Có Những Loại Mạch Máu Nào? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Của Mạch Máu?

--- Bài mới hơn ---

  • Hiểu Đúng Về Nhóm Máu Và Nguyện Tắc Truyền Máu
  • Đề Thi Hsg Huyên Sinh 8
  • Hiến Máu Thế Nào Để Có Lợi Cho Chính Bản Thân Và Cộng Đồng?
  • Các Nguyên Tắc Truyền Máu Cơ Bản
  • Bài 15. Đông Máu Và Nguyên Tắc Truyền Máu
  • Hệ thống mạch máu có chức năng rất quan trọng trong hệ tuần hoàn và là một phần không thể thiếu của sự sống. Đúng vậy, nhờ mạch máu, các tế bào được cung cấp kịp thời và đầy đủ nước, oxy cũng như các chất dinh dưỡng. Cùng NESFACO tìm hiểu xem có những loại mạch máu nào và chức năng chính của chúng là gì thông qua nội dung sau.

    Khái quát về mạch máu

    Mạch máu bao gồm nhiều loại khác nhau về kích thước, chức năng và hợp thành một hệ thống kín giúp dẫn máu từ tim đến các cơ quan và từ các cơ quan trở về tim. Cụ thể, bao gồm ba loại mạch máu chính là động mạch, mao mạch và tĩnh mạch. Các mạch phối hợp nhịp nhàng trong một hệ thống kín giúp quá trình trao đổi chất diễn ra thuận lợi.

    Có những loại mạch máu nào?

    Để hiểu hơn về cấu trúc mạch máu, chúng ta cần nắm bắt được những kiến thức tổng quát sau về các loại mạch.

    Có thể ví hệ thống mạch máu như phần rễ của cây. Ban đầu động mạch chủ sẽ có kích thước to nhất sau đó phân thành nhiều nhánh với kích thước nhỏ dần gọi là tiểu động mạch. Càng di chuyển xa tim, thiết diện mạch máu sau theo quy luật sẽ nhỏ hơn so với thiết diện mạch máu trước nhưng quy cho cùng tổng thiết diện của hệ thống mạch sẽ tăng.

    Máu được truyền từ tim đến động mạch chủ sau đó di chuyển qua tiểu động mạch và đi vào các mô kế đến là mao mạch. Như vậy, chức năng chính của động mạch là vận chuyển máu từ tim đến các mô. Máu được bơm từ tim tống đi với lực lớn vì vậy, để đảm nhận được trách nhiệm, cấu tạo của động mạch thường rắn chắc và cứng cáp hơn so với mao mạch, tĩnh mạch. Cụ thể, thành động mạch khỏe, dày, được phân thành tổng cộng 3 lớp như sau:

    • Lớp trong: hay còn gọi là lớp nội mạc thường được cấu tạo bởi những tế bào nội mô dẹt. Lớp trong nằm tại vị trí trong cùng, tiếp nối với lớp đàn hồi trong và tiếp xúc trực tiếp với máu.
    • Lớp giữa: hay lớp áo giữa thường là lớp dày nhất được cấu tạo bởi tế bào cơ trơn cùng những sợi đàn hồi.
    • Lớp ngoài: được tạo thành từ những liên kết sợi mà chủ yếu là sợi collagen cùng sợi đàn hồi. Chức năng chính của lớp ngoài là nâng đỡ và bảo vệ mạch máu.

    Trái ngược với động mạch, tĩnh mạch bắt nguồn từ mao mạch, là điểm tập trung máu từ các mao mạch và có vai trò vận chuyển máu kém dưỡng khí từ mô trở lại tim. Trong hệ thống mạch máu, tĩnh mạch có dưỡng khí cao nhất tập trung vào tĩnh mạch rốn và tĩnh mạch phổi. Trong thực tế, người ta còn gọi tĩnh mạch là ven, tuy không có thành dày như động mạch nhưng cấu trúc của tĩnh mạch cũng bao gồm 3 lớp: lớp trong, lớp giữa, lớp ngoài.

    Tĩnh mạch có dạng hình ống với lớp cấu tạo ngoài cùng là collagen và những vòng cơ trơn, khi chứa dưỡng chất sẽ phồng khi không chứa dưỡng chất sẽ quay về trạng thái xẹp xuống. Bên cạnh đó, lớp áo trong là các nội mô tế bào có thêm các van là những nếp chập đôi để giúp máu chảy theo một chiều nhất định. So với động mạch, tĩnh mạch có thể di dịch tương đối tùy theo cơ thể chứ không cố định một vị trí. Lớp ngoài mạch cũng tương tự động mạch được tạo thành từ sợi collagen và vòng cơ trơn.

    THAM KHẢO THÊM BÀI VIẾT

    Mao mạch phân thành hai loại là mao mạch máu và mao mạch bạch huyết:

    Mao mạch máu

    Mao mạch là do các tiểu động mạch phân nhánh tạo thành. Chúng là cầu nối giữa động mạch và tĩnh mạch, là những mạch máu rất nhỏ dài và mỏng với độ dày khoảng 0,5 µm tạo thành một lớp tế bào nội mô. Ngay đầu mao mạch có vòng tiền mao mạch nhằm kiểm soát lượng máu đi vào mao mạch.

    Giữa những tế bào mao mạch có các lỗ nhỏ với đường kính từ 6nm đến 7nm để tăng cường khả năng trao đổi chất. Bên cạnh đó, trong tế bào nội mô còn chứa các bọc ẩm bào hỗ trợ quá trình trao đổi chất. Trong cấu tạo mạch máu, có đến gần 10.000 triệu mao mạch tại nhiều vị trí khác nhau.

    Mao mạch bạch huyết

    Vai trò chính của những mao mạch bạch huyết là khả năng duy trì cân bằng thể dịch, biến lượng máu bị thoát ra từ mao mạch trở thành bạch huyết. Các mao bạch huyết xuất hiện tại hầu hết các mô trừ tủy xương, thần kinh trung ương, sụn, biểu bì, giác mạc. So với mao mạch máu, mao mạch bạch huyết không bao gồm lớp màng nền cũng như các tế bào biểu mô đơn giản nhưng khả năng thẩm thấu lại cao hơn và có khuynh hướng hoạt động như van mở một chiều.

    Như vậy, cơ thể có những loại mạch máu nào? Dựa theo cấu tạo mạch máu có thể thấy rằng mạch máu chia thành 3 loại chính bao gồm động mạch, tĩnh mạch và mao mạch. Trong đó, mỗi loại sẽ có kích thước và cấu tạo khác nhau để đảm nhận nhiệm vụ tương ứng. Mạch có vai trò quan trọng nhất là các động mạch chủ, tổn thương động mạch chủ có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe, trong khi mao mạch ít quan trọng hơn nhưng vẫn là nơi trực tiếp diễn ra quá trình trao đổi chất nên không thể xem nhẹ.

    THÔNG TIN LIÊN HỆ

    • Địa chỉ:Tòa nhà GIC, Lầu 1, 228B Bạch Đằng, P.24, Q.Bình Thạnh, TP.HCM
    • Hotline:093 878 6025 – 1900 633 004
    • Website:Nesfaco.com
    • Email:[email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 17. Tim Và Mạch Máu
  • Cấu Tạo, Chức Năng Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Máy Lạnh Dân Dụng Inverter
  • Điều Hòa Trung Tâm Là Gì?
  • So Sánh Máy Lạnh Daikin Và Toshiba
  • Máy Lạnh Di Động Và Những Ưu Điểm Vượt Trội
  • Phân Biệt Cấu Tạo Và Chức Năng Các Loại Mạch Máu

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Những Đặc Điểm Phù Hợp Giữa Cấu Tạo Và Chức Năng Của Mỗi Loại Mạch Máu
  • Máu Và Chức Năng Của Máu
  • Nêu Đặc Điểm Cấu Tạo Của Tim Phù Hợp Với Chức Năng Của Tim Đảm Nhận
  • Cách Vẽ Sơ Đồ Trong Word 2007, 2010, 2013, 2022, 2022 Siêu Đơn Giản
  • Sơ Đồ Cấu Tạo Của Máy Lọc Nước Tổng Đầu Nguồn
  • Động mạch

    Có thể ví hệ thống mạch máu như phần rễ của cây. Ban đầu động mạch chủ sẽ có kích thước to nhất sau đó phân thành nhiều nhánh với kích thước nhỏ dần gọi là tiểu động mạch. Càng di chuyển xa tim, thiết diện mạch máu sau theo quy luật sẽ nhỏ hơn so với thiết diện mạch máu trước nhưng quy cho cùng tổng thiết diện của hệ thống mạch sẽ tăng.

    Có những loại mạch máu nào? Động mạch, mao mạch và tĩnh mạch

    Máu được truyền từ tim đến động mạch chủ sau đó di chuyển qua tiểu động mạch và đi vào các mô kế đến là mao mạch. Như vậy, chức năng chính của động mạch là vận chuyển máu từ tim đến các mô. Máu được bơm từ tim tống đi với lực lớn vì vậy, để đảm nhận được trách nhiệm, cấu tạo của động mạch thường rắn chắc và cứng cáp hơn so với mao mạch, tĩnh mạch. Cụ thể, thành động mạch khỏe, dày, được phân thành tổng cộng 3 lớp như sau:

    • Lớp trong: hay còn gọi là lớp nội mạc thường được cấu tạo bởi những tế bào nội mô dẹt. Lớp trong nằm tại vị trí trong cùng, tiếp nối với lớp đàn hồi trong và tiếp xúc trực tiếp với máu.
    • Lớp giữa: hay lớp áo giữa thường là lớp dày nhất được cấu tạo bởi tế bào cơ trơn cùng những sợi đàn hồi.
    • Lớp ngoài: được tạo thành từ những liên kết sợi mà chủ yếu là sợi collagen cùng sợi đàn hồi. Chức năng chính của lớp ngoài là nâng đỡ và bảo vệ mạch máu.

    Tĩnh mạch

    Tĩnh mạch phụ trách dẫn máu từ các cơ quan về tim

    Trái ngược với động mạch, tĩnh mạch bắt nguồn từ mao mạch, là điểm tập trung máu từ các mao mạch và có vai trò vận chuyển máu kém dưỡng khí từ mô trở lại tim. Trong hệ thống mạch máu, tĩnh mạch có dưỡng khí cao nhất tập trung vào tĩnh mạch rốn và tĩnh mạch phổi. Trong thực tế, người ta còn gọi tĩnh mạch là ven, tuy không có thành dày như động mạch nhưng cấu trúc của tĩnh mạch cũng bao gồm 3 lớp: lớp trong, lớp giữa, lớp ngoài.

