Cấu Trúc Giải Phẫu Của Phổi Con Người

--- Bài mới hơn ---

  • Chuẩn Đoán Và Điều Trị Cho Tràn Máu Màng Phổi
  • Viêm Màng Phổi Có Nguy Hiểm Không, Có Lây Không?
  • Câu Trúc Di Truyền Của Quần Thể
  • Chia Sẻ 3 Tựa Game Học Tiếng Nhật Hay Nhất Hiện Nay
  • Ôn Thi Thpt Quốc Gia 2022: Ma Trận Kiến Thức Đề Thi Môn Tiếng Anh, Tiêu Điểm Tuyển Sinh, Tuyển Sinh
  • Cấu trúc của hệ thống hô hấp của con người, đảm bảo công việc của mình trong cơ thể để cung cấp trao đổi khí. hệ hô hấp của con người bao gồm các đường hô hấp và bộ phận hô hấp hình thành phế nang. Airways bao gồm các khoang mũi, thanh quản, khí quản, phế quản. Họ không khí được làm nóng, ẩm, làm sạch bụi. Các bộ phận hô hấp trao đổi khí hô hấp xảy ra oxy và carbon dioxide. Xem xét cấu trúc của phổi của con người.

    Phổi đang ở trong ngực, và chiếm một phần lớn của nó. Bề mặt của nó, ngoại trừ phần gốc được bao phủ bởi màng phổi tạng. Trên giường ngủ của đỉnh và màng phổi tạng là khép kín khoang màng phổi.

    Qua rễ có thể dễ dàng kết nối với các phế quản chính, máu và bạch huyết mạch, thần kinh.

    cấu trúc bộ phận kinh doanh của phổi con người

    Dạng lá phổi bên phải ba thùy, bên trái – hai. Mỗi thùy bao gồm các phân đoạn. Loại thứ hai là các đơn vị cấu trúc và chức năng của phổi. phân khúc hình của một kim tự tháp, đỉnh đối với thư mục gốc của thư phổi, và cơ sở – đến màng phổi. Ranh giới giữa các phân đoạn là mô liên kết, nơi mà các tàu intersegmental.

    Ở thùy trên bên phải của phổi bao gồm đỉnh, trước và sau phân đoạn, với mức trung bình – từ bên ngoài và bên trong, phía dưới – các thượng sau-medial, cơ sở, cơ bản trước, cơ sở bên và sau phân đoạn cơ bản.

    Phổi trái phía trên thùy tích hợp đỉnh, sau, trước, phân đoạn trên và nizhneyazychkovy, thấp hơn – trên cơ sở sau-medial, cơ bản trước, cơ sở bên và phía sau cơ sở.

    Phổi trái trung gian phân khúc cơ bản là không ổn định, và các đỉnh và sau có một phế quản thường.

    phân khúc phế quản phổi là đơn vị giải phẫu, sinh lý và lâm sàng, trong đó sự phát triển của quá trình bệnh lý được quan sát.

    động mạch phổi và tĩnh mạch hình thành một hệ thống tuần hoàn phổi, được bao gồm trong cấu trúc của hệ thống tuần hoàn của con người. Nó bắt đầu một vòng tròn nhỏ của thân cây phổi, mà đi ra của tâm thất phải và mang máu tĩnh mạch đến phổi. Trong phế nang của phổi trao đổi khí xảy ra, trong đó máu được làm giàu với oxy và đi qua các tĩnh mạch phổi vào tâm nhĩ trái. lưu lượng máu độc lập để phổi và phế quản được cung cấp động mạch phế quản và tĩnh mạch, thuộc một hệ thống của một lượng lớn lưu thông.

    Các bạch huyết chảy ra khỏi phổi thông qua các mạch bạch huyết vào thư mục gốc của phổi, đi trên con đường của mình thông qua các hạch bạch huyết. Một số lượng đáng kể các hạch bạch huyết nằm gần phế quản chính và khí quản.

    Innervation của bộ máy phế quản phổi tại các chi phí của hệ thống thần kinh giao cảm và phó giao cảm.

    Cấu trúc của phổi của con người và chức năng hô hấp

    Cấu trúc giải phẫu của phổi con người mang lại hơi thở bên ngoài. Nó cung cấp cho các hệ thống thông gió phổi và sự khuếch tán của khí qua hàng rào máy máu. Các hoạt động chung của hệ thống hô hấp, tuần hoàn hô hấp tế bào và tạo thành một hệ thống chức năng duy nhất mà hoạt động là hướng vào việc duy trì quá trình bình thường của quá trình trao đổi chất trong cơ thể.

    Ngoài chức năng hô hấp, để dễ dàng thực hiện một loạt các chức năng phi hô hấp: trao đổi chất, điều nhiệt, bài tiết, hàng rào, bài tiết. Họ được tham gia vào nhiều quá trình sinh hóa. Đối với chức năng không hô hấp của phổi cũng bao gồm chống viêm và miễn dịch.

    Bạn nên cẩn thận theo dõi tình trạng của phổi và cố gắng sống một lối sống lành mạnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trắc Nghiệm Sinh Học 12 Bài 17: Cấu Trúc Di Truyền Của Quần Thể Ngẫu Phối
  • Lý Thuyết Cấu Trúc Di Truyền Của Quần Thể Ngẫu Phối Sinh 12
  • Cấu Trúc Di Truyền Của Quần Thể Tự Phối Và Ngẫu Phối
  • Cấu Trúc Di Truyền Của Quần Thể Ngẫu Phối
  • Thuật Toán Và Cấu Trúc Dữ Liệu Trong Javascript
  • Giải Thích Cấu Tạo Của Phổigiải Thik Cấu Tạo Của Phổi

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhu Mô Phổi Là Gì? Cấu Tạo Và Được Nuôi Dưỡng Bởi Cơ Quan Nào?
  • Nhu Mô Phổi Là Gì? Cấu Trúc Như Thế Nào?
  • Nhu Mô Phổi Là Gì? Hội Chứng Tổn Thương Nhu Mô Phổi Và Phòng Tránh
  • Giải Phẫu Hệ Hô Hấp Đh Y Khoa Vinh Vmu
  • Phình Động Màng Phổi Và Rối Loạn Của Khoang Màng Phổi
  • Phổi là cơ quan chính của hệ hô hấp, nơi trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường. Phổi có tính chất đàn hồi, xốp và mềm. Hai phổi phải và trái nằm trong lồng ngực, cách nhau bởi trung thất. Phổi phải lớn hơn phổi trái.Dung tích bình quân của phổi khoảng 5000ml khi hít vào gắng sức.

    I. Hình thể ngoài

    Phổi có dạng một nửa hình nón, được treo trong khoang màng phổi bởi cuống phổi và dây chằng phổi.

    Phổi có hai mặt, một đỉnh, một đáy và hai bờ. Mặt sườn lồi, áp vào thành ngực. Mặt trong là giới hạn hai bên của trung thất. Đáy phổi còn gọi là mặt dưới, áp vào cơ hoành.

    2. Đỉnh phổi

    Nhô lên khỏi lỗ trên của lồng ngực.

    Phía sau, đỉnh phổi ngang mức đầu sau xương sườn I. Phía trước, đỉnh phổi cao hơn phần trong xương đòn khoảng 3cm.

    3. Mặt sườn

    3.1. Đặc điểm chung của hai phổi

    – Áp sát mặt trong lồng ngực, có vết ấn của các xương sườn.

    – Có khe chếch chạy từ ngang mức gian sườn 3 ở phía sau xuống đáy phổi, chia phổi ra thành các thùy phổi. Mặt các thùy phổi áp vào nhau gọi là mặt gian thùy.

    – Trên bề mặt phổi có các diện hình đa giác to, nhỏ khác nhau; đó là đáy của các tiểu thuỳ phổi là đơn vị cơ sở của phổi.

    3.2. Đặc điểm riêng của từng phổi

    – Phổi phải có thêm khe ngang, tách từ khe chếch, ngang mức gian sườn 4, nên phổi phải có ba thuỳ: trên, giữa và dưới.

    – Phổi trái chỉ có khe chếch, nên phổi trái chỉ có hai thuỳ: trên và dưới. Ở phía trước dưới thuỳ trên, có một mẫu phổi lồi ra goi là lưỡi của phổi trái, ứng với phần thuỳ giữa của phổi phải.

    4. Mặt trong

    ặt trong hơi lõm, gồm hai phần:

    – Phần trước quây lấy các tạng trong trung thất, gọi là phần trung thất. Ở phổi phải, có một chỗ lõm gọi là ấn tim; còn phổi trái, có một hố sâu gọi là hố tim.

    + Giữa mặt trong của hai phổi, có rốn phổi hình vợt, cán vợt quay xuống dưới. Trong rốn phổi có các thành phần của cuống phổi đi qua như: phế quản chính, động mạch phổi, hai tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, các dây thần kinh và hạch bạch huyết.

    Ở rốn phổi phải, động mạch phổi nằm trước phế quản chính; còn ở phổi trái động mạch nằm trên phế quản chính. Hai tĩnh mạch phổi nằm trước và dưới phế quản chính.

    + Phía sau rốn phổi có rãnh tĩnh mạch đơn và ấn thực quản ở phổi phải và rãnh động mạch chủ ở phổi trái.

    + Phía trên rốn phổi có rãnh động mạch dưới đòn và rãnh thân tĩnh mạch cánh tay đầu.

    5. Các bờ

    5.1. Bờ trước

    Là ranh giới giữa mặt sườn và mặt hoành. Bờ trước nằm gần đường giữa, kéo dài từ đỉnh phổi đến đầu trong sụn sườn VI ở phổi phải, ở phổi trái có khuyết tim nên bờ trước kéo dài từ đỉnh phổi đến đầu trong sụn sườn số IV thì vòng ra ngoài đến sụn sườn VI.

    5.2. Bờ dưới

    Gồm hai đoạn:

    + Đoạn cong là ranh giới giữa mặt sườn và mặt hoành. Đoạn này lách sâu vào ngách sườn hoành.

    + Đoạn thẳng là ranh giới giữa mặt trong và mặt hoành.

    Sự phân chia của động mạch phổi

    2.1. Thân động mạch phổi

    Thân động mạch phổi bắt đầu đi từ lỗ động mạch phổi của tâm thất phải lên trên, sang trái và ra sau. Khi tới bờ sau quai động mạch chủ thì chia thành động mạch phổi phải và động mạch phổi trái.

    2.2. Động mạch phổi phải

    – Đi ngang sang phải, chui vào rốn phổi phải ở trước phế quản chính, rồi ra phía ngoài và cuối cùng ở sau phế quản.

    – Động mạch phổi phải cho các nhánh bên có tên gọi tương ứng với các thùy hoặc phân thuỳ mà nó cấp huyết:

    + Nhánh động mạch thuỳ trên: chia các nhánh đỉnh, nhánh sau xuống, nhánh trước xuống, nhánh trước lên, nhánh sau lên.

    + Nhánh động mạch thuỳ giữa: chia các nhánh bên và nhánh giữa.

    + Nhánh động mạch thuỳ dưới: chia các nhánh đỉnh của thuỳ dưới, nhánh đáy giữa, nhánh đáy trước, nhánh đáy bên, nhánh đáy sau.

    2.3. Động mạch phổi trái

    – Ngắn và nhỏ hơn động mạch phổi phải, đi chếch lên trên sang trái, bắt chéo mặt trước phế quản chính trái, chui vào rốn phổi ở phía trên phế quản thuỳ trên trái.

    – Động mạch phổi trái cũng cho các nhánh bên tương tự động mạch phổi phải, nhưng cũng có một vài điểm khác biệt:

    + Chỉ có một nhánh sau của thùy trên.

    + Nhánh ứng thùy giữa gọi là nhánh lưỡi, chia làm 2 là nhánh lưỡi trên và dưới.

    3. Sự phân chia của tĩnh mạch phổi

    – Hệ thống lưới mao mạch phế nang đổ vào tĩnh mạch quanh tiểu thùy, rồi tiếp tục thành những thân lớn dần cho tới các tĩnh mạch gian phân thùy hoặc tĩnh mạch trong phân thùy, các tĩnh mạch thùy, và cuối cùng họp thành hai tĩnh mạch phổi ở mỗi bên phổi, dẫn máu giàu ôxy đổ về tâm nhĩ trái. Hệ thống tĩnh mạch phổi không có van.

    – Ngoài các tĩnh mạch đi trong các đơn vị phổi như động mạch, các tĩnh mạch phổi thường đi ở chu vi hoặc ranh giới giữa các đơn vị phổi.

    – Hai tĩnh mạch phổi phải trên và trái trên nhận khoảng 4 hoặc 5 tĩnh mạch ở thuỳ trên (và giữa).

    – Hai tĩnh mạch phổi phải dưới và trái dưới nhận toàn bộ các tĩnh mạch của thuỳ dưới.

    4. Động mạch và tĩnh mạch phế quản

    – Là thành phần dinh dưỡng của phổi.

    – Động mạch phế quản nhỏ, là nhánh bên của động mạch chủ. Thường có một động mạch bên phải và hai ở bên trái.

    – Tĩnh mạch phế quản đổ vào các tĩnh mạch đơn, một số nhánh nhỏ đổ vào tĩnh mạch phổi.

    5. Bạch huyết

    Gồm nhiều mạch bạch huyết chạy trong nhu mô phổi, đổ vào các hạch bạch huyết phổi, cuối cùng đổ vào các hạch khí quản trên và dưới ở chổ chia đôi của khí quản.

    6. Thần kinh

    – Hệ thần kinh giao cảm: xuất phát từ đám rối phổi.

    – Hệ phó giao cảm: các nhánh của dây thần kinh lang thang.

    III. Màng phổi

    Là một bao thanh mạc gồm hai lá: màng phổi thành và màng phổi tạng. Giữa hai lá là ổ màng phổi, hai ổ màng phổi riêng biệt không thông với nhau.

    1. Màng phổi tạng

    Màng phổi tạng mỏng, trong suốt bao phủ toàn bộ bề mặt của phổi, ngoại trừ rốn phổi và dính chặt vào nhu mô phổi, lách cả vào các khe gian thuỳ. Ở rốn phổi, màng phổi tạng quặt ra để liên tiếp với màng phổi thành.

