Top 14 # Xem Nhiều Nhất Cấu Tạo Phổi Con Người / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Cấu Trúc Giải Phẫu Của Phổi Con Người / 2023

Cấu trúc của hệ thống hô hấp của con người, đảm bảo công việc của mình trong cơ thể để cung cấp trao đổi khí. hệ hô hấp của con người bao gồm các đường hô hấp và bộ phận hô hấp hình thành phế nang. Airways bao gồm các khoang mũi, thanh quản, khí quản, phế quản. Họ không khí được làm nóng, ẩm, làm sạch bụi. Các bộ phận hô hấp trao đổi khí hô hấp xảy ra oxy và carbon dioxide. Xem xét cấu trúc của phổi của con người.

Phổi đang ở trong ngực, và chiếm một phần lớn của nó. Bề mặt của nó, ngoại trừ phần gốc được bao phủ bởi màng phổi tạng. Trên giường ngủ của đỉnh và màng phổi tạng là khép kín khoang màng phổi.

Qua rễ có thể dễ dàng kết nối với các phế quản chính, máu và bạch huyết mạch, thần kinh.

cấu trúc bộ phận kinh doanh của phổi con người

Dạng lá phổi bên phải ba thùy, bên trái – hai. Mỗi thùy bao gồm các phân đoạn. Loại thứ hai là các đơn vị cấu trúc và chức năng của phổi. phân khúc hình của một kim tự tháp, đỉnh đối với thư mục gốc của thư phổi, và cơ sở – đến màng phổi. Ranh giới giữa các phân đoạn là mô liên kết, nơi mà các tàu intersegmental.

Ở thùy trên bên phải của phổi bao gồm đỉnh, trước và sau phân đoạn, với mức trung bình – từ bên ngoài và bên trong, phía dưới – các thượng sau-medial, cơ sở, cơ bản trước, cơ sở bên và sau phân đoạn cơ bản.

Phổi trái phía trên thùy tích hợp đỉnh, sau, trước, phân đoạn trên và nizhneyazychkovy, thấp hơn – trên cơ sở sau-medial, cơ bản trước, cơ sở bên và phía sau cơ sở.

Phổi trái trung gian phân khúc cơ bản là không ổn định, và các đỉnh và sau có một phế quản thường.

phân khúc phế quản phổi là đơn vị giải phẫu, sinh lý và lâm sàng, trong đó sự phát triển của quá trình bệnh lý được quan sát.

động mạch phổi và tĩnh mạch hình thành một hệ thống tuần hoàn phổi, được bao gồm trong cấu trúc của hệ thống tuần hoàn của con người. Nó bắt đầu một vòng tròn nhỏ của thân cây phổi, mà đi ra của tâm thất phải và mang máu tĩnh mạch đến phổi. Trong phế nang của phổi trao đổi khí xảy ra, trong đó máu được làm giàu với oxy và đi qua các tĩnh mạch phổi vào tâm nhĩ trái. lưu lượng máu độc lập để phổi và phế quản được cung cấp động mạch phế quản và tĩnh mạch, thuộc một hệ thống của một lượng lớn lưu thông.

Các bạch huyết chảy ra khỏi phổi thông qua các mạch bạch huyết vào thư mục gốc của phổi, đi trên con đường của mình thông qua các hạch bạch huyết. Một số lượng đáng kể các hạch bạch huyết nằm gần phế quản chính và khí quản.

Innervation của bộ máy phế quản phổi tại các chi phí của hệ thống thần kinh giao cảm và phó giao cảm.

Cấu trúc của phổi của con người và chức năng hô hấp

Cấu trúc giải phẫu của phổi con người mang lại hơi thở bên ngoài. Nó cung cấp cho các hệ thống thông gió phổi và sự khuếch tán của khí qua hàng rào máy máu. Các hoạt động chung của hệ thống hô hấp, tuần hoàn hô hấp tế bào và tạo thành một hệ thống chức năng duy nhất mà hoạt động là hướng vào việc duy trì quá trình bình thường của quá trình trao đổi chất trong cơ thể.

Ngoài chức năng hô hấp, để dễ dàng thực hiện một loạt các chức năng phi hô hấp: trao đổi chất, điều nhiệt, bài tiết, hàng rào, bài tiết. Họ được tham gia vào nhiều quá trình sinh hóa. Đối với chức năng không hô hấp của phổi cũng bao gồm chống viêm và miễn dịch.

Bạn nên cẩn thận theo dõi tình trạng của phổi và cố gắng sống một lối sống lành mạnh.

Giải Phẫu Phổi: Phổi Nằm Ở Đâu, Cấu Tạo Phổi Và Màng Phổi / 2023

Phổi là một cơ quan của hệ hô hấp, đóng vai trò là nơi trao đổi khí giữa không khí và máu. Khi phổi bị tổn thương sẽ dẫn đến bệnh phổi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đường thở.

Phổi được bao bọc trong 1 thanh mạc gồm 2 lá được gọi là màng phổi. Tính chất của phổi đàn hồi, xốp và mềm. Mỗi người có 2 lá phổi và cấu tạo bởi các thùy. Lá phổi bên phải (P) lớn hơn lá phổi trái (T). Mỗi phổi có dung tích khoảng 5000ml khi hít vào gắng sức.

Phổi có hình thể ngoài, hình thể trong và màng phổi.