    THAM KHẢO THÊM BÀI VIẾT

    Tĩnh mạch có dạng hình ống với lớp cấu tạo ngoài cùng là collagen và những vòng cơ trơn, khi chứa dưỡng chất sẽ phồng khi không chứa dưỡng chất sẽ quay về trạng thái xẹp xuống. Bên cạnh đó, lớp áo trong là các nội mô tế bào có thêm các van là những nếp chập đôi để giúp máu chảy theo một chiều nhất định. So với động mạch, tĩnh mạch có thể di dịch tương đối tùy theo cơ thể chứ không cố định một vị trí. Lớp ngoài mạch cũng tương tự động mạch được tạo thành từ sợi collagen và vòng cơ trơn.

    • Nguyên nhân dẫn đến tai biến mạch máu não và cách điều trị
    • Siêu âm Doppler mạch máu là gì?

    Mao mạch

    Mao mạch phân thành hai loại là mao mạch máu và mao mạch bạch huyết:

    Mao mạch máu

    Mao mạch là do các tiểu động mạch phân nhánh tạo thành. Chúng là cầu nối giữa động mạch và tĩnh mạch, là những mạch máu rất nhỏ dài và mỏng với độ dày khoảng 0,5 µm tạo thành một lớp tế bào nội mô. Ngay đầu mao mạch có vòng tiền mao mạch nhằm kiểm soát lượng máu đi vào mao mạch.

    Giữa những tế bào mao mạch có các lỗ nhỏ với đường kính từ 6nm đến 7nm để tăng cường khả năng trao đổi chất. Bên cạnh đó, trong tế bào nội mô còn chứa các bọc ẩm bào hỗ trợ quá trình trao đổi chất. Trong cấu tạo mạch máu, có đến gần 10.000 triệu mao mạch tại nhiều vị trí khác nhau.

    Mao mạch là nơi diễn ra quá trình trao đổi chất

    Mao mạch bạch huyết

    Vai trò chính của những mao mạch bạch huyết là khả năng duy trì cân bằng thể dịch, biến lượng máu bị thoát ra từ mao mạch trở thành bạch huyết. Các mao bạch huyết xuất hiện tại hầu hết các mô trừ tủy xương, thần kinh trung ương, sụn, biểu bì, giác mạc. So với mao mạch máu, mao mạch bạch huyết không bao gồm lớp màng nền cũng như các tế bào biểu mô đơn giản nhưng khả năng thẩm thấu lại cao hơn và có khuynh hướng hoạt động như van mở một chiều.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Máy Khoan Đứng Và An Toàn Khi Sử Dụng
  • Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Máy Khoan Cầm Tay
  • Cấu Tạo Của Máy Khoan Bàn Và Hướng Dẫn Sử Dụng Khoan Bàn
  • Chi Tiết Nguyên Lý Hoạt Động Của Máy Phát Điện 3 Pha
  • Máy Điện Một Chiều Là Gì? Phân Loại, Công Dụng, Cấu Tạo
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Hệ Mạch

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Phát Triển Não Bộ Của Thai Nhi
  • 5 Sự Thật Về Việc Phát Triển Trí Não Ở Thai Nhi
  • Bổ Sung Gì Để Hỗ Trợ Phát Triển Trí Não Thai Nhi?
  • Dinh Dưỡng Giúp Não Thai Nhi Phát Triển Đều Từng Tháng
  • Hút Cần Sa Trong Thai Kỳ Làm Ảnh Hưởng Đến Trí Nhớ, Tính Cách Của Trẻ
  • Cấu tạo và chức năng của hệ mạch

    1. Cấu tạo và chức năng của động mạch

    Ðộng mạch có chức năng đưa máu từ tim đến các mao mạch toàn cơ thể. Hệ động mạch gồm các ống dẫn đàn hồi và có sức cản cao. Từ động mạch chủ, các mạch máu được phân nhánh ngày càng nhỏ dần, càng xa tim, thiết diện của mỗi động mạch càng nhỏ, nhưng thiết diện của hệ động mạch càng lớn, vận tốc máu càng xa tim càng giảm.

    Thành động mạch có 3 lớp: lớp trong là lớp tế bào nội mạc; lớp giữa chứa các tế bào cơ trơn và các sợi đàn hồi, tỉ lệ giữa sợi cơ trơn và sợi đàn hồi thay đổi theo từng loại động mạch; lớp ngoài là tổ chức liên kết , có các sợi thần kinh, ở những động mạch lớn có cả mạch máu nuôi dưỡng thành động mạch.

    Máu lưu thông trong mạch máu tuân theo những quy luật huyết động học. Ðó là những quy luật thủy động học được áp dụng vào máu và mạch máu. Những quy luật thường được đề cập tới khi nghiên cứu về tuần hoàn máu trong mạch máu. Ở đây nói về định luật Poiseulle:

    – Ðịnh luật Poiseulle: khi một chất lỏng chảy trong một ống hình trụ, nằm ngang có một tiết diện hằng định thì lưu lượng giữa hai điểm trên ống tỷ lệ thuận với hiệu số áp lực và bình phương tiết diện của ống, tỷ lệ nghịch với chiều dài giữa hai điểm và độ quánh của chất lỏng.

    – Ứng dụng định luật trên đối với hệ thống mạch máu:

    Ở người và động vật bậc cao, áp lực của máu ở tĩnh mạch chủ trên đổ vào tâm nhĩ phải gần như = 0. Do đó Q= P/R hay P = Q.R

    Như vậy áp lực máu tại động mạch tỷ lệ thuận với lượng máu đổ vào động mạch trong đơn vị thời gian và sức cản ngoại vi. Còn sức cản đối với dòng máu tại một điểm nào đó trong hệ mạch bao giờ cũng phụ thuộc vào chiều dài của đoạn mạch (tính từ tim đến điểm đó), vào độ quánh của máu và kích thước của lòng mạch.

    Các mạch máu có tính giãn nở, đó là khả năng của mạch giãn phình ra tùy theo sự thay đổi áp suất trong lòng mạch. Ở động mạch chủ, tim đập ngắt quãng, nhờ tính đàn hồi, máu vẫn chảy liên tục. Trong thời kỳ tâm thu, máu được tống vào động mạch với áp suất lớn khiến cho nó giãn ra, lúc này thành mạch nhận được một thế năng. Trong kỳ tâm trương, mạch máu trở lại trạng thái ban đầu, do thế năng của thành động mạch chuyển thành động năng đẩy máu, làm cho máu chảy liên tục. Khả năng đàn hồi giảm theo tuổi, do sự tăng độ cứng thành mạch

    Lớp cơ trơn của thành mạch được chi phối bởi thần kinh, có thể chủ động thay đổi đường kính, nhất là ở các tiểu động mạch. Ðặc tính này khiến lượng máu được phân phối đến cơ quan tùy theo nhu cầu.

    Huyết áp (HA) là áp suất máu trong động mạch. Máu chảy được trong động mạch là kết quả của hai lực đối lập, lực đẩy máu của tim và lực cản của mạch máu, trong đó lực đẩy máu của tim thắng nên máu chảy được trong động mạch với một tốc độ và áp suất nhất định. Huyết áp trước đây được đo bằng đơn vị milimet thủy ngân (mmHg). Ngày nay, đơn vị đo lường quốc tế hệ SI (système international) khuyên dùng đơn vị kilopascal (kPa), 1mmHg = 0,133 kPa và 7,5mmHg = 1 kPa.

    Còn gọi là huyết áp tâm thu, thể hiện khả năng co bóp của tim, là giới hạn cao nhất của những dao động có chu kỳ của huyết áp. Huyết áp tối đa thay đổi tùy tuổi, thường từ 90-140mmHg.

    Còn gọi là huyết áp tâm trương, thể hiện sức căng của thành mạch, là giới hạn thấp nhất của những dao động có chu kỳ của huyết áp. Huyết áp tối thiểu thay đổi từ 50-90mmHg.

    Là chênh lệch giữa huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu, là điều kiện cần cho tuần hoàn máu. Bình thường khoảng 50mmHg.

    Là trung bình của tất cả áp suất máu được đo trong một chu kỳ thời gian. Huyết áp trung bình gần với huyết áp tâm trương hơn huyết áp tâm thu trong chu kỳ hoạt động của tim.

    HA trung bình = HA tâm trương + 1/3 HA hiệu số

    Huyết áp động mạch giảm ít từ động mạch lớn sang động mạch vừa vì kháng lực nhỏ, nhưng giảm nhanh trong các động mạch nhỏ và tiểu động mạch. Huyết áp trung bình ở cuối tiểu động mạch là 30-35mmHg. Huyết áp hiệu số chỉ còn 5mmHg.

    – Các yếu tố ảnh hưởng đến huyết áp

    Lưu lượng máu Q chảy qua một ống mạch chịu sự chi phối của hai yếu tố: hiệu áp suất giữa hai đầu ống (P1-P2 = P), là động lực đẩy máu qua ống và sức chống đối lại dòng chảy qua ống còn gọi là sức cản R (resistance) của hệ mạch.

    Theo định luật Ohm ta có :

    Q = P/R hay R = Q x P

    Sức cản R = 8ηl/π.r 4 cho nên ta có P = Q.R. Trong đó chiều dài hệ mạch là không đổi, như vậy HA phụ thuộc vào lưu lượng tim, tính chất của máu và bán kính mạch máu.

    + Lưu lượng tim : Q = Qs . f.

    Qs là khối lượng máu mỗi lần tim bóp tống ra (khoảng 70ml). f (tần số tim): số lần tim bóp trong 1 phút (khoảng 70 lần).

    Vậy Q = Qs x f = 70ml x 70 lần = 4900ml/phút.

    Khi tim co bóp mạnh, máu được đẩy vào động mạch nhiều hơn, thể tích tâm thu tăng do đó huyết áp cao hơn và ngược lại.

    Nhưng có khi tim đập chậm mà HA không giảm, gặp ở người tập luyện thể thao. Ví dụ: Tim đập chậm 50 lần nhưng Qs =100ml , do đó Q = 5000ml.

    Ðộ quánh của máu cũng là một yếu tố quan trọng quyết định HA, nếu độ quánh giảm thì HA hạ, đó là trường hợp của người bị bệnh thiếu máu, do thiếu protein trong huyết tương và thiếu cả hồng cầu, do đó độ quánh giảm. Trường hợp mất máu, do bị chảy máu nặng, làm cho V giảm, cơ thể sẽ rút nước gian bào để bù V hoặc do truyền dịch để bù V, độ quánh bị giảm nên HA giảm.

    Có trường hợp độ quánh tăng, nhưng HA vẫn giảm, gặp trong mất nước như nôn mửa nhiều, tiêu chảy nặng làm cho V giảm, lúc này máu bị cô đặc làm cho độ quánh tăng, nhưng V giảm, vì vậy HA giảm.

    Mạch giãn thì HA hạ, mạch co thì HA tăng. Ở người cao tuổi, mạch máu kém đàn hồi, sức cản R tăng, khiến cho huyết áp cao.

