Top 6 # Xem Nhiều Nhất Cấu Tạo Từ Ghép Và Từ Láy Có Gì Giống Nhau Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Từ Ghép Là Gì? 3 Cách Phân Biệt Từ Ghép, Từ Láy Nhanh Và Dễ Hiểu Nhất

Từ ghép là những từ được cấu tạo bằng cách ghép hai hoặc hơn hai tiếng(tiếng hay gọi là từ đơn độc lập) lại với nhau. Các tiếng đó có quan hệ với nhau về nghĩa, căn cứ vào quan hệ giữa các thành tố đó mà phân loại là từ ghép chính phụ hay từ ghép đẳng lập.

Từ ghép chính phụ: một từ chính và một từ đứng sau bổ nghĩa cho nó.

Mát mẻ, thơm phức, tàu ngầm, hoa hồng,…là những từ ghép chính phụ. Chúng ta cùng phân tích một từ để rõ hơn.

Nghĩa của từ ghép chính phụ hẹp, phân nghĩa.

Từ ghép đẳng lập: hai từ ngang nhau về nghĩa cũng như chức năng. Ví dụ: Ăn uống, hát hò, mưa gió, cây cỏ, trầm bổng, tắm giặt, rau quả,…

Công dụng của từ ghép trong câu

Từ ghép là một trong những thành phần cấu tạo nên cấu trúc câu quan trọng. Nó giúp xác định nghĩa của các từ kể cả trong văn nói lẫn văn viết một cách chính xác, có nghĩa là chỉ cần đọc lên là người đọc sẽ hiểu nghĩa của từ, nghĩa của câu mà không cần phải suy nghĩ, lắp ghép ý lại với nhau.

Từ ghép làm cho câu trở nên logic về hình thức và cả nội dung. Đọc lên nghe mạch lạc và nghĩa rõ ràng chính xác.

Phân biệt các loại từ ghép đơn giản và dễ nhớ nhất

Từ ghép chính phụ là từ có tiếng chính và tiếng phụ bổ sung nghĩa cho nhau, trong đó tiếng đứng trước gọi là tiếng chính, thể hiện ý chính. Tiếng đứng sau gọi tiếng phụ, có vai trò bổ sung nghĩa cho tiếng chính. Thường thì từ ghép chính phụ có ngữ nghĩa rất hạn chế.

Ví dụ: xanh thẳm, đỏ rực, mặn chát, bánh gạo, hoa huệ, hiền hòa, êm dịu, toả hương

Ví dụ như: bàn ghế, ông bà, yêu thương, tốt tươi, ẩm ướt, xinh đẹp, bạn hữu

Từ ghép tổng hợp có các từ cấu tạo thành mang một nghĩa tổng quát hơn những từ cấu thành nó, thể hiện một địa danh, hành động cụ thể nào đó.

Ví dụ như: Võ thuật bao gồm các loại võ khác nhau; Phương tiện: bao gồm các phương tiện đi lại; Bánh trái, Xa lạ,..

Từ ghép này các từ cấu tạo thành một nghĩa nhất định chỉ một địa danh, sự vật, hành động cụ thể nào đó.

Ví dụ: Nước ép cam, bánh sinh nhật,…

Một số lưu ý cần biết về từ láy và từ ghép

Tiếng Việt cực kỳ phong phú, có thể nói là phức tạp trong cấu tạo và cả ngữ nghĩa, nên phân biệt được các loại từ với nhau rất khó. Trong đó từ láy và từ ghép thường giống nhau nên hay nhầm lẫn. Cần phải hiểu và phân loại chúng, để dễ dàng hơn trong việc sử dụng chúng.

Từ ghép là những từ được cấu tạo bằng cách ghép hai hoặc nhiều hơn hai từ độc lập có liên hệ về nghĩa lại với nhau.

Từ láy được tạo thành bằng cách lặp lại(điệp lại) một phần phụ âm hoặc nguyên âm hay toàn bộ tiếng ban đầu. Ví dụ: lấp lánh, thoang thoảng, ngào ngạt,…

Từ láy không bao giờ là từ chỉ sự vật

Ví dụ: quạt giấy, sử dụng, đặc điểm, tốt lành..

Từ ghép nó giúp thể hiện nghĩa của từ, của câu một cách sâu sắc, đa dạng, rõ nghĩa tất cả các ý.

Từ láy là từ chỉ một trong các tiếng tạo thành có nghĩa, có thể không có từ nào có nghĩa. Khác với từ ghép, từ láy các tiếng tạo thành thường có sự giống nhau về phát âm( phần đầu, phần vần hoặc toàn bộ).

Ví dụ: mong manh, may mắn, hấp tấp, gấp gáp, hối hả, ào ào, rì rào, mềm mại, xấu xí…

Từ láy tạo âm điệu, thể hiện sắc thái biểu cảm cho từ, nó bỉu đạt tâm trạng, cảm xúc của người viết, người nói, là một biện pháp nghệ thuật trong văn học.

Lý thuyết về từ và cấu tạo từ

Từ là một đơn vị nhỏ nhất để cấu thành nên câu.

Tiếng là đơn vị cấu tạo nên từ, 1 từ có thể chỉ gồm 1 tiếng, hoặc 1 từ có thể là 2 tiếng.

Từ ghép: các tiếng ghép thành có quan hệ với nhau về nghĩa.

Hướng dẫn cách phân biệt từ ghép, từ láy đơn giản nhất

Cách nhận biết là từ ghép

Để phân biệt từ ghép với các loại từ khác, hay giữa các loại từ ghép với nhau thì chúng ta sẽ nhìn vào cấu tạo của từ về cấu trúc và nghĩa, tiến hành phân tách để chúng ta biết.

Các tiếng trong từ có quan hệ nghĩa và cả quan hệ về âm thì đó chính là từ ghép. Ví dụ: thúng mủng, mơ mộng, phẳng lặng

Trong từ có 1 tiếng có nghĩa, 1 tiếng không có nghĩa nhưng 2 tiếng không có quan hệ âm là từ ghép.

Trong từ có một từ có gốc Hán, hình thức giống như từ láy, nhưng các tiếng đều có nghĩa, đó là từ ghép: bình minh, cần mẫn, tham lam, bảo bối, hoan hỉ, ban bố, chân chất, hảo hạng.

Từ không có quan hệ về âm lẫn về nghĩa, từ thuần việt: tắc kè, bù nhìn, bồ hóng và các từ vay mượn: mì chính, xà phòng.. đó là từ ghép đặc biệt.

Từ mà chúng ta nhìn vào nó có nghĩa bao trùm: sách vở, ăn uống, hoa quả,…

Từ mà phân loại người hay vật: “hạt ngô” phân biệt với hạt lúa, hạt mè,.. hay “hoa hồng” phân biệt với hoa lan, hoa huệ,..

Cách phân biệt từ ghép và từ láy

Cách đơn giản nhất để phân biệt từ ghép và từ láy là đảo lộn các tiếng với nhau nếu đảo được mà đọc lên vẫn hiểu nghĩa thì đó là từ ghép, nếu không có nghĩa gì là từ láy âm.

Ví dụ: từ loè loẹt là từ láy âm vì đảo ngược lại loẹt loè không có ý nghĩa gì, nhưng từ hoa quả đổi lại quả hoa cũng có nghĩa.

Các từ tương tự như: mờ mịt, tối tăm, thẫn thờ, giữ gìn,…

Ngược lại nếu đảo không được là từ láy

Ví dụ rõ ràng, thấm thoát, lạnh lùng, may mắn,..

Xem xét các tiếng tạo thành có tiếng nào là từ Hán việt hay không?

Từ láy âm có 1 trong 2 âm tiết thuộc từ Hán Việt thì nó là từ ghép, cho dù nhìn nó có vẻ là dạng láy tự nhiên:

Ví dụ: minh mẫn, cập kê, tử tế, tương tư,…

Xem xét nghĩa hai tiếng tạo thành

Nếu từ có một tiếng có nghĩa thì là từ láy âm: lạnh lùng, đau đớn, ngất ngây,..

Phân biệt từ láy với từ đơn đa âm tiết

Trong ngữ pháp tiếng Anh có nhiều loại từ khác nhau: danh từ, tính từ, phó từ,cụm danh từ,… tất cả cũng có vai trò hoàn thành và thể hiện ý nghĩa cho câu văn. Và từ ghép (phức từ) trong tiếng Anh được tạo thành bằng cách ghép các tiếng có quan hệ nghĩa, bổ sung nghĩa cho nhau tạo nên một ý nghĩa hoàn chỉnh cho câu nói hay câu văn.

Từ ghép trong tiếng Anh bổ nghĩa cho danh từ phía sau nó

Ví dụ: Grey – haired ( tóc màu xám)

Strong – minded( tinh thần mạnh mẽ)

Full – grown ( phát triển toàn diện)

North- west( phía Tây bắc)

Danh từ ghép trong tiếng Anh là gì?

Danh từ ghép là danh từ gồm 2 từ trở lên ghép lại với nhau. Trong tiếng Anh thường là sự kết hợp của 1 danh từ với 1 danh từ khác, hoặc 1 danh từ với 1 tính từ.

Trong danh từ kép, từ phía trước sẽ bổ nghĩa và mô tả cho từ đứng phía sau. Mô tả đồ vật mà từ phía sau nói đến, hay là chỉ ra mục đích sử dụng của đồ vật mà từ đầu tiên đang nói đến.

Foot(Chân), Ball( trái bóng) ghép lại với nhau: Football: đá bóng, môn thể thao bóng đá.

