Sinh Học 12: Gen Và Cấu Trúc Của Gen

--- Bài mới hơn ---

  • Phôi Cá Mút Đá Tái Cấu Trúc Hệ Gen
  • 1 Gen Quy Định Cấu Trúc Của Một Polipeptit
  • Gen, Mã Di Truyền Và Quá Trình Nhân Đôi Adn, Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 12
  • Cấu Trúc P53 (Protein), Chức Năng, Chu Kỳ Tế Bào Và Bệnh Tật / Sinh Học
  • Phát Hiện Gen P53 Kiềm Chế Sự Phát Triển Của Các Tế Bào Ung Thư
  • Nêu khái niệm và cấu trúc của gen

    Gen là một đoạn của phân tử ADN mang thông tin mã hóa cho một sản phẩm xác định (chuỗi pôlipeptit hoặc ARN)

    – Ở một số chủng virut, gen có cấu trúc mạch đơn ADN hoặc ARN mạch đơn.

    – Ở sinh vật nhân thực, gen có cấu trúc xoắn kép được cấu tạo từ 4 loại nuclêôtit theo nguyên tắc bổ sung.

    – Các gen khác nhau có số lượng và trình tự các nuclêôtit khác nhau.

    – Mỗi gen mã hóa cho prôtêin điển hình gồm 3 vùng trình tự nuclêôtit. Vùng điều hòa nằm ở đầu 3′ mạch mã gốc của gen mang tín hiệu khởi động và kiểm soát phiên mã. Tiếp theo là vùng mã hóa mang thông tin mã hóa cho các axit amin. Vùng kết thúc nằm ở đầu 5′ mạch mã gốc của gen, mang tín hiệu kết thúc phiên mã.

    – Vùng mã hóa có cấu trúc phân mảnh hoặc không phân mảnh tùy thuộc vào sinh vật. Các gen của sinh vật nhân sơ có vùng mã hóa liên tục. Phần lớn các gen của sinh vật nhân thực có vùng mã hóa không liên tục. Xen kẽ giữa các đoạn mã hóa axit amin (exon) là các đoạn không mã hóa axit amin (intron). Các gen như vậy gọi là gen phân mảnh. Số lượng exon và intron của các gen khác nhau là khác nhau.

    – Ví dụ ovalbumin của gè có tới 7 intron xen kẻ giữa 8 exon, còn gen beta-globulin lại có 2 intron xen kẽ 3 exon.

    Phân biệt gen của nhân sơ và nhân thực, gen trong nhân và ngoài nhân.

    – ADN xoắn kép, mạch vòng, trần

    – Có gen ngoài nhân là các plasmit.

    – ADN xoắn kép, mạch thẳng, liên kết với prôtêin loại histon

    – Gen phân mảnh, xen giữa các đoạn exon là đoạn intron

    – Gen ngoài nhân là gen trong ti thể và lạp thể. Chỉ mới phát hiện một loại nấm men có plasmit.

    Gen trong ti thể và lục lạp của sinh vật nhân thực giống cấu trúc gen của sinh vật nhân sơ.

    Plasmit của sinh vật nhân sơ có số lượng lớn, dạng vòng, kích thước nhỏ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 21. Đột Biến Gen
  • Đột Biến Gen, Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 12
  • Cấu Trúc Và Bộ Gen Của Hiv
  • Giải Vở Bài Tập Sinh Học 9
  • Bài Tập Cấu Trúc Adn (Gen)
  • Cấu Trúc Và Bộ Gen Của Hiv

    --- Bài mới hơn ---

  • Đột Biến Gen, Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 12
  • Bài 21. Đột Biến Gen
  • Sinh Học 12: Gen Và Cấu Trúc Của Gen
  • Phôi Cá Mút Đá Tái Cấu Trúc Hệ Gen
  • 1 Gen Quy Định Cấu Trúc Của Một Polipeptit
  • Cấu trúc

    Chuỗi hoàn chỉnh của bộ gen HIV-1, được chiết xuất từ virion truyền nhiễm, đã được giải quyết thành phân giải nucleotide đơn.

    HIV có cấu trúc khác với các retrovirus khác. Virion HIV có đường kính ~ 100 nm. Vùng trong cùng của nó bao gồm một lõi hình nón bao gồm hai bản sao của bộ gen ssRNA (cảm giác tích cực), enzyme phiên mã ngược, integrase và protease, một số protein nhỏ và protein lõi chính.

    HIV-1 bao gồm hai bản sao RNA đơn chuỗi không liên kết, không ghép nối, ý nghĩa dương được bao bọc bởi một capsid hình nón bao gồm protein p24 của virus, điển hình của lentivirus. Thành phần RNA dài 9749 nucleotide và có nắp 5 ‘ (Gppp), đuôi 3’ poly (A) và nhiều khung đọc mở (ORF). Nucleocapsid liên kết với RNA genomic (một phân tử trên hexamer) và bảo vệ RNA khỏi bị các nuclease tiêu hóa. Cũng nằm trong hạt virion là Vif, Vpr, Nef và protease virus. Một ma trận bao gồm sự liên kết của protein virut p17 bao quanh capsid, đảm bảo tính toàn vẹn của hạt virion. Điều này lần lượt được bao quanh bởi một phong bì có nguồn gốc tế bào chủ. Màng bọc được hình thành khi capsid chồi ra từ tế bào chủ, và lấy đi một số màng tế bào chủ. Màng bọc bao gồm glycoprotein gp120 và gp41, chịu trách nhiệm liên kết và xâm nhập vào tế bào chủ.

    Là protein duy nhất trên bề mặt của virus, glycoprotein bao (gp120 và gp41) là mục tiêu chính cho các nỗ lực chế tạo vắc-xin HIV. Việc xử lý bất thường và mật độ cao này có nghĩa là hầu như tất cả các kháng thể trung hòa rộng rãi đã được xác định cho đến nay (từ một tập hợp bệnh nhân đã bị nhiễm bệnh trong nhiều tháng đến nhiều năm) liên kết với hoặc được điều chỉnh để đối phó với các glycan bao này. và kính hiển vi điện tử cryo. Cái gọi là trimers SOSIP không chỉ tái tạo các đặc tính kháng nguyên của đột biến virus bản địa mà còn hiển thị cùng mức độ glycans chưa trưởng thành như được trình bày trên virus bản địa.

    Tham khảo

    1. Gallo RC, Sarin PS, Gelmann EP, Robert-Guroff M, Richardson E, Kalyanaraman VS, Mann D, Sidhu GD, Stahl RE, Zolla-Pazner S, Leibowitch J, Popovic M (tháng 5 năm 1983). “Isolation of human T-cell leukemia virus in acquired immune deficiency syndrome (AIDS)”. ^ Science 220 (4599): 865-7. Bibcode:1983Sci…220..865G. PMID 6601823. doi:10.1126/science.6601823.
    2. Churi, C.; Ross, M. W. (2015). Whelehan, P., biên tập. ^ The international encyclopedia of human sexuality. Wiley. ISBN 9781405190060. OCLC 949701914.
    3. Centers for Disease Control (tháng 6 năm 1981). “Pneumocystis pneumonia–Los Angeles”. ^ MMWR. Morbidity and Mortality Weekly Report 30 (21): 250-2. PMID 6265753.
    4. Centers for Disease Control (CDC) (tháng 7 năm 1981). ^ “Kaposi’s sarcoma and Pneumocystis pneumonia among homosexual men–New York City and California” (PDF). MMWR. Morbidity and Mortality Weekly Report 30 (25): 305-8. PMID 6789108. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2012.
    5. ^ a ă
    6. Singleton, P.; Sainsbury, D. biên tập (2006). ^ “Hiv”. Dictionary of microbiology & molecular biology (ấn bản 3). Hoboken, NJ: Wiley. ISBN 9780470035450. OCLC 71223221.
    7. ^ Montagnier, Luc (1999). “Human Immunodeficiency Viruses (Retroviridae)”. a ă Encyclopedia of Virology (ấn bản 2). tr. 763-774.
    8. Wain-Hobson S, Sonigo P, Danos O, Cole S, Alizon M (tháng 1 năm 1985). “Nucleotide sequence of the AIDS virus, LAV”. ^ Cell 40 (1): 9-17. PMID 2981635. doi:10.1016/0092-8674(85)90303-4.
    9. Ratner L, Haseltine W, Patarca R, Livak KJ, Starcich B, Josephs SF, Doran ER, Rafalski JA, Whitehorn EA, Baumeister K (1985). “Complete nucleotide sequence of the AIDS virus, HTLV-III”. ^ Nature 313 (6000): 277-84. Bibcode:1985Natur.313..277R. PMID 2578615. doi:10.1038/313277a0.
    10. “HIV (Human Immunodeficiency Virus)”. ^ Encyclopedia of Cancer 2 (ấn bản 2). 2002. tr. 407-415.
    11. ^ “Crystal structure of key HIV protein reveals new pvention, treatment targets” (Thông cáo báo chí). Ngày 17 tháng 6 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2006.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vở Bài Tập Sinh Học 9
  • Bài Tập Cấu Trúc Adn (Gen)
  • Câu So Sánh Trong Tiếng Trung: Cấu Trúc, Mẫu Câu Và Cách Dùng Chuẩn Nhất ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Ngữ Pháp Tiếng Trung Quyển 2: Giáo Trình Hán Ngữ Nâng Cao ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Các Lỗi Khi Lập Báo Cáo Thuế Trên Phần Mềm Htkk Và Cách Xử Lý
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Gen

    --- Bài mới hơn ---

  • Ankadien Tính Chất Hóa Học, Tính Chất Vật Lý Và Công Thức Cấu Tạo Của Ankadien
  • Tính Chất Hóa Học, Công Thức Cấu Tạo Của Ankan Và Bài Tập
  • Cấu Trúc Phân Tử, Đồng Đẳng, Đồng Phân, Liên Kết Đơn, Liên Kết Đôi Trong Hợp Chất Hữu Cơ
  • Từ Và Cấu Tạo Của Từ Tiếng Việt
  • Thế Nào Là Chủ Ngữ, Vị Ngữ, Trạng Ngữ, Bổ Ngữ, Định Ngữ
  • Chúng ta có thể điểm qua những mốc chính trong lịch sử nghiên cứu về gen như sau:

    Mendel (1865) là người đầu tiên đưa ra khái niệm nhân tố di truyền. Johansen (1909) đã đề xuất thuật ngữ gen (từ genos, nghĩa là sản sinh, nguồn gốc) để chỉ nhân tố di truyền xác định một tính trạng nào đó. Sau đó, Morgan trong những năm 1920 đã cụ thể hóa khái niệm về gen, khẳng định nó nằm trên nhiễm sắc thể và chiếm một locus nhất định, gen là đơn vị chức năng xác định một tính trạng.

    Vào những năm 1940, Beadle và Tatum đã chứng minh gen kiểm tra các phản ứng hóa sinh và nêu giả thuyết một gen-một enzyme. Tuy nhiên, trường hợp hemoglobin là một protein nhưng lại gồm hai chuỗi polypeptide do hai gen xác định, do đó giả thuyết trên buộc phải điều chỉnh lại là một gen-một polypeptide.

    Vào những năm 1950, DNA (deoxyribonucleic acid) được chứng minh là vật chất di truyền. Mô hình cấu trúc DNA của Watson và Crick được đưa ra và lý thuyết trung tâm (central dogma) ra đời. Gen được xem là một đoạn DNA trên nhiễm sắc thể mã hóa cho một polypeptide hay RNA.

    Cuối những năm 1970, việc phát hiện ra gen gián đoạn ở sinh vật eukaryote cho thấy có những đoạn DNA không mã hóa cho các amino acid trên phân tử protein. Vì thế, khái niệm về gen lại được chỉnh lý một lần nữa: Gen là một đoạn DNA đảm bảo cho việc tạo ra một polypeptide, nó bao gồm cả phần phía trước là vùng 5′ không dịch mã (5′ untranslation) hay còn gọi là vùng ngược hướng (upstream) và phía sau là vùng 3′ không dịch mã (3′ untranslation) hay còn gọi là vùng cùng hướng (downstream) của vùng mã hóa cho protein, và bao gồm cả những đoạn không mã hóa (intron) xen giữa các đoạn mã hóa (exon).

    Hiện nay, có thể định nghĩa gen một cách tổng quát như sau: Gen là đơn vị chức năng cơ sở của bộ máy di truyền chiếm một locus nhất định trên nhiễm sắc thể và xác định một tính trạng nhất định. Các gen là những đoạn vật chất di truyền mã hóa cho những sản phẩm riêng lẻ như các mRNA được sử dụng trực tiếp cho tổng hợp các enzyme, các protein cấu trúc hay các chuỗi polypeptide để gắn lại tạo ra protein có hoạt tính sinh học. Ngoài ra, gen còn mã hóa cho các tRNA, rRNA và snRNA…

    Cấu trúc không gian của chuỗi polypeptide được xác định bởi trình tự sắp xếp của các amino acid tức cấu trúc bậc một. Như vậy, mặc dù có nhiều mức độ cấu trúc không gian khác nhau, nhưng cấu trúc bậc một tức trình tự sắp xếp các amino acid chi phối toàn bộ các mức độ cấu trúc khác. Việc xác định di truyền phân tử protein ở trạng thái tự nhiên có đầy đủ hoạt tính sinh học chỉ quy tụ lại chủ yếu ở xác định cấu trúc bậc một là đủ.

    2. Các enzyme mất hoạt tính do đột biến

    Nhiều nghiên cứu cho thấy, việc mất hoạt tính enzyme nhiều khi không phải do vắng mặt của enzyme, mà chỉ do các biến đổi trên phân tử (modification). Có trường hợp đột biến dẫn đến những thay đổi tinh vi, enzyme vẫn có hoạt tính nhưng sẽ biểu hiện khác nếu thay đổi điều kiện. Chẳng hạn:

    Ở nấm mốc Neurospora crassa, enzyme tyrosinase do gen T xác định, xúc tác cho phản ứng chuyển hóa tyrosine thành dihydroxyphenylalanine. Alelle T+ của dòng hoang dại sản xuất tyrosinase có hoạt tính ở nhiệt độ bình thường và cả ở 60oC. Một đột biến TS sản xuất tyrosine có hoạt tính ở nhiệt độ bình thường, nhưng lại mất hoạt tính ở 60oC

    Như vậy, trong đa số trường hợp, đột biến của một gen không làm biến mất enzyme mà chỉ biến đổi cấu trúc dẫn đến thay đổi hoạt tính. Các đột biến của cùng một gen có thể gây ra những biến đổi khác nhau trên enzyme. Các hiện tượng đó chứng tỏ rằng cấu trúc của enzyme chịu sự kiểm soát trực tiếp của gen.

    3. Bản chất các biến đổi di truyền của protein

    Bản chất đó chính là quan hệ một gen-một polypeptide. Như đã nêu trên, người ta khám phá ở người có những gen tạo ra hemoglobin (Hb) khi biến dị sẽ tạo ra những hemoglobin bất thường do sai hỏng ở các chuỗi polypeptide α hoặc β (Bảng 3.2 và 3.3) và gây ra các bệnh di truyền.

