Top 19 # Xem Nhiều Nhất Cấu Trúc Của Virus Viêm Gan / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Cấu Trúc Phân Tử Của Virus Viêm Gan B / 2023

Cấu trúc phân tử của virus viêm gan B

Virus viêm gan B là loại vi khuẩn rất nguy hiể thuộc họ Hepadnaviridae (Hepatotrophuc DNA virus) được xếp là Hepadnavirus type 1.

Hạt virus viêm gan B có dạng hình cầu với đường kính 42nm ( tiểu thể Dane). Bao gồm bỏ ngoài có thể tìm thấy trong huyết thanh ở dạng hình cầu 22nm và dạng hình sợi. Được cấu tạo bởi 7 – 9 polypeptide có trọng lượng thay đổi từ 19.000 – 120.000 dalton và các thành phần arbohydrate. Cấu trúc vỏ của virus viêm gan B mang kháng nguyên bề mặt gọi là HBsAg.

Bộ gen của virus viêm gan B là một phân tử ADN có cấu trúc mạch kép không hoàn toàn với kích thước 3200 base, được cấu tạo bởi 2 sợi có chiều dài không bằng nhau. Chuỗi dài nằm ngoài có cực âm tính tạo vòng tròn liên tục có chiều dài cố định là 3,2Kb mã hóa cho các thông tin di truyền của virus. Chuỗi ngắn nằm trong cực dương tính có chiều dài chỉ bằng 50 – 80% chiều dài sợi âm.

Các nghiên cứu trước đây đã xác định rằng các protein cấu tạo vi khuẩn sẽ cho ra hai kích cỡ vỏ khác nhau, bao gồm 180 hoặc 240 tiểu đơn vị được sắp xếp đối xứng. Protein capsid chứa một chuỗi C – terminal cơ bản tương tác với acid nucleic của virus. Vỏ capsid có hình khối đối xứng, kích thước khoảng 27nm, vỏ ngoài dày khoảng 7nm được cấu tạo bởi 3 protein.

Bề mặt của lõi mang kháng nguyên lõi HBcAg bên trong chứa ADN polymerase, ADN của virus và một protein hòa tan mang tính kháng nguyên là HBeAg. ADN của HBV ở dạng vòng hai chuỗi gồm một chuỗi dài và một chuỗi ngắn, mang 4 đoạn gen chính.

♦ Đọan tiền gen S và S: Chủ yếu mã hóa cho các protein của vỏ.

♦ Đoạn gen C mã hóa cho các cấu trúc HBcAg và HBeAg.

♦ Đoạn gen P mã hóa ADN polymerase.

♦ Đoạn gen X mã hóa cho một protein có chức năng hoạt hóa chéo (transactivation).

► Khi virus viêm gan B nhân lên.

Virus viêm gan B chưa nuôi cấy có thể sao chép được trên tế bào gan người. Những nghiên cứu gần đây nhận thấy virus viêm gan B có quá trình sao chép ngược như Retrovirus. Sau khi xâm nhập vào trong tế bào gan, ADN của virus làm thông tin để tạo ra hai sợi ARN thông tin nhờ ARN polymerase của tế bào. Từ ARN thông tin này được bọc bởi các protein của lõi, tiếp đến ADN polymerase của virus sẽ sao mã ngược để hình thành ADN của virus.

Khi ADN của virus được hình thành thì hai sợi ARN thông tin tự phá hủy. Lõi chứa ADN sẽ nhận vỏ ngoài khi được đẩy ra qua hệ thống lưới nội bào hoặc bộ golgi để ra ngoài.

Toàn bộ ADN của virus có thể tích hợp vào ADN của tế bào gan, hình thái này được tìm thấy trong ung thư tế bào gan (Hepatocellular carcinoma). Tuy nhiên khác với các retrovirus, sự tích hợp vào chromosome tế bào không phải là một bước bắt buộc trong chu kỳ sao chép của các virus thuộc họ này. Tế bào gan ở trạng thái này vẫn còn tiết ra HBsAg nhưng không có HBeAg, quá trình sao chép của virus trong giai đoạn này ngừng hoặc rất chậm.