    2. Màng phổi thành

    Màng phổi thành phủ lên toàn bộ các thành của khoang chứa phổi. Bao gồm:

    – Màng phổi sườn: áp sát vào mặt trong lồng ngực, ngăn cách với thành ngực bởi lớp mô liên kết mỏng gọi là mạc nội ngực.

    – Màng phổi trung thất: là giới hạn bên của trung thất đi từ xương ức phía trước đến cột sống phía sau, áp sát phần trung thất của màng phổi tạng. Ở rốn phổi, màng phổi thành quặt lên liên tục với màng phổi tạng. Ranh giới của đường quặt này không chỉ bao quanh cuống phổi mà còn kéo dài xuống dưới đến tận cơ hoành và các cơ quan lân cận. Chính vì vậy rốn phổi có hình chiếc vợt, cán vợt quay xuống dưới là phần mà màng phổi dính với nhau tạo nên dây chằng phổi.

    – Màng phổi hoành: phủ lên mặt trên cơ hoành. Phần mạc nội ngực ở đây được gọi là mạc hoành màng phổi.

    – Đỉnh màng phổi là phần màng phổi thành tương ứng với đỉnh phổi. Phần mạc nội ngực ở đây được gọi là màng trên màng phổi. Đỉnh màng phổi được các dây chằng treo đỉnh màng phổi cố định vào cột sống cổ, xương sườn, xương đòn.

    – Ngách màng phổi: được tạo bởi hai phần của màng phổi thành. Có hai ngách màng phổi chính :

    + Ngách sườn hoành: do màng phổi sườn gặp màng phổi hoành.

    + Ngách sườn trung thất: do màng phổi sườn gặp màng phổi trung thất.

    3. Ổ màng phổi

    – Hai lá màng phổi liên tục với nhau ở rốn phổi giới hạn nên một khoang là ổ màng phổi. Bình thường hai lá màng phổi tiếp xúc với nhau nên ổ màng phổi là một khoang ảo.

    – Mỗi phổi có một ổ màng phổi kín, riêng biệt, không thông nhau.

    4. Mạch máu và thần kinh của màng phổi

    – Động mạch: màng phổi thành được cấp máu bởi những nhánh của các động mạch kế cận: động mạch ngực trong, các động mạch gian sườn, các nhánh trung thất và các động mạch của cơ hoành. Màng phổi tạng được cấp máu từ các động mạch phế quản.

    – Tĩnh mạch: đi kèm với động mạch.

    – Thần kinh: màng phổi sườn được chi phối bởi các thần kinh gian sườn, màng phổi trung thất và màng phổi sườn được chi phối bởi những nhánh cảm giác của thần kinh hoành. Màng phổi tạng được chi phối thần kinh từ đám rối phổi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vén Màn Bí Ẩn Về Lá Phổi
  • Câu Hỏi Bài 20 Trang 66 Sgk Sinh 8
  • Trình Bày Cấu Tạo Bên Trong Và Chức Năng Của Phổi
  • Trình Bày Cấu Tạo Và Chức Năng Của Phổi
  • Siêu Âm Màng Phổi Và Những Y Khoa Hữu Ích
  • Giải Phẫu Phổi: Phổi Nằm Ở Đâu, Cấu Tạo Phổi Và Màng Phổi

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Của Phổi Như Thế Nào? Phổi Nằm Ở Đâu Và Có Chức Năng Gì?
  • Phổi Nằm Ở Đâu Trong Cơ Thể? Hình Thể Ngoài Và Chức Năng
  • Phổi Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo, Chức Năng Của Phổi
  • Vị Trí Phổi Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Phổi Là Gì?
  • Tìm Hiểu Cấu Tạo Pin Lithium Polymer Như Thế Nào?
  • Phổi là một cơ quan của hệ hô hấp, đóng vai trò là nơi trao đổi khí giữa không khí và máu. Khi phổi bị tổn thương sẽ dẫn đến bệnh phổi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đường thở.

    Phổi được bao bọc trong 1 thanh mạc gồm 2 lá được gọi là màng phổi. Tính chất của phổi đàn hồi, xốp và mềm. Mỗi người có 2 lá phổi và cấu tạo bởi các thùy. Lá phổi bên phải (P) lớn hơn lá phổi trái (T). Mỗi phổi có dung tích khoảng 5000ml khi hít vào gắng sức.

    Phổi có hình thể ngoài, hình thể trong và màng phổi.

    Có dạng 1/2 hình nón treo trong khoang màng phổi nhờ cuống phổi và dây chằng. Bao gồm: 1 đáy, 1 đỉnh, 2 mặt và 2 bờ. Mặt ngoài lồi áp vào thành ngực, mặt trong giới hạn 2 bên trung thất, mặt dưới (đáy phổi) áp vào cơ hoành.

    Mặt hoành ở phía dưới và nắm áp sát lên vòm hoành, qua vòm hoành với các tạng của ổ bụng, điển hình là gan.

    Nằm ở phía trên và nhô lên khỏi xương sườn I qua lỗ trên của lồng ngực, vị trí nằm ở nền cổ. Phía trước ở trên phần trong xương đòn 3cm. Ngang mức đầu sau của xương sườn I.

    • Đây là mặt lồi áp sát vào thành trong của lồng ngực ở phía sau và phía ngoài.
    • Có khe chếch chiếu lên thành ngực ở đầu sau ngang với mức đầu sau khoang gian sườn. Còn có vết ấn lên của các xương sườn.
    • Phổi (P) có thêm khe ngang, tách từ khe chếch ngang mức khoang gian sườn 4 ở đường nách và đầu trước ngang mức sụn sườn.
    • Mặt trong phổi quay vào phía trong và hơi lõm. Bao gồm: Phần cột sống và phần trung thất.
    • Rốn phổi có hình là chiếc vợt bóng bàn. Đây là nơi các thành phần của cuống phổi đi qua, bao gồm động mạch phổi, phế quản chính, hai tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, hạch bạch huyết, các dây thần kinh.
    • Mặt trong phổi (P) có rãnh tĩnh mạch đơn, còn phổi (T) có rãnh động mạch chủ.
    • Có thân tĩnh mạch cánh tay đầu và rãnh động mạch dưới đòn ở trên rốn phổi.

    Bờ trước chính là ranh giới của mặt trong và mặt sườn. Ở bên trái, bờ trước bị khuyết ở dưới thành khuyết tim của phổi (T).

    Bờ trước phổi quây lấy mặt hoành. Bao gồm 2 đoạn: Đoạn cong ngăn cách mặt sườn và mặt hoành. Đoạn thẳng ngăn cách mặt trong và mặt hoành.

    Trên bề mặt của phổi là các diện hình đa giác có kích thước to nhỏ khác nhau được gọi là các tiểu thùy phổi.

    Hình thể trong

    Được cấu tạo bởi những thành phần đi qua rốn phổi và phân chia nhỏ dần trong phổi. Mặt trong phổi bao gồm cây phế quản, động mạch phổi, tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, bạch huyết của phổi và thần kinh của phổi.

    Sự phân chia của cây phế quản

    Sự phân chia của động mạch phổi

    Thân động mạch phổi bắt đầu từ lỗ động mạch phổi tâm thất phải. Tiếp đó chạy lên trên và ra sau đến bờ sau của quai động mạch chủ thì chia thành động mạch phổi (T) và động mạch phổi (P).

    Động mạch phổi (T): Chếch sang bên trái, lên trên bắt chéo mặt trước của phế quản chính trái. Sau đó chui vào rốn phổi phía trên phế quản thùy bên trái, đi ra ngoài rồi phía sau thân phế quản.

    Động mạch phổi (P): Dài và lớn hơn động mạch phổi (T). Đi ngang từ trái sang phải chui vào rốn phổi phải ở dưới phế quản thù trên. Đi trước phế quản sau đó ra phía ngoài. Cuối cùng ở sau phế quản.

    Sự phân chia của tĩnh mạch phổi

    Lưới mao mạch phế nang đổ vào tĩnh mạch quanh tiểu thùy. Sau đó tiếp tục thành những thân lớn dầu cho đến các tĩnh mạch gian hoặc tĩnh mạch thùy, tĩnh mạch trong phân thùy. Cuối cùng lưới mao mạch sẽ hợp thành hai tĩnh mạch phổi để đổ vào tâm nhĩ trái.

    Tĩnh mạch phổi trên trái và tĩnh mạch phổi trên phải nhận khoảng 4 – 5 tĩnh mạch thùy trên và thùy giữa nếu là phổi phải. Hai tĩnh mạch dưới trái và phải nhận tĩnh mạch của toàn bộ thùy dưới.

    Tĩnh mạch là nơi đi vào những giới hạn phân thùy.

    Động mạch và tĩnh mạch phế quản

    Đây là thành phần dinh dưỡng của phổi.

    • Động mạch phế quản được tách ra từ động mạch chủ sau hoặc trước của phế quản chính.
    • Tĩnh mạch phế quản đổ vào các tĩnh mạch đơn, một số ít nhánh nhỏ sẽ đổ vào tĩnh mạch phổi.

    Bạch huyết của phổi

    • Bao gồm nhiều bạch huyết chảy trong nhu mô phổi và đổ vào các hạch bạch huyết phổi ở chỗ chia đôi các phế quản.
    • Các hạch bạch huyết đổ vào các hạch phế quản phổi nằm ở rốn phổi.
    • Đổ vào hạch khí dưới và hạch khí quản trên.

    Thần kinh của phổi

    Được tạo bởi các sợi thần kinh giao cảm và các nhánh dây thần kinh lang thang.

    Thần kinh phổi được chia thành một mạng những nhánh đan ở xung quanh phế quản chính, chui và rốn phổi phân nhánh trong phổi.

    Màng phổi có cấu tạo gồm hai lá màng phổi tạng và màng phổi thành. Giữa hai lá màng phổi này là hai ổ màng phổi. Bên trái và phải riêng biệt nhau.

    Dính chặt và bọc sát vào nhu mô phổi, đồng thời lách cả vào khe gian thìu phổi.

    Ở vị trí rốn phổi, màng phổi tạng quặt ra để liên tiếp với màng phổi thành tạo nên dây chằng phổi.

    Màng phổi thành

    Có vị trí nằm áp sát phía ngoài màng phổi tạng. Màng phổi thành lót mặt trong lồng ngực tạo túi màng phổi. Bao gồm: Màng trung thất, màng phổi sườn, màng phổi hoàng, mạc hoành.

    Đỉnh màng phổi là phần màng phổi thành tương ứng với đỉnh phổi.

    Góc nhị diện hợp bởi 2 phần màng phổi được gọi là ngách màng phổi. Có 2 ngách màng phổi là ngách sườn hoành và ngách sườn trung thất.

    Nằm giữa màng phổi thành và màng phổi tạng, đây là một khoang ảo. Mỗi phổi có một ổ màng phổi riêng và không thông nối với nhau.

    Phổi là một cơ quan hô hấp có chức năng trao đổi khí giữa không khí và máu. Quá trình này được thực hiện trên toàn bộ mặt trong của phế quản. Để loại bỏ những vật thể lạ ra ngoài thì những phế nang có niêm mạc bao phủ luôn rung chuyển.

    Các tế bào phổi đóng vai trò duy trì sự sống tế bào nội mô và biểu mô. Tế bào phổi tạo nên hàng rào ngăn chặn các phân tử và nước đi qua nhiều vào mô kẽ. Các tế bào phổi cũng tham gia vào quá trình vận chuyển, tổng hợp nhiều chất trong cơ thể.

    Phổi nằm ở đâu bên trái hay bên phải cơ thể con người

    Giữa hai buồng phổi là khí quản. Khí quản sẽ phân chia nhánh phế quản chính. Tim nằm ở giữa hai phổi trung thất, hơi lệch về bên trái.

    Như vậy, qua thông tin giải phẫu phổi tóm tắt trên, bạn đã biết được cấu tạo của phổi và màng phổi. Đồng thời biết được phổi nằm ở đâu trong cơ thể con người, chức năng của phổi là gì. Mong rằng thông tin được chia sẻ giúp bạn có thêm được những kiến thức bổ ích.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phổi Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Phổi Là Gì?
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Protein
  • Tính Chất Hoá Học, Công Thức Cấu Tạo Của Peptit Và Protein
  • Cấu Tạo Của Pin Điện Thoại Và Hoạt Động Ra Sao? Như Thế Nào?
  • Cấu Tạo Pin Năng Lượng Mặt Trời
  • Phổi Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo, Chức Năng Của Phổi

    --- Bài mới hơn ---

  • Vị Trí Phổi Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Phổi Là Gì?
  • Tìm Hiểu Cấu Tạo Pin Lithium Polymer Như Thế Nào?
  • Pin Li Ion Là Gì? Cấu Tạo Và Cách Sử Dụng Pin Lithium Ion Đúng Cách
  • Cấu Tạo Pin Lithium Ion Thế Nào: Công Nghệ, Tuổi Thọ, Cách Hoạt Động
  • Pin Lithium Là Gì? Bao Nhiêu Loại (Cập Nhật 2022)?
  • Từ lúc sinh ra đến lúc trút hơi thở cuối cùng, phổi luôn làm việc cật lực để cung cấp đủ oxy cho tế bào trong cơ thể con người. Ấy thế nhưng, đại đa số nhiều người lại không hề biết phổi nằm ở đâu và có cấu tạo như thế nào?

    Phổi có tính chất đàn hồi, mềm và xốp; ở người bình thường gồm có 2 lá phổi và được cấu tạo bởi các thùy. Phổi trái thường nhỏ hơn phổi phải. Dung tích của mỗi phổi khoảng 5000 ml khi hít vào gắng sức. Phổi có hình thể gồm mặt ngoài, mặt trong và màng phổi.

    Hình thể bên ngoài của phổi

    Phổi có dạng một nửa hình nón được treo trong khoang màng phổi bởi dây chằng phổi và cuống phổi. Phổi có ba mặt, một đỉnh, hai bờ. Mặt ngoài phổi lồi, áp vào thành ngực còn mặt trong giới hạn hai bên của trung thất, mặt dưới gọi là đáy phổi được áp vào cơ hoành.

    Nhô lên khỏi xương sườn I. Phía sau, đỉnh phổi ngang mức đầu sau xương sườn I, còn phía trước thì ở trên phần trong xương đòn khoảng 3cm.