    Đột biến được biểu hiện bởi sự thay thế vị trí của một amino acid này bằng một amino acid khác.

    4. Sự tương quan đồng tuyến tính gen-polypeptide

    4.1. Đột biến tryptophan synthetase-sự đồng tuyến tính giữa gen và chuỗi polypeptide

    Nghiên cứu trên enzyme tryptophan synthetase xúc tác cho phản ứng tổng hợp tryptophan của E. coli người ta nhận thấy có nhiều đột biến xảy ra trên cùng một gen mã hóa cho tryptophan synthetase.

    Thực hiện tái tổ hợp trong gen (nguyên tắc là gen ở các vị trí càng xa nhau trên nhiễm sắc thể càng dễ tái tổ hợp), người ta đã nhận được các dạng biến dị có tính chất khác nhau, và tính được khoảng cách tương đối giữa những điểm khác nhau của đột biến đã được xác định. Vị trí biến dị trên thể nhiễm sắc tương ứng với vị trí của amino acid trên chuỗi polypeptide. Như vậy, có thể cho rằng có sự đồng tuyến tính giữa gen và chuỗi polypeptide (Hình 3.1).

    Nhiều dạng đột biến của tryptophan synthethase đã được tạo ra. Bằng cơ chế tái tổ hợp, những khoảng cách tương đối giữa những điểm khác nhau của đột biến đã được xác định. Sản phẩm protein của mỗi dạng đột biến đã được phân tích, và những thay đổi các amino acid khác cũng được xác định. Người ta đã tìm thấy mối tương quan hoàn toàn giữa những khoảng cách của các đột biến được tìm thấy trên gen với khoảng cách của amino acid bị thay đổi trong phân tử protein.

    4.2. Đột biến

    4.2.1. Khái niệm

    Một gen (DNA) có 4 loại base và một phân tử protein có 20 loại amino acid1, nhưng giữa chúng có mối tương quan như thế nào. Đầu tiên, người ta cho rằng một base qui định một amino acid, nhưng những tính toán cho thấy không hợp lý. Vì chỉ có 4 base trong DNA và 20 amino acid trong protein, cho nên mỗi codon phải chứa ít nhất 3 base. Hai base cũng không thể làm thành một codon bởi vì chỉ có 42 = 16 cặp hợp lý của 4 base. Nhưng 3 base thì có thể bởi vì sẽ có 43 = 64 bộ ba hợp lý. Vì số lượng bộ ba hợp lý lớn hơn 20, cho nên sẽ có trường hợp một vài codon chỉ định cùng một amino acid. Ví dụ: UCU, UCC, UCA, UCG, AGU và AGC đều cùng mã hóa cho serine.

    Từ đó, người ta đưa ra khái niệm mã di truyền (tín hiệu di truyền). Mã di truyền cho phép đọc thứ tự trên DNA để biết thứ tự trên chuỗi polypeptide. Mã di truyền không mơ hồ, có nghĩa với một trình tự chẳng hạn ATA ta biết nó ghi mã cho một amino acid gì, và cũng thấy rằng có nhiều mã di truyền xác định cho một amino acid (Bảng 3.4).

    4.2.2. Đột biến điểm

    Là đột biến chỉ tác động một vị trí, nói rõ hơn đó là một base. Khi thay đổi một base trên DNA sẽ tạo ra sự thay đổi một amino acid (Hình 3.2).

    Đột biến dĩ nhiên xảy ra trên DNA và được sao lại trên mRNA trong phiên mã, rồi trên protein trong dịch mã.

    Bảng 3.4. Mã di truyền chung

    Những đơn vị mã (codon) được đọc theo chiều 5’→3′.

    STOP: codon kết thúc (còn gọi là vô nghĩa).

    Đột biến điểm có các dạng sau:

    – Đột biến sai nghĩa. Thay đổi một amino acid trong protein, có thể dẫn đến một trong ba kết quả sau:

    + Không hậu quả nào cả, vì amino acid không nằm trong vị trí hoạt động hoặc không có vai trò trong cấu trúc enzyme

    + Có biến đổi nhẹ ở chuỗi polypeptide sẽ tạo ra tính mẫn cảm yếu với nhiệt, làm giảm sự ổn định chuỗi polypeptide

    + Mất hẳn hoạt tính enzyme nếu đúng ngay vị trí hoạt động của enzyme đó.

    – Đột biến vô nghĩa. Thay đổi một base. Nếu đó là một codon vô nghĩa sẽ làm ngừng kéo dài (tổng hợp) chuỗi polypeptide ở vị trí amino acid này. Tức là nếu codon này nằm ở đầu sẽ không có chuỗi polypeptide hoạt động.

    – Đột biến acridine hoặc đột biến dịch khung. Đột biến này do chất acridine màu da cam tạo ra (hoặc còn gọi là đột biến dịch khung, frameshift, do thêm vào hoặc bớt đi một base) (Hình 3.2 E và D). Như vậy, một đột biến trên khung đọc khi thêm vào (C) hoặc mất đi (A) thường sẽ dẫn đến xuất hiện một codon stop làm ngừng chuỗi polypeptide và enzyme sẽ không có hoạt tính.

    4.2.3. Đột biến kìm hãm

    Đến nay, người ta nhận thấy mọi sai lệch trong việc tổng hợp protein nếu có đều xảy ra từ DNA, còn quá trình diễn ra từ RNA đến polypeptide luôn luôn đúng. Nghiên cứu một vài kiểu protein đột biến ta thấy:

    – Đột biến sai nghĩa. Làm xuất hiện một bất thường trong trình tự amino acid. Kết quả protein mất hoạt tính. Hoạt tính này có thể được phục hồi, hoặc do một đột biến ngược để cho lại protein cấu trúc ban đầu.

    – Đột biến vô nghĩa. Làm mất đi một phần chuỗi polypeptide, phần còn lại không có hoạt tính, và hoạt tính này có thể có lại được nhờ đột biến trong một codon đã bị đột biến.

    Thông thường, những gen kìm hãm đột biến vô nghĩa không nằm ở gần vị trí của đột biến ấy. Đó là những gen làm biến đổi hệ thống dịch mã khi tổng hợp protein.

    5. Lý thuyết trung tâm của sinh học phân tử

    Tổng hợp protein trong tế bào có các đặc điểm sau:

    – Các phân tử thông tin như nucleic acid và protein được tổng hợp theo khuôn. Tổng hợp theo khuôn vừa chính xác vừa ít tốn enzyme. Tuy nhiên, căn cứ vào hàng loạt tính chất hóa học các protein không thể làm khuôn mẫu cho sự tổng hợp của chính chúng. Vì vậy, khuôn mẫu để tổng hợp nên protein không phải là protein.

    – Sinh tổng hợp protein tách rời về không gian với chỗ chứa DNA. Nhiều nghiên cứu cho thấy tổng hợp protein có thể xảy ra khi không có mặt DNA. Sự kiện này thể hiện rõ ràng nhất ở những tế bào eukaryote. Trong những tế bào này, hầu như toàn bộ DNA tập trung ở nhiễm sắc thể trong nhân, còn tổng hợp protein chủ yếu diễn ra ở tế bào chất. Tảo xanh đơn bào Acetabularia khi bị cắt mất phần chứa nhân vẫn tổng hợp được protein và sống vài tháng nhưng mất khả năng sinh sản. Rõ ràng, nơi chứa DNA mang thông tin di truyền và chỗ sinh tổng hợp protein tách rời nhau về không gian.

    Hình 3.2. Các dạng đột biến điểm

    – DNA không phải là khuôn mẫu trực tiếp để tổng hợp protein, do đó phải có chất trung gian chuyển thông tin từ DNA ra tế bào chất và làm khuôn để tổng hợp protein. Chất đó phải có cả trong nhân và tế bào chất với số lượng phụ thuộc vào mức độ tổng hợp protein.

    – Chất trung gian đó được xem chính là RNA nhờ các đặc điểm sau:

    + RNA được tổng hợp ngay ở trong nhân có chứa DNA, sau đó nó đi vào tế bào chất cho tổng hợp protein.

    + Những tế bào giàu RNA tổng hợp protein nhiều hơn.

    + Về phương diện hóa học RNA gần giống DNA: chuỗi polyribo-nucleotide thẳng cũng chứa 4 loại ribonucleotide A, G, C và uracil (U). Nó có thể nhận được thông tin từ DNA qua bắt cặp bổ sung.

    Nói chung, trong tế bào không thể tìm thấy chất nào khác ngoài RNA có thể đóng vai trò trung gian cho tổng hợp protein. Mối quan hệ này chính là thông tin di truyền đi từ DNA qua RNA rồi đến protein và được biểu diễn ở hình 3.3. Mối quan hệ này còn được gọi là lý thuyết trung tâm (central dogma), được Crick đưa ra từ 1956 đến nay về căn bản vẫn đúng.

    Vào những năm 1970, người ta đã phát hiện quá trình phiên mã ngược từ RNA tổng hợp nên DNA nhờ enzyme reverse transcriptase. Đến nay, việc sao chép (tổng hợp) RNA trên khuôn mẫu RNA cũng đã được chứng minh ở nhiều loại virus. Ngoài ra, thông tin từ protein cũng có thể được truyền sang protein (prion của bệnh bò điên). Riêng dòng thông tin từ protein ngược về mRNA/DNA thì chưa được tìm thấy (Hình 3.4).

    6. DNA và mã di truyền

    Vấn đề tiếp theo là xác định chính xác các codon nào mã hóa cho từng amino acid. Nirenberg và Matthaei đã sử dụng enzyme để tổng hợp nhân tạo RNA. Khi dùng chỉ một loại nucleotide là U sẽ nhận được RNA là poly(U), nếu chỉ dùng A sẽ nhận được poly(A).

    Năm 1961, Nirenberg và Matthaei đã dùng poly(U) thay cho khuôn mẫu mRNA để tổng hợp protein trong hệ thống vô bào (có amino acid, enzyme tổng hợp protein, nhưng không có DNA…), sản phẩm thu được là chuỗi polypeptide polyphenylalanine chỉ chứa một loại amino acid là phenylalanine. Điều đó chứng tỏ codon UUU mã hóa cho phenylalanine. Đây là codon đầu tiên được xác định. Sau đó, họ cũng chứng minh được rằng AAA mã hóa cho lysine, GGG cho glycine và CCC cho proline.

    Hình 3.4. Những bổ sung mới vào lý thuyết trung tâm của Crick

    Bảng mã di truyền (Bảng 3.4) cho thấy trong 64 codon, có 3 codon UAA, UAG, UGA không mã hóa cho amino acid được gọi là vô nghĩa (non-sense), đồng thời là codon kết thúc (termination) tức dấu chấm câu, chấm dứt chuỗi polypeptide.

    Mã di truyền có tính suy biến (degeneration) tức một amino acid có nhiều codon mã hóa, chỉ trừ methionine và tryptophane chỉ có một codon (tương ứng là ATG và TGG). Các codon đồng nghĩa tức mã hóa cho cùng một amino acid thường có hai base đầu tiên giống nhau, nhưng khác nhau ở cái thứ ba. Ví dụ: CCU, CCC, CCA và CCG tất cả đều mã hóa cho proline. Trên thực tế, U và C luôn luôn tương đương nhau ở vị trí thứ ba, còn A và G tương đương nhau trong 14 trên 16 trường hợp.

    Trừ một số ngoại lệ, mã di truyền có tính phổ biến (universal) tức toàn bộ thế giới sinh vật có chung bộ mã di truyền.

    Khi nghiên cứu các quy luật di truyền Mendel và học thuyết di truyền nhiễm sắc thể, gen được quan niệm như một điểm trên nhiễm sắc thể, vừa là đơn vị chức năng xác định một tính trạng, vừa là đơn vị đột biến, vừa là đơn vị tái tổ hợp. Cùng với sự phát triển của di truyền học, khái niệm về gen được cụ thể hóa thêm, cấu trúc và chức năng của gen được hiểu chi tiết hơn.

    1. Cấu trúc gen

    Hoạt động của một gen được đánh giá thông qua quá trình phiên mã (tổng hợp mRNA) và quá trình dịch mã (tổng hợp protein). Hoạt động này được kiểm soát rất chặt chẽ bằng các cơ chế khác nhau ở mọi giai đoạn, như bắt đầu và kết thúc phiên mã, quá trình biến đổi mRNA, quyết định tính bền vững và kiểm tra lại thông tin di truyền trên các phân tử này… Do cấu trúc sắp xếp các gen prokaryote khác với gen eukaryote nên sự phối hợp giữa các cơ chế điều khiển mang tính chất riêng biệt cho từng loại genome.

    Các gen prokaryote thường sắp xếp nằm gần nhau và chịu sự điều khiển chung của một promoter, tức là chúng được phiên mã sang cùng một phân tử mRNA. Cấu trúc này được gọi là operon. Như vậy, một operon gồm hai hay nhiều gen nằm cạnh nhau trên một nhiễm sắc thể. Thông thường, đó là các gen cùng tham gia vào một con đường chuyển hóa, ví dụ như các gen mã hóa cho các enzyme cần thiết cho quá trình chuyển hóa glucose.

    Do có chung promoter điều khiển cho mọi gen nằm trong một operon cho nên chỉ có một loại phân tử mRNA được tổng hợp từ một operon (mang thông tin di truyền của tất cả các gen nằm trong đó). Nói cách khác, quá trình phiên mã của các gen trong một operon xảy ra đồng thời và phân tử mRNA đặc trưng cho operon được gọi là mRNApolycistron.

    Tuy nhiên, điều cần ghi nhớ là quá trình dịch mã trên các phân tử mRNApolycistron xảy ra hoàn toàn độc lập với nhau. Mỗi đoạn tương ứng với một gen trên phân tử này đều có vị trí bám của ribosome, có mã bắt đầu và kết thúc tổng hợp chuỗi polypeptide riêng biệt. Do đó, tốc độ tổng hợp các protein trên các phân tử mRNApolycistron hoàn toàn khác nhau (Hình 3.6).

    Khái niệm locus được đưa ra để chỉ vị trí của gen trên nhiễm sắc thể, là vị trí của tất cả các allele của dãy đa allele. Bản thân hiện tượng đa allele cho thấy gen có cấu tạo phức tạp, sự biến đổi của gen có thể dẫn đến nhiều trạng thái allele khác nhau.

    2.1. Hiện tượng allele giả

    Theo quan niệm cổ điển gen là đơn vị tái tổ hợp. Nếu cá thể mang hai allele lặn a1/a2 của một dãy đa allele sẽ tạo thành hai loại giao tử là a1 và a2, lai phân tích với bố mẹ đồng hợp tử lặn sẽ chỉ cho kiểu hình đột biến a1 và a2 mà không có dạng tái tổ hợp hoang dại. Ví dụ:

    Hình 3.6. Cấu trúc operon trong genome vi khuẩn. Một operon là một đơn vị phiên mã đơn bao gồm một chuỗi các gen cấu trúc (structural genes), một promoter và một operator.

