Top 18 # Xem Nhiều Nhất Cấu Tạo Hệ Tiêu Hóa Của Trâu Bò / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Sinh Lý Hệ Tiêu Hóa Của Bò / 2023

Tiêu hóa là sự biến đổi thức ăn từ những chất phức tạp thành những chất đơn giản dễ hấp thu.

1. Miệng: Có vai trò là lấy thức ăn, tiết nước bọt và nhai lại.

Tham gia vào quá trình lấy và nhai nghiền thức ăn có môi, răng hàm và lưỡi. Bò không có răng hàm trên, chỉ có 8 răng cửa hàm dưới và 24 răng hàm, vai trò là nghiền nát thức ăn giúp cho dạ dày và ruột tiêu hóa dễ dàng. Lưỡi giúp lấy thức ăn và nhào trộn thức ăn trong miệng, ngoài ra lười còn có vai trò vị giác và xúc giác nhờ các gai hình nấm, gai thịt hình đài hoa và gia thịt hình sợi.

2. Thực quản: là ống nối liền miệng qua hầu xuống tiền đình dạ cỏ, có tác dụng nuốt thức ăn và ợ các miếng thức ăn lên để nhai lại, Thực quản còn có vai trò ợ hơi để thải các khí thừa sinh ra trong quá trình lên men dạ cỏ (CH4).

3. Dạ cỏ : là túi lớn nhất, chiếm hầu hết nữa trái của xoang bụng, từ cơ hoành đến xương chậu. Dạ cỏ chiếm tới 85 – 90 % dung tích dạ dày, 75% dung tích đường tiêu hóa, có tác dụng trữ, nhào trộn và lên men phân giải thức ăn. Ngoài chức năng lên men, dạ cỏ còn có vai trò hấp thu các axit béo bay hơi sinh ra trong quá trình lên men vi sinh vật, acid béo bay hơi được vách tế bào dạ cỏ hấp thu vào máu cung cấp năng lượng cho vật chủ.

Vai trò của hệ vi sinh vật trong dạ cỏ: Thức ăn được vi khuẩn tiêu hóa thành những chất đơn giản , vi khuẩn sẽ dùng 1 phần để tạo nên tế bào chất cho chính nó.

Nếu lấy xác của vi khuẩn trong dạ cỏ ra phân tích, có 45% Protid, 20% Glucid, 2% lipid. Glucid trong xác vi khuẩn giống glucid của bò,. Protid của vi khuẩn tổng hợp từ cỏ hay bằng cách dùng các chất đạm phi Protein (NH3, ure)

4. Dạ tổ ong: là phần kéo dài của dạ cỏ có niêm mạc được cấu tạo trông giống như tổ ong.

Chức năng là đẩy các thức ăn rắn và các thức ăn chưa được nghiền nhỏ trở lại dạ cỏ, đồng thời đẩy các thức ăn dạng nước vào dạ lá sách.

Dạ tỏ ong cũng giúp cho việc đẩy các miếng thức ăn ợ qua thực quản lên miệng để nhai lại. Sự lên men trong tổ ong tương tự như dạ cỏ.

5. Dạ lá sách: có niêm mạc gấp nếp nhiều lần (tăng diện tích tiếp xúc), có chức năng là nghiền nát các tiểu phần thức ăn, hấp thu nước, các muối khoàng và các acid béo bay hơi

6. Dạ múi khế: có hệ thống các tuyến phát triển mạnh và có chức năng tương tự như dạ dày của động vật dạ dày đơn, tức là tiêu hóa thức ăn bằng dịch vị (chứa HCL và pesine), dịch vị bò có pH 2,17 – 3.14, thành phần 95% là nước, 0.5% là vật chất khô, vật chất khô gồm có: chất hữu cơ (các men tiêu hóa), chất vô cơ ( Hcl, Clorm, natri, Kali…).

