【#1】Magnesium Chloride Là Gì? Cấu Tạo, Tính Chất & Công Dụng Của Hóa Chất

Magnesium chloride là gì? MgCl2 là gì? Cấu tạo phân tử của Magnesium chloride như thế nào? Những tính chất nào đặc trưng cho hóa chất Magnesium chloride? Cách nào dùng để điều chế Magnesium chloride – MgCl2? Những công dụng của hóa chất Magnesium chloride – MgCl2 này là gì? Và nơi nào đang cung cấp hóa chất Magnesium chloride – MgCl2?

Magnesium chloride – MgCl2 là hóa chất công nghiệp được sử dụng rộng rãi hiện nay. Và việc biết thêm nhiều thông tin về hóa chất này là nhu cầu thiết yếu. Vì vậy, Công ty Trung Sơn sẽ giúp bạn tìm hiểu về hóa chất Magnesium chloride này.

MAGNESIUM CHLORIDE LÀ GÌ? MGCL2 LÀ GÌ? CẤU TẠO PHÂN TỬ CỦA HÓA CHẤT MAGNESIUM CHLORIDE

Magnesium chloride là gì? MgCl2 là gì?

Magnesium chloride là một hợp chất muối halogen với công thức hóa học là MgCl2 hoặc MgCl2(H2O)x với dạng ngậm nước. Đây là hợp chất tinh thể tồn tại ở dạng bột hoặc vảy màu trắng, có khả năng hòa tan trong nước cao nhưng lại ít tan trong acetone và không bắt lửa.

Magnesium chloride còn có các tên gọi khác nhau như Magie clorua, Magnesium dichloride, …

Magnesium chloride được ứng dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp cho đến y tế. Đặc biệt dạng Magnesium chloride ngậm 6 nước được sử dụng thương mại nhiều nhất.

Cấu tạo phân tử của Magnesium chloride như thế nào?

TÍNH CHẤT LÝ HÓA CỦA MAGNESIUM CHLORIDE

Tính chất vật lý của Magnesium chloride là gì?

  • Magnesium chloride là chất rắn kết tinh màu trắng hoặc không màu, có vị đắng. Tan được trong nước và có tính hút ẩm mạnh.
  • Khối lượng mol của MgCl2 là 95.211 g/mol (khan) và 203.31 g/mol (ngậm 6 nước).
  • Khối lượng riêng của MgCl2 là 2.32 g/cm3 (khan) và 1.569 g/cm3 (ngậm 6 nước).
  • Điểm nóng chảy của MgCl2 là 714 °C (khan) và 117 °C (ngậm 6 nước).
  • Điểm sôi của MgCl2 là 1.412 °C (1.685 K; 2.574 °F).
  • Độ hòa tan trong nước của MgCl2 khan là 52.9 g/100 mL (0 °C) , 54.3 g/100 mL (20 °C) và 72.6 g/100 mL (100 °C).
  • Độ hòa tan trong nước của MgCl2 dạng ngậm nước là 167 g/100 mL (20 °C).
  • Độ hòa tan trong ethanol của MgCl2 là 7.4 g/100 mL (30 °C).

Tính chất hóa học của Magnesium chloride là gì?

Magie clorua có thể tác dụng với các bazơ và tạo ra kết tủa trắng như sau:

Magie clorua có thể tác dụng với các muối khác như sau:

Magie clorua bị điện phân nóng chảy để tạo thành khí Cl2 màu vàng lục bay lên.

Magie clorua có thể tác dụng với khí Amoniac như sau:

Magie clorua có thể tác dụng với nước ở điều kiện 500 độ C như sau:

CÁCH ĐIỀU CHẾ MAGNESIUM CHLORIDE

Magnesium chloride chủ yếu được điều chế bằng phương pháp phân tách với nguyên liệu chủ yếu để sản xuất đó là nước muối mặn hoặc nước biển.

Giá trị Magie trong nước biển tự nhiên là từ 1250 đến 1350 mg/l, khoảng 3,7% tổng hàm lượng nước biển. Đặc biệt, tỷ lệ magiê clorua trong biển chết cao hơn rất nhiều đó là 50,8%.

CÔNG DỤNG CỦA MAGNESIUM CHLORIDE

Magnesium chloride với ứng dụng trong việc tạo ra các chất khác:

Magnesium chloride dùng làm tiền chất để sản xuất các hợp chất khác của magie hoặc magie.

Magnesium chloride với ứng dụng trong nông nghiệp:

Đối với nuôi trồng thủy sản, Magnesium chloride sẽ cung cấp khoáng chất magie cho ao nuôi tôm, cá, động vật thủy sinh khác. Giúp ổn định môi trường nước, cân bằng khoáng chất trong ao nuôi

Đối với trồng trọt, Magnesium chloride là nguồn phân bón bổ sung ion Mg2+ cho cây trồng với tác dụng hỗ trợ cho hoạt động quang hợp và hô hấp của cây.

Magnesium chloride với ứng dụng trong y tế

Magnesium chloride có tác dụng điều trị các vấn đề do thiếu Magie trong cơ thể mang lại.

Magnesium chloride được sử dụng làm chất gây mê hoặc để khử trùng, sát khuẩn các dụng cụ y tế.

Magnesium chloride được dùng làm thuốc điều trị các bệnh về da hoặc nhuận tràng.

Magnesium chloride được ứng dụng công nghiệp khác:

Magnesium chloride là nguyên liệu quan trọng trong sản xuất vật liệu xây dựng như: gạch thủy tinh, sàn gạch, xi măng, …

Magnesium chloride còn được sử dụng trong công nghiệp khai thác và luyện kim.

Magnesium chloride là muối được sử dụng nhiều trong ngành sản xuất giấy, dệt may.

Magnesium chloride là thành phần quan trọng chứa trong bình chữa cháy.

Magnesium chloride với ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm

Magnesium chloride được sử dụng như một chất phụ gia, chất chống đông và bảo quản an toàn cho con người.

NƠI CUNG CẤP HÓA CHẤT MAGNESIUM CHLORIDE

Magnesium chloride – MgCl2 là một hóa chất công nghiệp vô cùng phổ biến và có rất nhiều ứng dụng quan trọng trong cuộc sống vì vậy nhu cầu sử dụng hóa chất này rất lớn. Và cũng chính vì thế, nó đặt ra câu hỏi khá lớn đối với khách hàng đó là làm thế nào để có thể chọn mua cho mình Magnesium chloride – MgCl2 chất lượng và nhà cung cấp uy tín?

Hôm nay, Chúng tôi sẽ giới thiệu với bạn một đơn vị cung cấp hóa chất Magnesium chloride – MgCl2 vô cùng chất lượng và giá cả cạnh tranh cũng như xuất xứ rõ ràng đó chính là – Nơi cung cấp Công ty Trung Sơnhóa chất công nghiệp, hóa chất tinh khiết và những dụng cụ thí nghiệm hàng đầu tại khu vực phía Nam.

Hãy liên hệ hotline để được nhận báo giá hóa chất Magnesium chloride – MgCl2 nhanh nhất. Hoặc truy cập https://tschem.com.vn/ tham khảo các sản phẩm khác nếu bạn có nhu cầu.

【#2】Ôn Thi Vào Lớp 6 Thcs Nn Môn Khxh & Tiếng Việt: Cấu Trúc Đề Thi, Hướng Dẫn Phạm Vi Và Bộ Đề Ôn Luyện

Phần lớn các trường THCS có thi tuyển ở Hà Nội đều tổ chức kiểm tra, đánh giá năng lực 3 môn Tiếng Việt, Toán, Tiếng Anh. Riêng THCS Ngoại Ngữ, 2 bài thi đầu có tên Khoa học tự nhiên và Toán; Khoa học xã hội và Tiếng Việt. TiengAnhK12 giới thiệu chi tiết cấu trúc đề thi, hướng dẫn phạm vi ôn luyện và tổng hợp bộ đề ôn luyện Khoa học xã hội và Tiếng Việt. giúp những sĩ tử chinh phục thành công mục tiêu thi đỗ THCS Ngoại Ngữ.

Cấu trúc bài thi Khoa học xã hội và Tiếng Việt

Theo thông tin từ trường THCS Ngoại Ngữ, bài thi kiểm tra đánh giá năng lực Tự nhiên xã hội và Tiếng Việt có:

  • Tổng thời gian: 45 phút
  • Tổng số câu hỏi: 12 câu (6 câu khoa học xã hội + 6 câu Tiếng Việt)
  • Hình thức câu hỏi: Trắc nghiệm + Tự luận
  • Hình thức làm bài: HS làm bài trên đề thi
  • Nội dung: Chương trình giáo dục Tiểu học, chủ yếu là chương trình lớp 5 hiện hành của Bộ GD&ĐT

Hướng dẫn ôn luyện bài thi Khoa học xã hội và Tiếng Việt

1. Khoa học xã hội

Nội dung Khoa học xã hội trong bài thi Khoa học xã hội và Tiếng Việt được tóm tắt trong mô tả cấu trúc đề thi của trường THCS Ngoại ngữ như sau:

1.1. Lịch sử – Địa lý

  • Kiến thức – kỹ năng cơ bản, thiết yếu của địa phương, vùng miền, đất nước Việt Nam; các nước láng giường, một số nét cơ bản về địa lý, lịch sử thế giới
  • Vận dụng vào thực tiễn
  • Học cách ứng xử phù hợp với tự nhiên và xã hội

1.2. Đạo đức

    Một số chuẩn mực hành vi đạo đức:
    • Chuẩn mực hành vi mang tính pháp luật,
    • phù hợp với lứa tuổi,
    • trong quan hệ với bản thân, với người khác, với công việc, với cộng đồng, đất nước, nhân loại, với môi trường tự nhiên
    Ý nghĩa của việc thực hiện:
    • Kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi theo chuẩn mực đã học
    • Kỹ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp Trong các quan hệ và tình huống đơn giản, cụ thể

Các chủ điểm kiến thức và dạng bài cần vững cho phần thi Khoa học xã hội. Với mỗi chủ điểm, nếu luyện tập đủ nhiều để Master Level có màu xanh, các em có thể tự tin chinh phục kì thi tuyển sinh chính thức.

Ví dụ: Em hãy khoanh tròn lựa chọn đúng nhất A, B, C hoặc D.

Các nước có biên giới chung với Việt Nam là:

A. Trung Quốc, Lào, Thái Lan

B. Lào, Thái Lan, Cam-pu-chia

C. Lào, Trung Quốc, Cam-pu-chia

D. Trung Quốc, Mi-an-ma, Cam-pu-chia

1.3. Lưu ý:

Các nội dung kiểm tra kiến thức Đạo đức trên sẽ chỉ có ý nghĩa khi các bạn hiểu được chuẩn mực đạo đức, pháp luật phải được áp dụng vào thực hành. Ở đây nhấn mạnh đến tính thực tiễn. Chúng ta không chỉ trắc nghiệm câu A, B, C theo sách giáo khoa. Quan trọng hơn, các bạn phải hiểu kiến thức đó vận dụng vào trong trường hợp bạn A, bạn B, bố mẹ hay chính bản thân mình trong xã hội, trong học tập như thế nào. Từ đó, các bạn có thể lựa chọn cách ứng xử sao cho phù hợp.

2. Tiếng Việt

Nội dung Tiếng Việt trong bài thi Khoa học xã hội và Tiếng Việt được tóm tắt trong mô tả cấu trúc đề thi của trường THCS Ngoại ngữ như sau:

2.1. 02 câu kiểm tra kiến thức

  • Ngữ âm và chữ viết; từ vựng, ngữ pháp, phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ
  • Cấu tạo 3 phần của văn bản; các kiểu văn bản: kể chuyện, miêu tả, thư
  • Lưu ý: Thí sinh sẽ được kiểm tra kiến thức ở các mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao – mức độ sáng tạo (chiếm 15-20% cấu trúc)

2.2. 02 câu kiểm tra kỹ năng

  • Đọc hiểu nội dung, ý nghĩa của văn bản; nhận biết một số chi tiết nghệ thuật của văn bản (từ ngữ, hình ảnh, nhân vật…)
  • Viết đoạn văn, bài văn kể chuyện, miêu tả, viết thư…

Các chủ điểm kiến thức và dạng bài cần vững cho phần thi Tiếng Việt. Với mỗi chủ điểm, nếu luyện tập đủ nhiều để Master Level có màu xanh, các em có thể tự tin chinh phục kì thi tuyển sinh chính thức.

Ví dụ: Em hãy đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Khi Totto-chan sắp sửa hỏi mẹ “Tomoe” có nghĩa là thế nào thì em thoáng nhận ra một cái gì đó đằng xa làm em cứ tưởng mình đang trong giấc mơ. Em ngồi thụp xuống, nhòm qua bụi cây để thấy cho rõ hơn, và em không thể tin vào mắt mình nữa.

– Mẹ ơi, có đúng một con tàu kia không? Kia kìa, ở trong sân trường ấy!Để làm phòng học, nhà trường đã phải tận dụng sáu toa tàu bỏ không. Một trường học trên một con tàu! Điều này đối với Tôt-tô-chan giống như một giấc mơ thật? Cửa sổ của các toa tàu long lanh trong nắng mai. Nhưng đôi mắt của cô bé má hồng nhìn chúng qua bụi cây còn long lanh hơn thế nữa”.(Trích Totto-chan bên cửa sổ – Kurroyanagi Tetsuko, NXB Văn học, 2021)

Đoạn trích trên vẽ lên hình ảnh ngôi trường Tomoe, một ngôi trường rất đặc biệt – ngôi trường trên những toa tàu. Cô bé Totto-chan dường như đã bị cuốn hút ngay từ cái nhìn đầu tiên và chắc hẳn lúc ấy, cô bé rất tò mò muốn biết đó là một ngôi trường như thế nào.

Bằng trí tưởng tượng của mình, em hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 100 từ) miêu tả ngôi trường trong mơ ước của em.

    Lưu ý: Nội dung được kiểm tra không hề xa lạ nhưng yêu cầu thí sinh phải khai thác hết những kiến thức của mình. Đặc biệt là những cảm nhận thực tế, chân thực về cuộc sống, về những con người xung quanh. Hơn hết, đó là những suy tư của chính các con chứ không phải nói bằng lời của người khác.

Sách và bộ đề ôn luyện bài thi Khoa học xã hội và Tiếng Việt

Trên thị trường hiện có 03 đầu sách để các em HS và phụ huynh tham khảo, ôn luyện cho bài thi KHXH & Tiếng Việt vào trường THCS Ngoại ngữ:

【#3】Những Cấu Trúc Câu Phổ Biến Nhất Trong Tiếng Anh

Embed Size (px)

NHNG CU TRC CU PH BIN NHT TRONG TING ANH (PHN 2)

1. feel like + V-ing(cm thy mun lm g)Ex: Sometimes I feel like running away from everything( Thnh thong ti mun trn chy khi tt c)

2. expect someone to do something(mong i ai lm g)Ex: I expect my dad to bring some gifts for me from his journey (Ti hi vng cha s mang qu v cho ti)

4. go + V-ing(ch cc tr tiu khin..)(go camping)Ex: I went shopping and fishing with my friends (Ti i mua sm v cu c vi cc bn ti)

5. leave someone alone ( ai yn)Ex: Alex asked everyone to leave him alone (Alex yu cu mi ngi hay anh y yn)

6. By + V-ing(bng cch lm)Ex: By telling some jokes, he made everyone happy( Anh y lm mi ngi vui bng cch k chuyn ci)

7. for a long time = for years = for ages( nhiu nm ri)(dng trong th hin ti hon thnh)EX: I haven’t seen them for ages (Ti khng gp h lu lm ri)

8. could hardly(hu nh khng)( ch : hard khc hardly)Ex: The lights were off, we could hardly see anything(n tt, chng ti hu nh khng thy g c)

9. When + S + V(ct 2), S + had + V_ct 3 : Mnh 2 xy ra trc mnh 1 nn li li 1 th nh :Ex: When my Dad came back, my Mom had already ppared the meal(Khi b ti v, m chun b xong ba n)

10. to be afraid of(s ci g..)Ex: There’s nothing for you to be afraid of (Khng c g cu phi s c)

Whats on your mind? Bn ang lo lng g vy?

I was just thinking. Ti ch ngh linh tinh thi.

I was just daydreaming. Ti ch ng tr i cht thi.

Is that so? Vy h?

How come? Lm th no vy?

Right on! (Great) Qu ng!

Get your head out of your ass ng c gi v kh chúng tôi the nick of time. Tht l ng lc.

No litter Cm vt rc.

Yours! As if you didnt know. Ca bn/ my ch ai, c gi b khng bit.

What a jerk! Tht l ng ght.

Almost! Gn xong ri.

Hit it off. Tm u hp .

Mark my words! Nh li tao .

Me? Not likely! Tao h? Khng i no!

What on earth is this? Ci qui g th ny.

Say hello to your friends for me. Gi li cho ca anh ti bn em.

Dont get me wrong. ng hiu sai ti.

Its over. Chuyn qua ri.

Anythings fine. Ci g cng c.

Either will do. Ci no cng tt .

Always the same. Trc sau nh mt .

How does that sound to you? Bn thy vic c c khng?

Ill take you home. Ti s ch bn v

Nothings happened yet. Ch thy g xy ra c.

/.(Ti y hm nay trnh by vi cc bn v)

I would like to psent to you .(Nh cc bn u bit, hm nay ti s trao i vi cc bn v)

I am delighted to be here today to tell you about(Ti rt vui c c mt y hm nay k cho cc bn v)

My psentation is pided into x parts.(Bi thuyt trnh ca ti c chia ra thnh x phn.)

I’ll start with / Firstly I will talk about / I’ll begin with(Ti s bt u vi/ u tin ti s ni v/ Ti s m u vi)

then I will look at (Sau ti s chuyn n phn)

Next, (tip theo )

and finally(cui cng)

I’ll start with some general information about (Ti s bt u vi mt vi thng tin chung v)

I’d just like to give you some background information about (Ti mun cung cp cho bn vi thng tin s lt v)

As you are all aware / As you all know(Nh cc bn u bit)

Firstly…secondly…thirdly…lastly… (u tinth hai th bacui cng)

【#4】Cấu Trúc So That Such That Trong Tiếng Anh

Công thức so that such that trong tiếng anh

Cấu trúc chúng tôi (quá …….đến nỗi)

Ví dụ:

– The food was so hot that we couldn’t eat it. (Thức ăn nóng quá đến nỗi chúng tôi không thể ăn được)

– The girl is so beautiful that every one likes her. (Cô gái đó xinh quá đến nỗi ai cũng yêu quý cô ấy)

Các động từ chỉ tri giác như sau: seem, feel, taste, smell, sound, look….

– I felt so angry that I decided to cancel the trip.(Tôi tức giận quá đến nỗi mà tôi đã hủy ngay chuyến đi)

– She looks so beautiful that every boy in class looks at her. (Trông cô ấy xinh quá đến nỗi mọi chàng trai trong lớp đều nhìn cô ấy)

Ví dụ: He drove so quickly that no one could caught him up. (Anh ta lái xe nhanh đến nỗi không ai đuổi kịp anh ta.)

Cấu trúc chúng tôi này cũng được dùng với danh từ, trong câu xuất hiện so many/ much/ little….

Ví dụ: She has so many hats that she spends much time choosing the suitable one. (Cô ấy có nhiều mũ đến nỗi cố ấy rất rất nhiều thời gian để chọn lựa một chiếc thích hợp)

Ví dụ: He drank so much milk in the morning that he felt bad. (Buổi sáng anh ta uống nhiều sữa đến mức mà anh ấy cảm thấy khó chịu)

S + V + so + adj + a + noun (đếm được số ít) + that + S + V

Ví dụ:

– It was so big a house that all of us could stay in it. (Đó là một ngôi nhà lớn đến nỗi tất cả chúng tôi đều ở được trong đó.)

– She has so good a computer that she has used it for 6 years without any errors in it. (Cô ấy có chiếc máy tính tốt đến nỗi cô ấy đã dùng 6 năm mà không bị lỗi.)

Cấu trúc such… that

Ví dụ:

– The girl is so beautiful that everyone likes her. (Cô gái đó đẹp đến nỗi ai cũng yêu quý cô ấy)

– This is such difficult homework that it took me much time to finish it. (Bài tập về nhà khó đến nỗi tôi mất rất nhiều thời gian mới làm xong.)

Cách dùng cấu trúc so that such that trong tiếng anh

Ví dụ:

Terry ran so fast that he broke the pvious speed record.

Terry chạy nhanh đến nỗi mà anh ấy đã phá được kỉ lục được lập ra trước đó.

Cấu trúc vẫn là so … that nhưng phải dùng many hoặc few trước danh từ đó.

Ví dụ:

I had so few job offers that it wasn’t difficult to select one.

Tôi nhận được quá ít lời đề nghị mời làm việc nên thật không khó để lựa chọn lấy một công việc.

Cấu trúc là so … that nhưng phải dùng much hoặc little trước danh từ đó.

Ví dụ:

He has invested so much money in the project that he can’t abandon it now.

Ống ấy đã đầu tư quá nhiều tiền vào dự án này đến nỗi giờ không thể từ bỏ được nữa.

The grass received so little water that it turned brown in the heat.

Cỏ bị thiếu nước nên đã chuyển sang màu nâu trong nhiệt độ như thế này.

S + V + such + a + adjective + singular count noun + that + S + V

HOẶC

S + V + so + adjective + a + singular count noun + that + S + V

Ví dụ:

It was such a hot day that we decided to stay indoors. = It was so hot a day that we decided to stay indoors.

Đó là một ngày nóng bức đến nỗi chúng tôi đã quyết định sẽ ngồi lì trong nhà.

It was such an interesting book that he couldn’t put it down. = It was so interesting a book that he couldn’t put it down.

Quyển sách đó hay đến nỗi anh ấy không thể rời mắt khỏi nó.

Ví dụ:

They are such beautiful pictures that everybody will want one.

Chúng quả là những bức tranh tuyệt đẹp mà ai cũng muốn sở hữu.

This is such difficult homework that I will never finish it.

Bài tập về nhà này khó đến nỗi con sẽ không bao giờ làm được.

Lưu ý: KHÔNG được dùng so trong trường hợp này

  • cấu trúc so that và such that
  • cấu trúc so sánh bằng trong tiếng anh
  • cách dùng so that và such that
  • bài tập so that such that
  • cấu trúc such đảo ngữ
  • cấu trúc so that in order to
  • cấu trúc such đứng đầu câu
  • such that nghĩa là gì

【#5】Cấu Trúc Phàn Nàn Với Always Trong Tiếng Anh

Cách dùng always trong tiếng anh

– Trong các câu có đề cập đến thời gian ở hiện tại. thì hiện tại đơn được sử dụng cùng với “always” để diễn tả thói quen hoặc những hoạt động thường ngày.

Ví dụ:

Mary always leaves for school at 7:45.

(Mary luôn rời nhà để đến trường lúc 7:45)

– Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, người nói có thể dùng thì tiếp diễn với always để diễn tả sự phàn nàn hay tức giận.

Ví dụ:

Mary is always leaving her dirty socks on the floor for me to pick up! Who does she think I am? Her maid?

(Mary luôn vứt tất/vớ dơ bẩn trên nền nhà để tôi phải đi nhặt! Cô ta nghĩ tôi là ai chứ? Đầy tớ của cô ta à?)

– Thêm vào đó, “forever” và “constantly” cũng có thể dùng với thì hiện tại tiếp diễn để thể hiện điều khó chịu, trái ý, bực mình.

I am always/ forever/ constantly picking up Mary’s dirty socks!

(Tôi cứ phải đi nhặt tất/ vớ dơ bẩn của Mary)

– alway”, “forever”, “constantly” còn có thể dùng với thì quá khứ tiếp diễn để diễn tả điều khó

Ví dụ:

I didn’t like having Sam for my roommate last year. He was always leaving his dirty clothes on the floor.

(Tôi không thích việc ở cùng phòng với Sam trong năm ngoái. Anh ta luôn quăng quần áo bẩn trên sàn nhà)

(1) “Mary is always leaving her dirty socks on the floor” : diễn tả điều gây bực mình

(2) “Mary always leaves her dirty socks on the floor” : đây là một câu nói bình thường không diễn tả điều bực tức trừ khi người nói có thể diễn đạt điều khó chịu qua giọng nói (speaker’s tone of voice)

Bài tập thì hiện tại tiếp diễn với Always trong tiếng anh

Câu 1. I. Your roommate, Jack, has many bad habits, These bad habits annoy you! Pretend you are speaking to a friend and complaining about Jack. Use the psent progressive of a verb in Column A and complete the sentence with a phrase from Column B. Use “always” “constantly”, or “forever” in each sentence. Say your sentence aloud with annoyance, impatience, or anger in your voice

(Jack là bạn cùng phòng của bạn. Anh ta có nhiều thói quen xấu làm phiền đến bạn. Hãy dùng thì hiện tại tiếp diễn cho động từ ở cột A và cụm từ ở cột B để tạo thành câu đầy đủ để phàn nàn về Jack. Dùng “always”, “constantly” hoặc “forever” cho mỗi câu. Cuối cùng đọc lên câu nói của bạn với giọng điệu bực mình, nóng nảy và tức giận.)

Example: He’s always messing up the kitchen!

(*) in formal English, a subject pronoun follows “than” : He’s older than I (am). In everyday informal English, an object pronoun is frequently used after “than” : He’s older than me.

Câu II. Complete the following with your own words

(Hoàn thành những câu sau theo ý nghĩ của bạn)

A: I really don’t know if I can stand to have Sue for a roommate one more day. She’s driving me crazy.

B: Oh? What’s wrong?

A: Welll, for one thing she’s always…………………………………….. ……………………………………..!

B: Really?

A: And not only that. She’s forever……………………………………. ……………………………………….!

B: That must be very inconvenient for you.

A: It is. And what’s more, she’s constantly…………………………………. ………………………………..!

Can you believe that? And she’s always…………………………………….. ………………………………..!

B: I think you’re right. You need to find a new roommate.

  • cấu trúc câu phàn nàn với always
  • thì hiện tại tiếp diễn với always
  • bai tap thi hien tai tiep dien voi always
  • phàn nàn trong tiếng anh
  • cách dùng always trong tiếng anh

【#6】Cấu Trúc Website: 6 Bước Tạo Cấu Trúc Site Tốt Cho Seo

Việc xây dựng cấu trúc website như việc thiết kế một tòa nhà, xây một ngôi nhà nhỏ thì dễ nhưng bạn hình dung nếu tòa nhà của bạn như tòa Keangnam 72 tầng thì kiến trúc và kết cấu quan trọng như thế nào, xây dựng kiến trúc website cũng tương tự như thế bạn có thể khi muốn website của mình lớn mạnh cỡ nào thì sẽ thấy được tầm quan trọng của việc xây dựng kiến trúc website.

Kiến trúc website như khung xương, Liên kết nội bộ giữa các trang như các bó cơ trong cơ thể liên kết chặt chẽ và vững chắc tạo thành một kiệt tác hoàn hảo. Xây dựng kiến trúc tốt là nền móng tốt để SEO thành công.

Nội dung Xây dựng Cấu trúc website tốt cho SEO và trải nghiệm người dùng 6 Bước tạo cấu trúc site

tốt là cơ hội để có xếp hạng cao hơn trong công cụ tìm kiếm và đặc biệt đem lại trải nghiệm người dùng tốt. Cấu trúc chặt chẽ và sắp xếp hợp lý trang đặc biệt quan trọng nhưng hầu hết các website chưa quan tâm vấn đề này đúng mức để nó lộn xộn và không có tổ chức tốt.