    Ví dụ: Trường hợp locus mắt quả trám ở ruồi giấm, có 18 allele. Khi tăng số cá thể nghiên cứu lên nhiều lần, người ta phát hiện các allele xếp thành 3 nhóm A, B và C. Các allele của cùng một nhóm, khi lai lẫn nhau, không cho kiểu hình tái tổ hợp hoang dại mắt bình thường, mà chỉ có kiểu hình mắt quả trám. Nhưng lai allele của nhóm này với allele của nhóm khác sẽ có xuất hiện kiểu hình hoang dại do tái tổ hợp. Hiện tượng này được gọi là allele giả.

    Hiện tượng allele giả cho thấy gen phân chia nhỏ về mặt tái tổ hợp, có thể xảy ra tái tổ hợp giữa các phần trong gen. Lúc đầu, hiện tượng allele giả được coi là trường hợp ngoại lệ, nhưng khi tăng số cá thể nghiên cứu lên nhiều lần thì rõ ràng đó là hiện tượng phổ biến. Nó được tìm thấy ở nhiều đối tượng khác nhau như nấm men S. cerevisiae, ngô, bồ câu, chuột, bacteriophage

    2.2. Locus rII của bacteriophage T4

    Nghiên cứu chi tiết về các đột biến rII của bacteriophage T4 đã làm sáng tỏ hơn về cấu trúc gen. Bacteriophage T4 ở dạng hoang dại r+ có khả năng xâm nhiễm đồng thời hai chủng E. coli B và K, trong khi các đột biến rII chỉ xâm nhiễm chủng B mà không xâm nhiễm chủng K (Hình 3.7).

    Trước thí nghiệm của ông, rII được coi là một locus. Tuy nhiên, thí nghiệm của ông đã cho thấy các đột biến xếp thành hai nhóm rIIA và rIIB. Lai các đột biến rIIA × rIIB sẽ có r+, nhưng lai rIIA × rIIA và rIIB × rIIB thì kiểu hình đột biến là r.

    Cho đến nay, chúng ta định nghĩa một gen là nhờ dựa trên kiểu hình đột biến và vị trí trên bản đồ của nó. Bacteriophage là một mô hình di truyền đơn giản (genome của E. coli dài khoảng 4.600.000 bp, trong khi bacteriophage T4 là 165.000 bp và bacteriophage λ khoảng 46.500 bp), chúng có thể sinh sản một số lượng lớn rất nhanh (1010 hoặc hơn thế) và dễ dàng phân tích. Các thí nghiệm thực hiện với đột biến rII của T4 được thiết lập dựa trên cơ sở sau:

    – Các gen có một phạm vi và ranh giới hạn chế.

    – Các gen có thể chia được, có thể có sự tái tổ hợp giữa hai allele trong một gen đơn.

    – Hoạt động của gen có thể được phân tích bởi sự phân tích bổ sung.

    Kết quả thí nghiệm cho thấy, gen có thể phân chia nhỏ về mặt đột biến. Các đoạn rIIA và rIIB được gọi là cistron, đơn vị chức năng nhỏ nhất đảm bảo khả năng xâm nhiễm chủng K. Thuật ngữ cistron thực chất là gen, ngày nay nó chỉ có tính chất lịch sử, ít được sử dụng. Theo quan niệm hiện nay, rIIA và rIIB là hai locus. Hai khái niệm mới được đưa ra là muton-đơn vị đột biến và recon-đơn vị tái tổ hợp.

    Benzer đã tìm thấy 2.000 điểm đột biến trên đoạn gen được nghiên cứu, chúng phân bố không đều nhau, có những điểm tập trung nhiều đột biến hơn. Chiều dài gen khoảng 900 nucleotide. Đơn vị đột biến muton ở đây tương ứng với 900/2.000. Số đột biến ghi nhận có thể thấp hơn so với thực tế nên muton có thể tương ứng với một cặp nucleotide. Giống như vậy recon có thể tương ứng với một cặp nucleotide.

    Tóm lại, gen là đơn vị chức năng, có thể chia nhỏ bởi các đơn vị đột biến tái tổ hợp.

    Hình 3.7. Kiểu hình của các đột biến rII của phage T4

    3. Thử nghiệm chức năng allele

    Muốn nghiên cứu cấu trúc bên trong một gen, phải tìm hiểu nhiều allele của gen đó. Nhiều đột biến có kiểu hình giống nhau nhưng không allele với nhau. Thử nghiệm chức năng allele được sử dụng để xác định xem hai đột biến có allele với nhau không. Đây chính là thử nghiệm mà Benzer dùng để lập bản đồ locus rII.

    Thử nghiệm này còn được gọi là thử nghiệm bổ sung (complementary test) vì nó cho biết sai hỏng chức năng ở hai đột biến có bổ sung tức bù trừ cho nhau được không.

    Phương pháp thử này cũng được gọi là thử nghiệm đều-lệch (cis-trans test). Sở dĩ như vậy là vì phép thử nghiệm này so sánh hiệu quả kiểu hình của các gen đột biến ở hai vị trí khác nhau trên nhiễm sắc thể tương đồng. Ở vị trí lệch (trans) các đột biến nằm trên hai nhiễm sắc thể, còn ở vị trí đều (cis) các đột biến nằm trên cùng một nhiễm sắc thể. Trường hợp sai hỏng ở hai gen khác nhau nên có thể bổ sung được, còn trường hợp sai hỏng ở cùng một gen không bù đắp được sẽ dẫn đến kiểu hình đột biến.

    Thử nghiệm chức năng allele có thể được thực hiện dễ dàng trên các đối tượng vi sinh vật với các đột biến hóa sinh, thường là các đột biến khuyết dưỡng (auxotroph mutant: mất khả năng tổng hợp một chất nào đó). Ví dụ: Ở nấm mốc Neurospora crassa có nhiều đột biến mất khả năng tổng hợp adenine (Ade-). Các đột biến này dễ phát hiện vì có khuẩn lạc màu đỏ. Có hai dạng đột biến Adex và Adey, nếu dị hợp tử Adex/Adey có kiểu hình đột biến tức là cho khuẩn lạc màu đỏ, thì Adex và Adey là hai allele của một gen. Thử nghiệm chức năng allele cho thấy các đột biến Ade ở N. crassa tạo thành 9 nhóm. Điều đó chứng tỏ có 9 gen tổng hợp adenine ở loài nấm này: ade1, ade2, ade3… trong đó ade3 có hai locus nằm kề sát nhau là ade3A và ade3B (Hình 3.9).

    Hình 3.8. Thử nghiệm chức năng allele. I: có kiểu hình đột biến do sai hỏng cùng một gen nên không bù đắp được. II: có kiểu hình hoang dại do sai hỏng khác gen nên bù trừ được cho nhau. Hình 3.9. Vị trí các gen ade trên các nhiễm sắc thể của nấm mốc Neurospora crassa Nguồn: Giáo trình Sinh học phân tử – Nguyễn Hoàng lộc (chủ biên)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hộp Gen Là Gì? Kích Thước Hộp Gen (Hộp Kỹ Thuật) Nhà Vệ Sinh Chuẩn
  • Khái Niệm, Cấu Trúc Và Phân Loại Gen
  • Định Nghĩa Từ Láy Là Gì? Từ Ghép Là Gì
  • Từ Ghép Là Gì? 3 Cách Phân Biệt Từ Ghép, Từ Láy Nhanh Và Dễ Hiểu Nhất
  • Từ Ghép Là Gì? Các Loại Từ Ghép
  • Chức Năng Và Cấu Trúc Của Gen

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Gen Cấu Trúc Có 4050 Liên Kết Hydro, Hiệu Số Giữa Nu Loại G Với Loại Nu Khác Chiếm 20%. Sau Đột Biến Chiều Dài Gen K?
  • Bai 1 : Gen,mã Di Truyền ,nhân Đôi Adn Bai1 Ppt
  • Rối Loạn Tổng Hợp Protein Do Gen Cấu Trúc Và Gen Điều Hòa
  • Phương Pháp Giải Dạng Bài Tập Tính Số Liên Kết Hóa Học Trong Cấu Trúc Của Gen Sinh Học 12
  • Thiền Giúp Thay Đổi Cấu Trúc Gen Gây Đau Nhức
  • Chức năng và cấu trúc của

    gen

    1. Chức năng của gen

    Khái niệm gen được thay đổi theo sự phát triên của di truyền học. Mặc dù

    không đưa ra thuật ngữ gen nhưng chính Mendel lại là người đầu tiên đưa ra

    khái niệm nhân tố di truyền và mô tả nó như một dạng hạt vật chất tồn tại

    thành từng cặp trong tế bào bào cơ thể, không hòa trộn với nhau cùng quy

    định một đặc điểm của cơ thể (tính trạng). Như vậy, thực chất xét về mặt

    chức năng, chính khái niệm nhân tố di truyền của Mendel tương đương với

    khái niệm về gen hiện nay.

    Vào những năm 40 của thế kỉ XX, các công trình nghiên cứu khoa học của

    George Beadle và Edward Tatum đã làm sáng tỏ chức năng của gen và nhờ

    đó sau này họ đã nhận được giải thưởng Nobel. Beadle và Tatum đã tiến hành

    các công tình nghiên cứu trên nấm mốc đơn bội, Neurospora, và họ nhận thấy

    mỗi đột biến ở một gen đều làm ảnh hưởng đến chức năng của một enzim.

    Khi đó thuyết một gen – một enzim đã ra đời.

    Tuy nhiên,vì nhiều gen không quy định prôtêin là enzim là quy định prôtêin

    không phải enzim nên người ta thay đổi lại một gen – một prôtêin. Một

    prôtêin đơn giản nhất chỉ chứa một chuỗi polipeptit, nên quan niệm một gen –

    một prôtein lại được thay thế bằng một gen – một chuỗi polipeptit.

    Với sự phát triển của khoa học, hiện nay các nhà khoa học đã biết được cùng

    một gen ở sinh vật nhân thực nhưng lại có thể tạo ra những chuỗi polipeptit ở

    các môt khác nhau tùy thuộc vào quá trình ghép nối các exon của gen để tạo

    ra mARN. Như vậy, có thể nói chính xác hơn một chuỗi polipeptit – một gen.

    Ngoài ra, do có một số gen lại quy định các sản phẩm là ARN nhưng chúng

    lại không bao giờ được dịch mã vì vậy một định nghĩa khái quát về chức

    năng của gen sẽ không hề đơn giản. Quan niệm về gen dưới góc độ chức

    năng vẫn còn đang được thay đổi theo sự tiến bộ của khoa học. Tuy nhiên,

    chúng ta tạm thời chấp nhận quan niệm sau đây về gen:

    Gen là một đoạn của phân tử ADN mang thông tin quy định cho việc hình

    thành một sản phẩm có chức năng nhất định (sản phẩm đó có thể là một

    chuỗi polipeptit hay một phân tử ARN).

    Tuy nhiên, không phải bất cứ một đoạn trình tự nucleotit nào trong phân tử

    ADN mang thông tin quy định một sản phẩm nhất định đều có thể “chỉ dẫn”

    cho tế bào tạo ra sản phẩm đó khi cần thiết. Ngoài thông tin quy định về đặc

    điểm của sản phẩm, nơi sản phẩm được sử dụng gen còn phải chứa các

    thông tin khác để chỉ dẫn cho tế bào tạo ra sản phẩm vào lúc cần thiết cũng

    như với số lượng nhất định.

    2. Cấu trúc của gen

    Để có thể có đủ các thông tin chỉ dẫn cần thiết cho quá trình phiên mã và dịch

    mã nhằm tạo ra một sản phẩm nhất định thì một đoạn ADN trực tiếp mã hóa

    cho một sản phẩm là chưa đủ mà phải cần thêm các trình tự nucleotit khác

    nữa. Xét về mặt cấu trúc của gen, có thể nói một cách khái quát: Mỗi gen

    gồm 3 vùng trình tự nucleotit:

    1. Vùng điều hòa

    2. Vùng mã hóa

    3. Vùng kết thúc

    – Vùng điều hòa là trình tự nuclêôtit đặc biệt nằm ở đầu 3′ của sợi khuôn của

    gen, có chức năng điều hòa quá trình phiên mã. Tại vùng điều hòa có nhiều

    trình tự nuclêôtit với chức năng khác nhau như vùng liên kết với prôtêin hoạt

    hóa (CAP), vùng liên kết với ARN polimeraza (promoter – vùng khởi động),

    vùng liên kết với prôtêin ức chế (operator – vùng vận hành).

    – Vùng mã hóa là vùng chứa thông tin quy định sản phẩm của gen (chuỗi

    polipeptit hoặc ARN).

    – Vùng kết thúc chứa thông tin báo hiệu cho ARN polimeraza biết để dừng

    quá trình phiên mã cũng như các thông tin cần thiết khác.

    – Cấu trúc các vùng này ở các gen của sinh vật nhân sơ và nhân thực có nhiều

    điểm khác nhau. Cho đến năm 2007, các nhà khoa học ước tính con người có

    chừng 20500 gen (20488). Chương trình giải mã hệ gen người cho thấy 25%

    số lượng nuclêôtit của hệ gen là gen còn 75% nuclêotit còn lại không phải là

    gen. Trong số 25% nuclêotit của gen người thì chỉ có 1,5% làm nhiệm vụ mã

    hóa cho các sản phẩm còn có tời 24% số nucleotit của gen làm nhiệm vụ điều

    hòa hoặc thuộc vùng không mã hóa (intron). Như vậy, tính trung bình

    vùng thực sự mã hóa cho các sản phẩm của một gen chỉ chiếm khoảng 6%

    trình tự nucleotit của gen số còn lại là vùng ADN làm nhiệm vụ điều hòa hoạt

    động cũng như vùng ADN không mã hóa (intron).

    Dựa theo đặc điểm cấu trúc cũng như chức năng của gen mà người ta đặt ra

    tên gọi khac nhau cho các loại gen.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 26 Câu Đột Biến Gen Sinh Học 12 Bài 4 Có Đáp Án File Word
  • Trường Hợp Gen Cấu Trúc Bị Đột Biến Thay Thế 1 Cặp G
  • Bài 4. Đột Biến Gen
  • Bài Tập Tự Luận Về Cấu Trúc Adn Hay
  • Các Dạng Bài Tập Về Adn Lớp 10
  • Bài Tập Cấu Trúc Adn (Gen)

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vở Bài Tập Sinh Học 9
  • Cấu Trúc Và Bộ Gen Của Hiv
  • Đột Biến Gen, Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 12
  • Bài 21. Đột Biến Gen
  • Sinh Học 12: Gen Và Cấu Trúc Của Gen
  • Bài tập 1 : Tổng số liên kết hóa trị Đ – P của một gen là 2998. Gen này có số G = 2/3 số A.

    a. Tìm số nuclêôtit của gen.

    b. Tính số liên kết hyđrô của gen.