    Ðặc điểm chung của hai phổi: áp sát mặt trong lồng ngực, có vết ấn của các xương sườn. Mặt sườn có khe chếch bắt đầu từ ngang mức gian sườn 3 ở phía sau chạy xuống đáy phổi, chia phổi ra thành các thuỳ phổi. Mặt các thuỳ phổi áp vào nhau gọi là mặt gian thuỳ. Trên bề mặt phổi có các diện hình đa giác to, nhỏ khác nhau; đó là đáy của các tiểu thuỳ phổi – đơn vị cơ sở của phổi.

    Ðặc điểm riêng của từng phổi: phổi phải có thêm khe ngang, đi từ khe chếch, ngang mức khoảng gian sườn 4 chạy ngang ra trước, nên phổi phải có ba thuỳ là thùy trên, thùy giữa và thùy dưới. Phổi trái chỉ có khe chếch, nên phổi trái chỉ có hai thuỳ là thùy trên và thùy dưới. Ở phía trước dưới thuỳ trên, có một mẫu phổi lồi ra gọi là lưỡi của phổi trái, tương ứng với thuỳ giữa của phổi phải.

    Mặt trong của phổi được cấu tạo bởi các thành phần đi qua rốn phổi, phân chia nhỏ dần trong phổi. Bao gồm cây phế quản, động mạch và tĩnh mạch phế quản, động mạch và tĩnh mạch phổi, các sợi thần kinh, các mô liên kết và bạch mạch.

    Phế quản chính chui vào rốn phổi và chia thành các phế quản thuỳ. Mỗi phế quản thuỳ dẫn khí cho một thuỳ phổi và lại chia thành các phế quản phân thuỳ, dẫn khí cho một phân thuỳ phổi. Phế quản phân thuỳ chia ra các phế quản hạ phân thuỳ và lại chia nhiều lần nữa cho tới phế quản tiểu thuỳ, dẫn khí cho một tiểu thuỳ phổi.

    Là thành phần dinh dưỡng của phổi.

    • Ðộng mạch phế quản nhỏ, là nhánh bên của động mạch chủ. Thường có một động mạch bên phải và hai ở bên trái.
    • Tĩnh mạch phế quản đổ vào các tĩnh mạch đơn, một số nhánh nhỏ đổ vào tĩnh mạch phổi.

    Hệ thống lưới mao mạch phế nang đổ vào tĩnh mạch quanh tiểu thuỳ; rồi tiếp tục thành những thân lớn dần cho tới các tĩnh mạch gian phân thuỳ hoặc tĩnh mạch trong phân thuỳ; các tĩnh mạch thuỳ; và cuối cùng họp thành hai tĩnh mạch phổi ở mỗi bên phổi, dẫn máu giàu ôxy đổ về tâm nhĩ trái. Hệ thống tĩnh mạch phổi không có van.

    • Thân động mạch phổi: Bắt đầu đi từ lỗ động mạch phổi của tâm thất phải, lên trên, sang trái và ra sau. Khi tới bờ sau quai động mạch chủ thì chia thành động mạch phổi phải và động mạch phổi trái.
    • Ðộng mạch phổi phải: đi ngang sang phải, chui vào rốn phổi phải ở trước phế quản chính; rồi ra phía ngoài và cuối cùng ở sau phế quản.
    • Ðộng mạch phổi trái: ngắn và nhỏ hơn động mạch phổi phải, đi chếch lên trên sang trái, bắt chéo mặt trước phế quản chính trái; chui vào rốn phổi ở phía trên phế quản thuỳ trên trái.

    Gồm nhiều mạch bạch huyết chạy trong nhu mô phổi, đổ vào các hạch bạch huyết phổi; cuối cùng đổ vào các hạch khí quản trên và dưới ở chổ chia đôi của khí quản.

    Thần kinh đến phổi gồm:

    • Hệ thần kinh giao cảm xuất phát từ đám rối phổi.
    • Hệ phó giao cảm các nhánh của dây thần kinh lang thang.

    Màng phổi là một thanh mạc gồm hai lá: Màng phổi tạng và màng phổi thành. Giữa hai lá là hai ổ màng phổi, hai bên phải và trái riêng biệt nhau.

    Bao phủ toàn bộ bề mặt và dính chặt vào nhu mô phổi, lách cả vào các khe gian thuỳ. Ở rốn phổi, màng phổi tạng quặt ra để liên tiếp với màng phổi thành.

    Lót mặt trong lồng ngực và tạo nên túi màng phổi, bao gồm:

    • Màng phổi trung thất: là giới hạn bên của trung thất, áp sát phần trung thất của màng phổi tạng.
    • Màng phổi sườn: áp sát vào mặt trong lồng ngực; ngăn cách với thành ngực bởi lớp mô liên kết mỏng gọi là mạc nội ngực.
    • Cuối cùng là màng phổi hoành: phủ lên mặt trên cơ hoành. Phần mạc nội ngực ở đây được gọi là mạc hoành màng phổi.

    Ðỉnh màng phổi là phần màng phổi thành tương ứng với đỉnh phổi.

    Ngách màng phổi: được tạo bởi hai phần của màng phổi thành. Có hai ngách màng phổi chính:

    Ngách sườn hoành: do màng phổi sườn gặp màng phổi hoành.

    Ngách sườn trung thất: do màng phổi sườn gặp màng phổi trung thất.

    Ở màng phổi có đặc tính:

    • Là một khoang ảo nằm giữa màng phổi thành và màng phổi tạng.
    • Mỗi phổi có một ổ màng phổi kín, riêng biệt, không thông nhau.

    Phổi có chức năng sinh lý là thực hiện trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường bên ngoài. Quá trình trao đổi khí được thực hiện trên toàn bộ mặt trong của các phế quản. Để có thể vận chuyển được các vật thể lạ ra bên ngoài thì các phế nang có niêm mạc bao phủ phải luôn rung chuyển.

    Theo đó là các tế bào phổi có chức năng giúp cơ thể duy trì cuộc sống tế bào biểu mô và tế bào nội mô. Những tế bào phổi sẽ tạo nên một hàng rào có công dụng ngăn chặn nước và các phân tử đi qua nhiều vào mô kẽ. Đồng thời, tham gia vào những quá trình vận chuyển và tổng hợp nhiều chất quan trọng.

    Phổi nằm ở đâu trong cơ thể con người?

    Trong cơ thể, phổi có chức năng chính làm nhiệm vụ vận chuyển khí oxy từ môi trường bên ngoài vào nuôi các tế bào trong cơ thể và đẩy khí cabonic độc hại ra ngoài.

    Trong mỗi người, phổi gồm có hai buồng phổi. Vị trí giải phẫu của phổi nằm bên trong lồng ngực được bao bọc bởi các xương sườn xung quanh. Phía dưới phổi có cơ hoành ngăn giữa phổi với các cơ quan khác trong ổ bụng như dạ dày, gan và lá lách.

    Giữa hai buồng phổi là khí quản. Khí quản phân chia ra làm nhánh phế quản chính; quả tim nằm giữa hai phổi là trung thất, hơi trệch về bên trái.

    Nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của phổi

    Với chức năng chính là trao đổi khí giữa cơ thể với môi trường bên ngoài nên phổi dễ bị vi khuẩn, virus, nấm và ký sinh trùng xâm nhập gây ho khan hoặc ho có đờm, khó thở. Các bệnh lý thường gặp là , viêm phổi, viêm phế quản cấp , viêm phế quản mãn tính, lao phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính,…

    Vì vậy, để phổi luôn được khỏe mạnh mỗi người chúng ta nên chú ý việc tránh các tác nhân gây bệnh. Ví dụ như tiếp xúc với khói bụi, khói thuốc lá, mùi hóa chất,… Đặc biệt, tăng cường sử dụng các loại thực phẩm dinh dưỡng đầy đủ; luyện tập thể dục hàng ngày sẽ giúp phổi hạn chế được nguy cơ nhiễm bệnh hoặc tăng nặng bệnh.

    Qua những thông tin được cung cấp ở trên, hi vọng bạn đọc đã nắm rõ được vị trí phổi nằm ở đâu trong cơ thể con người. Cũng như hình thể và chức năng sinh lý của phổi. Mong rằng những thông tin này cũng giúp bạn đọc biết tầm quan trọng của phổi đối với cơ thể người; và có ý thức bảo vệ sức khỏe phổi tốt hơn. Ngoài ra bạn cũng cần tham khảo ngay những bài thuốc chữa viêm phổi, viêm phế quản hiệu quả để có thể phòng ngừa và điều trị.

    Bước 1: Sử dụng kháng sinh

    Theo chúng tôi Nguyễn Trọng Nghĩa (Giảng viên ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh) thì việc điều trị viêm phổi cần tiến hành theo các bước sau:

    Bước 2: Uống nhiều nước

    Dùng nhóm thuốc trị viêm phổi: Penicillin, macrolid cephalosporin, nhóm quinolone (levofloxacin, ciprofloxacin, moxifloxacin) từ 7-10 ngày giúp hạ nhiệt, giảm ho, giảm đau nhức.

    Bước 3: Kiểm soát cơn sốt

    Các triệu chứng sốt, ớn lạnh hay đổ mồ hôi nhiều là dấu hiệu mất nước do đó người mắc bệnh viêm phổi cần uống đủ nước. Trong trường hợp mất nước nghiêm trọng, bệnh nhân cần nhập viện.

    Các bài thuốc có nguồn gốc tự nhiên sẽ giúp loại bỏ độc tố trong cơ thể, trị tận gốc nguyên nhân viêm phổi từ đó tăng cường sức đề kháng, phòng tránh tái phát. Theo đó lộ trình này, bệnh nhân nên lựa chọn bài thuốc Cao Bổ Phế Tâm Minh Đường – sản phẩm giúp trị viêm phổi một cách khoa học.

    Cao Bổ Phế được điều chế từ 8 vị thuốc được ví “bát dược bổ phế” cực quý hiếm cát cánh, trần bì, la bạc tử, kim ngân hoa, tang bạch bì, bách bộ, cải trời kinh giới. Trong đó vị thuốc chủ dược chính là trần bì (vỏ quýt khô) thảo dược kinh điển có tác dụng tạo trệ tiêu đàm, bổ khí huyết, phế khí, trừ hàn nhiệt.

    Nhờ sự cẩn trọng, tỉ mỉ từ khâu lựa chọn nguyên liệu cho tới khâu điều chế nên chỉ sau 2 – 3 liệu trình sử dụng Cao Bổ Phế trị viêm phổi bệnh nhân sẽ nhận được hiệu quả tích cực:

    • Cao giúp thanh nhiệt, tiêu viêm, giải độc đồng thời giảm thiểu triệu chứng viêm nhiễm, ho, khó thở, đau ngực do bệnh viêm phổi gây nên.
    • Tăng cường kháng thể IFN -y- trọng yếu ngăn ngừa virus, vi khuẩn nguyên nhân chính gây bệnh viêm phổi.
    • Chức năng Tạng – Tỳ – Phế được phục hồi, bệnh viêm phổi nhanh chóng cải thiện và duy trì sức khỏe tốt khi ngưng sử dụng cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phổi Nằm Ở Đâu Trong Cơ Thể? Hình Thể Ngoài Và Chức Năng
  • Cấu Tạo Của Phổi Như Thế Nào? Phổi Nằm Ở Đâu Và Có Chức Năng Gì?
  • Giải Phẫu Phổi: Phổi Nằm Ở Đâu, Cấu Tạo Phổi Và Màng Phổi
  • Phổi Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Phổi Là Gì?
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Protein
  • Giải Thích Cấu Tạo Của Phổi

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Các Chi Tiết Cơ Bản Của Cơ Cấu Phối Khí
  • Cấu Tạo Các Chi Tiết Cơ Bản Của Cơ Cấu Phối Khí 1
  • Cấu Tạo Hệ Thống Phối Khí Trên Động Cơ
  • Bài 24. Cơ Cấu Phân Phối Khí
  • Triệu Chứng Của Bệnh Ung Thư Phổi: Nhận Biết Càng Sớm Hiệu Quả Điều Trị Càng Cao
  • Phổi là cơ quan chính của hệ hô hấp, nơi trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường. Phổi có tính chất đàn hồi, xốp và mềm. Hai phổi phải và trái nằm trong lồng ngực, cách nhau bởi trung thất. Phổi phải lớn hơn phổi trái.Dung tích bình quân của phổi khoảng 5000ml khi hít vào gắng sức.

    I. Hình thể ngoài

    Phổi có dạng một nửa hình nón, được treo trong khoang màng phổi bởi cuống phổi và dây chằng phổi.

    Phổi có hai mặt, một đỉnh, một đáy và hai bờ. Mặt sườn lồi, áp vào thành ngực. Mặt trong là giới hạn hai bên của trung thất. Đáy phổi còn gọi là mặt dưới, áp vào cơ hoành.

    2. Đỉnh phổi

    Nhô lên khỏi lỗ trên của lồng ngực.

    Phía sau, đỉnh phổi ngang mức đầu sau xương sườn I. Phía trước, đỉnh phổi cao hơn phần trong xương đòn khoảng 3cm.

    3. Mặt sườn

    3.1. Đặc điểm chung của hai phổi

    – Áp sát mặt trong lồng ngực, có vết ấn của các xương sườn.

    – Có khe chếch chạy từ ngang mức gian sườn 3 ở phía sau xuống đáy phổi, chia phổi ra thành các thùy phổi. Mặt các thùy phổi áp vào nhau gọi là mặt gian thùy.

    – Trên bề mặt phổi có các diện hình đa giác to, nhỏ khác nhau; đó là đáy của các tiểu thuỳ phổi là đơn vị cơ sở của phổi.

    3.2. Đặc điểm riêng của từng phổi

    – Phổi phải có thêm khe ngang, tách từ khe chếch, ngang mức gian sườn 4, nên phổi phải có ba thuỳ: trên, giữa và dưới.

    – Phổi trái chỉ có khe chếch, nên phổi trái chỉ có hai thuỳ: trên và dưới. Ở phía trước dưới thuỳ trên, có một mẫu phổi lồi ra goi là lưỡi của phổi trái, ứng với phần thuỳ giữa của phổi phải.

    4. Mặt trong

    ặt trong hơi lõm, gồm hai phần:

    – Phần trước quây lấy các tạng trong trung thất, gọi là phần trung thất. Ở phổi phải, có một chỗ lõm gọi là ấn tim; còn phổi trái, có một hố sâu gọi là hố tim.