Có dạng 1/2 hình nón treo trong khoang màng phổi nhờ cuống phổi và dây chằng. Bao gồm: 1 đáy, 1 đỉnh, 2 mặt và 2 bờ. Mặt ngoài lồi áp vào thành ngực, mặt trong giới hạn 2 bên trung thất, mặt dưới (đáy phổi) áp vào cơ hoành.

Mặt hoành ở phía dưới và nắm áp sát lên vòm hoành, qua vòm hoành với các tạng của ổ bụng, điển hình là gan.

Nằm ở phía trên và nhô lên khỏi xương sườn I qua lỗ trên của lồng ngực, vị trí nằm ở nền cổ. Phía trước ở trên phần trong xương đòn 3cm. Ngang mức đầu sau của xương sườn I.

Đây là mặt lồi áp sát vào thành trong của lồng ngực ở phía sau và phía ngoài.

Có khe chếch chiếu lên thành ngực ở đầu sau ngang với mức đầu sau khoang gian sườn. Còn có vết ấn lên của các xương sườn.

Phổi (P) có thêm khe ngang, tách từ khe chếch ngang mức khoang gian sườn 4 ở đường nách và đầu trước ngang mức sụn sườn.

Mặt trong phổi quay vào phía trong và hơi lõm. Bao gồm: Phần cột sống và phần trung thất.

Rốn phổi có hình là chiếc vợt bóng bàn. Đây là nơi các thành phần của cuống phổi đi qua, bao gồm động mạch phổi, phế quản chính, hai tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, hạch bạch huyết, các dây thần kinh.

Mặt trong phổi (P) có rãnh tĩnh mạch đơn, còn phổi (T) có rãnh động mạch chủ.

Có thân tĩnh mạch cánh tay đầu và rãnh động mạch dưới đòn ở trên rốn phổi.

Bờ trước chính là ranh giới của mặt trong và mặt sườn. Ở bên trái, bờ trước bị khuyết ở dưới thành khuyết tim của phổi (T).

Bờ trước phổi quây lấy mặt hoành. Bao gồm 2 đoạn: Đoạn cong ngăn cách mặt sườn và mặt hoành. Đoạn thẳng ngăn cách mặt trong và mặt hoành.

Trên bề mặt của phổi là các diện hình đa giác có kích thước to nhỏ khác nhau được gọi là các tiểu thùy phổi.

Hình thể trong

Được cấu tạo bởi những thành phần đi qua rốn phổi và phân chia nhỏ dần trong phổi. Mặt trong phổi bao gồm cây phế quản, động mạch phổi, tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, bạch huyết của phổi và thần kinh của phổi.

Sự phân chia của cây phế quản

Sự phân chia của động mạch phổi

Thân động mạch phổi bắt đầu từ lỗ động mạch phổi tâm thất phải. Tiếp đó chạy lên trên và ra sau đến bờ sau của quai động mạch chủ thì chia thành động mạch phổi (T) và động mạch phổi (P).

Động mạch phổi (T): Chếch sang bên trái, lên trên bắt chéo mặt trước của phế quản chính trái. Sau đó chui vào rốn phổi phía trên phế quản thùy bên trái, đi ra ngoài rồi phía sau thân phế quản.

Động mạch phổi (P): Dài và lớn hơn động mạch phổi (T). Đi ngang từ trái sang phải chui vào rốn phổi phải ở dưới phế quản thù trên. Đi trước phế quản sau đó ra phía ngoài. Cuối cùng ở sau phế quản.

Sự phân chia của tĩnh mạch phổi

Lưới mao mạch phế nang đổ vào tĩnh mạch quanh tiểu thùy. Sau đó tiếp tục thành những thân lớn dầu cho đến các tĩnh mạch gian hoặc tĩnh mạch thùy, tĩnh mạch trong phân thùy. Cuối cùng lưới mao mạch sẽ hợp thành hai tĩnh mạch phổi để đổ vào tâm nhĩ trái.

Tĩnh mạch phổi trên trái và tĩnh mạch phổi trên phải nhận khoảng 4 – 5 tĩnh mạch thùy trên và thùy giữa nếu là phổi phải. Hai tĩnh mạch dưới trái và phải nhận tĩnh mạch của toàn bộ thùy dưới.

Tĩnh mạch là nơi đi vào những giới hạn phân thùy.

Động mạch và tĩnh mạch phế quản

Đây là thành phần dinh dưỡng của phổi.

Động mạch phế quản được tách ra từ động mạch chủ sau hoặc trước của phế quản chính.

Tĩnh mạch phế quản đổ vào các tĩnh mạch đơn, một số ít nhánh nhỏ sẽ đổ vào tĩnh mạch phổi.

Bạch huyết của phổi

Bao gồm nhiều bạch huyết chảy trong nhu mô phổi và đổ vào các hạch bạch huyết phổi ở chỗ chia đôi các phế quản.

Các hạch bạch huyết đổ vào các hạch phế quản phổi nằm ở rốn phổi.

Đổ vào hạch khí dưới và hạch khí quản trên.

Thần kinh của phổi

Được tạo bởi các sợi thần kinh giao cảm và các nhánh dây thần kinh lang thang.

Thần kinh phổi được chia thành một mạng những nhánh đan ở xung quanh phế quản chính, chui và rốn phổi phân nhánh trong phổi.

Màng phổi có cấu tạo gồm hai lá màng phổi tạng và màng phổi thành. Giữa hai lá màng phổi này là hai ổ màng phổi. Bên trái và phải riêng biệt nhau.

