Bài 41. Cấu Tạo Vũ Trụ

--- Bài mới hơn ---

  • Chi Tiết Xe Honda Winner X 2022 Kèm Giá Bán (12/2020)
  • Giá Xe Honda Winner X 2022 Mới Ra Mắt Tháng 12 2022
  • Đánh Giá Winner X Về Thiết Kế Cùng Một Số Lỗi Người Dùng Phản Ánh
  • Đánh Giá Honda Winner X 2022 Về Thông Số Kỹ Thuật Cùng Cách Mua Trả Góp Tháng 12 2022
  • Mua Bán Xe Honda Winner Cũ Mới: Giá Xe Winner 12/2020
  • CẤU TẠO VŨ TRỤ

    BAN KHOA HỌC XÃ HỘI

    CHƯƠNG TRÌNH THÍ ĐIỂM PHÂN BAN

    GV: NGUYỄN ANH TUẤN

    THPT TRẦN VĂN ƠN

    CHÂU THÀNH

    BẾN TRE

    VŨ TRỤ XUNG QUANH TA CÓ CẤU TẠO NHƯ THẾ NÀO ?

    Vũ trụ gồm các thiên hà và các đám thiên hà

    Thiên Hà

    Thiên hà là một tập hợp từ khoảng 10 triệu (107) đến nghìn tỷ (1012) các ngôi sao khác nhau xen lẫn bụi, khí và có thể cả các vật chất tối xoay chung quay một khối tâm.

    VŨ TRỤ XUNG QUANH TA CÓ CẤU TẠO NHƯ THẾ NÀO ?

    Vũ trụ gồm các thiên hà và các đám thiên hà

    Nhiều thiên hà có dạng xoắn ốc phẳng.

    VŨ TRỤ XUNG QUANH TA CÓ CẤU TẠO NHƯ THẾ NÀO ?

    Vũ trụ gồm các thiên hà và các đám thiên hà

    Nhiều thiên hà có dạng xoắn ốc phẳng.

    Thiên hà của chúng ta gọi là Ngân Hà (có Hệ Mặt Trời trong đó)

    và cũng có dạng xoắn ốc phẳng như trên. Trong văn học nó còn có tên gọi là sông Ngân.

    Thiên Hà của chúng ta gọi là gì ?

    I. HỆ MẶT TRỜI

    Gồm Mặt Trời và các Hành Tinh (của Mặt Trời), chuyển động xung quanh Mặt Trời và các vệ tinh (của các Hành Tinh), chuyển động xung quanh các Hành Tinh

    1. MẶT TRỜI

    1. Mặt trời là thiên thể trung tâm của Hệ Mặt Trời.

    a. Kích thước:

    Bán kính Mặt Trời lớn gấp 109 lần bán kính Trái Đất

    b. Khối lượng:

    Khối lượng Mặt Trời gấp 333.000 lần khối lượng Trái Đất.

    Đại lượng nào đóng vai trò quyết định đến sự hình thành và phát triển và chuyển động của hệ ?

    Là lực hấp dẫn của Mặt Trời

    Vài số liệu về Trái Đất

    Bán kính 6400 km

    Khối lượng 5,98.10 24 kg

    Bán kính quỹ đạo quanh Mặt Trời 150.000 km (bằng 1 đơn vị thiên văn)

    Khối lượng riêng trung bình 5515kg/m3

    Chu kỳ quay quanh Mặt Trời 365,2422ngày.

    Góc nghiêng của trục quay trên mặt phẳng quỹ đạo là 23027/

    Hãy nêu cấu tạo của Mặt Trời ?

    Mặt trời là một khối khí nóng sáng với khoảng 75% là Hidro và 23% là Heli.

    Nhiệt độ mặt ngoài Mặt Trời là 60000K

    và nhiệt độ bên trong lòng Mặt Trời lên đến hàng chục triệu độ.

    Nhiệt độ cao khiến Mặt Trời có vai trò gì quan trọng đối với cả Thái Dương Hệ (hay Hệ Mặt Trời)

    Mặt Trời là nguồn cung cấp năng lượng chính cho Hệ Mặt Trời

    Hãy cho biết công suất phát xạ của Mặt Trời ?

    Công suất phát xạ của Mặt Trời lên đến 3,9.10 26 W

    Công suất phát xạ của Mặt Trời gấp mấy lần công suất tổ Máy Phát Điện nhà Máy Thủy Điện Hòa Bình 240.10 6 W

    Trả lời:Gấp 1,625.10 18 lần (hay 1,625 tỉ tỉ lần)

    Nguồn năng lượng của Mặt Trời do phản ứng nào sinh ra ?

    Năng lượng Mặt Trời do phản ứng tổng hợp các hạt nhân nhẹ (Hidro) thành các hạt nhân nặng hơn (Heli)

    Phản ứng tỏa năng lượng 26,7 MeV

    2. Các Hành Tinh

    Hãy kể tên các hành tinh trong Hệ Mặt Trời ?

    Gồm Thủy tinh, Kim tinh, Trái Đất, Hỏa tinh, Mộc tinh, Thiên Vương tinh, Hải Dương tinh và Diêm Dương tinh

    THỦY TINH

    KIM TINH

    TRÁI ĐẤT

    HỎA TINH

    MỘC TINH

    THỔ TINH

    THIÊN VƯƠNG TINH

    HẢI VƯƠNG TINH

    DIÊM VƯƠNG TINH

    2. Các Hành Tinh

    Các Hành tinh chuyển động theo cùng một chiều, trùng với chiều tự quay của Mặt Trời xung quanh nó.

    Các hành tinh chuyển động quanh Mặt Trời như thế nào ?

    Quỹ đạo các hành tinh có đặc điểm gì ?

    Quỹ đạo các hành tinh gần giống vòng tròn. Các mặt phẳng quỹ đạo gần như trùng nhau. Ta coi hệ Mặt Trời có cấu trúc hình dĩa phẳng

    Xung quanh các hành tinh có các thiên thể gì ? Nó chuyển động ra sao ?

    Xung quanh các hành tinh có các vệ tinh

    Ví dụ: Mặt Trăng là một vệ tinh của Trái Đất.

    Các vệ tinh chuyển động ra sao ?

    Các vệ tinh chuyển động tròn quanh hành tinh. Mặt phẳng quỹ đạo của chúng gần như trùng nhau.

    Hãy so sánh cấu trúc của hệ (Hành tinh + vệ tinh của nó) với các cấu trúc khác của Vũ Trụ

    Hệ thống gồm (Hành tinh+Vệ tinh của nó) có cấu trúc thế nào so với các hệ khác trong vũ trụ

    HỆ THỐNG (HÀNH TINH + VỆ TINH CỦA NÓ) LÀ MỘT CẤU TRÚC NHỎ NHẤT CỦA THẾ GIỚI VĨ MÔ

    Các hành tinh được phân loại thế nào ?

    Các hành tinh được chia thành hai nhóm:

    Nhóm Trái đất: Thủy tinh, Kim tinh, Trái Đất, Hỏa tinh

    Nhóm Mộc tinh: Mộc tinh, Thổ tinh, Hải Vương tinh, Thiên Vương tinh

    Nhóm Trái Đất

    Nhóm Mộc Tinh

    3. Các hành tinh nhỏ

    Các hành tinh nhỏ là gì ?

    Các hành tinh nhỏ là các hành tinh có bán kính từ vài km đến vài chục km

    Chuyển động quanh Mặt Trời trên các quỹ đạo có bán kính từ 2,2 đến 3,6 đơn vị thiên văn

    4. SAO CHỔI VÀ THIÊN THẠCH

    a. Sao chổi là những khối khí đóng băng lẫn với đá, đường kính vài km.

    Chuyển động xung quanh Mặt Trời theo những quỹ đạo Elip dẹt có Mặt Trời là 1 tiêu điểm

    Sao chổi Halley

    Sao chổi va chạm vào Mộc tinh

    Điểm gần Mặt Trời nhất của Sao Chổi giáp quỹ đạo Thủy tinh. Điểm xa Mặt Trời nhất giáp quỹ đạo Diêm Vương Tinh.

    Chu kỳ chuyển động sao chổi quanh Mặt Trời từ vài năm đến 150 năm (sao chổi Halley có chu kỳ 75 năm)

    Thời gian sao chổi chuyển động gần Mặt Trời khoảng vài tuần.

    Lúc nầy nhiệt độ nó tăng rất cao. Vật chất trong sao nóng sáng và bay hơi.

    Khí và bụi trong sao bị áp suất ánh sáng Mặt Trời đẩy dạt về phía xa Mặt Trời tạo thành cái đuôi giống cái chổi.

    Đuôi sao chổi phản xạ, tán xạ ánh sáng mặt trời, nên ta thấy cả đầu lẫn đuôi sao chổi

    Trong đầu sao chổi có một cái Nhân chưa bị sức nóng làm bay hơi.

    Thời gian ở xa Mặt Trời, nhiệt độ nó thấp, vật chất trong sao bị đóng băng hết.

    Sau mỗi lần gần Mặt Trời, vật chất trong Sao bị mất nhiều.

    Chỉ có sao chổi lớn (sao chổi Halley) mới tồn tại lâu.

    b. Thiên thạch

    Thiên thạch là những tảng đá chuyển động quanh Mặt Trời.