    – Những biến đổi sinh lý của huyết áp

    + Theo tuổi: Trẻ càng nhỏ huyết áp động mạch càng thấp, càng về già huyết áp càng cao theo mức độ xơ cứng động mạch.

    + Theo giới: Huyết áp ở phụ nữ thường thấp hơn so với nam giới cùng lứa tuổi khoảng 6 mmHg.

    + Thay đổi theo trọng lực: Ở vị trí đứng thẳng, huyết áp trung bình của động mạch ngang tim là 100mmHg, do ảnh hưởng của trọng lực, động mạch ở cao hơn tim 1cm thì huyết áp giảm 0,77mmHg, thấp hơn tim 1cm thì huyết áp tăng 0,77mmHg.

    + Thay đổi theo chế độ ăn: Ăn nhiều đạm, ăn mặn thì huyết áp tăng.

    + Thay đổi theo nhịp sinh học: HA thay đổi theo ngày đêm như hình sin. HA thường hạ vào sáng sớm tăng dần đến trưa rồi chiều giảm.

    + Vận động: Khi vận động, huyết áp tăng do sự đáp ứng của cơ thể đối với hoạt động thể lực lúc đầu, sau đó huyết áp giảm dần nhưng vẫn cao hơn bình thường. Trường hợp huyết áp giảm trong vận động nặng, thường do khả năng bơm máu của tim không đủ hiệu lực. Ở người có rèn luyện, trị số huyết áp thường thấp, cũng như nhịp tim thấp hơn so với người bình thường không rèn luyện.

    2. Ðặc điểm cấu trúc chức năng tĩnh mạch

    Hệ tĩnh mạch bắt nguồn từ mao mạch, kể từ khi thành mao mạch có cơ trơn là đó là tiểu tĩnh mạch. Thiết diện của một tĩnh mạch càng về gần tim càng lớn, tổng thiết diện của cả hệ tĩnh mạch lớn hơn hệ động mạch. Mỗi động mạch lớn thường có hai tĩnh mạch đi kèm. Trên đường đi của hệ tĩnh mạch có các xoang tĩnh mạch.

    Thành tĩnh mạch có 3 lớp như động mạch nhưng mỏng và dễ giãn rộng hơn:

    – Lớp trong cùng là lớp tế bào nội mạc với từng đoạn nhô ra tạo thành những nếp gấp hình bán nguyệt đối diện nhau làm thành van tĩnh mạch hướng cho máu chảy một chiều về tim. Các van tĩnh mạch có ở các tĩnh mạch chi, không có van ở các tĩnh mạch nhỏ, tĩnh mạch từ não hoặc từ các tạng.

    – Lớp giữa gồm những sợi liên kết và sợi cơ, sợi cơ vòng và dọc đan lẫn với sợi mô liên kết.

    – Lớp ngoài mỏng gồm những sợi liên kết chun giãn.

    Do cấu trúc như trên, tĩnh mạch có tính giãn cao, có thể chứa một lượng máu lớn với sự thay đổi ít áp lực bên trong. Ở một thời điểm nào đó, khoảng 65% thể tích máu toàn bộ được chứa trong tĩnh mạch so với 20% trong hệ thống động mạch. 3.3.2.1. Nguyên nhân của tuần hoàn tĩnh mạch

    Tim bơm máu vào vòng tuần hoàn lớn, tạo nên huyết áp. Huyết áp giảm dần từ động mạch qua mao mạch đến tĩnh mạch huyết áp giảm rất nhiều, nhưng cũng đủ đưa máu trở về tim. Trong thời kì tâm thất thu, áp suất tâm nhĩ giảm xuống đột ngột do van nhĩ – thất bị hạ xuống về phía mỏm tim làm buồng nhĩ giãn rộng, tác dụng này làm hút máu từ tĩnh mạch trở về tâm nhĩ.

    Một số tĩnh mạch có chứa các van, có chức năng giống van tim. Van là những nếp lớn trong thành tĩnh mạch, chỉ cho phép máu chảy một chiều về tim. Các van chủ yếu ở trong các tĩnh mạch chi.

    Khi cử động, sự co của các cơ xung quanh, ép vào tĩnh mạch, phối hợp với các van khiến cho máu chảy về tim. Do đó sự vận cơ giúp máu về tim tốt hơn. Khi các van suy yếu, sẽ ứ máu ở tĩnh mạch gây phù.

    Khi hít vào, cơ hoành hạ thấp, các tạng trong bụng bị ép, áp suất tăng lên và ép máu về tim. Ðồng thời, áp suất trong lồng ngực càng âm hơn ( từ -2,5mmHg đến -6mmHg), khiến cho áp suất tĩnh mạch trung ương dao động từ 6mmHg thì thở ra đến gần 2mmHg khi hít vào. Sự giảm áp suất này làm tăng lượng máu trở về tim phải.

    – Ảnh hưởng của trọng lực

    Ở tư thế đứng trọng lực có ảnh hưởng tốt tới tuần hoàn tĩnh mạch ở trên tim và lại không thuận lợi cho tuần hoàn tĩnh mạch ở bên dưới tim.

    Máu chảy trong tĩnh mạch là do các nguyên nhân của tuần hoàn tĩnh mạch. Máu chảy trong tĩnh mạch có một áp suất gọi là huyết áp tĩnh mạch. Huyết áp tĩnh mạch được đo bằng áp kế nước và có trị số thấp, áp suất máu trong tĩnh mạch khuỷu tay là 12 cmH20, ở tĩnh mạch trung tâm nơi tĩnh mạch chủ đổ về tâm nhĩ phải có giá trị thấp bằng trong tâm nhĩ phải là 0 mmHg.

    Huyết áp tĩnh mạch tăng thường gặp trong suy tim phải hoặc suy tim toàn bộ hoặc khi có trở ngại trên đường máu trở về tim, có khi lên đến 20 cmH 2 0.

    Huyết áp tĩnh mạch giảm trong shock vì mao mạch giãn rộng, chứa một lượng máu lớn.

    3. Ðặc điểm cấu trúc chức năng của mao mạch

    Các tiểu động mạch phân nhánh thành các mao mạch, các mao mạch tạo thành những mạng đi vào tổ chức. Hệ mao mạch gồm các mao mạch thực sự, là những mạch máu dài và mỏng (thành dày 0,5μm, đường kính mao mạch 8μm). Ðầu mao mạch có cơ vòng tiền mao mạch, kiểm soát lượng máu đi vào mao mạch. Thành mao mạch là lớp tế bào nội mô, bên ngoài là màng đáy. Giữa các tế bào nội mô có những khe nhỏ đi xuyên qua thành mao mạch, đường kính khoảng 6-7nm, không cho các chất có phân tử lượng lớn hơn 35000 đi qua, như thế các thế các protein của máu bình thường không qua được thành mao mạch. Phần lớn nước và chất điện giải có thể đi qua khe dễ dàng.

    Ngoài những mao mạch thực sự, còn có những luôn mở gọi là kênh ưu tiên, nối giữa tiểu động mạch và tiểu tĩnh mạch, như vậy máu từ động mạch luôn đi sang tĩnh mạch theo kênh ưu tiên. Khi cơ thắt tiền mao mạch co lại máu chủ yếu đi theo kênh này, khi cơ thắt tiền mao mạch mở ra thì máu đi qua những mao mạch thực sự (hình 3.7).

    Máu chảy trong mao mạch là do sự chênh lệch áp suất từ tiểu động mạch đến tiểu tĩnh mạch. Huyết áp giảm rất thấp khi qua mao mạch (10mmHg), đến tiểu tĩnh mạch chỉ còn 10-15mmHg. Trong trường hợp bệnh lý, mao mạch giãn ra, huyết áp thấp hơn huyết áp tĩnh mạch, máu sẽ bị ứ lại trong mao mạch, huyết tương thấm qua mao mạch, gây phù.

    Lưu lượng máu qua mao mạch tùy thuộc vào sự hoạt động của tổ chức đó và được điều hòa bởi cơ thắt tiền mao mạch cũng như sức cản của động mạch nhỏ và tiểu động mạch đến tổ chức. Khi nghỉ ngơi, các cơ thắt này chỉ mở 5-10% các mao mạch để cho máu đi qua, trái lại khi hoạt động (co cơ), máu tràn ngập mao mạch.

    Máu không chảy liên tục qua mạng mao mạch mà thường ngắt quãng, do sự co, giãn của cơ thắt tiền mao mạch và cơ trơn thành mao mạch. Trong các mao mạch nhỏ hồng cầu phải biến dạng để đi qua mao mạch, do đó có những đoạn của mao mạch chỉ có hồng cầu, có những đoạn chỉ có huyết tương. Máu chảy qua mao mạch rất chậm, tốc độ < 0,1 cm/giây, điều này thuận lợi cho sự trao đổi chất.

    Sự trao đổi chất diễn ra ở các mao mạch thực sự. Có 5% tổng lượng máu (khoảng 250ml) ở hệ mao mạch tham gia trao đổi chất.

    Dưỡng chất, oxy và những chất khác trong máu sẽ đi qua thành mao mạch, vào dịch kẽ, rồi vào tế bào. Tế bào thải các chất theo hướng ngược lại. Sự qua lại này được thực hiện theo 3 con đường: khuếch tán, vận chuyển theo lối ẩm bào và sự lọc.

    Những chất có trọng lượng phân tử tương đối lớn như các protein không hòa tan trong mỡ, không thể qua các lỗ của thành mao mạch mà được vận chuyển bởi các bọc ẩm bào.

    Cách thức trao đổi qua mao mạch quan trọng nhất là sự khuếch tán đơn giản. Các chất như oxy, carbonic, glucose, acid amin, hormon và những chất khác khuyếch tán qua thành mao mạch theo sự chênh lệch nồng độ. Các chất hòa tan trong lipid như oxy, carbonic và ure đi qua trực tiếp màng bào tương của tế bào nội mạc, các chất ít hòa tan trong lipid như Na+, K+, Cl và glucose khuếch tán qua các lỗ giữa tế bào nội mô.

    Nước và các chất hòa tan đi qua các lỗ giữa tế bào nội mạc bằng sự lọc, phụ thuộc vào sự chênh lệch áp suất giữa trong và ngoài mao mạch. Mặc dù cách thức trao đổi này tương đối bé (ngoại trừ ở thận), nhưng quan trọng duy trì thể tích máu tuần hoàn. Sự trao đổi này phụ thuộc vào áp suất thủy tĩnh và áp suất keo.

    – Áp suất thủy tĩnh (Pc), tức huyết áp, có khuynh hướng đẩy nước và các chất hòa tan từ máu sang dịch kẽ, trị số thay đổi từ 32mmHg ở mao động mạch đến 15mmHg mao tĩnh mạch.

    Áp suất thủy tĩnh dịch kẽ (Pi) thường bằng 0.

    – Áp suất keo huyết tương (πc), phụ thuộc protein huyết tương, tác dụng kéo nước và các chất hòa tan vào trong mao mạch. Bình thường khoảng 28mmHg.