Dính chặt và bọc sát vào nhu mô phổi, đồng thời lách cả vào khe gian thìu phổi.

Ở vị trí rốn phổi, màng phổi tạng quặt ra để liên tiếp với màng phổi thành tạo nên dây chằng phổi.

Màng phổi thành

Có vị trí nằm áp sát phía ngoài màng phổi tạng. Màng phổi thành lót mặt trong lồng ngực tạo túi màng phổi. Bao gồm: Màng trung thất, màng phổi sườn, màng phổi hoàng, mạc hoành.

Đỉnh màng phổi là phần màng phổi thành tương ứng với đỉnh phổi.

Góc nhị diện hợp bởi 2 phần màng phổi được gọi là ngách màng phổi. Có 2 ngách màng phổi là ngách sườn hoành và ngách sườn trung thất.

Nằm giữa màng phổi thành và màng phổi tạng, đây là một khoang ảo. Mỗi phổi có một ổ màng phổi riêng và không thông nối với nhau.

Phổi là một cơ quan hô hấp có chức năng trao đổi khí giữa không khí và máu. Quá trình này được thực hiện trên toàn bộ mặt trong của phế quản. Để loại bỏ những vật thể lạ ra ngoài thì những phế nang có niêm mạc bao phủ luôn rung chuyển.

Các tế bào phổi đóng vai trò duy trì sự sống tế bào nội mô và biểu mô. Tế bào phổi tạo nên hàng rào ngăn chặn các phân tử và nước đi qua nhiều vào mô kẽ. Các tế bào phổi cũng tham gia vào quá trình vận chuyển, tổng hợp nhiều chất trong cơ thể.

Phổi nằm ở đâu bên trái hay bên phải cơ thể con người

Giữa hai buồng phổi là khí quản. Khí quản sẽ phân chia nhánh phế quản chính. Tim nằm ở giữa hai phổi trung thất, hơi lệch về bên trái.

Như vậy, qua thông tin giải phẫu phổi tóm tắt trên, bạn đã biết được cấu tạo của phổi và màng phổi. Đồng thời biết được phổi nằm ở đâu trong cơ thể con người, chức năng của phổi là gì. Mong rằng thông tin được chia sẻ giúp bạn có thêm được những kiến thức bổ ích.

Phổi: Vị Trí, Đặc Điểm, Cấu Tạo, 14 Bệnh Phổi Thường Gặp / 2023

Phổi (tiếng Anh: lung, tiếng Hindi: फेफड़ा) là một cơ quan thuộc hệ hô hấp. Phổi có trách nhiệm trao đổi không khí, đưa khí oxy vào trong máu để đưa tới não và các cơ quan cơ thể, đồng thời đẩy khí carbon dioxide (CO2) ra ngoài môi trường. 

Vị trí của phổi, phổi nằm ở đâu

Phổi nằm ở bên trong lồng ngực, xung quanh được bao bọc bởi xương sườn, xương ức, xương đòn và các cơ. Phổi được ngăn cách với các cơ quan vùng bụng (gan, lách, dạ dày) bằng cơ hoành ở bên dưới. Không khí được đưa vào cơ thể qua khí phản ở giữa hai buồng phổi. Khí quản rẽ nhánh qua phế quản trái và phải. Phế quản trái và phải sẽ dẫn vào lá phổi trái và lá phổi phải. Hai lá phổi nằm bên trong ổ màng phổi. Tim nằm giữa hai lá phổi, ở vị trí trung thất, hơi lệch về bên trái. 

Cấu tạo, đặc điểm của phổi

Phổi – cấu tạo hình thể ngoài

Giải phẫu phổi

Phổi là cấu trúc nửa hình nón, được treo trong ổ màng phổi bởi cuống phổi và các dây chằng. Phổi có tạng xốp và đàn hồi. Khi giải phẫu, phổi trẻ em màu hồng, còn phổi người lớn có màu xanh hoặc xám. 

Thể tích phổi

Thể tích phổi phụ thuộc vào lượng khí (chủ yếu là oxy và carbon dioxide) chứa bên trong phổi. Khi hít vào, phổi sẽ căng ra còn khi thở ra, phổi sẽ xẹp lại. Phổi của một người bình thường có thể chứa tới 5 L không khí. 

Khối lượng phổi

Phổi to ra rất nhiều trong quá trình lớn lên và trưởng thành. Ở trẻ sơ sinh, phổi chỉ nặng khoảng 50 cho tới 60 grams, chứa 30 triệu phế nang. Khi người trưởng thành, khối lượng phổi tăng lên gấp 6-8 lần, nặng từ 300 cho tới 475 grams, tuỳ thể trạng mỗi người. Số phế nang cũng tăng lên khoảng 300 triệu. 