    Số thiên thạch rất nhiều, chúng chuyển động theo nhiều quỹ đạo khác nhau. Có cả dòng thiên thạch

    Khi thiên thạch bay gần một hành tinh nào đó thì nó sẽ bị hút vào hành tinh đó

    và xảy ra sự va chạm giữa thiên thạch với hành tinh đó

    Khi thiên thạch bay vào bầu khí quyển của Trái Đất thì sẽ bị ma sát mạnh, nóng sáng và bốc cháy, để lại vạch sáng dài mà ta gọi là sao băng

    Nếu thiên thạch lớn rơi vào bầu khí quyển, nó không cháy hết, rơi xuống mặt đất, có thể gây ra động đất mạnh kèm theo sóng thần hủy diệt mọi thứ trên Trái Đất

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tao Các Loại Van Khóa Nước Hai Chiều 2022
  • Van Tiết Lưu Thủy Lực Là Gì? Tìm Hiểu Cấu Tạo Và Cách Hoạt Động Của Nó
  • Van Tiết Lưu Khí Nén
  • Van Tiết Lưu Là Gì? Chức Năng Nhiệm Vụ Của Van Tiết Lưu
  • Tìm Hiểu Van Tiết Lưu Và Chức Năng Hoạt Động Của Nó
  • Vật Liệu Làm Vỏ Tàu Vũ Trụ: Nga Đi Sau Mỹ

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Tàu Vũ Trụ Bay Cả Trăm Năm Không Hết Nhiên Liệu, Không Cần Dừng Ở Trạm Không Gian Nào Để Đổ Xăng?
  • Tàu Con Thoi Là Gì? Mô Tả Cấu Tạo Tàu Con Thoi Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Nguyên Lý Thống Nhất Tương Tác Trong Vũ Trụ
  • Giả Thuyết Về Cấu Tạo Vũ Trụ Của Einstein Được Chứng Minh Sau 100 Năm
  • Mặt Trời Sưởi Ấm Trái Đất Bằng Cách Nào?
  • Trang Sputnik đưa tin, nhà hóa học Mikhail Kinzhalov và các đồng nghiệp từ St Petersburg đã tạo ra một loại vật liệu mới bằng silicone không bị phá hủy bởi nhiệt độ cao và có thể được sử dụng như thành phần quan trọng trong vỏ bọc vệ tinh và tàu vũ trụ.

    “Chúng tôi đã có thể làm tăng khả năng chịu nhiệt cho lớp phủ silicon lên đến 320 độ C, tức là cao hơn 120 độ so với vật liệu silicon tương tự được làm ra với chất xúc tác cũ. Để đạt được kết quả này, chúng tôi đã phát triển một thành phần mới của chất xúc tác dựa trên các phức hợp của iridium”, nhà hóa học Kinzhalov cho hay.

    Các nhà hóa học đã phát triển các vật liệu silicone đầu tiên vào đầu thế kỷ trước, tuy nhiên, tương đối gần đây các loại vật liệu này bắt đầu được ứng dụng vào ngành công nghiệp và đã trở thành một trong những thành phần quan trọng để sản xuất các loại sản phẩm đòi hỏi mức độ bền vững cao, tính trơ hóa học, không bị rỉ sét và cách điện tốt.

    Nga phát minh ra vật liệu mới để làm vỏ tàu vũ trụ.

    Tất cả các loại polime silicone đều có một nhược điểm chung là dễ bị phá vỡ và biến dạng khi bị nung nóng, ngay cả dưới nhiệt độ tương đối thấp.

    Chính bởi vậy các vật liệu này khó dùng để bảo vệ vỏ tàu vũ trụ, tàu thăm dò không gian và máy bay khỏi ăn mòn và các yếu tố phá hủy khác.

    Các nhà hóa học Nga đã tìm cách loại bỏ nhược điểm này của polyme silicone, họ đã tạo ra một chất xúc tác mới không chỉ nâng cao khả năng chịu nhiệt của vật liệu này mà còn thuận tiện cho việc tìm kiếm một sự thay thế cho chất xúc tác platinum thường được sử dụng trong quá trình tổng hợp các chất này.

    “Với nhiệt độ trong phòng, nguyên chất silicon ở trạng thái lỏng. Để gây xơ cứng phải sử dụng chất xúc tác. Ngành công nghiệp ứng dụng công nghệ xúc tác platinum cho mục đích này, nhưng chất xúc tác này làm cho silicone xơ cứng ngay lập tức”, ông Kinzhalov nói.

    Những vật liệu làm vỏ bọc cho tàu vũ trụ đã từng được nhiều nước phát triển, đặc biệt là Mỹ.

    Mỹ từng phát minh ra nhiều loại chất liệu làm vỏ bọc tàu vũ trụ.

    Từ năm 2022, các nhà khoa học vật liệu tại Đại học California – Los Angeles (UCLA), Mỹ, chế tạo thành công một hợp kim siêu cứng và siêu nhẹ.

    Tỷ lệ độ cứng trên khối lượng của hợp kim vượt xa so với hầu hết những hợp kim đang được sử dụng hiện nay.

    Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh sự ra đời của loại hợp kim đặc biệt này chỉ là khởi đầu cho hàng loạt phát minh đột phá khác về vật liệu mới, sau khi họ làm chủ được kỹ thuật phân tán đều các hạt nano trong kim loại mà không biến đổi cấu trúc ban đầu của kim loại.

    Kim loại mới hứa hẹn sẽ thay đổi ngành công nghiệp chế tạo xe hơi, máy bay, và tàu vũ trụ.

    Ngoài ra trang Eurekalert hồi tháng 8/2015 đưa tin, NASA và Đại học Michigan đã tạo nên loại vật liệu tự chữa lành trong thời gian cực nhanh. Khi bị các thiên thạch nhỏ đâm vào, lỗ thủng sẽ tự vá lại tạm thời nhằm ngăn chặn thất thoát không khí bên trong, giúp các phi hành gia có thêm thời gian để khắc phục sự cố.

    Một khả năng độc đáo khác là loại vật liệu này có thể hoạt động hiệu quả dù được làm rất mỏng. Đối với ngành hàng không vũ trụ, đây là một tính chất đáng giá vì sẽ giúp tiết kiệm trọng lượng, từ đó giảm chi phí và năng lượng cần thiết để di chuyển.

    Trong thí nghiệm, các nhà nghiên cứu đã tạo nên một tấm vật liệu dày 1mm nhưng họ cho biết rằng hoàn toàn có thể tạo nên những tấm chỉ dày từ vài chục đến vài trăm micron mà không làm suy giảm hiệu suất tự chữa lành.

    Minh Cương

    --- Bài cũ hơn ---

  • 1001 Thắc Mắc: Vì Sao Phóng Tàu Vũ Trụ Phải Dùng Tên Lửa Nhiều Tầng?
  • Van Tiết Lưu Là Gì? Đôi Nét Về Van Tiết Lưu Sang A
  • Van Tiết Lưu Thủy Lực
  • Van Tiết Lưu Tự Động Trong Hệ Thống Lạnh
  • Van Tiết Lưu Điều Hòa Là Gì, Nguyên Lý, Chức Năng Của Van Tiết Lưu
  • Vì Sao Phóng Tàu Vũ Trụ Phải Dùng Tên Lửa Nhiều Tầng?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Ý Tưởng Thang Máy Vũ Trụ
  • Những Điều Cần Biết Về Pô Xe Máy Từ A – Z
  • Xương Chậu Ở Nữ: Tổng Quan Và Các Bệnh Lý Thường Gặp
  • Giải Phẫu Cấu Tạo, Chức Năng, Bệnh Liên Quan
  • Các Thành Phần Của Lồng Ngực
  • Chỉ khi đạt được tốc độ bay 7,9 km/s thì vệ tinh nhân tạo hay tàu vũ trụ mới không rơi trở lại mặt đất. Các con tàu lên Mặt trăng cần có tốc độ 11,2 km/s, còn muốn bay tới các hành tinh khác tốc độ phải lớn hơn nữa. Làm thế nào để đạt tốc độ đó? Chỉ có tên lửa đẩy mới đảm đương nổi việc này.

    Muốn làm cho một vật thể chuyển động với tốc độ 7,9km/s để thoát khỏi sức hút của Trái đất, đòi hỏi phải dùng một năng lượng lớn. Một vật nặng 1g muốn thoát khỏi Trái đất sẽ cần một năng lượng tương đương điện năng cần thiết để thắp sáng 1.500 bóng đèn điện 40 W trong 1 giờ.

    Tên lửa bay được là nhờ vào việc chất khí phụt ra phía sau tạo nên một phản lực.

    Mặt khác, tên lửa bay được là nhờ vào việc chất khí phụt ra phía sau tạo nên một phản lực. Khí phụt ra càng nhanh, tên lửa bay càng chóng. Muốn đạt được tốc độ bay rất lớn, ngoài đòi hỏi phải có tốc độ phụt khí rất cao ra, còn phải mang theo rất nhiều nhiên liệu. Nếu tốc độ phụt khí là 4.000m/s, để đạt được tốc độ thoát ly là 11,2km/s thì tên lửa phải chứa một số nhiên liệu nặng gấp mấy lần trọng lượng bản thân.

