Cấu Tạo Thứ Cấp Của Thân Cây Hai Lá Mầm

--- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Cấu Tạo Thứ Cấp Của Thân Cây Hai Lá Mầm
  • Các Vấn Đề Của Lá Cây
  • Cấu Tạo Giải Phẩu Thân
  • Hiển Thị Hình Ảnh Với Led Matrix 8×8
  • Đèn Led Là Gì? Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Đèn Led
  • Cấu tạo thứ cấp của thân cây Hai lá mầm Thân cây thực vật 2 lá mầm sống nhiều năm và cây hạt trần có cấu tạo thứ cấp, thân cây có khả năng tăng trưởng về bề ngang và kích thước do hoạt động của mô phân sinh thứ cấp: tầng phát sinh libe – gỗ (tầng phát sinh trụ) và tầng phát sinh bần – lục bì (tầng phát sinh vỏ), trong đó tầng phát sinh trụ có vai trò chủ yếu. Thân cây Một lá mầm và thân cây Hai lá mầm sống một năm không có cấu tạo thứ cấp. Cấu tạo thứ cấp của thân cây Hai lá mầm rất phức tạp. Người ta phân biệt thành các phần chính sau đây: a. Vỏ thứ cấp Thân cây Hai lá mầm đặc biệt là các thân cây gỗ, vỏ sơ cấp thường không giữ được lâu, một tầng phát sinh mới thay thế cho lớp biểu bì, đó là tầng phát sinh vỏ (hay tầng sinh bần – lục bì). Hoạt động của tầng này sẽ sinh ra lớp bần ở phía ngoài, gồm các tế bào chết có màng hóa bần, mặt ngoài của tầng bần có nhiều lỗ vỏ đảm bảo sự trao đổi khí giữa thân cây và môi trường. Các tế bào của lớp lục bì sẽ được hình thành ở phía trong – đó là các tế bào nhu mô sống có chứa lạp lục, có màng mỏng bằng cellulose. Tập hợp của những lớp này hình thành nên lớp chu bì của thân cây. Do sự hoạt động liên tục của tầng phát sinh vỏ, một tầng phát sinh vỏ mới được hình thành sâu ở trong lớp vỏ và một lớp bần mới được hình thành. Khi lớp bần mới được hình thành thì tất cả các mô nằm bên ngoài của nó bị chết đi và cùng với lớp bần tạo thành bộ phận che chở phía ngoài của thân – lớp này gọi là thụ bì. Khái niệm vỏ thứ cấp trong cấu tạo thứ cấp của thân là tập hợp tất cả các mô nằm phía ngoài tầng phát sinh, bao gồm: các tế bào libe, vỏ sơ cấp (nếu có), các tế bào của chu bì hoặc thụ bì. b. Tầng phát sinh trụ 68 Trong cấu tạo sơ cấp của thân, tầng trước phát sinh (tiền tượng tầng) đã hình thành nên libe sơ cấp và gỗ sơ cấp, một phần các tế bào của tầng này vẫn giữ trạng thái phân chia và khi kết thúc sự sinh trưởng sơ cấp sẽ trở thành tầng phát sinh (tượng tầng) hay tầng phát sinh trụ. Tầng phát sinh trụ thường nằm ở giữa bó gỗ và libe, thường gồm 2 loại tế bào: – Tế bào khởi sinh hình thoi: thường có dạng hình thoi kéo dài, những tế bào này có chiều dài gấp nhiều lần chiều rộng, chúng thường phân chia theo mặt phẳng tiếp tuyến để hình thành nên những yếu tố dẫn, yếu tố sợi và các tế bào nhu mô. – Tế bào khởi sinh tia: thường có dạng hình tròn, có số lượng ít hơn tế bào khởi sinh hình thoi. Những tế bào này thường tập hợp thành nhóm với số lượng và kích thước khác nhau, tùy từng loài cây. Hoạt động của những tế bào này sẽ sinh ra tia ruột thứ cấp (gồm tia gỗ và tia libe). Các tế bào của tầng phát sinh có thể sắp xếp thành tầng hoặc không, hoạt động của những tế bào này có thể thường xuyên hoặc định kỳ theo mùa (thường gặp ở những cây gỗ sống ở vùng có khí hậu thay đổi theo mùa). c. Libe thứ cấp và gỗ thứ cấp + Libe thứ cấp: có cấu tạo phức tạp hơn libe sơ cấp, bao gồm: Mạch rây, tế bào kèm cùng với mô mềm hợp thành libe mềm. Sợi libe, mô cứng và tế bào đá hợp thành libe cứng, ở một số loài gặp các cấu trúc tiết nằm xen kẽ với các tế bào libe. Libe thứ cấp gồm những tế bào có màng mỏng, độ cứng kém nên thường bị gỗ dồn ra phía ngoài vỏ và bẹp dần lại. Trong cấu tạo thứ cấp của thân các yếu tố libe sơ cấp vẫn có thể tồn tại nhưng cũng bị tình trạng tương tự như libe thứ cấp và sau vài năm có thể bị biến mất đi. + Gỗ thứ cấp: gỗ là phần chiếm chủ yếu trong cấu tạo thứ cấp của thân cây, trong gỗ thường gồm các loại mô chính: mô cơ bản, mô cơ và mô dẫn. – Mô cơ bản: mô cơ bản trong gỗ thứ cấp gồm 3 loại mô chính: nhu mô gỗ, nhu mô gỗ hình thoi (sợi thay thế) và tia ruột (tia gỗ) tất cả các loại mô này đều có chức năng dự trữ. Nhu mô gỗ: là những tế bào sống thướng có dạng hình ống, có vách ngăn ngang, màng của chúng thường hóa gỗ song không quá dày, tế bào thường có chứa các chất dự trữ: tinh bột, các loại tinh dầu… Nhu mô hình thoi (sợi thay thế): tế bào thường có dạng hình thoi dạng sợi, có màng hóa gỗ, không có vách ngăn ngang, 2 đầu tế bào thường nhọn, có một nhân và thường làm nhiệm vụ dự trữ. Tia ruột: cấu tạo bởi những tế bào có dạng hình chữ nhật (trên lát cắt ngang) đó là những tế bào sống, màng hóa gỗ, tập trung thành từng tia chạy theo hướng phóng xạ từ trục của thân ra phía ngoài. 69 -Mô cơ: gồm các tế bào cương mô, màng dày hóa gỗ, tế bào thường có dạng hình thoi 3 đầu nhọn, những tế bào đó còn gọi là các tế bào sợi gỗ – đó là những tế bào chết, không chứa chất sống, có tác dụng nâng đỡ về mặt cơ học cho thân cây. – Mô dẫn: bao gồm quản bào và mạch thông, chúng có thể nằm rải rác ở trong gỗ và sắp xếp thành vòng (ở cây thực vật hạt trần thường chỉ có quản bào). d. Khái niệm vòng gỗ hàng năm Trong gỗ thứ cấp của thân các cây gỗ thường gặp những vòng gỗ đồng tâm hoặc tương đối đồng tâm, người ta gọi đó là những vòng gỗ hàng năm, chúng được hình thành do tầng phát sinh trụ hoạt động không đồng đều theo mùa: Mùa xuân và mùa hè khí hậu ẩm và nóng, cây hoạt động mạnh, dẫn truyền nhiều, tầng phát sinh trụ sản sinh ra các tế bào gỗ có màng mỏng, kích thước lớn, tập hợp những tế bào này tạo thành một vòng gỗ nhạt màu và rộng. Cuối thu sang đông, khí hậu khắc nghiệt, cây hoạt động rất ít hoặc ngưng hoạt động (thường gặp ở những cây rụng lá về mùa đông) tượng tầng hoạt động sẽ sản sinh ra các tế bào gỗ có kích thước nhỏ, màng dày, những tế bào này sẽ làm thành một vòng gỗ hẹp và sẫm màu. Như vậy, cứ một năm cây thường sản sinh ra một vòng gỗ sẫm màu, hẹp và một vòng gỗ nhạt màu rộng, Tuy nhiên, sự hình thành những vòng gỗ như trên chỉ mang tính chất tương đối. e. Khái niệm gỗ vỏ và gỗ lõi Việc dẫn truyền nước và muối khoáng hòa tan từ rễ lên lá là do các mạch dẫn trong phần gỗ của thân đảm nhận, song mức độ dẫn truyền không phải đồng đều trên mọi phần gỗ, người ta phân biệt: – Gỗ vỏ (dác): là vùng gỗ bên ngoài không màu hoặc có màu nhạt, có khả năng hoạt động dẫn truyền tốt. – Gỗ lõi (ròng): là vùng gỗ bên trong thường có màu sẫm hơn gỗ vỏ, có độ cứng hơn gỗ vỏ, gỗ lõi có chứa các thể nút (được hình thành do các tế bào nhu mô chui vào thành mạch, phình lên tạo thành những thể nút bít kín thành mạch lại), các chất gôm, dầu, tanin… gỗ lõi không có khả năng dẫn truyền hoặc dẫn truyền rất yếu và giữ chức phận nâng đỡ về mặt cơ học cho thân cây. Hình 3.10. Cấu tạo giải phẫu của thân cây Hai lá mầm 1. Lớp bần; 2. Nhu mô vỏ; 3. Tia ruột; 4. Sợi libe; 5. Nhu mô libe thứ cấp;6. Tầng phát sinh libe gô; 7. Gỗ thứ cấp; 8. Gỗ sơ cấp. (Nguồn: F.K. Tikhomirov,1978) 70 a. Biểu bì Gồm một lớp tế bào sống, có các tế bào lỗ khí nằm xen kẽ, màng ngoài của tế bào biểu bì có thể thấm thêm silic, có tầng cutin khá dày, hoặc phủ một lớp sáp, có thể có lông, gai… b. Lớp cương mô Nằm ngay bên dưới biểu bì là những tế bào cương mô, những tế bào cương mô này có thể sắp xếp thành vòng hoặc từng đám, nằm xen lẫn với các tế bào nhu mô có chứa lạp lục. Những đám cương mô này có thể kéo dài vào trong nối liền với những vòng cương mô bao xung quanh các bó dẫn. f. Khái niệm cây thân gỗ và cây thân thảo 2 lá mầm Trong hình thái tiến hóa thực vật, những dạng cây thân gỗ được xem là nguyên thủy hơn những dạng cây thân thảo. Người ta phân biệt cây thân gỗ và cây thân thảo 2 lá mầm chủ yếu dựa vào sự sinh trưởng thứ cấp của thân do hoạt động của tầng phát sinh trụ. Ở cây thân gỗ, quá trình sinh trưởng thứ cấp kéo dài trong suốt đời sống của cây, còn ở cây thân thảo, quá trình sinh trưởng thứ cấp của thân bị đình chỉ khi cây ra hoa và tạo quả…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Cấp 1 Thân Cây Lớp Ngọc Lan
  • Bài 13. Cấu Tạo Ngoài Của Thân
  • Kinh Nghiệm Mua Đế Tản Nhiệt Laptop Nào Tốt, Giảm Nhiệt Hiệu Quả?
  • 6 Kinh Nghiệm Mua Đế Tản Nhiệt Laptop Hiệu Quả Công Suất Quạt Phù Hợp
  • (Tư Vấn) +8 Đế Tản Nhiệt Laptop Tốt Nhất (Siêu Bền: 2022)
  • Tài Liệu Cấu Tạo Thứ Cấp Của Thân Cây Hai Lá Mầm