Bài viết này tôi sẽ chia sẻ một số lời khuyên tốt nhất để tạo ra một cấu trúc trang mạnh mẽ. Tốt cho người dùng và tốt cho các con bọ tìm kiếm khi thu thập và index trang web của bạn.

Tại sao cần cấu trúc website?

Nội dung trình bày ở trên cho thấy kiến trúc website quan trong như thế nào, rất nhiều website bỏ qua khía cạnh quan trọng này. Tôi sẽ đưa ra một số lý do sau đây để thấy tại sao kiến trúc website lại rất quan trọng.

Cấu trúc site tốt sẽ có trải nghiệm người dùng tuyệt vời

Cấu trúc trang web tốt hợp lý sẽ đem lại trải nghiệm tốt và đáp ứng tốt cho người sử dụng

Cấu trúc trang web tốt làm tăng khả năng xếp hạng của các công cụ tìm kiếm, làm giảm tỉ lệ thoát, và tăng thời gian onsite ở lại trang các tiêu chí này sẽ dẫn tới cải thiện thứ hạng tìm kiếm

Cấu trúc trang tốt cung cấp các sitelink trong kết quả tìm kiếm

Sitelink – Liên kết trang là một định dạng danh sách trong SERPs hiển thị trang chính của trang cùng với một số liên kết nội bộ bên dưới đi cùng như hình dưới.

Sitelink thể hiện trong kết quả tìm kiếm

Cấu trúc site tốt giúp các con bọ crawl và đánh index trang tốt hơn

Trình thu thập Googlebot crawl cấu trúc của website, muc đích là đánh chỉ mục nội dung trong các kết quả tìm kiếm. Cấu trúc trang web tốt sẽ giúp các con bọ truy cập để thu thập và đánh chỉ mục nội dung.

Tuy website cần trang sitemap để giúp các search engine thu thập dễ hơn, nhưng việc website được cấu trúc mạnh mẽ và hợp lý sẽ giúp các con bọ tốt khi thu thập các trang không có trong sitemap.

Cấu trúc trang tốt là cốt lõi của SEO

Tóm lại tổ chức trang web tốt mở đường cho SEO thành công. Trong thực tế nếu không có một cấu trúc trang tốt sẽ không bao giờ có SEO thành công. Cấu trúc trang tốt cung cấp cho một nền tảng SEO không thể phá vỡ mà cung cấp cho website của bạn một lượng lớn truy cập từ Search Organic.

6 Bước tạo cấu trúc website

Bước 1. Kế hoạch lập hệ phân cấp cho website

Nếu bạn đang bắt đầu xây dựng một website, bạn đang có một vị trí tuyệt vời để lên kế hoạch xây cấu trúc site tốt nhất có thể cho SEO. Bạn có thể phác thảo trên giấy hoặc dùng Excel hoặc Visio miễn là hỗ trợ tốt cho việc dựng cấu trúc trang.

Hệ thống phân cấp là cách để tổ chức thông tin đơn giản và có ý nghĩa. Hệ thống phân cấp cũng sẽ trở thành điều hướng và cấu trúc URL, vì vậy mọi thứ quan trọng bắt đầu từ đây.

Hệ thống phân cấp trang web trông như sau:

Cấu trúc site hệ thống phân cấp

HÌnh ảnh mô hình phân cấp của Moz

Một số tính năng của cây phân cấp:

Cố gắng tạo sự cân bằng các chuyên mục con (sub category) trong mỗi chuyên mục chính. Nếu một mục có 14 tiểu mục, mục khác chỉ có 3 tiểu mục điều này dẫn đến sự mất cân bằng của cây phân cấp.

Hệ thống phân cấp website là phẩn khởi đầu cho việc tạo ra một cấu trúc site tuyệt vời.

Yếu tố chính thứ 2 là việc xây dựng cấu trúc URL hợp lý. Nếu đã tạo ra cấu trúc phân cấp hợp lý thì việc tạo ra cấu trúc URL tốt không quá khó khăn. Cấu trúc URL sẽ được phân cấp như sau:

Cấu trúc URL của website tướng ứng hệ phân cấp

Cấu trúc URL cho Chinatown như sau: http://domain.com/locations/chinatown

Bước 3: Tạo điều hướng trong HTML hoặc CSS

Khi bạn tạo menu, hãy giữ cho code đơn giản nhất có thể. HTML và CSS là phương pháp an toàn và tốt. Mã hóa trong Javascript, Flash và Ajax sẽ hạn chế khả năng của trình thu thập và đánh chỉ mục nội dung.

Bước 4: Cây phân cấp không quá 3 mức

Cấu trúc điều hướng website của hệ thống phân cấp không nên để sâu quá 3 mức sẽ khó khăn cho cả người dùng và search engine phải nhấp nhiều lần mới đến được trang cần đến.

Đặc biệt những nội dung quan trọng không nên để quá sâu. Một trang web có hệ phân cấp tốt không bắt người dùng nhấp chuột quá 3 lần để đến được tất cả các trang.

Ví dụ:

URL tổ chức tốt: https://seothetop.com/seo-onpage/rich-cards-157102.html

Bước 5: Tạo menu trên Header liệt kê danh sách các mục chính của trang

Tổ chức hệ thống phân cấp trong menu, các chuyên mục nhỏ được thả xuống bằng hiệu ứng CSS, nên sử dụng cấu trúc điều hướng bằng ancho text thay vì hình ảnh như thế sẽ tốt hơn cho SEO

Bước 6: Xây dựng liên kết nội bộ toàn diện trên website.

Liên kết nội bộ là bộ khung của website để trình bày nội dung trên đó như xương và thịt của cơ thể cần hợp lý và hoàn hảo.

Đó là lý do tại sao liên kết nội bộ lại quan trọng:

  • Liên kết nội bộ giúp điều hướng người dùng trang web
  • Giúp thiết lập hệ thống phân cấp thông tin
  • Giúp chia sẻ sức mạnh Pagerank (link juice ranking power) giữa các trong trong website.

Tạo ra một liên kết nội bộ chặt chẽ và mạnh mẽ như các bó cơ, liên kết của cấu trúc trang web như bộ xương khung chính của website, điều đó đem lại sự vững chắc như xây một tòa nhà có thiết kế kiến trúc tốt.

Kết luận

Cấu trúc trang web là một kết quả của việc lập kế hoạch và thiết kế cây phân cấp tốt có chủ ý và tổ chức chính xác hợp lý. Thời gian tốt nhất để làm việc này là trước khi tạo website. Tuy nhiên nếu trang web của bạn thiết kế và tổ chức lộn xộn và quá sâu thì nên thiết kế lại để tốt hơn cho SEO và người sử dụng.

Có rất nhiều việc cần lưu ý khi tối ưu trang web tốt cho công cụ tìm kiếm. Cấu trúc website là một trong những việc quan trong nhất cần phải thực hiện đầu tiên nếu bạn muốn tiếp tục thực hiện SEO trang web tốt hơn. Khi đã có một cấu trúc hợp lý và mạnh mẽ sẽ là nền tảng để thực hiện tối ưu SEO tiếp theo sẽ thành công.

Bài viết giúp cải thiện cấu trúc và điều hướng trang web:

Dung Hoang

【#7】Cấu Tạo Của Các Cơ Quan Nội Tạng Của Chó: Mô Tả, Định Nghĩa, Cấu Trúc, Loại, Chức Năng Được Thực Hiện, Ý Nghĩa Và Cấu Trúc

Một con chó khỏe mạnh là một động vật di động và vui vẻ với bộ lông sáng bóng, đôi mắt sạch sẽ, mũi hơi ẩm và lạnh. Khi chó đang ngủ, mũi có thể bị khô hoặc hơi nóng. Một con chó khỏe mạnh nên ăn ngon miệng, đi tiêu đều đặn, đi tiểu nhiều lần trong ngày và thậm chí thở. Màng nhầy của mắt phải có màu hồng nhạt.

Một con chó bị bệnh có thể được xác định bởi một số dấu hiệu:

  1. Con vật bị trầm cảm, cố gắng trốn tránh những con mắt tò mò, không đến khi chủ nhân của nó gọi nó, hoặc nó miễn cưỡng.
  2. Con chó ăn ít và liên tục xin nước.
  3. Con vật không có hoặc gãy ghế. Đôi khi những con chó bị bệnh phát triển máu trong phân của chúng.
  4. Nôn, ngất trên mắt hoặc mũi, đi tiểu quá thường xuyên.
  5. Màu mắt đã chuyển sang màu vàng hoặc hơi xanh.
  6. Len rơi ra hoặc thay đổi đáng kể màu sắc, trở nên xỉn màu.
  7. Xung và nhiệt độ cơ thể khác với định mức.
  8. Suy hô hấp hoặc khó thở nghiêm trọng, xuất hiện mà không cần gắng sức.

Nếu các triệu chứng trên của bệnh được phát hiện bởi những người nuôi thú cưng, việc liên hệ với bác sĩ thú y để được giúp đỡ là điều khẩn cấp.

Để cung cấp viện trợ đầu tiên cho thú cưng của bạn, cần phải nghiên cứu các đặc điểm giải phẫu và sinh lý của nó.

Cấu trúc cơ thể chó

Mọi chủ sở hữu điều hành một con chó ở nhà nên có kiến ​​thức tối thiểu về cấu trúc cơ thể của động vật này. Điều này sẽ giúp phát hiện kịp thời các triệu chứng của một căn bệnh nguy hiểm ở chó. Đó là từ một người trong hầu hết các trường hợp phụ thuộc vào cuộc sống và sức khỏe của thú cưng của bạn. Ngoài ra, kiến ​​thức về cấu trúc cơ thể của chó sẽ giúp chủ nhân hiểu được nhiều đặc điểm của hành vi của động vật. Điều này đặc biệt quan trọng khi một người muốn nuôi từ một con chó con nhỏ, một trợ lý trong các vấn đề, ví dụ, trong việc săn bắn hoặc để bảo vệ một ngôi nhà. Nó là cần thiết để nuôi một con chó từ những tháng đầu đời.

Mỗi cơ quan bao gồm các mô đảm bảo công việc của nó. Chúng là các tế bào có hình dạng khác nhau, các chất ngoại bào và sợi. Tế bào là cấu trúc nhỏ nhất trong cơ thể của động vật, hình dạng và cấu trúc của chúng phụ thuộc vào mục đích của chúng. Kích thước tế bào thay đổi từ 10 đến 100 micron.

Các loại vải

Trong cơ thể chó có 4 loại mô chính:

  1. Nắp đậy. Chúng tạo thành lớp ngoài của da, và nằm trên bề mặt bên trong của khoang mũi và miệng. Họ cũng bao bọc nhiều cơ quan nội tạng như thực quản, ruột, bàng quang và dạ dày. Các mô che phủ là cần thiết không chỉ để đảm bảo bảo vệ đáng tin cậy của các cơ quan quan trọng. Họ cũng thực hiện quá trình trao đổi chất, sản xuất dịch dạ dày và ruột, nước bọt và nước mắt.
  2. Mô cơ xương. Loại này bao gồm bạch huyết, máu, lớp mỡ, sụn, xương và mô liên kết. Chúng khác nhau đáng kể về cấu trúc và mục đích, nhưng mục đích quan trọng nhất của chúng là tạo ra bộ xương của toàn bộ sinh vật. Họ cũng chịu trách nhiệm kết nối tất cả các cơ quan với nhau. Một trong những loại mô cơ xương thực hiện chức năng bảo vệ, ngăn ngừa tổn thương mạch máu, dây thần kinh và các cơ quan quan trọng khác.
  3. Mô cơ cung cấp các chức năng vận động. Họ cho phép động vật di chuyển và thực hiện công việc của các cơ quan nội tạng.
  4. Các mô thần kinh hình thành hệ thống thần kinh của con chó. Nó kiểm soát công việc của các cơ quan, đồng thời nhận tín hiệu từ môi trường bên ngoài, xử lý chúng và sau đó gửi thông tin đến não.

Tất cả các mô trên là cái gọi là “vật liệu xây dựng” cho các cơ quan. Thông thường sự chiếm ưu thế của một loại mô trong cơ thể quyết định chức năng của nó. Vì vậy, trong não hầu hết các mô thần kinh được phát hiện.

Mỗi cơ quan trong cơ thể của chó thực hiện chức năng chính của nó, nhưng tất cả chúng đều giải quyết các nhiệm vụ nhỏ cũng rất quan trọng đối với hoạt động bình thường của cơ thể.

Chức năng chính của xương của bộ xương là cho phép con chó di chuyển, nhưng ngoài chức năng này, xương cho phép bạn lấp đầy cơ thể bằng các chất dinh dưỡng, cũng như cung cấp lưu lượng máu đến các chi.

Các cơ quan và hệ thống chính

  1. Hệ thống nội tạng của các cơ quan chịu trách nhiệm hô hấp, bài tiết, sinh sản và tiêu hóa.
  2. Hệ thống lưu thông bạch huyết và máu.
  3. Bộ máy chịu trách nhiệm cho sự chuyển động của cơ thể, bao gồm các cơ, xương và dây chằng.
  4. Hệ thống miễn dịch
  5. Da.
  6. Hệ thống các tuyến nội tiết.
  7. Cơ quan giác quan.
  8. Hệ thần kinh

Xương chó

Cấu trúc cơ thể chó

Nhiều người nuôi chó quan tâm đến câu hỏi: địa hình của các cơ quan nội tạng ở chó là gì? Một con chó là một động vật có vú. Bộ xương của họ có cấu trúc điển hình và các phòng ban giống nhau.

Động vật có vú có 7 đốt sống cổ. Hươu cao cổ có cổ và cá voi rất dài, hoàn toàn không có cổ, có cùng số đốt sống như chó.

Các đốt sống ngực (tùy thuộc vào giống chó, số lượng của chúng thay đổi từ 12 đến 15 miếng) cùng với xương sườn và xương ức là một phần của ngực.

Cột sống thắt lưng, chịu trách nhiệm bảo vệ và cố định các cơ quan nội tạng của con chó (ảnh có thể được nhìn thấy trong bài viết này), bao gồm sáu đốt sống di chuyển. Cột sống bao gồm 4 đốt sống nối với xương chậu.

Tùy thuộc vào giống chó, số lượng đốt sống ở phần đuôi của bộ xương có thể thay đổi từ ba đến vài chục. Chiều dài của đuôi phụ thuộc vào số lượng xương.

Bộ xương của các chi trước bao gồm hai lưỡi dao, được kết nối với sự trợ giúp của xương quạ và hai xương đòn.

Hỗ trợ chân sau bao gồm xương chậu, được hình thành từ ba xương xen kẽ. Đáng chú ý là ở nhiều động vật có vú, bao gồm cả chó, các cơ xương chậu và chân tay được phát triển tốt.

Miệng chó

Giải phẫu của những con chó (ảnh trong bài báo xác nhận điều này) được sắp xếp theo cách mà răng và lưỡi của chúng được đặt trong miệng. Thứ hai phục vụ để xác định hương vị của thực phẩm. Bề mặt của nó được bao phủ bởi nhú, trên đầu của các dây thần kinh được đặt. Lưỡi có thể di chuyển thức ăn trong miệng để làm ướt nó bằng nước bọt và nhai.

Giải phẫu các cơ quan nội tạng của chó được sắp xếp sao cho răng của chúng có rễ dài được đặt trong các lỗ của hàm. Mỗi chiếc răng có cấu trúc phức tạp và bao gồm ngà răng. Bên ngoài nó được phủ men. Những chiếc răng sắc nhọn nhất (răng cửa) nằm ở phía trước, răng nanh mạnh mẽ nằm ở hai bên miệng. Răng miệng nằm ở phía sau miệng.

Để giữ chặt con mồi và nhai thịt một cách an toàn và nghiền xương, con chó có cơ bắp phát triển rất tốt chịu trách nhiệm cho sự chuyển động của hàm dưới.

Giải phẫu các cơ quan nội tạng của chó được sắp xếp theo cách mà những con chó con của loài động vật này lần đầu tiên mọc răng sữa, rụng ra sau vài tháng. Sau đó, chúng được thay thế bởi những cái vĩnh viễn.

Tất cả các răng chó là cần thiết cho các nhiệm vụ nhất định. Vì vậy, rễ dùng để bẻ những miếng thịt lớn.

Các răng hàm, được đặt trên các cạnh, có đầu cùn. Họ giúp xay các loại thực phẩm rau cứng. Dao cắt được thiết kế để tách thịt ra khỏi xương.

Nội tạng

Giải phẫu các cơ quan nội tạng của một con chó được thiết kế theo cách mà dạ dày của chúng bao gồm một buồng để chế biến thức ăn. Ruột bao gồm ba loại ruột: thẳng, dày và mỏng. Khi vào ruột, thức ăn sẽ tan ra dưới tác động của sự tiết ra các tuyến tiêu hóa, cũng như nước ép đến từ tuyến tụy và gan.

Giải phẫu các cơ quan nội tạng của một con chó được sắp xếp sao cho khoang ngực của con chó được tách ra khỏi bụng bằng vách ngăn cơ bắp. Với việc giảm các cơ liên sườn, sự gia tăng ở ngực xảy ra. Các xương sườn di chuyển về phía trước khi không khí được rút ra. Cơ hoành trở nên phẳng. Khi thở ra xảy ra, xương sườn được hạ xuống. Ngực bị hẹp, do không khí này bị đẩy ra khỏi phổi của con chó. Thở ra.

Cấu trúc giải phẫu của các cơ quan nội tạng của một con chó sao cho chúng, bất kể giống chó nào, có một trái tim bốn buồng. Nó bao gồm hai tâm nhĩ và hai tâm thất. Máu di chuyển qua vòng tròn lớn và nhỏ lưu thông máu.

Do cấu trúc giải phẫu của các cơ quan nội tạng của chó, nước tiểu của chúng được bài tiết khi thận hoạt động. Cơ quan ghép đôi này nằm ở hai bên so với đốt sống thắt lưng. Nước tiểu phát triển đi vào bàng quang, và từ đó thông qua kênh được định kỳ hiển thị bên ngoài trong các phần nhỏ.

Sự sắp xếp thành công các cơ quan nội tạng của chó cho phép chuyển hóa nhanh chóng. Nhiệt độ cơ thể ở những con chó khỏe mạnh nên giống nhau. Ở chó con, nó là khoảng 38,5 độ. Ở chó trưởng thành, nhiệt độ cơ thể khoảng 37,5 độ.

Bộ não cũng được bao gồm trong cấu trúc giải phẫu của các cơ quan nội tạng của con chó. Nó nằm bên trong hộp sọ và bao gồm hai bán cầu. Các bán cầu não có một lớp tế bào thần kinh hình thành vỏ não của nó. Nó được mở rộng, có con quay trong đó. Càng nhiều, hoạt động não của động vật càng tốt. Bộ phận này quản lý các chuyển động cơ thể phức tạp.

Cấu trúc của các cơ quan nội tạng của con chó (ảnh có chữ khắc của tất cả các cơ quan bạn có thể thấy trong bài viết) cho phép những con vật này cảm nhận được năm giác quan:

Do đặc thù của các cơ quan nội tạng của chó, chúng có khứu giác phát triển tốt, giúp chúng tìm kiếm con mồi hoặc người thân ngay cả ở khoảng cách xa. Phiên điều trần của hầu hết các con chó cũng được phát triển tốt. Các hạt bắt được cả những âm thanh yên tĩnh nhất.

Những sợi lông dài (rung) mọc gần mũi và mắt là nguyên nhân gây ra cảm ứng.

Khi tiếp xúc với bất kỳ vật thể hoặc con mồi nào, con chó sử dụng ba giác quan của mình cùng một lúc: chạm, nhìn và ngửi. Họ cần liên tục liên lạc với thế giới bên ngoài. Họ nhớ những kinh nghiệm có được và trau dồi kỹ năng của họ.

Những thay đổi trong tự nhiên góp phần thay đổi hành vi ở động vật, chúng phát triển các phản xạ mới. Khả năng này cho phép loài động vật có vú này thích nghi với các điều kiện khác nhau, giúp chúng sống sót ở thế giới bên ngoài.

Các trò chơi của chó khi còn nhỏ (theo đuổi, chạy và chiến đấu) đóng vai trò là một khóa huấn luyện tuyệt vời để rèn luyện các kỹ năng phòng thủ và tấn công cá nhân.

Cách đo nhiệt độ chó

Trước khi lấy nhiệt độ cơ thể của thú cưng, hãy lắc nhiệt kế, sau đó chải đầu bằng kem trẻ em hoặc vaseline. Sau đó, nó cần được đưa vào trực tràng 2 cm, sau khi nâng đuôi của con vật.

Nhiệt kế phải được giữ và không được phép ngồi xuống. Nhiệt kế có thể được kéo ra sau 5 phút. Sau mỗi lần đo nên được khử trùng thiết bị đo y tế.

Đo hơi thở

Tốc độ hô hấp có thể được thiết lập, nếu bạn tính toán chính xác số lần thở và thở ra của động vật trong vòng một phút. Để tính toán chính xác, đặt bàn tay của bạn lên ngực con chó hoặc theo chuyển động của cánh mũi của nó. Một con chó khỏe mạnh mất mười đến hai mươi hơi thở và thở ra trong một phút khi nghỉ ngơi.

Giải phẫu các cơ quan nội tạng của một con chó được sắp xếp theo cách mà hơi thở trở nên nhanh hơn nếu con vật đang chạy. Ngoài ra số lần thở tăng lên nếu con chó sợ hãi hoặc bị kích thích bởi một cái gì đó. Tốc độ hô hấp có thể thay đổi tùy thuộc vào thời gian trong ngày và thay đổi thời tiết. Do bản chất của các cơ quan nội tạng của con chó trong cái nóng, hơi thở của cô tăng lên rất nhiều.

Chó con khi còn nhỏ thở thường xuyên hơn nhiều so với người lớn.

Số xung

Cấu trúc giải phẫu của cấu trúc của những con chó được sắp xếp theo cách mà tần số nhịp tim của chúng dễ tính toán nhất, nếu bạn gắn lòng bàn tay vào ngực của con vật.

Xung có thể được cảm nhận bằng cách đặt ngón tay của bạn lên động mạch đùi. Nó nằm ở mặt trong của đùi. Một trái tim trong một động vật khỏe mạnh được nghỉ ngơi trong nửa giờ nên được giảm với tần số 60 đến 120 nhịp mỗi phút.

Trái tim hoạt động nhanh hơn nhiều nếu con chó tiếp xúc với thể chất, phấn khích, cảm thấy đau đớn. Ngoài ra, cơ tim co lại thường xuyên hơn nếu con vật bị sốt.

Chó con có trái tim nhanh hơn chó trưởng thành.

Thuốc

Để sơ cứu trong việc xác định các triệu chứng tổn thương nội tạng ở chó, mỗi chủ sở hữu phải có bộ dụng cụ sơ cứu thú y tại nhà. Đừng quên kiểm tra ngày hết hạn của thuốc trong đó. Các sản phẩm đã hết hạn phải được thay thế bằng những sản phẩm mới một cách kịp thời. Trước hết trong một bộ dụng cụ sơ cứu như vậy phải là:

Sử dụng thuốc

Mỗi chủ sở hữu chó cần biết làm thế nào để cung cấp cho thú cưng của mình đúng loại thuốc cần thiết để điều trị bệnh. Một số người nuôi chó phải đối mặt với những khó khăn khi con chó của họ không muốn uống thuốc. Theo quy định, việc bổ sung thuốc vào thực phẩm không cho kết quả. Thú cưng nhanh chóng học cách chọn các mẩu tin, để lại những viên thuốc không bị ngấy. Để tạo điều kiện thuận lợi cho quy trình uống thuốc và hỗn hợp vào cơ thể động vật, bạn nên sử dụng một số kỹ thuật khó:

  1. Sử dụng ống tiêm. Đồng thời, cần phải đổ thuốc vào miệng cùng lúc với chủ sẽ bóp hàm của con chó. Điều này sẽ không cho phép động vật đóng hàm của nó.
  2. Sau khi viên thuốc hoặc bột nằm trên đầu lưỡi, con chó phải giữ chặt miệng bằng tay để thuốc không rơi lại. Con vật bị bệnh phải được giữ theo cách này trong vài phút cho đến khi tác nhân vào thực quản.
  3. Các chất bột nên được đổ vào lưỡi của con chó, và sau một thời gian, hãy cho nó uống nước tinh khiết.
  4. Để làm cho con chó uống thuốc, bạn nên ném đầu con vật lên trên, và sau đó cố gắng đổ chất lỏng bằng hàm. Bây giờ vẫn còn chờ cho thú cưng nuốt phương thuốc theo phản xạ.
  5. Áp dụng tiền bên ngoài trực tiếp vào cơ thể của con chó không gây ra nhiều rắc rối. Tuy nhiên, sau khi bôi kem hoặc gel, bạn phải đeo vòng bảo vệ trên con vật. Một thiết bị như vậy sẽ không cho phép con chó liếm thuốc từ cơ thể.
  6. Thuốc trực tràng và âm đạo được thực hiện bằng cách sử dụng nến và thụ tinh đặc biệt cho động vật. Sau khi nhập thuốc thành công vào đại tràng, cần phải ấn đuôi vào hậu môn một thời gian.
  7. Thấm thuốc vào mắt là một thủ tục phức tạp. Điều mong muốn là làm điều đó cùng nhau: một người giữ khuôn mặt của con chó, và người thứ hai phải bôi thuốc, trong khi giữ cho mí mắt của con chó mở bằng một tay.
  8. Nếu cần phải chèn một ống tiêm với thuốc dưới da của động vật, bạn cần mua một ống tiêm có kim mỏng và ngắn trong hiệu thuốc. Để thuốc hoạt động, cần phải lắp một nếp gấp gần hai ngón tay, sau đó đưa kim vào độ sâu 2 cm. Sau đó, bạn cần tiêm chất lỏng bằng cách ấn từ từ pít tông ống tiêm.
  9. Đôi khi chủ vật nuôi phải tự tiêm vật nuôi của họ. Đối với thủ tục này, cần phải tìm thấy ở chó một tĩnh mạch nhỏ trên chân. Phía trên vị trí đâm thủng cần phải áp dụng một bộ ba vòng, kéo mạnh chân ra. Chỉ sau đó, tĩnh mạch có thể được đâm bằng kim. Sau đó, bạn có thể nhập thuốc. Điều rất quan trọng là giữ chân của một con vật trong một thủ tục như vậy, nếu không nó có thể bị thương.

Все остальные процедуры, например установка капельниц, внутриполостные инъекции, ввод препарата в сердечную мышцу, переливание крови, УЗИ внутренних органов у собак должен делать только квалифицированный ветеринарный врач.

Скелет или костная система

Скелет – это остов, удерживающий все внутренние органы, а также мышцы собаки. Строение скелета собаки на схеме легко представить в виде двух линий:

  • осевой, в состав которой входит 109 костей (череп и позвоночник с ребрами),
  • ngoại vi, bao gồm 180 chi xương.

Trong cuộc sống của động vật, thành phần của mô xương thay đổi. Do đó, ở chó con và chó tuổi teen, xương đàn hồi và nhẹ hơn, với tuổi già có khả năng cao làm tăng nguy cơ dễ vỡ và mất sức. Vì xương và răng được đánh giá dựa trên sức khỏe chung của chó.