Hình thái phổi

Mỗi người có hai lá phổi, phổi trái và phổi phải.  Mỗi lá phổi lại có các thuỳ. Bên trái có hai thuỳ, thuỳ trên (5a) và thuỳ dưới (5b). Phổi bên phải là được chia ra làm ba thuỳ, thuỳ trên (4a), thuỳ giữa (4b), thuỳ dưới (4c).  Mỗi phổi có một đỉnh, một đáy, và ba mặt. Các phần này được ngăn cách bởi các bờ.  Mặt sườn của phổi, đúng như tên gọi, hướng về xương sườn ở bên trái (nếu là phổi trái) và ở bên phải (nếu là phổi phải). Mặt sườn nhẵn, lồi, áp sát vào mặt trong lồng ngực. Nhìn vào mặt sườn ta có thể thấy các vết ấn lõm của xương sườn. Mặt trung thất của phối hướng về trung thất của tim. Đây còn được gọi là mặt trong. Mặt này lõm sâu, do có ấn tim. Trên ấn tim có rốn phổi. Mặt hoành hướng về phía cơ hoành ở bên dưới phổi. Mặt này lõm, úp lên vòm cơ hoành. Nơi đây là nơi phổi tiếp xúc với gan. Do đặc điểm cấu trúc này mà đôi khi phổi có thể bị viêm nhiễm nếu người có bệnh gan. Mặt trên của phổi được gọi là đỉnh phổi. Đỉnh tròn, cao hơn lồng ngực một chút. Động mạch dưới xương đòn vắt ngang qua đỉnh màng phổi. Sau đỉnh màng phổi có hạch giao cảm cổ ngực.  

Phổi – cấu tạo hình thể trong

Mỗi lá phổi có một phế quản chính dẫn khí từ khí quản vào phổi, một động mạch và hai tĩnh mạch. Hệ thống mạch máu chia ra tựa nhánh cây, mạch và ống lớn nhất ở khu vực trung thất, và nhỏ dần, nhỏ dần, cho tới cực nhỏ phía ngoài cùng của lá phổi. Phổi còn có rất nhiều các dây thần kinh và mạch bạch huyết.

Chức năng của phổi

Nhiệm vụ chính của phổi là trao đổi không khí, do mạng lưới dày đặc các mao mạch của phế nang đảm nhiệm. Khí oxy và khí carbon dioxide (CO2) có chênh lệch áp suất. Không khí sẽ đi theo hướng từ nơi áp suất cao tới nơi áp suất thấp hơn. Chính vì vậy, oxy sẽ đi từ phế nang vào máu. Hemoglobin của hồng cầu tiếp nhận oxy và chuyển tới khắp cơ thể. Máu giàu oxy ở động mạch cũng vì thế mà có màu đỏ tươi. Ngược lại, khí CO2 sẽ đi từ máu vào phế nang, và được thải ra ngoài khi người thở ra.  Ngoài trao đổi không khí, phổi còn có chức năng lọc. Bên trong khí quản và phế quản có một lớp tế bào tiêm mao rất mịn và một lớp màng nhầy mỏng. Tạp chất, ví dụ như bụi, hạt phấn hoa, các loại chất bẩn khác, sẽ bị dính lại ở lớp màng nhầy. Các nhung mao, tựa như bàn chải, chuyển động và đẩy tạp chất lên, đưa sang thực quản để xuống dạ dày, và từ đó thải ra ngoài qua hệ bài tiết. Phổi còn có thể bảo vệ cơ thể qua miễn dịch. Ở trên lòng phế nang, phế quản, và các mạch có một lớp tế bào biểu mô và tế bào nội mô. Các tế bào này ngăn nước và các phân tử protein xâm nhập mô kẽ. Mô kẽ có chứa các kháng thể bảo vệ cơ thể khỏi tác nhân gây bệnh. Việc ngăn nước và protein vào khu vực này đảm bảo chức năng cho phổi. Trong quá trình phản ứng miễn dịch, trong phổi có thể có xác bạch cầu và xác vi khuẩn. Chúng sẽ được đào thải ra khỏi cơ thể qua đờm. 

14 loại bệnh phổi thường gặp

1. Áp xe phổi (Lung abscess)

Áp xe là các ổ dịch mủ có chứa mủ, xác bạch cầu và các vi khuẩn, virus. Áp xe được hình thành khi phổi bị viêm cấp tính và mô phổi bị hoại tử. Thường thì vi khuẩn là tác nhân chính gây nên bệnh áp xe phổi, tuy nhiên trong một vài trường hợp, áp xe phổi có thể do các kí sinh trùng như giun sán gây nên. Áp xe phổi xảy ra ở mọi đối tượng nhưng thường phổ biến hơn ở lứa tuổi trung, cao niên. Áp xe phổi nguyên phát là việc các ổ dịch mủ hình thành trên phổi lành, chưa từng bị nhiễm bệnh trước đó. Áp xe phổi thứ phát xuất hiện do các triệu chứng khác ở phổi gây tổn thương mô phổi, ví dụ như lao phổi, giãn phế quản phổi, v.v… Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như chụp X-quang hay chụp CT giúp phát hiện áp xe phổi sớm. Nếu bệnh nhân không điều trị sớm thì sẽ có nhiều biến chứng nguy hiểm: ho ra máu, tràn mủ màng phổi, nhiễm trùng máu, xơ phổi, thậm chí cả áp xe não. 

2. Bụi phổi (Silicosis) 

Bệnh bụi phổi là một bệnh nghề nghiệp của những người làm việc tại công trường xây dựng và mỏ quặng. Bụi độc đến từ a-mi-ăng, cát, đá, than. Khi chúng bay vào trong phổi qua đường hô hấp, những hạt li ti này sẽ làm xước phổi, tạo sẹo, gây nhiễm trùng. Bệnh tiến triển chậm nên người có bệnh có thể làm tại những môi trường này trong vài chục năm mà không thấy dấu hiệu gì đặc biệt. Tuy nhiên, điều nguy hiểm của bệnh này là một khi đã bộc phát, bạn sẽ có nhiều cơn ho, khó thở, tức ngực. Bệnh bụi phổi sẽ dẫn đến chứng hen suyễn hay chứng phổi tắc nghẽn mãn tính.  Bạn cần đến cơ sở y tế gần nhất đề được kê thuốc, và nếu cần thiết thì sử dụng khí oxy bổ trợ và luyện tập các liệu pháp hô hấp. 