Khi xâm nhập vào cơ thể virus viêm gan B sẽ gây ra hậu quả rất nguy hiểm. Virus thực hiện xâm nhập vào tế bào gan bằng cách gắn lên thụ thể trên bề mặt của tế bào như axit natri/ mật acid vận chuyển peptide SLC10A19 ( còn gọi là NTCP). DNA virus sẽ chi chuyển đến nhân của tế bào bằng protein vật chủ, sau đó nhân đôi AND và phiên mã ra mRNA và RNA bản sao của bộ gen. Khi tấn công vào cơ thể người bệnh hơn 90% người bệnh sẽ loại bỏ được virus nếu như có sức đề kháng tốt, 10% còn lại sẽ chuyển sang giai đoạn viêm gan mãn tính. Đây là giai đoạn nguy hiểm cần được điều trị triệt để nếu không sẽ dễ tử vong bởi các biến chứng nguy hại mà bệnh gây nên như xơ gan và ưng thư gan.

Ở giai đoạn mãn tính hầy như người bệnh sẽ không có triệu chứng đặc biệt và vẫn thấy sức khỏe bình thường, nên rất nhiều người bệnh chủ quan với tình trạng bệnh và không chủ động thăm khám nên bệnh tiếp tục phát triển đến xơ gan với các biến chứng như cổ trướng, xuất huyết tiêu hóa, hôn mê gan. Lúc này gan của người bệnh đã bị suy giảm các chức năng của mình và rất khó để phục hồi lại nếu như có những triệu chứng của xơ gan giai đoạn cuối.

Khoảng 10 – 20% người bệnh có thể sẽ tiến triển sang ung thư gan gấp 200 lần người bình thường. Virus viêm gan B làm cho gan bị xơ hóa và dẫn đến hình thành các tế bào ác tính. Lúc này người bệnh sẽ xuất hiện triệu chứng đau bụng và phù. Đa số người bệnh đều phát hiện ra ung thư gan ở giai đoạn muộn và chất lượng sống của người bệnh sẽ rất kém thường thì tiên lượng sự sống chỉ trong khoảng vài tháng nếu người bệnh không có biện pháp phòng ngừa đúng cách.

Qua những thông tin trên, hi vọng người bệnh đã hiểu thêm về cấu tạo của virus cũng như mức độ nguy hiểm của chúng. Việc trang bị các kiến thức về bệnh viêm gan B là việc rất cần thiết để người bệnh có thể chủ động phòng ngừa sự lây nhiễm cho những người xung quanh. Nếu còn bất kì thắc mắc cần được giải đáp, bạn đọc hãy liên hệ các Bác sĩ chuyên gan qua số Hotline để được tư vấn miễn phí. Phòng khám Hồng Phong làm việc tất cả các ngày trong tuần, hệ thống tư vấn hoạt động 24/24.

Cấu Tạo Của Virus Viêm Gan B Có Gì Đặc Biệt / 2023

Virus viêm gan B (HBV) đã lây nhiễm cho hơn 300 triệu người trên thế giới và là nguyên nhân thường thấy gây ra các biến chứng về gan như xơ gan và ung thư gan. Vậy cấu tạo của virus có gì đặc biệt để có thể gây ra sức hủy diệt khủng khiếp như vậy? Hãy tìm hiểu cùng các chuyên gia tại phòng khám đa khoa Hồng Phong qua bài viết sau.

Virus viêm gan B là gì?

Virus viêm gan B, viết tắt của HBV, là một loại DNA kép, thuộc chi Orthohepadnavirus và cũng là một phần của dòng virus Hepadnavidae.

Virus viêm gan B trong máu

Cấu tạo của virus

Hạt của virus, được gọi là hạt Dane, bao gồm một lớp vỏ capsid và một lõi nucleocapsid 20 mặt chứa protein. Các nucleocapsid bao gồm DNA virus và một polymerase DNA có hoạt động sao chép ngược tương tự như retrovirus ( Retrovirus là một từ để gọi các loại virus mà vật chất di truyền của chúng là phân tử RNA. Khi chúng xâm nhập vào cơ thể thì có khả năng thực hiện quá trình phiên mã ngược nhờ enzym đặc biệt là enzym phiên mã ngược – Reverse Transciptase ). Lớp vỏ bên ngoài của virus bao gồm các protein được gắn liền với liên kết virus và sau đó xâm nhập vào tế bào.