    Áp suất keo dịch kẽ (πi), trị số này rất nhỏ khoảng 1mmHg.

    Sự di chuyển của chất dịch, còn gọi là áp lực lọc thực sự, tại mao mạch được tính như sau :

    Sự di chuyển dịch = k (Pc + πi) – (Pi + πc )

    K là hệ số lọc của mao mạch (0,08-0,015 ml/ph/mmHg 100g mô).

    Áp lực lọc dương tính thì dịch sẽ bị đẩy từ mao mạch ra khoảng kẽ, ngược lại, nếu âm thì dịch được tái hấp thu trở lại vào mao mạch.

    Như vậy, ở mao động mạch ta có : (32+ 1) – (28+0) = 5 và dịch sẽ di chuyển từ máu vào mô, và tương tự, ở mao tĩnh mạch áp lực lọc là -12mmHg, do đó dịch được vận chuyển từ dịch kẽ vào máu.

    Mỗi ngày, trung bình 24 lít dịch được lọc qua mao mạch (chiếm 0,3% lưu lượng tim); 85% dịch lọc được tái hấp thu trở lại mao mạch, còn lại qua hệ bạch huyết về tim.

    Bất kỳ nguyên nhân nào gây thay đổi áp suất ở mao mạch hoặc áp suất keo đều biểu hiện bệnh lý. Ví dụ: HA mao mạch tăng do bị cản trên đường về tim thì nước bị đẩy ra dịch kẽ gây phù, hoặc protid máu giảm nước cũng thoát ra khỏi mao mạch gây phù.

    Theo GTSLĐV&Người

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Thuyết Hoạt Động Của Hệ Mạch Sinh 11
  • Cấu Tạo Tế Bào Sinh Vật Nhân Thực(Tiếp)
  • Nguyên Nhân Và Biện Pháp Khắc Phục Máy Lạnh Âm Trần Chạy Không Lạnh Hoặc Kém Lạnh
  • Để Phòng Tránh Máy Lạnh Hư Block Cần Biết Những Điều Này
  • Từ Vựng Ta Chuyên Ngành Điện Lạnh
  • Mạch Máu: Đặc Điểm, Cấu Tạo, Có Mấy Loại, Chức Năng Và Các Bệnh Thường Gặp

    --- Bài mới hơn ---

  • Máu Là Gì ? Bao Gồm Những Thành Phần Gì
  • Phân Loại Lõi Lọc Nước Theo Cấu Tạo Và Mức Độ Làm Sạch
  • Chức Năng Các Lõi Lọc Trong Máy Lọc Nước Karofi
  • Chức Năng Và Thành Phần Của Máu
  • Màng Trinh Của Con Gái Có Cấu Tạo Ra Sao
  • Ai cũng có hệ thống mạch máu để nuôi dưỡng cơ thể. Hệ thống mạch máu là một phần của hệ tuần hoàn, nó có dạng ống, nối tiếp nhau hợp thành hệ thống kín dẫn máu từ tim nuôi dưỡng đến các cơ quan trong cơ thể sau đó lại quay trở về tim, kết thúc một vòng tuần hoàn. Hệ thống mạch máu trong cơ thể có chức năng vận chuyển nước, oxy, CO2, các chất dinh dưỡng đến các cơ quan trong cơ thể.

    Máu đi từ tim trong các động mạch, phân nhánh thành các mạch nhỏ hơn và nhỏ hơn, cuối cùng trở thành tiểu động mạch. Các tiểu động mạch kết nối với các mạch máu nhỏ hơn gọi là mao mạch.

    Thông qua các bức tường mỏng của mao mạch, oxy và chất dinh dưỡng truyền từ máu vào các mô và các chất thải chuyển từ các mô vào máu. Từ các mao mạch, máu đi vào tĩnh mạch, sau đó vào tĩnh mạch để trở về tim.

    Động mạch và tiểu động mạch có thành cơ tương đối dày vì huyết áp trong đó cao và vì chúng phải điều chỉnh đường kính để duy trì huyết áp và kiểm soát lưu lượng máu.

    Tĩnh mạch và tĩnh mạch có thành mỏng hơn, ít cơ hơn so với động mạch và tiểu động mạch, phần lớn là do áp lực trong tĩnh mạch và tĩnh mạch thấp hơn nhiều. Tĩnh mạch có thể giãn ra để phù hợp với lượng máu tăng lên.

    Các động mạch, mạnh mẽ, linh hoạt và kiên cường, mang máu ra khỏi tim và chịu áp lực máu cao nhất. Bởi vì các động mạch có tính đàn hồi, chúng thu hẹp (giật lại) một cách thụ động khi tim đang thư giãn giữa các nhịp đập và do đó giúp duy trì huyết áp .

    Các động mạch phân nhánh thành các tàu nhỏ hơn và nhỏ hơn, cuối cùng trở thành các tàu rất nhỏ gọi là tiểu động mạch. Động mạch và tiểu động mạch có thành cơ có thể điều chỉnh đường kính của chúng để tăng hoặc giảm lưu lượng máu đến một bộ phận cụ thể của cơ thể.

    Mao mạch là những mạch nhỏ, cực mỏng, đóng vai trò là cầu nối giữa các động mạch (mang máu ra khỏi tim) và tĩnh mạch (đưa máu trở lại tim). Các thành mỏng của mao mạch cho phép oxy và chất dinh dưỡng đi từ máu vào các mô và cho phép các chất thải đi từ các mô vào máu.

    Máu chảy từ mao mạch vào các tĩnh mạch rất nhỏ gọi là tĩnh mạch, sau đó chảy vào tĩnh mạch dẫn trở lại tim. Tĩnh mạch có thành mỏng hơn nhiều so với động mạch, phần lớn là do áp lực trong tĩnh mạch thấp hơn rất nhiều. Tĩnh mạch có thể mở rộng (giãn) khi lượng chất lỏng trong chúng tăng lên.

    Một số tĩnh mạch, đặc biệt là tĩnh mạch ở chân, có van trong đó, để ngăn máu chảy ngược. Khi các van này bị rò rỉ, dòng chảy ngược của máu có thể khiến các tĩnh mạch bị giãn ra và trở nên dài ra và bị co lại (quanh co). Các tĩnh mạch kéo dài, quanh co gần bề mặt của cơ thể được gọi là giãn tĩnh mạch .

    Mạch máu giúp việc trao đổi nước và các chất dinh dưỡng giữa cơ quan chủ lực là tim và các mô. Các tĩnh mạch mang máu từ các mao mạch trở về tim để nuôi dưỡng và tiếp tục vòng tuần hoàn đi đến các cơ thể.

    Đoạn động mạch chủ được coi là phình khi đường kính của ống động mạch tăng 50% so với đoạn động mạch chủ ở trạng thái bình thường ngay phía trên nó. Khi gặp phải bệnh lý phình động mạch chủ, người bệnh sẽ thuờng gặp nhất biểu hiện là đau ngực. Khi có đau ngực, bệnh nhân thường đã có biến chứng như lóc tách động mạch chủ hoặc khối phình dọa vỡ, lúc đó việc điều trị rất nguy hiểm.

    Theo năm tháng, các chất béo, cholesterol và các chất khác cặn lắng đọng vào thành mạch (gọi là mảng xơ vữa) gây hẹp lòng mạch, cản trở dòng máu lưu thông. Đó gọi là bệnh xơ vữa động mạch khiến mạch máu bị tắc.

    Khi mảng xơ vữa nứt vỡ sẽ tạo ra các cục máu đông gây lấp kín thành mạch không cho máu di chuyển. Chúng gần như là nguyên nhân gây ra các trường hợp khẩn cấp như: nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, tắc mạch chi…

    Tập luyện đều đặn không chỉ giúp tăng cường sức khỏe mà còn lưu thông máu tốt hơn, giảm rủi ro mắc các bệnh tim mạch. Nó còn giúp bạn kiểm soát cân nặng, giảm hàm lượng mỡ máu, và kiềm chế căng thẳng tốt hơn.

    Chỉ cần những bài tập nhẹ nhàng hay những môn thể thao đơn giản như chạy bộ, bơi lội, đạp xe cũng giúp bạn lưu thông máu dễ dàng.

    Mát xa giúp các cơ được co giãn, thả lỏng và các mạch máu cũng được nới lỏng lưu thông đi khắp cơ thể. Mát xa chân cũng là một cách rất tuyệt và dễ dàng để tăng cường lưu thông máu tại chân, giúp máu chuyển tới ngón chân.

    Tạp chí Giám sát Y khoa đã công bố báo cáo về việc mát-xa thúc đẩy máu lưu thông và giúp giảm đau lưng, đau chân hay tay những cơ quan vận động trong cơ thể. Tác dụng của việc chà xát trên da giúp tăng nhiệt độ cơ thể, thúc đẩy máu lưu thông tới các khu vực được mát xa.

    Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra: quá nhiều cà phê có thể ảnh hưởng tới lưu thông máu lên não. Họ công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí Bản đồ Não bộ, chỉ ra rằng việc uống đều đặn quá nhiều cà phê có thể gây tác động tiêu cực lên lượng máu bơm lên não, làm tăng huyết áp và nhịp tim.

    Chúng ta đều biết rằng ăn quá mặn đều ảnh hưởng lên huyết áp và bệnh tim. Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã phát hiện ra rằng muối còn ảnh hưởng tới lượng máu lưu thông trong lòng mạch.

    Tiến sĩ Jennifer Keogh trên WebMD khuyến cáo người dân ăn nhạt để máu lưu thông thuận lợi và tăng cường sức khỏe huyết quản.

    Với những thông tin Zicxa Việt Nam chia sẻ trên các bạn đã hiểu về vị trí cấu tạo cũng như chức năng của các mạch máu trong cơ thể mình. Máu là một phần không thể thiếu của cơ thể vì thế hãy tập luyện để máu lưu thông một cách tốt nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Hỏi Của Nguyễn Trung Kiên
  • Tính Chất Hoá Học, Công Thức Cấu Tạo Của Lipit (Chất Béo) Và Bài Tập
  • Công Thức Tính Nhanh Số Đồng Phân
  • Đề Tài Phương Pháp Xác Định Nhanh Số Lượng Đồng Phân Cấu Tạo Của Hợp Chất Hữu Cơ
  • Hóa Cho Sinh Học Công Thức Cấu Tạo, Tính Chất Và Ứng Dụng Của Glucose
  • Tìm Hiểu Vai Trò Của Máu Và Cấu Tạo Mạch Máu

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Của Mạch Máu Trên Cơ Thể Người Có Gì Đặc Biệt?
  • Các Thành Phần Của Máu, Lượng Máu Trong Cơ Thể Người Bình Thường Là Bao Nhiêu?
  • Mạch Máu Là Gì Và Có Mấy Loại?
  • Giải Phẫu Học Và Chức Năng Của Não Bộ
  • Cấu Tạo Nơron (Tế Bào Thần Kinh)
  • Mạch máu là gì?