    Bài tập 2: Một gen có số nuclêôtit loại xitôzin là 1050 và số nuclêôtit loại guanin chiếm 35% tổng số nuclêôtit của gen.

    a. Tính chiều dài của gen bằng micromét

    b. Tìm tỉ lệ % của các loại nuclêôtit còn lại.

    Bài tập 3: Một phân tử ADN chứa 650000 nu loại X, số nu loại T bằng 2 lần số nu loại X.

    a. Tính chiều dài của phân tử ADN đó (m)

    b. Tính số nu mỗi loại của ADN?

    Bài tập 4: Cho một gen có chiều dài 0,408µm, trong đó A chiếm 30%.

    a) Tính số nu mỗi loại của gen.

    b) Tính số liên kết hiđrô và khối lượng của gen.

    1= G2 + X2 N1 = N2 ; N =N1 +N2 = 2N1 = 2N2 1. TỔNG SỐ NU CỦA ADN (N) Tính theo số lượng: N= 2A + 2G (1) A + G = Tính theo %: %A + %T + %G + %X = 100% (A% = ANx100; G% = GNx100) mà: %A = %T ; %G = %X %A + %G =%T + %X = 50% %A = %T = (%A1 + %A2 )/2= (%T1 + %T2 )/2= (%A1 + %T1 )/2= (%A2 + %T2 )/2 %G = %X = (%G1 + %G2 )/2= (%X1 + %X2 )/2= (%G1 + %X1 )/2= (%G2 + %X2 )/2 2. CHIỀU DÀI CỦA ADN (L) Chiều dài của 1 cặp nu là 3.4A0 nên chiều dài của ADN là: ( L1 = L2= L ) 3. KHỐI LƯỢNG CỦA ADN ( M) Mỗi nu nặng trung bình 300 đv.C (300 Dalton) nên khối lượng ADN là: M = N x 300 đv.C 4. LIÊN KẾT CỘNG HOÁ TRỊ Liên kết cộng hóa trị giữa các nu: HT = N - 2 Liên kết cộng hóa trị giữa đường và acid phosphoric (của gen): HT = 2N - 2 5. LIÊN KẾT HIDRO (H) Cứ mỗi cặp A - T có 2 lk Hidro và 1 cặp G - X có 3 lk Hidro nên số lk Hidro có trong ADN là: G = H - N Trong đó : N : tổng số nu của ADN L : chiều dài của ADN M : khối lượng của ADN HT : số liên kết hoá trị có trong ADN H : số liên kết hidro có trong ADN 6. SỐ VÒNG XOẮN (CHU KÌ XOẮN) (C) C = = Đổi đơn vị: 1mm = 103mm; 1mm = 106nm; 1mm = 107A0. II. BÀI TẬP ÁP DỤNG: Bài tập 1 : Tổng số liên kết hóa trị Đ - P của một gen là 2998. Gen này có số G = 2/3 số A. Tìm số nuclêôtit của gen. Tính số liên kết hyđrô của gen. Bài tập 2: Một gen có số nuclêôtit loại xitôzin là 1050 và số nuclêôtit loại guanin chiếm 35% tổng số nuclêôtit của gen. Tính chiều dài của gen bằng micromét Tìm tỉ lệ % của các loại nuclêôtit còn lại. Bài tập 3: Một phân tử ADN chứa 650000 nu loại X, số nu loại T bằng 2 lần số nu loại X. Tính chiều dài của phân tử ADN đó (mm) Tính số nu mỗi loại của ADN? Bài tập 4: Cho một gen có chiều dài 0,408µm, trong đó A chiếm 30%. Tính số nu mỗi loại của gen. Tính số liên kết hiđrô và khối lượng của gen. Bài tập 5: Cho 1 gen có 3900 liên kết hiđrô và A chiếm 20% Tính chiều dài của gen Tính số nu mỗi loại Bài tập 6: Cho 1 gen có chiều dài 0,51µm và 3900 liên kết hiđrô Tính số nu mỗi loại Tính số vòng xoắn và khối lượng của gen. Bài tập 7: Cho một gen có khối lượng 72.104đvC, trong đó A/G = 2/3. Tính chiều dài của gen (µm). Tính số nu mỗi loại của gen. Bài tập 8: Cho 1 gen có 2998 liên kết hóa trị giữa các nuclêôtit và có hiêu của A với nu không bổ sung là 10%. Tính chiều dài của gen Tính số nu mỗi loại Bài tập 9: Cho 1 gen có 120 vòng xoắn, trong đó số nu của A nhiều hơn nu khác là 600. Tính chiều dài Tính số nu mỗi loại. Bài tập 10: Cho 1 gen có chiều dài 0,255µm. Hãy tính số nu mỗi loại trong các trường hợp sau: Tổng % của 2 loại nu là 80%. Hiệu % của A với nu khác là 20%. Tích % của A với nu không bổ sung là 6% A/G = 3/2 Bài tập 11: Tế bào X mang cặp gen Bb có tổng 5396 liên kết hóa trị giữa các nuclêôtit và số liên kết hóa trị của gen B nhiều hơn gen b là 600. Gen B có A+T =60%, gen b có X - A = 10% Tính chiều dài của 2 gen Tính số nu mỗi loại của 2 gen. Bài tập 12: Số liên kết hyđrô giữa 2 mạch đơn ADN là 8.105. Phân tử ADN này có số cặp nu loại G - X nhiều gấp 2 lần số cặp A -T. Tính số nu mỗi loại. Tính chiều dài (micrômet). Bài tập 13: Trong phân tử ADN, số nu loại Timin là 100000 và chiếm 20% tổng số nu. Tính số nu các loại A, X và G Tính chiều dài của phân tử ADN bằng micromet Bài tập 14: Một gen có khối lượng là 540000 đvC và có số nu loại G bằng 30% tổng số nuclêôtit của gen. Tính số nu mỗi loại và số liên kết hyđrô của gen Trên mạch đơn thứ nhất của gen có 10% ađênin và 40% guanin. Xác định số nu từng loại nu trên mỗi mạch đơn của gen. Bài tập 15: Một gen có chiều dài 0,408µm và có chứa 780 ađênin Xác định khối lượng phân tử và số liên kết hóa trị của gen Tính số lượng và tỉ lệ mỗi loại nu của gen Trên một mạch của gen có 520 timin và 240 xitozin. Xác định số lượng từng loại nu trên mỗi mạch đơn. Bài tập 16: Trên mạch 1 của một gen có A = 40%, T = 30%, G = 20% và X = 150 nuclêôtit. Tính chiều dài của gen Tính số nu mỗi loại của gen Bài tập 17: Số liên kết hiđrô giữa 2 mạch đơn của 1 phân tử ADN bằng 8.105. Phân tử ADN này có số cặp loại G - X nhiều gấp 2 lần số cặp A - T. Tính số nu mỗi loại của gen Xác định số nu mỗi loại trên 2 mạch đơn. Biết rằng mạch 1 của phân tử ADN ban đầu có 40000A và bằng ½ số G ở mạch 2. Bài tập 18: Một gen ở tế bào nhân sơ dài 5100A0, có tổng số phần trăm của A và T ở mạch 1 chiếm 60% số nu của mạch, có hiệu số % ở mạch 2 giữa X với G bằng 10% và tỉ lệ phần trăm của A gấp 2 lần tỉ lệ của G. Xác định tỉ lệ phần trăm từng loại nu của gen Xác định số liên kết hiđrô của gen Xác định số nu trên 2 mạch đơn của gen Bài tập 19: Hai gen đều có chiều dài bằng nhau là 3060A0. Trên mạch thứ nhất của gen I có A: T: G: X lần lượt có số lượng phân chia theo tỉ lệ 1: 2 : 3 : 4. Trên mạch thứ 2 của gen II có số lượng A = 2T = 3G = 4X. Xác định số lượng từng loại nu trên mỗi mạch đơn của mỗi gen. Bài tập 20: Một gen có hiệu số Guanin với một loại nu khác bằng 15% và có 2862 liên kết hyđrô. Trên mạch thứ nhất của gen có tổng số giữa G và A bằng 40% và hiệu số giữa G với A bằng 20%. Xác định từng loại nuclêôtit của gen Số lượng từng loại nu trên mỗi mạch của gen. Bài tập 21: trên mạch thứ nhất của gen có 15% ađenin, 25% timin, 35% guanin. Gen đó có 3276 liên kết hyđrô. Xác định tỷ lệ và số lượng từng loại nu của gen. Xác định số lượng từng loại nu trên 2 mạch của gen. Chiều dài và khối lượng của gen Tỉ lệ và số lượng từng loại nu của gen. Bài tập 23: Trên mạch thứ nhất của gen có 300 xitôzin, hiệu số giữa X với A là 10% và hiệu số G với X bằng 20% số nu của mạch. Trên mạch 2 của gen có hiệu số A với G là 10% số nu của mạch. Số lượng từng loại nu trên mỗi mạch của gen. Xác định từng loại nuclêôtit của gen Bài tập 24: Một gen có 630A và trên mạch 1 có tỉ lệ các gen như sau: A : T : G : X lần lượt là 4 : 3 : 2 : 1. Xác định số lượng từng loại nu trên 2 mạch của gen Xác định tỷ lệ và số lượng từng loại nu của gen. Bài tập 25: Một đoạn ADN gồm 2 gen M và N. Gen M có chiều dài 0,204mm và số liên kết hyđrô của gen là 1560. Gen N có số liên kết hyđrô ít hơn số liên kết hyđrô của gen M là 258, trên mạch 1 của gen N có G = 36% và X = 12%. Tìm số nuclêôtit từng loại của gen M Tính chiều dài gen N Tính số nuclêôtit từng loại của đoạn ADN. Bài tập 26: Một gen có A + G = 900 nuclêôtit và X = 2/3 T. Mạch thứ nhất của gen có T = ¼ A của gen, mạch thứ hai có X = ¼ G của gen. Tính số nuclêôtit từng loại của gen. Suy ra % từng loại nuclêôtit của gen. Tính số nuclêôtit từng loại của mỗi mạch. Gen thứ hai có số liên kết hyđrô bằng số liên kết hyđrô của gen nói trên nhưng chiều dài ngắn hơn 204A0. Hãy tính số nuclêôtit từng loại của gen hai. Tìm % từng loại nuclêôtit của mỗi mạch. Gen nói trên có chiều dài 0,255mm . Khối lượng phân tử của 1 nuclêôtit A hoặc G là 400đvC, của 1 nuclêôtit loại T hoặc X là 300đvC. Tính khối lượng của gen. Đoạn ADN mang gen nói trên có số liên kết hyđrô là 6000. Đoạn ADN này gồm 2 gen, gen thứ hai dài gấp đôi gen 1 nói trên. Hãy tính số nuclêôtit từng loại của gen hai. Bài tập 28: Một phân tử ADN có 360 chu kì xoắn, trên một mạch đơn của phân tử này có các nucleotit loại A, T, G, X lần lượt tỉ lệ với 1, 2, 3, 4. a. Chiều dài của phân tử ADN bằng bao nhiêu micrômet? b. Tính số nuclêôtit mỗi loại trên mạch đơn và của phân tử ADN? Bài tập 29: Có 2 gen dài bằng nhau. Gen thứ nhất có tỉ lệ G = 15% tổng số nuclêôtit và số liên kết hyđrô của gen là 1725. Gen thứ hai có số liên kết hydrô nhiều hơn gen thứ nhất là 225. Tìm chiều dài của mỗi gen Tính % nuclêôtit từng loại của gen 2 Trên mạch thứ 2 của gen 1 có tích A với T bằng 12% (A<T) và hiệu % giữa G và X bằng 10%. Trên mạch thứ nhất của gen hai có hiệu % giữa G với X bằng 20% và thương số giữa A với T bằng 1/3. Tính số nuclêôtit từng loại của mỗi mạch và cả gen của gen 1 và gen 2. Bài tập 30: Một phân tử ADN chứa 11000 liên kết hydro và có khối lượng phân tử là 27.105 đvC. ADN này chứa 5 gen có chiều dài lần lượt hơn nhau 255A0. Số nuclêôtit loại A của 5 gen đều bằng nhau. Trong mạch thứ nhất của gen 1 có A = 10%; G = 20%. Trong mạch thứ nhất của gen 2 có A = 200; G = 300. Trong mạch thứ nhất của gen 3 có A = 300; G = 400. Trong mạch thứ nhất của gen 4 có A = 350; G = 400. Trong mạch thứ nhất của gen 5 có A = 500; G = 450. Biết chiều dài của gen 1 < gen 2 < gen 3 < gen 4 < gen 5 và khối lượng phân tử của 1 nuclêôtit là 300 đvC. Tính chiều dài của mỗi gen. Tính số nuclêôtit mỗi loại của từng gen. Tính số nuclêôtit mỗi loại của từng mạch của các gen. BÀI TẬP PHÂN BÀO I. CÁC CÔNG THỨC THƯỜNG DÙNG 1. Nguyên phân: - Số tế bào con tạo ra sau nguyên phân: Gọi x là số lần nguyên phân bằng nhau của a tế bào ban đầu: + Số tế bào con được tạo thành: a*2x + Số tế bào con lần lượt xuất hiện trong quá trình nguyên phân: (2x + 1 - 2)*a - Số thoi vô sắc được hình thành trong quá trình nguyên phân: (2x - 1)*a - Số nhiễm sắc thể trong các tế bào con: 2x*a*2n - Số nhiễm sắc thể môi trường cung cấp cho quá trình nguyên phân: Nếu có a tế bào mẹ (2n) nguyên phân x lần bằng nhau: + Nguyên liệu tương đương với số NST môi trường cung cấp: (2x - 1)*a*2n + Số NST hoàn toàn mới trong các tế bào con: (2x - 2)*a*2n - Số NST, số tâm động và số crômatit trong mỗi tế bào ở các kỳ khác nhau của nguyên phân: Kỳ Cấu trúc Trung gian Đầu Giữa Sau Cuối TB chưa tách TB đã tách Số NST Trạng thái Số tâm động Số Crômatit 2n Kép 2n 4n 2n Kép 2n 4n 2n Kép 2n 4n 4n Đơn 4n 0 4n Đơn 4n 0 2n Đơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu So Sánh Trong Tiếng Trung: Cấu Trúc, Mẫu Câu Và Cách Dùng Chuẩn Nhất ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Ngữ Pháp Tiếng Trung Quyển 2: Giáo Trình Hán Ngữ Nâng Cao ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Các Lỗi Khi Lập Báo Cáo Thuế Trên Phần Mềm Htkk Và Cách Xử Lý
  • Tìm Hiểu Cấu Trúc Xml Của File Docx Và Tùy Biến Lại Gem Docxtor
  • Bhxh báo Lỗi Không Có Tập Tin Hoặc Sai Cấu Trúc
  • Tái Cấu Trúc Mã Nguồn

    --- Bài mới hơn ---

  • Tự Học Lập Trình Web
  • Thiết Lập Lại Cấu Trúc Hệ Thống Giáo Dục Phổ Thông Để Học Thực Chất
  • Văn Hóa Và Cấu Trúc Văn Hóa
  • Anh Chị Hãy Nêu Những Nét Lớn Về Cấu Trúc Văn Hóa.
  • Lập Trình Hướng Đối Tượng Dành Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Mỗi người có một khái niệm tái cấu trúc mã nguồn (code refactoring) khác nhau, và khi chuyển ngữ sang tiếng việt, thì việc tìm một thuật ngữ chính xác càng khó hơn. Ở đây tôi xin chuyển nghĩa từ refactoring thành tái cấu trúc và chọn định nghĩa của Martin Fowler:

    Tái câu trúc là thay đổi ở cấu trúc bên trong mà không làm thay đổi hành vi với bên ngoài của hệ thống.