    Các nhà khoa học đã cố gắng giải quyết vấn đề này một cách thoả đáng. Làm sao để trong quá trình bay, cùng với sự tiêu hao nhiên liệu sẽ vứt bỏ được những bộ phận không cần thiết nữa, giảm nhẹ trọng lượng đang tiếp tục quá trình bay, nâng cao tốc độ bay. Đó chính là phương án sử dụng tên lửa nhiều tầng. Hiện nay phóng vệ tinh nhân tạo hoặc tàu vũ trụ vào không gian đều sử dụng loại tên lửa này.

    Tên lửa nhiều tầng có ít nhất hai tên lửa trở lên, lắp liên tiếp nhau. Khi nhiên liệu ở tên lửa dưới cùng hết, nó tự động tách ra và tên lửa thứ hai lập tức được phát động. Khi tên lửa thứ hai dùng hết nhiên liệu, nó cũng tự động tách ra và tên lửa thứ ba tiếp đó được phát động… cứ như vậy sẽ làm cho vệ tinh hoặc tàu vũ trụ đặt ở tầng trên cùng đạt được tốc độ từ 7,9km/s trở lên để bay quanh Trái đất hoặc thoát khỏi Trái đất.

    Dùng tên lửa nhiều tầng tuy có thể giải quyết vấn đề bay trong vũ trụ nhưng tiêu hao nhiêu liệu rất lớn. Giả sử chúng ta dùng tên lửa 4 tầng để đưa tàu vào không gian, tốc độ phụt khí của mỗi tầng này là 2,5km/s, tỷ lệ giữa trọng lượng nhiên liệu và vỏ là 4/1, như vậy muốn cho một con tàu nặng 30kg ở tầng cuối đạt được tốc độ 12km/s thì trọng lượng toàn bộ tên lửa và nhiên liệu khi bắt đầu phóng phải tới trên 1.000 tấn.

    Ngày nay, các tàu không gian còn có thể được nâng lên bởi các tên lửa đẩy gắn ở bên sườn. Chẳng hạn thế hệ tàu Ariane 5.

    TheoKhoahoc.tv

    https://khoahoc.tv/vi-sao-phong-tau-vu-tru-phai-dung-ten-lua-nhieu-tang-106966

    --- Bài cũ hơn ---

  • Van Tiết Lưu Thuỷ Lực Là Gì? Phân Loại Và Nguyên Lý Hoạt Động
  • Cấu Tạo Vòi Nước Gật Gù, Phân Loại Và Cách Sửa Chữa Đơn Giản Nhất
  • Cấu Tạo Và Phân Loại Các Loại Vòi Nước Nóng Lạnh
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Các Loại Van Cửa Trong Máy Lọc Nước Đầu Nguồn
  • Van Xả Nước Máy Giặt Sanyo Có Thể Bạn Chưa Biết?
  • 1001 Thắc Mắc: Vì Sao Phóng Tàu Vũ Trụ Phải Dùng Tên Lửa Nhiều Tầng?

    --- Bài mới hơn ---

  • Vật Liệu Làm Vỏ Tàu Vũ Trụ: Nga Đi Sau Mỹ
  • Vì Sao Tàu Vũ Trụ Bay Cả Trăm Năm Không Hết Nhiên Liệu, Không Cần Dừng Ở Trạm Không Gian Nào Để Đổ Xăng?
  • Tàu Con Thoi Là Gì? Mô Tả Cấu Tạo Tàu Con Thoi Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Nguyên Lý Thống Nhất Tương Tác Trong Vũ Trụ
  • Giả Thuyết Về Cấu Tạo Vũ Trụ Của Einstein Được Chứng Minh Sau 100 Năm
  • Chỉ khi đạt được tốc độ bay 7,9 km/s thì vệ tinh nhân tạo hay tàu vũ trụ mới không rơi trở lại mặt đất. Các con tàu lên mặt trăng cần có tốc độ 11,2 km/s, còn muốn bay tới các hành tinh khác tốc độ phải lớn hơn nữa. Làm thế nào để đạt tốc độ đó? Chỉ có tên lửa đẩy mới đảm đương nổi việc này.

    Muốn làm cho một vật thể chuyển động với tốc độ 7,9 km/s để thoát khỏi sức hút của trái đất, đòi hỏi phải dùng một năng lượng lớn. Một vật nặng 1g muốn thoát khỏi trái đất sẽ cần một năng lượng tương đương điện năng cần thiết để thắp sáng 1.500 bóng đèn điện 40 W trong 1 giờ.

    Mặt khác, tên lửa bay được là nhờ vào việc chất khí phụt ra phía sau tạo nên một phản lực. Khí phụt ra càng nhanh, tên lửa bay càng chóng. Muốn đạt được tốc độ bay rất lớn, ngoài đòi hỏi phải có tốc độ phụt khí rất cao ra, còn phải mang theo rất nhiều nhiên liệu. Nếu tốc độ phụt khí là 4.000 m/s, để đạt được tốc độ thoát ly là 11,2 km/s thì tên lửa phải chứa một số nhiên liệu nặng gấp mấy lần trọng lượng bản thân.

    Các nhà khoa học đã cố gắng giải quyết vấn đề này một cách thoả đáng. Làm sao để trong quá trình bay, cùng với sự tiêu hao nhiên liệu sẽ vứt bỏ được những bộ phận không cần thiết nữa, giảm nhẹ trọng lượng đang tiếp tục quá trình bay, nâng cao tốc độ bay. Đó chính là phương án sử dụng tên lửa nhiều tầng. Hiện nay phóng vệ tinh nhân tạo hoặc tàu vũ trụ vào không gian đều sử dụng loại tên lửa này.

    Tên lửa nhiều tầng có ít nhất hai tên lửa trở lên, lắp liên tiếp nhau. Khi nhiên liệu ở tên lửa dưới cùng hết, nó tự động tách ra và tên lửa thứ hai lập tức được phát động. Khi tên lửa thứ hai dùng hết nhiên liệu, nó cũng tự động tách ra và tên lửa thứ ba tiếp đó được phát động… cứ như vậy sẽ làm cho vệ tinh hoặc tàu vũ trụ đặt ở tầng trên cùng đạt được tốc độ từ 7,9 km/s trở lên để bay quanh trái đất hoặc thoát khỏi trái đất.

    Dùng tên lửa nhiều tầng tuy có thể giải quyết vấn đề bay trong vũ trụ nhưng tiêu hao nhiêu liệu rất lớn. Giả sử chúng ta dùng tên lửa 4 tầng để đưa tàu vào không gian, tốc độ phụt khí của mỗi tầng này là 2,5 km/s, tỷ lệ giữa trọng lượng nhiên liệu và vỏ là 4/1, như vậy muốn cho một con tàu nặng 30 kg ở tầng cuối đạt được tốc độ 12 km/s thì trọng lượng toàn bộ tên lửa và nhiên liệu khi bắt đầu phóng phải tới trên 1.000 tấn.

    Ngày nay, các tàu không gian còn có thể được nâng lên bởi các tên lửa đẩy gắn ở bên sườn. Chẳng hạn thế hệ tàu Ariane 5.

    Tàu con thoi – Chương trình không gian tốn kém

    Tàu con thoi, là một hệ thống tàu vũ trụ quỹ đạo thấp của trái Đất có thể tái sử dụng, được vận hành bởi Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA). Tên chính thức của chương trình là Space Transportation System (STS), được lấy từ một kế hoạch năm 1969 cho một hệ thống tàu vũ trụ có khả năng tái sử dụng.

    Chương trình tàu vũ trụ con thoi của Mỹ được khai sinh vào năm 1972 dưới thời Tổng thống Mỹ Richard Nixon nhằm thực hiện các chuyến bay đưa người vào vũ trụ. Hình thành từ hơn 2,5 triệu linh kiện khác nhau, tàu vũ trụ con thoi được đánh giá là cỗ máy phức tạp nhất từng được con người tạo ra. Các tàu con thoi của Mỹ chính thức đi vào hoạt động từ năm 1982.

    Trong chương trình tàu con thoi của Mỹ, đã có 6 tàu con thoi được chế tạo. Chiếc đầu tiên là Enterprise chỉ dùng cho mục đích thử nghiệm. 5 con tàu còn lại được đưa vào hoạt động là Columbia, Challenger, Discovery, Atlantis và Endeavour. Trong số này, Challenger là con tàu xấu số đã bị vỡ tung chỉ 73 giây sau khi phóng vào năm 1986, còn Columbia thì gặp nạn khi trở lại Trái đất vào năm 2003.

    Tàu con thoi được phóng tổng cộng 135 lần từ năm 1981 đến năm 2011, và phóng từ Trung tâm vũ trụ Kennedy (KSC) ở Florida, Hoa Kỳ. Các nhiệm vụ của tàu con thoi đã phóng vệ tinh, tàu thăm dò, và Kính viễn vọng không gian Hubble; thực hiện các thí nghiệm khoa học vũ trụ; và tham gia vào nhiệm vụ xây dựng và bảo dưỡng Trạm vũ trụ Quốc tế. Tổng cộng thời gian bay của đội tàu con thoi là 1322 ngày, 19 giờ, 21 phút và 23 giây.