    Mạch máu là một bộ phận quan trọng của hệ tuần hoàn. Trong đó, cấu tạo mạch máu là một hệ thống kín bao gồm nhiều ống dẫn với kích thước khác nhau để truyền máu từ tim đến các cơ quan trong cơ thể sau đó trở ngược lại tim. Trong cơ thể, hệ thống mạch máu chia thành ba loại mạch khác nhau bao gồm: động mạch, mao mạch và tĩnh mạch. Mỗi loại đảm nhận một chức năng riêng và phối hợp nhịp nhàng với nhau để đảm bảo hoạt động sống diễn ra bình thường.

    Cấu tạo chung của một mạch máu

    Thông thường, một mạch máu thường được chia thành 5 lớp

    Lớp áo trong

    • Lớp nội mô: tạo bề mặt trơn phẳng, có khả năng tiết collagen cùng nhiều yếu tố khác
    • Lớp dưới nội mô: các mô có liên kết khá lỏng và rời rạc những tế bào cơ trơn, bên dưới có màng ngăn chun trong.

    Lớp có cấu tạo dày nhất trong các lớp của mạch máu với cấu tạo kết hợp từ nhiều lớp cơ trơn theo dạng xoắn ốc, các sợi đàn hồi, collagen type III và proteoglycan.

    Lớp áo ngoài

    Lớp ngoài cùng của cấu tạo mạch máu là những tế bào nguyên sợi và sợi collagen type I

    Mạch màng huyết quản

    Lớp có chức năng cung cấp liên tục dưỡng chất cần thiết cho lớp áo ngoài và lớp áo giữa

    Thần kinh vận mạch

    Có khả năng giao cảm và chi phối những tế bào cơ trơn của mạch máu, theo đó, thần kinh giao cảm sau mạch có nhiệm vụ co mạch khối cơ trơn làm giảm đường kính lòng mạch.

    Cấu tạo mạch máu được phân làm mấy loại?

    Mạch máu được chia làm 3 loại cơ bản bao gồm động mạch, mao mạch và tĩnh mạch. Trong đó, mỗi loại sẽ có đặc điểm cấu tạo và chức năng khác nhau. Cụ thể:

    Nhiệm vụ chính của động mạch là dẫn máu từ tim đến tất cả các mao mạch của cơ thể. Máu từ động mạch chính được bơm đến động mạch nhỏ, và tiếp tục truyền sang những tiểu động mạch để đến các mô cũng như điều phối đến các mao mạch để nuôi cơ thể.

    Máu sau khi đến mao mạch, tùy theo nhu cầu từng bộ phận sẽ tiếp tục được truyền đến tiểu tĩnh mạch, đến đây là kết thúc “lượt đi”. Tất cả lượng máu sau khi tập trung về tiểu tĩnh mạch sẽ tập trung thành tĩnh mạch lớn sau đó được dẫn về tim.

    Mao mạch là những mạch liên kết giữa động mạch và tĩnh mạch, là nơi diễn ra quá trình trao đổi chất dinh dưỡng, oxy, CO2,…Thông thường mao mạch chỉ gồm một lớp tế bào nội mô và có thêm các lỗ nhỏ, đồng thời tốc độ máu chảy qua mao mạch cũng chậm hơn bình thường để đảm bảo cho chức năng hấp thu dưỡng chất tốt nhất.

    Chức năng của máu

    Máu bao gồm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu và huyết tương, đây là thành phần không thể thiếu cho sự sống. Luôn lưu giữ một lượng nhất định trong cơ thể, máu đảm nhận những chức năng sau:

    Vận chuyển và nuôi dưỡng

    Máu vận chuyển O2 từ phổi đến tế bào và vận chuyển CO2 từ tế bào về phổi. Đồng thời máu giúp cung cấp chất dinh dưỡng từ cơ quan tiêu hóa đến các bộ phận trong cơ thể. Nhờ sự di chuyển của máu, các axit amin, chất béo, glucose được cung cấp đầy đủ cho các tế bào. Ngoài ra, máu cũng thực hiện công việc ngược lại, làm trung gian vận chuyển chất thải đến cơ quan bài tiết. Bên cạnh đó, máu cũng giúp điều hòa nhiệt độ bằng cách tống nhiệt khỏi cơ thể khi đưa chúng đến hệ thống dưới da,…

    Bảo vệ và điều hòa cơ thể

    Chức năng bảo vệ cơ thể của máu được thực hiện thông qua các tế bào bạch cầu. Đây là thành phần có vai trò hỗ trợ cầm máu và làm lành vết thương, kháng lại các yếu tố gây hại, bảo vệ cơ thể. Không những thế, do có chứa thành phần hormone có khả năng điều hòa quá trình trao đổi chất, máu thực hiện tốt việc điều hòa cơ thể, điều hòa các hoạt động.

    Nói chung, máu có vai trò quan trọng đối với sự sống và cấu tạo mạch máu là một hệ thống khép kín và khá phức tạp. Để đảm bảo hoạt động các mạch máu diễn ra bình thường, bạn nên thường xuyên luyện tập thể thao và ăn uống đầy đủ dinh dưỡng. Bên cạnh đó, có thể bổ sung các sản phẩm thực phẩm chức năng để tăng cường chức năng tuần hoàn máu, ngăn chặn nguy cơ tai biến hay gặp ở người có tiền sử bệnh từ trước hoặc đang gặp phải các vấn đề về sức khỏe.

    THÔNG TIN LIÊN HỆ

    • Công Ty Cổ Phần NESFACO
    • Địa chỉ:Tòa nhà GIC, Lầu 1, 228B Bạch Đằng, P.24, Q.Bình Thạnh, TP.HCM
    • Hotline:093 878 6025 – 1900 633 004
    • Website:Nesfaco.com
    • Email:[email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thành Phần Của Máu Và Cấu Tạo Của Máu
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Màng Sinh Chất
  • Những Điều Cần Biết Về Màng Sinh Chất Của Tế Bào: Cấu Tạo, Vai Trò
  • Màng Sinh Chất (Màng Tế Bào)
  • Tìm Hiểu Về Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Máy Lạnh
  • Phân Tích Những Đặc Điểm Phù Hợp Giữa Cấu Tạo Và Chức Năng Của Mỗi Loại Mạch Máu

    --- Bài mới hơn ---

  • Máu Và Chức Năng Của Máu
  • Nêu Đặc Điểm Cấu Tạo Của Tim Phù Hợp Với Chức Năng Của Tim Đảm Nhận
  • Cách Vẽ Sơ Đồ Trong Word 2007, 2010, 2013, 2022, 2022 Siêu Đơn Giản
  • Sơ Đồ Cấu Tạo Của Máy Lọc Nước Tổng Đầu Nguồn
  • Sơ Đồ Cấu Tạo, Nguyên Lý Hoạt Động Máy Lọc Nước Ro
  • Phân tích những đặc điểm phù hợp giữa cấu tạo và chức năng của mỗi loại mạch máu?

    Đáp án:

    Hệ động mạch

    Động mạch có chức năng đưa máu từ tim đến các mao mạch toàn cơ thể. Động mạch chủ rời tim và phân thành những động mạch nhỏ hơn đến các vùng khác nhau của cơ thể. Các động mạch này lại phân thành những động mạch nhỏ hơn nữa, gọi là tiểu động mạch. Các tiểu động mạch đến mô, điều hòa phân phối máu vào mao mạch phù hợp với nhu cầu tổ chức.

    Đặc điểm cấu trúc chức năng

    Thành động mạch có 3 lớp:

    Lớp trong là lớp tế bào nội mạc, tiếp xúc với máu, tiếp đến là lớp cơ bản và lớp mô đàn hồi, gọi là lớp đàn hồi trong. Lớp tế bào nội mạc lót liên tục mặt trong của hệ tim mạch (tim và tất cả các mạch máu).

    Lớp giữa là lớp dày nhất, chứa các tế bào cơ trơn và các sợi đàn hồi. Cơ trơn được chi phối bởi hệ giao cảm làm thay đổi đường kính mạch máu.

    Lớp ngoài chủ yếu là những sợi collagen và sợi đàn hồi, ở động mạch vừa, một lớp đàn hồi ngoài ngăn giữa lớp ngoài và lớp giữa. Lớp ngoài nâng đỡ và bảo vệ mạch máu. Ởí động mạch lớn có mạch máu nuôi động mạch.

    Lớp giữa quyết định tính chất của động mạch, tùy theo tỉ lệ giữa sợi đàn hồi và tế bào cơ trơn. Các động mạch lớn như động mạch chủ, động mạch cảnh chung… thành mỏng, chứa nhiều sợi đàn hồi và ít cơ trơn, sự giãn của các sợi đàn hồi có khả năng dự trữ năng lượng, giúp máu chảy liên tục. Các động mạch vừa như động mạch phân đến cơ quan, thành dày hơn, chứa nhiều cơ trơn và ít sợi đàn hồi, do đó chúng có khả năng co hoặc giãn rất lớn để điều chỉnh lưu lượng máu đến cơ quan tùy theo nhu cầu.

    Hệ mao mạch

    Các mao mạch là nơi đảm bảo chức năng chính của hệ mạch, đó là nơi xảy ra sự trao đổi 02, C02, chất dinh dưỡng giữa máu và tổ chức. Để đảm bảo chức năng này, máu lưu thông chậm lại trong mạng lưới mao mạch, thêm nữa, các tế bào đều ở gần mao mạch. Có khoảng 10.000 triệu mao mạch và tổng diện tích trao đổi khoảng 500-700m2.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Cấu Tạo Và Chức Năng Các Loại Mạch Máu
  • Cấu Tạo Máy Khoan Đứng Và An Toàn Khi Sử Dụng
  • Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Máy Khoan Cầm Tay
  • Cấu Tạo Của Máy Khoan Bàn Và Hướng Dẫn Sử Dụng Khoan Bàn
  • Chi Tiết Nguyên Lý Hoạt Động Của Máy Phát Điện 3 Pha
  • Máu Và Chức Năng Của Máu

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Đặc Điểm Cấu Tạo Của Tim Phù Hợp Với Chức Năng Của Tim Đảm Nhận
  • Cách Vẽ Sơ Đồ Trong Word 2007, 2010, 2013, 2022, 2022 Siêu Đơn Giản
  • Sơ Đồ Cấu Tạo Của Máy Lọc Nước Tổng Đầu Nguồn
  • Sơ Đồ Cấu Tạo, Nguyên Lý Hoạt Động Máy Lọc Nước Ro
  • Sơ Đồ Cấu Tạo Của Máy Lọc Nước Tổng Đầu Nguồn.
  • Ý nghĩa sinh học và chức năng chung của máu

    Máu là một tổ chức liên kết đặc biệt gồm hai phần là huyết tương và các thành phần hữu hình. Huyết tương gồm nước và các chất hoà tan, trong đó chủ yếu là các loại prôtêin, ngoài ra còn có các chất điện giải, chất dinh dưỡng, enzym, hormon, khí và các chất thải. Thành phần hữu hình gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu.