Cấu trúc của hộp sọ

Các bộ phận trên khuôn mặt và não của hộp sọ được phân biệt, cả xương ghép và xương không ghép đôi là một phần của hộp sọ. Tổng cộng, hộp sọ bao gồm 27 xương được nối với nhau bằng mô sụn. Với tuổi tác, sụn cứng lại và khả năng di chuyển chỉ được duy trì ở khu vực hàm dưới, để chó có thể nhai thức ăn.

Hình vẽ cho thấy cả xương và cặp xương của cặp sọ.

Cấu trúc răng

Răng không chỉ là một phần quan trọng bên ngoài của chó. Trước hết, răng là cần thiết để cắn và nghiền thức ăn, để bảo vệ chủ sở hữu và, nếu cần thiết, để tấn công kẻ thù.

Chó con được sinh ra không có răng. Ở tuổi hai hoặc ba tuần, răng sữa đầu tiên được cắt qua nướu. Gần 4-5 tháng, chúng bắt đầu rơi ra để nhường chỗ cho vĩnh viễn. Để thay thế sữa thứ 28 bằng một năm rưỡi trong hàm phải là 42 răng vĩnh viễn. Sự sai lệch so với lịch trình thường là do dinh dưỡng không cân bằng hoặc một giống cụ thể.

Công thức nha khoa của một con chó trưởng thành bao gồm 42 răng, với 20 nằm ở phía trên và 22 ở phía dưới.

Một bộ răng vĩnh viễn cho một con chó trưởng thành bao gồm:

  • Răng cửa – 6 trên mỗi hàm.
  • Fangs – 2 trên và dưới. Chúng là vũ khí nguy hiểm trong lao động.
  • 4 răng hàm trên cả hai hàm.
  • Hai răng hàm trên mỗi nhánh của hàm trên, cũng như ba răng dưới, với tổng số 10 mảnh.

Chó arcade

Một chiếc răng bao gồm vương miện, cổ và chân răng. Mão nhô ra đáng kể phía trên nướu, đối với mỗi loại răng nó có hình dạng riêng. Ngà răng là mô răng chính, trong khu vực của thân răng được phủ men răng, và trong vùng chân răng, ngà răng được phủ bằng xi măng. Bên trong răng có một khoang được chia thành không gian vành và chính ống chân răng.

Số lượng răng, tình trạng của chúng và vết cắn (hoặc tắc) ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con chó. Phân bổ các kiểu chữ sau đây của vết cắn:

Loại phổ biến nhất là loại cắn đầu tiên.

Cấu trúc của cột sống

Cột sống là trục của bộ xương. Một bên là hộp sọ được gắn vào nó, và nó kết thúc ở một cái đuôi. Ngoài ra ở hai bên được gắn xương sườn và chân tay với sự trợ giúp của mô sụn.

Cấu trúc của cột sống có thể được trình bày như sau:

  • Vùng cổ tử cung – bao gồm 7 đốt sống, hai trong số đó đầu tiên (atlas và epistrophies) đặc biệt di động. Họ chịu trách nhiệm cho sự di chuyển của người đứng đầu.
  • Vùng ngực bao gồm 13 đốt sống. Để chúng được gắn các xương sườn tạo thành ngực. Chó có 9 cặp thật và 4 cặp cạnh giả.
  • Vùng thắt lưng cũng bao gồm 7 đốt sống.
  • Vùng sacral là xương xương cùng phát triển từ 3 đốt sống.

Cơ cấu nợ

Cực đoan của chó khác nhau về sự phức tạp của một cấu trúc. Chân trước là một sự tiếp nối của scapula, được gắn vào cột sống với cơ vai phát triển. Scapula đi vào humerus, sau đó đi đến khớp cẳng tay và khớp cổ tay. Cẳng tay bao gồm bán kính và xương ulna, và xương bao gồm 5 xương. Chân sau được hình thành bởi khớp hông, khớp gối, ống chân, chân sau, chân và chân.

Cấu trúc của bàn chân có thể được biểu diễn theo cách này:

  • Đệm thực hiện chức năng của giảm xóc. Chúng làm giảm gánh nặng cho xương và khớp, cũng như giúp duy trì sự cân bằng. Các miếng đệm bao gồm một lớp mô mỡ ấn tượng, vì vậy những con chó không bị đóng băng trong mùa lạnh và nhiệt được bảo quản tốt trong bàn chân của chúng.
  • Ngón tay của vật nuôi có số lượng phalang khác nhau. 4 ngón tay – ba phalanxes, và một – chỉ hai. Một con vật không thể di chuyển chúng theo cùng một cách với một người đàn ông do không gian liên kỹ thuật hạn chế. Thông thường, chó có 5 ngón chân trên bàn chân trước và 4 ngón chân trên bàn chân sau. Ngoài ra còn có những ngón chân thô sơ – vết lõm, nằm trên bàn chân sau ngay phía trên bàn chân. Chúng không mang bất kỳ tải trọng chức năng nào, nhưng trong một số trường hợp có thể là dấu hiệu cho thấy chất lượng cao của đại diện của giống chó. Điều này đúng với Briards, Beauceron hoặc Pyrenean Mastiffs.
  • Móng vuốt của con chó, không giống như con mèo, không rút vào trong miếng đệm và bao gồm mô keratinous cứng và tủy – những khu vực có số lượng đáng kể các mạch máu và đầu dây thần kinh. Điều quan trọng là khi cắt móng vuốt phải rất cẩn thận để không làm cho con chó bị tổn thương và đau đớn. Cũng cần phải theo dõi tình trạng và chiều dài của móng vuốt, vì có một mối liên hệ trực tiếp giữa chúng và hệ thống cơ xương. Móng vuốt dài không cho phép thú cưng bốn chân đi lại bình thường, vì chúng bộ xương thậm chí có thể bắt đầu biến dạng.

Cơ quan cảm giác

Các cơ quan cảm giác của chó tương tự như con người, nhưng có sự khác biệt trong việc phân phối tải trọng lên chúng. Vì vậy, quan trọng nhất là khứu giác và thính giác. Bộ não kiểm soát tất cả các giác quan, xử lý tất cả các tín hiệu đến diễn ra ở đó và câu trả lời được hình thành – mệnh lệnh hành động.

Điểm đặc biệt của những chú chó nằm ở chỗ, ngay cả khi khứu giác, thị giác và thính giác của cô ấy đã bị tắt, thì chúng sẽ có các cơ quan cảm ứng phát triển tốt.

Cấu trúc mũi

Mùi có tác dụng mạnh mẽ đối với trạng thái và sinh lý. Ký ức về mùi nghe thấy vẫn tồn tại trong suốt cuộc đời của con vật và ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh trong hành vi của nó. Chất lượng độc đáo này là do đặc thù của cấu trúc mũi của họ. Do đó, mũi của một con chó cỡ trung bình có khoảng 125 triệu thụ thể mùi, mũi của con người có khoảng 5 triệu. Con chó nhận được thông tin không chỉ trong quá trình hít vào mà còn trong quá trình thở ra không khí.

Mũi của động vật bao gồm phần bên ngoài và khoang mũi. Chất nhầy bao phủ bề mặt bên trong của mũi vượt ra ngoài nó, do đó, thông thường, mũi của vật nuôi nên ướt. Chất nhầy này là một loại phân tích bộ lọc của mùi của thế giới xung quanh.

Khoang mũi được chia thành các đoạn trên, giữa và dưới. Ở phần trên của nó là các thụ thể khứu giác, và ở phần dưới của không khí đi đến vòm họng. Các khe hở bên trên lỗ mũi đóng một vai trò lớn trong việc nhận biết mùi, gần một nửa không khí hít vào đi qua chúng.

Một sự thật thú vị! Mũi của con chó, cụ thể là phần sắc tố bên ngoài, có hoa văn độc đáo, không lặp lại trong tự nhiên, vì vậy bạn có thể dễ dàng phân biệt vật nuôi bốn chân.

Cấu trúc tai

Cấu trúc của tai chó tương tự như con người, nó có các bộ phận như vậy: tai ngoài, tai giữa và tai trong. Tai ngoài được hình thành bởi auricle và ống tai. Cực quang là thiết bị định vị cá nhân của mỗi con chó, thông qua đó các tín hiệu âm thanh được cảm nhận. Tùy thuộc vào giống, kích thước và hình dạng của auricle có thể khác nhau đáng kể.

Tai giữa bao gồm các thành phần sau:

  • Các khoang nhĩ và màng.
  • Ống thính giác.
  • Các malleus, khuấy và đe là xương thính giác.

Trong tai trong có các thụ thể của thính giác và cơ quan cân bằng.

Bí mật của thính giác tuyệt vời của chó được giải thích bởi một kênh thính giác kéo dài và khoang nhĩ lớn ấn tượng. Tai của thú cưng bốn chân thu tín hiệu với tần số lên tới 45.000 Hz, trong khi con người chỉ có thể lên tới 25.000 Hz.

Tuy nhiên, các đặc điểm cấu trúc này có nhược điểm của chúng. Kênh thính giác được đặt theo cách mà khi chất lỏng xâm nhập vào nó, không thể chảy ra ngoài. Điều này có nghĩa là nguy cơ phát triển các bệnh về tai tăng lên và việc điều trị của họ trở nên phức tạp hơn.

Cấu trúc mắt

Mắt của chó rất giống mắt người, do đó, nhận thức về thông tin thị giác cũng không khác gì các động vật có vú khác. Ở phía trước, chúng được bao phủ bởi mí mắt trên và dưới. Mí mắt được bảo vệ bởi lông dày ở bên ngoài, và lông mi mọc dọc theo các cạnh của chúng.

Mắt là một nhãn cầu kết nối dây thần kinh thị giác với não. Các cơ quan của thị giác bao gồm một số vỏ: bên ngoài, giữa và bên trong.

Ở chó, các yếu tố như hình que và hình nón chịu trách nhiệm cho nhận thức hình ảnh. Sự khác biệt so với tầm nhìn của con người là chó không có điểm vàng trong đó các yếu tố này, nhận biết ánh sáng, được tập trung. Do đó, tầm nhìn của động vật kém hơn về độ rõ và độ sắc nét. Chó nhìn thấy khoảng một phần ba những gì một người nhìn thấy, nhưng chúng có thể nhận biết thông tin thị giác trong các điều kiện ánh sáng khác nhau, thậm chí là tồi tệ nhất. Thú cưng cũng vượt trội hơn mọi người về tầm nhìn toàn cảnh.

Bộ phận cơ thể

Để định hướng dễ dàng hơn trên cơ thể của con chó, nó được chia thành bốn phần chính (Hình 1).

1. Đầu. Nó phân biệt các bộ phận não (hộp sọ) và mặt (mõm). Chúng bao gồm trán, mũi, tai, răng.

2. Cổ. Ở đây phân biệt phần trên và khu vực dưới.

3. Cơ thể. Được trình bày bởi các héo (nó được hình thành bởi 5 đốt sống ngực đầu tiên và các cạnh trên của scapula, ở cùng cấp độ với chúng), lưng, thăn, vùng ngực, vùng ngực, vùng bẹn, vùng bụng, tuyến vú và vùng hậu môn, vùng hậu môn.

4. Tay chân. Thoracic (trước): vai, khuỷu tay, cẳng tay, cổ tay, metacarpus và xương chậu (sau): đùi, đầu gối, ống chân, gót chân, metatarsus.

Sự xuất hiện của con chó, vóc dáng và đặc điểm của các bộ phận riêng lẻ trên cơ thể của nó, đặc trưng của giống và sàn nhà, được gọi là ngoại thất Bề ngoài chung bao gồm các đặc điểm chính của hiến pháp, cấu trúc của các bộ phận riêng lẻ của cơ thể, các sai lệch và khiếm khuyết đặc trưng nhất, người ta xem xét đặc thù của sự hình thành các giống riêng lẻ, các dấu hiệu điển hình và không điển hình cho chúng.

Hiến pháp

Hiến pháp của chó thường được đánh giá bởi bề ngoài và hành vi hoặc tính khí. Thông thường có năm loại hiến pháp chính: thô, mạnh, khô, lỏng và mềm.

Loài vật này được đặc trưng bởi một bộ xương đồ sộ phát triển mạnh mẽ, cơ bắp khỏe mạnh, bóng mượt, da dày, căng cứng, lông thô. Đầu thường nặng, đồ sộ, ngực rộng và sâu, tứ chi không dài. Những con chó này được đặc trưng bởi hành vi cân bằng, sức khỏe tốt và sức chịu đựng. Bởi bản chất – bình tĩnh, nhưng hoài nghi, thường ủ rũ. Dễ dàng thích nghi với môi trường mới. Điều này bao gồm người chăn cừu da trắng và Trung Á.

Gần với cái trước. Những động vật như vậy có bộ xương khỏe mạnh, phát triển tốt, cơ bắp chắc khỏe. Đầu có trọng lực vừa phải, cổ đồ sộ, ngực hình bầu dục, sâu, tứ chi dài vừa phải với đôi chân dài. Chủ yếu nó là một loại di động cân bằng. Phản xạ có điều kiện được sản xuất nhanh chóng. Chó là người di động, khỏe mạnh trong công việc. Loại này bao gồm chó săn, một số loại trấu và hang.

Ở động vật thuộc loại này, xương bền nhưng tinh tế, cơ bắp chắc khỏe, đàn hồi, mỏng, da căng, lông mỏng. Đầu thon dài, cổ dài, vú hình bầu dục, dạ dày được căng lên mạnh mẽ. Con chó gầy. Tay chân dài. Chó mất cân bằng, không mệt mỏi và đánh bạc trong công việc. Đại diện của loại này là chó săn thỏ.

LOẠI THẤP (RAW)

Động vật thuộc loại này được đặc trưng bởi xương thô, cơ bắp cồng kềnh, nhưng lỏng lẻo, da gấp, có xu hướng béo phì. Đầu ngắn, môi rủ xuống, mắt sâu thẳm, cổ ngắn, ngực rộng, bụng thấp và tay chân ngắn. Bản thân các loài động vật ít vận động, thờ ơ. Phản xạ có điều kiện chúng phát triển chậm. Chúng bao gồm Thánh Bernard và Chow Chow.

Động vật thuộc loại này có xương mỏng, cơ bắp phát triển kém, da mỏng.

Đầu thường hẹp, dài hoặc tròn, cổ yếu, cao, thân hẹp, bụng bị nhô lên.

Tay chân dài và ngắn, vẹo. Len rất mỏng, mượt. Chó thuộc loại này dễ bị kích động, dễ bị căng thẳng.

Đặc trưng bởi khả năng tồn tại giảm. Loại này được phát âm tốt trong IGs, Chihuahua và một số giống chó trang trí khác.

Ở dạng nguyên chất, các loại hợp pháp hóa là rất hiếm. Thường xuyên hơn có nhiều lựa chọn và sự kết hợp của chúng.

Bộ máy chuyển động hoặc hệ thống đầu máy

Bộ máy chuyển động được đại diện bởi bộ xương, dây chằng và cơ bắp, không giống như các hệ thống khác, tạo thành vóc dáng của một con chó, bề ngoài của nó. Để trình bày ý nghĩa của nó, đủ để biết rằng ở trẻ sơ sinh, bộ máy vận động chiếm khoảng 70-78% toàn bộ khối lượng của động vật và ở người trưởng thành – lên tới 60-68%. Trong phylogenesis, các phần quan trọng khác nhau được hình thành: bộ xương như một cấu trúc hỗ trợ, dây chằng cung cấp sự kết nối của xương và các cơ xương tạo ra các đòn bẩy xương chuyển động.

Chủ của con chó thường gặp phải sự xáo trộn trong bộ xương của thú cưng, sự kém phát triển, giảm sức mạnh, thiếu hoặc thừa độ bão hòa khoáng chất (mềm hoặc dễ gãy của xương), vi phạm cấu trúc bên trong của nó, dẫn đến không chỉ các bệnh về xương, mà còn dẫn đến bệnh chung của cơ thể. Do đó, thành phần khoáng chất của xương bị ảnh hưởng không chỉ bởi trạng thái của phần hữu cơ (xương) mà còn do ăn kết hợp với hoạt động thể chất. Sự vắng mặt của thứ hai dẫn đến việc loại bỏ nhanh chóng muối canxi ra khỏi cơ thể, điều này phải được xem xét trong quá trình mang thai của động vật.

Xương của bộ xương (Hình 2) được chia thành bốn loại cơ bản ở dạng: phẳng ngắn (xương bả vai, xương sườn, xương chậu, xương sọ), hỗn hợp (đốt sống), xương ống dài (xương chi). Họ có một tủy xương đỏ – cơ quan tạo máu.

Bộ xương của chó (Hình 3) bao gồm hai phần: trục và ngoại vi.

Bộ xương trục

Bộ xương trục được đại diện bởi hộp sọ, cột sống và ngực.

Hộp sọ Chó dễ tính, duyên dáng. Hình dạng của nó rất đa dạng tùy thuộc vào giống. Có hộp sọ dài – dolichocephalic (collie, Doberman và những người khác) và ngắn – brachycephalic (pug, Bắc Kinh và những người khác).

Крышу черепной коробки образуют теменная, межтеменная и лобная кость. Теменная кость парная и граничит с затылочной. У молодых животных на месте швов образуется затылочный родничок, в котором закладывается парный очажок окостенения. Из него впоследствии формируется непарная межтеменная кость. Phòng xông hơi xương trán, gồm ba tấm. Sines (khoang chứa đầy không khí và lót màng nhầy) được hình thành giữa các mảng của xương trán, rất nhỏ ở chó. Các xoang đối xứng không được truyền đạt, nhưng có những vách ngăn không liên tục bên trong chúng. Do đó, có khả năng nhiễm trùng từ xoang này sang xoang khác.

Các thành bên của hộp sọ tạo thành xương thái dương, bao gồm:

* phần có vảy – tấm tạo thành bức tường bên,

* phần đá – trong đó, cụ thể là trong mê cung xương, từ đó các khe hở bên ngoài của ốc tai và ốc tai mở ra bên ngoài là các cơ quan thính giác và cân bằng. Thông qua chúng, khoang của mê cung xương của tai trong giao tiếp với các không gian đầu vào của khoang sọ. Các bệnh về cơ quan thính giác cũng có thể dẫn đến bệnh về màng não – viêm màng não,

* phần trống, nơi đặt bàng quang trống, trong đó tai giữa được đặt. Ống thính giác hoặc ống Eustachian mở thông qua khoang của phần nhĩ, qua đó tai giữa giao tiếp với khoang hầu họng. Đây là con đường lây nhiễm từ hầu họng đến tai giữa.

Nền của hộp sọ (đáy của khoang sọ) tạo thành xương hình nêm và xương chẩm (cơ thể). Xương sphenoid có sự xuất hiện của một con bướm: cơ thể và cánh. Bề mặt bên trong bao gồm hai bước giống với yên châu Á và do đó được gọi là “yên Thổ Nhĩ Kỳ”, nơi đặt tuyến yên (tuyến nội tiết). Dọc theo mép trước của mặt ngoài của cánh là các lỗ thông qua đó các dây thần kinh sọ nối não với các cơ quan của đầu. Ở phía bên ngoài của xương sphenoid, có các quá trình portgoid đóng khung cho chuối rộng. Tại cơ sở của các quá trình này, có một ống dẫn lưu thông qua đó động mạch tối đa và dây thần kinh đi qua.

Một lỗ rách rưới đi qua rìa xương chẩm qua đó các dây thần kinh sọ thoát ra.

Thành sau của hộp sọ được đại diện bởi xương chẩm. Nó bao gồm ba phần hợp nhất:

* vảy – ở chó, một đỉnh chẩm khá rõ của hình tam giác sắc nét, rõ rệt được hình thành trên đó,

* Condylar (các phần bên) xung quanh một lỗ mở lớn (đây là nơi tủy sống nổi lên trong ống sống). Ở hai bên của nó là bao cao su, được bọc bằng sụn khớp,

* cơ thể của xương chẩm (phần chính).

Thành trước của hộp sọ được hình thành bởi xương ethmoid và xương trán. Xương lưới không thể nhìn thấy trên bề mặt của hộp sọ. Nó nằm trên đường viền giữa hộp sọ và khoang mũi. Phần chính của nó là mê cung, nơi đặt cơ quan khứu giác.

Xương mõm, nằm trước hộp sọ, tạo thành hai khoang – mũi và miệng.

Mái nhà khoang mũi tạo thành xương mũi ghép. Trước mắt, nó thu hẹp và kết thúc dưới dạng một hình tam giác tự do. Phía trước lối vào khoang mũi được hình thành phía trên xương mũi, và ở hai bên và dưới cùng của răng cửa, ở cạnh dưới của nó có phế nang cho răng cửa, cũng như một cặp hàm trên. Hàm trên có các tấm mũi (trong đó các khoang đáng kể được hình thành, giao tiếp với một khoảng trống trong khoang mũi) giáp với đỉnh của xương mũi. Xuống các tấm này kết thúc với cạnh phế nang, nơi các lỗ được đặt, trong đó các răng được đặt. Các quá trình vòm miệng của Lamellar, khi kết hợp với nhau, tạo thành đáy của khoang mũi và đồng thời là vòm miệng, đi từ vùng phế nang. Đằng sau chúng được đặt xương khớp nối và bên dưới – hợp tử, tạo thành cạnh trước của quỹ đạo, nơi đặt nhãn cầu.

Thành sau của khoang mũi được biểu thị bằng xương ethmoid, tấm vuông góc đi vào vách ngăn sụn mũi chia hai khoang mũi theo chiều dọc thành hai nửa. Bên dưới xương ethmoid là lối ra từ khoang mũi đến hầu họng, được hình thành bởi xương vòm miệng và xương chậu.

Một dụng cụ mở không ghép nối đi dọc theo đáy của khoang mũi, vào máng mà vách ngăn mũi được đưa vào. Dọc theo bề mặt bên trong đến hàm trên và xương mũi, hai tấm xương mỏng, phía trước, xoắn được gắn vào – vỏ, rất khó để tạo ra ở chó: tách ra, chúng tạo ra những lọn tóc dài dọc theo chiều dài.

Mái nhà khoang miệng tạo thành xương hàm và xương hàm trên, và đáy được hình thành bởi hàm dưới ghép nối – xương duy nhất của khuôn mặt được kết nối di chuyển với hộp sọ bởi khớp trong khu vực của xương thái dương. Đây là một xương nhẹ dưới dạng một cuộn băng hơi tròn. Cô ấy có một cơ thể và các chi nhánh. Trên phần răng cửa và phần răng cưa phân biệt cạnh răng, trong các lỗ của răng là răng. Ở góc ngoài của nhánh ở chó có một quá trình phóng mạnh. Giữa các nhánh trong không gian tối đa có một xương hyoid, trên đó hầu họng, thanh quản và lưỡi bị treo.

Dọc cơ thể của động vật nằm cột sống trong đó có một cột sống được hình thành bởi các thân đốt sống (phần hỗ trợ kết nối dưới dạng một vòng cung động lực làm việc của các chi) và kênh đốt sống, được hình thành bởi các vòng cung của đốt sống bao quanh tủy sống. Tùy thuộc vào tải trọng cơ học được tạo ra bởi khối lượng của cơ thể, và khả năng di chuyển của các đốt sống có hình dạng và kích thước khác nhau.

Trong mỗi đốt sống có một cơ thể và một vòng cung.

Cột sống được phân biệt thành các phần trùng khớp với hướng tác động của lực hấp dẫn bốn chân (Bảng 1).

Cột sống và số lượng đốt sống ở một con chó

Các đốt sống của cột sống cổ được kết nối di chuyển với nhau, với hai đầu tiên được thay đổi đáng kể hình dạng của chúng: atlas và epistrophy. Trên chúng chuyển động của đầu. Các xương sườn được gắn vào các cơ quan của đốt sống ngực. Các đốt sống thắt lưng có các quá trình khớp mạnh mẽ cung cấp một kết nối vững chắc hơn của các vòm của đốt sống, mà các cơ quan tiêu hóa nặng bị đình chỉ. Các đốt sống xương khớp đã phát triển cùng nhau trong xương sacral. Kích thước của đốt sống đuôi giảm dần theo khoảng cách từ xương cùng. Mức độ giảm của các bộ phận phụ thuộc vào chức năng của đuôi. Các đốt sống 5-8 đầu tiên vẫn giữ lại các bộ phận của chúng – cơ thể và vòng cung. Trong các đốt sống tiếp theo, ống đốt sống đã vắng mặt. Cơ sở của đuôi chỉ là “cột” của các đốt sống. Ở chó con mới sinh, đốt sống đuôi có mức độ khoáng hóa thấp, do đó, một số giống chó (ví dụ, Airedale Terrier) cập bến (cắt bao quy đầu) ở độ tuổi sớm của một phần đuôi.

Lồng xương sườn hình thành bởi xương sườn và thịt ức. Các xương sườn được di chuyển gắn bên phải và bên trái đến đốt sống của cột sống ngực. Chúng ít di động ở phần trước của ngực, nơi gắn một cái vảy. Về vấn đề này, thùy trước của phổi thường bị ảnh hưởng bởi bệnh phổi. Những con chó có 13 cặp xương sườn. Chúng được uốn cong vòng cung. Cái râu có dạng que rõ ràng. Chiếc rương có hình nón, hai bên dốc.

Bộ xương ngoại biên hoặc bộ xương chân tay

Ngực chi Trình bày bởi:

* một lưỡi dao gắn vào cơ thể trong khu vực của xương sườn đầu tiên,

* vai, bao gồm các humerus,

* cẳng tay đại diện bởi bán kính và xương ulna,

* một bàn chải bao gồm một cổ tay (7 xương), metacarpus (5 xương) và phalang của các ngón tay. Con chó có 5 ngón tay, đại diện là 3 phalang, đầu tiên của ngón tay được treo và có 2 phalang. Ở cuối các ngón tay có một chiếc lược vuốt. Chân chậu bao gồm:

* xương chậu, mỗi nửa là xương không có vành. Trên cùng là xương chậu, bên dưới xương mu và xương hàm,

* đùi, đại diện bởi xương đùi và xương bánh chè, trượt trên khối xương đùi,

* xương chày, bao gồm xương chày và xương mác,

* bàn chân, đại diện bởi tarsus (7 xương), metatarsus (5 xương) và phalang của các ngón tay (5 ngón tay từ 3 phalang, đầu tiên của ngón tay được treo (có lợi) và có 2 phalang. Có một chiếc lược ở cuối ngón tay.

Trong số các bệnh của các cơ quan của bộ máy vận động, các quá trình bệnh lý ở khớp xương, đặc biệt là khớp tay chân ở động vật, là phổ biến hơn. Có một số loại xương khớp.

Liên tục. Loại khớp này có độ đàn hồi lớn, sức mạnh và khả năng di chuyển rất hạn chế. Tùy thuộc vào cấu trúc của mô nối xương, các loại hợp chất sau đây được phân biệt:

* với sự trợ giúp của mô liên kết – hội chứng, và nếu các sợi đàn hồi chiếm ưu thế trong đó – synelastosis. Một ví dụ về loại kết nối này là các sợi ngắn kết nối chắc chắn giữa xương này với xương khác, ví dụ, xương cẳng tay và chân dưới ở chó,

* với sự trợ giúp của mô sụn – synchondrosis. Loại kết nối này có tính di động thấp, nhưng cung cấp sức mạnh và độ đàn hồi của kết nối (ví dụ: kết nối giữa các thân đốt sống),

* Với sự trợ giúp của mô xương – khớp thần kinh, xảy ra, ví dụ, giữa xương cổ tay và tarsus. Khi động vật già đi, synostosis lây lan trong bộ xương. Nó xảy ra tại vị trí của hội chứng hoặc hội chứng.