    + Giữa mặt trong của hai phổi, có rốn phổi hình vợt, cán vợt quay xuống dưới. Trong rốn phổi có các thành phần của cuống phổi đi qua như: phế quản chính, động mạch phổi, hai tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, các dây thần kinh và hạch bạch huyết.

    Ở rốn phổi phải, động mạch phổi nằm trước phế quản chính; còn ở phổi trái động mạch nằm trên phế quản chính. Hai tĩnh mạch phổi nằm trước và dưới phế quản chính.

    + Phía sau rốn phổi có rãnh tĩnh mạch đơn và ấn thực quản ở phổi phải và rãnh động mạch chủ ở phổi trái.

    + Phía trên rốn phổi có rãnh động mạch dưới đòn và rãnh thân tĩnh mạch cánh tay đầu.

    5. Các bờ

    5.1. Bờ trước

    Là ranh giới giữa mặt sườn và mặt hoành. Bờ trước nằm gần đường giữa, kéo dài từ đỉnh phổi đến đầu trong sụn sườn VI ở phổi phải, ở phổi trái có khuyết tim nên bờ trước kéo dài từ đỉnh phổi đến đầu trong sụn sườn số IV thì vòng ra ngoài đến sụn sườn VI.

    5.2. Bờ dưới

    Gồm hai đoạn:

    + Đoạn cong là ranh giới giữa mặt sườn và mặt hoành. Đoạn này lách sâu vào ngách sườn hoành.

    + Đoạn thẳng là ranh giới giữa mặt trong và mặt hoành.

    Sự phân chia của động mạch phổi

    2.1. Thân động mạch phổi

    Thân động mạch phổi bắt đầu đi từ lỗ động mạch phổi của tâm thất phải lên trên, sang trái và ra sau. Khi tới bờ sau quai động mạch chủ thì chia thành động mạch phổi phải và động mạch phổi trái.

    2.2. Động mạch phổi phải

    – Đi ngang sang phải, chui vào rốn phổi phải ở trước phế quản chính, rồi ra phía ngoài và cuối cùng ở sau phế quản.

    – Động mạch phổi phải cho các nhánh bên có tên gọi tương ứng với các thùy hoặc phân thuỳ mà nó cấp huyết:

    + Nhánh động mạch thuỳ trên: chia các nhánh đỉnh, nhánh sau xuống, nhánh trước xuống, nhánh trước lên, nhánh sau lên.

    + Nhánh động mạch thuỳ giữa: chia các nhánh bên và nhánh giữa.

    + Nhánh động mạch thuỳ dưới: chia các nhánh đỉnh của thuỳ dưới, nhánh đáy giữa, nhánh đáy trước, nhánh đáy bên, nhánh đáy sau.

    2.3. Động mạch phổi trái

    – Ngắn và nhỏ hơn động mạch phổi phải, đi chếch lên trên sang trái, bắt chéo mặt trước phế quản chính trái, chui vào rốn phổi ở phía trên phế quản thuỳ trên trái.

    – Động mạch phổi trái cũng cho các nhánh bên tương tự động mạch phổi phải, nhưng cũng có một vài điểm khác biệt:

    + Chỉ có một nhánh sau của thùy trên.

    + Nhánh ứng thùy giữa gọi là nhánh lưỡi, chia làm 2 là nhánh lưỡi trên và dưới.

    3. Sự phân chia của tĩnh mạch phổi

    – Hệ thống lưới mao mạch phế nang đổ vào tĩnh mạch quanh tiểu thùy, rồi tiếp tục thành những thân lớn dần cho tới các tĩnh mạch gian phân thùy hoặc tĩnh mạch trong phân thùy, các tĩnh mạch thùy, và cuối cùng họp thành hai tĩnh mạch phổi ở mỗi bên phổi, dẫn máu giàu ôxy đổ về tâm nhĩ trái. Hệ thống tĩnh mạch phổi không có van.

    – Ngoài các tĩnh mạch đi trong các đơn vị phổi như động mạch, các tĩnh mạch phổi thường đi ở chu vi hoặc ranh giới giữa các đơn vị phổi.

    – Hai tĩnh mạch phổi phải trên và trái trên nhận khoảng 4 hoặc 5 tĩnh mạch ở thuỳ trên (và giữa).

    – Hai tĩnh mạch phổi phải dưới và trái dưới nhận toàn bộ các tĩnh mạch của thuỳ dưới.

    4. Động mạch và tĩnh mạch phế quản

    – Là thành phần dinh dưỡng của phổi.

    – Động mạch phế quản nhỏ, là nhánh bên của động mạch chủ. Thường có một động mạch bên phải và hai ở bên trái.

    – Tĩnh mạch phế quản đổ vào các tĩnh mạch đơn, một số nhánh nhỏ đổ vào tĩnh mạch phổi.

    5. Bạch huyết

    Gồm nhiều mạch bạch huyết chạy trong nhu mô phổi, đổ vào các hạch bạch huyết phổi, cuối cùng đổ vào các hạch khí quản trên và dưới ở chổ chia đôi của khí quản.

    6. Thần kinh

    – Hệ thần kinh giao cảm: xuất phát từ đám rối phổi.

    – Hệ phó giao cảm: các nhánh của dây thần kinh lang thang.

    III. Màng phổi

    Là một bao thanh mạc gồm hai lá: màng phổi thành và màng phổi tạng. Giữa hai lá là ổ màng phổi, hai ổ màng phổi riêng biệt không thông với nhau.

    1. Màng phổi tạng

    Màng phổi tạng mỏng, trong suốt bao phủ toàn bộ bề mặt của phổi, ngoại trừ rốn phổi và dính chặt vào nhu mô phổi, lách cả vào các khe gian thuỳ. Ở rốn phổi, màng phổi tạng quặt ra để liên tiếp với màng phổi thành.

    2. Màng phổi thành

    Màng phổi thành phủ lên toàn bộ các thành của khoang chứa phổi. Bao gồm:

    – Màng phổi sườn: áp sát vào mặt trong lồng ngực, ngăn cách với thành ngực bởi lớp mô liên kết mỏng gọi là mạc nội ngực.

    – Màng phổi trung thất: là giới hạn bên của trung thất đi từ xương ức phía trước đến cột sống phía sau, áp sát phần trung thất của màng phổi tạng. Ở rốn phổi, màng phổi thành quặt lên liên tục với màng phổi tạng. Ranh giới của đường quặt này không chỉ bao quanh cuống phổi mà còn kéo dài xuống dưới đến tận cơ hoành và các cơ quan lân cận. Chính vì vậy rốn phổi có hình chiếc vợt, cán vợt quay xuống dưới là phần mà màng phổi dính với nhau tạo nên dây chằng phổi.

    – Màng phổi hoành: phủ lên mặt trên cơ hoành. Phần mạc nội ngực ở đây được gọi là mạc hoành màng phổi.

    – Đỉnh màng phổi là phần màng phổi thành tương ứng với đỉnh phổi. Phần mạc nội ngực ở đây được gọi là màng trên màng phổi. Đỉnh màng phổi được các dây chằng treo đỉnh màng phổi cố định vào cột sống cổ, xương sườn, xương đòn.

    3. Ổ màng phổi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Rốn Phổi Đậm Trên Phim Xquang Là Gì?
  • Rốn Phổi Đậm Là Bị Làm Sao? Rốn Phổi Mờ Là Gì?
  • Sử Dụng Sơ Đồ Cấu Tạo Câu Trong Dạy Bài “dùng Cụm Chủ Vị Để Mở Rộng Câu” Ngữ Văn 7 Nhằm Rèn Luyện Kĩ Năng Phân Tích Cấu Tạo Ngữ Pháp Của Câu Tiếng Việt Cho Học Sinh Thcs
  • Giải Bài Tập Trang 95 Sgk Sinh Lớp 6: Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hoa
  • Khám Phá 3 Chức Năng Của Hệ Tiêu Hóa Không Phải Ai Cũng Biết
  • Phổi: Vị Trí, Đặc Điểm, Cấu Tạo, 14 Bệnh Phổi Thường Gặp

    --- Bài mới hơn ---

  • Pin Lithium Là Gì? Phần 1: Lịch Sử Và Thành Phần Cấu Tạo Của Pin Lithium – Ion
  • Tìm Hiểu Về Cấu Tạo Của Một Cây Đàn Piano Cơ Grand
  • Nguyên Lý Hoạt Động Plc
  • Plc Là Gì ? Cấu Tạo, Nguyên Lý Hoạt Động Và Ưu Nhược Điểm Ra Sao
  • Plc Là Gì? Cấu Trúc, Nguyên Lý Hoạt Động Của Plc
  • Phổi (tiếng Anh: lung, tiếng Hindi: फेफड़ा) là một cơ quan thuộc hệ hô hấp. Phổi có trách nhiệm trao đổi không khí, đưa khí oxy vào trong máu để đưa tới não và các cơ quan cơ thể, đồng thời đẩy khí carbon dioxide (CO2) ra ngoài môi trường. 

    Vị trí của phổi, phổi nằm ở đâu

    Phổi nằm ở bên trong lồng ngực, xung quanh được bao bọc bởi xương sườn, xương ức, xương đòn và các . Phổi được ngăn cách với các cơ quan vùng bụng (gan, lách, dạ dày) bằng cơ hoành ở bên dưới.

    Không khí được đưa vào cơ thể qua khí phản ở giữa hai buồng phổi. Khí quản rẽ nhánh qua phế quản trái và phải. Phế quản trái và phải sẽ dẫn vào lá phổi trái và lá phổi phải. Hai lá phổi nằm bên trong ổ màng phổi.

    Tim nằm giữa hai lá phổi, ở vị trí trung thất, hơi lệch về bên trái. 

    Cấu tạo, đặc điểm của phổi

    Phổi – cấu tạo hình thể ngoài

    Giải phẫu phổi

    Phổi là cấu trúc nửa hình nón, được treo trong ổ màng phổi bởi cuống phổi và các dây chằng. Phổi có tạng xốp và đàn hồi. Khi giải phẫu, phổi trẻ em màu hồng, còn phổi người lớn có màu xanh hoặc xám. 

    Thể tích phổi

    Thể tích phổi phụ thuộc vào lượng khí (chủ yếu là oxy và carbon dioxide) chứa bên trong phổi. Khi hít vào, phổi sẽ căng ra còn khi thở ra, phổi sẽ xẹp lại. Phổi của một người bình thường có thể chứa tới 5 L không khí. 

    Khối lượng phổi

    Phổi to ra rất nhiều trong quá trình lớn lên và trưởng thành. Ở trẻ sơ sinh, phổi chỉ nặng khoảng 50 cho tới 60 grams, chứa 30 triệu phế nang. Khi người trưởng thành, khối lượng phổi tăng lên gấp 6-8 lần, nặng từ 300 cho tới 475 grams, tuỳ thể trạng mỗi người. Số phế nang cũng tăng lên khoảng 300 triệu. 

    Hình thái phổi

    Mỗi người có hai lá phổi, phổi trái và phổi phải. 

    Mỗi lá phổi lại có các thuỳ. Bên trái có hai thuỳ, thuỳ trên (5a) và thuỳ dưới (5b). Phổi bên phải là được chia ra làm ba thuỳ, thuỳ trên (4a), thuỳ giữa (4b), thuỳ dưới (4c). 

    Mỗi phổi có một đỉnh, một đáy, và ba mặt. Các phần này được ngăn cách bởi các bờ. 

    Mặt sườn của phổi, đúng như tên gọi, hướng về xương sườn ở bên trái (nếu là phổi trái) và ở bên phải (nếu là phổi phải). Mặt sườn nhẵn, lồi, áp sát vào mặt trong lồng ngực. Nhìn vào mặt sườn ta có thể thấy các vết ấn lõm của xương sườn.

    Mặt trung thất của phối hướng về trung thất của tim. Đây còn được gọi là mặt trong. Mặt này lõm sâu, do có ấn tim. Trên ấn tim có rốn phổi.

    Mặt hoành hướng về phía cơ hoành ở bên dưới phổi. Mặt này lõm, úp lên vòm cơ hoành. Nơi đây là nơi phổi tiếp xúc với gan. Do đặc điểm cấu trúc này mà đôi khi phổi có thể bị viêm nhiễm nếu người có bệnh gan.

    Mặt trên của phổi được gọi là đỉnh phổi. Đỉnh tròn, cao hơn lồng ngực một chút. Động mạch dưới xương đòn vắt ngang qua đỉnh màng phổi. Sau đỉnh màng phổi có hạch giao cảm cổ ngực.  

    Phổi – cấu tạo hình thể trong

    Mỗi lá phổi có một phế quản chính dẫn khí từ khí quản vào phổi, một động mạch và hai tĩnh mạch. Hệ thống mạch máu chia ra tựa nhánh cây, mạch và ống lớn nhất ở khu vực trung thất, và nhỏ dần, nhỏ dần, cho tới cực nhỏ phía ngoài cùng của lá phổi. Phổi còn có rất nhiều các dây thần kinhmạch bạch huyết.

    Chức năng của phổi

    Nhiệm vụ chính của phổi là trao đổi không khí, do mạng lưới dày đặc các mao mạch của phế nang đảm nhiệm. Khí oxy và khí carbon dioxide (CO2) có chênh lệch áp suất. Không khí sẽ đi theo hướng từ nơi áp suất cao tới nơi áp suất thấp hơn. Chính vì vậy, oxy sẽ đi từ phế nang vào máu.

    Hemoglobin của hồng cầu tiếp nhận oxy và chuyển tới khắp cơ thể. Máu giàu oxy ở động mạch cũng vì thế mà có màu đỏ tươi. Ngược lại, khí CO2 sẽ đi từ máu vào phế nang, và được thải ra ngoài khi người thở ra. 

    Ngoài trao đổi không khí, phổi còn có chức năng lọc. Bên trong khí quản và phế quản có một lớp tế bào tiêm mao rất mịn và một lớp màng nhầy mỏng. Tạp chất, ví dụ như bụi, hạt phấn hoa, các loại chất bẩn khác, sẽ bị dính lại ở lớp màng nhầy. Các nhung mao, tựa như bàn chải, chuyển động và đẩy tạp chất lên, đưa sang thực quản để xuống dạ dày, và từ đó thải ra ngoài qua hệ bài tiết.