    Máu lưu thông trong hệ mạch và có các chức năng chính như sau :

    – Máu vận chuyển oxy từ phổi đến các tế bào của cơ thể và ngược lại vận chuyển khí carbonic từ tế bào về phổi để được đào thải ra môi trường bên ngoài.

    – Vận chuyển chất dinh dưỡng từ ống tiêu hoá đến các tế bào và vận chuyển các sản phẩm đào thải từ quá trình chuyển hoá tế bào đến cơ quan đào thải.

    – Vận chuyển hormon từ tuyến nội tiết đến các tế bào đích.

    – Ngoài ra máu còn vận chuyển nhiệt ra khỏi tế bào đưa đến hệ thống mạch máu dưới da để thải nhiệt ra môi trường.

    2. Chức năng cân bằng nước và muối khoáng

    – Máu tham gia điều hoà pH nội môi thông qua hệ thống đệm của nó.

    – Ðiều hoà lượng nước trong tế bào thông qua áp suất thẩm thấu máu (chịu ảnh hưởng của các ion và prôtêin hoà tan trong máu).

    3. Chức năng điều hòa nhiệt

    Máu còn tham gia điều nhiệt nhờ sự vận chuyển nhiệt và khả năng làm nguội của lượng nước trong máu.

    – Máu có khả năng bảo vệ cơ thể khỏi bị nhiễm trùng nhờ cơ chế thực bào, ẩm bào và cơ chế miễn dịch dịch thể, miễn dịch tế bào.

    – Máu cũng có khả năng tham gia vào cơ chế tự cầm máu, tránh mất máu cho cơ thể khi bị tổn thương mạch máu có chảy máu.

    5. Chức năng thống nhất cơ thể và điều hòa hoạt động cơ thể

    – Máu mang các hormon, các loại khí O 2 và CO 2, các chất điện gíải khác Ca++, K+, Na+… để điều hòa hoạt động các nhóm tế bào, các cơ quan khác nhau trong cơ thể nhằm bảo đảm sự hoạt động đồng bộ của các cơ quan trong cơ thể.

    Bằng sự điều hòa hằng tính nội môi, máu đã tham gia vào điều hòa toàn bộ các chức phận cơ thể bằng cơ chế thần kinh và thần kinh-thể dịch.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Những Đặc Điểm Phù Hợp Giữa Cấu Tạo Và Chức Năng Của Mỗi Loại Mạch Máu
  • Phân Biệt Cấu Tạo Và Chức Năng Các Loại Mạch Máu
  • Cấu Tạo Máy Khoan Đứng Và An Toàn Khi Sử Dụng
  • Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Máy Khoan Cầm Tay
  • Cấu Tạo Của Máy Khoan Bàn Và Hướng Dẫn Sử Dụng Khoan Bàn
  • Vai Trò Của Máu Và Chức Năng Của Máu

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò, Thành Phần Và Chức Năng Của Máu Là Gì?
  • Các Chức Năng Của Môi Trường
  • Môi Trường Có Những Chức Năng Cơ Bản Nào?
  • Chức Năng Cơ Bản Của Môi Trường
  • Môi Trường Là Gì ? Vai Trò Của Môi Trường Là Gì ? Quy Định Pháp Luật Về Bảo Vệ Môi Trường ?
  • BTV

    Vai trò của máu và chức năng của máu, máu được xem là một phần không thể thiếu của cơ thể con người. Máu trong cơ thể người nhận có chức năng cung cấp các chất nuôi dưỡng và cấu…

    Vai trò của máu và chức năng của máu, máu được xem là một phần không thể thiếu của cơ thể con người. Máu trong cơ thể người nhận có chức năng cung cấp các chất nuôi dưỡng và cấu tạo các tổ chức cũng như loại bỏ các chất thải trong quá trình chuyển hóa của cơ thể.

    Máu là gì?

    Máu là một tổ chức di động được tạo thành từ thành phần hữu hình là các tế bào (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương. Chức năng chính của máu là cung cấp các chất nuôi dưỡng và cấu tạo các tổ chức cũng như loại bỏ các chất thải trong quá trình chuyển hóa của cơ thể như khí carbonic và acid lactic. Máu cũng là phương tiện vận chuyển của các tế bào (cả tế bào có chức năng bảo vệ cơ thể lẫn tế bào bệnh lý) và các chất khác nhau (các amino acid, lipid, hormone) giữa các tổ chức và cơ quan trong cơ thể. Các rối loạn về thành phần cấu tạo của máu hay ảnh hưởng đến sự tuần hoàn bình thường của nó có thể dẫn đến rối loạn chức năng của nhiều cơ quan khác nhau.

    Vai trò của máu và chức năng của máu: máu chiếm 1/3 cơ thể con người

    Vai trò của máu và chức năng của máu

    Máu lưu thông trong hệ mạch và có các chức năng chính như sau :

    Chức năng vận chuyển:

    Máu vận chuyển oxy từ phổi đến các tế bào của cơ thể và ngược lại vận chuyển khí carbonic từ tế bào về phổi để được đào thải ra môi trường bên ngoài.

    Vận chuyển chất dinh dưỡng từ ống tiêu hoá đến các tế bào và vận chuyển các sản phẩm đào thải từ quá trình chuyển hoá tế bào đến cơ quan đào thải.

    Vận chuyển hormon từ tuyến nội tiết đến các tế bào đích.

    Ngoài ra máu còn vận chuyển nhiệt ra khỏi tế bào đưa đến hệ thống mạch máu dưới da để thải nhiệt ra môi trường. 2. Chức năng cân bằng nước và muối khoáng

    Máu tham gia điều hoà pH nội môi thông qua hệ thống đệm của nó.

    Ðiều hoà lượng nước trong tế bào thông qua áp suất thẩm thấu máu (chịu ảnh hưởng của các ion và prôtêin hoà tan trong máu).

    Chức năng điều hòa nhiệt: Máu còn tham gia điều nhiệt nhờ sự vận chuyển nhiệt và khả năng làm nguội của lượng nước trong máu.

    Vai trò của máu và chức năng của má

    Chức năng bảo vệ: Máu có khả năng bảo vệ cơ thể khỏi bị nhiễm trùng nhờ cơ chế thực bào, ẩm bào và cơ chế miễn dịch dịch thể, miễn dịch tế bào.

    Máu cũng có khả năng tham gia vào cơ chế tự cầm máu, tránh mất máu cho cơ thể khi bị tổn thương mạch máu có chảy máu.

    Chức năng thống nhất cơ thể và điều hòa hoạt động cơ thể: Máu mang các hormon, các loại khí O2 và CO2, các chất điện gíải khác Ca++, K+, Na+… để điều hòa hoạt động các nhóm tế bào, các cơ quan khác nhau trong cơ thể nhằm bảo đảm sự hoạt động đồng bộ của các cơ quan trong cơ thể. Bằng sự điều hòa hằng tính nội môi, máu đã tham gia vào điều hòa toàn bộ các chức phận cơ thể bằng cơ chế thần kinh và thần kinh – thể dịch.

    Ít ai biết được trọng lượng máu toàn phần 1/13 thể trong của cơ thể. Ở người trưởng thành tỉ lệ này có chút thay đổi. Máu là nguồn gốc tạo các dịch lỏng khác như : Dịch bạch huyết, dịch kẽ tế bào, dịch não tủy, dịch màng bụng, màng phổi, màng khớp…Tất cả các dịch đó tạo thành nội môi , trong đó máu là thành phần quan trọng nhất .

    Máu gồm hai phần: Tế bào và huyết tương. Tế bào gồm hồng cầu (HC), bạch cầu (BC), tiểu cầu (TC). Huyết tương gồm các yếu tố đông máu, kháng thể, nội tiết tố, protein, muối khoáng và nước. Máu là tố chức lỏng lẻo điều hoà toàn bộ các hoạt động cơ thể nhờ các chức năng sau:

    Vai trò của máu và chức năng của máu: máu có nhiều nhóm khác nhau

    Điều hòa hoạt động tuần hoàn, duy trì huyết áp.

    Cung cấp oxy để sản xuất năng lượng cho toàn bộ cơ thể.

    Đào thải C02 qua phổi, đào thải nước – cặn bã qua đường nưóc tiểu, chuyển các chất về gan để tổng hợp chất mới và khử độc, đào thải qua mồ hôi, tiêu hủy tế bào già qua lách và tổ chức hên võng.

    Cung cấp nguyên liệu cho tạo dựng cơ thể.

    Bảo vệ cơ thể, chống nhiễm trùng bằng cơ chế miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu.

    Cầm máu bằng cơ chế đông máu.

    Ngay sau khi nhận được thông tin xuất hiện ổ dịch tả lợn châu Phi, lực lượng chức năng ở Thừa Thiên Huế tiến hành mổ khám, lấy mẫu bệnh phẩm và tiêu hủy lợn nhiễm bệnh ngay lập tức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khác Nhau Giữa Router Wifi Và Modem Wifi
  • Router Wifi Và Modem Wifi Khác Nhau Như Thế Nào, Cách Phân Biệt
  • Modem Là Gì? Modem Và Router Mạng Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Router, Modem Và Access Point
  • Định Nghĩa Modem Là Gì ?
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Nhân Tế Bào?
  • Cấu Tạo Vách Tế Bào Của Tế Bào Thực Vật
  • Trình Bày Đặc Điểm Cấu Tạo Và Chức Năng Các Thành Phần Của Tế Bào?
  • Bài Tập Chuyên Đề Aminoaxit Cực Hay Chuyen De Aminoaxit Doc
  • 30 Bài Tập Peptit Cơ Bản Chọn Lọc, Có Lời Giải Chi Tiết.
  • Nhân (nucleus) được Brawn phát hiện vào năm 1831 và được xem là thành phần bắt buộc của tất cả tế bào động vật và thực vật. Cơ thể một số vi sinh vật không quan sát thấy nhân, nhưng tìm thấy trong tế bào vi khuẩn và cả siêu vi khuẩn những chất tương đồng đối với chất của nhân: protide nhân (nucleoprotide) phân tán trong tế bào chất.

    Những công trình nghiên cứu hiển vi điện tử và di truyền vi sinh vật đã chứng minh các “chất nhân” của cơ thể vi sinh vật có chức năng giống như nhân của cơ thể đa bào.

    Như vậy, nhân hoặc chất nhân là tổ chức cố định và bắt buộc của tế bào ở bất kỳ mức độ tổ chức nào của sinh vật.

    Trong đời sống của tế bào có thể chia làm hai thời kỳ:

    – Thời kỳ trao đổi chất.