Đường kính của virus chỉ từ 30-42nm. Hạt ngoài không chứa vật liệu di truyền nên không có khả năng lây nhiễm, bao gồm lipid và protein tạo thành một phần của bề mặt virion, được gọi là kháng nguyên bề mặt HBsAg được tạo ra liên tục trong suốt vòng đời của virus.

Thành phần virus bao gồm:

♦ HBsAg

♦ HBcAg

♦ HbeAg

♦ DNA polymerase viêm gan B

♦ HBx- chức năng của protein này vẫn được chưa được biết đến, nhưng các bằng chứng đã cho thấy rằng nó đóng vai trò trong quá trình kích hoạt quá trình phiên mã của virus.

Cấu tạo của virus viêm gan B

Bộ gen của virus

Bộ gen của virus không hoàn toàn là sợi đôi, nó bao gồm một sợi ngắn và một sợi dài. Gen này bao gồm 3200 nucleotide, cũng chính vì vậy mà chúng được biết đến như là một virus DNA nhỏ nhất.

Có 8 loại gen được biết đến từ A đến H, được phân loại dựa trên sự biến đổi của chuỗi nucleotitde trong bộ gen của virus.

Kiểu ghen “I “mới đã được mô tả nhưng sự chấp nhận kí hiệu gen này vẫn chưa rộng rãi.

Quá trình xâm nhập

Virus thực hiện quá trình xâm nhập vào tế bào gan bằng cách gắn lên thụ thể trên bề mặt của tế bào. Các thụ thể trên bề mặt tế bào được xác định như axit natri/mật acid vận chuyển peptide SLC10A19 ( còn gọi là NTCP ). DNA virus di chuyển đến nhân của tế bào bằng protein vật chủ, sau đó hoàn thiện nhân đôi DNA và dùng nó để phiên mã ra mRNA và RNA bản sao của bộ gen. mRNA di chuyển ra tế bào chất và dịch mã enzym phiên mã ngược. Một số protein sau đó bắt đầu sự lắp ráp vỏ capsid của virus, sự phiên mã ngược của RNA bản sao được tiếp tục được diễn ra trong vỏ capsid mới. Virus tiếp tục hoàn thiện chuỗi DNA đôi của mình từ một DNA được phiên mã ngược từ RNA.

Virus viêm gan B tuy gây ra những hậu quả rất nguy hiểm khi đã xâm nhập vào cơ thể, nhưng bạn vẫn có thể ngăn chặn virus bằng cách chủng ngừa vắc xin viêm gan B, tránh xa các tác nhân gây ra viêm gan B để có thể bảo vệ mình khỏi căn bệnh chết chóc này.

Nếu còn bất kỳ thắc mắc nào về cấu tạo của virus viêm gan b có gì đặc biệt mà có thể gây nên căn bệnh nguy hiểm như vây, có thể liên hệ với phòng khám viêm gan chúng tôi để được tư vấn miễn phí và nhanh chóng.

Hình Thái Cấu Trúc Virut Viêm Gan C / 2023

Virut viêm gan C là loại virut hướng gan dưới kính hiển vi điện tử người phát hiện HCV có hình cầu, hình đa diện hoặc hình que kích thước nhỏ . Về cấu trúc của virut viêm gan C bao gồm lõi ARN, nhân core, gai glycoprotein và màng vỏ.

Hình thái cấu trúc virus viêm gan C

HÌNH THÁI CẤU TRÚC CỦA VIRUS VIÊM GAN C NHƯ THẾ NÀO?

Genome của HCV có một lõi chứa vật liệu di truyền là một sợi ARN có tính phân cực dương, bao quanh bởi một màng protein có chức năng bảo vệ tạo hình đa diện đều và gói lại bởi màng lipid từ nguồn của tế bào gan, kích thước của một chuỗi đơn ARN (+) là 9,6 kb.

Giống như các chuỗi ARN dương của các loại virut khác, tổ chức genome của virut viêm gan C cũng mang vai trò như một ARN thông tin (mARN) truyền đạt thông tin di truyền cho protein của virut.