    Tàu con thoi thực ra có 3 thành phần bao gồm tàu vũ trụ / trạm quỹ đạo (OV – Orbiter Vehicle), bộ đôi tên lửa đẩy nhiên liệu rắn có thể thu hồi (SRBs – Solid Rocket Boosters), và bình nhiên liệu ngoài (ET – External Tank) có chứa khí hi-dro lỏng và ôxy lỏng. Tàu con thoi được phóng thẳng đứng, như một tên lửa thường, với hai tên lửa được phóng song song với 3 động cơ chính của tàu vũ trụ, được bình nhiên liệu ngoài cung cấp nhiên liệu. Bộ đôi tên lửa được thả ra trước khi tàu vũ trụ đạt tới quỹ đạo, và bình nhiên liệu ngoài được vứt bỏ trước khi tàu bắt đầu quá trình đạt tới quỹ đạo, lúc ấy tàu sẽ sử dụng đến 2 động cơ điều khiển quỹ đạo (OMS – Orbital Manuevering System).

    Khi kết thúc nhiệm vụ, tàu sẽ sử dụng tiếp 2 động cơ điều khiển quỹ đạo để rời quỹ đạo và tái nhập vào bầu khí quyển. Tàu sẽ lượn tới một đường băng hạ cánh trên Hồ khô Rogers ở Căn cứ Không Quân Edwards ở California, hoặc tại Khu hạ cánh Tàu con thoi ở Trung tâm vũ Trụ Kennedy. Nếu tàu hạ cánh ở Edwards, tàu sẽ được bay trở lại Trung tâm vũ trụ Kennedy trên Máy bay chở Tàu con thoi, một chiếc Boeing 747 đã được sửa đổi.

    Tàu vũ trụ đầu tiên, Enterprise, được chế tạo cho những chuyến bay thử nghiệm hạ cánh và tiếp cận và hoàn toàn không đủ khả năng cho một chuyến bay trên quỹ đạo ngoài vũ trụ. 4 tàu vũ trụ đầu tiên được chế tạo cho chuyến bay vũ trụ là: Columbia, Challenger, Discovery, và Atlantis.

    Trong số này, Challenger và Columbia đã bị phá hủy trong tai nạn năm 1986 và 2003 theo thứ tự, và tổng cộng 14 phi hành gia đã thiệt mạng. Tàu vũ trụ thứ 5, Endeavour, được chế tạo vào năm 1991 để thay thế tàu Challenger. Tàu con thoi chính thức kết thúc và về hưu ở nhiệm vụ cuối cùng của tàu Atlantis vào ngày 21 tháng 7 năm 2011.

    Chương trình tàu con thoi là một trong những chương trình không gian tốn kém lớn cho nước Mỹ. Chi phí cho mỗi lần phóng tàu con thoi lên đến 500 triệu USD bao gồm chi phí cho hàng tháng bảo trì và chuẩn bị các bước giữa hai lần bay, các hệ thống thủy lực và điện tử dùng trong bệ phóng… Tổng cộng trong 30 năm hoạt động, chương trình tàu con thoi đã ngốn đến 196 tỉ USD từ ngân sách liên bang Mỹ.

    Trung tâm Không gian Kennedy ở mũi Canaveral, bang Florida (Mỹ), luôn là điểm đáp ưu tiên hàng đầu của tàu con thoi. Ở đây có một trong những đường băng lớn nhất thế giới: dài 4.472m, ngang 91,4m, mỗi đầu có thêm đoạn đường an toàn dài 305m. Nếu điều kiện không cho phép, tàu con thoi phải đáp xuống căn cứ không quân Edwards ở bang California, hoặc có thể ở một căn cứ khác của Mỹ trên thế giới. Tuy nhiên, chi phí sẽ tăng, chẳng hạn nếu tàu con thoi đáp ở căn cứ Edwards, NASA phải tốn 1,7 triệu USD để đưa nó về mũi Canaveral.

    Châu Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Van Tiết Lưu Là Gì? Đôi Nét Về Van Tiết Lưu Sang A
  • Van Tiết Lưu Thủy Lực
  • Van Tiết Lưu Tự Động Trong Hệ Thống Lạnh
  • Van Tiết Lưu Điều Hòa Là Gì, Nguyên Lý, Chức Năng Của Van Tiết Lưu
  • Van Tiết Lưu, Cấu Tạo Và Cơ Chế Hoạt Động Của Van Tiết Lưu Trong Hệ Thống Điều Hòa
  • Du Hành Vũ Trụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Kỹ Thuật Lớp 5
  • Những Lợi Ích Của Việc Ăn Trứng Vào Buổi Sáng
  • 10 Lợi Ích Thần Kỳ Khi Bố Mẹ Massage Cho Bé
  • Tầm Quan Trọng Của Âm Nhạc Trong Giáo Dục
  • Giáo Án Kĩ Thuật
  • 1.1 Vì sao phải nghiên cứu vũ trụ?

    Nhu cầu từ không gian bên ngoài

    Đi vào vũ trụ là một việc nguy hiểm và đắt đỏ. Vậy tai sao chúng ta phải bận tâm đến điều đó? Bởi vì không gian bên ngoài cung cấp một số lợi ích thuyết phục cho xã hội hiện đại ngày nay:

    • Một góc nhìn toàn cầu – từ trên cao quỹ đạo.
    • Một cái nhìn rõ ràng về “thiên đường” – không bị cản trở bởi bầu khí quyển.
    • Một môi trường rơi tự do – cho phép chúng ta phát triển các vật liệu tiên tiến mà không thể làm được trên Trái Đất.
    • Tài nguyên phong phú – chẳng hạn như năng lượng Mặt Trời và các vật chất ngoài Trái Đất.
    • Một thử thách đặc biệt có thể xem là ranh giới cuối cùng của nhân loại.

    Không gian bên ngoài cung cấp một góc nhìn toàn cầu. Như trong hình 1.1-3, ở càng cao thì bạn nhìn thấy càng nhiều diện tích bề mặt Trái Đất. Trong hàng ngàn năm, các vị vua và những nhà cai trị đã lợi dụng thực tế này bằng cách đặt các trạm canh gác trên đỉnh những ngọn núi cao nhất để thăm dò được nhiều hơn vương quốc của họ, và cảnh báo nguy cơ bị tấn công. Xuyên suốt lịch sử, nhiều trận chiến đã diễn ra để “giành lấy điểm cao”. Không gian bên ngoài nhận lấy nhiệm vụ này cho một góc nhìn lớn hơn bao giờ hết. Từ một điểm thuận lợi trong không gian, chúng ta có thể quan sát những khu vực rộng lớn của bề mặt Trái Đất. Các tàu vũ trụ quỹ đạo do đó có thể phục vụ như là “tai mắt của bầu trời” để cung cấp nhiều dịch vụ hữu ích.

    Hình 1.1-3. Một góc nhìn toàn cầu. Sáu vệ tinh quan sát Trái Đất tạo thành một cụm vệ tinh gọi là A-Train ở độ cao khoảng 705 km. Ảnh: NASA, JPL.

    Không gian bên ngoài cung cấp một cái nhìn rõ ràng về “thiên đường”. Khi chúng ta nhìn những ngôi sao trên bầu trời đêm, chúng ta thấy ánh sáng lấp lánh đặc trưng của chúng. Ánh sáng lấp lánh này bị gây ra bởi việc làm mờ “ánh sao” khi nó đi xuyên qua bầu khí quyển, mà chúng ta gọi là sự nhấp nháy (scintillation). Bầu khí quyển làm mờ đi một ít ánh sáng này, và chặn hoàn toàn các ánh sáng khác, khiến cho các nhà thiên văn học – những người cần phải tiếp cận toàn bộ các vùng của phổ điện từ để khám phá một cách đầy đủ về vũ trụ – phải thất vọng. Bằng cách đặt một đài quan sát vào không gian bên ngoài, chúng ta có thể đưa các công cụ lên phía trên bầu khí quyển và có được cái nhìn không bị cản trở vào vũ trụ, như mô tả trong Hình 1.1-4. Kính viễn vọng Không gian Hubble, Đài quan sát Tia Gamma, và Đài quan sát Chandra là những công cụ được trang bị cảm biến hoạt động vượt xa bên ngoài ranh giới của giác quan con người. Các kết quả từ việc sử dụng những công cụ này từ các vị trí thuận lợi đặc biệt trong không gian đang cách mạng hóa hiểu biết của chúng ta về vũ trụ.

    Hình 1.1-4. Quan sát thiên văn học từ không gian bên ngoài. Bầu khí quyển của Trái Đất cản trở cái nhìn của chúng ta vào vũ trụ. Do đó chúng ta đặt các vệ tinh, chẳng hạn như Kính viễn vọng Không gian Hubble, phía ngoài bầu khí quyển để có thể quan sát tốt hơn. Ảnh: NASA.