    Phổi còn có thể bảo vệ cơ thể qua miễn dịch. Ở trên lòng phế nang, phế quản, và các mạch có một lớp tế bào biểu mô và tế bào nội mô. Các tế bào này ngăn nước và các phân tử protein xâm nhập mô kẽ. Mô kẽ có chứa các kháng thể bảo vệ cơ thể khỏi tác nhân gây bệnh. Việc ngăn nước và protein vào khu vực này đảm bảo chức năng cho phổi.

    Trong quá trình phản ứng miễn dịch, trong phổi có thể có xác bạch cầu và xác vi khuẩn. Chúng sẽ được đào thải ra khỏi cơ thể qua đờm. 

    14 loại bệnh phổi thường gặp

    1. Áp xe phổi (Lung abscess)

    Áp xe là các ổ dịch mủ có chứa mủ, xác bạch cầu và các vi khuẩn, virus. Áp xe được hình thành khi phổi bị viêm cấp tínhmô phổi bị hoại tử. Thường thì vi khuẩn là tác nhân chính gây nên bệnh áp xe phổi, tuy nhiên trong một vài trường hợp, áp xe phổi có thể do các kí sinh trùng như giun sán gây nên.

    Áp xe phổi xảy ra ở mọi đối tượng nhưng thường phổ biến hơn ở lứa tuổi trung, cao niên. Áp xe phổi nguyên phát là việc các ổ dịch mủ hình thành trên phổi lành, chưa từng bị nhiễm bệnh trước đó. Áp xe phổi thứ phát xuất hiện do các triệu chứng khác ở phổi gây tổn thương mô phổi, ví dụ như lao phổi, giãn phế quản phổi, v.v…

    Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như chụp X-quang hay chụp CT giúp phát hiện áp xe phổi sớm. Nếu bệnh nhân không điều trị sớm thì sẽ có nhiều biến chứng nguy hiểm: ho ra máu, tràn mủ màng phổi, nhiễm trùng máu, xơ phổi, thậm chí cả áp xe não

    2. Bụi phổi (Silicosis) 

    Bệnh bụi phổi là một bệnh nghề nghiệp của những người làm việc tại công trường xây dựng và mỏ quặng. Bụi độc đến từ a-mi-ăng, cát, đá, than. Khi chúng bay vào trong phổi qua đường hô hấp, những hạt li ti này sẽ làm xước phổi, tạo sẹo, gây nhiễm trùng.

    Bệnh tiến triển chậm nên người có bệnh có thể làm tại những môi trường này trong vài chục năm mà không thấy dấu hiệu gì đặc biệt. Tuy nhiên, điều nguy hiểm của bệnh này là một khi đã bộc phát, bạn sẽ có nhiều cơn ho, khó thở, tức ngực. Bệnh bụi phổi sẽ dẫn đến chứng hen suyễn hay chứng phổi tắc nghẽn mãn tính

    Bạn cần đến cơ sở y tế gần nhất đề được kê thuốc, và nếu cần thiết thì sử dụng khí oxy bổ trợ và luyện tập các liệu pháp hô hấp. 

    3. Hen suyễn (Asthma)

    Trong bệnh hen suyễn, khí quản và phế quản thường xuyên viêm nhiễm, tắc nghẽn, gây nên các triệu chứng như thở rít, tức ngực và khó thở

    Đây là bệnh mãn tính. Triệu chứng bệnh hen suyễn có thể xuất hiện khi người bệnh hen có tiếp xúc với nguồn khí ô nhiễm, chất gây dị ứng. Bệnh hen suyễn thường trở nặng vào mùa xuân do độ ẩm không khí cao, môi trường có nhiều bọ bụi nhà, nhiều phấn hoa, nấm, mốc. 

    4. Lao phổi (Tuberculosis)

    Lao phổi là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis gây nên. Ở thể lao tiềm ẩn, người bệnh đã nhiễm vi khuẩn nhưng do cơ chế miễn dịch của cơ thể còn tốt, họ không có triệu chứng và cũng không lây cho người xung quanh. Ở thể lao bệnh, vi khuẩn sinh sôi nảy nở và tấn công phổi. Người bệnh có biểu hiện ho dai dẳng, giảm cân, sụt cân, chán ăn, cơ thể mệt mỏi, sốt, ra mồ hôi trộm, khó thở và đau ngực. 

    Những người có hệ miễn dịch kém, có nhiều bệnh nền và hút thuốc lá có nguy cơ mắc bệnh lao phổi cao. Bệnh lao phổi có thể được chẩn đoán qua xét nghiệm máu, chụp X-quang, hay phương pháp nuôi cấy vi khuẩn. 

    Bệnh lao được điều trị bằng thuốc. Để phòng tránh bệnh và tránh lây cho người xung quanh khi nhiễm bệnh, bạn nên thường xuyên rửa tay sạch, đeo khẩu trang, ăn uống và tập luyện cân bằng, tránh xa thuốc lá và các chất kích thích, cũng như thường xuyên kiểm tra định kì. 

    5. Phổi tắc nghẽn mãn tính (Chronic obstructive pulmonary disease)

    Bệnh này được gọi là COPD trong tiếng Anh. Khói thuốc (thuốc lá, thuốc lào, v.v…) hay các loại khói bụi trong môi trường thâm nhập vào trong phổi, làm tắc nghẽn khí quảnphế quản. Đường thở bị kích ứng nên tiết nhiều chất nhầy. Lớp lông chuyển (nhung mao) bị tổn thương nên giảm khả năng đẩy đờm và chất nhầy ra ngoài cơ thể.

    Do tính chất mãn tính của bệnh lý, khí quản và phế quản không thế hồi phục lại mà thậm chí diễn biến xấu dần theo thời gian nếu môi trường không được thay đổi.

    Đối với trẻ em, gia đình nên đưa bé đi tiêm phòng các bệnh về đường hô hấp. Các bệnh lý hô hấp ở trẻ nhỏ có thể gây tắc nghẽn phổi mãn tính khi trường thành.

    Người có bệnh nên bỏ hút thuốc lá chủ động, cũng như tránh ở gần những người hút thuốc để không bị hít khói thụ động. Môi trường sống và làm việc nên thoáng, sạch. Trong nhà có thể bố trí máy lọc khí, mở cửa sổ, bật quạt. Ở nơi lao động, bạn có thể mặc đồ bảo hộ cẩn thận. 

    6. Phù phổi (Pulmonary edema)

    Hiện tượng phù nề xảy ra khi túi khí ở phổi tồn đọng quá nhiều chất lỏng. Đây là một hiện tượng nguy hiểm. Bạn sẽ cảm thấy tim đập nhanh, ngột ngạt khó thở, và khó chịu khi nằm ngang. Cơ thể sẽ kích thích việc ho nhằm đẩy các chất lỏng này ra ngoài, nên bạn có thể ho sùi bọt mép hoặc ra máu. 

    7. Suy hô hấp (Respiratory distress)

    Hội chứng suy hô hấp chỉ xảy ra ở trẻ sơ sinh thiếu tháng. Do sinh non, cơ thể bé chưa phát triển đầy đủ. Chất hoạt động bề mặt phổi chưa được tạo ra và không thể giúp mở phổi. 

    Với chứng bệnh này, trẻ có biểu hiện khó thở và các bộ phận khắp cơ thể không nhận đủ khí oxy. Bé sẽ thở nông, thở gấp, lỗ mũi tấy đỏ, và da không hồng hào. 

    Các bé suy hô hấp sẽ được chăm sóc đặc biệt tại bệnh viện, được gắn ống thở cho tới khi cơ thể tạo ra chất hoạt động bề mặt và bé biết tự thở bình thường. 

    8. Thuyên tắc phổi (Pulmonary embolism)

    Thuyên tắc phổi là hiện tượng cục máu đông, thường hình thành từ dưới chân, di chuyển lên phổi. Cục máu đông cản trở dòng máu chảy và việc trao đổi không khí ở phổi. Việc tắc nghẽn, về lâu dài, gây tổn thương đến các mô phổi

    Cục máu đông có thể được làm tan ra bằng việc sử dụng thuốc chống đông máu, ví dụ như Aspirin. Trường hợp nghiêm trọng cần có can thiệp của phẫu thuật. 

    9. U hạt (Sarcoidosis)

    Đúng như tên gọi của bệnh, u hạt là những u nhỏ dạng hạt. Những u hạt này phát triển trong phổi của bạn khi cơ thể có phản ứng miễn dịch đối với bụi bẩn và tạp chất trong không khí. 

    Trong quá trình bộc phát bệnh, bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi, thở khò khè, tức ngực, ho khan, và có biểu hiện sốt. Bệnh sẽ tự thuyên giảm và biến mất sau một thời gian, khi tác nhân bụi bẩn không còn trong môi trường của bạn nữa.

    Để phòng tránh bệnh này, bạn nên giữ cho môi trường sống sạch sẽ, thoáng mát. Trong trường hợp nặng và thường xuyên tái phát, bác sĩ có thể kê thuốc để giúp bạn kiểm soát bệnh.

    10. Ung thư phổi (Lung cancer)

    Ung thư có thể xảy ra ở mọi cơ quan của cơ thể, khi tế bào phát triển không kiểm soát. Các tế bào ung thư phát triển ở một cỡ nhất định sẽ tạo nên khối u ung thư. 

    Ung thư phổi là hiện tượng khối u ác tính phát triển ở biểu mô phế quản. Bệnh được chia ra làm hai loại, là ung thư phổi tế bào nhỏ, và ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Do tính ác của bệnh, hiện nay phương pháp điều trị còn gặp nhiều khó khăn. 

    Để phòng tránh ung thư phổi, bạn cần từ bỏ hút thuốc lá, thuốc lào, cải thiện môi trường sống và môi trường làm việc.

    11. Viêm phế mạc (Pleurisy) 

    Viêm phế mạc còn được gọi là viêm màng phổi. Phế mạc chỉ màng phổi, là các mô ở bên ngoài phổi hoặc bên trong lồng ngực. Khi các mô này viêm nhiễm, sưng tấy, chúng sẽ cọ xát vào nhau và gây nên hiện tượng đau buốt ngực. Khi bạn thở, phổi sẽ nở ra, chạm gần với lồng ngực hơn. Như vậy, việc thở sẽ khiến cho cơn đau buốt trở nên trầm trọng hơn.

    Nguyên nhân gây bệnh là có virus, vi khuẩn, nấm. Ngoài ra, chấn thương vùng phổi và xương sườn, cũng như bệnh tật và phản ứng phụ của thuốc có thể gây nên viêm phế mạc. 

    Phác đồ điều trị ra sao phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. Nếu bạn bị viêm phế mạc do vi khuẩn, bác sĩ sẽ kê thuốc kháng sinh. Nếu viêm phế mạc do phản ứng phụ của thuốc, bác sĩ sẽ cần đổi cho bạn sang một loại thuốc khác. 

    12. Viêm phế quản (Bronchitis)

    Phế quản là ống dẫn khí từ ngoài vào đến phổi. Phế quản có thể bị viêm do người bệnh mắc cảm lạnh, cúm nặng, hay dị ứng với phấn hoa và khói thuốc. 

    Nếu bạn ho khan, ho có đờm dai dẳng (quá 3 tuần), bạn nên đến bác sĩ để được kiểm tra. Viêm phế quản trở nặng nếu bạn có triệu chứng sốt và ho ra đờm kèm máu. Khi này, bạn cần được bác sĩ kê thuốc kịp thời. 

    Để phòng chống và điều trị viêm phế quản, bạn có thể luyện tập cách thở sâu, theo phương pháp thiền hay Yoga. 

    13. Viêm phổi (Pneumonia) 

    Vi khuẩn, virus, nấm, v.v… có thể xâm nhập vào nhu mô phổi và gây viêm phổi. Bệnh này xảy ra ở tất cả mọi lứa tuổi, nhưng nguy hiểm nhất khi nó xảy ra ở người cao tuổi, người có bệnh mãn tính, người miễn dịch kém, và trẻ nhỏ. Viêm phổi là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em.

    Triệu chứng hay gặp ở viêm phổi là sốt, ho có đờm, tức ngực, khó thở. Do nó rất giống với các triệu chứng cảm lạnh và cúm, người mắc bệnh thường không đi khám sớm. 

    Các bệnh nền khác có thể là nguyên nhân gây viêm phổi. Ví dụ, như miêu tả ở phần cấu tạo phổi, mặt hoành của phối tiếp xúc với gan. Mủ của áp xe gan có thể tràn qua cơ hoành, qua ổ màng phổi và đi vào phổi, gây viêm nhiễm. 

    14. Xơ hoá phổi (Pulmonary fibrosis)

    Xơ hoá phổi là hiện tượng dày lên và xơ cứng ở các mô bên trong phổi. Phổi vốn là một cơ quan có tính đàn hồi cao nhằm đẩy khí oxy vào, khí CO2 ra qua chênh lệch áp suất. Xơ cứng khiến cho phổi khó co giãn, cản trở việc trao đổi không khí giữa cơ thể và môi trường bên ngoài. 

    Nguyên nhân gây nên bệnh chưa được xác định rõ, nhưng các yếu tố di truyền (gia đình có tiền sử xơ hoá phổi và các bệnh khác về phổi) hay yếu tố cuộc sống (virus, khói thuốc, khói bụi) có thể gây nên bệnh. 

    Người bệnh sẽ thường xuyên khó thở, và ho khan dai dẳng. Việc thiếu khí trong thời gian dài có thể đe doạ tới tính mạng người bệnh. Người bệnh nên đi khám và nghe theo sự chỉ đạo của bác sĩ để kiểm soát triệu chứng bệnh của mình. 

    Cách chăm sóc và bảo vệ cho phổi của bạn luôn được khoẻ mạnh

    Bạn hãy thực hiện các điều sau để chăm sóc và bảo vệ cho phổi của bạn luôn được khoẻ mạnh:

    • Tập thể dục, chơi thể thao thường xuyên. Các bài tập aerobic giúp làm tăng nhịp tim và nhịp thở, khiến phổi của bạn hoạt động mạnh hơn.