7. Rãnh thực quản: là phần kéo dài của thực quản gồm có đáy và hai mép khi khép lại sẽ tạo ra cái ống để dẫn thức ăn lỏng. Đới với gia súc còn non, dạ cỏ và dạ tổ ong chưa phát triển nên sửa sẽ theo rãnh thự quản đỗ trực tiếp vào dạ lá sách và dạ muối khế.

8. Ruột non: có chức năng như của gia súc dạ dày đơn, là tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất. Những phần thức ăn được lên men ở dạ cỏ và sinh khối vsv được đưa xuống ruột non sẽ được tiêu hóa bằng men (Lipase, Amylase, peptidase, Maltase) . Trong ruột non có các enzym tiêu hóa tiết qua thành ruột và tuyến tụy để tiêu hóa các loại tinh bột, đường, protein và lipid. Ruột non còn có chức năng hấp thu nước, muối khoáng vitamin và các Gluco, amino, và các axit béo.

9. Ruột già: có chức năng lên men, hấp thu và tạo phân. Trong phần manh tràng có hệ vi sinh tương tự như dạ cỏ có vai trò lên men các sản phẩm đưa từ trên xuống, và hấp thu các dưỡng chất, các acid béo bay hơi. Hấp thu nước, tạo khuôn vfa tích trữ phân.

chúng tôi

Cấu Tạo Và Chức Năng Của Dạ Dày Trâu Bò / 2023

Tìm hiểu về cấu tạo và chức năng của dạ dày trâu bò để có chế độ cho trâu bò ăn hợp lý.

Trâu bò là loại động vật nhai lại có dạ dày bốn túi: dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách và dạ múi khế. Trâu bò được nuôi chủ yếu bằng cỏ, rơm rạ, các sản phẩm phụ của trồng trọt, những thức ăn này nhìn chung có tỷ lệ xơ cao, hàm lượng các chất dinh dưỡng và tỷ lệ tiêu hoá thấp. Quá trình tiêu hoá thức ăn của trâu bò được tiến hành qua 4 túi với các bước khác nhau phụ thuộc vào chức năng cụ thể của từng túi.

Dạ cỏ không có các tuyến tiêu hoá nhưng lại có vai trò rất quan trọng, không những là nơi chứa thức ăn mà ở đây còn xảy ra rất nhiều quá trình phân giải và phản ứng hoá học giúp cho việc tiêu hoá chất xơ như quá trình lên men, phân giải các chất hữu cơ, tổng hợp và hấp thu các chất dinh dưỡng.

Dạ cỏ ở trâu bò trưởng thành chiếm tới 80-90% dung tích toàn bộ dạ dày và 70-75% dung tích cơ quan tiêu hoá. Lông nhung ở thành dạ cỏ rất phát triển đã làm tăng bề mật tiếp xúc với thức ăn lên nhiều lần. Trong dạ cỏ trâu bò có một lượng lớn vi sinh vật (chủ yếu là bacteria và protozoa). Nhờ hoạt động cùa hệ vi sinh vật này mà thức ăn (đặc biệt là xơ) được tiêu hoá tạo thành các axit béo bay hơi. NH3 và axit amin, đồng thời cũng tổng hợp nên một số vitamin và protein. Dựa trên những nghiên cứu về hệ vi sinh vật dạ cỏ người ta thấy rằng trâu bò có khả năng tiêu hoá xơ tốt và sử dụng thức ăn thô xanh cao.

Dạ tổ ong là phần tiếp theo, được nối với dạ cỏ bằng một miệng lớn, thức ăn có thể di chuyển dễ dàng. Dạ tổ ong có cấu tạo gồm rất nhiều ngăn nhỏ như tổ ong để làm tăng bề mặt tiếp xúc với thức ăn và giữ vật lạ lại. Chức năng chủ yếu của dạ tổ ong là đẩy thức ăn rắn, thức ăn chua được lên men trở lại dạ cỏ và góp phần đẩy thức ăn lên miệng để nhai lại. Sự lên men thức ăn ở đây cũng tương tự như ở dạ cỏ.