    Vũ trụ cung cấp một môi trường rơi tự do cho phép thực hiện các quá trình sản xuất không thể làm được trên bề mặt Trái Đất. Chẳng hạn, để tạo ra một hợp chất kim loại mới nhất định, chúng ta phải trộn hai hay nhiều kim loại với với nhau vừa đúng tỷ lệ. Thật không may, trọng lực có xu hướng kéo các kim loại nặng hơn xuống đáy của bình chứa, khiến cho một hỗn hợp đồng nhất khó có thể hình thành. Nhưng không gian bên ngoài cung cấp giải pháp cho vấn đề này. Một nhà máy sản xuất trên quỹ đạo (và tất cả mọi thứ trong nhà máy đó) thực tế là đang rơi về phía Trái Đất, nhưng không bao giờ va chạm với Trái Đất. Đây là một điều kiện được gọi là “rơi tự do” (KHÔNG phải là “không trọng lực”, chúng ta sẽ xem xét sau). Trong môi trường rơi tự do, không có lực tương tác nào trên một đối tượng, do đó chúng ta nói đối tượng đó là không có trọng lượng, khiến cho việc tạo ra các hỗn hợp đồng nhất của các vật liệu khác nhau trở nên khả thi. Chúng ta sẽ khám phá khái niệm này chi tiết hơn trong Chương 3. Không bị cản trở bởi trọng lượng rơi trên bề mặt Trái Đất, các nhà máy trên quỹ đạo có được tiềm năng để tạo ra các vật liệu mới kỳ lạ cho các thành phần máy tính hay các ứng dụng khác, cũng như các sản phẩm dược học mới đầy hứa hẹn để chống chọi với bệnh tật trên Trái Đất. Việc nghiên cứu các ảnh hưởng của không trọng lượng trên cây cối, động vật, và sinh lý học con người cũng đem lại cho chúng ta cái nhìn sâu sắc hơn về cách mà bệnh tật và sự lão hóa ảnh hưởng đến chúng ta (Hình 1.1-5).

    Hình 1.1-5. Các phi hành gia tại Trạm Vũ trụ Quốc tế ISS trải nghiệm môi trường không trọng lượng. Phi hành gia Michael Foale (ở phía trước ảnh) đang luyện tập thể thao tại ISS. Ảnh: NASA.

    Vũ trụ cung cấp các nguồn tài nguyên phong phú. Trong khi một số người đang tranh cãi về việc làm thế nào để chia chiếc bánh tài nguyên có hạn của Trái Đất thành những miếng nhỏ hơn, thì những người khác lại đấu tranh rằng chúng ta chỉ cần nướng một chiếc bánh lớn hơn. Sự rộng lớn của Hệ Mặt Trời cung cấp một nguồn dự trữ khoáng sản và năng lượng chưa được khai thác để duy trì sự bành trướng của loài người bên ngoài cái nôi Trái Đất. Tàu vũ trụ hiện nay mới chỉ sử dụng một trong số lượng tài nguyên phong phú này – năng lượng Mặt Trời có giới hạn. Nhưng các nhà khoa học đã suy đoán rằng chúng ta có thể sử dụng tài nguyên Mặt Trăng, hay thậm chí là từ các tiểu hành tinh, để cung cấp nhiên liệu cho một “nền kinh tế vũ trụ” đang lớn mạnh. Đất Mặt trăng chẳng hạn, được biết là giàu oxygen và nhôm. Chúng ta có thể sử dụng oxygen này trong các động cơ tên lửa và để cho con người hô hấp. Nhôm là một kim loại quan trọng sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp. Cũng có khả năng nước đá có thể mắc kẹt trong những hố thiên thạch tối-vĩnh-viễn ở các cực Mặt Trăng. Những tài nguyên này, kết hợp với nỗ lực của nhân loại để khám phá, sẽ khiến bầu trời thực sự không còn là giới hạn!

    Cuối cùng, vũ trụ mang lại một lợi thế đơn giản tựa như là một ranh giới. Giới hạn của con người luôn được phát triển khi các ranh giới mới đã bị khuất phục. Như một chất kích thích cho các tiến bộ công nghệ đã được tăng cường, và một sự thử thách cho việc tạo ra sự bùng nổ kinh tế mạnh mẽ hơn, vũ trụ mang lại một thách thức không giới hạn bắt buộc chúng ta phải chú ý tới. Nhiều người đã so sánh các thách thức của vũ trụ với những gì mà những nhà thám hiểm đầu tiên đến Thế giới Mới phải đối mặt. Những cư dân châu Âu đã khám phá ra những nguồn tài nguyên dường như vô hạn, bước đầu tiên là họ phải chiến đấu, sau đó từ từ tạo ra một xã hội sản xuất từ sự hoang dã.

    Chúng ta vẫn còn một chặng đường dài để có thể thực địa hóa Mặt Trăng hay Sao Hỏa. Nhưng sự quyến rũ của ranh giới cuối cùng này thực sự đã ảnh hưởng đến chúng ta. Khán giả đã chi hàng triệu đô-la mỗi năm để thưởng thức những bộ phim điện ảnh như Star Wars, Star Trek, Independence Day, và Contact. Cuộc đổ bộ Mặt Trăng của nhiệm vụ Apollo và các kỷ lục của các chuyến bay tàu con thoi đã chiếm trọn sự ngạc nhiên và trí tưởng tượng của tất cả mọi người trên hành tinh này. NASA ghi nhận hàng ngàn lượt truy cập mỗi ngày trên trang mạng Nhiệm vụ Sao Hỏa của họ. Các nhiệm vụ tương lai hứa hẹn thậm chí còn quyến rũ hơn khi một số lượng lớn con người tham gia vào công cuộc thám hiểm vũ trụ. Đối với mỗi chúng ta, “vũ trụ” luôn có ý nghĩa gì đó khác biệt, như minh họa trong hình 1.1-6.

    Còn tiếp…

    Người đăng:

    Hien PHAN

    Cựu thành viên CLB Thiên văn học Đà Nẵng – DAC; nghiên cứu viên tại khoa Vũ trụ và Ứng dụng, trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội – USTH (Đại học Việt Pháp).


    --- Bài cũ hơn ---

  • Ăn Chân Gà Có Tác Dụng Gì? Ăn Nhiều Có Tốt Không?
  • Vì Sao Phải Trồng Cây Gây Rừng Và Bảo Vệ Rừng?
  • Gà Rán Và Nguy Cơ Béo Phì
  • Lợi Ích Của Gà Rán
  • Những Lợi Ích Khi Thần Tượng Idol Mà Chỉ Có Những Fan Kpop Mới Có Thể Hiểu Được
  • Thành Phần Của Vũ Trụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Webcam Là Gì, Dùng Để Làm Gì, Mua Ở Đâu?
  • Website Nghĩa Là Gì? Cấu Tạo Cơ Bản, Phân Loại Và Giao Diện Hoạt Động
  • Cấu Trúc Website Chuẩn Seo: Checklist 15 Tiêu Chuẩn Tối Ưu
  • Cấu Trúc Website Là Gì? Làm Thế Nào Để Cấu Trúc Web Tốt Nhất Cho Seo
  • Cấu Trúc Bên Trong Của Đồng Hồ Apple Watch – Là Cỗ Máy Khổng Lồ
  • Từ vị trí đặc quyền trên bầu khí quyển Trái Đất, kính thiên văn Hubble đã có những đóng góp đáng kể vào lĩnh vực nghiên cứu này.

    Tất cả các ngôi sao vũ trụ hoạt động như các nhà máy tái chế khổng lồ lấy các nguyên tố hóa học nhẹ và biến chúng thành những nguyên tố nặng hơn.Thành phần sơ khai, hay nguyên thủy, của vũ trụ được nghiên cứu chi tiết như vậy bởi vì nó là một trong những chìa khóa cho sự hiểu biết của chúng ta về những quá trình xảy ra tại những thời điểm đầu tiên của Vũ Trụ.

    Ngay sau Nhiệm vụ Phục vụ đầu tiên, hiệu chỉnh thành công cầu sai trong gương của Hubble, một nhóm nghiên cứu được dẫn dắt bởi nhà thiên văn học người Châu Âu Peter Jakobsen đã điều tra bản chất của chất khí đang lấp đầy các khoảng trống khổng lồ giữa các thiên hà. Bằng cách quan sát ánh sáng cực tím từ một chuẩn tinh xa xôi, thứ sau đó sẽ bị hấp thụ bởi khí quyển Trái Đất, họ đã tìm thấy dấu hiệu tìm kiếm từ lâu của Helium trong vũ trụ sơ khai. Đây là một bằng chứng quan trọng hỗ trợ cho lý thuyết Vụ Nổ lớn. Nó cũng khẳng định sự kỳ vọng của các nhà khoa học rằng, trong Vũ trụ ban đầu, vật chất chưa bị nhốt trong các ngôi sao, và các thiên hà gần như hoàn toàn bị i-on hoá (nguyên tử bị tước các electron của chúng). Đây là một bước tiến quan trọng của vũ trụ học.

    Cuộc nghiên cứu về Helium trong Vũ trụ sơ khai này là một trong nhiều cách mà Hubble  sử dụng các chuẩn tinh xa như những ngọn hải đăng. Khi ánh sáng từ các chuẩn tinh đi xuyên qua vật chất cản trở nằm giữa các thiên hà, tín hiệu ánh sáng sẽ bị thay đổi và sẽ tiết lộ thành phần của chất khí đó.

    Các kết quả này đã lấp đầy những mảnh ghép quan trọng trong câu đố về toàn bộ thành phần của Vũ trụ hiện nay và trong quá khứ.