3. Hen suyễn (Asthma)

Trong bệnh hen suyễn, khí quản và phế quản thường xuyên viêm nhiễm, tắc nghẽn, gây nên các triệu chứng như thở rít, tức ngực và khó thở.  Đây là bệnh mãn tính. Triệu chứng bệnh hen suyễn có thể xuất hiện khi người bệnh hen có tiếp xúc với nguồn khí ô nhiễm, chất gây dị ứng. Bệnh hen suyễn thường trở nặng vào mùa xuân do độ ẩm không khí cao, môi trường có nhiều bọ bụi nhà, nhiều phấn hoa, nấm, mốc. 

4. Lao phổi (Tuberculosis)

Lao phổi là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis gây nên. Ở thể lao tiềm ẩn, người bệnh đã nhiễm vi khuẩn nhưng do cơ chế miễn dịch của cơ thể còn tốt, họ không có triệu chứng và cũng không lây cho người xung quanh. Ở thể lao bệnh, vi khuẩn sinh sôi nảy nở và tấn công phổi. Người bệnh có biểu hiện ho dai dẳng, giảm cân, sụt cân, chán ăn, cơ thể mệt mỏi, sốt, ra mồ hôi trộm, khó thở và đau ngực.  Những người có hệ miễn dịch kém, có nhiều bệnh nền và hút thuốc lá có nguy cơ mắc bệnh lao phổi cao. Bệnh lao phổi có thể được chẩn đoán qua xét nghiệm máu, chụp X-quang, hay phương pháp nuôi cấy vi khuẩn.  Bệnh lao được điều trị bằng thuốc. Để phòng tránh bệnh và tránh lây cho người xung quanh khi nhiễm bệnh, bạn nên thường xuyên rửa tay sạch, đeo khẩu trang, ăn uống và tập luyện cân bằng, tránh xa thuốc lá và các chất kích thích, cũng như thường xuyên kiểm tra định kì. 

5. Phổi tắc nghẽn mãn tính (Chronic obstructive pulmonary disease)

Bệnh này được gọi là COPD trong tiếng Anh. Khói thuốc (thuốc lá, thuốc lào, v.v…) hay các loại khói bụi trong môi trường thâm nhập vào trong phổi, làm tắc nghẽn khí quản và phế quản. Đường thở bị kích ứng nên tiết nhiều chất nhầy. Lớp lông chuyển (nhung mao) bị tổn thương nên giảm khả năng đẩy đờm và chất nhầy ra ngoài cơ thể. Do tính chất mãn tính của bệnh lý, khí quản và phế quản không thế hồi phục lại mà thậm chí diễn biến xấu dần theo thời gian nếu môi trường không được thay đổi. Đối với trẻ em, gia đình nên đưa bé đi tiêm phòng các bệnh về đường hô hấp. Các bệnh lý hô hấp ở trẻ nhỏ có thể gây tắc nghẽn phổi mãn tính khi trường thành. Người có bệnh nên bỏ hút thuốc lá chủ động, cũng như tránh ở gần những người hút thuốc để không bị hít khói thụ động. Môi trường sống và làm việc nên thoáng, sạch. Trong nhà có thể bố trí máy lọc khí, mở cửa sổ, bật quạt. Ở nơi lao động, bạn có thể mặc đồ bảo hộ cẩn thận. 

6. Phù phổi (Pulmonary edema)

Hiện tượng phù nề xảy ra khi túi khí ở phổi tồn đọng quá nhiều chất lỏng. Đây là một hiện tượng nguy hiểm. Bạn sẽ cảm thấy tim đập nhanh, ngột ngạt khó thở, và khó chịu khi nằm ngang. Cơ thể sẽ kích thích việc ho nhằm đẩy các chất lỏng này ra ngoài, nên bạn có thể ho sùi bọt mép hoặc ra máu. 

7. Suy hô hấp (Respiratory distress)

Hội chứng suy hô hấp chỉ xảy ra ở trẻ sơ sinh thiếu tháng. Do sinh non, cơ thể bé chưa phát triển đầy đủ. Chất hoạt động bề mặt phổi chưa được tạo ra và không thể giúp mở phổi.  Với chứng bệnh này, trẻ có biểu hiện khó thở và các bộ phận khắp cơ thể không nhận đủ khí oxy. Bé sẽ thở nông, thở gấp, lỗ mũi tấy đỏ, và da không hồng hào.  Các bé suy hô hấp sẽ được chăm sóc đặc biệt tại bệnh viện, được gắn ống thở cho tới khi cơ thể tạo ra chất hoạt động bề mặt và bé biết tự thở bình thường. 

8. Thuyên tắc phổi (Pulmonary embolism)

Thuyên tắc phổi là hiện tượng cục máu đông, thường hình thành từ dưới chân, di chuyển lên phổi. Cục máu đông cản trở dòng máu chảy và việc trao đổi không khí ở phổi. Việc tắc nghẽn, về lâu dài, gây tổn thương đến các mô phổi.  Cục máu đông có thể được làm tan ra bằng việc sử dụng thuốc chống đông máu, ví dụ như Aspirin. Trường hợp nghiêm trọng cần có can thiệp của phẫu thuật. 