Bedroom, bed( giường)+ room(phòng)

Boyfriend, boy(con trai)+ friend( bạn)

Một số ví dụ cơ bản tạo nên từ ghép trong tiếng anh

Công thức: Tính từ- tính từ

Dead-tired: quá mệt mỏi

North- West: phía Tây bắc

Công thức: Tính từ- danh từ

Deep-sea: biển sâu

Full-length: toàn thân

Red-carpet: trải thảm đỏ

Công thức: Danh từ – tính từ

Duty- free: miễn thuế

Air- tight: kín gió

Home- sick: nhớ nhà

Sea- sick: sây sóng

Air- sick: say máy bay

Water- proof: chống nước

Lightning- fast: nhanh như chớp

Top-most: cao nhất

Brand- new: nhẫn biệu mới

Công thức : Danh từ- quá khứ phân từ(V3/ V-ed)

Handmade : làm bằng tay, thủ công

Heart- broken: đau khổ

Wind- blown: gió thổi

Air- conditioned: điều hòa

Home- made: tự làm tại nhà

Công thức: Danh từ- hiện tại phân từ

Money-making: làm ra tiền

Hair-raising: dựng tóc gáy

Heart-breaking: cảm động

Top-ranking: xếp hàng đầu

Công thức: Tính từ- phân từ-ing

Esa-going: dễ tính

Long-lasting:lâu dài

Sweet-smelling: mùi ngọt

Far- reaching: tiến xa

Công thức: Trạng từ- phân từ

Outspoken: thẳng thắn

Well- behaved: lễ phép

Well- educated: giáo dục tốt

Well- prepared: chuẩn bị tốt

Newly- born: mới sinh

Công thức: Tính từ- phân từ

Good- looking: nhìn xinh xắn

Easy- going: thoải mái

Middle- ranking: cấp trung

Long- lasting: dài lâu

Far- reaching: tiến ra xa

Sweet- smelling: mùi ngọt ngào

Công thức : Tính từ – Danh từ-(ed)

Old- fashioned: lỗi thời

Low- spirited: chán nản

Fair- skinned: trắng trẻo

Strong- minded: kiên quyết, mạnh mẽ

Công thức: Từ chỉ số lượng- danh từ

A four- bedrooms house: nhà có bốn phòng ngủ

A fifteen-year- old girl: cô gái tuổi 15

Một số trường hợp đặc biệt không theo quy tắc:

Well-off: Khá giả

Dead-ahead: thẳng phía trước

Hit or miss: ngẫu nhiên

Free and easy: thoải mái

Life and dead: sinh tử

Day-to-day: hằng ngày

Cast-up: bị bỏ rơi

Stuck-up: kiêu kì

Worn-out: hao mòn, kiệt sức

Khả năng văn học của bạn có lên tầm cao mới, có đạt được phong cách riêng cho mình hay không? Tất cả đều phụ thuộc vào vốn từ ngữ bạn đang có. Cả một bài văn được làm nên bởi ngữ pháp, thủ thuật, biện pháp tu từ, và chính là từ vựng.

Từ vựng nó giúp miêu tả, thể hiện đúng điều mà tác giả mong muốn, sử dụng chúng như thế nào để đạt được hiệu quả nhất buộc người dùng phải hiểu ý nghĩa và công dụng của chúng. Nếu muốn phát huy hết tác dụng của vốn từ phong phú của Việt Nam bạn phải biết được các khái niệm từ ghép là gì? Cách để phân biệt các loại từ để dùng chính xác nhất.

Qua bài viết này lafactoriaweb mong rằng mỗi bạn sẽ hiểu và phân biệt được quy tắc hình thành nên từ ghép, từ láy từ đó góp phần làm phong phú ngôn ngữ của mình.

Từ Láy Là Gì? Các Dạng Từ Láy Khác Nhau Và Ví Dụ Minh Họa

Từ láy là gì?

Từ láy là một dạng đặc biệt của từ phức, được cấu tạo từ hai tiếng. Các tiếng cấu tạo nên từ láy thường có phần nguyên âm hoặc phụ âm hoặc cả nguyên âm và phụ âm được láy tương tự nhau. Trong từ láy, có thể chỉ có một từ có nghĩa, từ còn lại không có nghĩa hoặc cả hai từ đều không có nghĩa khi tách ra đứng riêng một mình.

Ví dụ: Ngoan ngoãn, hâm hấp, hầm hập, xinh xắn,… 

Trong tiếng Anh, nếu hiểu sâu về mặt ngôn ngữ thì từ láy không tồn tại bởi nó không có các từ có chức năng như từ láy trong Tiếng Việt. Nhưng với những từ có cấu trúc lặp lại nguyên âm, phụ âm hoặc lặp lại cả từ cũng có thể được coi là một dạng của từ láy. Cách lặp âm lại như vậy thường khiến cho người học khó phát âm.

Một số ví dụ về “từ láy” trong tiếng Anh: Shipshape ( /ˈʃɪpʃeɪp/), mishmash ( /ˈmɪʃmæʃ/), ping-pong (/ˈpɪŋ pɒŋ/), pitter-patter (/ˈpɪtə pætə(r)/). 

Từ láy có tác dụng gì?

Mặc dù được cấu tạo từ các tiếng không có nghĩa nhưng khi được ghép lại với nhau lại tạo thành một từ có nghĩa. Hiện nay, từ láy được sử dụng phổ biến trong văn nói và các tác phẩm văn học, thơ ca để mô tả, nhấn mạnh vẻ đẹp của sự vật, con người. Đồng thời, nó cũng được sử dụng để diễn tả tâm trạng, cảm xúc,… của con người, hiện tượng hay sự vật. 

Ví dụ: “Trông con bé xinh xắn chưa kìa!” thì từ láy “xinh xắn” được dùng để mô tả và nhấn mạnh vẻ đẹp của cô gái. 

Phân loại từ láy

Dựa vào cấu trúc và cấu tạo giống nhau của các bộ phận, từ láy được chia thành hai loại là: Từ láy toàn bộ và từ láy bộ phận. 

Từ láy bộ phận

Khi tìm hiểu về loại từ láy này, các bạn học sinh thương thắc mắc “từ láy có âm đầu là gì?” hay “nếu từ láy chỉ có phần vần giống nhau thì được gọi là từ láy gì?”. Câu trả lời đó chính là từ láy bộ phận. 

Như vậy, từ láy bộ phận là từ có phần vần hoặc phần âm được láy giống nhau. Ví dụ như sau: 

Láy âm đầu: mếu máo, xinh xắn, mênh mông, mênh mang, ngơ ngác, ngáo ngơ,…

Láy vần: Liêu xiêu, tẻo teo, liu diu, lim dim, lồng lộn, lao xao, lông ngông,… 

Từ láy toàn bộ

Còn được gọi là láy hoàn toàn. Vậy từ láy hoàn toàn là gì? Là những từ có cả phần âm, phần vần, thậm chí là thanh điệu cũng được lặp lại giống nhau. 

Ví dụ như: Xanh xanh, ào ào, hồng hồng, tím tím, luôn luôn,…

Đôi khi để tạo sự hài hòa về âm thanh và dùng để nhấn mạnh, một số từ có thể được thay đổi thanh điệu hoặc phụ âm cuối. Ví dụ như: Ngoan ngoãn, lồng lộng, thoang thoảng, tim tím,….

Cách phân biệt từ ghép và từ láy là gì? 

Người xưa có câu “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” để cho thấy sự đa dạng, phong phú cũng như phức tạp trong cấu tạo, ngữ nghĩa của tiếng Việt. Bên cạnh đó, sự chuyển hóa giữa từ ghép và từ láy cũng là nguyên nhân gây khó khăn không nhỏ cho các bạn học sinh khi phân biệt hai loại từ này. 

Tuy nhiên, bạn có thể phân biệt và nhận diện từ ghép với từ láy qua một số cách sau: 

Cách phân biệt

Từ ghép

Từ láy

Trong thành tố có từ Hán Việt

Chắc chắn là từ ghép, không phân biệt có sự lặp âm hay lặp vần hay không. 

Ví dụ từ láy “tử tế” mặc dù có sự lặp lại âm đầu “t” nhưng vẫn là từ ghép do “tử” là từ Hán Việt.  

Không phải là từ láy. 

Ý nghĩa của các thành tố cấu tạo

Các từ cấu tạo nên từ ghép có quan hệ về mặt ý nghĩa với nhau. Khi tách riêng ra, chúng đều có nghĩa. 

Ví dụ từ ghép “bàn ghế”, “buôn bán” khi tách riêng ra chúng đều có ý nghĩa xác định. 

Các từ cấu tạo nên từ láy thường chỉ có 1 từ có nghĩa hoặc cả hai từ khi tách riêng ra đều không có nghĩa. 

Ví dụ về từ láy “nhỏ nhắn”. Khi ghép lại với nhau mang ý nghĩa chỉ kích thước của sự vật hoặc con người. Nhưng khi tách riêng ra, chỉ có duy nhất từ “nhỏ” có nghĩa, còn từ “nhắn” không có ý nghĩa. 

Sự lặp lại về phần âm và phần vần

Từ ghép thường không có sự lặp lại về phần âm và phần vần. Một số ít trường hợp cũng có sự lặp lại. 

Ví dụ: hoa quả, buôn bán,…

Từ láy có sự lặp lại phần âm hoặc phần vần hoặc lặp lại cả phần âm và vần. 

Ví dụ: mịn màng (lặp âm), lăng nhăng (phần vần), nhỏ nhỏ (lặp lại cả âm và vần),…

Đảo vị trí của các từ trong câu

Khi đảo vị trí, từ ghép vẫn mang ý nghĩa cụ thể.