    Tái cấu trúc là một quá trình cơ học, hình thức và trong nhiều trường hợp rất đơn giản để làm việc với mã của hệ thống đã tồn tại để chúng trở nên “tốt hơn”. Khái niệm “tốt hơn” là một khái niệm mang tính chủ quan, và không có nghĩa là luôn làm ứng dụng chạy nhanh hơn mà thường được hiểu là theo các kỹ thuật hướng đối tượng, tăng an toàn kiểu dữ liệu, cải thiện hiệu xuất , đễ đọc, dễ bảo trì và mở rộng.

    Hiệu quả của tái cấu trúc

    Sản xuất phần mềm sẽ không hiệu quả nếu như bạn không thể theo kịp thay đổi của thế giới. Nếu như chúng ta chỉ sản xuất ra các phần mềm trong một vài ngày thì đơn giản hơn rất nhiều. Nhưng trong thế giới này chúng ta có rất nhiều đối thủ cạnh tranh. Nên nếu bạn không tái cấu trúc phần mềm của mình, khi đối thủ có một số tính năng hữu ích mới mà bạn không cập nhật thì sản phẩm của bạn nhanh chóng bị lạc hậu. Bởi thế là một lập trình viên bạn phải đón nhận và hành động một cách thích hợp với những thay đổi. Và khi thực hiện tái cấu trúc mã là bạn đang làm điều đó.

    Nếu không áp dụng tái cấu trúc khi phát triển ứng dụng, thì thiết kế sẽ ngày càng tồi đi. Vì khi phát triển ứng dụng thì ta sẽ ưu tiên cho các mục tiêu ngắn hạn (đặc biệt khi áp dụng các quy trình phát triển linh hoạt), nên mã ngày càng mất đi cấu trúc. Một trong những tên của vấn đề này gọi là technical debt (nợ kỹ thuật). Khi xảy ra vấn đề thì rất khó để quản lý và dễ bị tổn thương .Thế nên việc áp dụng tái cấu trúc sẽ giúp cho mã giữ được thiết kế tốt hơn là ưu điểm quan trọng.

    Khi lập trình là chúng ta đang giao tiếp với máy tính để yêu cầu chúng làm điều mình muốn. Nhưng còn có người khác tham gia vào quá trình này là các lập trình viên khác hay chính chúng ta trong tương lai. Chúng ta biết khi lập trình thường sẽ có người phải đọc để kiểm tra xem có vấn đề với mã đó không hoặc để mở rộng hệ thống.

    Nhưng có một vấn đề là khi làm việc, lập trình viên thường không nghĩ tới những người đó trong tương lai. Vậy thì trong trường hợp này tái cấu trúc đóng vai quan trọng là giúp cải thiện thiết kế của hệ thống, từ đó cũng giúp đọc mã dễ hơn.

    Từ những lợi ích cơ bản ở trên ta có thêm các lợi ích khác: do hệ thống hiện thời có một thiết kế tốt hơn và mã dễ hiểu hơn, từ đó thì việc mở rộng hệ thống dễ dàng hơn, khó bị tổn thương hơn, nên tốc độ phát triển hệ thống luôn được duy trì; mã và thiết kế dễ đọc hơn, từ đó giúp tìm ra lỗi dễ dàng hơn; vì những mục tiêu ngắn hạn lập trình viên có thể chấp nhận một lỗ hổng nào đó về công nghệ hay thiết kế mà hiện thời không gây ảnh hưởng gì tới hệ thống, nhưng khi hệ thống lớn dần thì những lỗ hổng này được tích tụ và làm cho hệ thống dễ bị tổn thương, thể nên việc tái cấu trúc giúp nhanh chóng sửa những lỗ hổng này.

    Khi thêm một chức năng mới

    Khi thêm một chức năng mới, ta phải đọc lại mã để hiểu. Như vậy nếu lúc này ta thực hiện việc tái cấu trúc, mã sẽ dễ hiểu hơn, cộng với đó là này ta cũng dễ dàng hiểu mã hơn vì mình là người đã đọc và thực hiện việc tái cấu trúc. Một lý do khác là khi thực hiện việc tái cấu trúc vào thời điểm này thì thiết kế của hệ thống sẽ tốt hơn, từ đó việc mở rộng cũng dễ dàng hơn.

    Khi sửa lỗi ta cũng phải đọc mã, và như vậy việc tái cấu trúc làm mã dễ đọc hơn, có cấu trúc rõ ràng hơn từ đó dễ dàng phát hiện lỗi là điều cần thiết. Và bởi thế nếu bạn được gán là người sửa một lỗi nào đó thì bạn cũng thường được gán là người phải tái cấu trúc mã.

    Nhiều tổ chức thực hiện việc rà soát mã (code review). Rà soát mã giúp cho các lập trình viên giỏi truyền lại cho các lập trình viên ít kinh nghiệm hơn, giúp cho mọi người viết mã rõ ràng hơn. Mã có thể là rất rõ ràng với tác giả, nhưng với người khác thì có thể không, bởi thế rà soát mã sẽ làm cho nhiều người đọc mã hơn. Có nhiều người đọc mã thì mã phải dễ đọc hơn và có nhiều ý tường hơn được trao đổi giữa các thành viên trong nhóm hơn. Bởi thế khi bạn thực hiện rà soát bạn phải đọc mã. Lần đầu bạn đọc bạn bắt đầu hiểu mã. Lần tiếp theo bạn sẽ có nhiều ý tưởng hơn để tái cấu trúc mã, từ đó bạn có thể thực hiện việc tái cấu trúc.

    Chúng ta đã biết cần thực hiện tái cấu trúc khi nào, nhưng có một câu hỏi khác là mã như thế nào thì cần tái cấu trúc? Khái niệm mã bẩn ( code smell) là mã có thể sinh vấn đề một cách lâu dài, sẽ giúp ta phát hiện mã cần phải tái cấu trúc. Sau đâu chúng ta sẽ liệt kê một số loại mã bẩn thường gặp:

    • Là những đoạn mã xuất hiện nhiều hơn một lần trong một hoặc nhiều ứng dụng của một chủ thể. Đó là hệ quả của các hành động: sao chép mã; các chức năng tương tự được viết bởi các lập trình viên khác nhau. Hệ quả là mã trở nên dài hơn, khó hiểu hơn và khó bảo trì hơn.

      Ví dụ đoạn mã tính giá trị trung bình của một mảng số nguyên trên

      ;

      extern int array2

      Ta thấy hai vòng lặp for là giống nhau!

    • Một trong những dấu hiệu tốt của lập trình hướng đối tượng là việc không dùng lệnh switch. Vấn đề của lệnh switch chủ yếu là vấn đề lặp mã. Bạn thường gặp những lệnh switch để phân bổ các chức năng ở nhiều nơi khác nhau trong cùng một ứng dụng. Và mỗi khi bạn thêm một tính năng mới, bạn phải tìm ở tất cả các lệnh này để thay đổi.

    • Nếu trong mã có nhiều giá trị thì khi cần phải thay đổi các giá trị đó vì một lý do nào đó (ví dụ thay đổi độ chính xác) thì bạn cần phải thay đổi ở nhiều nơi. Không chỉ thế mà không phải ai và lúc nào cũng nhớ những giá trị đó có ý nghĩa gì, nên làm cho mã trở nên khó đọc hơn. Trong trường hợp này bạn có thể thay bằng cách đặt tên cho các hằng.

      Các kỹ thuật tái cấu trúc cơ bản

      Các kỹ thuật tái cấu trúc được chia thành các nhóm tùy theo tiêu chí. Ở đây chúng ta sẽ chia theo mục đích.

    Cải tiển là công việc cần thiết và đem lại hiệu quả cao. Nhưng lượng các kỹ thuật mà ta áp dụng được cho dự án của mình thì rất nhiều và tốn kém thời gian. Trong bài viết này tôi không hy vọng sẽ trình bày được tất cả hay nhiều kỹ thuật mà chỉ là một số kỹ thuật căn bản nhất.

    Fowler, M., K. Beck, et al. (1999). Refactoring: Improving the Design of Existing Code.

    Ritchie, P. “Refactoring with Microsoft Visual Studio 2010.”

    (2011). from http://sourcemaking.com/refactoring.

    Nguồn chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Chương Trình Và Mã Lệnh Trong Lập Trình Cnc
  • Tổng Hợp Các Công Cụ Lập Trình Android Mà Bạn Nên Biết (Phần 1)
  • Series Hướng Dẫn Lập Trình Android Miễn Phí Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Bài 1: Thiết Lập Môi Trường Lập Trình Và Tạo Ứng Dụng Đầu Tiên
  • Hướng Dẫn Lập Trình Android Cho Người Mới Bắt Đầu
  • 1 Gen Quy Định Cấu Trúc Của Một Polipeptit

    --- Bài mới hơn ---

  • Gen, Mã Di Truyền Và Quá Trình Nhân Đôi Adn, Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 12
  • Cấu Trúc P53 (Protein), Chức Năng, Chu Kỳ Tế Bào Và Bệnh Tật / Sinh Học
  • Phát Hiện Gen P53 Kiềm Chế Sự Phát Triển Của Các Tế Bào Ung Thư
  • Tìm Hiểu Về Tế Bào Prokaryote, Prokaryotes
  • Điều Hòa Hoạt Động Biểu Hiện Gen Ở Prokaryote
  • 1 Gen Quy Định Cấu Trúc Của Một Polipeptit, Quy Định Số 1262-qĐ/tu Ngày 09/9/2009 Của Thành ủy Tp Hcm Xác Định: “chi Bộ Khu Phố, ấp Trực Thuộc ., Quy Định Bàn Giao Ca Trực, Quy Dinh Doi Tuong Truc Ban Noi Vu, Quyết Định Có Cấu Trúc Là Gì, Quyết Định Có Cấu Trúc, Câu Thơ Ra Thế Lượm ơi Có Cấu Trúc Gì Đặc Biệt Nêu Tác Dụng Của Cấu Trúc , Chương 7 Quy Định Về Kiến Trúc Đô Thị, Kiến Trúc Đình Làng Nam Bộ, Quy Định Chức Trách Của Trực Ban Nội Vụ, Định Lý Đường Trung Trực, Quy Dinh Truc Ban Noi Vu Trong Quan Doi, Quy Định An Toàn Cần Trục Tháp, Định Nghĩa Đường Trung Trực, Qui Dịnh Chức Trách Nhiệm Vụ Của Trực Ban Nội Vụ, Kiến Trúc Cung Đình Thời Lý, Quyết Định Chuẩn Y Cấp ủy Chi Bộ Trực Thuộc, Quy Định Bàn Giao Ca Trực Trong Cand, Xem Mẫu Quyết Định Công An Viên Thường Trực, Quyết Định Bổ Nhiệm Công An Thường Trực, Nhận Định Nào Sau Đây Không Đúng Khi Nói Về Cấu Trúc Của Virut, Nghị Định Dịch Vụ Công Trực Tuyến, Quyết Định Đặt Phòng Khách Sạn Trực Tuyến, Quyết Định Bổ Nhiệm Công An Viên Thường Trực, Mau Quyet Dinh Bo Nhiem Cong An Vien Thường Truc Xa, Yếu Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Đặt Phòng Trực Tuyến Của Khách Du Lịch Nội Địa, Nhiệm Vụ Của Cán Bộ, Chiến Sĩ Trực Chữa Cháy, Cnch Quy Định Trong Thông Tư 50/2017/tt-bca?, Quyết Định Phân Công Trực Tiếp Giám Sát, Giáo Dục Người Chấp Hành án, Phân Tích ưu Nhược Điểm Của Kiến Trúc Tập Trung Và Kiến Trúc Không Tập Trung, Truc Trach Truc Ban, Đơn Đề Nghị Về Việc Xác Nhận Hộ Gia Đình Cá Nhân Trực Tiếp Sản Xuất Nôn, Thông Tư Số 50/2017/tt-bca Ngày 01/11/2017 Của Bộ Trưởng Bộ Công An Quy Định Về Thường Trực Sẵn Sàng, Thông Tư Số 50/2017/tt-bca, Ngày 01/11/2017 Của Bộ Công An Quy Định Về Thường Trực Sẵn Sàng Chữa Chá, Thông Tư Số 50/2017/tt-bca, Ngày 01/11/2017 Của Bộ Công An Quy Định Về Thường Trực Sẵn Sàng Chữa Chá, Quyết Dinh Phan Cong Người Trực Tiếp Giam Sát Giao Dục Giúp Do Người Chấp Hành Xong An Phát Tu Tại H, Quyết Định Phân Công Người Trực Tiếp Giám Sát, Giáo Dục Người Chấp Hành án Cải Tạo Không Giam Giữ, Giá Đỡ Trục, Cấu Trúc Vốn, Mẫu Đơn Xin Đổi Ca Trực, Cấu Trúc Của 1 Đề án, Trúc Gấu, Trục Láp, Nui Ve Ung Truc Con So, Đơn Xin Đổi Ca Trực, Mẫu Số Hóa Đơn Sai Cấu Trúc, Trực Hồi Sức Cấp Cứu, Trục Cán, Cần Trục, Hệ Trục Tọa Độ Lớp 10, Đồ án ổ Đỡ Trục, Cấu Trúc 1 Đề án, Đồ án Giá Đỡ Trục, Cấu Trúc 1 Đồ án, Mẫu Hóa Đơn Sai Cấu Trúc, Đồ án Gối Đỡ Trục, ổ Đỡ Trục, Thủ Tục Mua Sắm Trực Tiếp, Thủ Tục Mua Hóa Đơn Trực Tiếp, âm Học Kiến Trúc, Trục Lợi Bảo Hiểm, Xem Trực Theo Ca Kip, Đồ án Trục Khuỷu, Gia Phả Trực Tuyến, Mua Sắm Trực Tuyến, Don Xin Hoan Truc Dem, Mua Hóa Đơn Trực Tiếp, Mẫu Hóa Đơn Trực Tiếp, Đáp án ôn Tập Trực Tuyến, Mau Don Tu Truc To Truong Dan Pho, Tải Mẫu Hóa Đơn Trực Tiếp, Quản Lý Dự Trưc, Mau Don Xin Di Dai Con Diên Trúc Nha, Xã Hội Học Kiến Trúc, Luận Văn Tối ưu Hóa Cấu Trúc Vốn, Kiến Trúc, Yếu Tố Văn Hóa Của Kiến Trúc Hà Nội, Mẫu Hồ Sơ Mua Sắm Trực Tiếp, Máy ép Đùn Cám Viên Trục Vít, Mẫu Hồ Sơ Yêu Cầu Mua Sắm Trực Tiếp, Kiến Trúc Bản Địa, Mẫu Hóa Đơn Đỏ Trực Tiếp, So Ban Giao Ca Truc , Đề Thi Môn âm Học Kiến Trúc, Mau Ban Giao Ca Truc Tet, Bien Ban Noi Ve Truc Con So, Chỉ Huy Trực Tiếp, Hồ Sơ Kiến Trúc, Hồ Sơ Yêu Cầu Mua Sắm Trực Tiếp, Sổ Tay Kiến Trúc, Hóa Đơn Trực Tiếp, Kiến Trúc Bản Địa Là Gì, Đơn Xin Miễn Trực, Đồ án âm Học Kiến Trúc, Cấu Trúc Của 1 Bài Thu Hoạch, Đối Tượng Trực Ban Đại Đội, Cấu Trúc 1 Bài Báo Cáo Thực Tập, Đơn Xin Rút Học Bạ Đại Học Kiến Trúc, Bản Sắc Kiến Trúc, Đồ án Kiến Trúc, Cấu Trúc Dữ Liệu,

