Top 19 # Xem Nhiều Nhất Cấu Tạo Giải Phẫu Hệ Hô Hấp Của Gia Súc / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Cấu Tạo Hệ Cơ Và Hệ Hô Hấp Của Gia Cầm / 2023

Đăng ngày: 18/10/2013 21:51

Ở gia cầm, hệ cơ mịn, sợi nhỏ và chắc. Sự phát triển của hệ cơ phụ thuộc vào loài, giống, tuổi gia cầm. Ở các phần khác nhau của cơ thể gia cầm hệ cơ phát triển ở mức độ khác nhau

Ở gia cầm, hệ cơ mịn, sợi nhỏ và chắc. Sự phát triển của hệ cơ phụ thuộc vào loài, giống, tuổi gia cầm. Ở các phần khác nhau của cơ thể gia cầm hệ cơ phát triển ở mức độ khác nhau (hình 2.4). Cơ ngực phát triển tốt theo sự vận động của cánh và bảo vệ các cơ quan, bộ phận bên trong của ngực và bụng. Cơ có ý nghĩa kinh tế quan trọng trong sản xuất thịt, nó chiếm tỷ lệ lớn trong phần thịt ăn được của gà. Ở một số giống gà tây cơ ngực có thể phát triển đạt đến 1,5-1,9 kg.

Màu sắc cơ của gia cầm là màu trắng hoặc sẫm (đỏ sẫm). Khi luộc thì cơ của gà và gà tây thì sáng hơn còn ở thuỷ cầm thì sẫm hơn. Tốc độ chảy của máu qua cơ quy định màu của nó. Chân có thịt màu sẫm trong khi ngực có thịt màu trắng. Gà, gà tây đi lại nhiều thì thịt có màu sáng hơn, trong khi thuỷ cầm thịt có màu sẫm hơn.

Độ lớn của tế bào cơ biến động từ 10-100, chiều dài từ 6-12 cm. Các tế bào cơ chứa 70-75% là nước, 17-19% protit, 1-7% các hợp chất không chứa nitơ, khoảng 1% chất khoáng và 3,9% mỡ.

Ngày nay đã xác định được mối tương quan thuận giữa khối lượng cơ đùi, cơ lườn (ngực) với khối lượng cơ thể gia cầm.

Hệ hô hấp ở gia cầm ngoài phổi còn có các túi khí. Phổi của gia cầm nhỏ nên ngoài phổi ra, ở gia cầm còn có 7-9 túi khí tham gia vào quá trình hô hấp. Đó là 1 túi cổ, 2 túi dưới đòn, 2 túi ngực trước, 2 túi ngực sau và 2 túi bụng (hình 2.3).

Trong quá trình hô hấp, phổi thực hiện động tác chủ động còn các túi khí thì bị động. Thể tích chung của các túi khí ở gà là 125­160 cm3, thể tích khí ở phổi là 13-15 cm3. Ở gia cầm không có hoành cách mô phân cách giữa khoang ngực và khoang bụng như ở gia súc, vì vậy không có áp lực đặc biệt của ngực khi hô hấp mà chỉ có áp lực của phổi. Một lần thực hiện động tác hô hấp, dung lượng của phổi và khí trong đường hô hấp khoảng 45 cm3 ở gà, 38 cm3 ở vịt, 4,7-5,2 cm3 ở bồ câu. Hàm lượng ôxy trong khí hít vào là 20,94% và trong khí thở ra là 17,00%.

Hình 2.3: Hệ hô hấp ở gia cầm

A- xương đòn; B-phổi; 1- túi dưới đòn; 2- tuí ngực trước; 3- túi ngực sau; 4- túi lưng; 5- túi bụng

Ngoài chức năng hô hấp, túi khí còn có tác dụng như sau: làm mát tinh hoàn, tim và các nội quan khác; làm giảm khối lượng tương đối của gia cầm giúp gia cầm bay và bơi được tốt; tăng độ ẩm của không khí hít vào; giúp cho việc giữ cân bằng khi các cơ quan bên trong thay đổi vị trí tương đối của nó…

→ TẢI TÀI LIỆU

Hệ Hô Hấp Của Gia Cầm / 2023

Gia cầm có nhu cầu oxy cao hơn rất nhiều so với gia súc, do đó đặc điểm giải phẫu – sinh lý của bộ máy hô hấp rất đặc biệt, đảm bảo cường độ trao đổi khí cao trong quá trình hô hấp. Cơ hoành không phát triển, hai lá phổi nhỏ, đàn hồi kém, lại nằm kẹp vào các xương sườn nên hệ hô hấp được bổ sung thêm hệ thống túi khí. Túi khí có cấu trúc túi kín (giống như bóng bay) có màng mỏng do thành các phế quản chính và phế quản nhánh phình ra mà thành. Theo chức năng, các túi khí được chia thành túi khí hít vào (chứa đầy khí hít vào) và túi khí thở ra (chứa đầy khí thở ra). Gia cầm có 9 túi khí gồm 4 cặp nằm đối xứng nhau và một túi lẻ.