Ví dụ từ ghép “buôn bán” khi đảo vị trí thành “bán buôn” thì nó vẫn mang ý nghĩa cụ thể, chỉ một loại hình kinh doanh. 

Khi đảo trật từ các tiếng, từ láy sẽ không mang ý nghĩa.

Ví dụ, từ láy “sạch sẽ” khi đảo vị trí thành “sẽ sạch” thì không có ý nghĩa nào cả. 

Các dạng bài tập về từ láy

Sau khi hiểu rõ từ láy là gì, các bạn học sinh phải biết cách áp dụng những kiến thức đã học để hoàn thành nhuần nhuyễn các dạng bài tập sau: 

– Dạng 1 – Bài tập nhận biết từ láy: Dạng bài tập này sẽ củng cố kiến thức về định nghĩa của từ láy và cách phân biệt chúng với từ ghép. 

Ví dụ: Hãy xác định từ láy và từ ghép trong danh sách các từ sau: Nhà cửa, chí khí, lủng củng, cứng cáp, mộc mạc, dũng cảm, dẻo dai. 

Từ láy: Lủng củng, mộc mạc.

Từ ghép: Nhà cửa, chí khí

– Dạng 2 – Bài tập xác định kiểu từ láy: Ôn tập và củng cố kiến thức về cách phân loại từ láy.

Từ láy toàn bộ: Thăm thẳm.

Từ láy bộ phận: Mải miết, tít tắp, mơ màng, phẳng phiu, hun hút.

– Dạng 3 – Bài tập xác định từ láy trong một đoạn văn, đoạn thơ cho trước và cho biết công dụng của chúng: Dạng bài tập này củng cố kiến thức về cách nhận biết từ láy và tăng khả năng cảm thụ văn học cho học sinh bằng cách xác định vai trò, tác dụng của từ láy trong đoạn văn đó. 

Ví dụ: Xác định từ láy hiệu quả sử dụng từ láy trong bài thơ “Thương Vợ” của Tú Xương: 

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên, hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa, dám quản công.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:

Có chồng hờ hững cũng như không!”

Trong bài thời trên, tác giả đã sử dụng hai từ láy: lặn lội, eo sèo gợi lên thực cảnh mưu sinh vất vả của bà Tú trong một không gian rợn ngợp và đầy nguy hiểm. Đồng thời, cũng thể hiện lòng xót thương vợ da diết và sự bất lực của ông Tú: 

Từ láy “Lặn lội”: Gợi sự lam lũ, cực nhọc đầy gian truân. Kèm theo đó là hình ảnh ẩn dụ “thân cò” gợi lên nỗi vất vả, khó khăn của người vợ phải lam lũ mưu sinh nuôi cả gia đình. 

Từ láy “Eo sèo” gợi lên khung cảnh chen lấn, giành giật, xô đẩy nhau.

3.7

/

5

(

10

bình chọn

)

Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Nhận Biết Từ Đơn, Từ Ghép, Từ Láy

” Ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy. Càng đọc càng nâng cao ngôn ngữ, càng phát triển trí tuệ. Sự giáo dục đầy đủ tiếng mẹ đẻ từ tuổi ấu thơ đến tuổi trưởng thành, quyết định sự hình thành và phát triển văn hóa, văn minh dân tộc của mỗi người”. (Ngữ pháp, Tiếng Việt – Tiến sĩ ngôn ngữ học Nguyễn Hữu Quỳnh).

Tiếng Việt là ngôn ngữ giao tiếp trong toàn xã hội Việt Nam. Để hoàn thành một vấn đề thông tin nào đó trong tất cả các phương diện: đối thoại, thư báo,…thì khi nói, viết câu văn phải gẫy gọn chính xác, đủ ý. Đó chính là tiêu chuẩn của phép văn minh lịch sự. Việc nói đúng, viết đúng, nói hay, viết hay, Tiếng Việt là nhu cầu cần thiết của học sinh. Bởi vậy Tiếng Việt là một trong các môn học chiếm vị trí quan trọng trong chương trình giáo dục toàn diện cho học sinh Tiểu học. Thông qua môn Tiếng Việt, bằng các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết sẽ cung cấp cho các em một kho tàng ngôn ngữ phong phú, nuôi dưỡng tâm hồn các em, hướng dẫn các em sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác. Phân môn đảm nhiệm chính chức năng trên là phân môn Luyện từ và câu . Ở bậc Tiểu học dạy cho học sinh những từ ngữ thông dụng tối thiểu về thế giới xung quanh như công việc của học sinh ở trường, ở nhà, tình cảm gia đình, vẻ đẹp thiên nhiên đất nước, con người….Những từ ngữ được dạy ở Tiểu học gắn liền với việc giáo dục học sinh tình yêu gia đình, nhà trường, tổ quốc, quê hương…

Muốn rèn luyện được kỹ năng sử dụng ngôn ngữ thì phải hiểu được từ, từ là đơn vị trung tâm, cơ bản của ngôn ngữ. Từ là một loại vật liệu đặc biệt mà thiếu nó thì không có sự tồn tại của ngôn ngữ. Trong các đơn vị ngôn ngữ, từ là đơn vị đảm nhận nhiều chức năng, là đơn vị hiển nhiên có sẵn, có tính độc lập cao.

Vai trò của từ trong hệ thống ngôn ngữ quy định tầm quan trọng trong việc dạy từ ngữ ở Tiểu học. Không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngôn ngữ như một công cụ giao tiếp. Vì vậy việc bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng từ ngữ cho học sinh là việc làm vô cùng quan trọng.

Với cương vị là một giáo viên có nhiệm vụ dẫn dắt các em tìm đến kiến thức mới với tinh thần học tập tự giác, tích cực. Bản thân tôi nhận thấy khi học Luyện từ và câu các em thấy khô, khó, khổ bởi vì phân môn Luyện từ và câu bao gồm nhiều kiến thức khác nhau, giữa các phần không có sự phân biệt rõ ràng nên có sự nhầm lẫn: từ đơn, từ ghép, từ láy, từ tượng thanh, từ tượng hình…Để nói viết thành câu các em phải nắm chắc bản chất, cấu tạo của từ, biết sử dụng từ đúng vị trí. Song thực tế viết văn đòi hỏi các em không chỉ đơn thuần viết câu văn đủ ý mà phải biết vận dụng vốn từ linh hoạt tạo ra các câu văn giàu hình ảnh, gợi tả, gợi cảm…Như vậy để có vốn từ đã khó, việc phân biệt và sử dụng chúng như thế nào lại là cả một vấn đề.

Trong thực tế giảng dạy, tôi thấy nắm khái niệm từ, phân biệt ranh giới tổ hợp từ, từ ghép, từ láy quả là khó đối với các em. Các em thường nhầm tổ hợp hai từ: từ đơn với từ ghép, từ ghép với từ láy hay những từ ghép Hán Việt có hình thức ngữ âm ngẫu nhiên giống từ láy.

Ví dụ: chuồn chuồn nước ( từ ghép), các em thường cho đây là tổ hợp từ đơn.

– Tung cánh ( tổ hợp từ đơn) – các em cho đây là từ ghép.

– Bình minh ( ghép Hán Việt), các em cho là từ láy.

Đôi khi gặp các bài tập khác yêu cầu tìm từ loại của từ, mặc dù không nói đến việc phân cắt từ nhưng nếu không vạch ra ranh giới từ chính xác thì các em sẽ làm bài không đầy đủ.

Ví dụ: Tìm các tính từ trong khổ thơ sau :

” Việt Nam đẹp khắp trăm miền

Bốn mùa một sắc trời riêng đất này .

Xóm làng, đồng ruộng, rừng cây

Non cao gió dựng sông đầy nắng chang.

Sum sê xoài biếc cam vàng

Dừa nghiêng, cau thẳng, hàng hàng nắng soi.”

Nếu học sinh không biết phân cắt từ sẽ cho: Trời riêng, non cao, xoài biếc, cam vàng, dừa nghiêng, cau thẳng là từ ghép nên sẽ tìm thiếu các tính từ: riêng, cao, biếc, vàng, nghiêng, thẳng.Có lúc vì cách xác định từ sai mà dẫn đến việc hiểu nghĩa và sử dụng thiếu chính xác.

Ví dụ: Học sinh đặt câu: Bé Linh để nhà và cửa bừa bộn.

Các em chưa rõ nhà cửa là từ ghép tổng hợp lại sử dụng chúng như tổ hợp 2 từ đơn. .Khái niệm từ đơn, từ ghép, từ láy được dạy ở phân môn dạy học Luyện từ và câu lớp 4.

I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

– Giúp học sinh tháo gỡ một số khó khăn trong việc phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy.

– Các em hiểu chính xác vốn từ, tích cực hóa vốn từ, tạo nền móng cho các em sử dụng đúng từ trong giao tiếp, trong viết văn và học tốt môn Tiếng Việt.

– Giáo dục các em yêu quý Tiếng Việt, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.

– Giúp giáo viên nhận thức rõ vai trò của từ và khả năng phân biệt chúng.