Trong bệnh lý, kết nối này có thể xảy ra khi không có mặt bình thường, ví dụ, giữa các xương của khớp sacroiliac do không hoạt động thể chất, đặc biệt là ở động vật già,

* với sự trợ giúp của các mô cơ – khớp thần kinh, một ví dụ trong đó là sự kết hợp của scapula với cơ thể.

Không liên tục (hoạt dịch) khớp hoặc khớp. Nó cung cấp phạm vi tiếp cận lớn hơn và phức tạp hơn. Cấu trúc của các khớp rất đơn giản và phức tạp, theo hướng trục quay – đa trục, hai trục, đơn trục, kết hợp và trượt.

Khớp có một bao khớp bao gồm hai lớp, lớp ngoài (hợp nhất với màng ngoài tim) và bên trong (synovial, phân bổ synovium vào khoang khớp, nhờ đó xương không cọ xát với nhau). Hầu hết các khớp, ngoại trừ viên nang, được cố định bởi một số dây chằng khác nhau. Dây chằng thường đi dọc theo bề mặt của khớp và được cố định ở hai đầu đối diện của xương, nghĩa là chúng không can thiệp vào chuyển động chính trong khớp (ví dụ, khớp khuỷu tay).

Hầu hết các xương của hộp sọ được kết nối bởi một loại kết nối liên tục, nhưng cũng có các khớp – khớp thái dương hàm, atlantocatecular. Các cơ quan của đốt sống, ngoại trừ hai đầu tiên, được liên kết với nhau bằng các đĩa đệm (sụn), nghĩa là khớp thần kinh, cũng như dây chằng dài. Các xương sườn được kết nối bởi fascia intacoracic, bao gồm các mô liên kết đàn hồi, cũng như các cơ liên sườn và dây chằng ngang. Scapula được kết nối với cơ thể với sự trợ giúp của các cơ xương đòn và xương chậu với sự trợ giúp của khớp với xương cùng và với đốt sống đuôi đầu tiên với dây chằng. Các phần chi được gắn với nhau bằng các loại khớp khác nhau, ví dụ, sự kết nối của xương chậu với xương đùi xảy ra thông qua khớp hông đa khớp.

Mô cơ có một tính chất quan trọng để co lại, gây ra chuyển động (hoạt động năng động) và cung cấp âm sắc của cơ bắp, tăng cường các khớp ở một góc kết hợp nhất định với một cơ thể cố định (công việc tĩnh), duy trì một tư thế nhất định. Chỉ có công việc (đào tạo) của các cơ góp phần làm tăng khối lượng của chúng bằng cách tăng đường kính của các sợi cơ (phì đại) và bằng cách tăng số lượng của chúng (tăng sản). Mô cơ có ba loại, tùy thuộc vào loại sắp xếp của sợi cơ:

* mịn (thành tàu),

* vân (cơ xương),

* tim đập (trong tim).

Cơ xương được đại diện bởi một số lượng lớn (hơn 200) cơ bắp. Mỗi cơ có một phần hỗ trợ – stroma mô liên kết và nhu mô cơ hoạt động. Tải trọng tĩnh được thực hiện bởi cơ bắp, stroma càng phát triển. Trong lớp cơ của các cơ, gân liên tục được hình thành ở hai đầu của cơ bụng, hình dạng của nó phụ thuộc vào hình dạng của cơ. Nếu gân giống như dây, nó được gọi đơn giản là gân. Nếu nó bằng phẳng, thì đó là một aponeurosis. Trong một số phần của cơ bắp xâm nhập vào các mạch máu, nguồn cung cấp máu và các dây thần kinh bẩm sinh. Cơ bắp là ánh sáng và bóng tối, tùy thuộc vào chức năng, cấu trúc và cung cấp máu. Mỗi cơ bắp, nhóm cơ và tất cả các cơ của cơ thể được mặc quần áo với lớp vỏ xơ dày đặc biệt – fascia. Để ngăn ngừa ma sát của cơ, gân hoặc dây chằng, làm mềm sự tiếp xúc của chúng với các cơ quan khác, để tạo điều kiện trượt với sự chuyển động lớn, các vết nứt được hình thành giữa các tấm fascia, được lót bởi một lớp vỏ, tiết ra chất nhầy trong khoang kết quả. Những cấu trúc này được gọi là bursa niêm mạc, hoặc hoạt dịch. Các bursas như vậy được đặt, ví dụ, trong các khu vực của khuỷu tay và khớp gối, và sự thất bại của chúng đe dọa khớp.

Cơ bắp có thể được phân loại theo một số tiêu chí.

* lamellar (cơ bắp của đầu và cơ thể),

* dày dài (trên các chi),

* cơ thắt (nằm ở rìa của các lỗ, không có điểm đầu cũng như điểm cuối, ví dụ, cơ thắt hậu môn),

* kết hợp (gấp ra khỏi các chùm riêng lẻ, ví dụ, các cơ của cột sống).

Theo cấu trúc bên trong:

* năng động (các cơ thực hiện tải trọng động, cơ nằm trên cơ thể càng cao thì càng năng động),

* Statodynamic (chức năng tĩnh của cơ trong quá trình hỗ trợ, duy trì các khớp động vật ở dạng mở rộng khi đứng, khi chịu tác động của trọng lượng cơ thể, các khớp của tứ chi có xu hướng uốn cong, cơ loại này mạnh hơn cơ bắp năng động),

* tĩnh (cơ mang tải tĩnh, cơ nằm càng thấp trên cơ thể, chúng càng tĩnh).

* chất bổ sung (hàm khử),

* kẻ bắt cóc (chức năng chì),

* công cụ quay (chức năng quay).

Công việc cơ bắp được kết nối chặt chẽ với cơ thể cân bằng và ở một mức độ lớn với các giác quan khác. Nhờ kết nối này, các cơ cung cấp sự cân bằng của cơ thể, độ chính xác của các động tác, sức mạnh.

Do đó, là kết quả của hành động chung của hệ cơ với bộ xương, một số công việc được thực hiện (ví dụ, động vật di chuyển). Trong quá trình hoạt động, sự tích tụ nhiệt xảy ra.

Do đó, vào mùa ấm áp, với công việc chuyên sâu ở chó, cơ thể quá nóng có thể xảy ra – say nắng.

Trong thời gian lạnh, để tránh hạ thân nhiệt, động vật cần di chuyển nhiều hơn.

Da

Cơ thể của chó được bao phủ bởi da lông và các cơ quan hoặc dẫn xuất của da.

Nó bảo vệ cơ thể khỏi các tác động bên ngoài, thực hiện, thông qua nhiều đầu dây thần kinh, vai trò của một đơn vị thụ thể của máy phân tích da của môi trường bên ngoài (xúc giác, đau và nhạy cảm với nhiệt độ). Thông qua nhiều loại mồ hôi và tuyến bã nhờn, một số sản phẩm trao đổi chất được giải phóng, qua miệng túi tóc, tuyến da, bề mặt da có thể hấp thụ một lượng nhỏ dung dịch. Các mạch máu của da có thể chứa tới 10% máu của một con chó. Giảm và mở rộng các mạch máu là rất cần thiết trong việc điều chỉnh nhiệt độ cơ thể. Da có chứa vitamin. Dưới ảnh hưởng của tia cực tím, vitamin D được sản xuất.

Trong vùng da phủ đầy tóc, các lớp sau được phân biệt (Hình 6).

1. Biểu bì (biểu bì) – lớp ngoài cùng. Lớp này xác định màu của da, và các tế bào bị giác mạc bị tróc ra, do đó loại bỏ bụi bẩn, vi sinh vật, v.v., khỏi bề mặt da. Tóc mọc ở đây: 3 hoặc nhiều hơn (dày và dài) và 6-12 lớp lông ngắn và mềm.

2. Derma (da thích hợp):

* lớp pilyarny, trong đó có tuyến bã nhờn và mồ hôi, chân tóc trong nang lông, cơ bắp – người nâng tóc, nhiều mạch máu và bạch huyết và đầu dây thần kinh,

* lớp lưới bao gồm một đám rối collagen và một lượng nhỏ sợi đàn hồi.

Trong lớp hạ bì là các tuyến thơm, tiết ra mùi đặc trưng cho mỗi giống. Trên các khu vực không có lông (mũi, cằm, bìu ở con đực và chó cái), da hình thành các mẫu riêng biệt cho từng mẫu vật nuôi.

3. Cơ sở dưới da (lớp dưới da), đại diện bởi mô liên kết lỏng lẻo và mô mỡ.

Lớp này được gắn vào các fascia bề ngoài bao phủ cơ thể của con chó.

Nó lưu trữ các chất dinh dưỡng dự phòng dưới dạng chất béo.

DERIVATIVES CỦA DA

Các dẫn xuất của da bao gồm sữa, mồ hôi và tuyến bã nhờn, móng vuốt, vụn, lông và gương mũi của chó.

Tuyến bã nhờn. Các ống dẫn của chúng mở vào miệng của nang lông. Сальные железы выделяют сальный секрет, который, смазывая кожу и волосы, придает им мягкость и эластичность.

Потовые железы. Их выводные протоки открываются на поверхность эпидермиса, через которые выделяется жидкий секрет – пот. Потовых желез у собак немного. Расположены они в основном в области мякишей на лапах и на языке. Собака потеет не всем телом, лишь учащенное дыхание через открытый рот и испарение жидкости из ротовой полости регулируют температуру ее тела.

Молочные железы. Chúng có nhiều và được sắp xếp thành hai hàng ở phần dưới của ngực và thành bụng, 4 – 6 cặp đồi ở mỗi hàng. Trong mỗi ngọn đồi có một vài thùy của tuyến mở thông qua các kênh núm vú ở đầu núm vú. Mỗi núm vú có 6 kênh t2020.

Tóc Đây là những sợi fusiform từ biểu mô sừng nhiều lớp và keratin hóa. Phần tóc mọc phía trên bề mặt da được gọi là phần cuống, phần bên trong da được gọi là phần gốc. Rễ đi vào trong bóng đèn, và bên trong bóng đèn là nhú của tóc.

Theo cấu trúc có bốn loại tóc chính.

1. Bao gồm – dài nhất, dày, đàn hồi và dẻo dai, gần như thẳng hoặc chỉ hơi gợn sóng. Nó phát triển với số lượng lớn trên cổ và dọc theo cột sống, trên hông và nhỏ hơn – ở hai bên. Một tỷ lệ lớn của loại lông này thường là chó lông chó. Ở những con chó lông ngắn, lông che phủ không có hoặc nằm trong một dải hẹp dọc theo lưng.

2. Ostevy (che tóc) – tinh tế và nhẹ nhàng hơn. Nó dài hơn lớp lót, che chặt nó, do đó bảo vệ nó khỏi bị ướt và xóa. Ở những con chó lông dài, nó được uốn ở các mức độ khác nhau, đó là lý do tại sao chúng phân biệt lông thẳng, cong và xoăn.

3. Lớp lông là lông ngắn và mỏng nhất, rất ấm, phù hợp với toàn bộ cơ thể của chó và giúp giảm nhiệt cơ thể trong mùa lạnh. Nó đặc biệt phát triển ở những con chó nuôi bên ngoài trong mùa lạnh. Thay đổi áo lót (molt) xảy ra hai lần một năm.

4. Rung động – tóc nhạy cảm. Kiểu tóc này nằm trên da ở môi, lỗ mũi, cằm và mí mắt.

Có một số lượng lớn các phân loại áo về chất lượng tóc.

Bởi sự hiện diện của lớp lót:

* chó không có lông,

* chó có lớp lông lót.

Theo bản sắc của bộ lông của chúng, những con chó là:

* lông mượt (bull terrier, Doberman, Dalmatian và những người khác),

* tóc thẳng (beagle, rottweiler, labrador và những người khác),

* tóc ngắn có tóc (St. Bernard, nhiều người Tây Ban Nha và những người khác),

* tóc xù (terrier, schnauzers và những người khác),

* tóc trung bình (collie, pomeranian, Bắc Kinh và những người khác),

* tóc dài (Yorkshire Terrier, Shih Tzu, Afghanistan Hound và những người khác),

* tóc dài với tóc dây (poodle, chỉ huy và những người khác),

* lông xù dài (Kerry Blue Terrier, Bichon Frize và những người khác).

Màu tóc được xác định bởi hai sắc tố: vàng (đỏ và nâu) và đen. Sự hiện diện của sắc tố ở dạng nguyên chất của nó mang lại một màu hoàn toàn đơn sắc. Nếu các sắc tố được trộn lẫn, sau đó có các màu khác.

Hầu hết những con chó rụng hai lần một năm: vào mùa xuân và mùa thu. Hiện tượng này được gọi là lột xác sinh lý. Mùa xuân thường dài hơn và rõ rệt hơn. Rụng là một sự bảo vệ tự nhiên của con chó khỏi cái nóng mùa hè và thay thế lông cũ bằng cái mới. Đối với mùa hè, những con chó chủ yếu có một bộ lông bảo vệ, và lớp lông rơi ra. Vào mùa đông, trái lại, một lớp lông dày và ấm phát triển. Khi nuôi chó ở nhà, thời gian lột xác dài hơn so với những người sống trên đường phố.

Myakishi Đây là khu vực hỗ trợ của các chi. Ngoài chức năng hỗ trợ, chúng là cơ quan cảm ứng. Các mảnh vụn tạo thành lớp da dưới da. Một con chó có 6 mảnh vụn ở mỗi chi ngực và 5 trên mỗi xương chậu.

Hệ thần kinh

Hệ thống thần kinh là một tập hợp các cấu trúc trong cơ thể động vật kết hợp các hoạt động của tất cả các cơ quan và hệ thống và đảm bảo sự hoạt động của toàn bộ sinh vật trong sự tương tác liên tục của nó với môi trường bên ngoài. Đơn vị cấu trúc và chức năng của hệ thần kinh là tế bào thần kinh – tế bào thần kinh – cùng với các tế bào thần kinh đệm. Loại thứ hai mặc các tế bào thần kinh và cung cấp cho chúng các chức năng hỗ trợ và chiến đấu. Các tế bào thần kinh có một số quá trình – sợi nhánh nhạy cảm, phân nhánh cây, dẫn đến cơ thể của một tế bào thần kinh nhạy cảm, sự kích thích xảy ra ở đầu dây thần kinh nhạy cảm của chúng, nằm trong các cơ quan và một sợi trục động cơ, qua đó xung thần kinh được truyền từ tế bào thần kinh đến cơ quan làm việc. Các nơ-ron tiếp xúc với nhau với sự trợ giúp của các quá trình, tạo thành chuỗi phản xạ mà qua đó các xung thần kinh được truyền đi.

Quá trình của các tế bào thần kinh kết hợp với các tế bào thần kinh hình thành sợi thần kinh. Những sợi này trong não và tủy sống chiếm phần lớn chất trắng. Từ các quá trình của các tế bào thần kinh được hình thành các bó, trong đó được mặc như một nhóm vỏ phổ biến được hình thành dây thần kinh ở dạng cấu trúc chuỗi. Thần kinh có chiều dài và độ dày khác nhau. Các sợi thần kinh được chia thành nhạy cảm – nhạy cảm, truyền các xung thần kinh từ thụ thể đến hệ thần kinh trung ương, và tác động, dẫn các xung từ hệ thống thần kinh trung ương đến cơ quan bẩm sinh: myelin (bẩm sinh các cơ của cơ thể và các cơ quan nội tạng), không phải myelin (bẩm sinh cơ quan nội tạng).

hạch thần kinh – các nhóm tế bào thần kinh của phần trung tâm của hệ thần kinh, được phân bổ cho ngoại vi. Chúng đóng vai trò của một máy biến áp bước xuống, cũng như một máy gia tốc dẫn truyền xung thần kinh trong hạch nhạy cảm và gây ức chế các cơ quan nội tạng trong các nút tác nhân. Các hạch thần kinh là một khu vực nhân lên, trong đó từ một sợi có thể lan truyền đến một số lượng lớn tế bào thần kinh.

Thần kinh – những nơi có sự trao đổi giữa các dây thần kinh, bó hoặc sợi dành cho việc phân phối lại các sợi thần kinh trong các hợp chất phức tạp trong các phân đoạn khác nhau của tủy sống và não.

Về mặt giải phẫu, hệ thống thần kinh được chia thành trung tâm, bao gồm não và tủy sống với hạch thần kinh cột sống, ngoại biên, bao gồm các dây thần kinh sọ và cột sống nối hệ thống thần kinh trung ương với các thụ thể và các thiết bị của các cơ quan khác nhau. Điều này bao gồm các dây thần kinh của cơ xương và da – phần soma của hệ thống thần kinh và mạch máu – giao cảm. Hai phần sau này được hợp nhất bởi khái niệm hệ thống thần kinh tự trị hoặc thực vật.

Não

Đây là phần đầu của phần trung tâm của hệ thần kinh, nằm trong khoang sọ. Có hai bán cầu, cách nhau bởi một luống và có con quay. Chúng được bao phủ bằng chất vỏ não hoặc vỏ cây.

Các phần sau đây được phân biệt trong não:

* não cuối (não khứu giác và áo mưa),

* diencephalon (cusps thị giác (thalamus), nadormsorye (epithalamus), hypothalamus (hypothalamus), peri-cuspidus (metatalamus),

* midbrain (chân của bộ não lớn và bốn má),

* não sau (tiểu não và cầu),

Não được mặc ba vỏ: rắn, màng nhện và mềm. Giữa màng rắn và màng nhện có một không gian dưới màng cứng chứa đầy dịch não tủy (dòng chảy của nó có thể vào hệ thống tĩnh mạch và vào các cơ quan lưu thông bạch huyết), và giữa không gian màng nhện và mềm – màng nhện.

Tủy sống

Tủy sống là một phần của phần trung tâm của hệ thần kinh, là một dây của các mô não với tàn dư của khoang não. Nằm trong ống sống và bắt đầu từ hành tủy và kết thúc ở khu vực của đốt sống thắt lưng thứ 7. Tủy sống được phân chia có điều kiện mà không có ranh giới có thể nhìn thấy vào các vùng cổ tử cung, ngực và thắt lưng, bao gồm các chất xám và trắng não. Trong chất xám có một số trung tâm thần kinh soma thực hiện các phản xạ vô điều kiện khác nhau, ví dụ, ở cấp độ của các đoạn thắt lưng, có các trung tâm nằm ở các chi chậu và thành bụng. Tủy trắng bao gồm các sợi myelin và nằm xung quanh màu xám dưới dạng ba cặp can (bó), trong đó các đường dẫn của cả hai thiết bị phản xạ của tủy sống và các đường đi lên tới não (cảm giác) và đi xuống từ nó (vận động).

Tủy sống được bao phủ bởi ba lớp vỏ: rắn, màng nhện và mềm, giữa đó có các vết nứt chứa đầy chất lỏng cột sống. Ở chó, chiều dài của tủy sống trung bình là 78 ​​cm với khối lượng 33 g.

Hệ thần kinh ngoại biên

Phần ngoại vi của hệ thần kinh là một phần tách biệt về mặt địa lý của hệ thần kinh đơn, nằm bên ngoài não và tủy sống. Nó bao gồm các dây thần kinh sọ và cột sống với rễ, đám rối, hạch và các đầu không đều được nhúng trong các cơ quan và mô. Do đó, 31 cặp dây thần kinh ngoại biên đang di chuyển ra khỏi tủy sống và 12 cặp từ não.

Trong hệ thống thần kinh ngoại biên, người ta thường phân biệt ba phần – somatic (trung tâm kết nối với cơ xương), giao cảm (liên kết với các cơ trơn của các mạch của cơ thể và các cơ quan nội tạng), giao cảm (liên kết với các cơ trơn và các tuyến của các cơ quan nội tạng) và mô liên kết (bẩm sinh).

Hệ thống thần kinh thực vật (tự trị)

Hệ thống thần kinh tự trị có các trung tâm đặc biệt trong tủy sống và não, cũng như một số hạch nằm bên ngoài tủy sống và não. Phần này của hệ thống thần kinh được chia thành:

* giao cảm (bảo tồn các cơ trơn mạch máu, các cơ quan nội tạng, các tuyến), các trung tâm nằm ở vùng ngực của tủy sống,

* giao cảm (bảo tồn đồng tử, tuyến nước bọt và tuyến lệ, cơ quan hô hấp, cơ quan nằm trong khoang chậu), có trung tâm nằm trong não.

Điểm đặc biệt của hai bộ phận này là bản chất đối kháng trong việc cung cấp các cơ quan nội tạng của chúng, nghĩa là, nơi hệ thống thần kinh giao cảm hoạt động một cách kích thích, giao cảm – trầm cảm. Ví dụ, trái tim được bẩm sinh bởi các dây thần kinh giao cảm và lang thang. Dây thần kinh phế vị kéo dài từ trung tâm giao cảm làm chậm nhịp tim, làm giảm kích thước của cơn co thắt, làm giảm sự hưng phấn của cơ tim và giảm tốc độ của sóng kích thích qua cơ tim. Các dây thần kinh giao cảm hành động theo hướng ngược lại.

Hệ thống thần kinh trung ương và vỏ não điều chỉnh tất cả các hoạt động thần kinh cao hơn thông qua các phản xạ. Có những phản ứng cố định về mặt di truyền của hệ thần kinh trung ương đối với các kích thích bên ngoài và bên trong – thực phẩm, tình dục, phòng thủ, định hướng, sự xuất hiện của nước bọt khi nhìn thấy thức ăn. Những phản ứng này được gọi là phản xạ bẩm sinh hoặc vô điều kiện. Chúng được cung cấp bởi não, thân của tủy sống, hệ thống thần kinh tự trị. Phản xạ có điều kiện có được các phản ứng thích nghi riêng lẻ của động vật phát sinh trên cơ sở hình thành mối liên hệ tạm thời giữa tác nhân gây khó chịu và phản xạ không điều kiện. Một ví dụ về phản xạ như vậy – việc thực hiện các nhu cầu tự nhiên cho một cuộc đi bộ. Trung tâm của sự hình thành loại phản xạ này cũng là vỏ não của bán cầu não.

PHÂN TÍCH THỰC TẾ

Nó bao gồm cơ quan thị giác – mắt, bao quanh thụ thể thị giác, dây dẫn – dây thần kinh thị giác và não và các trung tâm não dưới vỏ não và vỏ não.

Mắt Bao gồm nhãn cầu, được kết nối thông qua dây thần kinh thị giác đến não và các cơ quan phụ của nó.

Hầu hết các nhãn cầu có hình dạng hình cầu và nằm trong khoang xương – hốc mắt hoặc quỹ đạo hình thành bởi xương của hộp sọ. Cực trước là lồi, và cực sau có phần dẹt. Nhãn cầu bao gồm các vỏ sau đây.

* albumen (sclera) – rắn chắc, đeo 4/5 nhãn cầu, ngoại trừ cực trước, nó đóng vai trò là bộ xương mạnh mẽ của thành mắt, các gân cơ mắt được gắn vào nó,

* giác mạc trong suốt, dày đặc và khá dày, nó chứa nhiều dây thần kinh, nhưng không có mạch máu, tham gia dẫn ánh sáng đến võng mạc, nhận thấy đau và áp lực, nơi giác mạc đi vào màng cứng được gọi là chi (cạnh).

* cầu vồng là phần sắc tố và phần trước của lớp vỏ giữa, ở phần trung tâm của nó có một lỗ – đồng tử (nó tròn ở chó), mô cơ trơn tạo thành hai cơ ở mống mắt – cơ vòng (vòng) và phần giãn của đồng tử (xuyên tâm) mở rộng hoặc thuôn, đồng tử điều chỉnh sự xâm nhập của các tia sáng vào nhãn cầu,

* cơ thể mật – một phần dày của vỏ giữa. Nằm ở dạng một vòng rộng tới 10 mm xung quanh ngoại vi của bề mặt sau của mống mắt giữa nó và màng đệm, phần chính là cơ bắp, mà dây chằng (ống kính) hỗ trợ cho ống kính được gắn vào, ống kính trở nên lồi lõm dưới ống kính này. .

* màng đệm thích hợp là mặt sau của lớp lót giữa của nhãn cầu, nó được đặc trưng bởi sự phong phú của các mạch máu và nằm giữa màng cứng và võng mạc, nuôi dưỡng phần sau,

Nội bộ, hoặc võng mạc:

* mặt sau là hình ảnh, nằm dọc hầu hết thành của nhãn cầu, nơi nhận thức ánh sáng được nhận biết và chuyển thành tín hiệu thần kinh, nó bao gồm một thần kinh (bên trong, cảm quang, cơ thể thủy tinh) và sắc tố (bên ngoài, liền kề với màng đệm) . Trong lớp dây thần kinh có các tế bào thần kinh tế bào cảm quang gồm hai loại, các que (có nhiều hơn) và hình nón, tương ứng mang lại cảm giác ánh sáng và màu sắc. Nơi chuyển của võng mạc sang dây thần kinh thị giác được gọi là điểm mù. Không có tế bào cảm quang trong đó. Ở trung tâm của võng mạc, một điểm màu vàng với hình tròn với một lỗ ở giữa nổi bật. Đây là một âm mưu của nhận thức màu sắc tốt. Trong cuộc sống, võng mạc mềm mại, màu hồng, trong suốt và sau khi chết, nó trở nên nhiều mây,

* phần trước – mù, che phủ bên trong cơ thể và mống mắt, cùng với nó phát triển, bao gồm các tế bào sắc tố và không có lớp cảm quang.

Phần trước của nhãn cầu đến giác mạc và bề mặt bên trong của mí mắt được bao phủ bởi màng nhầy – kết mạc. Khoang của nhãn cầu chứa đầy môi trường khúc xạ ánh sáng: thấu kính và nội dung của các khoang trước, sau và thủy tinh thể của mắt. Khoang trước của mắt là khoảng trống giữa giác mạc và mống mắt, khoang sau của mắt là khoảng trống giữa mống mắt và thấu kính. Chất lỏng trong buồng nuôi dưỡng các mô của mắt, loại bỏ các sản phẩm trao đổi chất, dẫn các tia sáng từ giác mạc đến ống kính. Ống kính là một cơ thể trong suốt dày đặc, có dạng thấu kính hai mặt (thay đổi bề mặt của nó) và nằm giữa mống mắt và cơ thể thủy tinh thể. Đây là cơ quan lưu trú. Với tuổi tác, ống kính trở nên kém đàn hồi. Khoang thủy tinh là khoảng trống giữa thấu kính và võng mạc, chứa đầy cơ thể thủy tinh (khối trong suốt, dạng gelatin bao gồm 98% nước). Chức năng của nó là duy trì hình dạng và tông màu của nhãn cầu, giữ ánh sáng và tham gia vào quá trình chuyển hóa nội nhãn.