Các cặp túi hít vào gồm cặp bụng và cặp ngực phía sau. Các túi khí to nhất là những phần tiếp theo của các phế quản chính. Túi bên phải lớn hơn túi bên trái. Cả hai túi có bọc tịt (túi thừa) kéo vào tới xương đùi, xương chậu và xương thắt lưng – xương cùng, có thể nối cả với các xoang của những xương này.

Túi khí ngực sau nằm ở phần sau xoang ngực và kéo dài tới gan.

Túi khí ngực trước nằm ở phần bên của xoang ngực, d ưới phổi, và kéo dài tới x ương sườn cuối cùng.

Cặp túi khí cổ kéo dài dọc theo cổ tới đốt sống cổ thứ 3 – 4, nằm trên khí quản và thực quản. Theo đường đi, các túi khí này tạo ra thêm các bọc, toả vào các đốt sống cổ, ngực và xương sườn. Túi khí lẻ giữa xương đòn nối với các túi khí cổ. Nhờ hai ống túi này nối với hai lá phổi và có ba cặp túi thừa, một cặp đi vào hai xương vai, cặp thứ hai đi vào khoảng trống giữa xương quạ và xương sống, cặp thứ ba vào giữa các cơ và vai ngực. Phần giữa lẻ của túi giữa xương đòn nằm giữa xương ngực và tim.

Dung tích tất cả các túi khí của gà là 130 – 150 cm 3, lớn hơn thể tích của phổi 10 – 12 lần.

Các túi khí còn có vai trò trong việc điều hoà nhiệt của cơ thể, bảo vệ cơ thể khỏi bị quá nóng hoặc quá lạnh. Nếu tách hệ thống túi khí khỏi quá trình hô hấp của gia cầm thì khi cơ làm việc nhiều, thân nhiệt sẽ tăng lên quá mức bình thường.

Nằm giữa các cơ quan bên trong và dưới da, các túi khí đồng thời làm giảm khối lượng cơ thể gia cầm. Thêm nữa, sự phế hoá các xương cũng có ý nghĩa về mặt này. Ở thuỷ cầm, nhờ có các túi khí làm cho không những khối lượng riêng của cơ thể giảm mà quá trình trao đổi khí cũng kéo dài hơn. Vì vậy vịt có thể lặn dưới nước tới 15 phút liền.

1- Túi giữa xương đòn; 2 – Lối vào xương vai; 3 – Túi cổ; 4 – Túi ngực trước; 5 -Túi ngực sau; 6- Túi bụng; 7 – Phổi; 8 – Phế quản chính; 9 – Phế quản ngoài của túi bụng; 10 – Phế quản túi ngực sau; 11 – Phế quản túi bụng;

Gia cầm hô hấp kép, đó là các đặc điểm điển hình của cơ quan hô hấp. Khi hít vào, không khí bên ngoài qua mũi để vào phổi, sau đó vào các túi khí bụng (túi khí hít vào), trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ nhất. Khi thở ra, không khí từ các túi khí bụng và ngực sau, bị ép và đẩy ra qua phổi, trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ hai.

Nồng độ khí cacbonic ở không khí thở ra của gia cầm tương đối lớn, ở vịt tới 4,9%, ở bồ câu 4,2%.

Tần số hô hấp ở gia cầm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loài, giới tính, độ tuổi, khả năng sản xuất, trạng thái sinh lý, điều kiện nuôi dưỡng và môi trường (nhiệt độ, độ ẩm, thành phần khí trong không khí, áp suất khí quyển …). Tần số hô hấp thay đổi trong ngày và đặc biệt trong các trạng thái bệnh lý khác nhau của cơ thể.