Dạ lá sách là dạ thứ ba tiếp theo dạ tổ ong, có hình cầu, vách được phủ một lớp nhu mô ngắn và có cấu trúc như một quyển sách nhờ các tấm mỏng xếp với nhau làm tăng bề mặt tiếp xúc với thức ăn. Chức năng chính là nghiền nhỏ hơn các thức ăn còn to, lọc và hấp thu các chất dinh dưỡng, hầu hết nước và một phần các chất điện giải được hấp thu ở đây.

Dạ múi khế là dạ dày tuyến, được coi là dạ dày thực, có cấu tạo gồm thân vị và hạ vị, ở đây có các tuyến và dịch tiêu hoá với qưá trình tiêu hoá và hấp thu tương tự như dạ dày đơn của các loài động vật khác. Trong dịch múi khế có các men tiêu hoá như pepxin, kimozin, lipaza. Thức ăn ở các túi trước của dạ dày liên tục đi vào dạ múi khế, các tuyến dịch cũng hoạt động liên tục, vi sinh vật và thức ăn còn lại có khả nàng tiêu hoá sẽ được phân giải bởi các men, tiếp tục tiêu hoá và hấp thụ tại ruột non.

Cấu Tạo Hệ Tiêu Hóa He Tieu Hoa Ppt / 2023

TRƯỜNG ĐH TDTT TP. HỒ CHÍ MINHKHOA Y SINHMÔN: SINH LÝSVTH: PHẠM TẤN KIỆTCẤU TẠO HỆ TIÊU HÓALưỡi:Gồm 15 cơ hợp lại, có niêm mạc phủ. Bề mặt lưỡi với các dạng nhú lưỡi và các vị trí chứa các tổ chức Amidal hay còn gọi là Hạnh nhân

Circumvallate Papillae: Nhú dạng vòngFungiform Papillae: Nhú dạng nấmPalatine Tonsil: Hạnh nhân khẩu cái hay Amidal khẩu cáiLingual Tonsil: Hạnh nhân lưỡi hay Amidal lưỡiFoliate Papillae: Nhú dạng láFiliform Papillae: Nhú dạng chỉ

PharingoPalatine Arch: Màn hầu hay Cung Khẩu cái-HầuPalatile Tosil : Hạnh nhân khẩu cái hay Amidal khẩu cáiGlossopalatine arch :Cung Lưỡi khẩu cáiBuccinator : Má

Lưỡi và các Nụ hay Nhú vị giácLarge taste buds: Các Nụ vị giác lớnSmall taste buds: Các Nụ vị giác nhỏ

Lưỡi và mặt lưng lưỡiMedian glossoepiglottic fold: Nếp gấp Lưỡi-Nắp khí quản giữaEpiglosstis : Nắp khí quảnLateral glossoepiglottic fold: Nếp gấp Lưỡi-Nắp khí quản bênVallecula : Rãnh nông Palatopharingeal arch and muscle: Cung và cơ Khẩu cái- HầuPalatine tonsil ( cut ) : Hạnh nhân hay Amidal khẩu cái ( đã cắt )Lingual tonsil ( lingual follicles ): Hạnh nhân hay Amidal lưỡi Các đầu sợi thần kinh vị giác trên bề mặt lưỡi chụp dưới kính hiển vi điện tử

