn Thuyết Minh Về Cấu Tạo Chiếc Bút Bi

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Loại Bút Bi Và Chức Năng Của Chúng
  • Bài 42. Luyện Tập Chương 4: Hiđrocacbon
  • 7 Bài Văn Mẫu Thuyết Minh Về Cây Bút Bi Hay Nhất
  • Cấu Tạo Bên Trong Của Trái Đất Bài 10
  • Bài 10 : Cấu Tạo Bên Trong Của Trái Đất
  • Chắc hẳn trong mỗi chúng ta đều hơn một lần mang theo bên mình cây bút bi. Đây là một người bạn nhỏ quen thuộc với nhiều công dụng và góp phần mang lại nhiều ích lợi cho mỗi con người chúng ta.

    Bút bi được sử dụng đặc biệt rộng rãi hiện nay, nhưng không phải ai cũng biết được nó bắt nguồn từ đâu. Bút bi được phát minh bởi một nhà báo người Hungary tên László Biró, giới thiệu vào năm 1938. Trong quá trình làm việc, nhận thấy những hạn chế khi viết bằng bút máy như rất dễ dây mực hoặc làm rách giấy viết, ông đã nghiên cứu và đồng sáng chế ra chiếc bút bi đầu tiên. Chúng được tạo ra từ một loại mực in cực kỳ nhanh khô, do đó khắc phục hoàn toàn nhược điểm của bút máy.

    Cấu tạo của bút bi gồm 3 bộ phận chính: Vỏ bút, ruột bút và bộ phận điều khiển. Vỏ bút thường được làm từ chất liệu nhựa hơi cứng hay bằng kim loại, có hình trụ tròn, dài khoảng 13-15cm, trên thân có dán nhãn mác in thông tin mã vạch, logo, tên thương hiệu và kích thước đầu ngòi. Ngoài ra thân bút còn được gắn một chiếc đai có tác dụng mở đóng ngòi bút và tiện lợi hơn khi có thể dễ dàng cài vào sách vở. Ngày nay, nhằm đáp ứng xu hướng và ưa chuộng của những người sử dụng, các hãng bút còn sản xuất những loại bút bi với nhiều kiểu dáng bắt mắt, phù hợp với từng đối tượng. Vỏ bút đơn giản, sang trọng phù hợp với nhu cầu của người đi làm, còn vỏ bút in hình dễ thương luôn là lựa chọn của đa số các em học sinh. Một bộ phận không thể thiếu tiếp theo đó chính là ruột bút. Ruột bút nằm phía trong vỏ bút, cũng được làm từ loại nhựa có tính dẻo, dài khoảng 10cm giúp chứa mực. Những màu mực để lựa chọn rất đa dạng như xanh, đỏ, đen, tím…Đầu ruột bút có gắn ngòi bút làm từ một loại kim loại không gỉ, bên trong có một viên bi nhỏ. Độ thanh hay đậm của nét bút tùy thuộc vào đường kính của viên bi nhỏ xíu này. Để việc sử dụng được thuận tiện hơn, bút được thiết kế một bộ phận bấm giúp điều chỉnh đóng mở ngòi bút gồm lò xo và nút bật. Khi muốn sử dụng bút, ta bấm nhẹ vào nút bật, ngòi bút sẽ nhanh chóng lộ ra. Khi dùng bút xong, ta bấm vào đai bên cạnh thì ngay lập tức ngòi bút sẽ được kéo vào trong. Một số loại bút thay vì lò xo người ta thiết kế có nắp đậy tương tự bút máy để giữ mực khỏi bị khô và bảo vệ ngòi bút khỏi sự va đập.

    Bút bi có 2 loại chủ yếu là loại chỉ sử dụng duy nhất một lần và loại nạp mực để dùng nhiều lần. Loại dùng nhiều lần thì có ruột bút để thay thế khi hết mực, còn loại dùng một lần thì không. Mỗi cây bút có mức giá thích hợp với túi tiền người mua, dao động khoảng 2,5 đến 5 nghìn đồng 1 cây, những cây bút thiết kế bắt mắt và sang trọng hơn thì có giá cao hơn đôi chút. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều thương hiệu bút tên tuổi để lựa chọn như Thiên Long, Hồng Hà, Bến Nghé…với kiểu dáng và màu sắc vô cùng sinh động. Bút bi hoạt động dựa trên nguyên lý khá đơn giản. Khi đầu ngòi bút tiếp xúc với mặt giấy viên bi sẽ chạm vào giấy và chuyển động theo kiểu lăn tròn đều, giúp mực được tiết ra, tạo ra nét chữ, nét vẽ. Nếu đã quen thuộc với việc sử dụng bút máy, vậy bạn sẽ không hề cảm thấy khó khăn trong việc dùng bút bi, thậm chí sử dụng dễ dàng hơn nhiều lần so với bút máy.

    Bút bi tuy nhỏ nhắn mà vô cùng quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Bút bi theo chân các em học sinh tới lớp, ghi lại những kiến thức bổ ích. Bút bi trong túi áo những doanh nhân thành đạt để ký kết những hợp đồng quan trọng. Hình ảnh bút bi hiện diện trong nét mực đỏ tươi cùng lời phê đầy tâm huyết của các thầy cô giáo. Bất cứ nơi đâu ta cũng có thể bắt gặp những chiếc bút bi: Trong chiếc cặp nhỏ xinh, tại bàn làm việc, nơi công cộng…Chúng là vật vô tri nhưng với những công dụng sẵn có ta có thể biến chúng trở thành một công cụ đắc lực trong công việc cũng như trong cuộc sống. Không chỉ nhỏ gọn, tiện lợi mà việc bảo quản bút bi còn vô cùng dễ dàng. Khi sử dụng xong, nắp bút cần được đóng hoặc bấm nút để ngòi bút kéo vào trong, tránh để lâu khiến mực bị khô. Ta cũng cần lưu ý hạn chế đánh rơi bút vì điều đó có thể khiến cây bút của bạn bị tắc mực hoặc cộm lên khi viết. Thật đơn giản phải không nào!

    Bạn có biết không, theo thống kê mỗi tích tắc trôi qua có đến hàng trăm cây bút bi được bán ra thị trường. Điều đó chứng tỏ người bạn nhỏ này có một tầm ảnh hưởng vô cùng lớn. Ngày nay, trong nhịp sống hối hả, công nghệ ngày càng phát triển, nhiều thiết bị ghi chép thông tin hiện đại ra đời như máy tính, điện thoại, vậy nhưng bút bi vẫn là một sự chọn lựa không thể thay thế. Đây hẳn là một phát minh có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Tẩy Mực Bút Bi Trên Giấy Đơn Giản
  • Đoạn Văn Ngắn Thuyết Minh Về Cây Bút Bi
  • Thuyết Minh Về Cây Bút Bi Lớp 9 : Mẫu Dàn Ý Và Các Bài Văn Tham Khảo Hay Nhất
  • Thuyết Minh Về Cấu Tạo Của Chiếc Bút Bi
  • 5 Thủ Thuật Giúp Não Bộ Đánh Bay Sự Trì Trệ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100