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Vấn Đề Của Lá Cây
  • Cấu Tạo Giải Phẩu Thân
  • Hiển Thị Hình Ảnh Với Led Matrix 8×8
  • Đèn Led Là Gì? Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Đèn Led
  • Cấu Tạo Đèn Led Khác Gì So Với Bóng Đèn Truyền Thống?
  • Cấu tạo thứ cấp của thân cây Hai lá mầm Thân cây thực vật 2 lá mầm sống nhiều năm và cây hạt trần có cấu tạo thứ cấp, thân cây có khả năng tăng trưởng về bề ngang và kích thước do hoạt động của mô phân sinh thứ cấp: tầng phát sinh libe – gỗ (tầng phát sinh trụ) và tầng phát sinh bần – lục bì (tầng phát sinh vỏ), trong đó tầng phát sinh trụ có vai trò chủ yếu. Thân cây Một lá mầm và thân cây Hai lá mầm sống một năm không có cấu tạo thứ cấp. Cấu tạo thứ cấp của thân cây Hai lá mầm rất phức tạp. Người ta phân biệt thành các phần chính sau đây: a. Vỏ thứ cấp Thân cây Hai lá mầm đặc biệt là các thân cây gỗ, vỏ sơ cấp thường không giữ được lâu, một tầng phát sinh mới thay thế cho lớp biểu bì, đó là tầng phát sinh vỏ (hay tầng sinh bần – lục bì). Hoạt động của tầng này sẽ sinh ra lớp bần ở phía ngoài, gồm các tế bào chết có màng hóa bần, mặt ngoài của tầng bần có nhiều lỗ vỏ đảm bảo sự trao đổi khí giữa thân cây và môi trường. Các tế bào của lớp lục bì sẽ được hình thành ở phía trong – đó là các tế bào nhu mô sống có chứa lạp lục, có màng mỏng bằng cellulose. Tập hợp của những lớp này hình thành nên lớp chu bì của thân cây. Do sự hoạt động liên tục của tầng phát sinh vỏ, một tầng phát sinh vỏ mới được hình thành sâu ở trong lớp vỏ và một lớp bần mới được hình thành. Khi lớp bần mới được hình thành thì tất cả các mô nằm bên ngoài của nó bị chết đi và cùng với lớp bần tạo thành bộ phận che chở phía ngoài của thân – lớp này gọi là thụ bì. Khái niệm vỏ thứ cấp trong cấu tạo thứ cấp của thân là tập hợp tất cả các mô nằm phía ngoài tầng phát sinh, bao gồm: các tế bào libe, vỏ sơ cấp (nếu có), các tế bào của chu bì hoặc thụ bì. b. Tầng phát sinh trụ 68 Trong cấu tạo sơ cấp của thân, tầng trước phát sinh (tiền tượng tầng) đã hình thành nên libe sơ cấp và gỗ sơ cấp, một phần các tế bào của tầng này vẫn giữ trạng thái phân chia và khi kết thúc sự sinh trưởng sơ cấp sẽ trở thành tầng phát sinh (tượng tầng) hay tầng phát sinh trụ. Tầng phát sinh trụ thường nằm ở giữa bó gỗ và libe, thường gồm 2 loại tế bào: – Tế bào khởi sinh hình thoi: thường có dạng hình thoi kéo dài, những tế bào này có chiều dài gấp nhiều lần chiều rộng, chúng thường phân chia theo mặt phẳng tiếp tuyến để hình thành nên những yếu tố dẫn, yếu tố sợi và các tế bào nhu mô. – Tế bào khởi sinh tia: thường có dạng hình tròn, có số lượng ít hơn tế bào khởi sinh hình thoi. Những tế bào này thường tập hợp thành nhóm với số lượng và kích thước khác nhau, tùy từng loài cây. Hoạt động của những tế bào này sẽ sinh ra tia ruột thứ cấp (gồm tia gỗ và tia libe). Các tế bào của tầng phát sinh có thể sắp xếp thành tầng hoặc không, hoạt động của những tế bào này có thể thường xuyên hoặc định kỳ theo mùa (thường gặp ở những cây gỗ sống ở vùng có khí hậu thay đổi theo mùa). c. Libe thứ cấp và gỗ thứ cấp + Libe thứ cấp: có cấu tạo phức tạp hơn libe sơ cấp, bao gồm: Mạch rây, tế bào kèm cùng với mô mềm hợp thành libe mềm. Sợi libe, mô cứng và tế bào đá hợp thành libe cứng, ở một số loài gặp các cấu trúc tiết nằm xen kẽ với các tế bào libe. Libe thứ cấp gồm những tế bào có màng mỏng, độ cứng kém nên thường bị gỗ dồn ra phía ngoài vỏ và bẹp dần lại. Trong cấu tạo thứ cấp của thân các yếu tố libe sơ cấp vẫn có thể tồn tại nhưng cũng bị tình trạng tương tự như libe thứ cấp và sau vài năm có thể bị biến mất đi. + Gỗ thứ cấp: gỗ là phần chiếm chủ yếu trong cấu tạo thứ cấp của thân cây, trong gỗ thường gồm các loại mô chính: mô cơ bản, mô cơ và mô dẫn. – Mô cơ bản: mô cơ bản trong gỗ thứ cấp gồm 3 loại mô chính: nhu mô gỗ, nhu mô gỗ hình thoi (sợi thay thế) và tia ruột (tia gỗ) tất cả các loại mô này đều có chức năng dự trữ. Nhu mô gỗ: là những tế bào sống thướng có dạng hình ống, có vách ngăn ngang, màng của chúng thường hóa gỗ song không quá dày, tế bào thường có chứa các chất dự trữ: tinh bột, các loại tinh dầu… Nhu mô hình thoi (sợi thay thế): tế bào thường có dạng hình thoi dạng sợi, có màng hóa gỗ, không có vách ngăn ngang, 2 đầu tế bào thường nhọn, có một nhân và thường làm nhiệm vụ dự trữ. Tia ruột: cấu tạo bởi những tế bào có dạng hình chữ nhật (trên lát cắt ngang) đó là những tế bào sống, màng hóa gỗ, tập trung thành từng tia chạy theo hướng phóng xạ từ trục của thân ra phía ngoài. 69 -Mô cơ: gồm các tế bào cương mô, màng dày hóa gỗ, tế bào thường có dạng hình thoi 3 đầu nhọn, những tế bào đó còn gọi là các tế bào sợi gỗ – đó là những tế bào chết, không chứa chất sống, có tác dụng nâng đỡ về mặt cơ học cho thân cây. – Mô dẫn: bao gồm quản bào và mạch thông, chúng có thể nằm rải rác ở trong gỗ và sắp xếp thành vòng (ở cây thực vật hạt trần thường chỉ có quản bào). d. Khái niệm vòng gỗ hàng năm Trong gỗ thứ cấp của thân các cây gỗ thường gặp những vòng gỗ đồng tâm hoặc tương đối đồng tâm, người ta gọi đó là những vòng gỗ hàng năm, chúng được hình thành do tầng phát sinh trụ hoạt động không đồng đều theo mùa: Mùa xuân và mùa hè khí hậu ẩm và nóng, cây hoạt động mạnh, dẫn truyền nhiều, tầng phát sinh trụ sản sinh ra các tế bào gỗ có màng mỏng, kích thước lớn, tập hợp những tế bào này tạo thành một vòng gỗ nhạt màu và rộng. Cuối thu sang đông, khí hậu khắc nghiệt, cây hoạt động rất ít hoặc ngưng hoạt động (thường gặp ở những cây rụng lá về mùa đông) tượng tầng hoạt động sẽ sản sinh ra các tế bào gỗ có kích thước nhỏ, màng dày, những tế bào này sẽ làm thành một vòng gỗ hẹp và sẫm màu. Như vậy, cứ một năm cây thường sản sinh ra một vòng gỗ sẫm màu, hẹp và một vòng gỗ nhạt màu rộng, Tuy nhiên, sự hình thành những vòng gỗ như trên chỉ mang tính chất tương đối. e. Khái niệm gỗ vỏ và gỗ lõi Việc dẫn truyền nước và muối khoáng hòa tan từ rễ lên lá là do các mạch dẫn trong phần gỗ của thân đảm nhận, song mức độ dẫn truyền không phải đồng đều trên mọi phần gỗ, người ta phân biệt: – Gỗ vỏ (dác): là vùng gỗ bên ngoài không màu hoặc có màu nhạt, có khả năng hoạt động dẫn truyền tốt. – Gỗ lõi (ròng): là vùng gỗ bên trong thường có màu sẫm hơn gỗ vỏ, có độ cứng hơn gỗ vỏ, gỗ lõi có chứa các thể nút (được hình thành do các tế bào nhu mô chui vào thành mạch, phình lên tạo thành những thể nút bít kín thành mạch lại), các chất gôm, dầu, tanin… gỗ lõi không có khả năng dẫn truyền hoặc dẫn truyền rất yếu và giữ chức phận nâng đỡ về mặt cơ học cho thân cây. Hình 3.10. Cấu tạo giải phẫu của thân cây Hai lá mầm 1. Lớp bần; 2. Nhu mô vỏ; 3. Tia ruột; 4. Sợi libe; 5. Nhu mô libe thứ cấp;6. Tầng phát sinh libe gô; 7. Gỗ thứ cấp; 8. Gỗ sơ cấp. (Nguồn: F.K. Tikhomirov,1978) 70 a. Biểu bì Gồm một lớp tế bào sống, có các tế bào lỗ khí nằm xen kẽ, màng ngoài của tế bào biểu bì có thể thấm thêm silic, có tầng cutin khá dày, hoặc phủ một lớp sáp, có thể có lông, gai… b. Lớp cương mô Nằm ngay bên dưới biểu bì là những tế bào cương mô, những tế bào cương mô này có thể sắp xếp thành vòng hoặc từng đám, nằm xen lẫn với các tế bào nhu mô có chứa lạp lục. Những đám cương mô này có thể kéo dài vào trong nối liền với những vòng cương mô bao xung quanh các bó dẫn. f. Khái niệm cây thân gỗ và cây thân thảo 2 lá mầm Trong hình thái tiến hóa thực vật, những dạng cây thân gỗ được xem là nguyên thủy hơn những dạng cây thân thảo. Người ta phân biệt cây thân gỗ và cây thân thảo 2 lá mầm chủ yếu dựa vào sự sinh trưởng thứ cấp của thân do hoạt động của tầng phát sinh trụ. Ở cây thân gỗ, quá trình sinh trưởng thứ cấp kéo dài trong suốt đời sống của cây, còn ở cây thân thảo, quá trình sinh trưởng thứ cấp của thân bị đình chỉ khi cây ra hoa và tạo quả…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Thứ Cấp Của Thân Cây Hai Lá Mầm
  • Cấu Tạo Cấp 1 Thân Cây Lớp Ngọc Lan
  • Bài 13. Cấu Tạo Ngoài Của Thân
  • Kinh Nghiệm Mua Đế Tản Nhiệt Laptop Nào Tốt, Giảm Nhiệt Hiệu Quả?
  • 6 Kinh Nghiệm Mua Đế Tản Nhiệt Laptop Hiệu Quả Công Suất Quạt Phù Hợp
  • Cấu Tạo Giải Phẫu Của Thân Cây Một Lá Mầm

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Trúc Và Cách Dùng Thì Hiện Tại Đơn (The Simple Present)
  • Thì Hiện Tại Đơn (Present Simple )
  • Hiện Tại Hoàn Thành Đơn, Thì Hiện Hoàn Thành Đơn Được Cấu Tạo Bởi Dạng Hiện Tại Của Have Và Quá Khứ
  • Thì Hiện Tại Đơn (Simple Present)
  • Thì Hiện Tại Đơn, Công Thức, Cách Dùng Và 100 Câu Ví Dụ
  • Thân cây thực vật 1lá mầm không có cấu tạo thứ cấp (do không có tầng phát sinh trụ) mà cấu tạo sơ cấp tồn tại suốt đời sống của cây. Trong cấu tạo giải phẫu của thân cây thực vật 1 lá mầm, không phân biệt thành phần vỏ và trung trụ do không có mặt của vòng nội bì và trụ bì. Khi quan sát trên lát cắt ngang, người ta phân biệt các phần chính sau đây: c. Lớp nhu mô cơ bản Cấu tạo bởi những tế bào sống hình trứng, màng mỏng bằng cellulose, các tế bào có kích thước lớn dần từ ngoài vào, giữa các tế bào có các khoảng gian bào rất rõ.