Các cơ quan thứ cấp của mắt là mí mắt, bộ máy lệ, cơ mắt, quỹ đạo, quỹ đạo trước và fascia. Веки – это кожно-слизисто-мышечные складки. Они расположены впереди от глазного яблока и предохраняют глаза от механических повреждений. Во внутреннем углу глаза у собак есть небольшое утолщение конъюнктивы – слезный бугорок со слезным канальцем в центре, вокруг которого имеется небольшое углубление – слезное озеро. Третье веко – это мигательная перепонка, которая представляет собой полулунную складку конъюнктивы, расположенную на глазном яблоке во внутреннем углу век. Слезный аппарат – это слезные железы, канальцы, слезный мешок и носослезный проток.Các ống bài tiết của các tuyến lệ với số lượng 6-8 lớn và một số nhỏ mở ra trong kết mạc của thế kỷ. Bí mật bao gồm chủ yếu là nước, chứa enzyme lysozyme, có tác dụng diệt khuẩn. Khi mí mắt di chuyển, chất lỏng trong nước sẽ giữ ẩm và làm sạch kết mạc và tích tụ trong hồ nước. Từ đây, bí mật đi vào ống lệ, mở ra ở góc trong của mắt. Trên người họ một giọt nước mắt rơi vào túi lệ, từ đó ống mũi bắt đầu.

Các cơ mắt là bảy nằm bên trong periorbita. Chúng cung cấp sự chuyển động của nhãn cầu theo các hướng khác nhau trong quỹ đạo. Vị trí của nhãn cầu được gọi là quỹ đạo, và quỹ đạo là khu vực đặt mặt sau của nhãn cầu, dây thần kinh thị giác, cơ bắp, fascia, mạch và dây thần kinh.

Tầm nhìn của chó có những đặc điểm riêng. Con chó không thể nhìn thấy vật thể cùng một lúc bằng hai mắt, vì mỗi mắt có một góc nhìn riêng. Chó thiếu nhận thức màu sắc về thế giới, nhưng nó phân biệt rõ giữa các vật thể có hình dạng khác nhau.

Người bạn bốn chân của bạn có thể nhìn thấy chuyển động của các vật thể ở khoảng cách 250-300 m và hơn thế nữa.

Khiếm thính cân bằng hoặc máy phân tích âm tĩnh

Máy phân tích này bao gồm các thụ thể – cơ quan ốc tai trước cửa, các con đường và trung tâm não. Cơ quan ốc tai, hay tai, là một tập hợp các cấu trúc phức tạp, đảm bảo nhận thức về âm thanh, tín hiệu rung và lực hấp dẫn. Receptor nhận biết các tín hiệu này nằm trong tiền đình màng và ốc tai màng, xác định tên của cơ quan.

Tai (Hình.9) bao gồm tai ngoài, giữa và trong.

Tai ngoài – Đây là phần hấp thụ âm thanh của cơ quan bao gồm auricle, cơ bắp của nó và kênh thính giác bên ngoài. Các auricle là một nếp gấp da di động có hình phễu với tóc, cơ sở được hình thành bởi sụn đàn hồi. Ở chó, kích thước và hình dạng của vỏ có đặc điểm phả hệ đáng kể. Ở mép sau của vỏ với bề mặt bên trong của nó có một túi da. Cơ bắp rất nhiều và phát triển tốt. Họ thực hiện chuyển động của cực quang, biến nó thành nguồn âm thanh. Kênh thính giác bên ngoài phục vụ cho việc rung động âm thanh đến màng nhĩ và là một ống hẹp có độ dài khác nhau. Cơ sở của nó là sụn đàn hồi và một ống xương. Ở chó, kênh thính giác bên ngoài ngắn, góp phần vào sự chuyển đổi nhanh chóng của hệ vi sinh vật gây bệnh sang tai giữa.

Tai giữa – nó là một cơ quan âm thanh và biến đổi âm thanh của cơ quan tiền ốc tai, được đại diện bởi một khoang nhĩ với một chuỗi các thính giác trong đó. Khoang trống nằm ở phần nhĩ của xương đá. Trên bức tường phía sau của khoang này có hai lỗ mở hoặc cửa sổ: cửa sổ tiền đình, được đóng bởi một cánh khuấy và cửa sổ ốc tai, được đóng bởi một lớp màng bên trong. Trên bức tường phía trước có một lỗ dẫn vào lỗ thính giác trong cổ họng. Khoang trống của chó tương đối lớn. Màng nhĩ là một màng có thể co giãn yếu, dày khoảng 0,1 mm ngăn cách tai giữa với tai ngoài. Các hạt thính giác của tai giữa là malleus, incus, xương dạng thấu kính và cánh khuấy. Với sự trợ giúp của dây chằng và khớp, chúng được hợp nhất thành một chuỗi, với một đầu tựa vào màng nhĩ và đầu kia – chống lại cửa sổ tiền đình. Thông qua chuỗi các thính giác này, các rung động âm thanh được truyền từ màng nhĩ đến chất lỏng của tai trong, perilymph.

Chó cũng xác định vị trí nguồn âm thanh. Ví dụ, máy phân tích thính giác nhận thấy sóng âm thanh với tần số lên tới 40 nghìn rung động mỗi giây và tiếng sột soạt – ở khoảng cách 24 m. Các tín hiệu âm thanh khác nhau được sử dụng rộng rãi trong huấn luyện chó khi ra lệnh bằng giọng nói, tiếng huýt sáo và các nguồn âm thanh khác.

PHÂN TÍCH KÍCH THƯỚC, HOẶC HOẶC CƠ THỂ

Nó nằm ở độ sâu của khoang mũi, cụ thể là trong đường mũi nói chung, ở phần trên của nó, khu vực được lót bằng biểu mô khứu giác. Các tế bào của biểu mô khứu giác là khởi đầu của các dây thần kinh khứu giác, thông qua đó sự kích thích được truyền đến não. Ở chó, số lượng tế bào khứu giác khoảng 125 triệu. Mùi là khả năng động vật nhận biết một tính chất (mùi) nhất định của các hợp chất hóa học trong môi trường. Các phân tử của các chất có mùi, là tín hiệu về một số vật thể hoặc sự kiện trong môi trường, cùng với không khí đến các tế bào khứu giác khi chúng được hít qua mũi hoặc qua miệng (trong khi ăn qua chuối).

Chó có mức độ mùi cao, nhưng nó phụ thuộc trực tiếp vào tính cách và thể lực của con vật. Ví dụ, chó con sinh ra bị mù và điếc, nhưng với khứu giác tuyệt vời, trong những ngày đầu tiên giúp chúng điều hướng thế giới bên ngoài và chó săn ngửi thấy trò chơi ở khoảng cách 1 km. Khứu giác của con chó mạnh hơn 11,5 lần so với con người. Cảm giác về mùi giảm đi khi cơ thể mệt mỏi, với các quá trình viêm và teo trong màng nhầy của mũi và sưng, cũng như sự vi phạm của nó xảy ra khi hệ thống thần kinh trung ương bị ảnh hưởng, nơi các xung động từ các tế bào khứu giác đến. Quá mẫn cảm với mùi là hyperosmia, giảm – giảm âm, mất mùi – anosmia. Với tác dụng kéo dài của cùng các chất gây mùi, cơ quan khứu giác bắt đầu làm mờ cảm giác khứu giác, nhưng nếu bạn nghỉ ngơi, sự nhạy cảm với các chất gây mùi này được phục hồi trở lại.

PHÂN TÍCH HẤP DẪN, HOẶC CƠ THỂ

Hương vị là một phân tích về chất lượng của các chất khác nhau đi vào khoang miệng. Cảm giác vị giác phát sinh là kết quả của việc tiếp xúc với các giải pháp hóa học với các chất hóa học của chồi vị giác của lưỡi và niêm mạc miệng. Trong trường hợp này, có một cảm giác đắng, chua, mặn, ngọt hoặc hỗn hợp. Hương vị của trẻ sơ sinh thức dậy trước tất cả các cảm giác khác.

Các chồi vị giác chứa các củ vị giác với các tế bào thần kinh biểu mô và nằm ở bề mặt trên của lưỡi. Chúng có dạng ba loại – hình nấm, hình con lăn và hình chiếc lá. Thực phẩm khô không thể ảnh hưởng đến các tế bào thần kinh biểu mô của củ vị giác, đắm mình trong màng nhầy. Thức ăn được làm ẩm khi cây bị nghiền nát bởi độ ẩm, sự tiết ra của tuyến nước bọt, bao gồm cả dịch tiết do tuyến tiết ra trong thành của chồi vị giác. Thông tin về các hóa chất hòa tan kích thích các đầu dây thần kinh của dây thần kinh vận động. Các kích thích thần kinh kết quả dọc theo dây thần kinh vị giác được truyền đến vỏ não của bán cầu não, nơi tạo ra cảm giác của vị giác cơ bản. Cơ quan vị giác được sử dụng thành công trong việc huấn luyện chó (phương pháp kích thích vị giác).

PHÂN TÍCH DA HOẶC HOẶC THỰC HIỆN TỔ CHỨC

Chạm là khả năng của động vật để nhận thức các ảnh hưởng bên ngoài khác nhau. Nó được thực hiện bởi các thụ thể của da, hệ thống cơ xương (cơ, gân, khớp và những người khác), màng nhầy (môi, lưỡi và những người khác). Cảm giác xúc giác có thể rất đa dạng, vì nó phát sinh do nhận thức phức tạp về các tính chất khác nhau của một chất gây kích thích tác động lên da và mô dưới da. Thông qua liên lạc, hình dạng, kích thước, nhiệt độ, tính nhất quán của kích thích, vị trí và chuyển động của cơ thể trong không gian được xác định. Nó dựa trên sự kích thích của các cấu trúc đặc biệt – cơ chế, bộ điều nhiệt, thụ thể đau và sự chuyển đổi trong hệ thống thần kinh trung ương của các tín hiệu đến thành một loại nhạy cảm thích hợp. Ví dụ, cảm giác xúc giác được gây ra bởi sự kích thích của các chất cơ học nằm trong da ở một khoảng cách nào đó với nhau. Độ nhạy cao nhất được quan sát thấy ở động vật ở khu vực đầu và khu vực của các mảnh vụn của ngón tay. Vibrissae nhận thấy những rung động không khí nhỏ nhất. Cơn đau báo hiệu một mối nguy hiểm mới nổi và gây ra các phản ứng phòng thủ để đáp ứng với việc loại bỏ các chất kích thích sắc nhọn. Nhiều quá trình bệnh lý đi kèm với một phản ứng đau đớn, do đó, các phương pháp ngăn chặn các xung đau đã được phát triển trong y học thú y.

Máy phân tích da được sử dụng để huấn luyện chó.

Hệ tiêu hóa

Hệ thống tiêu hóa trao đổi các chất giữa cơ thể và môi trường. Thông qua các cơ quan tiêu hóa, tất cả các chất cần thiết được cung cấp cho cơ thể – protein, chất béo, carbohydrate, muối khoáng, vitamin và các chất khác – và một phần của các sản phẩm trao đổi chất và thức ăn khó tiêu được thải ra môi trường bên ngoài.

Đường tiêu hóa là một ống rỗng bắt đầu trong miệng và kết thúc ở hậu môn. Trong suốt chiều dài của nó, nó có các bộ phận chuyên biệt được thiết kế để di chuyển và đồng hóa thức ăn nuốt.

Bề mặt bên trong của đường tiêu hóa được lót bằng một màng nhầy bao gồm các tế bào biểu mô và cốc, nhà sản xuất của chất tiết nhầy. Trong suốt quá trình tiêu hóa, cấu trúc chính của thành của nó không đổi, nhưng tùy thuộc vào vị trí, các thay đổi trong màng nhầy được quan sát, được thiết kế để thực hiện các chức năng cụ thể. Bên dưới nó là một lớp mô dưới niêm mạc, được cung cấp dồi dào các mạch máu và dây thần kinh. Nó được bao quanh bởi các mô cơ trơn, bao gồm các vòng xoắn ốc bên trong và các sợi dọc bên ngoài. Trên toàn bộ đường tiêu hóa bao phủ màng huyết thanh. Ở một số nơi, các sợi cơ tròn dày lên và hình thành cơ vòng, đóng vai trò là cửa kiểm soát sự di chuyển của các cục thức ăn dọc theo đường tiêu hóa.

Các sợi cơ có thể tạo ra hai loại co thắt khác nhau: phân đoạn và nhu động (Hình 10).

Nhu động là để giảm các sợi cơ phía sau cục thức ăn và thư giãn chúng trước mặt anh ta. Kiểu co thắt này là cần thiết để di chuyển bolus thức ăn từ một phần của đường tiêu hóa sang phần khác.

Nuốt là một quá trình phức tạp chi phối bởi một số dây thần kinh sọ. Các vấn đề với việc nuốt là rất hiếm và thường được quy cho sự suy yếu trong bảo tồn dẫn đến quá trình nuốt không phối hợp. Đồng thời, con vật giảm cân do suy dinh dưỡng, và hít phải thức ăn không tiêu thụ có thể dẫn đến viêm phổi do hít phải.

Đường tiêu hóa bao gồm khoang miệng, hầu họng, thực quản, dạ dày, ruột nhỏ và lớn, trực tràng và hậu môn (hậu môn) (Hình 11). Thức ăn đi qua đường tiêu hóa với tốc độ 7,7 cm mỗi giờ, tức là 1,8 m mỗi ngày. Dư lượng chưa tiêu hóa được phân bổ trong 1,5 – 4 ngày. Thông thường, 100-300 g phân có độ đặc cao, màu nâu sẫm được giải phóng mỗi ngày.

CÁCH MOUTH

Nó bao gồm môi trên và dưới, má, lưỡi, răng, nướu, vòm miệng cứng và mềm, tuyến nước bọt, amidan, hầu họng.

Ngoại trừ thân răng, toàn bộ bề mặt bên trong của nó được bao phủ bởi một lớp màng nhầy.

Môi trên hợp nhất với mũi. Thông thường nó ẩm ướt và mát mẻ. Ở nhiệt độ cao, nó trở nên khô và ấm.

Môi và má được thiết kế để giữ thức ăn trong miệng và phục vụ như một ngưỡng của khoang miệng.

Lưỡi là một cơ quan di động cơ bắp nằm ở đáy khoang miệng và có một số chức năng: nếm thức ăn, tham gia vào quá trình nuốt, tạo thành một mứt mít khi uống. Từ trên nó được bao phủ bởi các quá trình filiform với vị giác.

Răng của chó được dùng để cắn và xé thức ăn nhiều hơn là để nhai, và cũng là vũ khí phòng thủ và tấn công. Thức ăn được nuốt trong các khối đã được đồng nhất hóa trong dạ dày.

Răng được chia thành răng cửa, răng nanh, răng hàm và răng hàm (Hình 12). Ngoại trưởng thứ tư và ngoại vi thứ nhất thấp hơn được dự định để cắn miếng thịt. Ở chó con, một vài tuần sau khi sinh, răng sữa mọc ra, ở độ tuổi 3-6 tháng được thay thế bằng những cái vĩnh viễn. Tất cả các răng đều đi qua giai đoạn sữa ngoại trừ răng hàm, là vĩnh viễn ngay từ đầu (Bảng 2).

Răng xác định tuổi của chó, có giá trị chẩn đoán (Hình 13).

Để xác định tuổi của chó có thể ở trong răng (Bảng 3).

Ở chó, sự thay đổi phả hệ của vết cắn của răng cửa được ghi nhận (vị trí của các cung răng và sự đóng cửa của chúng). Ở động vật có chiều dài đầu trung bình, răng cửa trên và dưới đối lập nhau (ghim, một số con chó), ở đầu dài (chó cừu, chó săn thỏ), răng cửa trên tiến về phía trước một chút so với răng cửa dưới và răng cửa ngắn (pugs, boxer) ở phía trước của răng cửa trên và răng nanh.

Chó công thức răng Xác định tuổi của chó trong răng

Nướu là nếp gấp của màng nhầy, che phủ hàm và củng cố vị trí của răng trong các tế bào xương. Vòm miệng cứng là vòm của khoang miệng và tách nó ra khỏi mũi, và vòm miệng mềm là sự tiếp nối của màng nhầy của vòm miệng cứng, nó nằm tự do trên biên của khoang miệng và hầu họng, ngăn cách chúng. Nướu, lưỡi và vòm miệng có thể bị nám không đều.

Một số tuyến nước bọt được ghép nối mở trực tiếp vào khoang miệng, tên của chúng tương ứng với nội địa hóa của chúng: parotid, mandibular, ngậm dưới lưỡi và zygomatic. Bí mật của các tuyến là kiềm, nó rất giàu bicarbonat, nhưng không chứa enzyme. Vai trò chính của nó là bôi trơn các cục thức ăn. Thiếu nước bọt dẫn đến khó nuốt: thức ăn có thể bị mắc kẹt trong cổ họng hoặc thực quản. Amidan là cơ quan của hệ bạch huyết và thực hiện chức năng bảo vệ trong cơ thể. Lối vào cổ họng được gọi là hầu họng.

Quá trình nuốt bắt đầu trong miệng với sự hình thành một cục thức ăn, nổi lên vòm miệng cứng bằng lưỡi và di chuyển về phía hầu họng.

Cổ họng là một khoang hình phễu, là một cấu trúc phức tạp. Nó kết nối khoang miệng với thực quản và khoang mũi với phổi. Ở chó, ranh giới của nó đạt đến cấp độ của đốt sống cổ thứ hai. Cổ họng, vòm họng, hai ống Eustachian, khí quản và thực quản mở trong hầu họng. Cổ họng được lót bằng màng nhầy và có cơ bắp mạnh mẽ.

Các cục thức ăn trong cổ họng được phát hiện bởi các thụ thể cảm giác nằm trong phần này. Рефлекторно происходит закрытие носоглотки путем поднятия мягкого неба, при этом евстахиевы трубы и гортань закрываются надгортанником. Глоточные мышцы сокращаются, при этом сфинктер пищевода расслабляется, и пищевой комок попадает в пищевод.

Пищевод представляет собой мышечную трубку, через которую пища транспортируется из глотки в желудок. Его почти полностью образуют скелетные мышцы. Кольцевидноглоточный сфинктер, находящийся на краниальном (ближе к голове) конце пищевода, отвечает за пропуск пищи из глотки. Ở đầu xa của thực quản (xa phần trên) không có cơ thắt mỗi se, nhưng lỗ tim của dạ dày có khả năng tạo ra khá nhiều áp lực, giúp làm giảm trào ngược của nội dung dạ dày. Thực quản trống là một ống thu nhỏ với các nếp gấp dọc. Màng nhầy chứa nhiều tế bào cốc tiết ra một lượng lớn chất nhầy giúp bôi trơn thức ăn trong quá trình nuốt.

Sau khi co thắt cơ họng, cơ thắt hầu họng thư giãn và khối thức ăn đi vào thực quản. Điều này dẫn đến sự di chuyển nhu động chính của khối u xuống thực quản vào dạ dày. Sóng nhu động thứ hai thường được quan sát thấy trong một thực quản hoàn toàn trống rỗng.

Thực quản của chó có thể đưa thức ăn từ dạ dày vào miệng (nôn). Việc mở cơ quan này trong dạ dày tương đối dễ mở.

Dạ dày là sự tiếp tục trực tiếp của thực quản. Nó nằm ở phía trước khoang bụng (nhiều hơn ở vùng hạ vị bên trái) và tiếp giáp với cơ hoành và gan. Dạ dày đóng vai trò là một kho chứa thức ăn bị nuốt. Nó bắt đầu quá trình tiêu hóa. Trong dạ dày có thể được chia thành nhiều khu vực: lỗ tim – phần nhỏ nhất mà thực quản mở ra, đáy dạ dày – hồ chứa thức ăn cổng hangmôn vị– một loại máy nghiền nghiền thức ăn nuốt vào chyme (nội dung của ruột non). Các nội dung của dạ dày trong một số phần nhất định đi qua môn vị vào tá tràng. Khi dạ dày trống rỗng, màng nhầy tập hợp thành các nếp gấp dưới tác động của các sợi cơ đàn hồi. Các nếp gấp được làm thẳng khi chứa đầy thức ăn. Màng nhầy của dạ dày bao gồm các tế bào biểu mô và ống hình trụ, được cập nhật tại các trung tâm đặc biệt nằm trong các hố dạ dày. Các tế bào thành phần nằm ở trung tâm của hố dạ dày tiết ra axit hydrochloric và các tế bào chính nằm ở đáy hố tạo ra enzyme pepsinogen.

Hàng rào niêm mạc dạ dày được thiết kế để bảo vệ dạ dày khỏi các chất kích thích nuốt, axit hydrochloric và pepsin. Rào chắn này bao gồm một lớp chất nhầy bao phủ biểu mô, bản thân các tế bào biểu mô và một mô dưới niêm mạc giàu mạch máu. Ngoài hàng rào bảo vệ vật lý, chất nhầy còn chứa phospholipid có đặc tính kỵ nước bổ sung cho hoạt động của chất ức chế pepsin và đóng vai trò đệm axit hydrochloric. Vi phạm hàng rào bảo vệ dẫn đến viêm (viêm dạ dày) và loét niêm mạc dạ dày (loét) sau đó. Quá trình tiêu hóa trở nên đau đớn.

Con vật có thể bắt đầu nôn sau khi ăn, thú cưng cũng có thể từ chối ăn do thiếu thèm ăn, sau đó sẽ dẫn đến giảm cân.

Sự xuất hiện, mùi và vị của thức ăn cùng với sự hiện diện của nó trong dạ dày kích thích giải phóng axit hydrochloric và pepsinogen. Với sự hiện diện của axit hydrochloric, pepsinogen được chuyển thành pepsin hoạt động, nhanh chóng bị bất hoạt bằng cách giảm độ pH. Điều này xảy ra một cách tự nhiên, khi nội dung dạ dày đi vào tá tràng, nơi bicarbonat tụy trung hòa axit dạ dày. Axit clohydric và pepsin bắt đầu quá trình tiêu hóa thức ăn bằng cách thủy phân protein và tinh bột, và lipase – chất béo. Nhiệt độ cơ thể cao ức chế sự giải phóng các enzyme. Do đó, vào mùa hè, chó ăn chủ yếu vào thời gian mát mẻ trong ngày. Hoạt động cao nhất của enzyme – cho bánh mì, sữa và thịt.

Có một máy tạo nhịp tim trong dạ dày tạo ra năm sóng chậm mỗi phút. Ba loại chuyển động dạ dày đã được xác định:

* tiêu hóa – nó đến sau khi nuốt thức ăn Đây là những lần giảm chậm liên tiếp ở sàn dạ dày, đẩy thức ăn đến môn vị, nơi thức ăn được nghiền và tiết ra chất lỏng qua môn vị,

* trung cấp – nó xảy ra sau khi tiêu hóa thức ăn trong dạ dày, sau một thời gian chuyển tiếp của các cơn co thắt dạ dày giảm,

* không tiêu hóa – đây là những cơn co thắt nhu động rỗng của toàn bộ dạ dày trống rỗng, được thiết kế để di chuyển các nội dung còn lại vào tá tràng.

Thức ăn đặc, được nghiền thành chyme, được gửi đến tá tràng theo một thứ tự nhất định: đầu tiên, chất lỏng, sau đó là protein và carbohydrate, sau đó – chất béo. Chất không tiêu hóa vẫn còn trong dạ dày. Thực phẩm giàu calo làm giảm tốc độ làm rỗng dạ dày, và ngược lại, thực phẩm ít calo được tiêu hóa và loại bỏ khỏi dạ dày nhanh hơn. Thức ăn vào dạ dày của chó sau khi lấy thức ăn trong nửa giờ và ở đó 6-8 giờ.

Chiều dài ruột tuyệt đối của chó là 2,3-7,3 mét. Tỷ lệ chiều dài cơ thể với chiều dài của nó là 1: 5.

Có ruột mỏng và dày.

Ruột non

Nó bắt đầu ở mức độ môn vị của dạ dày và được chia thành ba phần chính: loét tá tràng (phần đầu tiên và ngắn nhất của ruột non, trong đó ống dẫn mật và ống tụy đi vào, chiều dài của phần này của ruột non ở chó là 29 cm) ) và hồi tràng. Tuyến tụy (nặng 10 – 100 g) có hình dạng giống như dải ruy băng nằm ở vùng dưới cùng bên phải và tiết ra vài lít dịch tụy mỗi ngày vào tá tràng, chứa các enzyme phá vỡ protein, carbohydrate, chất béo và cả insulin nội tiết tố, điều chỉnh lượng đường trong máu. Gan với túi mật ở chó nằm ở vùng dưới cùng bên phải và bên trái, và máu chảy qua tĩnh mạch cửa từ dạ dày, lá lách và ruột đi qua và được lọc qua nó. Gan sản xuất mật, giúp chuyển đổi chất béo để hấp thụ vào các mạch máu của thành ruột.

Niêm mạc ruột là chuyên biệt hơn cho việc tiêu hóa và hấp thụ thức ăn. Các tế bào biểu mô lót bề mặt bên trong của ruột non được gọi là tế bào ruột. Màng nhầy được tập hợp thành các nếp gấp, được gọi là nhung mao. Mỗi biệt thự được cung cấp tốt các mạch máu và có một mạch bạch huyết chết. Những mạch này vận chuyển các chất dinh dưỡng hấp thụ từ ruột non đến gan và các bộ phận khác của cơ thể. Tá tràng có cấu trúc tương đối xốp và có thể giải phóng một khối lượng lớn chất lỏng vào trong lòng. Mức độ thẩm thấu giảm tương ứng trong jejunum và hồi tràng và ruột già, nơi chỉ có sự tái hấp thu của chất lỏng. Vì vậy, có một sự bảo quản chất lỏng trong cơ thể và phòng ngừa tiêu chảy.

Phần chính của protein được tiêu hóa ở ruột non thành axit amin dưới tác dụng của các enzyme tuyến tụy. Chúng được hấp thụ trong tế bào ruột bằng các chất mang cụ thể, và sau đó được vận chuyển đến gan qua tĩnh mạch cửa. Carbonhydrate (chó lấy lượng carbohydrate chính dưới dạng tinh bột) bị phân hủy trong ruột non thành glucose và các monosacarit khác dưới tác dụng của các enzyme tuyến tụy. Trong tế bào ruột, glucose được giải phóng nhanh chóng vào máu và được vận chuyển đến gan thông qua tĩnh mạch cửa. Chất béo trong chế độ ăn uống chủ yếu bao gồm triglyceride, có thể dễ dàng bị phá vỡ do tác dụng của muối mật với glycerol và axit béo và được hấp thụ, và cholesterol và phospholipid có thể được tiêu hóa bởi chó, nhưng không hiệu quả. Nó xảy ra dưới ảnh hưởng của mật bài tiết qua gan và được lưu trữ trong túi mật. Do thành tế bào của enterocytes bao gồm lipid, quá trình hấp thụ xảy ra một cách thụ động và thường đi kèm với sự hấp thụ vitamin hòa tan trong chất béo. Bên trong tế bào ruột, các axit béo được chuyển đổi thành triglyceride và được gắn vào lipoprotein, tạo thành chylomicron, được bài tiết trong ống dẫn sữa để vận chuyển đến hệ tuần hoàn chính và theo đó, đến gan và các mô khác.

Do đó, bất kỳ trục trặc nào của ruột non (ví dụ, nhiễm rotavirus) đều có thể gây ra tiêu chảy và chán ăn (mất hoặc không thèm ăn) do đánh bại đỉnh của nhung mao do virus enterocyte). Thực phẩm tiêu hóa tốt là cần thiết để giảm chi phí enzyme và tăng diện tích hấp thụ, đồng thời đạt được mức độ hấp thụ chất dinh dưỡng tốt. Ăn một lượng nhỏ thức ăn không làm quá tải khả năng suy giảm và hấp thụ của ruột và giảm nguy cơ tiêu chảy.