Dung tích thở của phổi gia cầm được bổ sung bằng dung tích các túi khí, cùng với phổi, tạo nên hệ thống hô hấp thống nhất. Dung tích thở của phổi và các túi khí được tính bằng tổng thể tích không khí hô hấp, bổ sung và dự trữ. Ở gà dung tích này bằng 140 – 170cm 3, ở vịt 300 – 315cm 3. Các thể tích bổ sung và dự trữ của dung tích ở trong thực tế không đo được. Không xác định được cả thể tích không khí lưu lại.

Trao đổi khí giữa không khí và máu gia cầm bằng phương thức khuyếch tán, quá trình này phụ thuộc vào áp suất riêng phần của các khí có trong không khí và trong máu gia cầm.

Trong khí quyển hoặc trong những chuồng nuôi thông thoáng tốt thường có: oxi 20,94%; CO 2 0,03%; nitơ và các khí trơ khác (acgon, heli, neon…) – 79,93%. Trong không khí thở ra của gia cầm có 13,5 – 14,5% oxi và 5 – 6,5% cacbonic.

Trong chăn nuôi gia cầm, việc tạo chuồng nuôi có độ thông thoáng lớn, tốc độ gió lưu thông hợp lý nhằm cung cấp khí sạch, loại thải khí độc (CO 2 , H 2 S…), bụi ra khỏi chuồng, có một ý nghĩa vô cùng to lớn.

Bảng 1.2. Tần số hô hấp, thể tích phổi và túi khí của các loài gia cầm khác nhau

Răng Bò: Giải Phẫu Cấu Trúc Hàm Gia Súc, Công Thức Và Cách Bố Trí / 2023

Sơ đồ bố trí và công thức răng của bò, giải phẫu cấu tạo hàm của bò

Gia súc là loài động vật có vú tạo thành phần nhai lại, có cấu trúc phức tạp của đường tiêu hóa. Do khả năng tiêu thụ lượng lớn thức ăn nên đường tiêu hóa của gia súc phải tiêu hóa nhanh thức ăn. Để cơ thể hấp thụ các chất dinh dưỡng từ thức ăn, một tải trọng lớn được đặt lên răng. Theo tình trạng của răng ở bò, người ta không chỉ có thể xác định tuổi mà còn có thể ngăn ngừa sự phát triển của các bệnh và bệnh lý có thể xảy ra.

Cấu trúc hàm ở gia súc

Số lượng đơn vị răng ở gia súc không chỉ phụ thuộc vào tuổi mà còn phụ thuộc vào khẩu phần ăn, chất lượng dinh dưỡng, điều kiện chuồng trại, cách chăm sóc, tình trạng sức khoẻ. Một con bò cái trưởng thành khỏe mạnh có 32 chiếc răng vĩnh viễn. Trong đó 24 chiếc là răng hàm dài, 8 chiếc là răng cửa. Tất cả các đơn vị nha khoa phải được hình thành trước năm tuổi. Có thể thấy răng cửa hàm dưới ngắn ở hàm dưới. Đứng sau họ là những người bản địa.

Thay đổi các triệu chứng

Sự mài mòn men răng ở bê con xảy ra sau khi kết thúc giai đoạn cho sữa, cụ thể là việc chuyển từ sữa non sang thức ăn tự nhiên rắn hơn (cỏ khô, thức ăn hỗn hợp, ngũ cốc).

Quan trọng! Sự thay đổi của các đơn vị sữa ở bê con xảy ra sau 4 đến 5 tháng. Trong giai đoạn này, cần chú ý đến chất lượng cho ăn. Khẩu phần ăn của gia súc non được bổ sung nhiều vitamin và khoáng chất với hàm lượng cao canxi, phốt pho, vitamin D3.

Thay đổi các triệu chứng:

nhiệt độ tăng 0,5-1,5 độ;

giảm hoạt động, thờ ơ, thờ ơ;

cơn khát tăng dần;

giảm cảm giác thèm ăn do hội chứng đau cấp, từ chối hoàn toàn thức ăn thô;

giảm cân không đáng kể, giảm mức tăng trọng lượng cơ thể hàng ngày;

răng mọc loạng choạng, không vững;

tiết nhiều nước bọt;

giảm sản lượng sữa, năng suất.

Sự thay răng sữa thành răng vĩnh viễn ở gia súc bắt đầu bằng móc ở tuổi 11-12 tháng. Nó xảy ra trong nhiều giai đoạn và kéo dài đến năm năm. Các răng cửa được tẩy trước, sau đó đến răng cửa trong và móc. Lâu dần, răng cửa giữa bị rụng.