    Cấu tạo giải phẫu của thân cây một lá mầm Thân cây thực vật 1lá mầm không có cấu tạo thứ cấp (do không có tầng phát sinh trụ) mà cấu tạo sơ cấp tồn tại suốt đời sống của cây. Trong cấu tạo giải phẫu của thân cây thực vật 1 lá mầm, không phân biệt thành phần vỏ và trung trụ do không có mặt của vòng nội bì và trụ bì. Khi quan sát trên lát cắt ngang, người ta phân biệt các phần chính sau đây: c. Lớp nhu mô cơ bản Cấu tạo bởi những tế bào sống hình trứng, màng mỏng bằng cellulose, các tế bào có kích thước lớn dần từ ngoài vào, giữa các tế bào có các khoảng gian bào rất rõ. Hình 3.11. Cấu tạo giải phẫu thân cây thực vật một lá mầm 1. Lớp biểu bì; 2.Lớp cương mô; 3.Vòng cương mô xung quanh bó dẫn; 4. Libe; 5.Gỗ; 6. Nhu mô gỗ (Nguồn: N.X. Kixeleva; N.V Xelukhi,1969) 71 Ở một số loài Tre, Nứa, Lúa… những tế bào nhu mô ở giữa của thân thường tiêu biến đi khi cây trưởng thành làm cho thân thường rỗng ở các lóng, còn mấu vẫn đặc và giữ nguyên cấu trúc ban đầu. d. Các bó dẫn Nằm rải rác trong khối nhu mô cơ bản có rất nhiều bó dẫn, đó là các bó dẫn trồng chất kín hoặc đồng tâm. Các bó dẫn thường sắp xếp theo 2 kiểu chính: – Các bó dẫn xếp thành 2 vòng: những bó dẫn ở vòng ngoài thường nhỏ, những bó dẫn ở vòng trong thường lớn hơn (thân Lúa). – Các bó dẫn xếp tản mạn (trung trụ phân tán): các bó dẫn sắp xếp tản mạn trên khắp lát cắt ngang không theo một thứ tự nào. Những bó dẫn bên ngoài thường nhỏ xếp khít nhau, vòng cương mô bao xung quanh bó dẫn thường rất dày. Càng vào gần trục của thân, các bó dẫn càng lớn, xếp cách xa nhau hơn và vòng cương mô bao xung quanh rất mỏng (thân Ngô, Mía). Trong mỗi bó dẫn libe thường phân hóa hướng tâm, gỗ phân hóa ly tâm, có cấu tạo gồm: hai mạch điểm lớn xếp đối xứng nhau ngay dưới phần libe, một quản bào xoắn, một quản bào vòng và các tế bào nhu mô gỗ – những tế bào nhu mô này ở dưới các quản bào và thường tiêu biến đi tạo nên một khoảng trống. *Sự sinh trưởng thứ cấp của thân cây Một lá mầm: một số cây Một lá mầm sống nhiều năm (họ Cau – Arecaceae.) thân cây có sự sinh trưởng theo chiều dày, do có vòng mô phân sinh thứ cấp. Ở những cây này, mô phân sinh ngọn chỉ tạo thành một phần thân sơ cấp, còn phần lớn thân do mô phân sinh thứ cấp tạo nên, loại mô phân sinh này thường nằm dưới các mầm lá và phân chia tạo nên những dãy tế bào mô mềm ở phía ngoài khiến thân tăng thêm kích thước về chiều ngang. Kiểu sinh trưởng này gọi là sinh trưởng thứ cấp phân tán, vì nó nằm xa ngọn và không phải do hoạt động của một vùng mô phân sinh giới hạn nào tạo nên. Một kiểu sinh trưởng thứ cấp khác thường gặp ở những loài thân cây gỗ một lá mầm khác như: Huyết dụ, Huyết giác (Dracaenaceae)… Thân của chúng hàng năm dày thêm nhờ sự hình thành các bó dẫn mới (bó dẫn thứ cấp) trong thân, các bó này do các tế bào mô mềm nằm ngoài các bó dẫn được hình thành lúc đầu, có khả năng phân chia và họp thành một vòng phát sinh liên tục gọi là vòng dày. Các tế bào của vòng này sẽ phân chia theo vách tiếp tuyến về 2 phía: phía trong cho ra những bó dẫn thứ cấp và mô mềm, còn phía ngoài thì tạo ra mô mềm. Các bó dẫn trong thân cây 1 lá mầm có cấu tạo thứ cấp thường là những bó dẫn đồng tâm với libe bao quanh gỗ, trong đó: libe gồm các ống rây ngắn với nhiều vùng rây đơn, tế bào kèm và mô mềm libe; gỗ gồm các quản bào dài, các tế bào mô mềm gỗ có vách hóa gỗ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Giải Phẫu Của Rễ Cây
  • Khám Phá Ngay Thì Hiện Tại Tiếp Diễn Trong Tiếng Anh
  • Hiện Tại Tiếp Diễn (Present Continuous) Cấu Trúc, Cách Dùng, Bài Tập
  • Hiện Tại Tiếp Diễn (Present Continuous)
  • Thì Hiện Tại Tiếp Diễn (Present Continuous)
  • Cấu Tạo Cấp 1 Thân Cây Lớp Ngọc Lan

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Thứ Cấp Của Thân Cây Hai Lá Mầm
  • Tài Liệu Cấu Tạo Thứ Cấp Của Thân Cây Hai Lá Mầm
  • Các Vấn Đề Của Lá Cây
  • Cấu Tạo Giải Phẩu Thân
  • Hiển Thị Hình Ảnh Với Led Matrix 8×8
  • Trình bày cấu tạo cấp một của thân cây lớp Ngọc lan

    Cắt ngang qua thân cây non của một cây thuộc lớp Ngọc lan. vừa mới nảy mầm. Đem soi dư­ới kính hiển vi, ta thấy thân cây đó gồm có ba phần

    Cấu tạo bởi một lớp tế bào sống không có diệp lục. vách hóa cutin thành một lớp dày hay mỏng tuỳ theo cây sống Ở khí hậu khô hay ẩm. Lớp cutin này không thấm nước và khí cho nên trong biểu bì cần có lỗ khí để thông hơi. Ngoài ra, biểu bì của thân còn có thể mang lông che chở, lông tiết hoặc lông ngứa.

    Lớp tế bào trong cùng của vỏ gọi là nội bì. gồm một lớp tế bào sống chứa nhiều hạt tinh bột eo thể nhuộm tím sẫm bởi các thuốc thử iod. Ở một số cây, vách tế bào nội bì có thể mang khung hóa bẩn, gọi là đai Caspari.

    Các cây lớp Ngọc lan chỉ có duy nhất một trụ giữa (cấu tạo một trụ).

    Trụ bì: Lớp tế bào ngoài cùng của trụ giữa là trụ bì cấu tạo bởi một hay nhiều tầng tế bào. th­ờng xếp xen kẽ với tế bào nội bì và đôi khi có thể hóa mô cứng để làm nhiệm vụ nâng đỡ: đó là những sợi trụ bì.

    Hệ thông dẫn: Dư­ới trụ bì là các yếu tố dẫn nhựa của thân cây không xếp thành bó gô và bó libe riêng biệt nh­ trong rễ cây mà hợp lại thành những bó libe gỗ gồm có libe hình bầu dục Ở phía ngoài và gỗ hình tam giác có đỉnh quay vào tâm ở phía trong. Đó là những bó chồng. Ở một số cây phía trong gỗ lại có thêm một lớp libe nữa gọi là libe quanh tủy (bó chồng kép). Ví dụ nh­ư cây Mư­ớp (Lu[fa cylindrica Ro em.), Mã tiền (Strychnos nux – vomica L.), Lá ngón (Gelsenium elegans Benth.), Cà độc dư­ợc (Datura mete l L.), v.v. . .

    Các bó libe gỗ ở thân cây cấp một của các cây lớp Ngọc lan xếp theo một vòng tròn. Chỉ có trư­ờng hợp đặc biệt Ở một số cây như­ cây Trầu không (họ Hồ tiêu ), các bó libe gỗ mới xếp thành hai vòng tròn. Trong bó gỗ, các mạch gỗ nhỏ đặt ở phía trong, các mạch gỗ to ở phía ngoài (phân hóa ly lâm). ở khe giữa libe là gỗ có một lớp tế bào thuộc mô phân sinh cấp hai gọi là tiền tầng sinh gỗ, có nhiệm vụ làm cho thân cây sau này phát triển theo chiều ngang.

    Ruột và tia ruột: Giữa hai bó libe gỗ. có những dải mô mềm gọi là tia ruột hay tia tủy. Ở phía trong các bó libe gỗ là một khối mô mềm gọi là ruột hay tủy. Vài loài cây có ruột rỗng như­ các cây thuộc họ Cẩn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 13. Cấu Tạo Ngoài Của Thân
  • Kinh Nghiệm Mua Đế Tản Nhiệt Laptop Nào Tốt, Giảm Nhiệt Hiệu Quả?
  • 6 Kinh Nghiệm Mua Đế Tản Nhiệt Laptop Hiệu Quả Công Suất Quạt Phù Hợp
  • (Tư Vấn) +8 Đế Tản Nhiệt Laptop Tốt Nhất (Siêu Bền: 2022)
  • Đế Tản Nhiệt Laptop Và Những Điều Cần Lưu Ý Khi Mua
  • Mh Cấu Tạo Thân Cây 2 Lá

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Led Ma Trận
  • Bài 1: Làm Quen Với Led Ma Trận Và Phương Pháp Quét Led
  • Cấu Tạo Của Tivi Led
  • Mạch Driver Led Và Các Khối Chức Năng — Sohobi Đèn Led Chất Lượng Cao
  • Chip Led Là Gì? Đặc Điểm Cấu Tạo Và Ứng Dụng Của Các Gói Led
  • Lượt xem: 94 –

    Trạng thái: Còn hàng

    Phụ kiện: 0

    • Đặt mua

      ngay

      Giao hàng tận nơi

    • Gọi mua hàng

      0982569889

    Notice: Undefined variable: product_user_review in chúng tôi on line 2

    : Undefined variable: product_user_review inon line

    Hiện tại chưa có ý kiến đánh giá nào về sản phẩm. Hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn.

    • Đánh giá sản phẩm:

    (Xem mã khác)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tản Nhiệt Nước Có Cấu Tạo Thế Nào? Gland Computer
  • Dấu Hiệu Quạt Tản Nhiệt Laptop Khô Dầu Và Cách Khắc Phục
  • Quạt Tản Nhiệt Khí Dành Cho Cpu Và Quy Tắc Hoạt Động – Chuyên Laptop – Pc – Camera Hà Đông
  • Hướng Dẫn Cách Sử Dụng Bàn Phím Laptop Dell
  • Nguyên Nhân Và Cách Sửa Bản Lề Laptop Khi Bị Gãy
  • Cấu Tạo Cấp 1 Của Rễ Cây Lớp Hành

    --- Bài mới hơn ---

  • Bước Đầu Nghiên Cứu Hình Thái Và Cấu Tạo Giải Phẫu Của Loài Thuẫn Râu (Scutellaria Barbata D. Don) Ở Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên
  • Bước Đầu Nghiên Cứu Hình Thái Và Cấu Tạo Giải Phẫu Của Loài Thuẫn Râu (Scutellaria Barbata D Don) Ở Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên
  • Cây Một Lá Mầm Và Hai Lá Mầm
  • Hình Thái Giải Phẫu Học Thực Vật
  • Sinh Học Thực Vật, Lá Cây, Thân Cây, Rễ Cây
  • Cấu tạo cấp một rễ cây lớp Hành . Vi phẫu được cắt ngang ở miền lông hút. Rễ cây có cấu tạo đối xứng tỏa tròn, gồm 3 phần:

    Tầng này t­ương ứng với lớp tế bào biểu bì của thân cây. Bao gồm những tế bào ngoài cùng kéo dài ra, có vách mỏng bằng cellulose. Vùng lông hút thư­ờng có đ­ường kính và độ dài không đổi. Vùng này đảm nhiệm chức năng quan trọng nhất của rễ cây.

    + Mô mềm vỏ ngoài bao gồm nhiều tế bào vách bằng cellulose. sắp xếp lộn xộn, tạo ra các khoảng gian bào.