Ruột già

Phần ruột này bao gồm mù (chiều dài của nó là 6-12 cm, nằm dưới đốt sống thắt lưng 2-4 và được truyền thông rộng rãi với đại tràng), đại tràng (nằm ở vùng thắt lưng và tạo thành hình vòng cung) và thẳng (nằm ở mức 4 – Xương đốt sống thứ 5, có cấu trúc cơ bắp mạnh mẽ) ruột. Không có nhung mao trên màng nhầy của ruột già. Có các loại tinh bột – trầm cảm, nơi đặt các tuyến ruột nói chung, nhưng có rất ít tế bào trong đó tiết ra các enzyme. Trong biểu mô trụ của màng nhầy có nhiều tế bào cốc tiết ra chất nhầy. Trong ruột lớn khối phân được hình thành.

Trong ruột già, sự thủy phân cuối cùng của các chất dinh dưỡng xảy ra với sự trợ giúp của các enzyme đường ruột và enzyme vi sinh vật. Hoạt động tích cực nhất của hệ vi sinh đường ruột được ghi nhận ở đại tràng: sự hấp thụ nước và chất điện giải, cần thiết cho sự hình thành khối phân và ngăn ngừa mất nước của cơ thể, quá trình lên men của thực phẩm với lượng vi khuẩn dồi dào (từ dư lượng thức ăn giàu nitơ, vi khuẩn tạo ra lượng ammoniac tĩnh mạch cửa đi vào gan, nơi nó được xử lý thành urê, được đào thải qua thận). Do các cơn co thắt nhu động mạnh, các thành phần còn lại của ruột già qua đại tràng giảm dần đi vào đường thẳng, nơi xảy ra sự tích tụ phân. Sự bài tiết phân ra môi trường xảy ra qua ống hậu môn (hậu môn). Hậu môn có hai cơ vòng: một cơ sâu từ các sợi cơ trơn và một cơ ngoài – từ cơ vân. Những con chó ở hai bên của nó có hai vết lõm – xoang phải và trái, trong đó các tuyến paranal mở ra, phát ra một bí mật dày, phát ra một mùi đặc biệt.

Vì vậy, một khi trong miệng, thức ăn được nghiền và cắt nhỏ, thay vì nhai. Sau đó, nó được làm ẩm bằng nước bọt và qua hầu họng và thực quản vào dạ dày, nơi quá trình phân hủy của nó thành các chất đơn giản hơn bắt đầu. Hấp thụ chất dinh dưỡng trong ruột, và các mảnh vụn thức ăn chưa tiêu hóa, chủ yếu là cellulose, bị tống ra ngoài qua trực tràng.

Hệ hô hấp

Hệ thống này cung cấp oxy cho cơ thể và loại bỏ carbon dioxide, nghĩa là trao đổi khí giữa không khí và máu trong khí quyển. Ở động vật nuôi, trao đổi khí xảy ra trong phổi, nằm trong ngực. Sự co thắt xen kẽ của ống hít và cơ hô hấp dẫn đến sự giãn nở và co bóp của ngực, và với nó là phổi. Điều này đảm bảo rằng không khí được hút vào qua đường thở đến phổi và được đẩy ra ngoài. Các cơn co thắt cơ hô hấp được kiểm soát bởi hệ thống thần kinh.

Trong quá trình đi qua đường thở, không khí hít vào được làm ẩm, làm ấm, làm sạch bụi và cũng được kiểm tra mùi bằng cách sử dụng khứu giác. Với không khí thở ra từ cơ thể sẽ loại bỏ một phần nước (dưới dạng hơi nước), nhiệt dư, một số khí. Trong đường dẫn khí (thanh quản) âm thanh được tái tạo.

Cơ quan hô hấp được đại diện bởi mũi và khoang mũi, thanh quản, khí quản và phổi.

NĂNG LƯỢNG VÀ NẮM

Mũi và miệng ở động vật tạo nên phần phía trước của đầu – mõm. Mũi chứa các khoang mũi được ghép nối, đó là phần ban đầu của đường thở. Trong khoang mũi, không khí hít vào được kiểm tra mùi, được làm nóng, làm ẩm và làm sạch các tạp chất. Khoang mũi giao tiếp với môi trường bên ngoài thông qua lỗ mũi, với hầu họng thông qua choans, với túi kết mạc thông qua ống mũi-mũi và cũng với xoang cạnh mũi. Trên mũi có một phần trên, lưng, phần bên và gốc. Trên cùng có hai lỗ – lỗ mũi. Khoang mũi được chia bởi vách ngăn mũi thành các phần bên phải và bên trái. Cơ sở của phân vùng này là sụn hyaline.

Các xoang cạnh mũi giao tiếp với khoang mũi. Các xoang cạnh mũi là các khoang chứa đầy không khí và niêm mạc giữa các tấm bên ngoài và bên trong của một số xương phẳng của hộp sọ (ví dụ, xương phía trước). Do thông điệp này, các quá trình viêm từ niêm mạc mũi có thể dễ dàng lan đến xoang, làm phức tạp quá trình bệnh.

Thanh quản là một phần của ống hô hấp, nằm giữa hầu họng và khí quản. Con chó ngắn và rộng. Cấu trúc đặc biệt của thanh quản cho phép nó thực hiện, ngoài việc mang không khí và các chức năng khác. Nó cô lập đường thở khi nuốt thức ăn, hỗ trợ khí quản, hầu họng và bắt đầu thực quản, phục vụ như một cơ quan phát âm. Bộ xương của thanh quản được hình thành bởi năm sụn được kết nối với nhau một cách di chuyển, trên đó các cơ của thanh quản và hầu họng được gắn vào. Đây là một sụn hình vòng, phía trước và bên dưới là sụn tuyến giáp, phía trước và trên cùng là hai sụn hình sẹo, và bên dưới sụn chêm. Khoang thanh quản được lót bằng màng nhầy. Giữa quá trình giọng nói của sụn giống như sẹo và cơ thể của sụn tuyến giáp, một nếp gấp ngang đi qua bên phải và bên trái – cái gọi là môi thanh âm, chia khoang thanh quản thành hai phần. Nó chứa dây thanh âm và cơ thanh âm. Khoảng trống giữa môi phải và trái được gọi là glottis. Đôi môi căng thẳng trong khi thở ra được tạo ra và âm thanh quy định. Ở chó, môi phát âm rất lớn, cho phép thú cưng bốn chân của bạn tạo ra những âm thanh khác nhau.

Khí quản phục vụ để đưa không khí vào phổi và trở lại. Đó là một ống có một ống thông liên tục, được đảm bảo bởi các vòng sụn hyaline được mở từ trên cao trên tường của nó. Bên trong khí quản được lót bằng màng nhầy. Nó kéo dài từ thanh quản đến đáy tim, nơi nó được chia thành hai phế quản, tạo thành nền của rễ phổi. Nơi này, xảy ra ở cấp độ của xương sườn thứ 4, được gọi là phân nhánh khí quản.

Chiều dài của khí quản phụ thuộc vào chiều dài của cổ, và do đó số lượng sụn ở chó thay đổi từ 42 đến 46.

Đây là những cơ quan chính của hô hấp, trực tiếp trong đó trao đổi khí xảy ra giữa không khí hít vào và máu qua bức tường mỏng ngăn cách chúng. Để đảm bảo trao đổi khí đòi hỏi một khu vực tiếp xúc lớn giữa khí nén và máu. Theo đó, đường dẫn khí của phổi – phế quản – giống như một cái cây liên tục phân nhánh đến các tiểu phế quản (phế quản nhỏ) và kết thúc với nhiều túi phổi nhỏ – alveoli, tạo thành nhu mô phổi (nhu mô là một bộ phận đặc biệt của cơ quan). Các mạch máu phân nhánh song song với phế quản và một mạng lưới mao mạch dày bao bọc phế nang, nơi diễn ra trao đổi khí. Do đó, thành phần chính của phổi là đường thở và mạch máu.

Các mô liên kết kết hợp chúng thành một cơ quan nhỏ gọn ghép nối – phổi phải và phổi trái. Phổi phải lớn hơn một chút so với bên trái, vì tim nằm giữa phổi bị dịch chuyển sang trái (Hình 14). Trọng lượng phổi tương đối – 1,7% so với trọng lượng cơ thể.

Phổi nằm trong khoang ngực, liền kề với thành của nó. Kết quả là, chúng có hình dạng của một hình nón bị cắt cụt, phần nào bị nén từ hai bên. Mỗi phổi với các vết nứt interlobar sâu được chia thành các thùy: một bên trái thành ba, và bên phải thành bốn.

Tần suất chuyển động hô hấp ở chó phụ thuộc vào tải trọng trên cơ thể, tuổi, sức khỏe, nhiệt độ và độ ẩm của môi trường.

Thông thường, số lần thở và thở (thở) ở một con chó khỏe mạnh rất khác nhau: từ 14 đến 25-30 mỗi phút. Độ rộng phạm vi này phụ thuộc vào một số yếu tố. Vì vậy, chó con thở thường xuyên hơn chó trưởng thành, vì quá trình trao đổi chất của chúng hoạt động mạnh hơn. Ở chó cái, hơi thở phổ biến hơn ở con đực. Chó mang thai hoặc cho con bú thở thường xuyên hơn so với không mang thai. Tần suất thở cũng có thể bị ảnh hưởng bởi giống chó, trạng thái cảm xúc và kích thước của con chó cũng ảnh hưởng đến nó. Những con chó thuộc giống nhỏ thường thở nhiều hơn những con lớn: chó lùn, cằm Nhật Bản thở 20-25 lần mỗi phút và Airedale Terrier – 10-14 lần. Điều này là do tốc độ khác nhau của quá trình trao đổi chất, và do đó, mất nhiệt nhiều hơn.

На процесс дыхания влияют также время дня и время года. Ночью в состоянии покоя собака дышит реже. Летом при жаркой погоде, а также в душных помещениях с повышенной влажностью дыхание учащается. Зимой дыхание у собак в состоянии покоя ровное и незаметное.

Мышечная работа резко учащает дыхание собаки. Определенное значение имеет и фактор возбудимости животного. Появление незнакомого человека, новая обстановка могут послужить причиной учащенного дыхания.

Система органов мочевыделения

Các cơ quan này được thiết kế để bài tiết từ cơ thể (từ máu) ra môi trường bên ngoài của các sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất dưới dạng nước tiểu và để kiểm soát cân bằng nước-muối của cơ thể. Ngoài ra, các hormone điều chỉnh sự hình thành máu (hemopoietin) và huyết áp (renin) được hình thành trong thận. Do đó, việc vi phạm các chức năng của cơ quan tiết niệu dẫn đến các bệnh nghiêm trọng và thường dẫn đến cái chết của động vật.

Các cơ quan tiết niệu bao gồm thận và niệu quản ghép nối, bàng quang và niệu đạo không ghép đôi. Trong các cơ quan chính – thận liên tục hình thành nước tiểu, được bài tiết qua niệu quản vào bàng quang và, khi nó được lấp đầy, được bài tiết qua niệu đạo. Vào ban ngày, một con chó trưởng thành của giống nhỏ phát ra 0,04 0,000 lít nước tiểu và một con chó trưởng thành của các giống chó vừa và lớn – từ 0,5 đến 1,5 lít. pH nước tiểu dao động từ 4,8 đến 6,5, tùy thuộc vào việc cho ăn. Ở nam giới, kênh này cũng tiến hành các sản phẩm tình dục và do đó được gọi là urinogenital. Ở nữ giới, niệu đạo mở vào đêm trước của âm đạo.

Thận là cơ quan có mật độ dày đặc màu nâu đỏ, nhẵn, bao phủ từ bên ngoài với ba lớp vỏ: xơ, béo, huyết thanh. Chúng nằm ở vùng thắt lưng dưới 3 đốt sống thắt lưng đầu tiên. Đây là những cơ quan khá lớn, cùng bên phải và trái, có hình dạng hạt đậu, hơi dẹt. Gần giữa lớp bên trong, các mạch và dây thần kinh đi vào thận, và niệu quản đi vào. Nơi này được gọi là cổng thận. Trên vết mổ của từng quả thận, vỏ não, hoặc nước tiểu, não hoặc nước tiểu rút và các khu vực trung gian được phân biệt (Hình 15). Vùng vỏ não tối hơn và nằm trên bề mặt. Vùng não nhẹ hơn, nằm ở trung tâm của thận và giống hình kim tự tháp. Đỉnh của kim tự tháp tạo thành nhú thận, một trong những con chó. Một khu vực trung gian nằm giữa các khu vực này dưới dạng một dải tối, nơi có thể nhìn thấy các động mạch vòng cung, từ đó các động mạch nội bào được phân tách về phía vùng vỏ não. Dọc theo sau là các tiểu thể thận, bao gồm một cầu thận – cầu thận (cầu thận mạch máu), được hình thành bởi các mao mạch của động mạch mang và nang. Cơ thể thận cùng với ống lượn và các mạch của nó tạo thành đơn vị chức năng cấu trúc của thận, nephron. Trong tử cung thận của nephron, chất lỏng – nước tiểu chính – được lọc từ máu của cầu thận mạch máu vào khoang của viên nang. Trong quá trình nước tiểu chính đi qua ống nephron bị co thắt trở lại vào máu, hầu hết (tới 99%) nước và một số chất không thể loại bỏ khỏi cơ thể, như đường, được hấp thụ. Điều này giải thích số lượng lớn nephron và chiều dài của chúng. Sau đó, nước tiểu chính đi vào ống trực tiếp và trực tiếp vào khung thận (chó thiếu cốc thận), nằm ở cửa thận, từ đó nước tiểu thứ cấp đi vào niệu quản.

ĐÔ THỊ

Niệu quản là một cơ quan ghép hình ống điển hình: thành của nó được hình thành bởi ba vỏ. Đường kính của nó là nhỏ. Niệu quản bắt đầu từ khung chậu thận, và được bao phủ bởi phúc mạc, được dẫn vào khoang chậu, nơi nó chảy vào bàng quang. Trong thành bàng quang, anh ta tạo một vòng nhỏ ngăn không cho nước tiểu từ bàng quang trở về niệu quản, mà không cản trở dòng nước tiểu từ thận đến bàng quang.

BUBBL ĐÔ THỊ

Bàng quang là nơi chứa nước tiểu liên tục chảy ra từ thận và được đào thải định kỳ qua niệu đạo. Nó là một túi màng có hình quả lê. Nó phân biệt đỉnh đối diện với khoang bụng, cơ thể và hướng đến cổ chậu. Ở cổ của các cơ bàng quang tạo thành một cơ vòng, ngăn không cho nước tiểu thoát ra ngoài. Bàng quang trống rỗng nằm ở đáy khoang chậu, và trong trạng thái đầy, nó bị treo một phần vào khoang bụng.

KÊNH ĐÔ THỊ, HOẶC ĐÔ THỊ

Cơ quan này phục vụ để loại bỏ nước tiểu từ bàng quang và là một ống của màng nhầy và cơ bắp. Đầu bên trong của niệu đạo bắt đầu từ cổ bàng quang, và lỗ mở bên ngoài mở ra ở nam giới ở đầu dương vật, và ở nữ giới ở biên giới giữa âm đạo và tiền đình. Một phần tốt của niệu đạo dài của nam giới là một phần của dương vật, và do đó, ngoài nước tiểu, nó loại bỏ các sản phẩm tình dục.

Trung tâm tiểu tiện nằm ở vùng thắt lưng của tủy sống và có kết nối với não. Kết nối này cho phép kiểm soát ý chí của việc làm trống bàng quang.

Hệ thống cơ quan sinh sản

Hệ thống các cơ quan sinh sản được kết nối chặt chẽ với tất cả các hệ thống của cơ thể, đặc biệt là các cơ quan bài tiết (hai hệ thống này có một ống cuối cùng và vi trùng chung của một số cơ quan khác). Chức năng chính của nó – sự tiếp tục của hình thức.

Bộ phận sinh dục của con đực (con đực) và con cái (chó cái) là khác nhau, vì vậy chúng tôi xem xét từng hệ thống riêng biệt.

Cơ quan sinh dục của con đực

Cơ quan sinh dục của nam giới được đại diện bởi các cơ quan ghép nối: tinh hoàn (tinh hoàn) với phần phụ, ống hạt và dây sinh tinh, tuyến sinh dục phụ kiện và các cơ quan không ghép đôi: bìu, ống niệu sinh dục, dương vật và chuẩn bị.

Cây giống – cơ quan sinh dục chính của con đực, trong đó sự phát triển và trưởng thành của tinh trùng. Nó cũng là một tuyến nội tiết – nó sản xuất hormone sinh dục nam – tinh trùng. Tinh hoàn có hình trứng, được treo trên dây tinh trùng và nằm trong khoang của phần nhô ra của thành bụng – bìu. Kết nối chặt chẽ với nó là phần phụ của nó, là một phần của ống bài tiết. Trong phần phụ lục, các tế bào tinh trùng trưởng thành có thể được giữ cố định trong một thời gian khá dài, chúng được cung cấp dinh dưỡng trong giai đoạn này và khi động vật giao phối với các cơn co thắt nhu động của cơ ruột thừa, chúng sẽ được phóng thích vào cơ thể. Phần phụ có đầu, thân và đuôi.

Ở nam giới, tinh hoàn tương đối nhỏ và phần phụ được phát triển cao: đầu và đuôi của nó dày như nhau.

Bìu là nơi chứa tinh hoàn và phần phụ của nó, là phần nhô ra của thành bụng. Nhiệt độ của nó thấp hơn trong khoang bụng, tạo điều kiện cho sự phát triển của tinh trùng. Ở nam giới, bìu nằm gần hậu môn. Da của cơ quan này được bao phủ bởi lông mịn, có mồ hôi và tuyến bã nhờn. Màng đàn hồi cơ nằm dưới da và hình thành vách ngăn bìu, do đó khoang nội tạng được chia thành hai phần. Cơ bắp của bìu cung cấp kéo tinh hoàn lên ống bẹn ở nhiệt độ bên ngoài thấp.

Các ống dẫn chậm, hoặc ống dẫn tinh

Ống hạt là sự tiếp nối của ống dẫn tinh dịch dưới dạng một ống hẹp gồm ba vỏ. Nó bắt đầu từ phần đuôi của phần phụ. Là một phần của dây sinh tinh, nó đi qua ống bẹn vào khoang bụng, và từ đó vào xương chậu, nơi nó tạo thành một ống. Đằng sau cổ bàng quang, xuất tinh kết nối với ống dẫn tinh vào ống phóng tinh ngắn, mở ra ở đầu ống niệu sinh dục.

Kênh sinh dục hoặc niệu đạo nam

Phục vụ cho bài tiết nước tiểu và tinh trùng. Nó bắt đầu bằng việc mở niệu đạo từ cổ bàng quang và kết thúc bằng việc mở niệu đạo bên ngoài ở đầu dương vật. Phần ban đầu, rất ngắn của niệu đạo – từ cổ tử cung đến nơi hợp lưu của ống phóng tinh – chỉ có nước tiểu. Thành của niệu đạo nam được hình thành bởi một màng nhầy, một lớp xốp và một lớp cơ. Mucosa được tập hợp trong các nếp gấp. Lớp xốp có một mạng lưới các tĩnh mạch với phần mở rộng – lacunae. Khi lớp xốp chứa đầy máu, niêm mạc niệu đạo sẽ mở ra và tinh trùng chảy ra.

Dương vật hoặc dương vật

Dương vật thực hiện chức năng đưa tinh trùng của chó vào bộ phận sinh dục của chó cái, cũng như bài tiết nước tiểu. Nó bao gồm cơ thể hang của dương vật và phần tình dục (udovoy) của kênh niệu sinh dục.

Trên dương vật phân biệt gốc, thân và đầu. Rễ và cơ thể được bao phủ bằng da từ bên dưới, phần sau kéo dài đến đầu, tạo thành một nếp gấp trong quá trình chuyển đổi sang nó – bao quy đầu hoặc bao quy đầu.

Trong quá trình hưng phấn tình dục, các khoang của dương vật chứa đầy máu, kết quả là dương vật dài ra, dày lên và trở nên dày đặc, nghĩa là nó đến trạng thái cương cứng.

Trong trường hợp không ở trạng thái không cương cứng, dương vật chuẩn bị che kín hoàn toàn đầu của nó, bảo vệ nó khỏi bị hư hại. Nó được kéo qua dương vật của Glans với sự trợ giúp của cơ sọ trước và được kéo bởi máy rút dương vật.

Ở chó, đầu dương vật dài, hình trụ. Niệu đạo mở ra ở cuối đầu. Dưới chân đầu là xương. Chiều dài của nó ở những con chó lớn đạt 8-10 cm.

Lượng tinh trùng do chó tiết ra thay đổi khoảng 15 ml. Trong 1 mm 3 tinh trùng có khoảng 6000 tinh trùng. Bên trong tử cung tinh trùng tồn tại trong 8-12 giờ.

Sau khi chó con được sinh ra, khối lượng tuyệt đối của tinh hoàn tăng lên trong 6 tháng đầu đời khoảng 16-17 lần, khối lượng của các tuyến tình dục phụ kiện tăng lên, đặc biệt là ở tuổi dậy thì.

Sự trưởng thành về tình dục và sinh lý là khả năng của động vật sinh ra con cái. Nó được đặc trưng bởi sự giải phóng tinh trùng ở chó, sự hình thành của hormone giới tính, gây ra sự phát triển của các đặc điểm tình dục thứ cấp. Trưởng thành tình dục và sinh lý xảy ra trong 6-8 tháng.

Cơ quan tình dục

Cơ quan sinh sản của con cái bao gồm các cơ quan được ghép nối: buồng trứng, ống dẫn trứng và không ghép đôi: tử cung, âm đạo, tiền đình của âm đạo và cơ quan sinh dục ngoài (Hình 17).

Buồng trứng là một cơ quan hình bầu dục trong đó các tế bào sinh dục nữ phát triển – trứng, cũng như các hormone giới tính nữ được hình thành. Trên buồng trứng, có hai đầu: ống dẫn trứng và tử cung. Phễu của ống tử cung được gắn vào đầu ống và với ống tử cung – dây chằng riêng của buồng trứng. Hầu hết buồng trứng được bao phủ bởi một biểu mô trước, dưới đó có một khu vực nang trứng, nơi các nang trứng phát triển với trứng được bao bọc trong đó. Thành của nang trứng trưởng thành vỡ ra, và dịch nang, cùng với tế bào trứng, chảy ra. Khoảnh khắc này được gọi là rụng trứng. Thay vì một nang vỡ, một hoàng thể được hình thành, nó tiết ra một loại hormone ức chế sự phát triển của các nang mới. Trong trường hợp không có thai, cũng như sau khi sinh con, hoàng thể được hấp thụ.

Con chó có buồng trứng nhỏ và nằm ngay sau thận trong khu vực của đốt sống thắt lưng thứ 3-4.

Ống dẫn trứng hoặc ống trứng

Ống dẫn trứng là một ống hẹp, cong mạnh nối với sừng tử cung. Nó đóng vai trò là nơi thụ tinh của trứng, dẫn trứng được thụ tinh đến tử cung, được thực hiện cả bằng sự co bóp của lớp cơ của ống dẫn trứng và bởi sự di chuyển của lông mao của biểu mô bị cắt dọc theo ống dẫn trứng. Đầu trước của ống dẫn trứng được mở rộng dưới dạng phễu và mở vào khoang bụng. Các cạnh không đều của phễu được gọi là rìa, nơi trứng trưởng thành có được. Ống tử cung mở cửa tử cung.

Hình. 17. Cơ quan sinh dục của con cái từ bề mặt lưng của chó: 1 – buồng trứng, 2 – ống dẫn trứng, 3 – sừng tử cung, cơ thể 4 – tử cung, 5 – cổ tử cung, 6 – mở ngoài tử cung, 7 – âm đạo, 8 – bao quy đầu âm đạo, 9 – nếp gấp tiền đình-âm đạo, 10 – mở ngoài niệu đạo, 11 – tiền đình tiền đình, 12 – tuyến trước nhỏ, 13 – âm vật, 14 – labia, 15 – bàng quang

Ở chó, chiều dài của ống dẫn trứng là 4-10 cm.

Đây là một cơ quan có màng rỗng trong đó thai nhi phát triển. Trong quá trình chuyển dạ, sau đó được đẩy ra khỏi tử cung qua kênh sinh ra bên ngoài. Trong tử cung, sừng, cơ thể và cổ được phân biệt. Sừng trên đỉnh bắt đầu từ ống dẫn trứng, và bên dưới chúng phát triển cùng nhau trong cơ thể. Tử cung đi vào ống hẹp của cổ tử cung mở vào âm đạo. Cơ thể và cổ của tử cung không mang thai nằm trong khoang chậu, bên cạnh bàng quang và sừng treo trong khoang bụng. Toàn bộ tử cung nằm trong khoang bụng, chủ yếu ở bên phải.

Chó có sừng tử cung dài, thẳng và mỏng, thân ngắn.

Nó là một cơ quan hình ống đóng vai trò là cơ quan giao hợp, và nằm giữa cổ tử cung và lỗ niệu sinh dục. Ở chó, nó dài hơn 2 lần so với ngưỡng.

Bộ phận sinh dục ngoài

Cơ quan sinh dục ngoài được đại diện bởi khu vực gây tranh cãi nữ, âm hộ, và bao gồm cả môi âm hộ, nằm giữa khe hở gây tranh cãi và âm vật.

Âm hộ nằm bên dưới hậu môn và được ngăn cách với nó bởi một đáy quần ngắn.

Đôi môi nhếch nhác bao quanh lối vào tiền đình của âm đạo. Da này gấp lại, đi vào màng nhầy của tiền đình.

Âm vật là một tương tự của dương vật của con đực, nó được xây dựng từ cơ thể hang động, nhưng kém phát triển.

Trưởng thành về tình dục và sinh lý

Đây là khả năng của động vật để sinh con. Ở nữ giới, nó được đặc trưng bởi sự hình thành trứng và biểu hiện của chu kỳ tình dục, sự hình thành của hormone giới tính, gây ra sự phát triển của các đặc điểm tình dục thứ cấp. Trưởng thành tình dục và sinh lý xảy ra trong 6-8 tháng. Thời gian dậy thì phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu là giống, giới tính, khí hậu, cho ăn, điều kiện giam giữ và chăm sóc. Tuổi thọ của các đại diện của loài càng ngắn thì tuổi dậy thì càng sớm. Chó đến tuổi dậy thì sớm hơn so với họ hàng hoang dã của chúng trong tự nhiên – chó sói và chó rừng.

Săn bắn tình dục là một phản ứng tình dục tích cực của phụ nữ với nam giới, xuất phát từ sự kích thích thần kinh bên trong của hệ thống tuyến yên – tuyến yên. Đặc trưng bởi sự biểu hiện của phản xạ tình dục nữ, thể hiện ở hành vi kỳ dị của nó với sự hiện diện của nam giới. Ở chó, nó bắt đầu từ 8-10 tháng.

Sự xuất hiện đầu tiên của động dục không có nghĩa là chó cái đã sẵn sàng để sinh sản con cái. Cô vẫn chưa sẵn sàng cho việc sinh nở xương chậu, tuyến vú kém phát triển. Vào lúc 6-8 tháng, sự tăng trưởng của cơ thể vẫn chưa hoàn thành. Do đó, nên giao phối động vật không sớm hơn 1,5 năm.