    – Thời kỳ phân chia nhân.

    Mỗi thời kỳ nhân có cấu trúc riêng. Thời kỳ trao đổi chất nhân ở trạng thái không phân chia – trạng thái tĩnh. Thời kỳ phân chia nhân thay đổi để tiến tới sự phân chia nhân và phân chia tế bào.

    Ở đây ta xét nhân ở thời kỳ trao đổi chất – thời kỳ nhân ở kỳ trung gian (interphase)

    Tuyệt đại đa số tế bào có một nhân. Có nhiều tế bào có 2 hoặc 3 nhân (tế bào gan, tế bào tuyến nước bọt động vật có vú,…). Có những tế bào đa nhân, có khi hàng chục như tế bào đa nhân (megacaryocyte) trong tuỷ xương. Trái lại, cũng có những tế bào không có nhân như tế bào hồng cầu động vật có vú. Nhưng hồng cầu không nhân chỉ ở giai đoạn trưởng thành, giai đoạn non hồng cầu có nhân.

    Hình dạng của nhân phụ thuộc vào hình dạng của tế bào. Tế bào hình cầu, hình khối,… nhân thường có dạng hình cầu (tế bào limpho). Tế bào hình trụ (như tế bào cơ) thì nhân có dạng dài hình bầu dục. Tuy vậy, trong nhiều loại tế bào nhân có hình dạng phức tạp. Ví dụ: tế bào bạch cầu có hạt nhân phân khúc hình thuỳ.

    Hình dạng của nhân có thể thay đổi tuỳ chức năng của tế bào. Ví dụ: nhân của bạch cầu có hạt phân thuỳ phức tạp là để tăng bề mặt tiếp xúc của nhân với tế bào chất.

    Tỷ số này cho thấy khi thể tích tế bào chất tăng thì thể tích nhân cũng tăng. Và khi cân bằng này bị phá vỡ là nguyên nhân kích thích sự phân chia tế bào.

    Vị trí của nhân thay đổi theo trạng thái của tế bào, nhưng nói chung, vị trí của nhân là đặc trưng cho từng loại tế bào. Trong tế bào phôi, nhân thường nằm ở trung tâm; trong tế bào đã phân hóa nhân thay đổi vị trí tùy theo sự hình thành các chất dự trữ trong tế bào chất. Ví dụ: trong tế bào trứng giàu noãn hoàng, nhân thường nằm ở phần nền. Tuy nhiên, trong tế bào đã phân hóa thì dù cho nhân ở vị trí nào cũng đều được bao bởi tế bào chất.

    Trong đa số tế bào sống, nhân có đặc tính đồng nhất quang học. Người ta chỉ phân biệt được màng nhân, chứa bên trong các thể hình cầu (1 hoặc vài thể) có tính chiết quang mạnh, đó là hạch nhân. Một số tế bào ở gian kỳ có thể quan sát được nhiễm sắc thể và còn có thể quan sát được các hạch và các búi khác nhau nằm trong dịch nhân (hình 10.1).

    Trong tế bào tiêu bản (đã nhuộm màu), nhân có cấu trúc rất phức tạp. Cấu trúc hiển vi của nhân tuỳ thuộc rất nhiều vào phương pháp định hình và phương pháp nhuộm màu.

    Trong tiêu bản ta có thể quan sát thấy:

    – Màng nhân (nuclear membrane) phân cách rõ giới hạn nhân và tế bào chất.

    – Hạch nhân (nucleolus) là các thể hình cầu, có đặc tính nhuộm màu kiềm; và đặc tính này tập trung cao ở hạch chất ribonucleoprotide.

    – Chất nhiễm sắc (chromatin) là những cấu trúc sợi hoặc búi được đặc trưng bởi chất acid deoxyribonucleotide (ADN) của nhiễm sắc thể (chromosome) ở dạng tháo xoắn.

    – Dịch nhân (nucleoplasma) là chất không nhuộm màu hoặc bắt màu hơi acid chứa đầy trong nhân.

    2. Thành phần hoá học của nhân

    Thành phần hoá học của nhân rất phức tạp, trong đó, nucleoprotide đóng vai trò quan trọng nhất. Đối với một số tế bào, nucleoprotide là thành phần chính của cấu trúc nhân (tinh trùng cá hồi 96%; 100% trong nhân một số hồng cầu).

    Chất protein nhân có thành phần khá phức tạp, gồm 2 loại:

    – Protein đơn giản có tính kiềm như: protamin, histon.

    – Protein phi histon có tính acid.

    Acid deoxyribonucleic (ADN) tập trung chủ yếu ở nhiễm sắc thể.

    Acid ribonucleic có trong hạch nhân và trong dịch nhân.

    3. Cấu trúc hiển vi và siêu hiển vi

    Màng nhân ngăn cách nhân với tế bào chất bọc xung quanh nhân. Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy mối tương quan giữa nhân và tế bào chất phần lớn phụ thuộc vào hoạt tính của màng nhân.

    – Về tính chất, màng nhân khác với màng tế bào chất. Ví dụ: màng nhân khi bị phá huỷ không có khả năng hàn gắn lại. Màng nhân khi bị thương làm cho nhân chết và toàn bộ tế bào chết. Trái lại, màng tế bào khi bị tổn thương có khả năng phục hồi, hàn gắn lại.

    – Về tính thấm, màng nhân cũng khác với màng tế bào. Ví dụ: có một số protein có thể thấm qua màng tế bào mà không thể thấm qua màng nhân được. – Về thành phần hoá học, màng nhân có cấu trúc từ các protein không hoà tan liên kết với lipid.

    – Về cấu trúc, các nghiên cứu màng nhân dưới kính hiển vi điện đã chứng minh rằng màng nhân gồm 2 lớp màng (và đó là những túi, những tế bào chứa). Một màng hướng vào nhân gọi là màng trong, một màng hướng vào tế bào chất gọi là màng ngoài.

    Giữa hai màng giới hạn bởi 1 xoang, gọi là xoang quanh nhân.

    Độ dày chung của màng vào khoảng 100Å, của xoang từ 100 – 300Å. Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng mỗi một màng của màng nhân cũng gồm 3 lớp như màng tế bào chất (Yamamoto, 1963).

    Màng ngoài có thể nối với mạng lưới nội sinh chất bằng các vi ống và hình thành một hệ thống ống thông với nhau. Qua hệ thống ống này, nhân có thể liên hệ trực tiếp với môi trường.

    Màng nhân có cấu trúc không liên tục, nó có nhiều lỗ hình trụ, qua đó mà tế bào chất thông với nhân. Các lỗ có dạng hình phễu, đường kính mặt trong và mặt ngoài khác nhau – vào khoảng 50 – 100Å. Các lỗ phân bố đều với khoảng cách từ 500 – 1000Å.

    Hệ thống lỗ có vai trò rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất giữa nhân và tế bào chất. Vì các chất thấm qua lỗ là kết quả hoạt động tích cực của các chất chứa trong lỗ. Ngoài ra, hệ thống lỗ còn có chức năng nâng đỡ và cố định màng nhân.

    Xoang quanh nhân có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình tổng hợp protid đối với các tế bào có mạng lưới nội sinh chất kém phát triển.

    Chức năng: màng nhân tham gia vào quá trình tổng hợp và chuyên chở các chất, tham gia vào quá trình sinh tổng hợp protein vì mặt ngoài của màng nhân có đính các thể ribosome.

    Khi quan sát tế bào đã được nhuộm màu, người ta thấy các cấu trúc chứa chất nhiễm sắc, đó là những chất có tính bắt màu đặc biệt đối với một số thuốc nhuộm. Ta có thể quan sát thấy từng sợi hay búi nằm trong nhân và làm thành mạng lưới. Các búi chất nhiễm sắc được gọi là tâm nhiễm sắc (chromocentre hoặc caryosome). Cấu trúc của chất nhiễm sắc có thể thay đổi ở các tế bào khác nhau của cùng 1 cơ thể, hoặc ở tế bào cùng loại của các cơ thể khác nhau.

    Bản chất của chất nhiễm sắc là các ADN của nhiễm sắc thể (chromosome) ở dạng tháo xoắn.

    Nhiễm sắc thể có hình dáng và kích thước đặc trưng chỉ ở kỳ giữa (metaphase) của sự phân bào. Nhiễm sắc thể gồm có ADN, các protein histone và các protein không histone của nhiễm sắc thể. Cả 3 thành phần gộp lại là chất nhiễm sắc.

    Như vậy, cấu trúc chất nhiễm sắc của nhân ở gian kỳ chính là nhiễm sắc thể ở kỳ phân chia, nhưng ở trạng thái ẩn.

    Trong thời kỳ tế bào không phân chia (gian kỳ), bao giờ chúng ta cũng quan sát thấy hạch nhân. Ở tiền kỳ, hạch nhân hoà tan vào trong nhân và biến mất; đến đầu mạt kỳ, hạch nhân lại xuất hiện ở dạng các thể dính với nhiễm sắc thể và đến gian kỳ tiếp theo, hạch nhân được hình thành trở lại.

    Hạch nhân thường có dạng hình cầu, nhưng cũng có thể biến đổi. Độ lớn của hạch nhân thay đổi tuỳ theo trạng thái sinh lý của tế bào, chủ yếu là tuỳ thuộc vào cường độ tổng hợp protein. Ở tế bào mà cường độ tổng hợp protein mạnh thường hạch nhân lớn hoặc nhiều hạch nhân và ở tế bào cường độ tổng hợp protein yếu thì ngược lại.

    Cấu trúc hiển vi của hạch nhân

    – Cấu trúc: trên tiêu bản dưới kính hiển vi thường, hạch nhân thường có cấu trúc đồng dạng. Hạch nhân có cấu trúc sợi và các sợi tập hợp thành mạng lưới. Giữa các sợi có phân bố các chất đồng dạng (Zsinvagorg, 1948). Cấu trúc siêu hiển vi của hạch nhân gồm 2 pha xen kẽ:

    + Cấu trúc sợi gồm các nucleonem.

    + Và các hạt nằm trên nucleonem.

    Cấu trúc sợi và hạt này nằm trong chất đồng dạng.

    Các chất nucleonem tương đối ổn định đối với từng loại tế bào và tạo thành các bó sợi có đường kính 1200Å. Các hạt nằm trên nucleonem có đường kính vào khoảng 150 – 200Å. Ở một chừng mực nào đó, tỷ lệ giữa sợi và hạt tương ứng với cường độ tổng hợp ARN trong tế bào. Ở tế bào tổng hợp protein mạnh thì hạt nhiều và ngược lại.

    Dẫn liệu về kính hiển vi điện tử cũng đã cho biết hạch nhân không có màng bao bọc, nghĩa là hạch nhân nằm trần trong dịch nhân.