    Hình 1: Máy Quang phổ Nguồn gốc Vũ trụ (The Cosmic Origins Spectrograph) được thiết kế để nghiên cứu cấu tạo và cấu trúc quy mô lớn của Vũ trụ (Nguồn: https://cos.colorado.edu/)

    Trong Nhiệm vụ Phục vụ năm 2009, các phi hành gia đã lắp đặt một dụng cụ mới để nghiên cứu lĩnh vực này. Máy quang phổ Nguồn gốc Vũ trụ được thiết kế để tách  ánh sáng cực tím từ các chuẩn tinh  xa thành các bước sóng thành phần của nó và nghiên cứu liệu bằng cách nào mà các vật chất cản trở đã hấp thụ một vài bước sóng nhất định mà không phải là các bước sóng khác. Điều này tiết lộ đặc trưng của các nguyên tố khác nhau, cho chúng ta biết nhiều hơn về sự đa dạng của chúng ở các vị trí khác nhau trong Vũ trụ.

    Ngày nay các nhà thiên văn học tin rằng khoảng một phần tư khối lượng-năng lượng của Vũ trụ là vật chất tối. Đây là một vật chất khá khác với vật chất thông thường tạo bởi các nguyên tử và thế giới quen thuộc xung quanh chúng ta. Kính thiên văn Hubble đã đóng một vai trò quan trọng trong công việc xác định lượng vật chất tối trong Vũ trụ và xác định chúng ở đâu và chúng hoạt động như thế nào.

    Câu đố về những gì mà bóng ma vật chất tối được tạo thành vẫn được bỏ ngỏ, nhưng những quan sát cực kỳ sắc nét của kính thiên văn Hubble về thấu kính hấp dẫn đã cung cấp những bước đệm chắc chắn cho tương lai của lĩnh vực này.

    Vật chất tối chỉ tương tác với trọng lực, nghĩa là nó không phản xạ, bức xạ hoặc cản trở ánh sáng (hay bất kỳ loại bức xạ điện từ nào khác). Do đó, nó không thể được quan sát trực tiếp. Tuy nhiên, nghiên cứu của Hubble về cách các nhóm thiên hà uốn cong ánh sáng đi qua chúng cho phép các nhà thiên văn giải thích nơi mà khối lượng vô hình này đang ẩn giấu. Điều này có nghĩa là họ có thể lập bản đồ về vị trí vật chất tối tồn tại trong một cụm thiên hà.

    Hình 2: Bức ảnh tổng hợp của Hubble / Chandra / VLT này cho thấy vật chất tối (màu xanh) và khí nóng (màu hồng) đứng tách biệt ra sao trong một cụm va chạm.

    Năm 2007, một nhóm các nhà thiên văn học quốc tế đã sử dụng Hubble để tạo ra bản đồ ba chiều đầu tiên về sự phân bố trên quy mô lớn của vật chất tối trong Vũ trụ. Nó được xây dựng bằng cách xác định hình dạng của một nửa triệu thiên hà được quan sát bởi Hubble. Ánh sáng của các thiên hà này di chuyển  - cho đến khi nó chạm đến Hubble- theo một con đường bị gián đoạn bởi các khối vật chất tối, điều làm biến dạng sự xuất hiện của các thiên hà. Các nhà thiên văn học đã sử dụng sự biến dạng quan sát được của các của thiên hà để tái tạo hình dạng ban đầu của chúng và sau đó có thể tính toán sự phân bố của vật chất tối ở giữa các thiên hà này.

    Bản đồ này cho thấy vật chất thông thường, chủ yếu dưới dạng các thiên hà, tích tụ dọc theo những nơi mật độ cao nhất của vật chất tối. Bản đồ được tạo ra trải dài ngược dòng thời gian đến tận nửa đầu của Vũ trụ và cho thấy cách vật chất tối gia tăng thành cụm khi nó sụp đổ dưới trọng lực. Việc lập bản đồ phân bố vật chất tối tới những quy mô nhỏ hơn là cơ sở cho sự hiểu biết của chúng ta về cách thức các thiên hà phát triển và tập trung trong hàng tỷ năm. Theo dõi sự tăng trưởng của sự tập hợp trong vật chất tối cuối cùng cũng có thể làm sáng tỏ năng lượng tối.

    Hấp dẫn hơn cả vật chất tối là năng lượng tối. Các nghiên cứu của kính thiên văn Hubble về tốc độ giãn nở của vũ trụ đã cho thấy sự giãn nở này thực sự đang diễn ra nhanh hơn. Các nhà thiên văn học đã giải thích điều này bằng cách sử dụng lý thuyết năng lượng tối, yếu tố đẩy sự giãn nở của vũ trụ nhanh hơn bao giờ hết, chống lại sức kéo của trọng lực.

    Theo phương trình nổi tiếng của Einstein, E = mc2 cho chúng ta biết, năng lượng và khối lượng có thể hoán đổi cho nhau. Các nghiên cứu về tốc độ giãn nở vũ trụ cho thấy năng lượng tối là phần lớn nhất của năng-khối lượng của vũ trụ, vượt xa cả vật chất bình thường và vật chất tối: dường như năng lượng tối tạo thành gần 70% Vũ trụ mà chúng ta đã biết.

    Trong khi các nhà thiên văn học đã có thể thực hiện các bước dọc theo con đường tìm hiểu năng lượng tối hoạt động như thế nào và nó làm gì, thì bản chất thực sự của nó vẫn còn là một bí ẩn.

    1. The composition of the Universe, 

      http://www.spacetelescope.org/science/composition_of_universe/

    2. Spherical aberration, 

      https://en.wikipedia.org/wiki/Spherical_aberration

    3. Spy glasses into the Universe: gravitational lens, 

      http://spacetelescope.org/science/gravitational_lensing/

    4. Các nhà thiên văn học lần đầu tiên “chụp” được hình ảnh về vật chất tối, 

      http://vatlythienvan.com/34-tin-tuc/tin-nghien-cuu/4678-cac-nha-thien-van-hoc-lan-dau-tien-chup-duoc-hinh-anh-ve-vat-chat-toi.html

    5. Measuring the age and size of the Universe, 

      http://spacetelescope.org/science/age_size/

    Người đăng:

    Nguyễn Dương Nguyên

    Nghiên cứu sinh Machine Learning trong khoa học Vật liệu, Viện khoa học công nghệ tiên tiến Nhật bản.


    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Van Khóa Nước
  • “các Loại Van Khóa Nước” Giá Rẻ
  • Van Tiết Lưu, Van Tiết Lưu Khí Nén
  • Van Tiết Lưu Là Gì? Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Van Tiết Lưu Điều Hòa
  • Van Cửa (Van Cổng) Là Gì? Cấu Tạo, Phân Loại Và Lưu Ý Khi Sử Dụng
  • Giả Thuyết Về Cấu Tạo Vũ Trụ Của Einstein Được Chứng Minh Sau 100 Năm

    --- Bài mới hơn ---

  • Mặt Trời Sưởi Ấm Trái Đất Bằng Cách Nào?
  • Vũ Trụ Cấu Tạo Như Thế Nào?
  • Những Nhận Thức Về Vũ Trụ (Phần 1): Không Gian Là Gì?
  • Những Điều Cần Biết Về Pô Xe Máy Từ A
  • Cấu Tạo Ống Pô Xe Máy Và Cách Xử Lý Khi Ống Pô Hư Hỏng
  • Các nhà vật lý đã phát hiện sự tồn tại của sóng hấp dẫn khi 2 hố đen sáp nhập, chứng minh giả thuyết vũ trụ được cấu tạo từ kết cấu thời gian – không gian cách đây 100 năm của Albert Einstein là đúng.

    Trong cuộc họp báo diễn ra hôm 11/2 tại Washington, Mỹ, Giám đốc điều hành Trạm quan sát Sóng hấp dẫn bằng tia Laser giao thoa (LIGO) David Reitze tuyên bố phát hiện trên trước các nhà nghiên cứu khác.

    Theo ông Reitze, sóng hấp dẫn, những gợn sóng lăn tăn giữa không gian – thời gian (gọi tắt là thời – không), được tạo ra bởi sự sáp nhập của 2 hố đen. Một hố đen có khối lượng lớn tương đương 29 Mặt Trời trong khi hố đen còn lại tương đương 36 Mặt Trời. Mỗi hố đen có đường kính khoảng 50 km.

    Theo lý thuyết của Albert Einstein được xuất bản vào năm 1916, vũ trụ được cấu tạo từ một kết cấu thời – không: Các vật thể lớn chuyển động nhanh trong vũ trụ hướng về kết cấu, sản sinh ra những sóng giống như sóng hấp dẫn.

    Các nhà khoa học ở LIGO ước tính khoảng 1,3 tỷ năm về trước, 2 hố đen va chạm ở tốc độ bằng một nửa vận tốc ánh sáng. Sóng hấp dẫn xuyên qua mọi vật thể và băng qua vũ trụ trước khi đến Trái Đất. Sóng hấp dẫn kéo giãn và đè nén không gian xung quanh Trái Đất giống như làm biến dạng miếng thạch.

    Tuy nhiên, sóng này nhỏ đến mức chỉ thiết bị phát hiện có khả năng đo biến dạng bằng 0,001 kích thước hạt proton như LIGO mới quan sát được. Sóng hấp dẫn được phát hiện vào ngày 14/9/2015.

    Các nhà khoa học nghe thấy âm thanh của 2 hố đen va vào nhau kéo dài 0,2 giây. Tuy sóng hấp dẫn không phải là sóng âm thanh, nhưng tần số mà vụ va chạm phát ra trong 0,001 giây cuối cùng khi 2 hố đen ở cách nhau vài km là tần số con người có thể nghe được, theo nhà vật lý Deirdre Shoemaker làm việc tại LIGO.