9. U hạt (Sarcoidosis)

Đúng như tên gọi của bệnh, u hạt là những u nhỏ dạng hạt. Những u hạt này phát triển trong phổi của bạn khi cơ thể có phản ứng miễn dịch đối với bụi bẩn và tạp chất trong không khí.  Trong quá trình bộc phát bệnh, bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi, thở khò khè, tức ngực, ho khan, và có biểu hiện sốt. Bệnh sẽ tự thuyên giảm và biến mất sau một thời gian, khi tác nhân bụi bẩn không còn trong môi trường của bạn nữa. Để phòng tránh bệnh này, bạn nên giữ cho môi trường sống sạch sẽ, thoáng mát. Trong trường hợp nặng và thường xuyên tái phát, bác sĩ có thể kê thuốc để giúp bạn kiểm soát bệnh.

10. Ung thư phổi (Lung cancer)

Ung thư có thể xảy ra ở mọi cơ quan của cơ thể, khi tế bào phát triển không kiểm soát. Các tế bào ung thư phát triển ở một cỡ nhất định sẽ tạo nên khối u ung thư.  Ung thư phổi là hiện tượng khối u ác tính phát triển ở biểu mô phế quản. Bệnh được chia ra làm hai loại, là ung thư phổi tế bào nhỏ, và ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Do tính ác của bệnh, hiện nay phương pháp điều trị còn gặp nhiều khó khăn.  Để phòng tránh ung thư phổi, bạn cần từ bỏ hút thuốc lá, thuốc lào, cải thiện môi trường sống và môi trường làm việc.

11. Viêm phế mạc (Pleurisy) 

Viêm phế mạc còn được gọi là viêm màng phổi. Phế mạc chỉ màng phổi, là các mô ở bên ngoài phổi hoặc bên trong lồng ngực. Khi các mô này viêm nhiễm, sưng tấy, chúng sẽ cọ xát vào nhau và gây nên hiện tượng đau buốt ngực. Khi bạn thở, phổi sẽ nở ra, chạm gần với lồng ngực hơn. Như vậy, việc thở sẽ khiến cho cơn đau buốt trở nên trầm trọng hơn. Nguyên nhân gây bệnh là có virus, vi khuẩn, nấm. Ngoài ra, chấn thương vùng phổi và xương sườn, cũng như bệnh tật và phản ứng phụ của thuốc có thể gây nên viêm phế mạc.  Phác đồ điều trị ra sao phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. Nếu bạn bị viêm phế mạc do vi khuẩn, bác sĩ sẽ kê thuốc kháng sinh. Nếu viêm phế mạc do phản ứng phụ của thuốc, bác sĩ sẽ cần đổi cho bạn sang một loại thuốc khác. 

12. Viêm phế quản (Bronchitis)

Phế quản là ống dẫn khí từ ngoài vào đến phổi. Phế quản có thể bị viêm do người bệnh mắc cảm lạnh, cúm nặng, hay dị ứng với phấn hoa và khói thuốc.  Nếu bạn ho khan, ho có đờm dai dẳng (quá 3 tuần), bạn nên đến bác sĩ để được kiểm tra. Viêm phế quản trở nặng nếu bạn có triệu chứng sốt và ho ra đờm kèm máu. Khi này, bạn cần được bác sĩ kê thuốc kịp thời.  Để phòng chống và điều trị viêm phế quản, bạn có thể luyện tập cách thở sâu, theo phương pháp thiền hay Yoga. 

13. Viêm phổi (Pneumonia) 

Vi khuẩn, virus, nấm, v.v… có thể xâm nhập vào nhu mô phổi và gây viêm phổi. Bệnh này xảy ra ở tất cả mọi lứa tuổi, nhưng nguy hiểm nhất khi nó xảy ra ở người cao tuổi, người có bệnh mãn tính, người miễn dịch kém, và trẻ nhỏ. Viêm phổi là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em. Triệu chứng hay gặp ở viêm phổi là sốt, ho có đờm, tức ngực, khó thở. Do nó rất giống với các triệu chứng cảm lạnh và cúm, người mắc bệnh thường không đi khám sớm.  Các bệnh nền khác có thể là nguyên nhân gây viêm phổi. Ví dụ, như miêu tả ở phần cấu tạo phổi, mặt hoành của phối tiếp xúc với gan. Mủ của áp xe gan có thể tràn qua cơ hoành, qua ổ màng phổi và đi vào phổi, gây viêm nhiễm. 

14. Xơ hoá phổi (Pulmonary fibrosis)

Xơ hoá phổi là hiện tượng dày lên và xơ cứng ở các mô bên trong phổi. Phổi vốn là một cơ quan có tính đàn hồi cao nhằm đẩy khí oxy vào, khí CO2 ra qua chênh lệch áp suất. Xơ cứng khiến cho phổi khó co giãn, cản trở việc trao đổi không khí giữa cơ thể và môi trường bên ngoài.  Nguyên nhân gây nên bệnh chưa được xác định rõ, nhưng các yếu tố di truyền (gia đình có tiền sử xơ hoá phổi và các bệnh khác về phổi) hay yếu tố cuộc sống (virus, khói thuốc, khói bụi) có thể gây nên bệnh.  Người bệnh sẽ thường xuyên khó thở, và ho khan dai dẳng. Việc thiếu khí trong thời gian dài có thể đe doạ tới tính mạng người bệnh. Người bệnh nên đi khám và nghe theo sự chỉ đạo của bác sĩ để kiểm soát triệu chứng bệnh của mình. 