– Phần kiến thức về từ loại (Từ đơn, từ ghép, từ láy) ở Phân môn LTVC lớp 4

– Học sinh lớp 4 và giáo viên trường Tiểu học

I.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

– Đề tài nghiên cứu thực trạng việc lĩnh hội kiến thức và vận dụng kiến thức vào luyện tập thực hành về từ loại: (Từ đơn, từ ghép, từ láy) ở Phân môn Luyện từ và câu lớp 4 trong chương trình bậc Tiểu học hiện nay. Từ đó đưa ra hệ thống giải pháp tối ưu giúp học sinh phân biệt (Từ đơn, từ ghép, từ láy) nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập

I.5 Phương pháp nghiên cứu

Phân môn Luyện từ và câu lớp 4 ở trường Tiểu học chiếm một vị trí vô cùng quan trọng. Góp phần cung cấp cho học sinh một lượng kiến thức sơ giản về cấu tạo của tiếng, cấu tạo của từ. Cung cấp một số kiến thức sơ giản về các từ loại cơ bản của tiếng Việt. Nhận diện, phân tích cấu tạo của tiếng, cấu tạo của từ. Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ ngữ thông qua các dạng bài tập sau:

– Phân loại từ theo cấu tạo. Luyện tập sử dụng vốn từ

– Nhận diện từ theo từ loại. Tìm từ và phân loại từ theo từ loại

– Tìm từ ngữ theo chủ điểm. Hiểu nghĩa của từ. Phân loại từ ngữ

– Tìm hiểu nghĩa của thành ngữ, tục ngữ

– Cung cấp các kiến thức sơ giản về cấu tạo, công dụng và cách sử dụng các kiểu câu

– Nhận diện các kiểu câu. Phân tích cấu tạo câu

– Đặt câu theo mẫu. Lựa chọn kiểu câu để bảo đảm lịch sự trong giao tiếp

– Luyện sử dụng câu trong các tình huống khác nhau. Luyện mở rộng câu …

Như chúng ta đã biết: Muốn học sinh viết được câu văn đúng ngữ pháp, đầy đủ ý nghĩa thì trước hết phải có vốn kiến thức về từ vựng. Phải hiểu được nghĩa của từ, phân loại từ chính xác. Bởi vậy tôi đặc biệt chú trọng nghiên cứu tìm giải pháp tốt nhất để dạy cho học sinh hiểu nghĩa của từ, phân loại từ và có kỹ năng sử dụng vốn từ ngữ trong giao tiếp và viết văn được tốt hơn.

Đề tài được nghiên cứu trong thời gian tôi trực tiếp giảng dạy ở lớp mà tôi chủ nhiệm nên cũng khá thuận lợi. Đa phần học sinh ngoan và chăm học, hăng say xây dựng bài, sách vở và dụng cụ học tập đầy đủ, phụ huynh học sinh quan tâm chăm lo cho con em mình. Ban giám hiệu nhà trường và đồng nghiệp thường xuyên dự giờ thăm lớp, góp ý kiến xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu đề tài thành công và áp dụng vào giảng dạy đạt hiệu quả.

Tuy có nhiều thuận lợi song cũng gặp không ít khó khăn, trong lớp có 12 học sinh dân tộc các tỉnh phía bắc theo bố mẹ vào xây dựng kinh tế nên các em nói tiếng Việt chưa rõ, đọc và viết chưa được trôi chảy điều đó đã ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu đề tài.

I. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra

1 Tìm hiểu chương trình sách giáo khoa

Phần cấu tạo từ hay phân biệt từ loại theo cấu tạo được dạy trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4:

– Tuần 1: cấu tạo của tiếng.

– Tuần 3: từ đơn, từ phức.

– Tuần 4: Từ ghép, từ láy.

Ta thấy chưa có sự thống nhất quan điểm để phân loại một số từ giữa giáo trình Tiếng Việt trường sư phạm với sách giáo khoa Tiểu học.

Ví dụ: Từ chuồn chuồn, lúc lắc, thằn lằn…theo giáo trình sư phạm xếp đây là từ đơn đa âm, còn sách giáo khoa Tiểu học xếp chúng là từ láy.

Hoặc từ: tắc kè, bồ hóng, a pa tít,… giáo trình sư phạm gọi là từ đơn đa âm, nhiều tài liệu khác gọi là từ ghép ngẫu kết. Còn sách giáo khoa Tiểu học xếp chúng vào từ ghép. Vì có sự chưa thống nhất ấy khiến ngay bản thân giáo viên cũng hoang mang, không biết dạy như thế nào cho học sinh. Ngay định nghĩa từ ghép và từ láy cũng chưa có sự phân biệt rõ ràng, nếu chỉ dựa vào định nghĩa thì chưa xác định rõ là từ loại nào?

Qua dự giờ, thăm lớp đàm thoại với giáo viên của trường Tiểu học nơi tôi công tác, tôi nhận thấy giáo viên lên lớp tuân thủ đúng các bước, nhiệt tình giảng dạy, xử lí kiến thức đảm bảo đúng, đủ nội dung của sách giáo khoa. Song đa số giáo viên thường hay ngại việc dạy Luyện từ và câu và không phải mọi giáo viên đều có thể phân cắt từ trong đoạn văn, khổ thơ hay, phân biệt rõ từ đó là từ ghép hay từ láy… một cách chính xác.

Qua nhiều năm dạy lớp 4 tôi nhận thấy các em không thích học giờ Luyện từ và câu, đặc biệt là những tiết ” lý thuyết từ”. Dựa vào những từ ngữ hàng ngày các em đã có thể phân tích nhận biết về đặc điểm cấu tạo, về ý nghĩa của từ. Tuy nhiên các em thấy quá khó khi tách từ trong câu, các em thấy khó hiểu khi nhiều từ, bản thân nó có thể tách làm hai từ đơn.

Hoặc một số từ có bộ phận âm thanh, của các tiếng lặp lại sao không xếp vào từ láy ( mà lại là từ ghép như: tươi cười, thúng mủng…)

Mặt khác học sinh không hề biết đến các từ vắng khuyết các âm đầu như: ọc ạch, ồn ào…Là từ láy hoặc các từ mà các tiếng có âm đầu là một âm nhưng ghi bằng các con chữ khác nhau, là từ láy như: cong queo, kệch cỡm,…

* Qua thực tế dạy học tôi thấy việc phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy một cách chính xác với học sinh lớp 4 đặc biệt là đối tượng học sinh khá giỏi là một yêu cầu cấp bách. Để giúp học sinh đạt được những yêu cầu này mỗi giáo viên phải làm gì, làm thế nào?. Đi tìm lời giải đáp ấy, bản thân tôi nghiên cứu, tìm tòi, đúc rút được một số kinh nghiệm về việc phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy và áp dụng trong việc giảng dạy học sinh lớp 4, học sinh giỏi và thu được kết quả đáng kể.Chính vì vậy năm học 2011-2012 tôi đã đưa kinh nghiệm bản thân thành những phương pháp cụ thể để vận dụng vào việc giảng dạy cho học sinh lớp 4. Cụ thể tôi thực nghiệm trên lớp 4A2 là lớp tôi chủ nhiệm .

– Qua khảo sát chất lượng lớp 4A2 đầu năm, lớp mà tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm với sĩ số 33 em trong đó có :

Nhìn vào kết quả trên tôi thấy số lượng học sinh đạt giỏi còn khiêm tốn và vẫn còn học sinh yếu vì lý do đó nên tôi đã đi sâu tìm hiểu nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp để nâng cao chất lượng dạy phân môn Luyện từ và câu nói chung nhằm nâng cao chất lượng dạy học sinh cách phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy nói riêng .

– Giúp học sinh tìm hiểu ý nghĩa của từ, biết phân loại từ thao cấu tạo

– Xác định đúng từ loại (từ đơn, từ ghép, từ láy) trong văn cảnh cụ thể

– Biết sử dụng từ ngữ phù hợp để viết được câu văn, đoạn văn, bài văn hay

Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp

TÌM HIỂU Ý NGHĨA PHÂN LOẠI THEO CẤU TẠO Ở MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU.

-Với nhiệm vụ dạy về ” từ đơn, từ ghép, từ láy” giáo viên cần chú trọng đến phân tích hình thức cấu tạo của từ, cấu trúc của từ: Từ đơn gồm một tiếng có nghĩa. Từ ghép gồm 2 , 3…tiếng; từ láy gồm 2,3…tiếng láy tạo thành.

– Trong từ ghép ta xem mối quan hệ của chúng: các tiếng có quan hệ đẳng lập hoặc chính phụ. Trong từ láy ta cần quan tâm đến dạng thức láy, kiểu láy, cần làm rõ sự lặp lại của phụ âm đầu, vần, tiếng, thanh điệu.

-Từ ghép gồm các tiếng ghép lại thành một nghĩa chung. Nghĩa của từ ghép là nghĩa tổng hợp hay phân loại.

– Từ láy làm nổi bật giá trị biểu trưng gợi tả, gợi cảm, sự tăng nghĩa, giảm nghĩa, thậm chí giá trị biểu trưng của một số khuôn vần tiêu biểu.

3. HÌNH THÀNH KHÁI NIỆM TỪ, TỪ ĐƠN, TỪ GHÉP, TỪ LÁY.

Quy luật của nhận thức là đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi trở về thực tiễn.Việc hình thành khái niệm “từ” cho học sinh Tiểu học không nằm ngoài quy luật ấy.Mặt khác ta tiến hành đổi mới phương pháp nên có thể tự lựa chọn nội dung giảng dạy không cần câu lệ vào sách giáo khoa, giúp các em độc lập suy nghĩ và hiểu bài sâu sắc hơn.

a, Trước tiên cho học sinh phân biệt “từ đơn, từ phức”:

Cho câu sau đây có 14 từ, mỗi từ được phân cách bằng dấu gạch chéo.