Virus viêm gan c (HCV) thuộc họ Flaviviridae, giống Hepacivirus. cấu trúc phân tử HCV: RNA virus bao gồm một khung đọc mở duy nhất (ORF – open reading frame) bao trùm cấu trúc gen của HCV mã hoá một chuỗi polypeptide khoảng 3010 – 3033 aminoacid(aa) gắn kết vào đầu 5 và 3 của các vùng không dịch mã (UTR – Untranslated region). Gen của virus chia làm 3 vùng chính có hai đầu 5 và 3. Khởi đầu khung đọc mở ở vùng 5 không phiên mã (HCV5 – UTR) gồm 341 nucleotide, là vùng bảo tồn nhất trong cấu trúc gen của HCV, 90% cấu trúc hoàn toàn tương tự nhau ở các kiểu gen HCV khác nhau và thường được sử dụng trong chẩn đoán sinh học phân tử.

Tiếp theo là những vùng mã hoá cho các protein cấu trúc và protein không cấu trúc, vùng cấu trúc (structural region) gồm các gen mã hoá cho các protein capside (C – core) và lớp bao ngoài (E1 và E2 – envelope).Vùng không cấu trúc (none structural region) nằm ở phía 3 của vùng cấu trúc. Cuối cùng vùng 3 không phiên mã (HCV 3 – UTR) có khoảng 27 – 66 nucleotid, có chức năng báo hiệu dừng quá trình phiên mã.

Cấu Trúc Và Chức Năng Của Gan / 2023

Sự phân hủy heme tạo ra bilirubin (sản phẩm thải trừ không hòa tan) và các sắc tố mật khác. Bilirubin phải được hòa tan trong nước để được bài tiết. Sự chuyển đổi này diễn ra qua 5 bước: hình thành, vận chuyển trong máu, hấp thu ở gan, liên hợp, và bài tiết mật.

Sự hình thành: Khoảng 250 đến 350 mg bilirubin không liên hợp được hình thành mỗi ngày; 70-80% từ sự phân giải của các hồng cầu thoái hóa, và 20 đến 30% (bilirubin có nhãn sớm) chủ yếu xuất phát từ các protein heme khác trong tủy xương và gan. Hb bị phân hủy thành sắt và biliverdin, chất mà sau đó được chuyển thành bilirubin.

Vận chuyển trong máu: Bilirubin không liên hợp (gián tiếp) không hòa tan trong nước và được vận chuyển trong huyết tương bằng cách gắn với albumin. Nó không thể đi qua màng lọc cầu thận vào nước tiểu. Sự gắn kết với albumin yếu đi ở các điều kiện nhất định (ví dụ như môi trường acid), và một số chất (ví dụ, salicylat, một số kháng sinh) cạnh tranh với các vị trí liên kết.

Hấp thu ở gan: Gan lấy bilirubin nhanh chóng nhưng không lấy albumin huyết thanh đi kèm.

Liên hợp: Bilirubin không liên hợp trong gan được kết hợp để hình thành chủ yếu là bilirubin diglucuronide (bilirubin liên hợp [phản ứng trực tiếp]). Phản ứng này, được xúc tác bởi enzyme trong ty thể là glucuronyl transferase, làm cho bilirubin hòa tan được trong nước.

Bài tiết mật: Các vi quản mật hình thành bởi các tế bào gan cạnh nhau dần dần kết hợp thành các ống dẫn, ống dẫn mật giữa các tiểu thùy, và các ống gan lớn hơn. Bên ngoài cửa gan, ống gan chính hợp với ống cổ túi mật từ túi mật tạo thành ống mật chủ, dẫn xuống tá tràng ở đỉnh nhú Vater.

Bilirubin liên hợp được bài tiết vào vi quản mật với các thành phần khác của dịch mật. Trong ruột, vi khuẩn chuyển hóa bilirubin thành urobilinogen, phần lớn trong số đó được chuyển hóa thành stercobilin, làm cho phân màu nâu. Trong tắc nghẽn mật hoàn toàn, phân mất màu bình thường và trở thành màu xám nhạt (phân màu đất sét). Một phần urobilinogen được hấp thu lại, phân giải bởi các tế bào gan, và bài tiết lại vào mật (chu trình gan – ruột). Một lượng nhỏ được bài tiết qua nước tiểu.

Vì chỉ bilirubin liên hợp được bài tiết qua nước tiểu còn bilirubin không liên hợp thì không, chỉ khi xảy ra tăng bilirubin liên hợp trong máu (ví dụ như vàng da tại gan hoặc vàng da tắc mật) gây ra bilirubin trong nước tiểu.