    1 Gen Quy Định Cấu Trúc Của Một Polipeptit, Quy Định Số 1262-qĐ/tu Ngày 09/9/2009 Của Thành ủy Tp Hcm Xác Định: “chi Bộ Khu Phố, ấp Trực Thuộc ., Quy Định Bàn Giao Ca Trực, Quy Dinh Doi Tuong Truc Ban Noi Vu, Quyết Định Có Cấu Trúc Là Gì, Quyết Định Có Cấu Trúc, Câu Thơ Ra Thế Lượm ơi Có Cấu Trúc Gì Đặc Biệt Nêu Tác Dụng Của Cấu Trúc , Chương 7 Quy Định Về Kiến Trúc Đô Thị, Kiến Trúc Đình Làng Nam Bộ, Quy Định Chức Trách Của Trực Ban Nội Vụ, Định Lý Đường Trung Trực, Quy Dinh Truc Ban Noi Vu Trong Quan Doi, Quy Định An Toàn Cần Trục Tháp, Định Nghĩa Đường Trung Trực, Qui Dịnh Chức Trách Nhiệm Vụ Của Trực Ban Nội Vụ, Kiến Trúc Cung Đình Thời Lý, Quyết Định Chuẩn Y Cấp ủy Chi Bộ Trực Thuộc, Quy Định Bàn Giao Ca Trực Trong Cand, Xem Mẫu Quyết Định Công An Viên Thường Trực, Quyết Định Bổ Nhiệm Công An Thường Trực, Nhận Định Nào Sau Đây Không Đúng Khi Nói Về Cấu Trúc Của Virut, Nghị Định Dịch Vụ Công Trực Tuyến, Quyết Định Đặt Phòng Khách Sạn Trực Tuyến, Quyết Định Bổ Nhiệm Công An Viên Thường Trực, Mau Quyet Dinh Bo Nhiem Cong An Vien Thường Truc Xa, Yếu Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Đặt Phòng Trực Tuyến Của Khách Du Lịch Nội Địa, Nhiệm Vụ Của Cán Bộ, Chiến Sĩ Trực Chữa Cháy, Cnch Quy Định Trong Thông Tư 50/2017/tt-bca?, Quyết Định Phân Công Trực Tiếp Giám Sát, Giáo Dục Người Chấp Hành án, Phân Tích ưu Nhược Điểm Của Kiến Trúc Tập Trung Và Kiến Trúc Không Tập Trung, Truc Trach Truc Ban, Đơn Đề Nghị Về Việc Xác Nhận Hộ Gia Đình Cá Nhân Trực Tiếp Sản Xuất Nôn, Thông Tư Số 50/2017/tt-bca Ngày 01/11/2017 Của Bộ Trưởng Bộ Công An Quy Định Về Thường Trực Sẵn Sàng, Thông Tư Số 50/2017/tt-bca, Ngày 01/11/2017 Của Bộ Công An Quy Định Về Thường Trực Sẵn Sàng Chữa Chá, Thông Tư Số 50/2017/tt-bca, Ngày 01/11/2017 Của Bộ Công An Quy Định Về Thường Trực Sẵn Sàng Chữa Chá, Quyết Dinh Phan Cong Người Trực Tiếp Giam Sát Giao Dục Giúp Do Người Chấp Hành Xong An Phát Tu Tại H, Quyết Định Phân Công Người Trực Tiếp Giám Sát, Giáo Dục Người Chấp Hành án Cải Tạo Không Giam Giữ, Giá Đỡ Trục, Cấu Trúc Vốn, Mẫu Đơn Xin Đổi Ca Trực, Cấu Trúc Của 1 Đề án, Trúc Gấu, Trục Láp, Nui Ve Ung Truc Con So, Đơn Xin Đổi Ca Trực, Mẫu Số Hóa Đơn Sai Cấu Trúc, Trực Hồi Sức Cấp Cứu, Trục Cán, Cần Trục, Hệ Trục Tọa Độ Lớp 10, Đồ án ổ Đỡ Trục,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phôi Cá Mút Đá Tái Cấu Trúc Hệ Gen
  • Sinh Học 12: Gen Và Cấu Trúc Của Gen
  • Bài 21. Đột Biến Gen
  • Đột Biến Gen, Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 12
  • Cấu Trúc Và Bộ Gen Của Hiv
  • Gen, Mã Di Truyền Và Quá Trình Nhân Đôi Adn, Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 12

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Trúc P53 (Protein), Chức Năng, Chu Kỳ Tế Bào Và Bệnh Tật / Sinh Học
  • Phát Hiện Gen P53 Kiềm Chế Sự Phát Triển Của Các Tế Bào Ung Thư
  • Tìm Hiểu Về Tế Bào Prokaryote, Prokaryotes
  • Điều Hòa Hoạt Động Biểu Hiện Gen Ở Prokaryote
  • Câu Lệnh If Else Trong Php
  • I. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM 1. Gen cấu trúc, mã di truyền 1.1. Gen

    – Cấu trúc của 1 gen gồm:

    + Vùng điều hòa: nằm ở đầu 3 của mạch mã gốc mang tín hiệu khởi động và kiểm soát quá trình phiên mã, dịch mã.

    + Vùng mã hóa: nằm ở ngay sau vùng điều hòa, mang thông tin mã hóa cho 1 sản phẩm xác định là các aa. Có cấu trúc khác nhau ở sinh vật nhân sơ và sinh vật nhân thực.

    Sinh vật nhân sơ: có vùng mã hóa liên tục (gen không phân mảnh)

    Sinh vật nhân thực: có vùng mã hóa không liên tục (gen phân mảnh) trong đó có những đoạn mang thông tin mã hóa (exon) xen kẽ với những đoạn không mã hóa được (intron).

    + Vùng kết thúc: nằm ở đầu 5 của mạch mã gốc, mang tín hiệu kết thúc sự phiên mã.

    – Các loại gen: Dựa vào chức năng của gen người ta chia gen thành các loại:

    + Gen cấu trúc

    + Gen điều hòa

    + Gen giả (gen nhảy)

    + Gen chỉ huy

    1.2. Mã di truyền

    – Là trình tự các Nu trên gen quy định trình tự các aa trên phân tử protein

    Có 4 loại Nu khác nhau hình thành nên 4 3 bộ 3 mã hóa khác nhau, thực tế có hơn 20 loại aa .

    – Thực nghiệm đã chứng minh:

    + Mã di truyền là mã bộ 3, nghĩa là cứ 3 Nu kế tiếp nhau trong mạch khuôn của gen quy định tổng hợp 1 aa

    + Có 64 mã bộ 3, trong đó có: 1 bộ 3 mở đầu AUG, 60 bộ 3 mã hóa aa, 3 bộ 3 kết thúc là UAA, UAG, UGA.

    – Đặc điểm của mã di truyền:

    + Mã di truyền luôn được đọc từ 1 điểm xác định theo từng bộ 3, chúng không chồng gối lên nhau. (luôn đọc theo 1 chiều từ 5 đến 3 trên mARN)

    + Mã di truyền có tính phổ biến: tất cả các loài đều sử dụng chung 1 bảng mã di truyền, trừ 1 vài ngoại lệ. Điều này chứng tỏ sinh giới ngày nay có chung nguồn gốc.

    + Mã di truyền có tính đặc hiệu: nghĩa là 1 bộ 3 chỉ mã hóa cho 1 aa.

    + Mã di truyền có tính thoái hóa: 1 aa có thể được mã hóa từ 2 hay nhiều bộ 3 khác nhau.

    – Chú ý: Đa số các bộ ba mã hóa cho cùng 1 loại aa chỉ khác nhau ở vị trí cặp Nu thứ 3 cho nên trong 1 bộ 3 thì 2 Nu đầu quan trọng, Nu thứ 3 có thể linh hoạt.sự linh hoạt này có thể không gây hại gì nhưng có thể gây lắp ráp nhầm aa trong chuỗi pp.

    + Bộ 3 trên ADN gọi là triplet

    + Bộ 3 trên mARN gọi là codon

    + Bộ 3 đối mã trên tARN gọi là anticodon

    Những đặc điểm của mã di truyền thể hiện tính thống nhất của sinh giới

    + Mã di truyền có tính phổ biến nghĩa là hầu hết các loài sinh vật đều sử dụng chung 1 bộ mã di truyền. Đó là mã bộ 3 được đọc từ 1 điểm xác định và liên tục từng bộ 3.

    + Mã di truyền có tính đặc hiệu, mã di truyền có tính thoái hóa.

    2. Cơ chế tự nhân đôi

    2.1. Thời điểm: diễn ra ở pha S của kì trung gian trong chu kì tế bào.

    2.2. Vị trí: xảy ra trong vùng nhân (đối với sinh vật nhân sơ) hoặc xảy ra chủyếu ở nhân (đối với sinh vật nhân thực)

    2.3. Nguyên tắc:

    – Bổ sung

    – Khuôn mẫu

    – Bán bảo tồn

    2.4. Các thành phần tham gia:

    – ADN mẹ làm khuôn

    – Các Nu tự do, các riboNu

    – Các enzim:

    + Enzim tháo xoắn: Gyraza

    + Enzim tách mạch: Helicaza

    + Enzim tổng hợp đoạn mồi: ARN-polimeraza

    + Enzim xúc tác bổ xung kéo dài mạch mới: ADN-polimeraza

    + Enzim nối các đoạn Okazaki: Ligaza

    + Enzim đọc sửa: ADN-polimeraza

    2.5. Cơ chế:

    – Bước 1: Tháo xoắn AND

    Dưới tác dụng của enzim tháo xoắn Gyraza và enzim tách mạch Helicaza phân tử ADN sẽ được tháo xoắn và 2 mạch đơn dần tách nhau ra thành 2 chạc hình chữ Y

    – Bước 2: Tổng hợp mạch mới

    Dưới tác dụng của enzim ADN-polimeraza, mỗi mạch của ADN đều được dùng làm khuôn để tổng hợp nên mạch mới theo nguyên tắc bổ sung A – T, G – X và ngược lại. Vì enzim ADN-polimeraza chỉ tổng hợp được mạch mới theo chiều từ 5′ đến 3′ nên:

    + Trên mạch khuôn có chiều từ 3′ đến 5′ mạch mới được tổng hợp liên tục.

    + Trên mạch khuôn có chiều từ 5′ đến 3′ mạch mới được tổng hợp ngắt quãng tạo ra các đoạn nhỏ Okazaki (khoảng từ 1000 đến 2000 Nu) ngược với chiều tháo xoắn. Sau đó các đoạn Okazaki được nối lại với nhau nhờ enzim nối Ligaza để tạo ra mạch có chiều từ 5′ đến 3′.

    – Bước 3: Hình thành 2 phân tử ADN con

    Trong đó có 1 mạch mới hoàn toàn do môi trường nội bào cung cấp và 1 mạch cũ của ADN ban đầu.

    *Vì sao trong quá trình nhân đôi ADN chỉ có 1 mạch của phân tử ADN được tổng hợp liên tục, mạch còn lại được tổng hợp 1 cách gián đoạn?

    – Cấu trúc của ADN gồm 2 mạch song song ngược chiều nhau (3′ đến 5′, 5′ đến 3′), mà ADN-polimeraza chỉ tổng hợp mạch mới theo 1 chiều từ 5′ đến 3′

    – Đối với mạch khuôn 3′ đến 5′ thì ADN-polimeraza tổng hợp mạch bổ sung liên tục theo chiều 5′ đến 3′, đối với mạch khuôn 5′ đến 3′ thì mạch mới phải được tổng hợp ngắt quãng theo các đoạn ngắn 5′ đến 3′ (ngược với chiều tháo xoắn), sau đó các đoạn ngắn này được nối với nhau nhờ enzim Ligaza nên phân tử con được hình thành giữ nguyên cấu trúc đối song song.

    So sánh sự nhân đôi của sinh vật nhân sơ và sinh vật nhân thực

    Đều theo nguyên tắc bổ sung và bán bảo tồn

    Gồm các enzim tham gia: enzim tháo xoắn, enzim ARN_polimeraza, ADN_polimeraza, enzim nối Ligaza và các nhân tố khác: ADN, đoạn mồi.

    Đều gồm 3 bước: tháo xoắn, tổng hợp mạch mới, hình thành 2 ADN con

    Chiều tổng hợp mạch mới bổ sung liên tục và các đoạn Okazaki đều là 5′ đến 3′

    Trên mạch khuôn 3′ đến 5′ mạch mới được tổng hợp liên tục còn trên mạch khuôn có chiều 5′ đến 3′ mạch mới được tổng hợp ngắt quãng tạo nên các đoạn Okazaki, sau đó các đoạn Okazaki được nối lại với nhau tạo thành mạch hoàn chỉnh.

    1 phân tử ADN có 1 đơn vị nhân đôi

    Mỗi phân tử ADN có nhiều đơn vị nhân đôi

    Phân tử ADN được tách ra tạo 1 chạc chữ Y

    Mỗi đơn vị nhân đôi gồm 2 chạc chữ Y, mỗi chạc có 2 mạch phát sinh từ 1 điểm khởi đầu và được nhân đôi đồng thời

    Có ít loại enzim tham gia

    Có nhiều loại enzim tham gia

    Chú ý:

    – Để kéo dài mạch ADN mới cần tạo được đầu 3′ -OH tự do, do đó trên mỗi mạch ADN ban đầu enzim ARN-polimeraza phải hoạt động tổng hợp được các đoạn ARN mồi từ các riboNu tự do (khoảng 10 Nu) để có đầu 3’­­­-OH lắp ráp các Nu mới theo nguyên tắc bổ sung vào mạch ADN gốc.

    – Sự nhân đôi của ADN là cơ sở cho sự nhân đôi NST.