“Nhờ/ bạn/ giúp đỡ/ lại/ có/ chí/ học hành/ nhiều/ năm/ liền/ Hanh/ là/ học sinh/ tiên tiến.”

Yêu cầu học sinh chia các từ trên thành 2 loại:

– Từ chỉ gồm 1 tiếng ( từ đơn)

– Từ chỉ gồm 2 tiếng (từ phức)

Vậy câu trên các từ gồm 1 tiếng ( từ đơn ) là: nhờ, bạn, lại, có, chí, nhiều, năm, liền, Hanh, là.

Các từ gồm nhiều tiếng (từ phức) là: giúp đỡ, học hành, học sinh, tiên tiến.

– Yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi:

Tiếng dùng để cấu tạo từ:

+ Có thể dùng 1 tiếng để cấu tạo nên 1 từ. Đó là từ đơn.

+ Cũng có thể phải dùng 2 tiếng trở lên để tạo nên 1 từ. Đó là từ phức.

+ Biểu thị sự vật, hoạt động, đặc điểm… (tức là biểu thị ý nghĩa)

b, Sau khi học sinh phân biệt được từ đơn, từ phức thì tôi giúp học sinh phân biệt từ láy, từ ghép. Qua bài dạy “từ láy và từ ghép” ở lớp 4.

Truyện cổ, thì thầm, ông cha, chầm chậm, cheo leo, lặng im, se sẽ thì các từ: Truyện cổ, ông cha , lặng im là do các tiếng có nghĩa tạo thành được gọi là từ ghép, còn các từ: thì thầm, chầm chậm, cheo leo, se sẽ, do các tiếng có âm đầu (thì thầm ), vần (cheo leo ), cả âm và vần (se sẽ, chầm chậm) được lặp lại thì gọi là từ láy.

+ Ghép các tiếng có nghĩa lại với nhau là từ ghép .

+ Ghép các tiếng có âm đầu hay vần hoặc cả âm và vần hoặc cả tiếng giống nhau đó là từ láy.

c, Sau khi học song 2 bài ” từ đơn và từ phức”, từ ghép, từ láy, tôi khái quát và giúp học sinh hình thành khái niệm từ đơn, từ ghép, từ láy như sau:

+ Từ đơn là từ do 1 tiếng có nghĩa tạo thành.

+ Từ ghép là do các tiếng ghép lại thành một nghĩa chung.

+ Từ láy là do các tiếng láy lại tạo thành.

d , So sánh khái niệm từ ghép và từ láy.

– Các tiếng trong từ ghép có quan hệ về nghĩa:

VD- Học tập, gia đình, xe đạp ….

– Các tiếng trong từ láy có quan hệ về âm:

VD – chăm chỉ, loắt choắt, xinh xinh.

e, Luyện tập: Hệ thống bài tập được nâng dần từ dễ đến khó. Đầu tiên tôi đưa những từ dễ dàng nhận biết đó là từ đơn, từ ghép hay từ láy.

– Từ đơn: Đi, đứng, học, chơi, ăn, sách, vui, bé, bố, mẹ,…

– Từ láy: Long lanh, chói chang, xinh xinh,…

– Từ ghép: Xanh lè, tròn xoe, thẳng tắp, nhà cửa, cơm nước, sách vở, thông minh,…

Bên cạnh các bài tập học sinh dễ dàng nhận biết “từ đơn, từ ghép, từ láy ” trên, tôi nâng dần mức độ cao hơn ở các dạng bài: Tìm từ đơn, từ ghép, từ láy trong đoạn văn, đoạn thơ xác định tổ hợp là 2 từ đơn hay 1 từ ghép.

Ví dụ 1: Xác định từ đơn, từ ghép, từ láy trong đoạn thơ sau:

” Những chú nghé lông tơ mũm mĩm

Cổng trại mở trâu vào chen chúc

Chiều rộn ràng trong tiếng nghé ơ ”

Ví dụ 2: Trong các tổ hợp từ sau, tổ hợp nào là 2 từ đơn, tổ hợp nào là 1 từ ghép: bánh rán, rán bánh, xe kéo, kéo xe, xe cộ, sách vở,…

Qua 2 ví dụ trên:

Ví dụ 1: Học sinh còn khó khăn trong việc xác định ” cánh hoa mua”; ” cổng trại”, ” tiếng nghé” là từ ghép hay tổ hợp những từ đơn.

Ví dụ 2: Học sinh khó khăn trong việc xác định “rán bánh”, ” kéo xe” là từ ghép hay tổ hợp 2 từ đơn.

Để khắc phục những khó khăn trong việc xác định, phân biệt từ đơn, từ ghép hay phân biệt từ ghép với từ láy tôi đã đưa ra một cách phân biệt như sau.

4. MỘT SỐ CÁCH PHÂN BIỆT TỪ ĐƠN, TỪ GHÉP.

Chúng ta biết rằng từ có tính hoàn chỉnh về cấu tạo và về nghĩa, từ ghép có mối quan hệ giữa các yếu tố trong tổ hợp chặt chẽ, khó tách rời, mang tính cố định,..

Kết cấu 2 từ đơn mối quan hệ giữa các yếu tố trong tổ hợp lỏng lẻo, dễ tách rời, có thể chêm xen một yếu tố khác, từ bên ngoài vào mà nghĩa của tổ hợp về cơ bản không đổi. Để kiểm nghiệm tính hoàn chỉnh về cấu tạo ta có thể dùng cách “chêm xen ” để thử.

Trước hết tôi giúp cho học sinh hiểu ” chêm xen ” là việc xen một yếu tố khác của tổ hợp từ nếu:

* Nghĩa của tổ hợp từ không thay đổi thì tổ hợp từ đó là tổ hợp từ đơn.

* Nghĩa của tổ hợp từ thay đổi thì tổ hợp từ đó là một từ ghép.

Ví dụ: ” Bánh rán ” – ta không thể chêm xen vào giữa 2 tiếng 1 yếu tố nào để nghĩa của nó không thay đổi nên ” bánh rán ” là một từ ghép.

“Rán bánh” ta có thể chêm xen “cái” vào giữa 2 tiếng cụ thể “rán cái bánh” mà nghĩa không thay đổi.Vậy “rán bánh” là tổ hợp 2 từ đơn.

Tương tự học sinh sẽ xác định được “kéo xe”, “tiếng nghé”, “cổng trại” là những tổ hợp 2 từ đơn.

Còn “xe kéo” là một từ ghép.

Mặt khác, Tiếng Việt là ngôn ngữ không có sự biến đổi hình thức của từ trong sử dụng, do đó có nhiều trường hợp nếu chỉ căn cứ vào mặt hình thức thì khó biết được đâu là từ ghép, đâu là tổ hợp những từ đơn. Vì vậy ta phải xem xét chúng trong văn cảnh cụ thể rồi dùng cách “chêm xen”.

Ví dụ: Tổ hợp từ “Anh em” trong câu”

“Anh em đi vắng rồi” là tổ hợp 2 từ đơn vì:

Ta có thể nói “Anh của em đi vắng rồi”

Tổ hợp “Anh em” trong câu:

“Anh em như thể chân tay” là 1 từ ghép vì kết hợp giữa các tiếng rất chặt chẽ không thể thêm tiếng vào giữa chúng.

Sau đó tôi đưa ra một số dạng bài tập tiêu biểu nhằm củng cố cách chêm xen để xác định tổ hợp từ là từ ghép hay là 2 từ đơn như sau:

*Xác định phần gạch chân trong các câu sau đây là 1 từ ghép hay là 2 từ đơn:

Vì tính hoàn chỉnh, chặt chẽ về cấu tạo, về nghĩa của từ mà nhiều khi ta có thể sử dụng một yếu tố thay cho cả một từ đó hay là cách lược bỏ một yếu tố của tổ hợp nếu nghĩa của tổ hợp không thay đổi thì đó là từ ghép.

Ví dụ: Nói về việc mua hoa ta nói: ” mua cúc ” thì được hiểu rằng mua hoa cúc. Vậy “cúc” ở đây có nghĩa là “hoa cúc” nên “hoa cúc” là một từ ghép.

Ngược lại nếu ta nói “mua ngô” thì “ngô” được mang nghĩa là “bắp ngô” chứ không phải là “lá ngô” hay “hoa ngô” nên “bắp ngô” là một từ ghép, còn “hoa ngô” hay “lá ngô” là những tổ hợp 2 từ đơn. Mặt khác nếu trong một tổ hợp từ, một yếu tố của từ mở nghĩa cho các tiếng có kết cấu chặt chẽ, không nằm trong thể đối lập của tổ hợp nào khác thì tổ hợp từ đó là từ ghép.

Ví dụ: “xòe ra”; “quắt lại” là từ ghép vì “ra” và “lại” đã mở nghĩa nên

“xòe ra” nghĩa là “xòe”, “quắt lại” nghĩa là “quắt” và không có sự tồn tại của thể đối lập.

Ví dụ: “xòe vào”,…

Sau đó tôi đưa ra một số bài tập để học sinh rèn luyện kỹ năng, sử dụng cách “lược bỏ một yếu tố của tổ hợp”.

Học sinh đã xác định được “cụp vào”, “hoa hồng” là một từ ghép còn “chạy đi”, “bò vào”, ” lá hồng” là những tổ hợp 2 từ đơn.

Với học sinh Tiểu học, ” loại suy ” cũng là một thủ thuật có hiệu quả để xác định cương vị từ ” loại suy” là cách ta đưa ra mẫu tiêu biểu là tổ hợp từ đơn, (hay 1từ ghép).