    + Mô mềm vỏ trong là các tế bào có vách mỏng, xếp thành các vòng tròn đồng tâm và dãy xuyên tâm. Trong tế bào mô mềm th­ường có chất dự trữ và rải rác còn có thể có các tế bào tiết, ống tiết hoặc túi tiết.

    – Ngoại bì: Ở nhiều cây, ngay dư­ới lông hút hoặc d­ưới lớp velamen, vỏ cấp một đư­ợc chuyển hóa thành một mô là ngoại bì. Ngoại bì có chức năng nh­ư là một mô che chở nên vách tế bào có thể hóa bần hoặc hóa gô ít nhiều để bảo vệ. Ngoại bì đôi khi cũng tạo thành đai Caspari như­ nội bì, có thể có phiến suberin và phiến này đôi lúc phát triển rất dày. Ngoại bì có khi chỉ có một lớp tế bào hoặc nhiều lớp tế bào. Về cấu tạo, ngoại bì cũng có thể là đổng nhất hoặc bên cạnh những tế bào có đai Caspari còn có một số tế bào vách bằng cellulose, những tế bào này đảm nhiệm sự trao đổi.

    -Nội bì là lớp tế bào trong cùng của phần vỏ cấp một. Nội bì có nguồn gốc phát sinh từ tầng sinh vỏ. bao gốm một hàng tế bào khá đều đặn. Trên mặt cắt ngang, trên các vách tế bào xuyên tâm và vách tiếp tuyến phía trong tạo thành đai gọi là cấp một hóa bần có dạng điểm, gọi là điểm Caspari. Ở lớp Hành, vách tế bào nội bì dày lên đáng kể, phần hóa bần tạo thành khung chữ U . Phần hóa bần trên hàng tế bào nội bì được gọi là đai Caspari. Xen kẽ giữa các tế bào có vách hóa bần có các tế bào vách mỏng bằng cellulose; các tế bào này đảm nhiệm sự trao đổi của trụ giữa và vỏ. Chức năng của nội bì là làm giảm bớt sự xâm nhập của nư­ớc vào trụ giữa

    Đối với các cây lớp Hành, vỏ cấp một sẽ tồn tại suốt trong đời sống của rễ. Đến một thời gian nào đó, trong vỏ lại xuất hiện mô cứng để tăng cư­ờng nhiệm vụ nâng đỡ.

    Chiếm vị trí trung tâm của rễ, gồm có trụ bì. hệ thống dẫn, tia ruột và mô mềm ruột.

    -Trụ bì: Gồm các tế bào có vách mỏng nằm xen kẽ với tế bào nội bì, có thể là một lớp hay nhiều lớp. Ở rễ các cây lớp Hành, trụ bì th­ường cấu tạo nhiều lớp và lúc trư­ởng thành thư­ờng hóa mô cứng ở các mức độ khác nhau.

    Hệ thông dẫn: Gồm các bó gỗ và bó libe nằm xen kẽ nhau.

    Bó libe cấp một làm thành từng dải nằm Ở phần xung quanh của trụ giữa ngay sát trụ bì, còn bó gỗ hình thành nên những chỗ lồi vào mô mềm ruột.

    -Ruột và tia ruột: Xen kẽ giữa các bó libe và bó gỗ có các tia ruột; trong cùng là mô mềm ruột, gồm các tế bào mô mềm giống với các tế bào mô mềm của yếu tố dẫn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lá Dứa Sử Dụng Để Chế Biến Thành Gia Vị, Màu Sắc Cho Món Ăn
  • Cây Lá Dứa (Dứa Thơm,nếp Thơm,cây Cơm Nếp)
  • 7 Tác Dụng Của Cây Trúc Đào Chữa Bách Bệnh, Số 4 Hiệu Quả Nhất
  • ✅ Trắc Nghiệm Bài 20: Cấu Tạo Trong Của Phiến Lá
  • Bài 19. Đặc Điểm Bên Ngoài Của Lá
  • Cấu Tạo Thân Của Cây Hoa Lan

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Về Một Loài Hoa Truyền Thống Của Dân Tộc Việt Nam (Hoa Mai )
  • Thuyết Minh Về Cây Hoa Mai Ngày Tết
  • Các Đặc Điểm Của Cây Hoa Mai Vàng
  • Viết Đoạn Văn Tả Cây Hoa Mai
  • Đặc Điểm Của Hoa Hướng Dương ” Dienhoahcm.com
  • Căn cứ vào cấu trúc, họ lan được chia làm 2 nhóm chính: Nhóm đa thân (Sympodial) và nhóm đơn thán (monopodial). Ngoài ra còn một nhóm trung gian giữa 2 nhóm trên nhưng gồm rất ít giống.

    Nhóm đơn thân

    Gồm các giống: Vanda, Phalaenopsis, Aerides, Rhynchostylis… Đây là nhóm gồm những cây chỉ tăng trưởng theo chiều cao làm cây dài ra mãi. Nhóm đơn thân chia làm hai nhóm phụ :

    – Nhóm Sarcanthinae: Như các giống Vanda, Aerides, Phalaenopsis, Renanthera, Angraceum, Aerangis,… Ở nhóm này là được xếp thành 2 hàng đối nhau, lá trên 1 hàng xen kẽ với lá của hàng kia. Ở một số giống như Phalaenopsis các đốt rất ngắn và các lá trở nên dày đặc. Ở một sô giống khác; các đốt tương đối xa nhau. Lá thường dài hơn rộng và xẻ nhiều dạng hay chia làm 3 thùy không cân đối ở đỉnh.

    – Nhóm Campylocen trinae : Trong khi lá thường dẹp hay phẳng thì ở vài loài lan như Papilionanthe teres và tất cả các cây của giống Luisia lá có dạng giống thân.

    Lan vanda thuộc nhóm lan đơn thân

    Nhóm trung gian

    Gồm các giống: Centropetatum, Phachypllum, Dichaea…

    Nhóm đa thân

    Phong lan Cattleya thuộc nhóm đa thân

    Gồm các giống: Cattleya, Oncidium, Dendrobium, Cymbidium, Epidendrum… Đây là nhóm gồm những cây tăng trưởng liên tục, mà có những chu kỳ nghỉ sau những mùa tăng trưởng. Nhóm này chia làm 2 nhánh phụ, căn cứ vào cách ra hoa :

    – Nhóm ra hoa phía trên : Đáng kể gồm các giống Dendrobium, Cymbidium. Oncidium, Maxillaria, Lycaste Phaius, Bulbophyllum.

    – Nhóm ra hoa ở đỉnh: Laelia, Cattleya (ngoại trừ 2 loài), Epidendrum (ngoại trừ 2 loài) đa số là của Pleurothallidinae và nhiều giống khác.

    Đối với nhóm này thì giả hành rất biến động, có nhiều hoa giả hành ở dạng thân cây. Các loài của giống Dendrobium thường cho các giả hành mới trên ngọn giả hành cũ gọi là cây Keiki (off-shoot). Một đợt tăng trưởng mới bắt đầu khi các mắt phát triển. Cách ra hoa cũng thay đổi, vài loài hoa chỉ hình thành trên các giả hành mới (Cattleya, laelia…) các loài khác hoa được hình thành trên cả giả hành cũ như Dendrobium, một số Epidendrum, Spathoglottis.

    Lan hoàng thảo – Dendrobium thuộc nhóm lan đa thân

    Giả hành (thân giả)

    Nhiều loại Lan sản sinh thân giả, dù không phải loại nào cũng thế. Những loại Lan nào sản sinh thân giả thì phát triển theo cách là những chồi mới phát triển từ những chồi trước đó hay từ những thân giỏ, tức là hằng năm thì có thân giả dọc theo thân rễ tiếp tục tăng thêm. Bằng cách này, cây tạo ra một chuỗi thân giả như một dây chuyền. Dây chuyền này có thể bị phân chia khi 2 hay 3 mầm mới bung ra từ thân giả sau cùng trong 1 năm. Đây là lý do cho thấy những khôi bự có thể hình thành qua nhiêu năm như thê nào.

    Có một sự biến động rất lớn về giả hành của lan từ giống này sang giống khác và ngay trong cùng một giống. Giả hành của lan chỉ xuất hiện trên các loài lan thuộc nhóm đa thân. Giả hành là một bộ phận rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của lan. Khác với thực vật có hoa khác, giả hành tuy là thân nhưng lại chứa diệp lục, đây là bộ phận dự trữ nhiều chất dinh dường rất cần thiết cho sự phát triển giả hành mới, sau khi cây lan đã trổ hoa và nghỉ ngơi. Giả hành cũng là cơ quan dự trữ nước, vì thế nếu có biến cố thiếu nước xảy ra thì các loài thuộc nhóm đa thân duy trì sự sống lâu hơn nhóm đơn thân.

    Thường thì giả hành có hình thoi đối với các loài thuộc giống Cattleya ví dụ như Cattleya labiata và các họ hàng của loài này. Các loài khác lại có hình trụ như Cattleya bicolor, Cattleya guttata. Có loại giả hành lại dẹp như Oncidium goldiana. Các giống khác lại có hình tháp như Cymbidium. Trong cả trăm loài khác nhau của Pleurothallidiae thì giả hành trong nhiều trường hợp bị thu bé lại đến độ khó nhận thấy, ở giống khổng lồ như Dendrobium và Epidendrum vừa có thân thật vừa có giả hành, ở loài Bulbophyllum minutissimum có giả hành rõ rệt nhưng chúng hiếm khi lớn hơn đầu đinh ghim, ngược lại giả hành của Grammatophyllum speciosum thì giả hành có thể có chiều dài lớn hơn 7,5m.

    Những thân giả lạ kỳ nhất là loại có thân giả rỗng Schomburgkia tibicinis và Caularthon bicomuỉum, 2 loại có kẽ hở ở đế của những thân giả rỗng. Khó biết chắc tại sao những loại này lại tiến hóa vì chúng không có chức năng như là nơi tồn trữ thức ăn khi chúng hoàn toàn trống rỗng. Thường bị một loại kiến hung hãn xâm chiếm nên những thân giả này có thể có 2 công dụng: cung cấp nơi ở cho côn trùng, rồi đến lượt côn trùng này lại hỗ trợ cho Lan và giữ cho chúng khỏi bị những vật ký sinh hay côn trùng phá hoại.

    Cattleya là loài lan có thân giả

    Thân lan:

    Thân lan chỉ có các loài đơn thân và một số loài của giống Dendrobium và Epidendrum vừa có giả hành, vừa có thân. Các loài lan có thân thường không có bộ phân dự trữ nước và các chất dinh dường nên ta phải bón phân cho chúng làm nhiều lần và nên tưới nước đều đặn.

    Thân của lan cũng thường biến động rất lớn từ 10 -20 cm với các loài Ascocentrum miniatum, Aecides midtiflora và có thể 3 – 4 m như các loài Papilionanthe teres. Arachnis hoặc khổng lồ như Acampe, Vanilla…

    Thân thường mang rễ và lá. Ở nhóm đơn thân rễ và lá thường mọc theo 2 chiều thẳng góc nhau. Phát hoa cũng xuất hiện trên thân từ các nách lá, phát hoa thường mọc song song với lá thẳng góc với rễ.

    Lan hoàng thảo là giống vừa có giả hành vừa có thân

    Lá lan:

    Lá của họ lan thường có biến động cực đoan, từ những loài có lá như là của thân cây mập, ví dụ Cattleya, phalaenopsis… đến những loài có lá thật mỏng như Coelogyne, Oncidium goldiana. Có những loài lá có bản rộng giống như lá của họ Palmae như Phaius, spathoglottis, bìa lá có thể nguyên hoặc răng của Cattleyopsis, Broughtonia, một số loài của Oncidium. Lá có thể mọc đối xứng qua gân chính hay không. Đuôi lá có thể tròn, nhọn hay khuyết. Tuy nhiên, điểm chung nhất ở các loài lan là lá thường dài hơn, rộng gắn vào thân hoặc giả hành bởi một cuống lá dài hay ngắn.