Sơ đồ phân bố vùng cảm nhận vị giác trên bề mặt lưỡiBitter: Cảm nhận cảm giác đắngSour: Cảm nhận cảm giác chuaSalty: Cảm nhận cảm giác mặnSweet and fatty: Cảm nhận cảm giác ngọt và béo2. Cấu trúc của răng– Men răng là một lớp tinh thể canxi photphat rất bền và là chất cứng nhất do sinh giới tạo ra. Men răng không có khả năng tái tạo. Men răng có thể bị ăn mòn bởi axit trong khoang miệng, do đó cần phải đánh răng thường xuyên.– Ngà răng là cấu trúc tương tự như xương, hình thành nên phần chính của răng nằm ở bên trong. Có khả năng tái tạo nhưng rất hạn chế. Ngà răng đóng vai trò bảo vệ răng trong trường hợp men răng bị nứt hoặc vỡ.– Tủy răng nằm ở chính giữa của răng, chứa các mạch máu và dây thần kinh.– Xi măng bao quanh chân răng giữ cho răng nằm đúng vị trí– Giữa lớp xi măng với xương hàm có 1 lớp màng ngoài răng gồm những sợi collagen ngắn giúp răng có thể xê dịch 1 chút trong hố răng, giúp giảm đi những tác động làm nứt vỡ răng.II. HầuLà ngã tư của đường hô hấp và đường tiêu hóa. Cấu tạo bởi một ống xơ cơ đi từ nền sọ đến bờ dưới sụn nhẫn.Hình thể ngoài:Dài 12cm, đường kính 5cm, giới hạn bởi các thành:Thành trước: là hốc miệng, xoang mũi, thanh quản.Thành sau: là cột sống.Hai bên: phần mềm của cổĐầu trên là nền sọ, đầu dưới nối tiếp với thực quản.2. Hình thể trong:Mũi hầuMiệng hầuHầu thanh quản.III. THỰC QUẢN:Đi từ hầu đến lỗ tâm vị. Đầu trên tương ứng với đốt sống cổ thứ VI, đầu dưới tương ứng với đốt sống ngực XI.Hình thể ngoài:Dài 25cm, có 3 chổ thắt hẹp: eo nhẫn, eo phế chủ, eo hoành chia làm 4 đoạn: đoạn cổ, ngực, hoành và đoạn bụng.2. Cấu tạo: gồm 3 lớpCơ trơn: tạo ra những nhu động đẩy thức ăn từ trên xuống.Dưới niêm mạc: có nhiều mạch máuNiêm mạc: trơn láng.3.Nuôi dưỡng:2/3 trên được nuôi dưỡng bởi các nhánh động mạch từ động mạch chủ ngực. 1/3 dưới được nuôi dưỡng bởi động mạch nhánh vị từ động mạch thân tạng của động mạch chủ bụng được chi phối bởi một nhánh của dây thần kinh số X và thần kinh giao cảm cổ.IV. DẠ DÀYLà đoạn phình to nhất của ống tiêu hóa có hình túi để chứa đựng thức ăn và nhào bóp thức ăn, trên thông với thực quản, dưới thông với tá tràng.Vị trí: nằm dưới vóng hoành trái hơi chếch sang phải trên đại tràng ngang. Dạ dày đối chiếu với thành bụng trước phía trên lên tới liên sườn V, dưới tới đường ngang rốn hoặc đường lên mào chậu, đi từ đường nách trước trái tới đường cạnh ức trái.2. Hình Thể Ngoài Và Liên Quan:Dài 25cm, rộng 12cm, dày 8cm, hình chữ J hơi dẹt chứa được 1-2 lít, có 2 mặt, 2 bờ và 2 lỗ.Mặt: Mặt trước áp vào cơ hoành và thành bụng trước có một phần gan chen vào.Mặt sau là hậu cung mạc nối có khối tụy ở dưới lách và thận trái ở trênb.Bờ:Bờ cong bé: bên phải có mạc nối nhỏ và vòng mạch bờ cong vị bé.Bờ cong vị lớn: bên trái có mạc nối dạ dày – lách và mạc nối lớn bám vào vòng mạch bờ cong vị lớn.c.Lỗ:Lỗ trên thông với thực quản tương ứng với đốt sống ngực XILỗ dưới thông với tá tràng bởi lỗ môn vị tương ứng với đốt sống lưng I bên phải, có cơ thắt môn vị đóng mở.Kể từ trên xuống dạ dày có các phần sau:Tâm vị: rộng 3cm, nằm kế thực quản và bao gồm môn vị, lỗ này thông với thực quản.Đáy vị: phần phình to hình chõm cầu ở bên trái lỗ tâm vị đáy vị thường chứa 50ml không khí.Thân vị: tiếp với đáy vị, hình ống hình thành bởi 2 thành trước và sau của dạ dày và 2 bờ cong của dạ dày. Giới hạn: trên là mặt phằng cong qua lỗ tâm vị, giới hạn dưới là mặt phẳng ngang qua khuyết góc của bờ cong vị bé.Phần môn vị gồm: Hang môn vị: tiếp với thân vị chạy sang phải và ra sauỐng môn vị: thu hẹp lại và đổ vào môn vị Môn vị: là phần nối với tá tràng, giữa là lỗ môn vị nối thông với tá tràng.

Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hệ Tiêu Hóa (Phần 2) / 2023

Trong bài viết trước, chúng ta đã cùng nhau đi tìm hiểu về cấu tạo và đặc điểm của hệ tiêu hóa. Tuy nhiên với cấu tạo và đặc điểm như vậy thì hệ tiêu hóa có chức năng gì, hôm nay chúng ta cùng đi tìm hiểu về chức năng của hệ tiêu hóa và quá trình tiêu hóa diễn ra trong cơ thể.

Chức năng của hệ tiêu hóa

Hệ tiêu hóa được bắt đầu từ miệng →Thực quản → Dạ dày → Tá tràng →Ruột non → Đại tràng (ruột già) → Trực tràng → Hậu môn.

Thức ăn được đưa vào cơ thể qua đường miệng, sau đó đi qua các cơ quan khác của hệ tiêu hóa, ở đây thức ăn dần được làm nhỏ và các chất dinh dưỡng được phân giải thành các phân tử mà cơ thể có thể hấp thụ. Nhờ vậy mà cơ thể có năng lượng để thực hiện các hoạt động sống khác.

95% vi khuẩn, virus và các tác nhân gây bệnh xâm nhập cơ thể qua đường TIÊU HÓA, 5% qua đường HÔ HẤP và đường HẬU MÔN. Tuy nhiên có đến 70 – 80% hệ thống miễn dịch của chúng ta nằm ở ruột.

Đường ruột có cấu tạo đặc biệt, gồm các nhung mao và vi nhung mao, tạo nên diện tích tiếp xúc lên đến 40 – 50 m2. Hệ nhung mao kết hợp với hệ vi sinh đường ruột tạo nên một hàng rào bảo vệ tự nhiên ngăn các vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào máu. Ngoài ra, tại đường ruột có rất nhiều các tế bào miễn dịch. Nhờ vậy mà đường ruột có thể vừa hấp thụ dinh dưỡng vừa hạn chế được sự xâm nhiễm của các vi khuẩn gây bệnh qua đường tiêu hóa.

Niêm mạc ruột có khoảng 30 triệu các nhung mao, dưới nhung mao là các vi nhung mao, nó tạo ra bề mặt 40 – 50m2. Nhung mao kết hợp với hệ vi sinh đường ruột tạo thành lớp màng lọc đặc biệt kín kẽ. Màng lọc này chỉ cho các chất dinh dưỡng, các vitamin và khoáng chất có lợi đi qua và ngăn cản các vi khuẩn gây bệnh, các chất độc từ thực phẩm xâm nhập cơ thể.

Gan là một cơ quan chịu trách nhiệm cho hàng trăm hoạt động hóa học diễn ra liên tục mà cơ thể bạn cần để sống. Ngoài vai trò là trung tâm trong tất cả các quá trình trao đổi chất của cơ thể, chịu trách nhiệm tổng hợp và chuyển hóa các chất dinh dưỡng quan trọng như chất béo, carbohydrate và protein. Khi máu từ các cơ quan tiêu hóa đến gan, mang theo chất dinh dưỡng, thuốc và cả các chất độc hại, gan phát huy chức năng giải độc cho cơ thể bằng cách xử lý, chuyển đổi các chất độc hại thành một chất ít độc hại hơn là ure, rồi đẩy ngược vào máu. Ure sau đó được vận chuyển đến thận và bị đào thải ra khỏi cơ thể qua nước tiểu.