    LIGO là một hệ thống gồm hai máy phát giống hệt nhau, nằm ở Livingston, Louisiana và Hanford, Washington. Chúng được xây dựng cẩn thận để phát hiện những rung động siêu nhỏ từ sóng hấp dẫn lan truyền. Dự án do các nhà khoa học từ Viện Công nghệ California (Caltech) và Viện Công nghệ Massachusette (MIT) thành lập và hoạt động nhờ nguồn quỹ từ Hiệp hội Khoa học Mỹ.

    Nhóm nghiên cứu ở LIGO phát hiện sóng hấp dẫn với độ tin cậy hơn 5 sigma. ” Chúng tôi cần tới 6 tháng để dám chắc kết quả này đúng “, Shoemaker chia sẻ.

    Sóng hấp dẫn là một trong những biến số quan trọng nhất trong Thuyết tương đối của Einstein. Các nhà khoa học đã phải mất hàng thập kỷ mới tìm ra nó như ngày nay, mặc dù họ luôn đảm bảo chắc chắn sóng hấp dẫn có tồn tại.

    Khám phá về sóng hấp dẫn có thể mở ra cánh cửa mới trong vũ trụ của chúng ta, bởi trước đó ta chỉ dùng hiểu biết về từ trường. Giờ chúng ta có thể dùng gần như tất cả các loại sóng âm, từ sóng radio tới tia gamma “, ông Pavel Ivanov, Tiến sĩ Toán-Lý người Nga chia sẻ.

    Việc phân tích những thông tin về sóng hấp dẫn cũng có thể giúp tìm hiểu thêm về vụ nổ Big Bang, cũng như những sự kiện khác trong lịch sử hình thành vũ trụ. Nó cũng giúp khám phá trong trường hợp có tồn tại những vũ trụ khác, sẽ có gì bên trong một lỗ đen, và thậm chí là cách thức du hành thời gian.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Lý Thống Nhất Tương Tác Trong Vũ Trụ
  • Tàu Con Thoi Là Gì? Mô Tả Cấu Tạo Tàu Con Thoi Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Vì Sao Tàu Vũ Trụ Bay Cả Trăm Năm Không Hết Nhiên Liệu, Không Cần Dừng Ở Trạm Không Gian Nào Để Đổ Xăng?
  • Vật Liệu Làm Vỏ Tàu Vũ Trụ: Nga Đi Sau Mỹ
  • 1001 Thắc Mắc: Vì Sao Phóng Tàu Vũ Trụ Phải Dùng Tên Lửa Nhiều Tầng?
  • Một Số Cấu Trúc Vi Mô Của Vật Chất Trong Vũ Trụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Soạn Thảo Hợp Đồng Ngoại Thương: Cấu Trúc, Điều Khoản, Thanh Toán
  • Mô Hình Tòa Soạn Hội Tụ Ở Việt Nam Sẽ Như Thế Nào?
  • Giáo Án Bài Thương Vợ
  • Số Đăng Kí Thuốc Và Những Điều Bạn Nên Biết!
  • Cách Nhận Biết Thuốc Và Thực Phẩm Chức Năng Dược Sĩ Cần Biết
  • Pháp Không Chân Như

    Phần Dẫn Nhập Từ xưa đến nay, các nhà khoa học đã và đang nỗ lực nghiên cứu để có được một lý thuyết hoàn chỉnh về hạt cơ bản và các cấu trúc cơ bản của vật chất trong Vũ Trụ, phản ánh đúng sự thật của Vũ Trụ. Thành tựu đáng kể đó là phát hiện hạt nguyên tử, kế đến là hạt nhân nguyên tử và hạt electron, rồi đến hạt proton, hạt neutron trong hạt nhân. Hiện nay, khoa học đang phát triển và nỗ lực hoàn thiện các lý thuyết hạt cơ bản như Mô hình chuẩn SM, Lý thuyết dây, Thuyết siêu dây, Thuyết siêu hấp dẫn, Thuyết M hay U, Thuyết vạn vật,… để xác định các hạt cơ bản và phương thức liên kết với nhau giữa chúng để hình thành vật chất có cấu trúc. Tuy nhiên, chưa có lý thuyết nào hoàn thiện. Khoa học sẽ không bao giờ có được một lý thuyết hoàn thiện phản ánh đúng sự thật của Vũ Trụ ngay cả khi chỉ giới hạn trong phạm vi vật chất có cấu trúc mà con người đã biết đến, không kể đến các vật chất có cấu trúc mà con người chưa biết đến. Tại sao như vậy? Ngũ uẩn, lục căn của con người cùng với các thiết bị khoa học đều cấu thành từ vật chất. Khi vật chất tiếp xúc với vật chất đã không còn giữ trạng thái như trước khi tiếp túc với nhau. Có nghĩa rằng, vật chất đã biểu lộ khác đi khi tiếp xúc với nhau. Vậy thì con người và thiết bị khoa học không thể nhận biết đúng về sự thật của vật chất, ngay cả nhận biết đó bằng tư tưởng, suy nghĩ, ý thức. Chỉ có tỉnh thức, tức là cái biết tự tại vốn có trong cái Ta không bị cấu uế bỡi vật chất, mới biết được sự thật của vật chất cũng như sự thật của Vũ Trụ Nhân Sinh. Khi đó, khoa học mới có nền tảng chân lý để xây dựng các mô hình khoa học phản ánh đúng sự thật của Vũ Trụ. Phần Nội Dung

    Trong các bài: Sự Kiện Khởi Nguyên Vũ Trụ, Vật Chất Cơ Sở & Phi Vật Chất Trong Vũ Trụ, Các Hậu Quả Của Tính Phân Tranh Của Phần Tử Vật Chất Trong Vũ Trụ, Nguyên Lý Thống Nhất Tương Tác Trong Vũ Trụ, đã giới thiệu về các Phần Tử vật chất A và các thuộc tính của nó, các hệ quả của nó và Tương Tác Phân Tranh.

    Hạt sơ cấp được định nghĩa là hạt vật chất không có cấu trúc nội tại, đồng nhất không thể chia tách thành các hạt thành phần, đó chính là các Phần Tử vật chất A mà trong các bài viết nêu trên đã giới thiệu về nó. Các hạt sơ cấp (các phần tử) có Năng Phần từ vô cùng bé đến vô cùng lớn, có kích thước vô cùng bé đến kích thước bằng với không gian vũ trụ, và có vô số hạt sơ cấp khác nhau và giống nhau. Mỗi hạt sơ cấp có thể tồn tại dưới dạng điểm hoặc có kích thước lớn hoặc nhỏ tùy thuộc vào sự tương tác với các hạt khác mà nó đang tiếp xúc.

    Trong bài này giới thiệu về một số cấu trúc vi mô điển hình cho mọi cấu trúc vi mô của vật chất trong Vũ Trụ. Trong các cấu trúc được mô tả ở đây, không kể đến sự có mặt có thể có của các hạt sơ cấp nằm trong cấu trúc vi mô của vật chất vì nó không làm ảnh hưởng đến sự hình thành và tồn tại của cấu trúc đó, và không làm ảnh hưởng đến sự liên kết và sự tồn tại của các cấu trúc lớn hơn được hình thành từ các cấu trúc đó. Giống như khi diễn đạt về cấu trúc của một Thiên Hà thì không diễn đạt các hạt bụi rời rạc nằm trong nó cho dù có hoặc không có hạt bụi nào hoặc có vô số hạt bụi nằm trong nó.

    Ngoài vật chất có cấu trúc, vẫn tồn tại vật chất không có cấu trúc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Cấu Trúc Quark Của Hạt Cơ Bản
  • Cách Ứng Dụng 10+ Hàm Excel Thông Dụng
  • 15+ Hàm Cơ Bản Trong Excel Cho Dân Văn Phòng
  • Cách Sử Dụng Hàm Left, Hàm Right Trong Excel
  • Các Hàm Excel Thường Dùng Trong Kế Toán
  • Chương Trình Khoa Học Công Nghệ Vũ Trụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghiên Cứu Khoa Học Và Những Lợi Ích Đối Với Sinh Viên
  • Lịch Sử Hình Thành & Những Lợi Ích Của Bộ Trống Điện Tử
  • 5 Lợi Ích Bất Ngờ Của Việc Theo Đuổi Nghề Lập Trình
  • Lợi Ích Của Lập Trình Viên Full Stack Developers
  • Mỹ Thuật Và 7 Lợi Ích Không Thể Bỏ Qua Đối Với Sự Phát Triển Của Trẻ
  • Công nghệ vũ trụ là một ngành công nghệ cao, được tích hợp từ nhiều ngành khoa học công nghệ khác nhau nhằm chế tạo và ứng dụng các phương tiện như vệ tinh, tàu vũ trụ, tên lửa đẩy, trạm mặt đất, v.v… để khám phá, chinh phục và sử dụng khoảng không vũ trụ vì lợi ích con người. Khoa học công nghệ vũ trụ ngày nay được ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả thiết thực trong phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng, … tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả các nước đang phát triển.