Có hai loại thụ tinh: nhân tạo và tự nhiên. Thụ tinh tự nhiên được chia thành tự do (nam và chó cái độc lập sản xuất quá trình giao phối) và thủ công (nam và nữ được giữ trên dây xích). Đan lặp lại sau 1-2 ngày. Nên thực hiện vào buổi sáng, trước khi cho ăn, vào ngày thứ 14 của động dục. Một con chó trước tiên phải làm trống trực tràng.

Một con chó là một động vật một vòng. Chu kỳ tình dục là sự kết hợp của tất cả các thay đổi sinh lý xảy ra trong bộ máy tình dục của nữ từ lúc rụng trứng này sang ngày rụng trứng khác. Chu kỳ tình dục mà không cần thụ tinh bao gồm 4 giai đoạn: proestrum, động dục, metoestrum, aestrum.

Gon (giai đoạn kích thích) thường xảy ra hai lần một năm – vào mùa xuân và mùa thu, nhưng nó xảy ra vào những thời điểm khác trong năm. Từ những ngày đầu tiên của rut trong 8-14 ngày, một con chó cái bắt đầu nóng (proestrum). Nó biểu hiện ở chỗ bộ phận sinh dục bên ngoài đỏ và sưng, chất nhầy có mùi đặc biệt được tiết ra từ khe sinh dục (con đực có thể ngửi thấy nó ở khoảng cách rất xa). Con cái phát triển ham muốn tình dục để đáp ứng với phản ứng của con đực, nhưng nó không cho phép chúng đến với mình. Trong những ngày đầu tiên, chất nhầy có máu, do hết động dục – rõ ràng. Ngay khi dịch tiết ra không màu, giai đoạn 2 của chu kỳ tình dục bắt đầu – động dục, hoặc động dục, kéo dài 5 đến 10 ngày. Nữ có một hưng phấn tình dục mạnh mẽ, và cô ấy sẵn sàng thừa nhận nam. Ở động vật được nuôi dưỡng tốt, thời gian động dục có thể được kéo dài. Khi cô kết thúc, một con chó cái bắt đầu có một cuộc săn lùng tình dục. Điều này thường xảy ra vào ngày 9-21 sau khi động dục và kéo dài từ 1 đến 5 ngày. Nó kết thúc với sự chấm dứt của động dục. Bất kể sự hiện diện hay vắng mặt của quan hệ tình dục, từ ngày thứ 9 đến ngày thứ 12 kể từ khi bắt đầu động dục, rụng trứng xảy ra cứ sau 3 giờ – mở nang trứng trưởng thành và giải phóng noãn bào, sau vài giờ đi xuống ống dẫn trứng và biến thành trứng trưởng thành.

Trong giai đoạn kích động, huyết áp tăng lên ở chó cái, thành phần của máu thay đổi và đôi khi phản xạ thức ăn bị ức chế hoàn toàn. Chó cái khao khát con đực, bỏ đuôi, không chống lại lồng. Có rất nhiều trứng trong buồng trứng, ở những con chó trẻ – hơn 2000.

Ở tất cả các loài động vật, sự rụng trứng được tăng tốc nhờ hành động giao phối. Sự thụ tinh xảy ra tại thời điểm rụng trứng. Sau khi rụng trứng đến giai đoạn ức chế – metoestrum – kéo dài 30-60 ngày. Kích thích tình dục bị suy yếu, con vật bình tĩnh lại, sự thèm ăn của nó được thiết lập. Bitch trở nên hung dữ với con chó, cố gắng cắn anh ta. Có cái gọi là tiêu cực của phản ứng tình dục (phát hành). Rồi đến giai đoạn nghỉ ngơi: cổ tử cung bị đóng, chó cái thờ ơ với con chó. Anestrum đang đến (90-130 ngày). Trong trường hợp thụ tinh trong cơ thể của phụ nữ có sự tích lũy chất dinh dưỡng. Có một khoảng thời gian shchitnosti (thời kỳ mang thai), kéo dài 58-65 ngày (trung bình 61-63 ngày) và kết thúc bằng việc whelping (sinh con). Trước ngày thứ 57, chó con thường không thể sống được, nhưng vào ngày thứ 70 chúng vẫn có thể bình thường. У собак мелких и карликовых пород рождается 2-4 слепых, глухих и без зубов щенка, собак средних пород – 2-4, а у собак крупных пород – 8-12. Вес щенков приблизительно – 0,2-0,6 кг. В год собаки могут приносить щенков дважды (табл. 4).

Оплодотворение яйцеклетки происходит в верхней трети яйцепровода. Срок жизни спермы в генитальном тракте – до 6 дней. С этого момента оплодотворенное яйцо называют зиготой, которая асинхронно делится и превращается в зародышевый пузырек. Внедрение зародышевого пузырька в слизистую оболочку матки происходит на 21-22-й день. Вследствие развития оплодотворенных яйцеклеток происходит увеличение желтых тел, образовавшихся на месте разорвавшихся фолликулов яичника. Cơ thể màu vàng tiết ra progesterone trong máu, ức chế sự phát triển của các nang noãn mới và thúc đẩy việc đưa choroid Villi vào niêm mạc tử cung. Điều này tạo điều kiện cho sự phát triển của phôi. Dần dần, mầm biến thành đĩa mầm, trở thành mầm. Sau giai đoạn phôi thai, giai đoạn phát triển sớm bắt đầu. Trong thời kỳ này, có một bộ phận của tất cả các cơ quan và bộ xương, cũng như nhau thai được hình thành (nhau thai, hoặc vị trí của trẻ em). Từ giờ trở đi, một sinh vật như vậy được gọi là bào thai, phát triển tuyến lông và tuyến mồ hôi, hệ thần kinh trung ương, cơ bắp và bộ phận sinh dục.

Một phụ nữ mang thai ngay sau khi thụ tinh thay đổi sự trao đổi chất và sự thèm ăn tốt. Nhu cầu năng lượng tăng gấp 4 lần. Lông trở nên mịn màng và sáng bóng, hình dáng cơ thể có hình dạng tròn. Trong nửa sau của whelp, mặc dù sự thèm ăn được bảo quản, con vật giảm cân, vì nó không có thời gian để đồng hóa một lượng chất dinh dưỡng đủ.

Lịch của chó con và chó con

Sinh con – đó là một quá trình sinh lý trong đó một bào thai trưởng thành, vỏ của nó và nước của thai nhi chứa trong chúng bị tống ra khỏi tử cung. Trong quá trình sinh nở, thai nhi trưởng thành đi từ trong tử cung đến cuộc sống tự lập. Khi bắt đầu sinh con đã báo trước sưng âm hộ, xuất hiện dịch nhầy từ ống cổ tử cung và giảm nhiệt độ cơ thể 1 ° C. Sự ra đời bắt đầu bằng việc mở ống cổ tử cung, kéo dài 6-12 giờ. Đồng thời, bàng quang của thai nhi của con chó con đầu tiên có thể được nhìn thấy từ lòng ống. Người phụ nữ tỏ ra lo lắng, thở dốc, sắp xếp một hang ổ cho mình ở những nơi hẻo lánh và thỉnh thoảng nằm xuống. Ngay khi chú chó con đầu tiên được đẩy vào ống cổ tử cung của người mẹ, cơ bụng được phản xạ bao gồm trong công việc, và việc sinh nở bước vào giai đoạn trục xuất của thai nhi. Thời gian chuyển dạ từ 1-6 giờ đến 1-2 ngày. Chúng được đi kèm với các cơn co thắt cơ bắp (chúng được gọi là các cơn co thắt) và cơ bụng (những chuyển động này được gọi là các nỗ lực). Cần lưu ý rằng ở động vật, áp lực bụng hoạt động mạnh hơn ở tư thế nằm ngửa so với ở tư thế đứng.

Kênh cổ tử cung được tiết lộ do sự đưa màng của thai nhi vào đó dưới dạng nước ối. Đi qua âm đạo, bàng quang mầm thường bị vỡ và các chi sau của thai nhi xuất hiện, vì khoảng 40% số chó con có biểu hiện vùng chậu. Khi vỡ màng bắt đầu, nước màu hơi đục không màu chảy ra và nếu nhau thai bị xáo trộn, nước có màu xanh lục chảy ra, chảy máu bắt đầu từ sự xói mòn hình thành trong thành tử cung. Sau khi con chó con tiếp theo được sinh ra, con cái liếm nó và cắn qua vết thương bằng răng cửa, nghĩa là, loại bỏ lớp lông của thai nhi, đầu tiên là từ đầu và sau đó ra khỏi cơ thể. Khi chó con được giải phóng khỏi màng, con cái độc lập gặm dây rốn và phần còn lại sau khi ăn, điều này là cần thiết cho cô ấy vì có rất nhiều hormone kích thích có trong cô ấy cho lần chuyển dạ tiếp theo. Đôi khi hai chú chó con được sinh ra cùng một lúc, ngay lập tức lần lượt từng con, nhưng chủ yếu là sinh nở xảy ra trong khoảng thời gian khoảng 30 phút. Thông thường, khoảng thời gian này có thể từ vài phút đến vài giờ.

Hệ tim mạch

Hệ thống tim mạch trong cơ thể cung cấp sự trao đổi chất thông qua sự lưu thông liên tục thông qua các mạch máu và bạch huyết, đóng vai trò vận chuyển chất lỏng. Quá trình này được gọi là lưu thông máu-bạch huyết. Với sự trợ giúp của lưu thông máu, nguồn cung cấp tế bào và mô của cơ thể không bị gián đoạn với oxy, chất dinh dưỡng, nước, được hấp thụ vào máu hoặc bạch huyết thông qua các bức tường của bộ máy hô hấp và tiêu hóa, và giải phóng carbon dioxide và các sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất có hại cho cơ thể. Hormone, kháng thể và các hoạt chất sinh lý khác được mang trong máu, do đó hệ thống miễn dịch hoạt động và điều hòa nội tiết tố của các quá trình diễn ra trong cơ thể với vai trò hàng đầu của hệ thần kinh. Tuần hoàn máu – yếu tố quan trọng nhất trong sự thích nghi của sinh vật với các điều kiện thay đổi của môi trường bên ngoài và bên trong – đóng vai trò hàng đầu trong việc duy trì cân bằng nội môi (cấu tạo và thành phần của sinh vật). Rối loạn tuần hoàn chủ yếu dẫn đến rối loạn chuyển hóa và chức năng chức năng của các cơ quan trên toàn cơ thể.

Hệ thống tim mạch được đại diện bởi một mạng lưới kín với một cơ quan trung tâm – tim. Theo bản chất của chất lỏng lưu thông, nó được chia thành máu và bạch huyết.

HỆ THỐNG MÁU

Hệ thống tuần hoàn bao gồm tim – cơ quan trung tâm thúc đẩy lưu lượng máu qua các mạch và mạch máu – các động mạch phân phối máu từ tim đến các cơ quan, tĩnh mạch đưa máu đến tim và mao mạch máu, qua đó cơ thể trao đổi các chất giữa máu và mô. Các tàu của cả ba loại đang giao tiếp với nhau bằng phương pháp anastomoses tồn tại giữa các tàu cùng loại và giữa các loại tàu khác nhau. Có anastomoses động mạch, tĩnh mạch hoặc động mạch. Với chi phí của họ, các mạng được hình thành (đặc biệt là giữa các mao quản), các nhà sưu tập, tài sản thế chấp, các tàu bên đi cùng với quá trình của tàu chính.

Trái tim là cơ quan trung tâm của hệ thống tim mạch, thúc đẩy, giống như một động cơ, máu qua các mạch. Ở chó, đây là một cơ quan cơ bắp rỗng hình tròn mạnh mẽ (Hình 18), nằm ở trung thất của khoang ngực, ở khu vực từ xương sườn thứ 3 đến xương sườn thứ 6, phía trước cơ hoành, trong khoang serous của chính nó. Nó phân biệt cơ sở và hàng đầu. Cơ sở của nó nằm ở độ cao giữa của xương sườn thứ 1, chóp nằm trong khoảng không gian liên sườn thứ 5 gần xương ức, và do đó, đầu mũi là dễ tiếp cận nhất cho nghiên cứu lâm sàng. Vị trí của cơ thể này là cos-dọc.

Trái tim của động vật có vú là bốn buồng, từ bên trong được phân chia hoàn toàn bởi vách liên thất và liên thất thành hai nửa – phải và trái, mỗi buồng gồm hai buồng – tâm nhĩ và tâm thất. Nửa bên trái của bản chất của máu lưu thông là tĩnh mạch, và bên trái – động mạch. Tâm nhĩ và tâm thất giao tiếp với nhau thông qua các lỗ thông liên nhĩ. Phôi thai (thai nhi), có một lỗ thông qua đó tâm nhĩ giao tiếp, và cũng có một ống động mạch (botal) qua đó máu từ thân phổi và động mạch chủ trộn lẫn. Đến khi sinh ra, những lỗ hổng này đã phát triển quá mức. Nếu điều này không xảy ra một cách kịp thời, máu sẽ trộn lẫn, dẫn đến rối loạn nghiêm trọng trong hoạt động của hệ thống tim mạch.

Tâm nhĩ nằm ở đáy tim. Đây là những buồng có thành mỏng nhận máu từ các tĩnh mạch rỗng, chảy vào tâm nhĩ phải và từ các tĩnh mạch phổi mang máu đến tâm nhĩ trái.

Tâm thất chiếm phần lớn trái tim. Từ các buồng này, máu được chưng cất vào động mạch chủ (từ tâm thất trái) và thân phổi (từ bên phải).

Chức năng chính của tim là cung cấp một dòng máu chảy liên tục trong các mạch của vòng tuần hoàn máu. Đồng thời, máu trong tim chỉ di chuyển theo một hướng – từ tâm nhĩ đến tâm thất, và của chúng vào các mạch máu lớn. Điều này được đảm bảo bởi các van đặc biệt và các cơn co thắt nhịp nhàng của cơ tim – đầu tiên là tâm nhĩ, sau đó là tâm thất, sau đó là tạm dừng và mọi thứ lặp lại từ đầu.

Bộ máy van của tim bao gồm van nhĩ thất và bán nguyệt. Đầu tiên là trong khu vực của foramoventricular foramen. Chúng được hình thành bởi các nếp gấp của nội tâm mạc, gân và cơ bắp. Vì vậy, mở nhĩ phải đóng van ba lá và van trái – hai lần, hoặc hai lá ,. Với sự co thắt (tâm thu) của tâm nhĩ do áp lực của máu, sash tăng lên. Các gân và cơ đồng thời ngăn chúng biến thành khoang tâm nhĩ. Điều này đảm bảo rằng máu chỉ chảy theo một hướng. Semilunar hoặc van túi được đặt ở đáy của hai mạch máu lớn nổi lên từ tâm thất – động mạch chủ và thân phổi. Chức năng của chúng là sau khi tâm trương (thư giãn) của tâm thất, máu từ các động mạch sẽ chảy ngược về tim dưới áp lực cao, và các van, chạm vào các cạnh của chúng, đóng lối vào tâm thất.

Thành của trái tim bao gồm ba lớp vỏ (lớp): nội tâm mạc, cơ tim và tầng sinh môn. Nội tâm mạc là lớp lót bên trong của tim, cơ tim là cơ tim (khác với mô cơ xương bởi sự hiện diện của các thanh ngang giữa các sợi riêng lẻ), lớp biểu mô là màng tế bào ngoài của tim. Trái tim được đặt trong túi màng ngoài tim (màng ngoài tim), cách ly nó với các khoang màng phổi, cố định cơ quan ở một vị trí nhất định và tạo điều kiện tối ưu cho hoạt động. Thành của tâm thất trái dày hơn 2 – 3 lần so với bên phải.

Kích thước của trái tim phụ thuộc vào độ tuổi, động vật, giới tính, độ béo và cường độ làm việc của cơ bắp. Thai nhi có khối lượng tim tương đối so với khối lượng cơ thể nhiều hơn so với trẻ sơ sinh. Điều này là do tải trọng chức năng lớn hơn của cơ thể do dòng máu đi qua các mao mạch (cơ thể và nhau thai) hai lần. Trọng lượng của tim ở nam chiếm ưu thế so với nữ. Với hoạt động thể chất tăng lên, khối lượng tim tăng lên.

Nhịp tim chủ yếu phụ thuộc vào trạng thái của động vật và tuổi của nó, công việc được thực hiện và nhiệt độ môi trường. Dưới ảnh hưởng của các cơn co thắt của tim (do lưu lượng máu), có sự co bóp nhất quán của các mạch và sự thư giãn của chúng. Quá trình này được gọi là xung máu, hoặc mạch. Số lượng nhịp đập mỗi phút tương ứng với số lượng nhịp tim. Máu di chuyển qua các động mạch với tốc độ 0,5 m / s và sóng xung truyền với tốc độ 9 m / s, nhưng vì cơ thể động vật có kích thước nhỏ, chúng tôi kiểm tra tim bằng cách kiểm tra mạch. Xung được xác định bởi động mạch đùi hoặc cánh tay.

Mạch máu

Theo chức năng và cấu trúc của chúng, các mạch máu được chia thành các mạch dẫn và cho ăn. Dẫn điện – động mạch (mang máu từ tim), tĩnh mạch (đưa máu đến tim), và nuôi dưỡng, hoặc trophic, – mao mạch (mạch siêu nhỏ nằm trong các mô của các cơ quan). Chức năng chính của giường mạch là hai mặt – dẫn máu (thông qua các động mạch và tĩnh mạch), cũng như đảm bảo sự trao đổi chất giữa máu và các mô (liên kết của giường vi mạch) và phân phối lại máu. Đi vào cơ quan, các động mạch liên tục phân nhánh thành các tiểu động mạch, tiền chất, đi vào các mao mạch, sau đó vào các tế bào sau và tĩnh mạch. Các tĩnh mạch, là liên kết cuối cùng trên giường vi mô, hợp nhất với nhau và mở rộng, tạo thành các tĩnh mạch mang máu từ cơ quan.

Động mạch tùy thuộc vào tầm cỡ được chia thành lớn, vừa và nhỏ. Chúng nằm sâu hơn trong cơ thể của động vật, dưới các tĩnh mạch. Máu trong chúng đỏ tươi, sáng, vì nó được bão hòa oxy. Các bức tường của các động mạch được tạo thành từ các màng: bên trong (lớp nội mạc – một lớp tế bào lót tất cả các mạch), trung bình (cơ bắp) và bên ngoài (đàn hồi), sau đó cố định các động mạch ở một vị trí nhất định và hạn chế sự kéo dài của chúng.

Mao mạch – các mạch nhỏ nhất nằm giữa các tiểu động mạch và tĩnh mạch là con đường lưu thông máu của các tổ chức. Bức tường của họ bao gồm một lớp tế bào. Một con chó có công suất lên tới 2650 mao mạch trên mm 2. Trong trạng thái nghỉ của các cơ quan, khoảng 10% tổng số loại chức năng tàu này.

Viên – mạch mang máu và bạch huyết đến tim. Máu trong chúng tối màu vì nó bão hòa với các sản phẩm trao đổi chất từ ​​các cơ quan. Các bức tường của các tĩnh mạch được xây dựng giống như các bức tường của các động mạch, nhưng chúng mỏng hơn, chúng có ít mô đàn hồi và cơ bắp, do đó các tĩnh mạch trống rơi xuống. Các tĩnh mạch nằm gần bề mặt của cơ thể.

Tuần hoàn máu xảy ra trong một hệ thống khép kín bao gồm các vòng tròn lớn và nhỏ. Tốc độ của nó ở chó là 13-26 giây.

Vòng tròn lớn, hoặc có hệ thống, bắt đầu từ tâm thất trái của tim. Máu dưới áp suất cao (lên tới 120 mm Hg) được đẩy ra khỏi động mạch chủ (động mạch lớn nhất), qua đó nó di chuyển với tốc độ trung bình 25 m / s. Các động mạch khởi hành từ động mạch chủ, đi vào cơ quan, vỡ ra thành vô số mao mạch tạo thành giường vi mạch của cơ quan, nơi xảy ra quá trình trao đổi chất. Các mao mạch của cơ thể tạo thành các tĩnh mạch, khi các mạch nhỏ hợp nhất, tạo thành hai tĩnh mạch rỗng. Theo anh, máu lại quay trở lại tim, đến tâm nhĩ phải.

Vòng tròn nhỏ bắt đầu từ tâm thất phải, từ đó máu được đưa vào thân phổi. Trên thân cây này, được chia thành các động mạch phổi phải và trái, máu được dẫn vào các vi mạch của phổi. Tại đây, nó được giải phóng từ carbon dioxide và trở lại qua các tĩnh mạch phổi đến tâm nhĩ trái của tim, nơi lưu thông phổi kết thúc. Từ tâm nhĩ trái máu đi vào tâm thất trái, và từ đó vào vòng tròn lớn.

Máu là một mô chất lỏng lưu thông trong hệ thống tuần hoàn. Nó là một loại mô liên kết, cùng với bạch huyết và dịch mô, tạo nên môi trường bên trong cơ thể. Nó mang oxy từ phế nang phổi đến các mô (do sắc tố hô hấp của hemoglobin có trong tế bào hồng cầu) và carbon dioxide từ các mô đến hệ hô hấp (điều này được thực hiện bởi muối hòa tan trong huyết tương). Máu cũng mang các chất dinh dưỡng (glucose, axit amin, axit béo, muối và các chất khác) đến các mô và các sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hóa (urê, axit uric, amoniac, creatine) từ các mô đến các cơ quan bài tiết và cũng vận chuyển các hoạt chất sinh học (hormone, chất trung gian, chất điện giải, sản phẩm chuyển hóa – chất chuyển hóa). Nó không tiếp xúc với các tế bào của cơ thể, các chất dinh dưỡng truyền từ nó đến các tế bào thông qua chất lỏng mô lấp đầy không gian ngoại bào. Máu tham gia vào quá trình điều hòa chuyển hóa muối-nước và cân bằng axit-bazơ trong cơ thể, duy trì nhiệt độ cơ thể ổn định, đồng thời bảo vệ cơ thể khỏi tác động của vi khuẩn, vi rút, độc tố, protein ngoại lai. Số lượng của nó trong cơ thể của con chó là 1/13 trọng lượng cơ thể (5,6-13,0% trọng lượng cơ thể).

Sơ đồ hệ tuần hoàn máu và bạch huyết

Máu bao gồm hai thành phần quan trọng – tế bào máu và huyết tương. Tỷ lệ các yếu tố đồng nhất chiếm khoảng 30-40%, huyết tương – 70% tổng lượng máu. Hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu là một trong những yếu tố.

Hồng cầu, hay hồng cầu, hình thành trong tủy xương đỏ và bị phá hủy trong lá lách. 90% chất đỏ là chất khô là huyết sắc tố. Chức năng chính của chúng là vận chuyển oxy từ phổi đến các cơ quan và mô. Chúng gây ra các đặc điểm miễn dịch của máu, do sự kết hợp của các kháng nguyên hồng cầu, đó là nhóm máu. Những con chó có một số lượng lớn.

Bạch cầu, hay bạch cầu, hình thành ở tủy xương đỏ, hạch bạch huyết, lá lách và tuyến ức (chỉ ở những người trẻ tuổi). Tùy thuộc vào cấu trúc, chúng được chia thành dạng hạt (bạch cầu ái toan, basophils và bạch cầu trung tính) và không hạt. Tỷ lệ phần trăm của các dạng bạch cầu riêng lẻ là dạng bạch cầu của máu. Tất cả các loại tế bào bạch cầu đều tham gia vào các phản ứng bảo vệ của cơ thể.

Tiểu cầu, hoặc tiểu cầu, hình thành trong tủy xương đỏ. Khi bị phá hủy, thromboplastin được giải phóng – một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá trình đông máu, do đó tiểu cầu tham gia vào quá trình đông máu.

Huyết tương – nó là phần lỏng của nó, bao gồm nước (91-92%) và các chất hữu cơ và khoáng chất hòa tan trong đó. Tỷ lệ thể tích tính theo phần trăm của các yếu tố hình thành và huyết tương được gọi là số hematocrit.

Máu được đặc trưng bởi một mức độ không đổi của các yếu tố hình thành (Bảng 5). Các tế bào hồng cầu được cập nhật trong 3-4 tháng, bạch cầu và tiểu cầu – trong một vài ngày, protein huyết tương – trong 2 tuần.

HỆ THỐNG LYMPHATIC

Đây là một phần chuyên biệt của hệ thống tim mạch. Nó bao gồm bạch huyết, mạch bạch huyết và các hạch bạch huyết. Nó thực hiện hai chức năng chính: thoát nước và bảo vệ.

Thành phần máu của chó

Nó là một chất lỏng màu vàng trong suốt. Образуется в результате выхода через стенки капилляров в окружающие ткани части плазмы крови из кровеносного русла. Из тканей она поступает в лимфатические сосуды. Вместе с лимфой, оттекающей от тканей, удаляются продукты обмена веществ, остатки отмирающих клеток, микроорганизмы. В лимфоузлах в лимфу попадают лимфоциты из крови. Она течет, как и венозная кровь, центростремительно, по направлению к сердцу, изливаясь в крупные вены.

Они разделяются на:

* лимфатические капилляры – похожие по строению на кровеносные капилляры, но отличающиеся более широким просветом. Они повсюду сопровождают кровеносные капилляры,

* лимфатические посткапилляры – отличаются от капилляров наличием клапанов. Это более крупные капилляры,

* внутриорганные лимфатические сосуды – бывают поверхностные или подкожные и глубокие,

* внеорганные приносящие (афферентные) и выносящие (эфферентные) лимфатические сосуды лимфатических узлов,

* лимфатические стволы и лимфатические протоки – это крупные лимфатических сосуды. В их стенках имеются артерии и вены.

Các hạch bạch huyết là các cơ quan hình hạt đậu nhỏ gọn bao gồm mô võng mạc (một loại mô liên kết). Vô số hạch bạch huyết, nằm trên đường chảy của bạch huyết, là cơ quan lọc hàng rào quan trọng nhất, trong đó các vi sinh vật, các hạt lạ, các tế bào sụp đổ kéo dài và trải qua quá trình thực bào (tiêu hóa). Vai trò này được thực hiện bởi các tế bào lympho. Do chức năng bảo vệ của các hạch bạch huyết có thể trải qua những thay đổi đáng kể. Ở chó, có tới 60 hạch bạch huyết hình trung bình. Tùy thuộc vào vị trí, họ hời hợt, sâu sắc và nội bộ.

Các yếu tố máu và bạch huyết là ngắn ngủi. Chúng được hình thành trong các cơ quan tạo máu đặc biệt. Chúng bao gồm:

* tủy xương đỏ (tế bào hồng cầu, bạch cầu hạt, tiểu cầu được hình thành trong đó), nằm trong xương ống,

* lá lách (tế bào lympho và bạch cầu hạt được hình thành trong đó, làm chết các tế bào máu, chủ yếu là hồng cầu, bị phá hủy). Cơ quan không ghép đôi này, nằm ở vùng hạ vị bên trái,

* hạch bạch huyết (nơi tế bào lympho được hình thành),

* Tuyến ức, hoặc tuyến ức (nơi tế bào lympho được hình thành).

Nó có một phần cổ tử cung được ghép nối, nằm ở hai bên của khí quản đến thanh quản, và một ngực không ghép đôi, nằm trong khoang ngực trước tim. Ở chó, tuyến ức phát triển kém.