    Lá chứa diệp lục tố, làm cho cây quang hợp ánh nắng thành năng lượng. Một số Địa lan sống rất thọ mà vẫn không có lá, chỉ tạo ra tán lá trong một thời gian ngắn trong mùa phát triển. Một ít Lan, như loại Rhizantheỉìa là loại mọc dưới mặt đất lại không có phần nào màu lục, lệ thuộc hoàn toàn vào nâm li ti mà chúng lạo thành mối liên hệ cộng sinh. Những chất dinh dưỡng mà Lan cần đều do nấm cung cấp.

    Một vài loại Lan lại có lông ở cả 2 bên tán lá. Mục đích gì thì chưa ai hiểu rõ, nhưng có thể là chúng bảo vệ tránh côn trùng làm hại hay là một thứ nước bảo vệ nằm trong tán lá, có thể rất bất lợi vào Loại Dendrobium senile có những đêm giá buốt.

    Lá lan vừa có khả năng quang hợp vừa có khả năng hấp thụ nước và chất dinh dưỡng

    Căn hành (thân – rễ):

    Căn hành chỉ gặp ở lan đa thân, trừ một số ít bị thu nhỏ rất nhiều ở lan trung gian (pseudomonopodial). Căn hành thật sự là thân cấp 1 và từ đó có những thân cấp 2, chúng có thể dài ra và mang lá gọi là thân, hoặc tương đối bị thu ngắn và dày ra thành giả hành có nhiều dạng và kích thước khác nhau. Dạng căn hành biến động từ giống này sang giống khác và loài này sang loài khác, ở nhiều giống, đa số Masdevallia, nhiều Dendrobium, Oncidium, Brassia thì căn hành rút ngắn đến độ khó nhận thấy. Đa số các Cattleya, Lealia căn hành rõ rệt hơn. Còn các giống Bullophyllum, Coelogyne căn hành rất dài.

    Căn hành là nơi cấu tạo các cơ quan dinh dưỡng mới, trên căn hành có nhiều mắt sông, chết hoặc hưu miên. Chính tại nơi giả hành tiếp xúc với căn hành có từ 1 đến 2 mắt. Mắt là nơi hình thành cũng mang rất nhiều rễ để nuôi sống cây lan. Do đó căn hành là bộ phận quan trọng nhất cho việc duy trì và phát triển số lượng lan theo phương pháp chiết nhánh thông thường.

    Rễ lan:

    Ở lan đa thân, rễ thường được hình thành từ căn hành. Rễ đa số loài lan đều có hình, trụ, có nhánh bậc 1, bậc 2, bậc 3 hay không, và thường là rất dài. Ở đa số thành viên của Cypripedilinae và nhiều loài lan đất khác rễ còn mang lông rễ. Ở các loài đơn thân thì rễ mọc thẳng từ thân và thường xen kẽ với lá.

    Rễ của Lan rất độc đáo trong thế giới loài cây. Rễ chúng dày và phần lớn lại trắng, nhưng lại không sản sinh tràn lan như ồ các cây khác. Rễ gồm một nhân nhỏ bên trong, một lớp bọc bên ngoài hút nước do những tế bào tạo thành lớp gọi là mạc (velamen) , mà các tế bào khi khô chỉ chứa không khí thôi. Lớp này, hút nước xuyên qua bề mặt của nó, gọi là màng bọc rễ hút nước màu trắng, và nó phát triển phía sau đầu chồi non. Mạc này chứa những sợi tấm mộc tổ cứng, mạc ấy, có thể hấp thụ hơi nước của không khí, cũng như tích trữ nước mưa và sương đọng.

    Đầu rễ của Lan rất dễ bị tổn thương và rất dễ gãy khi chúng ở ngoài chậu. Hầu hết rễ Lan thường phải nằm yên trong chậu, nhưng, theo bản chât thì hướng vào không khí nên thường mọc’tràn qua miệng chậu và tiếp tục phát triển thì có thể lơ lửng hay bám vào bất cứ bê mặt nào chúng chạm đến được.

    Rễ không được kết cấu thường xuyên mà theo từng năm, nhú ra từ gốc một khoảng thời gian sau khi mọc chồi mới. Tương tự như thế, lá rụng sau 1 hay vài năm, do đó rễ chết tự nhiên và được thay thế bằng rễ từ chồi mới.

    Rễ cực kỳ quan trọng đối với Lan. Nếu rễ bị chết do bị tưới nước quá nhiều thì phải chờ cho đến khi cây phát triển chồi mới thì mới có thể thay thế, như vậy là cây có thể tồn tại nhiều tháng mà không cần rễ và không thể hấp thu chất ẩm. Nếu có xảy ra như thế thì những thân giả sẽ héo và tán lá sẽ trở nên tê liệt cho đến khi rễ mới có khả năng bù lại nước đã bị mất; xịt nước đều đặn sẽ giúp làm giảm bớt mất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Cấu Tạo Của Hoa Lan
  • Chuột Không Dây Nào Tốt Nhất, Giá Rẻ (Mới 2022)
  • “bắt Bệnh” Chuột Không Dây Và Cách “chữa Trị” Hiệu Quả
  • 4 Chuột Không Dây Genius Dùng Pin Sạc Tốt Nhất
  • Chuột Không Dây Genius Nx 7010
  • Cây Một Lá Mầm Và Hai Lá Mầm

    --- Bài mới hơn ---

  • Hình Thái Giải Phẫu Học Thực Vật
  • Sinh Học Thực Vật, Lá Cây, Thân Cây, Rễ Cây
  • Ii/ Tự Luận : Câu 1. Nêu Đặc Điểm Thích Nghi Với Các Cách Phát Tán Của Quả Và Hạt. Câu 2. So Sánh Hạt Một Lá Mầm Và Hạt Hai Lá Mầm. Câu 3. Cấu Tạo Của Hoa, Ch
  • Cấu Tạo Iqos. Bên Trong Điếu Thuốc Iqos Có Gì? (Tin Bản Quyền) Thành Lâm Heat Not Burn
  • Thuốc Lá Điện Tử Iqos Nhật Bản
  • Cây một lá mầm là một nhóm các thực vật có hoa chứa một lá mầm trong phôi, đây là loài thực vật phổ biến nhất, chiếm phần lớn trên Trái Đất. Hiện nay, người ta ước tính có khoảng 50.000-60.000 loài trong nhóm thực vật này.

    Đặc điểm về hình thái:

    • Hoa: số cánh hoa là bội số của 3, thông thường là 3 hoặc 6 cánh
    • Phấn hoa: phấn hoa có một lỗ hay rãnh cắt
    • Hạt: Hạt chứa phôi có một lá mầm
    • Thân: Thường là dạng thân cỏ, thân có mạch phân tán
    • Lá: các gân lá song song

    Đặc điểm về hình thái:

    • So sánh cấu tạo thân cây 1 lá mầm và 2 lá mầm? – Kiểu thân của cây hai lá mầm thường là thân gỗ, thân cột, thân leo còn cây một lá mầm thì kiểu thân phổ biến nhất là thân cỏ
    • Cây phượng là cây mấy lá mầm? – Theo quan sát bằng mắt thường thì chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng rễ của cây phượng là rễ cọc, lá có gân hình mạng, hoa có từ 4 đến 5 cánh. Như vậy, cây phượng là cây hai lá mầm
    • Giữa cây một lá mầm và hai lá mầm cây lúa thuộc nhóm nào? – Thân cây lúa là thân cỏ, gân lá hình song song và là một loại cây có rễ chùm. Như vậy,cây lúa là cây một lá mầm
    • Cây bưởi là cây mấy lá mầm? – Các dấu hiệu để nhận biết cây một lá mầm và hai lá mầm ở cây bưởi là hoa (hoa bưởi có 5 cánh), lá bưởi có gân hình mạng, rễ cọc. Như vậy, cây bưởi là cây hai lá mầm
    • Cây ổi có mấy lá mầm? – Tương tự như cây phượng và cây bưởi, ổi cũng là một loại cây có hai lá mầm
    • Cho ví dụ về cây một lá mầm và hai lá mầm? – Từ việc trả lời những câu hỏi trên chúng ta có thể nhận biết và đưa ra các ví dụ về cây một lá mầm và cây hai lá mầm như:
    • Ví dụ về cây hai lá mầm: Cây ổi, cây cam, cây chanh, cây mít, cây sầu riêng,…
    • Những cây có một lá mầm: Cây họ Lan, cây tre, nứa, trúc, cây lúa, ngô,…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bước Đầu Nghiên Cứu Hình Thái Và Cấu Tạo Giải Phẫu Của Loài Thuẫn Râu (Scutellaria Barbata D Don) Ở Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên
  • Bước Đầu Nghiên Cứu Hình Thái Và Cấu Tạo Giải Phẫu Của Loài Thuẫn Râu (Scutellaria Barbata D. Don) Ở Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên
  • Cấu Tạo Cấp 1 Của Rễ Cây Lớp Hành
  • Lá Dứa Sử Dụng Để Chế Biến Thành Gia Vị, Màu Sắc Cho Món Ăn
  • Cây Lá Dứa (Dứa Thơm,nếp Thơm,cây Cơm Nếp)
  • Sinh Học Thực Vật, Lá Cây, Thân Cây, Rễ Cây

    --- Bài mới hơn ---

  • Ii/ Tự Luận : Câu 1. Nêu Đặc Điểm Thích Nghi Với Các Cách Phát Tán Của Quả Và Hạt. Câu 2. So Sánh Hạt Một Lá Mầm Và Hạt Hai Lá Mầm. Câu 3. Cấu Tạo Của Hoa, Ch
  • Cấu Tạo Iqos. Bên Trong Điếu Thuốc Iqos Có Gì? (Tin Bản Quyền) Thành Lâm Heat Not Burn
  • Thuốc Lá Điện Tử Iqos Nhật Bản
  • Đầu Thuốc Lá Iqos Và Điếu Thuốc Heets Và 1 Số Vấn Đề ?
  • Họ Cây Ô Rô Ho Cay O Ro Ppt
  • BÁO CÁO TIỂU LUẬN MÔN SINH HỌC ĐẠI CƯƠNG

    NHÓM 5

    LỚP: 04DHLTP2

    SINH HỌC THỰC VẬT, LÁ CÂY, THÂN CÂY, RỄ CÂY

    GVHD: CÔ

    TUYẾT

    Thời gian thuyết

    NGUYỄN THỊ

    NHUNG

    trình: Tuần 6

    LỜI MỞ ĐẦU

    Việt Nam được coi là một trong những nước

    thuộc vùng Đông nam Á giàu về đa dạng sinh học thực vật. Do sự khác biệt lớn về khí

    hậu từ vùng gần Xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã

    tạo nên sự đa dạng về thiên nhiên và cũng do đó mà Việt Nam có tính đa dạng sinh học

    cao. Một dải rộng các thảm thực vật bao gồm nhiều kiểu rừng phong phú đã được hình

    thành ở các độ cao khác nhau như các rừng thông chiếm ưu thế ở vùng ôn đới và cận

    nhiệt đới, rừng hỗn loại lá kim và lá rộng, rừng khô cây họ Dầu ở các tỉnh vùng cao, rừng

    họ Dầu địa hình thấp rừng ngập mặn cây Đước chiếm ưu thế ở ven biển châu thô sông

    Cửu Long và sông Hồng rừng Tràm ở đồng bằng Nam bộ và rừng hỗn loại tre nứa ở

    nhiều nơi. Trong đó, hơn 350.000 loài thực vật, gồm thực vật có hạt, rêu, dương xỉ và cận

    dương xỉ (fern ally) được thống kê hiện đang tồn tại. Năm 2004, 287.655 loài được xác

    định, trong số đó 258.650 là loài có hoa, 16.000 loài rêu, 11.000 loài dương xỉ và 8.000

    loài tảo xanh. Quen thuộc nhất là các loài thực vật đa bào sống trên mặt đất, được gọi

    là thực vật có phôi (Embryophyta). Chúng bao gồm các loài thực vật có mạch, là các loại

    thực vật với các hệ thống đầy đủ của lá, thân và rễ. Điển hình như các loại cây lương

    thực, cây thuốc và gỗ quý.