Ví dụ: Tổ hợp “cái bàn” là 2 từ đơn suy ra “cái bút”, “quyển sách”, ” con gà”,… cũng là tổ hợp 2 từ đơn.

Tổ hợp mẫu “hoa hồng” là 1 từ ghép, suy ra “hoa cúc”, “hoa đào”…cũng là từ ghép.

Tuy nhiên khi sử dụng “loại suy” cần chú ý nhận dạng cho đúng mẫu và phân biệt các trường hợp nhìn qua về hình thức bề ngoài tưởng như giống nhau nhưng thực chất mối quan hệ về nghĩa lại khác nhau.

Ví dụ: “xòe ra” là 1 từ ghép nhưng “đi ra” lại là 2 từ đơn ( đã trình bày ở phần tỉnh lược ).

Sau khi học sinh hiểu được phương pháp ” loại suy”, tôi đưa ra các bài tập nhằm rèn kỹ năng sử dụng phương pháp này để xác định ranh giới từ.

Tôi đã đưa ra bài tập tổng hợp để các em thực hành.

“Trời nắng chang chang, tiếng tu hú gần xa ran ran. Hoa ngô xơ xác như cỏ may, lá ngô quắt lại rủ xuống. Những bắp ngô đã mập và chắc chỉ chờ tay người đến bẻ mang về .”

Với bài tập này các em dễ dàng phát hiện ra các từ: trời nắng, chang chang, ran ran, xơ xác, những, đã, mập, chắc, và, chỉ, còn, chờ, đến, bẻ.

Các em lưỡng lự khi tìm lời giải đáp cho tổ hợp: Tiếng tu hú, gần xa, hoa ngô, cỏ may, lá ngô, quắt lại, rủ xuống, bắp ngô, tay người, mang về.

Với các tổ hợp từ trên các em đã dùng cách “chêm xen”.

Tiếng của tu hú ( được ) nên “tiếng” là 1 từ, “tu hú” là 1 từ, gần xa là 1 từ.

Tương tự các em dùng cách tỉnh lược để nhận ra: cỏ may , quắt lại, rủ xuống là những từ ghép vì các yếu tố: may, lại, xuống đều mở nghĩa, còn tay người chính là nói người nên tay người là 1 từ.

Hoa ngô, lá ngô, mang về có kết hợp lỏng lẻo nên chúng là những tổ hợp từ đơn, còn bắp ngô có kết cấu chặt nên là 1 từ ghép.

Theo định nghĩa từ ghép, từ láy “sách Tiếng Việt 4”

– Từ ghép là do các tiếng ghép tạo thành một nghĩa chung.

– Từ láy là từ gồm các tiếng láy lại nhau ( âm đầu, vần), cả âm và vần, tiếng.

Như vậy dựa vào định nghĩa học sinh sẽ xếp được các từ mà:

– Các tiếng trong từ có quan hệ về nghĩa, không có quan hệ về âm như: học tập, anh em, gà trống, …là từ ghép.

– Các tiếng trong từ có quan hệ về âm, không có quan hệ về nghĩa như: chăm chỉ, cần cù, lon ton,…là từ láy. Còn các từ mà các tiếng trong từ vừa có quan hệ về nghĩa, vừa có quan hệ về âm như: “học hành, tươi tốt, hư hỏng”…Thực chất là từ ghép nhưng dựa vào định nghĩa các em dễ nhầm là từ láy, vậy dạy như thế nào?

– Mặt khác còn có các từ mà các tiếng trong từ không có quan hệ về âm, cũng chẳng có quan hệ về nghĩa như: mồ hôi, bồ hóng, … theo giáo trình Trường sư phạm thì xếp chúng là từ đơn đa âm, vấn đề này rất khó đối với học sinh Tiểu học nên ta không lấy ra làm ví dụ để xem xét hoặc dùng để ra đề thi kể cả với học sinh giỏi. Nếu học sinh đưa ra yêu cầu xếp loại ta nên nói vấn đề này các em sẽ được học sau ( tránh nói đây là từ ghép).

– Về từ láy cũng có quan niệm khác nhau giữa giáo trình Trường sư phạm và sách giáo khoa Tiểu học. Theo giáo trình Trường sư phạm thì phương thức láy,chỉ ra được hình vị gốc, vì vậy các trường hợp: chôm chôm, đu đủ, thằn lằn, …không được xem là từ láy, còn sách giáo khoa Tiểu học nhất loạt xét theo hình thức ngữ âm nên xếp đây là từ láy, đó cũng là quan điểm phù hợp với tâm lí học sinh Tiểu học.

– Để xếp 1 từ vào nhóm từ láy phải chỉ ra được sự lặp lại của cả tiếng hoặc 1 bộ phận âm đầu, vần, nên các trường hợp ồn ào, ầm ĩ, ọc ạch… cần được xếp vào từ láy vì các tiếng trong từ có sự giống nhau về hình thức ngữ âm: Cùng vắng khuyết phụ âm đầu.

– Ngoài ra giáo viên cần nắm chắc về ngữ âm: /k/ được viết bằng 3 con chữ: c, q, k, âm /z/ viết bằng 2 con chữ: d, gi; âm /y/ viết bằng 2 con chữ: i, y…nên cần giúp học sinh nắm được các từ láy phụ âm đầu được ghi bằng các con chữ khác nhau như: kệch cỡm, kính coong, cong queo, cồng kềnh, ngô nghê, gồ ghề …

Để củng cố cho học sinh phần này tôi cho học sinh làm bài tập sau:

Ví dụ: Xếp các từ sau đây thành 2 nhóm: từ ghép, từ láy:

Mập mạp, lom khom, tươi tốt, ầm ĩ, học tập, học hỏi, cồng kềnh.

– Học sinh đã xác định đúng như sau:

+ Từ ghép: tươi tốt, học hỏi, học tập.

+ Từ láy: mập mạp, lom khom, ầm ĩ, cồng kềnh

– Trong thực tế học sinh còn gặp phải 1 số từ ghép Hán – Việt có bộ phận âm thanh ngẫu nhiên giống từ láy. Gặp những trường hợp này giáo viên nên giải nghĩa và giảng cho các em hiểu đó là những từ ghép Hán – Việt ( các em sẽ được tìm hiểu k ỹ ở bậc THCS )

Ví dụ: Bình minh, hoan hỉ, căn cơ, ban bố,…

Khi học sinh nắm được các cách phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy ngoài việc ra các bài tập để các em luyện tập kĩ năng sử dụng để tách từ, tôi đưa ra một số dạng bài tập khác giúp các em nhận diện, phân loại, phát triển vốn từ.

5, CÁC DẠNG NHẬN DIỆN, PHÂN LOẠI, PHÁT TRIỂN TỪ ĐƠN, TỪ GHÉP, TỪ LÁY.

Ví dụ: Tìm 5 từ đơn, 5 từ ghép, 5 từ láy.

Ví dụ: Hãy xếp các từ: thật thà, bạn bè, học hành, chăm chỉ, đi đứng, khó khăn, tươi tốt vào 2 nhóm:

Ví dụ: Tìm các từ đơn, từ ghép có trong các câu sau:

Mùa xuân mong ước đã đến. Đầu tiên từ trong vườn mùi hoa hồng, hoa huệ sực nức bốc lên.

Ví dụ: Ghép các tiếng sau thành những từ ghép:

Ăn, mặc, ở, xe, nổ, máy, điện, dệt, nói.

Đầu bài cho sẵn 1 yếu tố cấu tạo từ (1 tiếng) yêu cầu học sinh tìm từ có tiếng gốc đó theo những kiểu cấu tạo khác nhau.

Ví dụ: Điền tiếng thích hợp vào chỗ chấm (…) để có:

Ví dụ: Tìm 5 từ ghép hoặc từ láy nói về đức tính của 1 học sinh giỏi. Viết đoạn văn về bạn học sinh giỏi đó.

Ví dụ: Tìm 5 từ ghép chỉ sắc độ trắng khác nhau. Giải thích ý nghĩa của mỗi từ.

Mức độ khó của bài tập không phụ thuộc vào các dạng, kiểu bài tập mà phụ thuộc vào chính những ngữ liệu đem ra xem xét. Tùy từng đối tượng học sinh mà ta đưa ra những ngữ liệu phù hợp. Với học sinh trung bình chỉ cần đưa ra những dạng đơn giản, cơ bản. Học sinh giỏi ta có thể gài một số trường hợp dễ nhầm lẫn. Với những trường hợp có nhiều đáp số khác nhau cần hướng dẫn học sinh tìm ra đáp số của để bài và phải biết lý giải vì sao mình lại đi đến kết quả ấy.

Ví dụ ở dạng 2: Học sinh băn khoăn khi xếp từ bạn bè là từ ghép hay từ láy.

Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề cần nghiên cứu

Sau khi nghiên cứu, tìm tòi phương pháp và áp dụng vào thực tiễn giảng dạy, tôi thấy chất lượng nhận diện từ của học sinh nâng lên rõ rệt. Các em không còn cảm thấy quá khó khăn với các bài tập tách từ trong đoạn văn, đoạn thơ, hoặc phân biệt từ ghép, từ láy – và khả năng tạo từ tương đối phong phú.

Tôi đã ra đề khảo sát chất lượng các em như sau:

Câu 1: Dùng 1 gạch ( / ) tách các từ trong khổ thơ sau:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ Người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Câu 2: Xếp các từ sau đây thành 2 nhóm: Nhóm từ láy, nhóm từ ghép.

Học tập, học giỏi, siêng năng, ồn ào, tươi tỉnh, tươi cười, tươi tốt, tươi tắn, cuống quýt, vui vẻ, ngộ nghĩnh.