    Các dạng bài tập chủ yếu:

    1. Số phân tử ADN con được hình thành sau k lần nhân đôi

    1 phân tử ADN mẹ ban đầu sau k lần nhân đôi sẽ tạo ra 2 k phân tử ADN con

    a phân tử ADN mẹ ban đầu sau k lần nhân đôi sẽ tạo ra a x 2 k phân tử ADN con

    C/m:1ADN nhân đôi lần 1 sẽ tạo ra 2 = 2 1 ADN con, nhân đôi lần 2 sẽ tạo đươc 4 = 2 2 ADN con (thực tế lúc này chỉ có 2 ADN con tham gia nhân đôi vì ADN mẹ ban đầu không còn do đã chia đều cho 2 ADN con), tương tự khi ADN nhân đôi lần 3 sẽ tạo được 8 = 2 3 ADN con, lần 4 sẽ là 2 4 = 16 ADN con. Vậy 1 ADN tham gia nhân đôi k lần sẽ tạo được 2 k ADN con

    2. Số phân tử ADN được cấu tạo từ 2 mạch hoàn toàn mới

    1 ADN mẹ sau k lần nhân đôi sẽ tạo ra 2 k – 2 ADN con có 2 mạch hoàn toàn mới

    a ADN mẹ sau k lần nhân đôi sẽ tạo ra a x(2 k – 2) ADN con có 2 mạch hoàn toàn mới

    C/m: Xét 1ADN tham gia nhân đôi

    3.Tổng số Nu mà môi trường cung cấp cho quá trình nhân đôi của 1 phân tử ADN ban đầu

    Tổng số Nu môi trường cung cấp = (2 k – 1) x N

    A cung cấp = T cung cấp = (2 k – 1) xA

    G cung cấp= X cung cấp = (2 k – 1) xG

    4. Số liên kết Hidro hình thành và bị phá hủy trong suốt quá trình nhân đôi

    Số liên kết H hình thành = 2(2 k – 1).H

    Số liên kết H bị phá hủy = (2 k – 1).H

    5. Số liên kết hóa trị hình thành giữa các Nu trong suốt quá trình nhân đôi

    Số liên kết hóa trị hình thành = (N – 2).(2 k – 1)

    Số liên kết hóa trị bị phá vỡ = 0

    6. Số chạc tái bản,số đơn vị tái bản,số đoạn mồi

    Số chạc tái bản = 2 x số đơn vị tái bản

    Số đoạn ARN mồi trên 1 chạc tái bản = số đoạn okazaki/1 chạc tái bản + 1

    Số đoạn ARN mồi trên đơn vị tái bản

    = số đoạn okazaki/1 đơn vị tái bản + 2

    = 2 x số đoạn okazaki/1 chạc tái bản + 2

    II. CÁC DẠNG BÀI TẬP

    PHƯƠNG PHÁP GIẢI MỖI DẠNG BÀI TẬP

    a) Dạng 1: a1) phương pháp giải TƯƠNG QUAN GIỮA TỔNG NUCLÊÔTIT VỚI CHlỀU DÀI VÀ KHỐI LƯỢNG CỦA ADN (HAY GEN)

    – ADN (hay gen) có 2 mạch đơn.

    – Chiều dài ADN (hay gen) là chiều dài của 1 mạch đơn và mỗi nuclêôtit xem như có kích thước 3,4. (1 = 10-4µm = 10-7mm).

    – Khối lượng trung bình của mỗi nuclêôtit trong ADN (hay gen) là 300 đvC.

    – Mỗi chu kì xoắn có kích thước 34 gồm 10 cặp nuclêôtit (20 nuclêôtit).

    Do vậy:

    + Gọi N: tổng nuclêôtit trong cả hai mạch ADN (hay gen).

    + Gọi L: chiều dài của ADN (hay gen).

    + Gọi M: khối lượng của ADN (hay gen).

    + Gọi C: số chu kì xoắn của ADN (hay gen).

    a2) Bài tập vận dụng

    Ta có các tương quan sau:

    1. Gen thứ nhất dài 234,6 nanômet chứa bao nhiêu cặp nuclêôtit?

    2. Gen thứ hai chứa 2430 nuclêôtit có chiều dài bao nhiêu nanômet?

    3. Gen thứ ba có khối lượng 456.103 đvC có bao nhiêu chu kì xoắn?

    4. Gen thứ tư có 107 chu kì xoắn sẽ có khối lượng bao nhiêu đvC?

    Hướng dẫn giải

    1. Số cặp nuclêôtit của gen thứ nhất:

    2. Chiều dài của gen thứ hai tính ra đơn vị nanômet:

    3. + Số nuclêôtit của gen thứ ba: 456 . 103 : 300 = 1520 (Nu)

    + Số chu kì xoắn của gen thứ ba: 1520 : 20 = 76 (chu kì)

    4. + Số nuclêôtit của gen thứ tư: 107 x 20 = 2140 (Nu)

    b) Dạng 2: b1) Phương pháp giải VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC BỔ SUNG ĐỂ XÁC ĐịNH TỈ LỆ %, SỐ LƯỢNG TỪNG LOẠI NUCLÊÔTIT TRONG 2 MẠCH CỦA ADN (HAY GEN)

    + Khối lượng của gen thứ tư: 2140 x 300 = 642000 đvC

    Gọi A, T, G, X: các loại nuclêôtit của ADN (hay gen). Theo nguyên tắc bổ sung (NTBS), trên hai mạch của ADN (hay gen) các nuclêôtit đứng đối diện từng cặp, nối nhau bằng liên kết hiđrô yếu theo NTBS:

    A hợp với T (ngược lại) ; G hợp với X (ngược lại).

    Do vậy, ta có các hệ quả sau:

    * Về số lượng:

    A = T (1)

    G = X (2)

    A + T + G + X = N (3)

    Từ (1), (2) và (3) ⇒ 2A + 2G = N

    A + G = A + X = T + G = T + X = (4)

    Vậy: Trong ADN (hay gen) tổng số lượng của hai loại nuclêôtit không bổ sung nhau, luôn luôn bằng số nuclêôtit trong một mạch đơn.

    Từ (4) ⇒ A = T = – G = – X (5)

    G = X = – A = – T (6)

    * Về tỉ lệ %:

    %A = %T ; %G = %X (7)

    %(A + T + G + X) = 100% (8)

    %(A + G) = %(A + X) = %(T + G) = %(T + X) = 50%N = 0,5N = N (9)

    b2) Bài tập vận dụng.

    Từ (7), (8) và (9) ⇒ %A = %T = 50% – %G = 50% – %X (10)

    Từ (10) ⇒ %G = %X = 50% – %A = 50% – %T (11)

    Xác định tỉ lệ phần trăm các loại nuclêôtit trong phân tử ADN, cho biết:

    1) ADN1 có X = 21%.

    2) ADN2 có tỉ lệ giữa các loại nuclêôtit

    3) ADN3 có A = 4G.

    4) ADN4 có tổng của hai loại nuclêỏtit bằng 64% số nuclêôtit của toàn phân tử.

    Hướng dẫn giải

    1) Theo NTBS ta có A = T, G = X = 21%.

    – Trong phân tử ADN: A + X = 50% ⇒ A = T = 50% – 21% = 29%.

    2) Vì A = T, G = X

    Suy ra A = T = 15%; G = X = 50% – 15% = 35%.

    3) Theo đề ta có: A = 4G (1)

    Theo NTBS ta có: A + G = 50% (2)

    Thay (1) vào (2) ta suy ra G = X = 10%; A = T = 50% – 10% = 40%.

    4) Theo NTBS ta có tổng của hai loại nuclêôtit không bổ sung nhau luôn luôn bằng 50% tổng số nuclêôtit của toàn phân tử. Theo đề, tổng của hai loại nuclêôtit bằng 64% chỉ có thể là tổng của hai loại nuclêôtit bổ sung.

    – Trường hợp 1: Nếu A + T = 64% ⇒ Ạ = T =

    c) Dạng 3: VẬN DỤNG VỀ LIÊN KẾT HÓA HỌC TRONG ADN (HAY GEN). TƯƠNG QUAN GIỮA %, SỐ LƯỢNG CÁC LOẠI NUCLÊÔTIT CỦA ADN (HAY GEN) VỚI SỐ LIỀN KẾT HIĐRÔ, LIÊN KẾT HÓA TRỊ c1) phương pháp giải

    ⇒ G = X = 50% – 32% = 18%.

    – Trường hợp 2: Nếu G + X = 64% ⇒ G = X = 32%; A = T = 18%.

    * Về liên kết hiđrô: Theo nguyên tắc bổ sung:

    – Theo nguyên tắc bổ sung, A của mạch này nối với T mạch kia bằng 2 liên kêt hiđrô và ngược lại, do vậy có bao nhiêu A sẽ có bấy nhiêu T và bấy nhiêu cặp A = T. Vậy số liên kết hiđrô giữa chúng là 2A (hoặc 2T).

    – G của mạch này nối với X mạch kia bằng 3 liên kết hiđrô và ngược lại. Tương tự, số liên kết hiđrô thực hiện giữa các nuclêôtit G = X là 3G (hoặc 3X).

    – Gọi H: tổng số liên kết hiđrô của ADN (hay gen).

    N: tổng số nuclêôtit của ADN (hay gen).

    Ta có các tương quan sau:

    H = 2A + 3G = 2A + 3X = 2T + 3G = 2T + 3X

    H = 2%A.N + 3%G.N

    * Về liên kết hóa trị (phôtpho – đieste):

    * Nếu chỉ xét liên kết hóa trị giữa nuclêôtit này với nuclêôtit khác trong mỗi mạch đơn.

    + Cứ 2 nuclêôtit kế tiếp nhau bằng 1 liên kết.

    + Cứ 3 nuclêôtit kế tiếp nhau bằng 2 liên kết.

    + Cứ 4 nuclêôtit kế tiếp nhau bằng 3 liên kết.

    ⇒ Mỗi mạch đơn của ADN (hay gen) có ( – 1) liên kết.

    Gọi Y: tổng liên kết hóa trị của ADN (hay gen).

    Y = 2( – 1) = N – 2

    * Nếu xét liên kết hóa trị của mỗi nuclêôtit và giữa nuclêôtit này với nuclêôtit bên cạnh:

    c2) Bài tập vận dụng

    + Cứ mỗi nuclêôtit trong 1 mạch đơn có 2 liên kết, riêng nuclêôtit cuối cùng trong mạch chỉ tính có 1 liên kết nên số liên kết hóa trị trong 1 mạch là:

    Vậy: Y = 2(N – 1) = 2N – 2

    Một gen dài 5100 và có tích giữa hai loại nuclêôtit không bổ sung là 6%, số liên kết hiđrô của gen nằm trong khoảng từ 3500 đến 3600.

    1) Gen trên có bao nhiêu liên kết hóa trị? Cho biết mỗi nuclêôtit, ngoài liên kết hóa trị của nó còn liên kết với nuclêôtitbên cạnh.

    2) Tỉ lệ % và số lượng từng loại nuclêôtit của gen.

    Hướng dẫn giải

    1) Số liên kết hóa trị của gen:

    – Tổng liên kết hóa trị của gen: 3000.2 – 2 = 5998 liên kết.

    2) Tỉ lệ % từng loại nuclêôtit của gen:

    – Gọi A và G là hại loại nuclêôtit không bổ sung.

    Theo đề ra ta có: A . G = 6% = 0,06 (1)

    Theo NTBS: A +G = 50% = 0,5 (2)

    Từ (1) và (2) ⇒ A và G là nghiệm số của phương trình:

    x2 – 0,5x + 0,06 = 0

    – Giải phương trình trên, ta được x1 = 30%; x2 = 20%

    + Tổng liên kết hiđrô của gen:

    – Nếu A < G:

    + Tổng liên kết hiđrô của gen:

    – Vậy tỉ lệ phần trăm và số lượng mỗi loại nuclêôtit của gen:

    A = T = 30%, G = X = 20%.

    d) Dạng 4: d1) Phương pháp giải XÁC ĐỊNH %, SỐ LƯỢNG TỪNG LOẠI NUCLÊÔTIT TRONG MỖi MẠCH. TƯƠNG QUAN VỀ %, SỐ LƯỢNG TỪNG LOẠI NUCLÊÔTIT TRONG MỖi MẠCH VỚI CẢ HAI MẠCH

    A = T = 30% . 3000 = 900 nuclêôtit.

    G = X = 20% . 3000 = 600 nuclêôtit.

    d2) Bài tập vận dụng

    – Gọi A, T, G, X: Các loại nuclêôtit trong 2 mạch. A1, T1, G1, X1: các loại nuclêôtit trong mạch 1; A2, T2, G2, X2: Các loại nuclêôtit trong mạch 2.

    -Theo NTBS ta có:

    Về tỉ lệ %: (Mỗi mạch đơn tính 100%)

    Một gen có khối lượng 9.105 đvC và có 3900 liên kêt hiđrô, Mạch đơn thứ nhất của gen có số nuclêôtit loại A = 150, mạch đối diện có X = 300 nuclêôtit. Xác định:

    1) Tỉ lệ % và số lượng từng loại nuclêôtit của gen.

    2) Tỉ lệ % và số lượng từng loại nuclêôtit trong mỗi mạch đơn của gen.

    Hướng dẫn giải

    1) Tỉ lệ % và số lượng từng loại nuclêôtit của gen:

    – Tổng nuclêôtit của gen: 9.105 : 300 = 3000 (Nu)

    – Theo đề ta có: 2A + 3G = 3900; 2A + 2G = 3000

    Suy ra: G = X = 900 Nu; A = T = 3000/2 – 900 = 600 (Nu).

    – Tỉ lệ % từng loại nuclêôtit của gen: A = T = 600/3000.100% = 20%.

    G = X = 50% – 20% = 30%.

    2) Tỉ lệ % và số lượng từng loại nuclêôtit trong mỗi mạch đơn:

    e) Dạng 5: XÁC ĐỊNH SỐ NUCLÊÔTIT TỰ DO MÔI TRƯỜNG CẦN CUNG CẤP e1) Phương pháp giải

    – Theo đề: A1 = 150 ⇒ A2 = 600 – 150 = 450 Nu.

    X2 = 300 ⇒ X1 = 900 – 300 = 600 Nu.

    – Vậy tỉ lệ % và số lượng từng loại nuclêôtit trên mỗi mạch đơn của gen:

    – Cả hai mạch của ADN mẹ đều được dùng làm mạch khuôn.

    – Các nuclêôtit tự do kết hợp vào mạch khuôn theo NTBS:

    – Sau khi mỗi ADN mẹ tái bản 1 lần sẽ tạo 2 ADN con giống hệt nhau và giống hệt ADN mẹ ban đầu.

    N: Tổng nuclêôtit trong ADN ban đầu.

    Do vậy:

    – Gọi A, T, G, X: các loại nuclêôtit trong ADN ban đầu

    N: tổng nuclêôtit trong ADN ban đầu

    A,’ T’, G’, X’: các loại nuclêôtit tự do môi trường cần cung cấp.