Ở tuổi 1,5-2, các cạnh (cặp răng cửa cực lớn) được mài. Sau khi các móc rụng ra, răng hàm được hình thành ở vị trí của chúng.

Các bệnh có thể xảy ra về răng và bò rừng

Cấu Tạo Giải Phẫu Của Thận / 2023

Thận là một cơ quan trong hệ tiết niệu có nhiều vai trò quan trọng với cơ thể trong đó vai trò quan trọng nhất là lọc máu đào thải chất độc hại ra khỏi cơ thể. Ở bài viết này thiên châu ích thận hoàn gold sẽ giúp mọi người tìm hiểu về đặc điểm cấu tạo giải phẫu của thận.

Vị trí: cơ thể có 2 quả thận nằm ở trong khoang bụng, phía sau phúc mạc trong góc xương sườn thứ 11 và cột sống thắt lưng ngay trước cơ thắt lưng. Thận phải ở vị trí thấp hơn thận trái khoảng 2 cm.

Hình dạng: mỗi quả thận có hình dạng giống hạt đậu màu nâu đỏ, Thận có 2 mặt (mặt trước lồi, mặt sau phẳng), 2 bờ (một bờ lồi và một bờ lõm) và 2 cực.

Kích thước: thận của người trưởng thành có khối lượng khoảng 150-170g, dài khoảng 10 – 12.5 cm, rộng 5-6 cm, dày 3-4 cm.

Thận được bọc trong một bao sợi, ở giữa là xoang thận, có mạch máu thần kinh, bể thận đi qua và được làm đầy bởi tổ chức mỡ. Bao quanh xoang thận là nhu mô thận có hình bán nguyệt.

Xoang thận thông ra ngoài rốn thận. Thành xoang có nhiều chỗ lồi lõm. Chỗ lồi có hình nón gọi là nhú thận. Ðầu nhú có nhiều lỗ của các ống sinh niệu đổ nước tiểu vào bể thận. Xoang thận chứa bể thận, đài thận cũng như mạch máu, tổ chức mỡ. Mỗi thận như vậy có khoảng 7 – 14 đài thận nhỏ. Các đài thận nhỏ họp thành 2 – 3 đài thận lớn. Các đài thận lớn tạo thành bể thận, bể thận lại nối tiếp với niệu quản.

Nhu mô thận gồm có hai phần là vỏ thận và tủy thận:

+Vỏ thận gồm cột thận là phần nhu mô nằm giữa các tháp thận và tiểu thuỳ vỏ là phần nhu mô từ đáy tháp đến bao sợi. Tiểu thuỳ vỏ lai chia thành 2 phần: phần tia gồm các khối hình tháp nhỏ, đáy nằm trên đáy tháp thận, đỉnh hướng ra bao sợi thận và phần lượn là phần nhu mô xen giữa phần tia.

+Tuỷ thận được cấu tạo bởi nhiều khối hình nón gọi là tháp thận, đáy tháp quay về phía bao thận, đỉnh hướng về xoang thận tạo nên nhú thận, phần giữa của thận có 2 – 3 tháp chung một nhú thận, phần 2 cực thận có khi 6 – 7 tháp chung nhau 1 nhú thận. Các tháp thận sắp xếp thành 2 hàng dọc theo 2 mặt trước và sau thận.

Nhu mô thận được cấu tạo chủ yếu bởi những đơn vị chức năng thận là nephron. Mỗi nephron gồm: 1 tiểu thể thận và 1 hệ thống ống sinh niệu:

+Tiểu thể thận gồm 1 bao ở ngoài (bao Bowman) và bên trong là 1 cuộn mao mạch. Bao Bowman giống như một cái bọc có 2 lớp ôm lấy cuộn mạch. Giữa 2 lớp là khoang Bowman chứa dịch siêu lọc (nước tiểu đầu). Bao Bowman thông trực tiếp với ống lượn gần. Nó có một đầu hẹp cho vừa đủ đông mạch đến và động mạch đi chui qua.

+Hệ thống sinh niệu gồm: các tiểu quản lượn, ống lượn gần, quai Henlé, ống lượn xa, và ống thu thập. Quai Henlé, ống thẳng, ống thu thập nằm trong phần tia của vỏ thận và tủy thận. Mỗi phần của nephron có 1 vai trò riêng trong việc bài tiết, hấp thu nước và 1 số chất trong quá trình thành lập nước tiểu.