Tai voi giống như cái quạt.

Tôi vừa mua chiếc quạt tai voi.

Câu 4: Ghép thêm tiếng vào sau tiếng: ” nhỏ ” để được 3 từ láy, 3 từ ghép

– Thường xuyên thăm lớp, dự giờ học hỏi kinh nghiệm giảng dạy nói chung, phân môn Luyện từ và câu nói riêng, đặc biệt phần lí thuyết từ, phải hiểu rõ ý đồ, quan điểm của tài liệu.

– Nghiên cứu tài liệu để nâng cao trình độ, khi giảng dạy cần theo quan điểm lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên là người gợi mở giúp học sinh chủ động nắm giữ kiến thức.

– Để giúp học sinh tránh được những sai phạm về phân loại từ, nhận diện từ khi dạy chú ý cần chọn ví dụ cho thích hợp, mở rộng kiến thức hợp lý, đưa ra các biện pháp để học sinh phân biệt.

– Học sinh phải chủ động, tích cực nắm kiến thức, tích cực làm việc, các em đóng vai trò là nhân vật trung tâm trong quá trình dạy học.

– Các em tự học hỏi làm các bài tập nâng cao không biết thì hỏi bạn ,hỏi thày..

– Các em biết biện luận cho đáp số của mình với nhiều trường hợp có nhiều khả năng xảy ra.

– Thường xuyên rèn luyện, đặt từ trong văn cảnh và hiểu nghĩa của từ để có thế sử dụng đúng .

PHẦN KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

Qua nghiên cứu thực trạng phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy của học sinh lớp 4 trường tôi đang công tác và nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc phân loại, nhận diện từ, tôi đã bước đầu tìm ra giải pháp giúp các em không quá khó khăn khi tiến hành công việc này. Các em đã chuyển được suy nghĩ phải học, sợ học Luyện từ và câu sang thích thú tìm hiểu chúng. Nhiều từ trước đây còn phải tranh cãi đến nay các em đã có phương pháp để xem xét chúng một cách khoa học. Học sinh có thể tự tin và biết biện luận và lý giải cho bài làm của mình. Trong quá trình nghiên cứu và tích lũy, đúc rút kinh nghiệm với khả năng của bản thân có hạn, còn nhiều hạn chế, tôi rất mong bạn đọc và hội đồng khoa học cấp cơ sở góp ý để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả.

Chương trình sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy.

– Nên tăng thời lượng mỗi tuần từ 2 tiết đến 3 tiết để học sinh có khả năng học tập nhận diện từ tốt

– Cần bổ sung cho định nghĩa từ ghép và từ láy một dấu hiệu để phân biệt.

– Giáo viên phải nắm vững nội dung, phương pháp giảng dạy sát với đối tượng học sinh để sử dụng phương pháp thích hợp giúp các em phát triển tư duy trong quá trình nhận thức lĩnh hội kiến thức.

– Giáo viên phải học tập thường xuyên, tích cực trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, tích lũy kinh nghiệm giảng dạy để nâng cao tay nghề.

– Giáo viên phải biết tổ chức cho học sinh học tập có nề nếp, giúp học sinh chủ động học tập một cách tự giác, say mê, sáng tạo.

Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 – Tập 1 – Nhà xuất bản giáo dục.

Sách giáo viên Tiếng Việt 4 – Tập 1.

Thiết kế bài giảng Tiếng Việt 4- Tập 1

Sáng kiến kinh nghiệm tiểu học miễn phí Sáng kiến kinh nghiệm Mầm non miễn phí. Sáng kiến kinh nghiệm THCS miễn phí

Từ Láy Là Gì? Tác Dụng Và Cách Phân Biệt Từ Láy Như Thế Nào

1.1. Từ láy là gì?

Các bạn có thể đã sử dụng từ láy rất nhiều lần trong quá trình làm các bài tập ngữ văn của mình, nhưng có thể do chưa nắm vững được định nghĩa về từ láy nên các bạn không biết rằng những từ ngữ mình đã sử dụng chính là từ láy. Vậy chúng ta sẽ cùng định nghĩ một cách chi tiết để dễ dàng hiểu được: Từ láy được cấu tạo bởi 2 tiếng trở lên, các tiếng tạo nên từ láy có đặc điểm giống nhau về chỉ nguyên âm hoặc phụ âm, hay có thể giống nhau cả nguyên âm và phụ âm. Trong từ láy có thể có 1 từ không mang ý nghĩ gì hoặc cả 2 từ đều không có nghĩa và được ghép với nhau thành một từ có nghĩa.

Ví dụ: Lấp lánh, tròn trịa, lung linh, lan man…

1.2. Từ láy có tác dụng gì?

Mặc dù được cấu tạo từ những tiếng không có ý nghĩa, nhưng khi chúng đứng bên cạnh nhau, được ghép với nhau thì lại tạo thành một từ có nghĩa. Trong các văn bản văn học, các tác phẩm thơ ca, từ láy có tác dụng để miêu tả hình dạng, nhấn mạnh đặc điểm của tâm lý, tình trạng, tinh thần, tâm trạng… của con người, các hiện tượng, sự vật trong cuộc sống.

1.3. Phân loại từ láy

Như đã nói ở trên từ láy là các từ có thể giống nhau chỉ vần hoặc chỉ âm, hoặc có thể giống nhau hoàn toàn về âm và vần, chính vì vậy từ láy được chia làm 2 loại:

+ Từ láy bộ phận:

– Láy âm (nguyên âm): là những từ có phần âm lặp lại nhau.

Ví dụ: thấp thỏm, da dẻ, xinh xắn, ngơ ngác, gầm gừ…

– Láy vần (phụ âm): là những từ có phần vần lặp lại nhau.

Ví dụ: Chênh vênh, liêu xiêu, cheo leo, càu nhàu, bồi hồi…

+ Từ láy toàn bộ:

– Những từ lặp lại nhau cả âm vf cả vần. Ví dụ: Luôn luôn, hằm hằm, xanh xanh, ào ào, dành dành…

– Hoặc để tạo sự tinh tế hài hòa về âm thanh, một số từ còn được thay đổi phụ âm cuối hoặc thanh điệu. Ví dụ: Thoang thoảng, lanh lảnh, ngoan ngoãn, ngồn ngộn, thăm thẳm…

2. Từ ghép là gì? Cách phân biệt từ láy và từ ghép

Từ láy và từ ghép hai biện pháp tu từ mà rất nhiều người bị nhầm lẫn, khó phân biệt. Vậy làm sao để có thể phân biệt được hai loại từ này thì các bạn cần nắm chắc kiến thức về cả từ láy và từ ghép. Mời các bạn cùng đi tìm hiểu qua về nội dung kiến thức phần từ ghép.

2.1. Như thế nào là từ ghép?

2.1.1. Khái niệm

Từ ghép chính là từ được ghép bởi 2 tiếng trở nên, các tiếng này có cùng quan hệ về mặt ý nghĩa với nhau và về mặt âm, vần không bắt buộc phải giống nhau.

2.1.2. Từ ghép có tác dụng gì?

Tác dụng chủ yếu của từ ghép chính là đóng vai trò xác định những từ ngữ cần sử dụng trong lời nói, trong mỗi câu văn, giúp hoàn chỉnh hơn nữa về mặt ngữ nghĩa.

2.1.3. Từ ghép được phân loại như thế nào?

Dựa và đặc điểm của từ ghép mà người ta phân từ ghép thành 2 loại: Đẳng lập, chính phụ.

– Từ ghép chính phụ:

Là từ được ghép từ 2 tiếng có sự phân biệt về nghĩa rất rõ ràng, từ đứng đầu là từ chính – từ chính đóng vai trò mang ý nghĩa trọng tâm, từ đứng sau là từ phụ – đóng vai trò bổ trợ ý nghĩa cho từ chính. Nói chung, ý nghĩa diễn đạt của loại từ ghép này thường hẹp.

Ví dụ: đỏ hoe, sân bay, hoa hồng, tàu hỏa, xanh nhạt…

– Từ ghép đẳng lập:

Trong loại từ ghép đẳng lập, các từ có vai trò về ý nghĩa ngang nhau, không còn phân biệt đâu là từ chính, đâu là từ phụ. Ý nghĩa của từ ghép đẳng lập thể hiện rộng rãi hơn so với sử dụng từ ghép chính phụ.

Ví dụ: Bố mẹ. anh chị, nhà cửa, sách vở, bàn ghế, quần áo, ông bà, cỏ cây…

2.2. Phân biệt từ láy và từ ghép

Như các bạn cũng biết, Tiếng Việt vô cùng phong phú, đa dạng và chính điểm mạnh này lại là một hạn chế đối với người học bởi nó tạo ra nhiều sự phức tạp trong quá trình học. Tại sao mọi người lại có nhiều sự nhầm lẫn giữa từ láy và từ ghép đến như vậy? Đó chính là do giữa từ láy và từ ghép có sự chuyển hóa lẫn nhau. Tuy vậy, vẫn có các yếu tố cơ bản để giúp người học có thể phân biệt được từ láy và từ ghép.

Cách 1: Từ ghép có chứa từ Hán Việt thì không phải từ láy

Trong tiếng Việt những từ Hán Việt láy âm xuất hiện rất nhiều, chính vì vậy mà tất cả những từ Hán Việt có 2 âm tiết thì sẽ được xác định là từ ghép chứ không phải là từ láy, dù cho từ đó có ngẫu nhiên láy âm với nhau đi nữa.