    N’: tổng nuclêôtit tự do môi trường cần cung cấp.

    1) Khi ADN tái bản 1 lần:

    2) Khi ADN tái bản n lần:

    – Tổng ADN con được tạo thành cuối quá trình: 2n.

    – Tổng nuclêôtit trong các ADN con: 2n . N.

    – Tổng nuclêôtit mỗi loại trong các ADN con.

    A = T = 2n. A = 2n.T

    e2) Bài tập vận dụng

    G = X = 2n. G = 2n. X Suy ra:

    Trường hợp đặc biệt: Xác định số nuclêôtit tự do môi trường cần cung cấp để tạo các gen con có nguyên liệu hoàn toàn mới (cả hai mạch đơn đều được tạo thành bởi các nuclêôtit tự do).

    – Nhận xét: Ở bất kì lần tái bản nào hai mạch khuôn của ADN ban đầu cũng đều tạo ra 2 ADN con có nguyên liệu không hoàn toàn mới (mỗi ADN con có một mạch mới, một mạch cũ). Vậy trong điều kiện trên ta có:

    Tổng liên kết phôtpho-đieste giữa axit với đường và liên kết hiđrô của một gen là 5023 trong đó số liên kết hiđrô ít hơn 973 liên kết.

    1) Xác định tổng nuclêôtit tự do và số nuclêôtit tự do mỗi loại môi trường cần cung cấp cho gen tái bản 1 lần.

    2) Khi gen tái bản liên tiếp 3 lần. Hãy xác định:

    a) Số nuclêôtit mỗi loại có trong các gen con được hình thành vào cuối quá trình.

    b) Số nuclêôtit tự do mỗi loại môi trường cung cấp để tạo ra các gen con mà cả hai mạch đơn của nó đều được tạo thành bởi các nuclêôtit tự do.

    Hướng dẫn giải

    1) Tổng nuclêôtit tự do và số nuclêôtit tự do mỗi loại cần cung cấp cho gen tái bản 1 lần:

    – Gọi N: tổng nuclêôtit của gen: N = 2A + 2G

    – Gọi H: tổng liên kết hiđrô của gen: H = 2A + 3G

    – Gọi H: tổng liên kết phôtpho-đieste giữa axit và đường: Y = 2N – 2.

    – Theo đề ta có: Y + H = 5023 (1)

    Y – H = 973 (2)

    – Từ (1) và (2) suy ra:

    Y = 2998; H = 2025.

    N = (2998 + 2) : 2 = 1500 Nu.

    Ta có: 2A + 3G = 2025

    2A + 2G = 1500

    Suy ra: G = X = 525 Nu

    A = T = (1500 : 2) – 525 = 225 Nu

    – Vậy, khi gen tái bản 1 lần, tổng nuclêôtit tự do môi trường cần cung cấp là 1500 nuclêôtit.

    – Số nuclêôtit tự do mỗi loại môi trường cần cung cấp là:

    A = T = 225 (Nu); G = X = 525 (Nu).

    2) Khi gen tái bản liên tiếp 3 lần:

    a) Số nuclêôtit mỗi loại có trong các gen con được hình thành vào cuối quá trình:

    A = T = 225 . 23 = 1800 (Nu).

    G = X = 525 . 23 = 4200 (Nu).

    b) Số nuclêôtit tự do mỗi loại môi trường cần cung cấp:

    g) Dạng 6: XÁC ĐỊNH SỐ LẦN NHÂN ĐÔI CỦA ADN g1) Phương pháp giải

    A = T = (23 – 1). 225 = 1575 (Nu).

    G = X = (23 – 1). 525 = 3675 (Nu).

    c) Số nuclêôtit tự do mỗi loại môi trường cung cấp để tạo ra các gen con mà hai mạch của nó đều được tạo thành bởi các nuclêôtit tự do:

    A = T = (23 – 2).225 = 1350 (Nu).

    G = X = (23 – 2).525 = 3150 (Nu).

    – Số lần tái bản của ADN (hay gen) là số nguyên dương.

    – Các ADN cùng nằm trong 1 tế bào có số lần tự sao mã bằng nhau.

    – Các ADN nằm trong các tế bào khác nhau có số lần tái bản có thể khác nhau hoặc bằng nhau.

    g2) Bài tập vận dụng

    – Khi biết được số lần tái bản, dựa vào đó ta suy ra số gen con, số nuclêôtit tự do môi trường cần cung cấp, số đợt phân bào của tế bào chứa gen đó.

    + Gen tái bản bao nhiêu lần thì trong nguyên phân, tế bào chứa nó phâ bào bấy nhiêu lần.

    + Nếu gen trong tế bào sinh dục, số lần tái bản của gen bằng số đợt phân bào trừ 1 (vì trong giảm phân, lần phân bào thứ hai ADN không tái bản).

    Một gen có khối lượng 405000đvC tái bản một số lần đã cần môi trường nội bào cung cấp nguyên liệu 9450 nuclêôtit tự do thuộc các loại, trong đó có 3780 nuclêôtit tự do loại G.

    1) Tế bào chứa gen trên đã nguyên phân bao nhiêu lần?

    2) Số nuclêôtit mỗi loại có trong gen ban đầu.

    Hướng dẫn giải

    Số lần nguyên phân của tế bào:

    * Số nuclêôtit: 405000/300 = 1350 Nu.

    – Gọi n: Số lần tái bản của gen cũng là số lần nguyên phân của tế bào chứa gen trên (n Z+).

    – Theo đề ta có: (2n – 1). 1350 = 9450 ⇒ 2n – 1 = 9450 : 1350 = 7.

    2n = 8 = 23 ⇒ n = 3.

    – Vậy tế bào chứa gen trên nguyên phân 3 lần.

    2) Số nuclêôtit mỗi loại có trong gen ban đầu:

    Theo đề ta có: (23 – 1). G = 3780.

    ⇒ G = X = (3780 : 7) = 540 Nu.

    A = T = (1350 : 2) – 540 = 135 Nu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 1 Gen Quy Định Cấu Trúc Của Một Polipeptit
  • Phôi Cá Mút Đá Tái Cấu Trúc Hệ Gen
  • Sinh Học 12: Gen Và Cấu Trúc Của Gen
  • Bài 21. Đột Biến Gen
  • Đột Biến Gen, Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 12
  • Lý Thuyết Về Gen Và Mã Di Truyền

    --- Bài mới hơn ---

  • Hộp Số Ô Tô Là Gì? Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Hộp Số Ô Tô
  • Nguyên Lý Hoạt Động Của Cấu Tạo Hộp Số Sàn Ô Tô Và Những Diều Cần Biết
  • Gara Sửa Chữa Hộp Số Sàn, Hộp Số Tự Động Uy Tín Ở Hcm 2022
  • Hộp Số Sàn Ô Tô: Cấu Tạo, Nguyên Lý Làm Việc Và Cách Sử Dụng
  • Cách Tạo Số Của Hộp Số Tự Động Trên Xe Ô Tô
  • Gen là một đoạn phân tử ADN mang thông tin mã hóa cho một chuỗi pôlipeptit hay ARN.

    Từ định nghĩa gen ta thấy: Gen có bản chất là ADN, trên một phân tử ADN chứa rất nhiều gen.

    1. Cấu trúc chung của gen cấu trúc

    Mỗi gen cấu tạo bởi các đơn phân A, T, G, X; có hai mạch polinucleotit, nhưng chỉ có mạch gốc (3′ → 5′) mang thông tin mã hóa cho các axit amin, mạch còn lại được gọi là mạch bổ sung.

    Mỗi gen mã hóa prôtêin gồm 3 vùng trình tự nuclêôtit:

    • Vùng điều hòa: nằm ở đầu 3’của gen, mang tín hiệu đặc biệt giúp ARN polimeraza nhận biết và liên kết để khởi động quá trình phiên mã và chứa trình tự nucleotit kiểm soát, điều hòa quá trình phiên mã.
    • Vùng mã hoá: gồm các đoạn gen cấu trúc mang thông tin mã hóa các axit amin.
    • Vùng kết thúc: nằm ở đầu 5′ của mạch mã gốc mang tín hiệu kết thúc phiên mã.

    Phân biệt gen ở sinh vật nhân sơ và sinh vật nhân thực

    Gen ở SVNS và SVNT đều có cấu tạo 3 phần như nhau nhưng chúng phân biệt với nhau bởi cấu tạo vùng mã hóa:

      Vùng mã hóa liên tục (gen không phân mảnh): có ở sinh vật nhân sơ.
      Vùng mã hóa không liên tục (gen phân mảnh): có ở sinh vật nhân thực. Phần lớn các gen của sinh vật nhân thực có vùng mã hóa không liên tục, các đoạn mã hóa axit amin (exon) và không mã hóa axit amin (intron) xen kẽ nhau.

    II . MÃ DI TRUYỀN 1. Khái niệm

    Mã di truyền là trình tự sắp xếp các nucleotit trong gen (trong mạch khuôn) quy định trình tự sắp xếp các axit amin trong prôtêin.

    Mã di truyền là mã bộ ba được đọc trên cả ADN và mARN (cứ ba nucleotit đứng liền nhau thì mã hóa cho một axit amin).

    Ví dụ: mã gốc là 3′-TAX-5’→ mã sao (codon) là: 5′-AUG-3′ → mã đối mã (anticodon) là UAX – Met.

    2. Đặc điểm của mã di truyền

    Mã di truyền là mã bộ ba, có tính phổ biến, tính đặc hiệu và tính thoái hóa.

    Bằng thực nghiệm các nhà khoa học đã xác định được chính xác có 64 bộ ba.Trong đó:

    • 61 bộ ba mã hóa cho 20 axit amin.
    • 3 bộ ba không mã hóa cho axit amin nào được gọi là bộ ba kết thúc. Trong quá trình dịch mã khi riboxom tiếp xúc với các bộ ba kết thúc thì các tiểu phần của riboxom tách nhau ra và quá trình dịch mã kết thúc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cẩm Nang Guitar: Kiến Thức Cơ Bản Về Guitar Điện
  • Cấu Tạo Của Một Cây Guitar Điện
  • Các Thành Phần Cơ Bản Của Một Cây Guitar Điện
  • Cấu Tạo Và Chất Liệu Của Đàn Guitar Điện
  • Gan Nằm Ở Vị Trí Nào? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Gan Bạn Cần Biết
  • Khái Niệm, Cấu Trúc Và Phân Loại Gen

    --- Bài mới hơn ---

  • Hộp Gen Là Gì? Kích Thước Hộp Gen (Hộp Kỹ Thuật) Nhà Vệ Sinh Chuẩn
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Gen
  • Ankadien Tính Chất Hóa Học, Tính Chất Vật Lý Và Công Thức Cấu Tạo Của Ankadien
  • Tính Chất Hóa Học, Công Thức Cấu Tạo Của Ankan Và Bài Tập
  • Cấu Trúc Phân Tử, Đồng Đẳng, Đồng Phân, Liên Kết Đơn, Liên Kết Đôi Trong Hợp Chất Hữu Cơ
  • Ngày nay những câu hỏi được đặt ra về gen là: Bản chất thực sự của gen là gì? Hoạt động của gen như thế nào? Gen chứa đựng thông tin di truyền gì? Và tất cả các gen về cơ bản có giống nhau không? Trong mục này chúng ta sẽ trả lời cho các câu hỏi đề cập ở trên.

    Gen là gì?

    Gen là một đoạn của phân tử ADN mang thông tin mã hóa một sản phẩm xác định (một chuỗi pôlipeptit hay một phân tử ARN).

    Cấu trúc của gen:

    Ở đây mình chỉ hướng dẫn các bạn tìm hiểu về cấu trúc của gen cấu trúc ( gen điều hòa cũng có cấu trúc tương tự gen cấu trúc). Cấu trúc chung của gen cấu trúc được chia làm 3 vùng trình tự nuclêôtit theo thứ tự sau:

    • Vùng điều hòa (vùng khởi đầu): nằm ở đầu gen, mang tín hiệu khởi động và kiểm soát quá trình phiên mã.
    • Vùng mã hóa: nằm ở giữa gen, mang thông tin mã hóa axit amin.
    • Vùng kết thúc: nằm ở cuối gen, mang tín hiệu kết thúc phiên mã.

    Phân loại gen:

    Người ta dựa vào vai trò của các sản phẩm gen người ta chia gen thành loại là gen cấu trúcgen điều hòa

    • Gen cấu trúc: mang thông tin mã hóa cho các sản phẩm tạo nên thành phần cấu trúc hay chức năng tế bào.
    • Gen điều hòa là gen tạo ra sản phẩm kiểm soát hoạt động của gen khác.

    Cũng có thể dựa vào cấu trúc vùng mã hóa của gen người ta chia ra hai loại gen là gen phân mảnhgen không phân mảnh.

    • Gen phân mảnh: có vùng mã hóa không liên tục, gồm các đoạn mã hóa axit amin (exon) và các đoạn không mã hóa aa (intron) xen kẻ nhau. Loại gen phân mảnh có ở sinh vật nhân thực
    • Gen không phân mảnh: có vùng mã hóa liên tục mã hóa axit amin. Loại gen không phân mảnh có ở sinh vật nhân sơ.

    Ở trên chỉ trình bày hai cách phân loại gen cơ bản thường gặp. Ngoài ra đâu đó các bạn cũng có thể nghe các tên gọi như: Gen gối (hay gen phủ lên nhau), gen nhảy,…

    Như vậy bản chất hóa học của gen chủ yếu là ADN. Do đó ADN là nơi lưu giữ thông tin di truyền với hai đặc điểm quan trọng là:

    1. Trong các nuclêôtit của ADN thì thành phần bazơ là yếu tố cấu trúc thông tin.
    2. Chuỗi các bazơ trong ADN là thông tin di truyền (từ “bazơ) và từ “nuclêôtit” được dùng như nhau khi xét về đặc điểm này).

    Một gen của sinh vật nhân sơ có độ lớn trung bình dao động từ 900 1500 cặp bazơ. Nhưng gen của sinh vật nhân thực thì có độ dài trung bình rất khó xác định, như trong bộ gen của người, người ta đã tìm thấy những gen có đến vài trăm ngàn nuclêôtit.

    Trình tự các nuclêôtit trong các gen sẽ cung cấp hai phương thức thông tin trong sự tổng hợp prôtêin.:

    • Phương thức thông tin thứ nhất dùng quy định các axit amin đặc trưng với bộ ba mã hóa của gen.
    • Phương thức thông tin thứ hai chính là vị trí sắp xếp của mỗi aa trong pôlipeptit

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Từ Láy Là Gì? Từ Ghép Là Gì
  • Từ Ghép Là Gì? 3 Cách Phân Biệt Từ Ghép, Từ Láy Nhanh Và Dễ Hiểu Nhất
  • Từ Ghép Là Gì? Các Loại Từ Ghép
  • Từ Ghép Là Gì ? Hướng Dẫn Cách Phân Biệt Từ Ghép Như Thế Nào
  • Cách Phân Biệt Từ Láy
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100