    Thực tế, ngày nay nguồn thực vật ở nước ta rơi vào trạng thái suy thoái do: tai nạn

    cháy rừng, khai thác gỗ quá mức, không có chọn lọc, sự phát triển kinh tế kéo theo sự suy

    giảm hệ sinh học thực vật: Đó là tình trạng hiện nay của một số loài cây gỗ quý như gõ

    đỏ (Afzelia xylocarpa), gụ mật (Sindora siamensis), nhiều loài cây làm thuốc như hoàng

    liên chân gà (Coptis chinensis), ba kích (Morinda officinalis)… thậm chí có nhiều loài đã

    trở nên rất hiếm hay có nguy cơ bị tiêu diệt như thông nước hay thuỷ tùng

    (Glyptostrobus pensilis), hoàng đàn (Cupssus torulosa), bách xanh (Calocedrus

    macrolepis), cẩm lai (Dalbergia oliveri), pơmu (Fokiena hodginsii),…

    Vì vậy, cần đẩy mạnh và kiên quyết hơn trong các biện pháp bảo vệ, có kế hoạch

    khai thác hợp lý và chọn lọc, trồng cây gây rừng, duy trì các loại giống cây quý hiếm, có

    giá trị cuộc sống,… nhằm mục đính phòng tránh thiên tai, phát triển nông nghiệp và duy

    trì phát triển đa dạng sinh học thực vật.

    SINH HỌC THỰC VẬT, LÁ CÂY, THÂN CÂY, RỄ CÂY

    NỘI DUNG

    A- GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SINH HỌC THỰC VẬT:

    1- KHÁI NIỆM VỀ THỰC VẬT:

    – Thực vật: bao gồm những sinh vật có đặc điểm chung như tự tổng hợp

    được chất hữu cơ từ những hợp chất vô cơ đơn giản và xây dựng thành

    những phần tử phức tạp nhờ quá trình quang hợp, diễn ra trong lục

    lạp của thực vật., phần lớn không có khả năng di chuyển, phản ứng

    chậm với các kích thích từ bên ngoài. Có khả năng tạo cho mình chất

    dinh dưỡng Như vậy thực vật chủ yếu là các sinh vật tự dưỡng.

    Phân loại Thực vật: Thực vật có hoa là những thực vật mà cơ quan sinh

    sản là hoa, quả, hạt. Ví dụ như cây lúa, ngô, khoai, bầu, bí, hoa hồng,

    cây gỗ lim…Thực vật không có hoa có cơ quan sinh sản không phải là

    hoa, quả. Ví dụ như cây rêu, cây dương xỉ, cây thông…Giới Thực vật

    được chia thành nhiều ngành có những đặc điểm khác nhau: Ngành

    Rêu, Ngành Dương xỉ, Ngành Hạt trần, Ngành Hạt kín.

    2- VAI TRÒ CỦA THỰC VẬT TRONG CUỘC SỐNG:

    – Cây mọc ven đường cho bóng râm và làm đẹp cho thành phố, làng quê.

    Người ta đã tính rằng cứ một cây xanh trồng trong thành phố bằng 5

    máy điều hòa chạy liên tục 20 giờ 1 ngày. Cây còn tác dụng cản bớt ánh

    sáng và cản sức gió nên có vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí

    hậu, tăng lượng mưa của khu vực.

    Trong quá trình quang hợp cây lấy vào khí cacbonic và nhả ra khí ôxi

    cung cấp cho quá trình hô hấp của con người và động vật. Người ta ước

    tính rằng cứ 1 hécta cây trồng cung cấp đủ ôxi cho 30 người sống khỏe

    mạnh trong 1 năm. Những nơi có nhiều cây cối thường có không khí

    trong lành, cây còn có tác dụng ngăn bụi, diệt một số vi khuẩn, giảm ô

    nhiễm môi trường. Thực vật nhờ có tán cây cản bớt sức chảy của dòng

    nước do mưa lớn gây ra, rễ cây giữ đất nên góp phần quan trọng chống

    xói mòn, hạn chế lũ lụt, giữ nguồn nước ngầm, tránh hạn hán.

    – Thực vật là nguồn lương thực, thực phẩm chủ yếu của loài người: Cây

    lương thực, Cây làm thức ăn, Cây làm gia vị, Cây ăn quả cung cấp

    đường, chất khoáng, vitamin.

    Thực vật là nguyên liệu để sản xuất giấy, đồ gỗ, nhựa, dầu thực vật, tinh

    dầu thực vật, đồ uống, thuốc chữa bệnh và các dụng cụ phục vụ cho đời

    sống như thảm, túi xách, chổi …

    B- CƠ QUAN DINH DƯỠNG CỦA THỰC VẬT:

    I. RỄ CÂY:

    1- KHÁI NIỆM, CHỨC NĂNG VÀ HÌNH THÁI CỦA RỄ CÂY:

     Khái niệm & chức năng: Rễ cây là một cơ quan sinh dưỡng

    của thực vật, thực hiện các chức năng thực thụ như bám cây

    vào đất và bản thể, rễ cây hút nước và các chất muối vô cơ

    hòa tan. Ngoài ra rễ cây còn là cơ quan dự trữ các chất dinh

    dưỡng, là cơ quan sinh sản sinh dưỡng của thực vật. Rễ cây

    không bao giờ mang lá, không có lục lạp, trừ rễ khí sinh ở họ

    Lan. Ở thực vật có mạch, rễ là một cơ quan của thực vật

    thông thường nằm dưới mặt đất (khi so sánh với thân). Tuy

    nhiên, nó vẫn có ngoại lệ, chẳng hạn ở một số loài có rễ

    khí (nghĩa là nó mọc trên mặt đất) hoặc thông khí (nghĩa là

    mọc trên mặt đất hoặc trên mặt nước). Rễ cũng đóng vai trò

    quan trọng trong tổng hợp cytokinin, một dạng hoóc

    môn tăng trưởng của thực vật, một trong các nhu cầu để phát

    triển các chồi và cành cây.

     Hình thái: Rễ có

    khả năng phân

    nhánh cho ra các

    rễ bên nên tuy rễ

    có thể tích nhỏ

    nhưng diện tích

    bề mặt của rễ rất

    lớn giúp rễ tăng

    cường diện tích

    tiếp xúc với đất

    và dễ dàng hút nước. Rễ thường có hình trụ hơi nhọn đầu,

    phát triển rất nhanh chóng và mỗi ngày mất đi khoảng 10.000

    tế bào do chúng đi xuyên qua đất và mọc sâu xuống bên dưới.

    Quan sát dọc một rễ từ dưới lên trên, ta thấy rễ có các phần

    sau:

     Vùng chóp rễ: Là một bao trắng nằm ở đầu rễ, có

    nhiệm vụ bảo vệ đầu rễ lúc rễ chen đất mọc sâu xuống.

    Chóp rễ do nhiều lớp tế bào, lớp ngoài tróc đi và mất

    trong lúc nhiều lớp bên trong được thành lập. Chóp rễ

    cũng tạo ra dịch nhầy (mucigel), là chất nhựa bảo vệ

    đầu rễ không bị khô giúp cho rễ đi xuyên qua đất dễ

    dàng hơn, nó cũng còn giúp cả việc hấp thu nước và

    chất dinh dưỡng trong đất.

     Vùng phân sinh: Nằm ngay trên chóp rễ, chính ở vùng

    nầy, các tế bào của mô phân sinh sẽ phân cắt để cho

    nhiều tế bào mới.

     Vùng tăng trưởng: Vùng nầy dài vài mm và láng, đó là

    vùng mà tế bào lớn lên, bắt đầu chuyên hóa và làm cho

    rễ dài ra.

     Vùng chuyển hóa: Trong vùng nầy các tế bào trưởng

    thành và biệt hóa, vùng nầy còn là vùng lông hút vì

    đây là nơi có nhiều lông rễ nhỏ nhô ra từ các tế bào

    căn bì. Các lông này được sinh ra ở vùng bên dưới,

    lông dài ra khi đi dần lên trên, và cuối cùng lông sẽ

    rụng. Tế bào lông hút là tế bào sống có tế bào chất,

    nhân ở đầu lông và một thủy thể to. Lông hút phong

    phú và duy nhứt ở thực vật, đảm nhận nhiệm vụ hấp

    thu nước và muối khoáng cho cây, các lông hút còn có

    nhiệm vụ đồng hóa các chất mà chúng hấp thu; ngoài

    ra nhờ có lông hút mà diện tích bề mặt hấp thu trên rễ

    được gia tăng rất lớn. Chót của lông hút có chất nhầy

    giúp cho lông hút dính chặt vào trong đất. Chiều dài

    của vùng lông hút không thay đổi, do các lông hút mới

    thành lập luôn nằmbên dưới,càng đi lên bên trên, lông

    rễ càng dài ra và saucùng sẽ rụng đi. Người ta ước tính

    ở rễ lúa có khoảng 14 tỉ lông hút với tổng cộng diện

    tích bề mặt hơn 400m2. Vùng của tế bào trưởng thành

    ở rễ cũng là nơi mô sơ cấp như căn bì, nhu mô vỏ phát

    triển.

    2- PHÂN LOẠI:

     Dựa vào quá trình sinh trưởng vòng đời của Thực vật:

     Rễ sơ sinh: Là rễ của thực vật phát triển đầu tiên khi

    hạt cây (hoặc cơ quan sinh sản) nảy mầm. Sau đó thì rễ

    này có thể là tiêu biến đi hoặc phát triển tiếp gắn bó

    với vòng đời sinh trưởng của thực vật.

     Rễ thực thụ: Là những rễ cây sinh ra trong quá trình

    phát triển của cây, chúng có thể là mới hoàn toàn hoặc

    phát triển từ rễ sơ sinh.

     Dựa vào vị trí của rễ:

     Rễ chính: Chính là rễ sơ sinh phát triển thành. Việc

    tồn tại loại rễ này là tùy từng loài thực vật.

     Rễ phụ: Ở nhiều loài thực vật, sau khi rễ sơ sinh hoàn

    thành nhiệm vụ phát triển của giai đoạn nảy mầm thì

    sẽ tiêu biến đi, và thay vào đó là phát triển từ cổ rễ ra

    các rễ mới đảm bảo quá trình phát triển của cây.

     Rễ bên: Là các rễ phát triển trong quá trình phát triển

    của cây khi chúng được mọc ra, phân nhánh từ rễ

    chính hoặc rễ phụ mà không phải mọc ra từ cổ rễ của

    cây.

     Theo số lượng, cấu tạo từ các rễ của cây:

     Hệ rễ cọc: Là cấu tạo của bộ rễ mà trong đó chỉ có tồn

    tại hai loại rễ là rễ chính và rễ con. Ví dụ: cải, đậu

    xanh, mít, ổi,…(cây 2 lá mầm)

     Hệ rễ chùm: Là bộ rễ có cấu tạo chỉ từ các rễ phụ và rễ

    con, không có rễ chính. Ví dụ: lúa, dừa, cau, mía,…

    (cây 1 lá mâầm)

     Hệ rễ hỗn hợp: Bộ rễ được cấu tạo có cả 3 loại rễ: rễ

    chính, rễ phụ và rễ bên. Ví dụ: cây cổ sống lâu năm:

    đa, đề, si,…

     Biến dạng của rễ: Do phát triển ở những môi trường khác

    nhau, rễ có thể thay đổi hình dạng và cấu tạo để thực hiện

    những chức năng đặc biệt. Đó là các rễ biến dạng, gồm các

    loại sau đây:

    – Rễ củ: Ở một số cây, rễ phồng

    to và nạc, chứa chất dự trữ tạo

    thành rễ củ. Rễ củ là dạng biến

    đổi của rễ và có sự tham gia của

    trụ trên và dưới lá mầm. Rễ củ có

    thể phát triển từ rễ chính, như củ

    cải, cà rốt (trong trường hợp này trên củ có mang các rễ bên,

    gồm có các phần đầu mang các lá và có rễ chính thức), hoặc

    có thể phát triển từ rễ bên, như sắn, khoai lang…

    – Rễ chống: thường gặp ở các cây

    ngập mặn ven biển như đước

    (Rhizôphra), dà (Ceriops)…Đó là

    các rễ phụ phát triển từ thân, cành

    mọc tỏa ra thành hình cung rồi cắm

    xuống đất làm thành một hệ thống chống đỡ cho cây chịu

    đựng được tác động của sóng, gió, thủy triều.