Cách chăm sóc và bảo vệ cho phổi của bạn luôn được khoẻ mạnh

Bạn hãy thực hiện các điều sau để chăm sóc và bảo vệ cho phổi của bạn luôn được khoẻ mạnh:

Tập thể dục, chơi thể thao thường xuyên. Các bài tập aerobic giúp làm tăng nhịp tim và nhịp thở, khiến phổi của bạn hoạt động mạnh hơn.

Luyện tập thở. Việc thở mạnh, thở sâu sẽ giúp luyện tập cơ phổi khoẻ mạnh hơn. Nhiều người không có thói quen thở đúng nên chỉ thở bằng ngực (thở nông) và sử dụng một phần rất nhỏ dung tích phổi. Cách thở đúng, là cách thở của các em bé, là cách thở bằng bụng. Việc thở sâu sẽ giúp sử dụng phổi hiệu quả hơn, và làm sạch phổi. Bạn nên cố gắng tập thở để thời gian thở ra dài bằng hai lần thời gian thở vào. Ví dụ, khi thở vào bằng mũi, bạn đếm 1-2-3-4. Khi thở ra, bạn đếm 1-2-3-4-5-6-7-8. Khi hít vào, thở ra, bạn sẽ để ý thấy bụng mình nâng lên và hạ xuống theo từng nhịp thở. Việc thở sâu cũng giúp bạn thư giãn tinh thần sau những ngày làm việc mệt mỏi.

Không hút thuốc lá hay thuốc lào. Trong khói thuốc có chứa rất nhiều tác nhân gây hại. Hút thuốc nhiều, dù chủ động hay thụ động, sẽ đưa các tác nhân này vào trong phổi, gây trầy xước, viễm nhiễm phổi.

Tránh những nơi ô nhiễm. Bạn không nên ở gần người hút thuốc lá, hay tập chạy trên những cung đường ô nhiễm. Nếu môi trường làm việc của bạn có nhiều tác nhân ô nhiễm (như nhà máy, công trường), hãy mặc đồ bảo hộ và đeo khẩu trang. 

Thường xuyên lau chùi, hút bụi nhà cửa, đồ đạc. 

Mở cửa sổ, cửa ra vào mỗi khi có thể để làm thoáng không khí trong nhà. Trong nhà nên có đủ quạt và máy hút và các lỗ thông gió.

Nếu bạn muốn làm thơm nhà, hãy sử dụng các sản phẩm tinh dầu từ thiên nhiên. Tránh các sản phẩm xịt thơm hoá học vì các sản phẩm này có chứa formaldehyde và benzene, có thể gây dị ứng, tuỳ theo cơ địa mỗi người.

Rửa tay sạch thường xuyên. Tránh đưa tay lên mặt quá nhiều, vì tay bạn có thể dính bụi, phấn hoa, virus, vi khuẩn.

Sử dụng các thực phẩm tốt cho phổi:

Rau: bông cải xanh, súp lơ, bắp cải, cà rốt, rau chân vịt, măng tây

Trái cây: kiwi, cam, dâu, chanh, những loại trái cây nhiều vitamin C

Gia vị: gừng, tỏi, tam thất, mật ong 

Hãy đi khám nếu bạn có các triệu chứng sốt, ho, khó thở, nhiều đờm. 

Lời kết

Phổi là một cơ quan thiết yếu của cơ thể. Mỗi hơi thở là một nguồn khí oxy quý giá, duy trì sự sống của các cơ quan trong cơ thể. Qua bài viết này, chúng tôi tin rằng bạn đã có thêm những kiến thức thiết thực về vị trí, cấu tạo, các bệnh thường gặp ở phổi, cũng như các phương thức bảo vệ và chăm sóc cho hai lá phổi. Chỉ bằng những hành động rất đơn giản như ăn nhiều rau và trái cây, hay luyện tập thở sâu, bạn có thể chăm sóc lá phổi tốt hơn ngay từ hôm nay.

Con Người Có Bao Nhiêu Đốt Sống Lưng? Chi Tiết Cấu Tạo Cột Sống Con Người / 2023

Trong cơ thể con người, cấu tạo cột sống luôn cần được đảm bảo vững chắc. Bởi cột sống là bộ phận chính chịu trách nhiệm nâng đỡ trọng lượng cơ thể và kết nối các xương lại với nhau. Cũng chính vì vậy mà khi chúng ta bị mắc các bệnh về cột sống thì quá trình vận động trở nên khó khăn hơn, di chuyển thiếu linh hoạt.

Cấu tạo cột sống của con người

Cột sống có vị trí nằm ở chính giữa của bộ xương người, dọc theo sống lưng trải dài từ mặt dưới xương chấm đến đỉnh xương cụt. Điểm bắt đầu cột sống được nối liền với hộp sọ, phần dưới cùng tiếp nối với xương háng, còn phần thân tiếp nối với các xương vai và xương sườn.

Cột sống người có chiều dài bằng khoảng 40% chiều cao cơ thể với số lượng 33-35 đốt sống. Các đốt sống liên kết chặt chẽ với nhau thông qua các dây chằng và hệ thống cơ. 24 đốt sống trên kết nối với nhau qua khớp đĩa đệm, 5 đốt sống cùng liền kề nhau cùng 4- 6 đốt xương cụt nằm bên cạnh nhau. Các đốt sống nối liền các xương đốt sống thực hiện vai trò nâng đỡ cơ thể khi vận động, đồng thời giúp bảo vệ tủy gai.