    Sớm nhận thức được tầm quan trọng của khoa học và công nghệ vũ trụ, ngày 27/12/1979, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 454/CP thành lập “Ủy ban nghiên cứu vũ trụ Việt Nam” và giao cho Ủy ban thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị nội dung khoa học cho “Chuyến bay vũ trụ Liên Xô – Việt Nam”. Từ 23 đến 31/07/1980, chuyến bay hợp tác Xô – Việt đã được thực hiện thành công. Anh hùng Phạm Tuân – phi công vũ trụ đầu tiên của Việt Nam đã cùng bay với nhà du hành vũ trụ Nga – V.V Gorbatco và thực hiện một số thí nghiệm khoa học trong vũ trụ. Tuy nhiên, sau đó Chương trình hợp tác bị ngắt quãng do Liên xô và khối Đông Âu bị sụp đổ.

    Trong những năm gần đấy, nhiều thành tựu của khoa học và công nghệ vũ trụ (CNVT) đã được triển khai ứng dụng ở nước ta, đặc biệt trong các lĩnh vực thông tin liên lạc, khí tượng thủy văn, viễn thám, định vị nhờ vệ tinh, … Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, phạm vi và hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng CNVT ở nước ta còn hạn chế, chưa tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội hiện nay và tương lai của đất nước.

    Ngày 14/06/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 137/2006/QĐ/TTg phê duyệt “Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2022” của Việt Nam, trong đó, giao Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

    1. Chủ trì việc nghiên cứu và phát triển công nghệ vệ tinh nhỏ.
    2. Thành lập Viện Công nghệ vũ trụ trực thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
    3. Chủ trì xây dựng, trình duyệt Bộ KH&CN, tổ chức thực hiện Chương trình khoa học công nghệ độc lập cấp Nhà nước về công nghệ vũ trụ (gọi tắt là Chương trình KHCNVT), dự án phòng thí nghiệm trọng điểm về công nghệ vũ trụ.

    Để tạo ra tiềm lực về khoa học công nghệ vũ trụ, bao gồm nguồn nhân lực KHCN vũ trụ, cơ sở vật chất, thiết bị, triển khai ứng dụng CNVT phục vụ quản lý tài nguyên, thiên nhiên, môi trường và thiên tai, nhằm từng bước làm chủ công nghệ vệ tinh, đạt trình độ tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, đồng thời phát triển các phần mềm, nâng cao khả năng ứng dụng CNVT phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ KHCN quản lý và Viện KHCNVN chủ trì xây dựng và thực hiện Chương trình KHCN vũ trụ.

    Các hướng nghiên cứu chính của Chương trình KHCNVT bao gồm:

    • Nghiên cứu công nghệ vệ tinh nhỏ quan sát trái đất,
    • Nghiên cứu chế tạo thiết bị, trạm mặt đất,
    • Nghiên cứu mở rộng và nâng cao hiệu quả ứng dụng CNVT phục vụ phát triển KT-XH, an ninh quốc phòng (xử lý và ứng dụng ảnh viễn thám; nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng hệ thống định vị GPS . . .)
    • Nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý của Việt Nam về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình.

    Chương trình đã được thực hiện thử nghiệm thành công trong 3 năm (2008-2011), tạo ra một số sản phẩm công nghệ cao, một số nghiên cứu cơ bản, ứng dụng có chất lượng cao, qua đó các Bộ, Ngành cũng như cộng đồng đã nhận thấy vai trò không thể thiếu của CNVT trong phát triển bền vững KT-XH, an ninh quốc phòng.

    Tháng 10/2012, Bộ trưởng Bộ KH&CN đã ký quyết định thành lập Ban chủ nhiệm Chương trình và phê duyệt Khung Chương trình KHCNVT giai đoan 2012-2015, giao Viện KHCNVN chủ trì thực hiện các nhiệm vụ thuộc Chương trình.

    Chương trình bao gồm 4 hướng chính:

    • Công nghệ vệ tinh
    • Ứng dụng công nghệ vũ trụ
    • Nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng CNVT
    • Công nghệ tên lửa đẩy

    Các nhiệm vụ sẽ được các Hội đồng tư vấn khoa học xem xét, trình Chủ tịch Viện KHCNVN phê duyệt thực hiện dưới 2 hình thức: tuyển chọn và giao trực tiếp, tùy theo tính chất của nhiệm vụ và cơ quan thực hiện. Chương trình được thông báo đến các cơ quan, trường đại học trong cả nước, qua đó đã xây dựng được nhiều nhiệm vụ có giá trị khoa học công nghệ và tính ứng dụng thực tiễn cao, đồng thời tạo ra được những nhóm nghiên cứu mạnh, hợp tác giữa các cơ quan, trường đại học để phát triển ngành KHCN vũ trụ của nước nhà, nhằm hoàn thành tốt các nhiệm vụ của “Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng CNVT đến năm 2022”.

    Website Chương trình Khoa học Công nghệ Vũ trụ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoa Học Và Những Lợi Ích Cho Trẻ Mầm Non
  • Những Lợi Ích Của Nghiên Cứu Khoa Học Đối Với Sinh Viên
  • Vai Trò Của Khoa Học Cơ Bản?
  • Lợi Ích Của Công Bố Khoa Học
  • Các Lí Do Nên Tham Gia Hoạt Động Ngoại Khóa Ở Trường Đại Học
  • Cấu Tạo Cầu Nâng 1 Trụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Cầu Nâng 2 Trụ: Cấu Tạo & Nguyên Lý Vận Hành An Toàn Nhất
  • Cấu Tạo Cầu Nâng Rửa Xe Ô Tô
  • Cấu Tạo Cầu Nâng 2 Trụ Và Cách Vận Hành Của Chúng
  • Chuột Cửa Ô Tô Điều Khiển Cửa Ô Tô Car Door Lock System
  • Cấu Tạo Khóa Cửa Ô Tô Chưa Chắc Các Thợ Sửa Chữa Xe Đã Biết
  • Cấu tạo cầu nâng ô tô 1 trụ rửa xe

    Cầu nâng 1 trụ có cấu tạo khá đơn giản, bao gồm: xy lanh (ty nâng), bàn nâng và bình nhớt.

    Xy lanh hay còn được gọi là ty nâng trong cầu nâng ô tô 1 trụ có tác dụng đẩy bàn nâng và xe ô tô lên nhờ lực đẩy của áp suất khí nén được tạo ra từ máy nén khí. Áp lực của khí nén trong xy lanh sẽ đẩy nhớt và ty cầu lên, nhờ vậy xe dần được nâng lên cao.

    Ty nâng là phần hoạt động nhiều nhất trong cầu nâng, nó liên tục cọ sát vào thành xy lanh của trụ cầu và nhớt. Do đó, nếu không bảo quản đúng cách thì sẽ rất dễ dẫn đến nhớt bị rò rỉ ra bên ngoài, áp lực trong xy lanh giảm, không khí bên trong xy lanh không đủ để nâng cầu lên.

    Cấu tạo của cầu nâng ô tô 1 trụ khá đơn giản

    Bàn nâng

    Bàn nâng được cấu tạo khá đơn giản nhưng lại tốn khá nhiều nguyên liệu sắt thép. Hiện nay, bàn nâng thường được sản xuất bằng thép gai có độ bền cao và có ma sát để giữ cho xe không bị trơn trượt khi nâng lên.

    Hai loại bàn nâng chính hiện nay gồm:

    • Bàn nâng gầm xe, loại này để lộ 4 bánh xe.
    • Bàn nâng toàn xe, nâng cả 4 bánh xe lên.

    Trong đó bàn nâng toàn xe được sử dụng phổ biến hơn bàn nâng gầm xe, vì an toàn và dễ sử dụng.

    Bình nhớt là thành phần quan trọng giúp cầu nâng xe ô tô có thể hoạt động được. Bình nhớt của cầu nâng so Việt Nam sản xuất có kích thước nhỏ hơn so với sản phẩm nước ngoài.

    Với cấu tạo này cầu nâng vẫn hoạt động bình thường như các sản phẩm nhập khẩu mà doanh nghiệp lại tiết kiệm được một chi phí nhớt đáng kể.

    Nhớt trong bình chứa hoạt động như sau: nhớt sẽ đi từ bình chứa vào ty nâng qua hệ thống van khóa và đường dẫn nhớt khi áp lực khí nén được đưa vào hay xả ra

    Đối với các loại nhớt bình thường sử dụng trong cầu nâng thì nên thay mỗi năm 1 lần, nếu sử dụng các nhớt tốt thì vài năm mới phải thay một lần.

    Cầu nâng 1 trụ được dùng phổ biến trong gara xe ô tô

    Nguyên lý hoạt động của cầu nâng 1 trụ

    • Máy nén khí đẩy khí nén áp lực cao vào bình chứa dầu, áp suất cao tiếp tục đẩy dầu vào cầu nâng và bắt đầu nâng xe lên.
    • Máy nén sử dụng trong trường hợp này phải có áp lực tối thiểu 8kg/cm2 và bình chứa phải đạt gần 200 lít trở lên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Cầu Nâng Ô Tô 1 Trụ, 2 Trụ
  • Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Cầu Nâng Rửa Xe Ô Tô 1 Trụ Và 2 Trụ
  • Cầu Nâng Ô Tô 4 Trụ
  • Cầu Xe Tải Là Gì, Cấu Tạo Của Cầu Xe Tải.
  • Tìm Hiểu Về Cấu Tạo Của Lốp Ô Tô
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100