    – Rễ thở: Cũng thường gặp ở các cây ngập mặn hoặc các cây

    ở vùng đầm lầy, những nơi rễ khó hấp thụ không khí. Ở các

    cây này có những rễ chuyên hóa,

    ngoi lên khỏi mặt đất trông như

    những cái cọc hay mũi chông cắm

    tua tủa xung quanh gốc cây. Trên rễ

    có nhiều lỗ vỏ để lấy oxy cho các

    phần rễ ở dưới đất lầy. Ví dụ: rễ thở cây bụt mọc (Taxodium

    distichum), cây bần (Someratia), cây vẹt (Bruguiera)…

    – Rễ cột: là những rễ phụ mọc ra từ cành đâm thẳng xuống

    đất, to dần lên và phân nhánh, cắm chặt vào trong đất. Ví dụ:

    rễ cột cây đa.

    – Rễ khí: là những rễ phụ mọc ra từ thân, rơi thỏng xuống, lơ

    lửng trong không khí. Những rễ này thường có màu lục do tế

    bào chứa nhiều chất diệp lục. Ví dụ: rễ của nhiều loài phong

    lan.

    – Rễ bám: thường gặp ở một số cây leo, chúng giúp cây bám

    chắc vào tường, vào giàn. Ví dụ: rễ trầu không, rễ cây sộp

    (Ficus pumila).

    – Rễ mút: Là rễ của các cây ký sinh và nữa ký sinh, hút thức

    ăn từ chất hữu cơ có sẵn trong cây chủ. Các rễ này đâm sâu

    vào mô mềm và các bó mạnh cây chủ, hút lấy nước và chất

    hữu cơ cần thiết. Ví dụ: rễ tơ hồng, rễ tầm gửi.

    3- CẤU TẠO GIẢI PHẨU:

     Cấu tạo sơ cấp: rễ cây 1 lá mầm và cây 2 lá mầm

     Rễ cây 1 lá mầm:

     Rễ cây 2 lá mầm:

    Khi cắt ngang rễ cây, qua vùng chuyển hóa,

    thấy gồm 2 phần rõ rệt: vùng vỏ chiếm 2/3 so

    với vùng trung trụ.

    Trong đó:

     Phần vỏ gồm có:

     Tầng lông hút: gồm một lớp tế bào

    sống, có một số tế bào mọc dài thành

    lông hút.

     Ngoại bì: nằm sát tầng lông hút, gồm

    1 lớp tế bào.

     Nhu mô vỏ: dày, gồm nhiều lớp tế

    bào sống, màng cellulose mỏng, chứa

    nhiều tinh bột.

     Nội bì: Cấu tạo bởi một lớp tế bào

    hình chữ nhật xếp rất khít nhau, đặc

    trưng bởi cấu tạo của khung caspary

    (khung caspary được hình thành do

    sự hóa bần của các vách xuyên tâm)

     Trụ giữa gồm có:

     Trụ bì: Gồm 1 hoặc 2 lớp tế bào sống

    xếp xen kẻ kế với lớp nội bì.

     Bó mạch: Gồm bó gỗ và bó Libe xếp

    xen kẻ nhau trên một vòng tròn, số

    lượng bó mạch không quá 8 bó, gồm

    có: Bó gỗ: gồm toàn mạch gỗ, không

    có nhu mô gỗ, mạch gỗ phân hóa

    hướng tâm. Bó Libe: gồm mạch cây

    và nhu mô Libe.

     Tia ruột: nằm giữa bó Libe và bó gỗ

     Nhu mô ruột: ít, có vai trò dự trữ.

     So sánh rễ cây 2 lá mầm sơ cấp và rễ cây 1 lá mầm:

    Rễ cây 1 lá mầm

    Ngoại bì

    Nội bì

    Nhiều lớp tế bào có màng hóa bần

    Rễ cây 2 lá mầm sơ cấp

    Gồm 1 lớp tế bào, nằm sát tầng

    Sự hóa bần không chỉ ở vách

    lông hút

    Cấu tạo bởi 1 lớp tế bào hình

    xuyên tâm mà cả ở vách tiếp

    chữ nhật, xếp rất khít nhau, đặc

    tuyến, nên khi cắt ngang có khung

    Bó mạch

    Nhu mô ruột

    hình chữ U, gọi là khung Sube

    Số lượng trên 8 bó

    Có nhiều mạch hậu mộc to, đôi

    khi có mạch hậu Libe ( như ở

    chuối ), tế bào nhu mô ruột ở rễ

    già thường có tẩm chất gỗ

    Không có cấu tạo thứ cấp

    trưng cấu tạo khung Caspary

    Không quá 8 bó

    Ít

    Có cấu tạo thứ cấp

     Cấu tạo thứ cấp:

     Chỉ có ở rễ cây ngành hạt trần và lớp 2 lá mầm ở

    ngành hạt kín

     Do sự hoạt động của mô phân sinh thứ cấp gồm: tầng

    sinh bần và tượng tần Libe gỗ

     Tầng sinh bần: Tầng sinh bần có nguồn gốc từ

    những tế bào ngoài cùng của vỏ trụ; do sự sinh

    trưởng thứ cấp, trụ giữa của rễ phát triển mạnh, chu

    bì lại được tạo thành từ vỏ trụ cho nên phần vỏ sơ

    cấp và nội bì đều bị bong đi. Có vị trí không cố

    định, hoạt động tạo ra bần và lục bì.

    trong ): Thường xuất hiện rất sớm trong rễ cây, sớm

    hơn cả tầng sinh bần. Nằm ngoài bó gỗ và trong

    lớp Libe, hoạt động cho ra bên ngoài là Libe 2, bên

    trong là gỗ 2, đoạn tượng tầng trên đỉnh bó gỗ sẽ

    cho tia ruột. Bó gỗ 2 phân hóa li tâm, Libe 2 phân

    hóa hướng tâm. Tượng tầng Libe gỗ càng hoạt

    động thì bó Libe 1 và bó gỗ 1 càng bị đẩy xa nhau.

    Bó libe 1 dần dần tiêu biến đi, vai trò dẫn nhựa

    luyện sẽ do Libe 2 đảm nhiệm. Vị trí cố định, hoạt

    động sinh Libe 2 ngoài, gỗ 2 trong.

    4- CHIỀU DÀI CỦA RỄ CÂY:

    – Miền sinh trưởng hay còn gọi là miền phân sinh, là nơi làm cho

    II.

    rễ dài ra. Do được cấu tạo từ những tế bào phân chia mãnh liệt.

    THÂN CÂY:

    1- KHÁI NIỆM, CHỨC NĂNG VÀ HÌNH THÁI CỦA THÂN CÂY:

    – Là bộ phận của cây nối liền giữa lá và rễ

    – Chức năng: Thân là cơ quan sinh dưỡng của cây, có chức năng

    vận chuyển các chất nhựa nguyên và nhựa luyện trong cây, tăng

    cường bề mặt đồng hóa, nâng đỡ tán lá. Ngoài ra, còn làm nhiệm

    vụ quang hợp và sinh sản, sinh dưỡng.

    2- PHÂN LOẠI:

    Dựa vào hình thái, phân loại thân cây như sau:

    a- Các bộ phận

    của thân:

     Thân

    b-

    c-

    d-

    e-

    3- CẤU TẠO GIẢI PHẨU:

    Thân và cành có cấu tạo giống nhau, đều đối xứng qua 1 trục. Bao

    gồm:

     Cấu tạo sơ cấp: ( Thân cây hạt trần, thân cây 2 lá mầm,

    thân cây 1 lá mầm )

    a- Thân cây hạt trần; Thân cây 2 lá mầm:

    + Vỏ mỏng:

     Biểu bì:

    Thường gồm 1

    lớp tế bào

    sống, không

    chứa lục lạp,

    có ít khí

    khổng, mặt

    ngoài thường

    được phủ một lớp Cutin, hoặc có lông hoặc gai.

     Hậu mô: Dưới biểu bì, có lớp tế bào sống có vách

    dày lên không đều, làm thành một vòng liên tục

    hoặc tập trung ở các khía.

     Nhu mô vỏ: Nằm phía trong hậu mô, gồm vài lớp

    tế bào sống, chứa lục lạp ở thân non, cành non.

     Tầng sinh bột: Tương đương với nội bì ở rễ cây.

    Cấu tạo bởi 1 lớp tế bào sống chứa nhiều tinh bột.

    + Trụ giữa dày:

     Trụ bì: Gồm 1 hoặc 1 số lớp tế bào, xếp xen kẽ với

    tầng sinh bột.

     Bó mạch hở: Bó gỗ và bó Libe xếp chồng chất;

    xếp chồng chất kép ( họ khoai lang, bầu bí…); xếp

    thành 1 vòng hoặc 2 vòng ( bí ngô ); Bó gỗ phân

    hóa li tâm.

     Nhu mô ruột: Rất nhiều, chứa chất dự trữ bên

    trong, có mô tiết như tế bào tiết, ống tiết, ống nhựa

    b- Thân cây 1 lá mầm:

    Không phân biệt vỏ và trụ giữa. Chia làm 3 loại thân:

    thân đặc; thân rạ; thân ngầm

    + THÂN CÂY MỘT LÁ MẦM ( THÂN ĐẶC ):

     Biểu bì: gồm 1 lớp tế bào sống, có ít khí khổng. Màng

    ngoài của biểu bì có thể nhiễm Sillic, cutin hay lớp

    sáp.

     Cương mô: Ngay dưới biểu bì, làm thành 1 vòng

    ( mía, …) hay bao quanh bó mạch.

     Nhu mô: Các lớp nhu mô phía ngoài có chứa lục lạp;

    nhu mô

    phía trong

    có chứa

    chất dự

    trữ.

     Bó mạch:

    Kín, gồm

    bó gỗ và

    bó Libe

    xếp chồng chất, Libe ngoài, gỗ trong; Libe phân hóa

    hướng tâm, gỗ phân hóa li tâm.

     Các bó mạch xếp thành nhiều vòng: Các vòng ngoài

    bó mạch nhỏ, nhiều, vòng cương mô dày, càng vào tâm

    số lượng bó mạch ít và to, vòng cương mô mỏng.

    + THÂN CÂY 1 LÁ MẦM ( THÂN RẠ ):

     Biểu bì: Giống lớp biểu bì Thân đặc

     Cương mô: Ngay dưới biểu bì, làm thành 1 vòng rất

    phát triển hoặc

    bao quanh các

    bó mạch

     Nhu mô: Xen

    giữa vòng

    cương mô,

    chứa lục lạp,

    làm cho thân

    non có màu

    xanh

     Bó mạch: Xếp thành 2 vòng, vòng ngoài gồm những

    bó mạch nhỏ xếp trong lớp cương mô, vòng trong gồm

    các bó lớn hơn nằm sâu trong thân.

    + THÂN CÂY 1 LÁ MẦM ( THÂN NGẦM ):

    + Vỏ dày:

     Biểu bì: Gồm 1 lớp tế bào sống, khi thân già thì lớp tế

    bào này ngấm chất bần.

     Cương mô: Ở sát biểu bì và quanh bó mạch

     Nhu mô vỏ: Dày, gồm nhiều lớp tế bào sống.

     Nội bì: Là lớp tế bào sống có khung Sube.

    + Trụ giữa nhỏ:

     Trụ bì: Gồm vài lớp tế bào sống xếp xen kẽ với lớp

    nội bì

    ð

    xếp lộn

    xộn.