    Thành phần hoá học của hạch nhân

    – Quan trọng nhất là ARN. ARN của hạch nhân thay đổi tùy từng loại tế bào và tuỳ trạng thái sinh lý của tế bào. ARN của nhân tế bào chủ yếu nằm trong hạch nhân.

    – Protein: hàm lượng lớn, chiếm từ 80 – 90%. Chủ yếu là phosphoprotein. Ngoài ra, protein liên kết với ARN để hình thành ribonucleproteide có trong thể ribosome của nhân.

    – Lipid: chủ yếu là phospholipid.

    – Các enzyme: có nucleosid – diphosphorilase, enzyme tham gia tổng hợp ADN, ATPase,…

    – ADN: chứa các gen mã hoá cho rARN của ribosome.

    Hạch nhân tham gia vào quá trình sinh tổng hợp protein của nhân. Hạch nhân cũng là nơi tổng hợp rARN của tế bào. rARN được tổng hợp trên các locut của nhiễm sắc thể “miền tạo hạch nhân” trên khuôn ADN, sau đó, được tích trữ trong hạch nhân trước khi đi ra tế bào chất.

    Thành phần của dịch nhân gồm có các loại protide khác nhau và các enzyme.

    – Các protide như: glucoprotide, nucleoprotide, chủ yếu là ribonucleoprotein, trong đó, ARN chiếm 40 – 50%. – Các enzyme: enzyme trong dịch nhân gồm 3 nhóm:

    + Các enzyme đường phân như aldolase, enolase và dehydrogenase glyceraldehyd 3 phosphatase.

    + Các enzyme tham gia vào quá trình trao đổi acid nucleotide như: ADN – polymerase tham gia tổng hợp ADN và ARN – polymerase tham gia tổng hợp ARN, đặc trưng là mARN-+.

    – Các enzyme tham gia quá trình trao đổi nucleosid như: ademozin dezaminase, nucleosid phosphorilase và guanase các enzyme này có trong nhân với hàm lượng đặc biệt cao. Một số enzyme khác như arginase… chỉ có trong một số tế bào.

    Chức năng của nhân được thể hiện ở 2 mặt:

    – Truyền và tích thông tin di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác (bảo đảm tính liên tục di truyền).

    – Điều hoà và điều khiển mọi hoạt động sống của tế bào (đảm bảo sự thực hiện thông tin di truyền trong đời sống tế bào).

    Truyền và tích thông tin di truyền ở đây muốn nói sự nhân đôi ADN nhân đôi nhiễm sắc thể với sự phân phối bộ nhiễm sắc thể (đã được nhân đôi) về hai tế bào con.

    Điều hoà và điều khiển hoạt động sống của tế bào chính là điều hoà và điều khiển các quá trình tổng hợp protein, trong đó có nhiều enzyme xảy ra trong tế bào chất, vì nhân chứa ADN và các loại ARN cần thiết để tổng hợp protein. Các tARN, rARN và mARN đều được tổng hợp trong nhân trên khuôn ADN và được chuyển ra tế bào chất để tổng hợp protein.

    Các protein xây dựng nên các cấu trúc của tế bào cũng như điều hoà các phản ứng sinh hoá, qua đó, thể hiện các hoạt động sống của tế bào cũng như tính đặc trưng của cơ thể.

    1. Phạm Phan Địch, Nguyễn Văn Ngọc, Đỗ Kính (1984), Tế bào học, Mô học, Phôi

    sinh học, Nxb Y học, Hà Nội.

    2. Nguyễn Như Hiền, Trịnh Xuân Hậu (2000), Tế bào học, Nxb Đại học quốc gia

    3. Phạm Thành Hổ (1995), Sinh học đại cương – Tế bào học, Di truyền học, Học

    thuyết tiến hoá, Tủ sách Đại học tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.

    4. Phạm Thành Hổ (1999), Di truyền học, Nxb Giáo dục Tp. Hồ Chí Minh.

    5. Phạm Thành Hổ (2002), Sinh học đại cương – Tế bào học, Di truyền học, Học

    thuyết tiến hoá, Nxb Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 7. Tế Bào Nhân Sơ (Chuẩn) Bai 7 Te Bao Nhan So Cuc Chuan Ppt
  • Đặc Điểm Cơ Thể Người: Xác Định Vị Trí Các Cơ Quan Và Hệ Cơ Quan Của Cơ Thể? Thành Phần Cấu Tạo Của Tế Bào Phù Hợp Với Chức Năng Nào Của Chúng? Định Nghĩa Mô?
  • Cac De Kiem Tra 1 Tiet, Thi Hk I,ii Sinh Hoc 6,7,8,9 Ma Tran Tap Huan Dalat Doc
  • Cấu Tạo Chung Của Tế Bào Nhân Sơ Bao Gồm 3 Thành Phần Chính Là
  • Cấu Tạo Chung Của Tế Bào Cau Tao Chung Cua Te Bao Doc
  • Sơ Đồ Mạch Điện Và Cấu Tạo , Chức Năng Các Linh Kiện Trong Tủ Lạnh .

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vở Bài Tập Công Nghệ 8
  • Sơ Đồ Quạt Điện 3 Số Và Cách Nối Dây Tụ Điện
  • Cách Đấu Chiết Áp, Hộp Số Cho Quạt Trần Chi Tiết Tự Làm Tại Nhà!
  • Chuyên Cung Cấp Quạt Trần Hộp Chất Lượng Hà Nội & Tp Hcm
  • Nguyên Lý Hoạt Động Của Quạt Điều Hòa Hơi Nước
  • Bài viết sau đây kỹ thuật điện lạnh Bách Khoa giới thiệu cho các bạn mới bắt đầu tìm hiểu về tủ lạnh . Để chở thành thợ sửa tủ lạnh giỏi trước tiên các anh chị phải biết được sơ đồ mạch điện tủ lạnh và hiểu rõ chức năng , nhiệm vụ của mỗi linh kiện có trong tủ lạnh .

    Sơ đồ mạch điện tủ lạnh cơ bản .

    Nguyên lý hoạt động của tủ lạnh .

    Block tủ lạnh nén khí gas có trong hệ thống làm chênh lệch áp suất và nhiệt độ của chất làm lạnh giữa hai dàn . Dàn ngưng bên ngoài tủ lạnh cho phép chất làm lạnh có thể giảm bớt nhiệt do áp suất gây ra. Các chất lạnh nguội đi, sẽ ngưng tụ thành chất lỏng tinh khiết và chảy qua các van tiết lưu.

    Khi chảy qua các van tiết lưu, các chất lỏng làm lạnh chuyển từ khu vực có áp suất cao sang khu vực có áp suất thấp. Sau đó, nó nở ra và bay hơi. Trong khi bay hơi, nó hấp thụ nhiệt và bắt đầu làm lạnh. Dàn bay hơi cho phép các chất làm lạnh hấp thụ nhiệt, làm lạnh bênh trong tủ lạnh. Các chu kỳ được lặp đi lặp lại như vậy. Đó cũng là nguyên nhân khoảng 15 phút bạn lại nghe máy kêu ro ro một lần. Và bạn có thể yên tâm là không có vấn đề trục trặc gì xảy ra với tủ lạnh nhà mình.

    Cấu tạo và nhiệm vụ các linh kiện trong tủ lạnh .

    Block hút môi chất lạnh (gas lạnh) tạo ra ở dàn bay hơi đồng thời duy trì áp suất cần thiết cho sự bay hơi ở nhiệt độ thấp.

    Nén hơi từ áp suất bay hơi lên áp suất ngưng tụ và đẩy vào dàn ngưng.

    Phải có năng suất khối lượng (lưu lượng môi chất qua máy nén) phù hợp với tải nhiệt của dàn bay hơi và dàn ngưng tụ.

    Đồng hồ thời gian có chức năng ngắt điện vào máy nén và cấp điện cho hệ thống điện trở xả đá để xả tuyết bám kín dàn lạnh giúp dàn trao đổi nhiệt tốt . Tùy theo cấu tạo của timer, thời gian làm đá có thể 7 tới 8 tiếng . Thời gian xả đá khoảng 15 tới 20 phút .

    Rơ le nhiệt độ dùng để đặt nhiệt độ trong tủ lạnh theo nhu cầu sử dụng. Nó tự động đóng điện cho tủ lạnh khi nhiệt độ trong tủ lạnh cao hơn nhiệt độ đặt và tự động cắt điện khi nhiệt độ trong tủ thấp hơn nhiệt độ cài đặt, bằng cách này nó duy nhiệt độ trung bình trong tủ không thay đổi.

    Khi mạch điện cấp điện cho Block rơle khởi động đóng mạch cho động cơ làm việc có 2 chân được gắn vào Block .

    Rơ le bảo vệ áp sát vào tủ lạnh có nhiệm vụ ngắt dòng điện khi Block làm việc quá tải dẫn đến máy nén quá nóng hoặc dòng điện tăng cao . Thông thường đo 2 chân rơ le bảo vệ luôn thông mạch .

    Cảm biến âm được gắn sát vào dàn lạnh có nhiệm vụ đóng tiếp điểm cho sấy hoạt động khi tủ lạnh đã đạt tới ngưỡng cài đặt trong cảm biến âm . thông thường từ -5 tới -7độ C . đo ở nhiệt độ thông thường sò lạnh sẽ không thông mạch .

    có nhiệm vụ bảo vệ tủ lạnh khi nhiệt độ trong tủ lạnh lên quá cao khi sấy trong tủ lạnh hoạt động quá tải mà không ngắt . chống cháy tủ lạnh và được lắp nối tiếp với thanh sấy .

    Nguyên lý làm việc điện trở xả tuyết sẽ được cấp điện 20 phút sau 8h hoạt động để dàn được trao đổi nhiệt tốt .

    Hiện nay trên thị trường có 2 loại điện trở xả tuyết. Loại truyền thống thanh điện trở xả tuyết là một ống thủy tinh bên trong chưa dây điện trở. Loại này thường đặt nằm phía dưới dàn lạnh trong ngăn đá. Loại thứ hai là ống nhôm bên trong chứa dây điện trở. Loại này không đặt phía dưới dàn lạnh và chạy khắp dàn lạnh giúp việc xả tuyết nhanh hơn hay lắp ở tủ lạnh LG .

    Có nhiệm vụ lưu thông gió trong buồng lạnh giúp đồ dùng trong tủ được làm lạnh nhanh hơn .

    Có tác dụng mở cánh tủ đèn sáng . Đóng cánh tủ đèn tắt .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quạt Tủ Lạnh Giá Rẻ Tại Tphcm
  • Cách Xử Lý Quạt Gió Tủ Lạnh Không Hoạt Động
  • Công Nghệ 8 Bài 44: Đồ Dùng Loại Điện Cơ Quạt Điện, Máy Bơm Nước
  • Bài 44: Đồ Dùng Điện Loại Điện
  • Quạt Chắn Gió Là Gì? Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Quạt Chắn Gió
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100