Phần thứ nhất là thân đốt sống nằm ở trước, có hai mặt trên và dưới thân đốt sống tiếp giáp với đĩa gian đốt sống. Thân đốt sống dày và có hình trụ. Phần thứ hai là cung đốt sống có vị trí ở giữa phía sau thân đốt sống và lỗ đốt sống. Phần thân đốt sống gồm có hai mảnh cung đốt sống ở sau và hai cuống cung đốt sống nối hai mảnh với thân đốt sống. Thân đốt sống có hình trụ dẹt với hai mặt trên và dưới nhìn hơi lõm. Hai chỗ hơi lõm đó được gọi là khuyết sống trên và khuyết sống dưới, cũng là nơi các mạch máu và dây thần kinh sống thường xuyên đi qua.

Phần thứ ba là các mỏm đốt sống gồm 3 loại: mỏm gai, mỏm ngang và mỏm khớp. 1 mỏm gai chạy dọc từ giữa mặt sau của mảnh cung đốt sống ra sau và xuống dưới. 1 mỏm ngang làm nhiệm vụ nối giữa cuống và mảnh chạy ngang ra hai bên. Cùng với đó là 4 mỏm khớp được tách ra từ khoảng chỗ nối giữa cuống và mảnh.

Mỏm đốt sống có vị trí bắt đầu từ cung đốt sống. Cuối cùng là các lỗ đốt sống – phần bao quanh thân và cung đốt sống. Mỗi đốt sống gồm nhiều lỗ đốt sống, khi các đốt sống chồng lên nhau thì cũng chính các lỗ đốt sống này tạo thành ống sống, chứa tủy sống.

Cột sống có mấy đoạn cong?

Theo bạn thì cột sống có thẳng đứng hay không? Nhìn qua thì có vẻ cột sống hình thành theo đường thẳng nhưng trên thực tế thì nó có cả những đoạn cong. Khi quan sát nghiêng bạn sẽ thấy cột sống có 4 đoạn cong lồi lõm. Các đoạn cong này không tập trung ở một chỗ mà phân bổ đan xen nhau từ trên xuống dưới, chia đều cho khu vực cổ, ngực, thắt lưng và đoạn cụt. Mức độ cong của 4 đoạn không giống nhau mà tùy thuộc vào đặc thù riêng của từng vị trí tương ứng.

Đoạn cong đầu tiên chính là ở phần cổ. Đoạn cổ gồm có 7 đốt, có đặc điểm cong lồi ra phía trước. Tiếp theo là đoạn ngực với 12 đốt cong lồi ra sau. Đoạn cong phần thắt lưng gồm có 5 đốt, cong lồi hướng về phía trước. Cạnh đó là đoạn cùng có 5 đốt liền kề nhau tạo nên xương cùng, có đặc điểm cong lồi ra phía sau. Cuối cùng là đoạn cụt gồm 4-6 đốt sống liền nhau tạo thành xương cụt.

Con người có bao nhiêu đốt sống lưng?

Với tổng 33 – 35 đốt sống thì cột sống người được phân chia thành 5 nhóm xương khác nhau. Cụ thể đó là cột sống cổ, cột sống ngực, cột sống lưng, cột sống cùng và xương cụt. Mỗi khu vực bao hàm số lượng đốt khác nhau.

Phần cột sống đầu tiên là cột sống cổ gồm 7 đốt sống ghép lại với nhau, ký hiệu tương ứng từ C1-C7. Vị trí của cột sống cổ là nằm dưới ngay hộp sọ, có hình chữ C cong hướng ra sau. Giữa đốt sống C1 và C2 không có đĩa đệm. Xét về kích thước, thân đốt sống cổ nhỏ hơn đốt sống lưng, hình dáng dẹp, bề ngang phía trước dày hơn phía sau. Đỉnh của mỏm gai tách thành hai củ. Mỏm gai ngang dính vào thân, vào cuống, trong khi đó lỗ đốt sống rộng hơn các lỗ đốt sống khác và có hình tam giác.

Trong đó cột sống lưng cũng chính là đoạn đốt sống nằm giữa, có nhiệm vụ quan trọng đảm nhiệm vai trò là bộ phận kết nối cột sống ngực và xương chậu. Vậy cột sống lưng có bao nhiêu đốt?

Cột sống thắt lưng gốm có 5 đốt sống từ L1 cho đến L5. Do đặc thù phải chịu nhiều áp lực cơ thể hơn các đốt sống khác nên đốt sống lưng có kích thước to hơn với các mỏm gai ngắn, rộng và ngang. Thân đốt sống không tiếp khớp với xương, lỗ đốt sống có hình tam giác, thân đốt sống to hơn đốt sống các khu vực khác. Nhìn tổng quan, cột sống thắt lưng có hình chữ C hướng về phía sau. Đây cũng chính là khu vực nối liền cột sống ngực và đốt sống cùng.

Phần dưới cột sống là đốt sống cùng và xương cụt. Đốt sống cùng gồm 5 đốt sống ký hiệu là S1 – S5. Chúng nằm sát cạnh nhau càng tạo nên sự vững chắc. Đốt sống cụt có 3-5 đốt sống liền kề có tác dụng nâng đỡ và ổn định cột sống, giúp cho việc đi đứng, vận động hàng ngày trơn tru.