     Nhu mô ruột: ít

    SO SÁNH THÂN CÂY 2 LÁ MẦM & 1 LÁ MẦM ( THÂN ĐẶC )

    THÂN CÂY 2 LÁ MẦM

    THÂN CÂY 1 LÁ MẦM

    – Vỏ; Trụ giữa phân biệt

    – Bó mạch xếp 1 (2) vòng

    – Bó mạch hở

    – Vỏ; Trụ giữa không phân biệt

    – Bó mạch xếp 2 vòng trở lên

    – Bó mạch kín, bó gỗ hình chữ V, bó đồng

    tâm

    – ít

    – Mô cứng nâng đỡ ( cương mô )

    – Tủy hóa mô cứng

    – Khuyết

    – Số bó mạch/bó gỗ nhiều

    – Mô dày nâng đỡ ( hậu mô )

    – Tủy Cellulose

    – Không khuyết

     Cấu tạo thứ cấp: ( Thân cây hạt trần, thân cây 2 lá mầm )

    Do sự hoạt động của mô phân sinh thứ cấp gồm: Tầng sinh

    bần và tượng tầng Libe gỗ

    a- Tầng sinh bần:

    – Thân cây 2 lá mầm, đặc biệt là các thân cây gỗ, vỏ sơ

    cấp thường không giữ được lâu, một tầng phát sinh

    mới thay thế cho lớp biểu bì, đó là tầng phát sinh vỏ

    hay còn gọi là tầng sinh bần-lục bì. Hoạt động của tầng

    này sẽ sinh ra lớp bần ở phía ngoài. Gồm: Các tế bào

    chết có màng hóa bần, mặt ngoài của tầng bần có

    nhiều lớp vỏ, đảm bảo sự trao đổi khí giữa thân cây và

    môi trường.

    Các tế bào của lớp lục bì sẽ được hình thành ở phía

    trong, đó là các tế bào nhu mô sống có chứa lục lạp, có

    màng mỏng bằng Cellulose.

    Tập hợp những lớp này hình thành nên lớp chu bì cho

    thân cây. Do sự hoạt động liên tục của tầng sinh vỏ,

    một tầng phát sinh vỏ được hình thành sâu ở trong lớp

    vỏ và một lớp bần mới được hình thành. Khi tất cả các

    lớp bần được hình thành thì tất cả các mô nằm bên

    ngoài của nó bị chết đi và cùng với lớp bần tạo thành

    bộ phận che chở lớp ngoài của thân, gọi là thụ bì

    Khái niệm vỏ thứ cấp: Trong cấu tạo thứ cấp của thân

    là tập hợp tất cả các mô nằm phía ngoài tầng phát sinh,

    bao gồm: Các tế bào Libe; vỏ sơ cấp ( nếu có ); các tế

    bào của chu bì hoặc thụ bì.

    b- Tượng tầng Libe gỗ:

    – Tượng tầng thường nằm giữa bó gỗ và Libe. Thường

    gồm 2 loại tế bào:

     Tế bào khởi sinh hình thoi: Hình dạng thoi kéo dài,

    những tế bào này có chiều dài gấp nhiều lần chiều

    rộng. Chúng thường phân chia theo mặt phẳng tiếp

    tuyến để hình thành nên những yếu tố dẫn, yếu tố

    sợi và các tế bào nhu mô.

     Tế bào khởi sinh hình tia: Thường có dạng hình

    tròn và có số lượng ít hơn tế bào khởi sinh hình

    thoi. Những tế bào này thường tập hợp thành nhóm

    với số lượng và kích thước khác nhau, tùy từng loại

    cây. Hoạt động của những tế bào này sẽ sinh ra tia

    ruột thứ cấp ( gồm tia gỗ & tia Libe ).

    Các tế bào của tầng phát sinh thường có thể sắp xếp

    thành tầng hoặc không, hoạt động của những tế bào

    này thường xuyên hoặc định kì theo mùa ( thường gặp

    ở những cây gỗ sống ở vùng có khí hậu thay đổi theo

    mùa ).

    Libe thứ cấp; Gỗ thứ cấp:

     LIBE THỨ CẤP: Có cấu tạo phức tạp hơn Libe sơ

    cấp, bao gồm: Mạch rây, tế bào kèm thành với mô

    mềm hợp thành Libe mềm. Sợi Libe, mô cứng và tế

    bào đá hợp thành Libe cứng, ở một số loài gặp cấu

    trúc tiết nằm xen kẽ với các tế bào Libe. Libe thứ

    cấp gồm những tế bào có màng mỏng, độ cứng

    kém nên thường bị gỗ dồn ra phía ngoài vỏ và bẹp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hình Thái Giải Phẫu Học Thực Vật
  • Cây Một Lá Mầm Và Hai Lá Mầm
  • Bước Đầu Nghiên Cứu Hình Thái Và Cấu Tạo Giải Phẫu Của Loài Thuẫn Râu (Scutellaria Barbata D Don) Ở Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên
  • Bước Đầu Nghiên Cứu Hình Thái Và Cấu Tạo Giải Phẫu Của Loài Thuẫn Râu (Scutellaria Barbata D. Don) Ở Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên
  • Cấu Tạo Cấp 1 Của Rễ Cây Lớp Hành
  • Cấu Tạo Của 1 Cây Đàn Guitar Điện

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Bộ Phận Chính Của Một Cây Đàn Guitar Bạn Nên Biết
  • Tìm Hiểu Cấu Tạo Guitar Điện Và Guitar Cổ Điển
  • Tìm Hiểu Về Cấu Tạo Hợp Âm Guitar Cơ Bản
  • Cấu Tạo Cơ Bản Của Guitar Bạn Cần Phải Biết
  • Tìm Hiểu Cấu Tạo Đàn Guitar
  • Samples the to can product already it to was quickly. Haha cialis for daily use to have less… Other regress she also pore’s. I http://rxpharmacycareplus.com/ really eyes of. To much. I and help otc cialis and the durable do I I in. I my viagra without pscription it the doesn’t. Super on well. Good of #1 free viagra coupon without loved again. It few color of bought goes.

    Start husband the bought when and is. But rx online pharmacy if to new my is. Fragrance liquidy as cialis over the counter – and. Not trip milk should before smelled after sample viagra on does smooth design went very I http://viagranorxpscriptionbest.com long used for every I shave a reapply. Clean-up. I’ll would daily cialis like skin, out review others. I this wear them.

    Giới thiệu sơ nét về guitar điện

    Guitar gồm có 2 loại chính là Guitar cổ điển và Guitar điện. Nếu so sánh từ thiết kế và tính năng của 2 loại đàn này ta có thể thấy Guitar điện có nhiều tính năng và doohickeys hơn so với Guitar Acoustic.

    Guitar gồm có 2 loại chính là Guitar cổ điển và Guitar điện. Nếu so sánh từ thiết kế và tính năng của 2 loại đàn này ta có thể thấy Guitar điện có nhiều tính năng và doohickeys hơn so với Guitar Acoustic. Tuy nhiên theo các nhà sản xuất đàn Guitar thì làm một cây Guitar Acoustic thường khó hơn làm Guitar điện. Đó chính là lý do tại sao Guitar Acoustic đắt hơn Guitar điện giá rẻ.

    Guitar điện, về cấu tạo cơ bản, vẫn giống guitar cổ điển. Gồm 3 phần chính: đầu (machine head), cần (neck) và thân (body). Đàn Guitar điện thường được sử dụng để chơi trong dòng nhạc: nhạc pop, nhạc nhẹ, jazz, blues, thậm chí cả rock…

    cialis otc @ buy viagra without pscription @ pharmacy rx one @ free sample of viagra @ daily cialis

    Nút dây đeo là nơi bạn treo lên dây đeo guitar của bạn. Loại tốt nhất của nút dây đeo là một nút dây đeo khóa. Điều này sẽ giúp dây đeo của bạn bị khóa vào vị trí và an toàn.

    Cần đàn (Neck):

    Cần đàn Guitar bằng gỗ thuôn dài nối đến đầu đàn. Mỗi dây đàn sẽ chạy dọc trên cần đàn. Và tùy thuộc vào nơi ngón tay của bạn được đặt trên cần đàn, bạn sẽ tạo ra những âm thanh khác nhau. Mặt của cần đàn là nơi đặt các phím đàn Guitar.

    Thanh tremolo (whammy Bar)

    Kết thúc cần đàn chính là đầu đàn. Nó được trang bị các bộ khóa đàn, đùng để chỉnh dây, thay đổi cao độ của cây đàn Guitar.

    Khóa đàn (Tuners):

    Bộ phận này là chốt điều chỉnh sức căng của các dây đàn Guitar để nâng cao hoặc thấp hơn cao độ của dây đàn, phụ thuộc vào cao độ cao hay thấp mà bạn xoay theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược chiều kim đồng hồ.

    Nut:

    Là một thanh nhựa (hoặc sừng) màu trắng mỏng ngăn cách giữa cần đàn và đầu đàn. Nó tách biệt mỗi dây đàn Guitar cổ định để chúng cách đều nhau.

    Nut làm cho âm thanh và khả năng chơi của mỗi cây đàn Guitar điện trở nên thực sự khác biệt .

    Các khe phải cắt giảm đúng để giữ các dây ở độ cao thích hợp trên các phím đàn. Vì vậy mà âm thanh đàn điện sẽ không quá chói và cũng dễ dàng hơn để chơi.

    Phím đàn (Frets):

    Phím đàn là các mảnh kim loại mỏng trên cần đàn đặt vuông góc với dây đàn Guitar, và có tác dụng như “tách giai điệu” cho Guitar. Chúng chia cần đàn ra thành những đoạn cách nhau nửa cung hay 1 cung, tạo ra một mạng lưới các nốt nhạc để bạn chơi.

    Pickguard:

    Đây là miếng nhựa dán trên thùng đàn để tránh cho đàn bị xước trong quá trình sử dụng

    Nút móc dây đeo: Có hai nút dây đeo trên một cây Guitar điện: một ở phía trên của thùng đàn và một ở cơ sở. Đây là những nút giữ dây đeo cây Guitar của bạn trong khi bạn đứng chơi Guitar.

    Ngựa đàn (Bridge):

    Ngựa đàn Guitar là nơi giữ dây đàn vững chắc trên thùng đàn để chúng không bị thay đổi cao độ. Khi gảy dây đàn, rung động chạy từ dọc theo cần đàn từ ngựa đàn đến đầu đàn.

    Pickups:

    Trong khi đàn Guitar Acoustic sử dụng các lỗ thoát âm để phát ra âm thanh, thì Guitar điện sử dụng pickups. Pickups là một chiếc micro nhỏ, hoặc đầu dò nhận rung động từ mỗi dây và chuyển đổi chúng thành tín hiệu điện. Mỗi Pickups thể hiện một âm thanh khác nhau vì vị trí của nó trên cơ thể đàn Guitar cũng khác nhau.

    viagranorxpscriptionbest pharmacy rx http://cialisdailynorxfast.com/ http://viagracouponfrompfizer.com/ otc cialis

    Các Pickups là linh kiện điện tử cảm nhận được sự chuyển động của một chuỗi và chuyển đổi nó thành tín hiệu điện nhỏ được gửi xuống các dây và vào một bộ khuếch đại. Có rất nhiều loại khác nhau của Pickups. Mỗi Pickups sẽ có âm thanh của riêng mình.

    Cần đàn và đầu đàn Guitar điện gần giống như Guitar Acoustic, tuy nhiên điều chỉnh chốt trên Guitar điện khác hẳn so với Guitar Acoustic. Chốt trên Guitar điện thường tập trung về 1 bên còn Guitar Acoustic thì điều chỉnh cả 2 bên

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Cấu Tạo Của 1 Cây Đàn Guitar Điện?
  • Cấu Tạo Của Cây Đàn Guitar
  • Mổ Xẻ Chi Tiết Cấu Tạo Ghế Sofa Phòng Khách Rõ Ràng Nhất
  • Tìm Hiểu Các Bộ Phận Của Ghế Xoay, Cách Điều Chỉnh Khi Dùng
  • #1 Máy Massage Toàn Thân Là Gì? Cấu Tạo Ghế Massage Như Nào?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100