Ví dụ: “Tử Tế” cùng láy nguyên âm “T” nhưng ở đây “Tử” là từ Hán Việt nên đây là từ ghép.

Cách 2: Từ ghép thuần Việt cả 2 từ đều có nghĩa không được coi là từ láy

Ta tách 2 từ riêng biệt ra nếu cả 2 từ đều có ý nghĩa thì đó là từ ghép, còn 1 hoặc 2 từ tách ra vô nghĩa thì là từ láy.

Ví dụ các từ che chắn, máu mủ… thì sẽ được coi là từ ghép. Ngoài ra chỉ có một từ có nghĩa trong hai từ thì đó có thể coi là láy âm, ví dụ: lạnh lùng, lảm nhảm…

Cách 3: Nếu hai tiếng trong một từ đảo trật tự cho nhau mà vẫn có nghĩa thì đó là từ ghép

Khi đảo trật tự các tiếng trong một từ mà được một từ mới vẫn có nghĩa thì đó được coi là từ ghép. Ví dụ: thẫn thờ – thờ thẫn, mệt mỏi – mỏi mệt…

3.1 Bài tập nhận biết từ láy

Ở dạng bài tập này, học sinh sẽ được đưa ra một danh sách các từ, trong đó có thể có nhiều loại từ như từ ghép, từ láy và học sinh phải nhận biết được đúng loại từ để sắp xếp sao cho đúng. 

Ví dụ bài tập sau đây:

Cho danh sách từ sau, hãy sắp xếp chúng thành hai loại, từ ghép và từ láy: nhà cửa, sừng sững, lủng củng, hung dữ, mộc mạc, nhũn nhặn, cứng cáp, dẻo dai, vững chắc, thanh cao, giản dị, dũng cảm, hồi hộp, lẻ loi, chí khí.

Đáp án: 

Từ láy bao gồm: sừng sững, lủng củng, mộc mạc, nhũn nhặn, cứng cáp, hồi hộp, lẻ loi.

Từ ghép bao gồm: nhà cửa, hung dữ, vững chắc, thanh cao, giản dị, chí khí.

Lưu ý: đây là dạng bài tương đối dễ và dừng lại ở mức nhận biết, nên học sinh cần nắm chắc khái niệm về từ láy, từ ghép để phận biệt cho đúng, chuẩn.

3.2 Dạng bài xác định kiểu từ láy

Ở dạng bài này, học sinh không những phải xác định đâu là từ láy mà còn phải biết được từ láy đó thuộc dạng nào, láy bộ phận hay láy toàn bộ.

Ví dụ cho các từ sau: mải miết, phẳng phiu, mong mỏi, mơ màng, líu lo, hun hút, thăm thẳm, tít tắp. Hãy cho biết các từ láy trên thuộc loại nào?

Đáp án: Từ láy bộ phận bao gồm: mải miết, phẳng phiu, mong mỏi, mơ màng, líu lo, tít tắp, hun hút,

Từ láy toàn bộ bao gồm: thăm thẳm.

Lưu ý: Dạng bài nhận biết loại từ ghép cũng là dạng bài tương đối dễ, học sinh cần nắm chắc lý thuyết về phân loại từ láy để đạt điểm cao trong dạng bài tập này.

3.3 Dạng bài xác định từ láy trong đoạn văn, đoạn thơ và nêu công dụng

Đề bài thường sẽ cho một đoạn văn bản hoặc một đoạn thơ có chứa từ láy, học sinh cần tìm ra từ láy và nêu được tác dụng của từ láy trong văn bản. Ở dạng bài này, học sinh cần hiểu được nội dung, ý nghĩa của đoạn văn, đoạn thơ thì mới có thể phân tích được tác dụng của từ láy.

Ví dụ 1: Cho đoạn văn sau:

“Đêm về khuya lặng gió. Sương phủ trắng mặt sông. Những bầy cá nhao lên đớp sương “tom tóp”, lúc đầu còn loáng thoáng dần dần tiếng tũng toẵng xôn xao quanh mạn thuyền”.

Xác định từ láy trong văn bản và nêu tác dụng của từ láy đó.

Đáp án: Từ láy: tom tóp, loáng thoáng, tũng toẵng, xôn xao.

Tác dụng: những từ láy miêu tả âm thanh và tần suất xuất hiện của âm thanh xuất hiện trên dòng sông lúc đêm khuya tĩnh lặng. Từ láy góp phần miêu tả khung cảnh bờ sông về đêm, đồng thời tác giả cũng đã sử dụng nghệ thuật lấy động tả tĩnh để từ âm thanh tiếng cá đớp mồi, gõ vào mạn thuyền thể hiện sự tĩnh lặng của dòng sông về đêm, có thể nghe thấy từng âm thanh rất nhỏ.

Ví dụ 2: Xác định từ láy xuất hiện trong đoạn thơ sau, những từ láy đã góp phần làm nên thành công về giá trị biểu đạt của đoạn thơ như thế nào?

Gió nâng tiếng hát chói chang

Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời

Tay nhè nhẹ chút, người ơi

Trông đôi hạt rụng hạt rơi xót lòng.

Mảnh sân trăng lúa chất đầy

Vàng tuôn trong tiếng máy quay xập xình

Nắng già hạt gạo thơm ngon

Bưng lưng cơm trắng nắng còn thơm tho. 

Đáp án: Từ láy: chói chang, long lanh, nhè nhẹ, xập xình, thơm tho.

Tác dụng: nhà thơ đã sử dụng hàng loạt các từ láy có giá trị biểu cảm, miêu tả cao, khiến đoạn thơ đậm chất trữ tình, người đọc có thể hình dung ra được những vất vả, cực nhọc mà người nông dân phải trải qua để có được hạt gạo trắng ngần thơm tho.

Ví dụ 3: Phân tích tác dụng của từ láy có trong đoạn văn sau

Bản làng đã thức giấc. Đó đây, ánh lửa hồng bập bùng trên các bếp. Ngoài bờ ruộng đã có bước chân người đi, tiếng nói chuyện rì rầm, tiếng gọi nhau í ới.

Tảng sáng, vòm trời cao xanh mênh mông. Gió từ trên đỉnh núi tràn xuống thung lũng mát rượi.

Đáp án: Từ láy: bập bùng, rì rầm, í ới, mênh mông.

Tác dụng: Từ láy “bập bùng” khiến người đọc hình dung ra ngọn lửa cháy to, cháy đều trong đêm. Những tiếng “rì rầm, í ới” diễn tả âm thanh của cuộc sống, đã bắt đầu sôi động vào buổi sáng sớm. Từ láy “mênh mông” diễn tả không gian bầu trời rộng lớn vào buổi sáng sớm.

Ví dụ 4: Chỉ ra từ láy và phân tích tác dụng của từ láy đó trong đoạn thơ sau trong bài “Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy:

“Bão bùng thân bọc lấy thân

Tay ôm, tay níu tre gần nhau thêm

Thương nhau tre chẳng ở riêng

Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người”.

Đáp án: Từ láy “bão bùng” được sử dụng để thể hiện những khắc nghiệt của thời tiết, nhưng tre vẫn đùm bọc lấy nhau. Nhà thơ đã ca ngợi phẩm chất đoàn kết, biết giúp đỡ, bao bọc của cây tre, từ đó ẩn dụ để chỉ những phẩm chất cao đẹp của người Việt Nam.

Ví dụ 5: Câu thơ của Nguyễn Du trong “Truyện Kiểu” có sử dụng từ láy lập lòe để miêu tả sắc đỏ của hoa lựu mùa hè:

“Dưới trăng quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”

Từ láy lập lòe đã gợi lên sắc đỏ của hoa lựu, một sắc đỏ rực ẩn hiện sau tán lá.

Lưu ý: bài tập xác định và phân tích từ láy là dạng bài khó, đòi hỏi học sinh không những nắm vững kiến thức về từ vựng mà còn phải có khả năng đọc hiểu và cảm thụ văn bản. Với dạng đề này, học sinh cần phải thực hành luyện tập nhiều để có thể đạt được điểm số cao khi làm các bài tập làm văn.

3.6 Mở rộng bài tập tự luyện

Xác định từ láy trong những đoạn thơ sau trong bài “Việt Bắc” của Tố Hữu:

-Mình về mình có nhớ ta 

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng 

-Tiếng ai tha thiết bên cồn 

Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi 

-Mình đi có nhớ những nhà 

Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son 

-Ta với mình, mình với ta,

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh 

-Những đường Việt Bắc của ta 

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng 

ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan 

Dân công đỏ đuốc từng đoàn 

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay 

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày 

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

Xác định từ láy trong bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận:

-Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song.

-Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

-Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

-Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

 Trong bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến:

-Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Trong bài “Thu ẩm”, Nguyễn Khuyến:

-Năm gian nhà cỏ thấp le te,

Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.

Trong bài “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu:

-Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng.

-Những luồng run rẩy rung rinh lá…

Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

-Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ…

Non xa khởi sự nhạt sương mờ…

Trong bài “Thu” của Xuân Diệu:

-Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu;

Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì.

Hư vô bóng khói trên đầu hạnh;

Cành biếc run run chân ý nhi

-Bên cửa ngừng kim thêu bức gấm,

Hây hây thục nữ mắt như thuyền.

Gió thu hoa cúc vàng lưng giậu,

Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên

Từ láy trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

-Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

-Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

-Rải rác biên cương mồ viễn xứ

-Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Từ láy trong bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương:

-Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

-Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:

Có chồng hờ hững cũng như không

Từ láy trong bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ:

-Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,

Nơi ta không còn được thấy bao giờ!

Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,

Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn

Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,

– Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!