    • Luyện tập thở. Việc thở mạnh, thở sâu sẽ giúp luyện tập cơ phổi khoẻ mạnh hơn. Nhiều người không có thói quen thở đúng nên chỉ thở bằng ngực (thở nông) và sử dụng một phần rất nhỏ dung tích phổi. Cách thở đúng, là cách thở của các em bé, là cách thở bằng bụng. Việc thở sâu sẽ giúp sử dụng phổi hiệu quả hơn, và làm sạch phổi. Bạn nên cố gắng tập thở để thời gian thở ra dài bằng hai lần thời gian thở vào. Ví dụ, khi thở vào bằng mũi, bạn đếm 1-2-3-4. Khi thở ra, bạn đếm 1-2-3-4-5-6-7-8. Khi hít vào, thở ra, bạn sẽ để ý thấy bụng mình nâng lên và hạ xuống theo từng nhịp thở. Việc thở sâu cũng giúp bạn thư giãn tinh thần sau những ngày làm việc mệt mỏi.
    • Không hút thuốc lá hay thuốc lào. Trong khói thuốc có chứa rất nhiều tác nhân gây hại. Hút thuốc nhiều, dù chủ động hay thụ động, sẽ đưa các tác nhân này vào trong phổi, gây trầy xước, viễm nhiễm phổi.
    • Tránh những nơi ô nhiễm. Bạn không nên ở gần người hút thuốc lá, hay tập chạy trên những cung đường ô nhiễm. Nếu môi trường làm việc của bạn có nhiều tác nhân ô nhiễm (như nhà máy, công trường), hãy mặc đồ bảo hộ và đeo khẩu trang. 

    • Thường xuyên lau chùi, hút bụi nhà cửa, đồ đạc. 
    • Mở cửa sổ, cửa ra vào mỗi khi có thể để làm thoáng không khí trong nhà. Trong nhà nên có đủ quạt và máy hút và các lỗ thông gió.
    • Nếu bạn muốn làm thơm nhà, hãy sử dụng các sản phẩm tinh dầu từ thiên nhiên. Tránh các sản phẩm xịt thơm hoá học vì các sản phẩm này có chứa formaldehyde và benzene, có thể gây dị ứng, tuỳ theo cơ địa mỗi người.
    • Rửa tay sạch thường xuyên. Tránh đưa tay lên mặt quá nhiều, vì tay bạn có thể dính bụi, phấn hoa, virus, vi khuẩn.
    • Sử dụng các thực phẩm tốt cho phổi:

      • Rau: bông cải xanh, súp lơ, bắp cải, cà rốt, rau chân vịt, măng tây
      • Trái cây: kiwi, cam, dâu, chanh, những loại trái cây nhiều vitamin C
      • Gia vị: gừng, tỏi, tam thất, mật ong 
    • Hãy đi khám nếu bạn có các triệu chứng sốt, ho, khó thở, nhiều đờm. 

    Lời kết

    Phổi là một cơ quan thiết yếu của cơ thể. Mỗi hơi thở là một nguồn khí oxy quý giá, duy trì sự sống của các cơ quan trong cơ thể.

    Qua bài viết này, chúng tôi tin rằng bạn đã có thêm những kiến thức thiết thực về vị trí, cấu tạo, các bệnh thường gặp ở phổi, cũng như các phương thức bảo vệ và chăm sóc cho hai lá phổi. Chỉ bằng những hành động rất đơn giản như ăn nhiều rau và trái cây, hay luyện tập thở sâu, bạn có thể chăm sóc lá phổi tốt hơn ngay từ hôm nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Chức Năng Của Protein
  • Cấu Trúc Và Hoạt Động Hóa Học Trong Viên Pin
  • Công Nghệ Oled Là Gì? Tivi Oled Đem Lại Lợi Ích Gì Cho Người Xem?
  • Oled Là Gì? Tất Tần Tật Về Công Nghệ Oled – Màn Hình Quảng Cáo Nguyên Phong
  • Phân Tích Chi Tiết Về Công Nghệ Oled: Về Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động
  • Phổi Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Phổi Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Phẫu Phổi: Phổi Nằm Ở Đâu, Cấu Tạo Phổi Và Màng Phổi
  • Cấu Tạo Của Phổi Như Thế Nào? Phổi Nằm Ở Đâu Và Có Chức Năng Gì?
  • Phổi Nằm Ở Đâu Trong Cơ Thể? Hình Thể Ngoài Và Chức Năng
  • Phổi Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo, Chức Năng Của Phổi
  • Vị Trí Phổi Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Phổi Là Gì?
  • Phổi là cơ quan quan trọng chịu trách nhiệm hô hấp cho con người. Nó cũng đóng vai trò quyết định sự sống trong cơ thể. Chúng ta có thể không ăn một ngày nhưng không thể ngừng thở quá vài phút. Cùng tìm hiểu cấu tạo của phổi và chức năng hoạt động trong bài viết này.

    Phổi nằm ở đâu?

    Phổi là cơ quan có chức năng trao đổi khí của cơ thể và môi trường bên ngoài. Vị trí của phổi là nằm bên trong lồng ngực. Phổi có tính chất đàn hồi, mềm và xốp giúp đưa oxy trong không khí vào tĩnh mạch, đồng thời đưa khí cacbon dioxit từ động mạch ra bên ngoài. Bên cạnh đó, phổi còn có một số khả năng thứ yếu như là giúp lọc bỏ độc tố trong máu, chuyển hóa các chất sinh hóa học. Phổi cũng có khả năng lưu trữ máu bên trong.

    Trong cơ thể chia cấu tạo của phổi thành 2 buồng phổi được xương sườn, xương ức, các gân cơ bao bọc xung quanh, phía bên dưới có cơ hoành ở giữa phổi và các cơ quan khác trong ổ bụng. Khí quản nằm ở giữa hai buồng phổi có cấu trúc là ống dẫn khí chính. Bên cạnh đó hơi chếch về bên trái là quả tim. Để nắm rõ hơn về cấu tạo của phổi, chúng ta sẽ thực hiện giải phẫu phổi theo hình thể bên ngoài và bên trong, vi thể phổi.

    Hình thể bên ngoài

    Nhìn từ bên ngoài, phổi có hình dạng giống một nửa chiếc nón có ba mặt, một đỉnh và hai bên bờ. Mặt bên ngoài của phổi hơi lồi và áp vào thành ngực, mặt bên trong có giới hạn là trung thất. Mặt bên dưới thì áp vào cơ hành được gọi là đáy phổi.

    Cấu tạo bên trong

    Trong buồng phổi phía bên trái có hai thùy và ba thùy ở bên phải và mỗi bên có một phế quản chính, 2 tĩnh mạch và 1 động mạch. Các ống dẫn động mạch và tĩnh mạch chia làm nhiều nhánh giống như một cây lớn với chi chít nhánh nhỏ ở giữa ngực và cực nhỏ ở bên ngoài cùng buồng phổi. Ở đây luôn kèm theo các mạch bạch huyết và dây thần kinh.

    Cấu tạo vi thể của phổi

    Phổi được cấu tạo bởi các đơn vị tiểu thùy phổi. Tiểu thùy phổi là những khối hình tháp bé với thể tích 1cm khối. Chúng được hình thành bởi các sự phân nhánh của các động mạch, tĩnh mạch phổi, động mạch tĩnh mạch phế quản và các sợi thần kinh, các mô liên kết đàn hồi.

    Trong tiểu thùy phổi, phế quản tiểu thùy phân chia thành các ống nhỏ với tên gọi là tiểu phế quản tận dẫn đến khoảng nhỏ tiền đình. Từ tiền đình tỏa ra các ống dẫn phế nang đưa đến thùy phễu. Thùy phễu có cấu tạo bởi các nang bé có đường kính 0,1 – 0,2 mm giống tổ ong. Người trưởng tành có khoảng 400 – 500 triệu phế nang giúp bề mặt hô hấp tăng lên gấp nhiều lần. Thành của phế nang nhiều sợi đàn hồi và rất mỏng được bao bọc nhờ lưới mao mạch dày đặc. Ở đây thực hiện quá trình trao đổi khí giữa máu và không khí bên ngoài. Máu sẽ thải CO2 và biến sắc đỏ thẫm thành đỏ tươi.

    Theo cấu tạo của phổi, màng phổi gồm hai lá: Lá thành và lá tạng được hình thành bởi mô liên kết xơ mỏng. Đồng thời chúng được lợp bởi lớp trung biểu mô với nhiều mạch bạch huyết và mao mạch máu xung quanh.

      Màng phổi thành: Lá thành của màng phổi nằm bao quanh mặt trong của cơ hoành và thành ngực được chi phối bởi dây thần kinh hoành và dây thần kinh liên sườn.
      Màng phổi tạng: Lá tạng bao quanh mặt phía ngoài của phổi và được dây thần kinh giao cảm và phó giao cảm kiểm soát.
      Ổ màng phổi: Hai lá này áp sát và nối tiếp với nhau tại phần rốn phổi nên tạo thành khoang màng phổi. Những tình trạng như tràn khí màng phổi, tràn dịch màng phổi có thể làm cho hai lá này tách rời nhau tạo thành khoang thực chứa dịch hoặc khí.

    Chức năng của phổi

    Như chúng ta đã biết, các cơ quan trong cơ thể có thể hoạt động được đều là nhờ vào việc vận chuyển oxy từ phổi vào các tế bào. Do đó, phổi là cơ quan tiếp xúc trực tiếp với không khí bên ngoài. Nên phổi dễ dạng bị môi trường tác động gây lây nhiễm bệnh. Do đó, ở phổi có nhiều chức năng cản phá lại những nguy hại từ tác nhân bên ngoài.

    Như vậy, chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng của lá phổi với sự sống của con người. Nếu bạn đã nắm được cấu tạo của phổi cũng như chức năng phổi thì điều tiên quyết cần làm chính là có chế độ bảo vệ nó. Cụ thể như tránh không tiếp xúc với không khí độc hại, khói bụi, môi trường hóa chất, từ bỏ thuốc lá. Giữ ấm cơ thể không để bị nhiễm lạnh, có chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý. Thường xuyên tới các cơ sở y tế thăm khám định kỳ để kiểm tra việc hoạt động của phổi.

    Cập nhật lần cuối

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Protein
  • Tính Chất Hoá Học, Công Thức Cấu Tạo Của Peptit Và Protein
  • Cấu Tạo Của Pin Điện Thoại Và Hoạt Động Ra Sao? Như Thế Nào?
  • Cấu Tạo Pin Năng Lượng Mặt Trời
  • Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Tấm Pin Năng Lượng Mặt Trời Solar Panel
  • Phổi Nằm Ở Đâu Trên Cơ Thể Người? Cấu Tạo Và Chức Năng

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Hội Chứng Hình Ảnh Trên Phim Phổi Thông Thường: Hình Thái, Chức Năng, Cấu Tạo Sinh Lý
  • Tràn Dịch Màng Phổi Là Gì, Có Nguy Hiểm Không, Có Chữa Được Không?
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Phế Quản
  • Tiết 49: Đồ Dùng Loại Điện
  • Bài 44. Đồ Dùng Loại Điện
  • Vị trí của phổi nằm 1 chút về phía sau của cơ thể người, ngay dưới xương đòn, được kéo dài xuống cơ hoành, được phân vùng cơ ngăn cách giữa khoang ngực và bụng. Phổi trái và phổi phải nằm ở hai bên của cơ thể cùng với tim – một cơ quan quan trọng nằm trong khoang ngực.

    Phổi được định nghĩa là cơ quan có hình nón chứa đầy không khí, có tính chất xốp, xẹp xuống khi không có không khí. Đây được xem là một trong những cơ quan hô hấp quan trọng nhất của cơ thể, nơi đây giúp cơ thể người trao đổi không khí với môi trường. Khi không khí được hít vào phổi sẽ đi qua khí quản, qua phế quản và tiểu phế quản.

    Các tiểu phế quả cuối cùng trong cụm túi khí siêu nhỏ ở phổi được gọi là phế nang. Trong phế nang, Oxy từ không khí được hấp thụ vào máu. Và Carbon dioxide được thải ra môi trường sau quá trình trao đổi chất.

    Phổi nằm bên nào?

    Con người chúng ta gồm có hai lá phổi, phổi trái và phổi phải. Chúng có kích thước khác nhau và được chia thành nhiều thùy.

    Phổi được bao phủ bởi một lớp mô mỏng được gọi là màng phổi. Các loại mô mỏng tương tự bên trong khoang ngực cũng được gọi là màng phổi. Một chất lỏng mỏng được sinh ra, hoạt động như một loại chất bôi trơn và cho phép phổi trượt trơn tru khi chúng giãn nở và co lại theo từng hơi thở.

    Phổi trông như thế nào?

    Một lá phổi khỏe mạnh ở con người là có vẻ bên ngoài hồng hào, không bị đen, và nếu nhìn phổi từ bên ngoài cơ thể thì nó giống như một cấu trúc cao su, mềm mại, xốp.

    Cấu trúc và giải phẫu phổi

    Mỗi phổi đều có đỉnh phổi, đáy phổi, rốn phổi, giúp cho phổi kết nối với các bên của ngực.

    Đỉnh là điểm cao nhất nằm phía trên xương sườn thứ nhất, kéo dài qua khe hở trên của khoang ngực.

    Các cấu trúc bao gồm phế quản, tĩnh mạch phế quản và động mạch phổi. Các dây thần kinh (trước và sau) và các mạch bạch huyết kết hợp với nhau để tạo thành rễ của phổi. Rễ này không chỉ kết nối hai phổi với nhau mà còn giữ chúng lơ lửng trong khoang ngực.

    Giải phẫu phân đoạn

    Ở người trưởng thành, mỗi lá phổi dài từ 25cm – 30cm, phổi phải lớn hơn phổi trái 1 chút vì có 3 thùy còn phổi trái chỉ có 2

    Nếu bề mặt của phổi có thể trải bằng phẳng , tổng diện tích bề mặt của hai lá phổi với nhau sẽ lớn hơn 40 lần so với bề mặt ngoài của cơ thể, khiến chúng trở thành một trong nhưng cơ quan lớn nhất.

    • Phổi phải: được chia thành từng thùy trên, giữa và dưới. Chúng được chia thành 10 phân đoạn
    • Phổi trái: nhỏ hơn một chút so với phổi phải (để tạo không gian cho tim) và được chia thành các thùy trên và dưới. Mặc dù chỉ có 2 thùy, thùy trên có hình chiếu, được gọi là lingual có tác dụng tương đương thùy giữa của phổi phải.