Với sự trợ giúp của vitamin K, gan còn tạo ra nhiều protein quan trọng trong quá trình đông máu. Nó cũng là một trong những cơ quan phá vỡ các tế bào máu cũ hoặc bị hư hỏng để tạo ra các tế bào máu mới. Đó là lý do vì sao người ta thường nói tái tạo máu, lọc máu cũng là một trong những chức năng của lá gan.

Quá trình tiêu hóa thức ăn của cơ thể

Thức ăn vào miệng được cắt nhỏ và làm nhuyễn bởi hệ thống răng miệng và được trộn đều với nước bọt do các tuyến nước bọt (ở dưới hàm, dưới lưỡi và mang tai) tiết ra.

Thức ăn được vào đường tiêu hóa và trải qua quá trình phân hủy những phân tử thức ăn lớn thành những phân tử nhỏ hơn. Sau đó các phân tử dinh dưỡng nhỏ này rời khỏi hệ tiêu hóa và đi vào cơ thể ngay trước khi chúng có thể được sử dụng. Điều này được hoàn thành bằng quá trình thứ hai được gọi là sự hấp thu, khi các phân tử thức ăn đi qua các màng huyết tương của ruột non vào máu.

Kết quả của quá trình tiêu hóa ở miệng, thức ăn được nghiền nhỏ nhào trộn lẫn nước bọt thành viên thức ăn mềm, trơn rồi được lưỡi đưa xuống họng vào thực quản, xuống dạ dày. Về mặt hóa học, một phần tinh bột được cắt nhỏ thành các đường đôi và tiếp tục quá trình tiêu hóa.

Sau khi thức ăn từ thực quản xuống dạ dày. Dạ dày có chức năng nghiền, nhào trộn thức ăn với dịch vị và kiểm soát việc đưa vị trấp xuống tá tràng.

Thức ăn được chứa đựng trong dạ dày và bắt đầu quá trình trộn lẫn với dịch vị dạ dày, bao gồm acid, enzyme pepsin, chất nhầy, tạo thành một chất bán lỏng, đồng nhất giống cháo bột gọi là vị trấp. Vị trấp được đưa từng đợt xuống tá tràng với tốc độ phù hợp với sự tiêu hóa và hấp thu ở ruột non.

Kết quả của quá trình tiêu hóa ở dạ dày là tạo ra vị trấp trong đó một phần protein được chuyển hóa thành proteose và pepton, một phần tinh bột chín thành maltose, maltotriose và oligosaccharide. Dầu mỡ, lipid hầu như chưa được phân giải.

Ở ruột non, thức ăn được nhào trộn với dịch mật và dịch tụy, dịch mật và dịch ruột. Sự tiêu hóa thức ăn bắt đầu từ miệng đến dạ dày sẽ được hoàn tất tại lòng ruột do biểu mô ruột non hấp thu. Sau đó các sản phẩm tiêu hóa được hấp thu cùng với vitamin, các chất điện giải và nước.

Kết quả của quá trình tiêu hóa ở ruột non là hấp thu hoàn toàn lượng glucose qua các tế bào biểu mô ở đoạn cuối hỗng tràng. Các protein, chất béo được cắt nhỏ ra thành các sản phẩm tiêu hóa dễ dàng hơn. Được khuếch tán qua màng tế bào biểu mô niêm mạc ruột.

Ruột già là vị trí cuối cùng thức ăn được hấp thu trước khi bị đào thải ra ngoài môi trường với chức năng chủ yếu là hấp thu nước và các chất điện giải.

Tại ruột già có rất nhiều vi khuẩn có nhiệm vụ tiết ra enzyme phân giải cấu trúc carbonhydrate phức tạp mà dạ dày và ruột non chưa tiêu hóa được. Các tuyến tiêu hóa tham gia vào quá trình tiết enzyme tiêu hóa để phân giải thức ăn. Ngoài ra gan là nhà máy xử lý các chất. Tất cả các chất sau khi được hấp thu tại ruột sẽ theo tĩnh mạch mạc treo tràng trên đổ vào tĩnh mạch của gan, lúc này gan có trách nhiệm dự trữ chất dinh dưỡng và chuyển hóa độc tố cho cơ thể.