    Bề mặt và biên giới của phổi

      Khoang màng phổi và màng phổi

    Màng phổi là màng tế bào 2 lớp chứa đầy chất lỏng bao phủ phổi, cung cấp một lớp đệm để bảo vệ khỏi chấn thương và cũng để tạo thuận lợi cho quá trình hô hấp. Có 2 màng phổi trong cơ thể người, bao phủ hai phổi.

      Khoảng trống giữa 2 lá phổi

    Khu vực xung quanh giữa ngực, giữa túi màng phổi phải và trái, được gọi là trung thất. Không gian được chia thành trung thất thấp và cao.

    Đây là tấm cơ lồi hoặc hình vòm mà cả 2 cơ sở phổi nằm trên nó. Bề mặt cơ hoành của 2 lá phổi có hình dạng lõm để phù hợp với hình dạng của cơ hoành. Một trong những cơ quan khá quan trọng trong trong hệ hô hấp. Nó ngăn cách khoang ngực với khoang bụng.

      Ba bề mặt phổi nằm ở đâu
    • Bề mặt trước sườn: Bề mặt lồi, nhẵn, đối diện với bề mặt bên trong của thành ngực.Nó bao phủ khu vực lớn nhất trong số ba bề mặt của phổi. Bề mặt trước sườn giữ cho nó tách khỏi xương sườn và các cơ quan liên sườn.
    • Bề mặt trung thất: Nó ở giữa phổi trái và phổi phải, có chứa Hilum. Nó cung bao phủ 1 phần của phổi bên cạnh tim. Phổi trái có vết lõm sâu, được gọi là rãnh tim, dọc theo bề mặt trung thất của nó để tạo khoảng trống cho đỉnh của tim.
    • Bề mặt cơ hoành: Như tên gọi, đây là bề mặt đáy, đối diện cơ hoành. Phổi phải có đáy lõm sâu xuống hơn vì nó được đặt ở vị trí cao hơn để tạo khoảng trống cho gan nằm bên dưới.

    Khu vực hô hấp của phổi nằm ở đâu:

    Cấu trúc trong phổi chịu trách nhiệm trực tiếp cho chức năng hô hấp. Nó bao gồm các ống phế quản, mạch máu, phế nang và ống phế nang.

    Từ khí quản đến phổi, được phân chia thành phế quản chính trái và phải, sau đó đi vào phổi trái, phổi phải tương ứng.Trong phổi, phế quản chia thành các ống hẹp hơn gọi là tiểu phế quản, sau khi đó lại phân nhánh thành phế nang. Cấu trúc phức tạp này trong phổi được gọi là cây phế quản. Cả phế quản và tiểu phế quản đều được bao quanh bởi các vòng sụn hyaline để giúp chúng giữ đc hình dạng.

    Các túi nhỏ chứa đầy không khí, phế nang là đơn vị hoạt động chính của phổi, nơi trao đổi khí giữa cơ thể và không khí bên ngoài. Mỗi người khỏe mạnh có từ 300 đến 700 triệu phế nang, có nghĩa là có khoảng 150 – 350 triệu phế nang trong mỗi lá phổi.

    Các thành bên trong của phế nang được lót bằng một lớp nước mỏng và chất hoạt động bề mặt, được gọi là chất hoạt động bề mặt phổi, một hỗn hợp Protein – lipid được tiết ra bởi các tế bào phế nang, nó đóng vai trò quan trọng trong việc giảm sức căng bề mặt của phế nang để ngăn chặn chúng bị đổ vỡ trong quá trình trao đổi khí. Ngoài ra còn giúp phổi duy trì hình dạng của nó.

    Mỗi phổi có một động mạch phổi và hai tĩnh mạch phổi. Động mạch phổi mang máu thiếu Oxy đến phổi để tiếp nhận Oxy và sau đó được đưa trở lại vào tim bởi các tĩnh mạch phổi.

    Thường thì sẽ có 2 động mạch phế quản ở bên trái và bên phải, để cung cấp lượng máu giàu Oxy cho các bộ phận trong phổi: rễ phổi, màng phổi, phế quản, các mô hỗ trợ, ….

    Tổng dung tích phổi

    Tổng dung tích phổi của 1 người bình thường trưởng thành là 6 lít

    Phổi chịu trách nhiệm cho việc hít vào và thở ra không khí. Theo tài liệu của WHO, một người trưởng thành thưởng thưởng hít thở từ 20 – 25 lần mỗi phút và khoảng 30.000 hơi thở mỗi ngày.

    Chức năng của phổi trong hệ hô hấp

    Trao đổi khí

    Khi chúng ta hít vào, không khí đi vào khoang mũi, đi xuống qua hầu họng, thanh quản và khí quản để đi vào phổi qua hai phế quản chính. Sau đó, nó đến phế nang, các túi khí nhỏ trong phổi nơi trao đổi khí xảy ra, thông qua các tiểu phế quản.

    Các thành phế nang có một mạng lưới mao mạch máu phức tạp. Khi không khí giàu oxy đến các phế nang này, máu chảy qua các mao mạch sẽ chiếm oxy trong phương pháp khuếch tán xảy ra trên các thành mỏng của phế nang và mao mạch (quá trình trong đó một chất di chuyển từ khu vực có nồng độ thấp đến một khu vực tập trung cao). Tương tự, carbon dioxide được mang theo từ máu từ các cơ quan và mô khác nhau của cơ thể được hấp thụ bởi phế nang để chúng có thể được bài tiết cùng với không khí thở ra.

    Vai trò của các cơ khi phổi hô hấp

    Phổi có chức năng như một cặp ống thổi, hút không khí trong lành vào cơ thể khi chúng giãn nở và đẩy ra khí không trong sạch khi chúng nén lại. Tuy nhiên, không có cơ bắp trong phổi để kiểm soát sự giãn nở và nén này. Cơ hoành, cơ nằm dưới phổi, giúp bơm phổi, với sự trợ giúp của cơ bụng và cơ liên sườn.

    Cơ hoành và cơ bụng co lại và mở rộng để tăng và giảm thể tích phổi, trong khi các cơ liên sườn kiểm soát không gian trong lồng xương sườn. Trong quá trình hít vào, cơ hoành thư giãn và kéo dài về phía khoang bụng để làm cho không khí từ bên ngoài tràn vào chân không trong phổi, với các cơ liên sườn đảm bảo rằng lồng xương sườn có đủ không gian để chứa phổi.

    Tương tự, trong quá trình thở ra, cơ hoành đẩy lên phổi để chúng co lại, gây áp lực lên phế nang, sau đó trục xuất không khí giàu carbon dioxide.

    Làm thế nào để phổi làm sạch không khí khi hít vào?

    Trả lời: Do lông mao hô hấp và màng nhầy của phổi.

    Khi chúng ta hít vào, không khí đi vào đường hô hấp thường chứa đầy tạp chất như các hạt bụi, phấn hoa, v.v. Một số trong số này bị mắc kẹt trong khoang mũi bởi lông mũi để làm sạch không khí một phần. Phần còn lại của quá trình làm sạch được thực hiện bởi màng nhầy lót qua đường thở, khí quản, phế quản và phế quản, nơi mà bất kỳ hạt lạ nào còn lại bị giữ lại trong chất nhầy dính do tế bào trong phổi tiết ra. Nó đảm bảo không có chất gây hại tiếp xúc với mao mạch máu trong quá trình trao đổi khí.

    Sau đó, lông mao hô hấp, những sợi lông nhỏ xíu mọc lên các bức tường bên trong, quét các tạp chất bị mắc kẹt trong chất nhầy về phía lỗ mở của đường hô hấp, nơi chúng có thể được bài tiết qua mũi hoặc miệng.

    Viêm phổi: Một trình trạng thưởng cho nhiễm vi khuẩn, viêm phổi dẫn đến viêm và tích tụ chất lỏng trong phế nang của phổi. Có thể gây cho người bệnh đau ngực, khó thở, nghẹt mũi, sốt, ho, mất cảm giác ngon miệng, …. Điều trị có thể bằng thuốc dân gian hoặc kháng sinh kèm nghỉ ngơi đầy đủ.

    Viêm phế quản: Tình trạng phổi bị viêm nhiễm và bị hẹp phế quản. Triệu chứng phổ biến khò khè, khó thở, ho khan, mệt mỏi. Bệnh thường rất khó để chữa khỏi, chủ yếu là được dùng thuốc để ngăn ngừa viêm nhiễm. Các trường hợp nghiêm trọng có thể phải ghép phổi.

    Nhiễm trùng phổi: Bệnh cho các vi khuẩn và nấm gây ra. Những thứ này có thể do dị ứng với những thứ mà người bệnh đã hít vào như nấm mốc, một số hóa chất độc hại, các chất bị ô nhiễm, ….

    Ung thư phổi: Là do những tế bào bị hỏng phân chia mất kiểm soát. Hút thuốc lá quá mức là nguyên nhân phổ biến nhất của ung thư phổi và các triệu chứng phổ biến bao gồm thở khò khè, ho ra máu và khó thở. Các biện pháp điều trị tiêu chuẩn bao gồm hóa trị, xạ trị và phẫu thuật.

    Viêm nhiễm đường hô hấp do virus gây ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Nguyên Tố Hóa Học
  • Mối Quan Hệ Giữa Gen Và Adn Moi Quan He Giua Gen Va Arn Ppt
  • He Thong De Kiem Tra Trac Nghiem 1 Tiet Sinh 10 (1)
  • Protein Màng Là Gì? Cơ Chế Hoạt Động Và Chức Năng Của Protein Màng
  • Adn Là Gì? Cấu Trúc Không Gian Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Con Người Có Bao Nhiêu Đốt Sống Lưng? Chi Tiết Cấu Tạo Cột Sống Con Người

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Của Cột Sống
  • Cấu Tạo Cột Sống Và Chức Năng Của Cột Sống Con Người
  • Giải Phẫu Xương Khớp Chi Trên
  • Giải Vở Bài Tập Sinh Học 7
  • Giải Phẫu Chức Năng Vùng Cánh
  • Trong cơ thể con người, cấu tạo cột sống luôn cần được đảm bảo vững chắc. Bởi cột sống là bộ phận chính chịu trách nhiệm nâng đỡ trọng lượng cơ thể và kết nối các xương lại với nhau. Cũng chính vì vậy mà khi chúng ta bị mắc các bệnh về cột sống thì quá trình vận động trở nên khó khăn hơn, di chuyển thiếu linh hoạt.

    Cấu tạo cột sống của con người

    Cột sống có vị trí nằm ở chính giữa của bộ xương người, dọc theo sống lưng trải dài từ mặt dưới xương chấm đến đỉnh xương cụt. Điểm bắt đầu cột sống được nối liền với hộp sọ, phần dưới cùng tiếp nối với xương háng, còn phần thân tiếp nối với các xương vai và xương sườn.

    Cột sống người có chiều dài bằng khoảng 40% chiều cao cơ thể với số lượng 33-35 đốt sống. Các đốt sống liên kết chặt chẽ với nhau thông qua các dây chằng và hệ thống cơ. 24 đốt sống trên kết nối với nhau qua khớp đĩa đệm, 5 đốt sống cùng liền kề nhau cùng 4- 6 đốt xương cụt nằm bên cạnh nhau. Các đốt sống nối liền các xương đốt sống thực hiện vai trò nâng đỡ cơ thể khi vận động, đồng thời giúp bảo vệ tủy gai.

    Phần thứ nhất là thân đốt sống nằm ở trước, có hai mặt trên và dưới thân đốt sống tiếp giáp với đĩa gian đốt sống. Thân đốt sống dày và có hình trụ. Phần thứ hai là cung đốt sống có vị trí ở giữa phía sau thân đốt sống và lỗ đốt sống. Phần thân đốt sống gồm có hai mảnh cung đốt sống ở sau và hai cuống cung đốt sống nối hai mảnh với thân đốt sống. Thân đốt sống có hình trụ dẹt với hai mặt trên và dưới nhìn hơi lõm. Hai chỗ hơi lõm đó được gọi là khuyết sống trên và khuyết sống dưới, cũng là nơi các mạch máu và dây thần kinh sống thường xuyên đi qua.

    Phần thứ ba là các mỏm đốt sống gồm 3 loại: mỏm gai, mỏm ngang và mỏm khớp. 1 mỏm gai chạy dọc từ giữa mặt sau của mảnh cung đốt sống ra sau và xuống dưới. 1 mỏm ngang làm nhiệm vụ nối giữa cuống và mảnh chạy ngang ra hai bên. Cùng với đó là 4 mỏm khớp được tách ra từ khoảng chỗ nối giữa cuống và mảnh.

    Mỏm đốt sống có vị trí bắt đầu từ cung đốt sống. Cuối cùng là các lỗ đốt sống – phần bao quanh thân và cung đốt sống. Mỗi đốt sống gồm nhiều lỗ đốt sống, khi các đốt sống chồng lên nhau thì cũng chính các lỗ đốt sống này tạo thành ống sống, chứa tủy sống.

    Cột sống có mấy đoạn cong?

    Theo bạn thì cột sống có thẳng đứng hay không? Nhìn qua thì có vẻ cột sống hình thành theo đường thẳng nhưng trên thực tế thì nó có cả những đoạn cong. Khi quan sát nghiêng bạn sẽ thấy cột sống có 4 đoạn cong lồi lõm. Các đoạn cong này không tập trung ở một chỗ mà phân bổ đan xen nhau từ trên xuống dưới, chia đều cho khu vực cổ, ngực, thắt lưng và đoạn cụt. Mức độ cong của 4 đoạn không giống nhau mà tùy thuộc vào đặc thù riêng của từng vị trí tương ứng.

    Đoạn cong đầu tiên chính là ở phần cổ. Đoạn cổ gồm có 7 đốt, có đặc điểm cong lồi ra phía trước. Tiếp theo là đoạn ngực với 12 đốt cong lồi ra sau. Đoạn cong phần thắt lưng gồm có 5 đốt, cong lồi hướng về phía trước. Cạnh đó là đoạn cùng có 5 đốt liền kề nhau tạo nên xương cùng, có đặc điểm cong lồi ra phía sau. Cuối cùng là đoạn cụt gồm 4-6 đốt sống liền nhau tạo thành xương cụt.

    Con người có bao nhiêu đốt sống lưng?

    Với tổng 33 – 35 đốt sống thì cột sống người được phân chia thành 5 nhóm xương khác nhau. Cụ thể đó là cột sống cổ, cột sống ngực, cột sống lưng, cột sống cùng và xương cụt. Mỗi khu vực bao hàm số lượng đốt khác nhau.

    Phần cột sống đầu tiên là cột sống cổ gồm 7 đốt sống ghép lại với nhau, ký hiệu tương ứng từ C1-C7. Vị trí của cột sống cổ là nằm dưới ngay hộp sọ, có hình chữ C cong hướng ra sau. Giữa đốt sống C1 và C2 không có đĩa đệm. Xét về kích thước, thân đốt sống cổ nhỏ hơn đốt sống lưng, hình dáng dẹp, bề ngang phía trước dày hơn phía sau. Đỉnh của mỏm gai tách thành hai củ. Mỏm gai ngang dính vào thân, vào cuống, trong khi đó lỗ đốt sống rộng hơn các lỗ đốt sống khác và có hình tam giác.

    Trong đó cột sống lưng cũng chính là đoạn đốt sống nằm giữa, có nhiệm vụ quan trọng đảm nhiệm vai trò là bộ phận kết nối cột sống ngực và xương chậu. Vậy cột sống lưng có bao nhiêu đốt?

    Cột sống thắt lưng gốm có 5 đốt sống từ L1 cho đến L5. Do đặc thù phải chịu nhiều áp lực cơ thể hơn các đốt sống khác nên đốt sống lưng có kích thước to hơn với các mỏm gai ngắn, rộng và ngang. Thân đốt sống không tiếp khớp với xương, lỗ đốt sống có hình tam giác, thân đốt sống to hơn đốt sống các khu vực khác. Nhìn tổng quan, cột sống thắt lưng có hình chữ C hướng về phía sau. Đây cũng chính là khu vực nối liền cột sống ngực và đốt sống cùng.

    Phần dưới cột sống là đốt sống cùng và xương cụt. Đốt sống cùng gồm 5 đốt sống ký hiệu là S1 – S5. Chúng nằm sát cạnh nhau càng tạo nên sự vững chắc. Đốt sống cụt có 3-5 đốt sống liền kề có tác dụng nâng đỡ và ổn định cột sống, giúp cho việc đi đứng, vận động hàng ngày trơn tru.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gãy Xương Bàn Chân: Những Kiến Thức Cơ Bản Cần Biết
  • Xương Bàn Tay: Một Cấu Trúc Xương Tinh Tế
  • Xương Bánh Chè Nằm Ở Đâu? Giải Phẫu Xương Bánh Chè
  • Nguyên Lý Làm Việc, Cấu Tạo Máy Điều Hòa Của Sổ
  • Cấu Tạo, Phân Loại Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Máy Điều Hòa Nhiệt Độ Như Thế Nào?
  • Con Người Có Cấu Tạo Răng Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khám Phá Những Mà Bạn Chưa Biết Về Rơ Le Điện Từ
  • Role Là Gì? Cấu Tạo Chức Năng Và Có Bao Nhiêu Loại Role
  • Role (Relay) Là Gì, Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động Của Relay
  • Cấu Tạo – Nguyên Lý Làm Việc Của Relay Nhiệt Schneider
  • Role Nhiệt – Role Thời Gian – Role Trung Gian Là Gì Và Nguyên Lý
  • Răng người có bao nhiêu chiếc?

    Theo các chuyên gia, số lượng răng của người trưởng thành chính xác là 32 răng. Trong đó, có 16 răng hàm trên và 16 răng hàm dưới, đã bao gồm 4 răng khôn. Tuy nhiên không phải ở người nào cũng đủ 32 chiếc, có thể thừa hoặc thiếu. Răng bắt đầu mọc lúc 6 tháng tuổi, sau đó mọc đầy đủ đến khi có thể tự ăn được. Lúc này, trẻ nhỏ có khoảng 20 chiếc răng. Đến 5 tuổi bắt đầu quá trình thay răng, răng sữa rụng đi và thay vào là răng vĩnh viễn.Khi vào tuổi trưởng thành, những chiếc răng khôn mới bắt đầu mọc lên. Lúc này, trên cung hàm sẽ có đủ 32 chiếc răng (nếu số lượng răng khôn là 4) hoặc 36 chiếc (nếu số lượng răng khôn là 6).

    Số lượng răng cụ thể:

    Trong 32 chiếc răng này sẽ có 8 chiếc răng cửa (4 ở trên, 4 ở dưới), 4 chiếc răng nanh (2 ở trên, 2 ở dưới), 8 răng hàm nhỏ và 12 răng hàm lớn. Với 12 răng hàm lớn đã bao gồm cả 4 cái răng khôn sẽ mọc sau ở độ tuổi 18 – 30 tuổi.

    Tuy nhiên, hiện nay, có đến 85% số người không mọc đủ 4 – 6 chiếc răng khôn, hoặc khi răng vừa mọc lên thì phải nhổ bỏ ngay. Bởi vì, những chiếc răng này thường bị mọc lệch, đâm xiên đâm xéo, mọc ngầm,… gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cơ thể, cho nên bác sĩ sẽ tiến hành loại bỏ. Chính vì vậy, rất nhiều người trưởng thành chỉ có 28 chiếc răng mà thôi, tức là 32 răng đủ trừ đi 4 chiếc răng khôn.

    Đây là số lượng răng cố định mà một người trưởng thành cần phải có đủ để thực hiện tốt chức năng ăn nhai và phát âm, cũng như góp phần làm tăng tính thẩm mỹ cho khuôn mặt và nụ cười.

    Các loại răng và chức năng của từng loại

    Theo Hiệp hội Nha khoa Hoa Kỳ, răng con người được chia làm 4 nhóm khác nhau, gồm: Nhóm răng cửa (các răng số 1 và số 2), nhóm răng nanh (răng số 3), nhóm răng hàm nhỏ (răng số 4 và số 5) và cuối cùng là nhóm răng hàm lớn (răng số 6, 7 và 8).Các nhóm răng có chức năng và nhiệm vụ hoàn toàn khác nhau, cụ thể:

     Cấu tạo răng cửa (tổng cộng 8 chiếc)

    Là những chiếc răng nằm ở phía trước cung hàm, dễ nhận thấy nhất khi bạn cười nói. Răng cửa có hình dạng chiếc xẻng và có cạnh (rìa cắn) rất sắc bén. Nhiệm vụ của răng cửa là cắn và xé thức ăn thành những miếng nhỏ. Cấu tạo răng cửa có chức năng rất quan trọng trong việc đảm bảo tính thẩm mỹ của nụ cười và khuôn mặt. Vì khi cười hay nói thì nhóm răng cửa sẽ hiện ra đầu tiên. Thế nên nếu bạn muốn cho một nụ cười đẹp. Một khuôn mặt sáng thì việc giữ gìn vệ sinh cho răng cửa là một điều rất cần thiết. Nhóm răng cửa chỉ có 1 chân răng duy nhất lại nằm phía bên ngoài nên rất dễ chịu những tổn thương do va đập cơ học. Đặc biệt đối với những người bị khớp cắn lệch như hô, móm thì nhóm răng cửa lại càng dễ bị tổn thương hơn.

    Cấu tạo

    răng nanh (tổng cộng 4 chiếc)

    Nằm ở vị trí góc của cung hàm, nằm sát ngay bên cạnh răng cửa. Răng nanh có hình ngọn giáo, mũ răng dày, nhọn và sắt. Nhiệm vụ chủ yếu là dùng để kẹp và xé thức ăn.Răng nanh nếu mọc lệch sẽ tạo thành răng khểnh. Nhiều trường hợp thì răng khểnh chính là một nét duyên. Một điểm nhấn trên khuôn mặt của nhiều người. Nhưng nếu răng nanh mọc lệch nhiều gây mất thẩm mỹ thì cần điều trị. Bởi răng khểnh này không tạo ra vẻ đẹp mà còn làm sai lệch khớp cắn. Gây khó khăn khi ăn nhai và vệ sinh răng miệng.

    Cấu tạo

    răng hàm nhỏ (tổng cộng 8 chiếc)

    Răng hàm nhỏ nằm giữa răng hàm lớn và răng nanh, răng hàm nhỏ có mặt cắn phẳng, mũ răng hình lập phương và trên mặt răng được chia thành 2 định đều, nhọn. Cấu tạo răng được dùng để xé và nghiền nát thức ăn.Răng hàm nhỏ được xem là nhóm răng chuyển tiếp giữa răng nanh và răng hàm lớn. Nhóm răng này cũng giữ một chức năng quan trọng trong việc ăn nhai hàng ngày của chúng ta. Nhóm răng này còn có chức năng duy trì chiều dài của khuôn mặt. Nếu mất đi hiện tượng tiêu xương răng xảy ra thì gò má sẽ nhanh chóng chảy xệ khiến cho khuôn mặt bị lão hóa nhanh hơn bình thường.

    Cấu tạo r

    ăng hàm lớn (12 chiếc)

    Đây là những chiếc răng lớn nhất trên cung hàm. Mặt răng khá phẳng, có diện tích rộng và to, hình dáng rất phức tạp. Nhiệm vụ chính của những chiếc răng hàm lớn là nhai và nghiền nát thức ăn trước khi nuốt vào dạ dày. Nhóm răng này giữ chức năng ăn nhai chủ chốt và rất quan trọng. Trong nha khoa thì người ta luôn cố gắng phục hồi và giữ lại nhóm răng này. Trong những trường hợp bất khả kháng không thể giữ lại răng được nữa thì mới chỉ định nhổ.Sau khi nhổ răng thì rất cần thiết phục hình răng. Công nghệ phục hình răng phổ biến và nhiều ưu điểm nhất hiện nay đó chính là trồng răng implant. Phương pháp này không chỉ giúp khôi phục khả năng ăn nhai. Mà còn giúp tránh được những biến chứng sau khi mất răng lâu ngày như tiêu xương răng và răng xô lệch.

    Cấu tạo răng người

    Cấu tạo của răng người chia thành 3 phần chính, gồm:

    • Thân răng (còn gọi là vành răng) 

    Là phần nằm ở phía trên nướu. Thân răng nghiền nát và tiếp xúc trực tiếp với thức ăn. Nên thân răng thường hay xảy ra nhiều bệnh lý khác nhau như sâu răng, men răng yếu, thân răng vỡ,…

    • Chân răng

    Chân răng là phần nằm sâu bên dưới xương hàm và nướu, nên bình thường sẽ không thể nhìn thấy chân răng. Chúng được neo giữ bởi những dây chằng nha chu. Tùy vào từng nhóm răng mà số lượng chân răng cũng khác nhau. Nhóm răng hàm sẽ có số lượng chân răng nhiều hơn nhóm răng cửa.

    • Cổ răng (đường viền nướu)

    Là phần giao nhau giữa lợi và răng. Nếu như chăm sóc răng miệng không tốt. Không lấy cao răng định kỳ theo chỉ định của bác sĩ thì có thể dẫn đến hiện tượng tụt nướu đi kèm với bệnh mòn cổ răng.

    Nếu cắt đứng dọc qua 1 chiếc răng, cấu tạo răng được thành 4 phần chính, gồm:

    • Men răng (lớp ngoài cùng)

    Phần thân của răng được bao bọc bởi một lớp men rất cứng chắc và khỏe mạnh. Men răng chứa hàm lượng lớn khoáng chất như canxi và flour và có màu trắng sữa.Men răng được xem là loại vật chất cứng nhất trong cơ thể con người. Điều này làm cho men răng phát huy được tác dụng khi bảo vệ ngà răng và tủy. Tuy nhiên, men răng có một nhược điểm lớn mà nhiều người không biết. Đó chính là men răng rất dễ bị bào mòn trong môi trường axit. Những thức ăn chua có chứa axit hay những thức ăn ngọt như bánh kẹo. Đều là nguyên nhân hàng đầu khiến cho men răng bị hư tổn nhanh chóng.

    • Ngà răng (lớp giữa)

    Ngà răng nằm ở phía trong, được lớp men răng che chắn và bảo vệ. Ngà răng có màu vàng nhạt, đồng thời là tổ chức chiếm khối lượng chủ yếu của thân răng. Ngà răng không có độ cứng như men răng nhưng độ đàn hồi của ngà răng thì tốt hơn. Ngà răng khỏe mạnh có tính xốp và tính thấm. Ngà răng có những chức năng chính như: bao bọc bên ngoài và bảo vệ tủy răng. Là thành phần chính cấu tạo nên răng. Nhờ có ngà răng mà răng răng có thể cảm nhận được độ nóng lạnh của thức ăn và các tác động bên ngoài.

    • Tủy răng (lớp trong cùng)

    Được bao bọc và che chở bởi lớp men răng và ngà răng. Tủy răng là một tổ chức rất đặc biệt, chứa nhiều dây thân kinh cảm giác và mạch máu để nuôi dưỡng răng khỏe mạnh. Tủy răng có ở cả thân răng và chân răng. Tủy răng nằm ở thân răng thì được gọi là buồng tủy. Tủy răng nằm ở chân răng thì được gọi là ống tủy. Nhờ có tủy răng mà răng có thể cảm nhận được mùi vị, nhiệt độ và các tác động lực từ bên ngoài. Khi răng bị mất tủy thì một thời gian sau đó răng sẽ chuyển sang màu đen, thân răng bắt đầu bị giòn và rất dễ vỡ. Đồng thời, quá trình niềng răng đối với răng bị lấy tủy cũng rất khó khăn do răng không còn khả năng di chuyển bình thường như răng còn khỏe mạnh.

    • Xương răng ( Cementum)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chất Liệu Vải Quần Jean – Đặc Điểm Và Sự Khác Biệt Của Từng Loại
  • Khác Biệt Jeans Và Denim
  • Cam, Tác Dụng Của Cam, Thành Phần Cam, Cách Dùng Cam, Cam, Cam1
  • Cây Cam: Quả Cam Là Gì, Quả Hay Quả Mọng, Nó Nở Như Thế Nào, Quê Hương Ở Đâu, Lá Gồm Những Gì, Cấu Tạo Và Khi Nở Hoa Trông Như Thế Nào
  • Thứ Hoa Quả Tuyệt Vời Mà Thiên Nhiên Ban Tặng Cho Con Người
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100