Các tuyến nội tiết

Các tuyến nội tiết bao gồm các cơ quan, mô, nhóm tế bào giải phóng hormone vào máu thông qua thành mao mạch – các chất điều chỉnh sinh học tích cực cao về chuyển hóa, chức năng và sự phát triển của động vật. Trong các tuyến nội tiết không có ống bài tiết.

Ở dạng nội tạng, có các tuyến nội tiết sau: tuyến yên, tuyến tùng (tuyến lệ), tuyến giáp, tuyến cận giáp, tuyến tụy, tuyến thượng thận, tuyến sinh dục (ở nam giới – tinh hoàn).

Tuyến yên nằm ở đáy xương sphenoid. Phân bổ một số loại hormone: thyrotropic – kích thích sự phát triển và hoạt động của tuyến giáp, tuyến thượng thận – tăng cường sự phát triển của các tế bào vỏ thượng thận và sự tiết ra của các tế bào vỏ của cơ quan sinh dục, sự kích thích của các tế bào vỏ của cơ quan sinh dục. quá trình tăng trưởng mô, prolactin – tham gia cho con bú, oxytocin – gây giảm cơ trơn của tử cung, vasopssin – kích thích sự hấp thụ nước ở thận và huyết áp tăng. Sự gián đoạn của tuyến yên gây ra chứng khổng lồ (aclicgaly) hoặc lùn (nanism), khả năng tình dục, kiệt sức, rụng tóc, răng.

Tuyến giáp

Tuyến giáp được chia bởi một eo ở bên phải và thùy trái nằm phía sau khí quản ở cổ. Chó có thể có thêm tuyến giáp. Các hormone thyroxin và triiodothyronine điều chỉnh các quá trình oxy hóa trong cơ thể, ảnh hưởng đến tất cả các loại chuyển hóa, các quá trình enzyme. Chúng chứa iốt. Calcitonin, chống lại hormone tuyến cận giáp, làm giảm canxi trong máu. Tuyến giáp cũng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, phát triển và biệt hóa của các mô (Hình 19).

Các tuyến Parashitovida

Các tuyến này nằm gần thành của tuyến giáp. Hormon tuyến cận giáp do chúng tiết ra sẽ điều chỉnh hàm lượng canxi trong xương, tăng cường hấp thu canxi trong ruột và bài tiết phốt phát ở thận.

Tuyến tụy

Tuyến này có chức năng kép. Là một tuyến nội tiết, nó sản xuất insulin, một loại hormone điều chỉnh lượng đường trong máu. Với bệnh tuyến tụy ở chó, đái tháo đường thường được quan sát nhiều hơn, kèm theo sự gia tăng lượng đường trong máu từ 0,1% đến 0,6-0,8%. Sự gia tăng lượng đường trong máu dẫn đến sự gia tăng hàm lượng của nó trong nước tiểu, vì cơ thể cố gắng giảm lượng đường.

QUẢNG CÁO

Tuyến thượng thận là các cơ quan được ghép nối trong nang mỡ của thận, nặng 0,6 g. Chúng tổng hợp các hormone aldosterone, corticosterone và cortisone, điều chỉnh huyết áp, ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa chất béo và carbohydrate, phát triển tình dục và hoạt động của tuyến vú. Adrenaline thu hẹp mạnh mạch máu, tăng cường hoạt động của tim, tăng số lần co bóp. Trong ảnh hưởng đến chuyển hóa carbohydrate, nó ngược lại với insulin.

Làm thế nào để bộ xương bên trong của một con chó

Cột sống trên (cổ). Nó bao gồm bảy xương đốt sống. Đầu tiên được gọi là “Atlas” (dịch từ tiếng Latin “Atlant”). Nó khác với những cái khác ở dạng vòng và cung cấp khả năng di chuyển của đầu theo chiều dọc. Các đốt sống thứ hai được gọi là “Epistrophy” (“Epistrophy”), nó chịu trách nhiệm cho các chuyển động ngang của đầu của động vật.

Xương sườn được gắn vào các quá trình ngang của đốt sống của phần này. Các quá trình gai từ 1 đến 10 đốt sống được hướng vào đuôi, nhưng thứ mười một được gọi là quá trình cơ hoành. Quá trình gai góc của nó được hướng lên trên. Các quá trình tương tự từ 12 đến 13 đốt sống được hướng vào đầu của động vật.

So sánh bộ xương của người và chó

Loin hoặc thắt lưng. Những đốt sống này có hình bầu dục. Các quá trình của họ là các khớp nối ngang dài, phẳng, hình băng được phát triển tuyệt vời.

Các quá trình gai của cột sống thắt lưng ở đốt sống được hướng vào đầu. Độ dài của mỗi (đến thứ năm) tăng dần, và sau đó giảm ngay lập tức.

Sacrum là sự hợp nhất của ba hoặc bốn đốt sống xương thành một xương. Chức năng chính của phần này của cột sống là một liên kết mạnh mẽ của cột sống với các chi sau.

Ở nữ giới, vùng sacral dài hơn và rộng hơn so với nam giới. Kích thước như vậy là do chức năng sinh sản của nữ giới. Trong phần này của cột sống, các quá trình sau được hợp nhất thành một sườn núi cùng tên.

Trong chấn thương tủy sống hoặc bất thường bẩm sinh, thú cưng sẽ trải qua MRI và kê đơn điều trị.

Các dây đeo vai bao gồm scapula và xương đòn thô lỗ. Xương đòn được gắn vào cơ thể của con chó gần cặp xương sườn đầu tiên. Nhờ vành đai này, các chi trước được gắn vào bộ xương.

So sánh xương động vật

Tay chân. Những con chó chỉ có bốn chân.

Vòng ngực bao gồm:

  1. Vai, bao gồm các humerus.
  2. Cẳng tay bao gồm ulna và bán kính.
  3. Bàn chải Nó bao gồm bảy xương ống cổ tay, năm metacarpals và phalang của ngón tay. Con chó có năm ngón tay, bao gồm ba phalang.

Vành đai của các chi chậu bao gồm:

  1. Xương chậu (hồi tràng, xương mu, đau thần kinh tọa).
  2. Hông bao gồm xương đùi và xương bánh chè.
  3. Ống chân bao gồm xương chày và xương chày.
  4. Dừng lại Nó bao gồm bảy xương của vương miện và năm xương đại tràng. Các phalang của ngón tay và cấu trúc của chúng giống với vùng ngực.

Chó xương chậu

Giải phẫu sọ chó

Sọ và răng. Sự kết nối của xương sọ là di động. Nó cung cấp cho thú cưng khả năng nhai, nhấm nháp, v.v.

Công thức của răng bao gồm: răng nanh, răng cửa, răng hàm và răng hàm.

Cắn bị ảnh hưởng bởi các tiêu chuẩn giống và giống.

Hình dạng cho chó

  • Kéo Ở đây, những cái thấp hơn nằm dưới răng cửa trên, và cũng có một kết nối chặt chẽ với nhau.
  • Kìm – hình thức cắn này xảy ra khi các răng cửa được đóng lại với nhau.
  • Trực tiếp. Các răng cửa đứng trên nhau.
  • Ăn nhẹ. Hàm dưới phình ra phía trước và răng không khớp.

Cấu trúc của hộp sọ

Sọ của con chó mặt dài Bịt kín.

Sọ Pug

Đối với xương không ghép đôi bao gồm “ppetgoid”, “chẩm”, xương hyoid, cũng như “mở”. Ngoài ra, bộ xương bao gồm và không có một cặp xương ethmoid và hình nêm với các hạt.

Hai xương hàm trên, xương gò má, xương hàm, mũi, vòm miệng và hai xương hàm dưới, trán, thân răng và thái dương có thể được quy cho những người được ghép nối.

Đặc điểm cấu trúc

Bộ xương của bất kỳ giống nào thực hiện chức năng quan trọng nhất. Nó không chỉ là nền tảng cho toàn bộ sinh vật, nó là một đòn bẩy cung cấp chuyển động, nó còn thực hiện chức năng hỗ trợ cho tất cả các cơ quan, cơ bắp và hệ thống của động vật.

Mô xương rất bền và nhẹ khi so sánh với các hệ thống khác trong cơ thể thú cưng.

Có bao nhiêu xương

Ở người, tổng cộng có từ 205 đến 207 xương, khoảng hai trăm khớp. Con mèo có cùng số lượng xương khoảng 244 mảnh.

Bộ xương của chó là duy nhất trong thành phần và chức năng của nó. Nhờ có anh, những con vật này di động và hoạt động. Chỉ huy và phối hợp tốt và có thể rất khỏe mạnh.

Buồng trứng ở nữ

Hormone được sản xuất bởi các tuyến nội tiết, có đặc tính có tác động mạnh đến quá trình trao đổi chất và một số quá trình quan trọng quan trọng trong cơ thể động vật. Khi chức năng bài tiết của nhóm tuyến này bị suy giảm, các bệnh cụ thể phát sinh ở chó: rối loạn chuyển hóa, tăng trưởng bất thường và phát triển tình dục, và một số bệnh khác.

Cơ bắp bề ngoài của chó:

【#8】Khám Phá Cấu Tạo Của Micro Karaoke

Nếu tôi hỏi bạn có biết về chiếc micro karaoke không thì có lẽ bạn sẽ không ngần ngại và trả lời là có. Nhưng nếu tôi hỏi bạn về cấu tạo của chiếc micro karaoke đó là thế nào thì chưa chắc bạn đã trả lời được. Chính vì thế bài viết này sẽ giải đáp cho bạn tất tần tật về cấu tạo của chiếc micro karaoke

Chiếc micro karaoke có lẽ không xa lạ gì với mỗi chúng ta trong mỗi lần đi hát nhưng liệu mấy ai để ý và biết được cấu tạo của 1 chiếc micro karaoke là như thế nào. Hôm nay tôi cùng các bạn đi tìm hiểu cấu tạo micro karaoke -thiết bị giải trí không thể thiếu trong thời đại hiện nay.

Phân loại micro karaoke

Trên thị trường hiện nay có hàng loạt các loạt micro khác nhau từ thương hiệu, tính năng đến kiểu dáng. Mỗi loại micro lại mang trong mình những ưu nhược điểm riêng biệt phù hợp với tính cách hay yêu cầu khác nhau của từng người. Nhưng trên thực tế người ta vẫn phân ra 2 loại micro chính đó là:

Mỗi sự khác nhau đó sẽ cho ta những cảm nhận giải trí riêng biệt trong từng sản phẩm khi ta trực tiếp sử dụng.

Cấu tạo các loại micro karaoke

Có thể nói củ của thiết bị này là bộ phận quan trọng nhất của một micro có dây. Củ mic có dây này được cấu thành bởi các cuộn nam châm được xếp xen kẽ nhau, có trách nhiệm chuyển đổi tín hiệu âm thanh người hát vào thành dạng sóng có tần số và theo đường truyền, truyền tín hiệu này tới amply và thoái thác sự khuếch đại tần số của âm thanh cho amply để âm thanh chúng ta nghe được do bé khác nhau. Ngoài ra bên trong mic còn là bộ phận nguồn duy trì hoạt động của micro. Thường cấu tạo của một micro karaoke có dây tương đối đơn giản, nhưng việc chọn mua một micro không phải là điều dễ dàng với bất cứ ai.

Trên thị trường hiện nay cũng có 2 loại micro không dây tiêu biểu là micro karaoke loại điện động và micro karaoke bluetooth

Micro karaoke loại điện động

Micro karaoke không dây

Là phần cầm được khi hát, trên thân có công tắc tắt mở (một số micro nút tắt nguồn nằm ở vị trí khác hoặc không tùy thuộc vào hãng sản xuất). Phần đầu có chụp tròn lưới sắt hay nhựa bảo vệ micro. Phần cuối là chỗ nắp pin.

Là một cột lõi của một chiếc micro, phần này gồm có màng rung, cuộn dây, nam châm. Hoạt động dựa trên nguyên lý cảm ứng điện từ khi một dây dẫn dao động trong từ trường, sinh ra suất điện động cảm ứng dao động với tốc độ v cùng dao động âm sinh ra sức điện động âm tần cảm ứng. Sóng âm thanh từ bên ngoài vào sẽ làm màng rung rung theo tần của âm thanh. Sự rung động dưới sự tác dụng của từ trường nam châm sẽ sinh ra dòng điện xoay chiều và theo đường truyền dải băng tần tới đầu amply tại đó được khuếch đại lên bởi amply và Mixer.

Micro karaoke bluetooth

Người ta thường sử dụng micro karaoke bluetooth cho các sự kiện nhóm, tình nguyện chính vì thế thiết kế của nó mang đến sự tiện dụng nhất có thể để phục vụ cho nhu cầu của bạn.

Micro karaoke bluetooth

Phần đầu tiên là phần micro có nhiệm vụ tiếp nhận và lọc âm thanh

– Phần thứ hai là phần giữa có nhiệm vụ như một chiếc loa mini bao gồm 2 loa chính và một bộ xử lý âm thanh tùy chọn,bạn có thể chỉnh echo,bass…Thêm vào đó bạn có thể tùy chọn qua lại giữa Android và IOS để phù hợp với điện thoại của bạn

– Phần thứ ba là phần chuôi ta có thể hiểu là phần pin và chân sạc,một lần sạc đầy micro bluetooth 3 in 1 của bạn có thể sử dụng thoải mái trong thời gian lên đến 4-5 tiếng.

【#9】Động Cơ Servo Là Gì? Cấu Tạo, Nguyên Lý Hoạt Động

Động cơ Servo là một bộ phận quan trọng của hệ thống điều khiển chuyển động của máy móc. Động cơ Servo đảm nhiệm vai trò cung cấp lực chuyển động cần thiết cho các thiết bị máy móc khi đi vào vận hành.

Hiện nay, động cơ Servo được chia thành 2 loại động cơ servo:

Trong đó, AC servo có thể xử lý được các dòng điện cao hơn và có xu hướng được sử dụng nhiều trong máy móc công nghiệp. DC servo không được thiết kế cho các dòng điện cao và thường phù hợp cho các ứng dụng yêu cầu điện áp nhỏ hơn.

Cấu tạo chung của 1 động cơ servo gồm có 2 phần chính: Rotor và Stator.

Sơ đồ cấu tạo Động cơ servo AC

Sơ đồ cấu tạo Động cơ servo DC

4, Nguyên lý hoạt động của động cơ Servo

Stator của động cơ được cuốn các cuộn dây riêng biệt và Rotor của động cơ là một thanh nam châm vĩnh cửu có từ trường mạnh, được cấp nguồn theo 1 trình tự nhất định thích hợp để quay rotor.

Nếu thời điểm và dòng điện cấp đến các cuộn dây là chính xác thì chuyển động quay của rotor phụ thuộc hoàn toàn vào tần số và pha, phân cực và dòng điện chạy trong cuộn dây rotor.

Động cơ rotor được tạo thành bởi những hệ thống hồi tiếp vòng kín. Tín hiệu ra của động cơ được nối với 1 mạch điều khiển, khi động cơ chuẩn bị vận hành thì vận tốc và vị trí sẽ được hồi tiếp về mạch điều khiển. Khi đó, dù bầt kỳ lý do nào gây cản trở chuyển động quay của động cơ, cơ cấu hồi tiếp sẽ nhận biết tín hiệu ra chưa đạt được vị trí mong muốn. Do đó, mạch điều khiển sẽ tiếp tục chỉnh sai lệch cho động cơ để đạt được điểm chính xác nhất.

5, Đánh giá ưu nhược điểm của động cơ Servo

a. Động cơ servo AC

  • Ưu điểm: Điều khiển tốc độ tốt, trơn tru trên toàn bộ vùng tốc độ, hầu như không dao động, đạt hiệu suất cao hơn 90%, ít nhiệt, vị trí chính xác cao. Mô-men xoắn, quán tính thấp, không có bàn chải mặc, tiếng ồn thấp, bảo trì miễn phí (đối với môi trường không có bụi, nổ).
  • Nhược điểm: Điều khiển phức tạp, các thông số ổ đĩa cần phải được điều chỉnh các thông số PID để được xác định nhu cầu kết nối nhiều hơn.

b. Động cơ servo DC

  • Ưu điểm: Kiểm soát tốc độ chính xác, đặc điểm tốc độ mô-men xoắn rất khó, nguyên tắc điều khiển vận hành đơn giản, dễ sử dụng, giá rẻ.
  • Nhược điểm: Chổi than cho giới hạn tốc độ, sức đề kháng bổ sung, dẫn đến các hạt mài mòn (môi trường không có bụi không thích hợp)

6, Ứng dụng của động cơ Servo

    Ứng dụng trong ngành điện – điện tử: Máy lắp là các thiết bị lắp linh kiện điện tử ví dụ như: chip LSI trên bảng mạch, cần có tốc độ cao và độ chính xác cao, các servo AC hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu này.

    Ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống: Quy trình thực phẩm chất lượng cao và an toàn hơn ngày càng tăng, vì thế, động cơ servo thường được sử dụng như là giải pháp đối với quy trình thực phẩm.

    Ứng dụng trong ngành may mặc, bao bì, ngành giấy: Động cơ Servo được sử dụng trong việc điều khiển các máy cuộn vải, giấy, bao bì để cắt hoặc in ấn…

    Ứng dụng trong điều khiển vận chuyển: ứng dụng trong việc di chuyển thiết bị từ nhà kho qua hệ thống băng tải. Động cơ servo giúp điều khiển tốc độ nhanh/chậm tùy theo mục đích sử dụng.

Ứng dụng của động cơ servo trong điều khiển vận chuyển

Hợp Long địa chỉ uy tín, số 1 Việt Nam phân phối thiết bị tự động hóa, thiết bị điện công nghiệp chính hãng. Chúng tôi có trụ sở, chi nhánh ở tất cả các thành phố lớn: Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng, Cần Thơ, Đà Nẵng …… sẵn sàng phục vụ 24/7 ngay khi quý khách có nhu cầu.

【#10】Tính Chất Hóa Học Và Công Thức Cấu Tạo Của Ancol

– Ancol là những hợp chất hữu cơ trong phân tử có chứa nhóm -OH liên kết với nguyên tử C no của gốc hiđrocacbon.

2. Bậc của Ancol, phân loại ancol

– Dựa vào số nhóm -OH trong phân tử các ancol được phân làm ancol đơn chức và ancol đa chức.

– Bậc của ancol được tính bằng bậc của nguyên tử cacbon liên kết với nhóm -OH.

– Ancol no đơn chức mạch hở: Phân tử có 1 nhóm -OH liên kết với gốc Ankyl: C nH 2n+1-OH

– Ancol không no, đơn chức, mạch hở: Phân tử có 1 nhóm -OH liên kết với nguyên tử cacbon no của gốc hidrocacbon không no.

– Ancol thơm, đơn chức: Phân tử có nhóm -OH liên kết với nguyên tử cacbon no thuộc mạch nhánh của vòng benzen

– Ancol vòng no, đơn chức: Phân tử có nhóm -OH liên kết với nguyên tử cacbon no thuộc nhóm hidrocacbon vòng no:

– Ancol đa chức: Phân tử có 2 hay nhiều nhóm -OH ancol

b) Tên thường

Tên thường = ancol (rượu) + Tên gốc hiđrocacbon + ic

Chú ý: Một số ancol có tên riêng cần nhớ:

CH 2OH-CH 2 OH : Etilenglicol

CH 2OH-CHOH-CH 2 OH : Glixerin (Glixerol)

II. Tính chất vật lý của Ancol

– Giải thích: nhiệt độ sôi của một chất thường phụ thuộc vào các yếu tố:

+ M: M càng lớn thì nhiệt độ sôi càng cao.

+ Số liên kết hiđro: càng nhiều liên kết H thì nhiệt độ sôi càng cao.

+ Độ bền của liên kết hiđro: liên kết H càng bền thì nhiệt độ sôi càng cao.

– Ancol có 1, 2, 3 nguyên tử C trong phân tử tan vô hạn trong nước.

– Ancol có càng nhiều C, độ tan trong nước càng giảm vì tính kị nước của gốc hiđrocacbon tăng.

III. Tính chất hóa học của Ancol

1. Ancol phản ứng với kim loại kiềm (Ancol + Na).

– phản ứng của Ancol + Na

Ancol hầu như không phản ứng được với NaOH mà ngược lại natri ancolat bị phân hủy hoàn toàn

Chú ý: – Trong phản ứng của ancol với Na:

– Nếu cho dung dịch ancol phản ứng với Na thì ngoài phản ứng của ancol còn có phản ứng của H 2 O với Na.

– Số nhóm chức Ancol = 2.n H2/n Ancol.

2. Ancol phản ứng với axit

→ số nguyên tử X bằng tổng số nhóm OH và số liên kết pi.

b) Ancol phản ứng với axit hữu cơ (phản ứng este hóa)

ROH + R’COOH ↔ R’COOR + H 2 O

* Chú ý:

– Phản ứng được thực hiện trong môi trường axit và đun nóng.

– Phản ứng có tính thuận nghịch nên chú ý đến chuyển dịch cân bằng.

3. Phản ứng tách nước (đề hiđrat hóa)

a) Tách nước từ 1 phân tử ancol tạo anken của ancol no, đơn chức, mạch hở.

– Điều kiện của ancol tham gia phản ứng: ancol có Hα.

* Chú ý:

– Nếu ancol no, đơn chức mạch hở không tách nước tạo anken thì Ancol đó không có Hα (là CH 3 OH hoặc ancol mà nguyên tử C liên kết với OH chỉ liên kết với C bậc 3 khác).

– Nếu một ancol tách nước tạo ra hỗn hợp nhiều anken thì đó là ancol bậc cao (bậc II, bậc III) và mạch C không đối xứng qua C liên kết với OH.

– Nhiều ancol tách nước tạo ra một anken thì xảy ra các khả năng sau:

+ Có ancol không tách nước.

+ Các ancol là đồng phân của nhau.

– Sản phẩm chính trong quá trình tách nước theo quy tắc Zaixep.

– Các phản ứng tách nước đặc biệt:

Chú ý:

– Từ n ancol khác nhau khi tách nước ta thu được n.(n + 1)/2 ete trong đó có n ete đối xứng.

Chú ý:

– Phản ứng đốt cháy của ancol có đặc điểm tương tự phản ứng đốt cháy hiđrocacbon tương ứng.

b) Oxi hóa không hoàn toàn (Ancol + CuO hoặc O2 có xúc tác là Cu)

– Ancol bậc I + CuO tạo anđehit:

RCH 2OH + CuO → RCHO + Cu + H 2 O

– Ancol bậc II + CuO tạo xeton:

RCHOHR’ + CuO → RCOR’ + Cu + H 2 O

– Ancol bậc III không bị oxi hóa bằng CuO.

5. Phản ứng riêng của một số loại ancol

b) Ancol không no có phản ứng như hidrocacbon tương ứng

– Phản ứng với Brom: Ancol + Br 2

– Phản ứng với dd thuốc tím: Ancol + KMnO 4

c) Ancol đa chức có các nhóm OH liền kề: tạo dung dịch màu xanh lam với Cu(OH)2 ở nhiệt độ thường:

+ Ancol có nhóm OH liên kết với C nối đôi chuyển vị thành anđehit hoặc xeton:

+ Ancol có 2 nhóm OH cùng gắn vào 1 nguyên tử C bị tách nước tạo anđehit hoặc xeton:

+ Ancol có 3 nhóm OH cùng gắn vào 1 nguyên tử C bị tách nước tạo thành axit:

1. Thủy phân dẫn xuất halogen

2. Cộng nước vào anken tạo ancol no, đơn chức, mạch hở

Phản ứng tuân theo quy tắc cộng Maccopnhicop nên nếu anken đối xứng thì phản ứng chỉ tạo thành 1 ancol.

3. Thủy phân este trong môi trường kiềm

RCOOR’ + NaOH → RCOONa + R’OH

RCOR’ + H 2 → RCHOHR’ (Ni, t 0)

5. Oxi hóa hợp chất có nối đôi bằng dung dịch KMnO4

– Lên men tinh bột:

– Các phản ứng cụ thể:

– Hidrat hóa etilen, xúc tác axit:

– Đây là các phương pháp điều chế ancol etylic trong công nghiệp.

– Ancol tạo khí không màu với kim loại kiềm (chú ý mọi dung dịch đều có phản ứng này).

– Ancol làm CuO đun nóng từ màu đen chuyển thành Cu màu đỏ.

– Ancol đa chức có các nhóm OH liền kề hòa tan Cu(OH) 2 tạo dung dịch màu xanh.

– Ancol không no có phản ứng làm mất màu dung dịch Brom.

– Metanol chủ yếu được dùng để sản xuất Andehit Fomic nguyên liệu cho công nghiệp chất dẻo.

– Etanol dùng để điều chế một số hợp chất hữu cơ như axit axetic, dietyl ete, etyl axetat,.. do có khả năng hòa tan tốt một số hợp chất hữu cơ nên Etanol được dùng để pha vecni, dược phẩm, nước hoa,…

– Trong đời sống hàng ngày Etanol được dùng để pha chế các loại đồ uống với độ ancol khác nhau.

Bài 2 trang 186 SGK Hóa 11: Viết phương trình hóa học của phản ứng propan-1-ol với mỗi chất sau:

a. Natri kim loại.

b. CuO, đun nóng

c. Axit HBr, có xúc tác

Trong mỗi phản ứng trên ancol giữ vai trò gì: chất khử, chất oxi hoá, axit, bazơ? Giải thích.

* Lời giải bài 2 trang 186 SGK Hóa 11:

Ancol đóng vai trò chất oxi hóa

Ancol đóng vai trò chất khử

Ancol đóng vai trò bazơ

Bài 3 trang 186 SGK Hóa 11: Trình bày phương pháp hoá học để phân biệt các chất lỏng đựng trong các lọ không dán nhãn: etanol, glixerol, nước và benzen.

* Lời giải bài 3 trang 186 SGK Hóa 11:

+ Trích mỗi chất 1 ít cho ra các ống nghiệm khác nhau và đánh số thứ tự tương ứng.

– Cho lần lượt nước dư vào các ống nghiệm:

+ Ống nghiệm nào chất lỏng không tan, dung dịch phân thành 2 lớp là benzen (nổi lên trên bề mặt nước)

+ Các ống nghiệm còn lại dung dịch đồng nhất là: etanol (C 2H 5OH), glixerol (C 3H 5(OH) 3), nước

– Cho Cu(OH) 2 vào 3 chất còn lại, chất nào tạo phức màu xanh lam là C 3H 5(OH) 3, còn lại không có hiện tượng gì là C 2H 5OH và H 2 O

– Đốt 2 chất còn lại, rồi cho sản phẩm qua dd nước vôi trong, chất nào sản phẩm sinh ra làm đục nước vôi trong là C 2H 5OH, còn lại là H 2 O

Bài 5 trang 187 SGK Hóa 11: Cho 12,20 gam hỗ hợp X gồm etanol và propan-1-ol tác dụng với Na (dư) thu được 2,80 lit khí đktc.

a. Tính thành phần phần trăm khối lượng của mỗi chất trong hỗn hợp X?

b. Cho hỗn hợp X qua ống đựng CuO, đun nóng. Viết các phương trình hoá học của phản ứng xảy ra.

* Lời giải bài 5 trang 187 SGK Hóa 11:

a) Gọi số mol của etanol và propan-1-ol lần lượt là x và y (mol)

– Phương trình phản ứng:

x 0,5x (mol)

y 0,5y (mol)

– Theo bài ra: n H2 = 2,8/22,4 = 0,125 (mol).

– Theo PTPƯ: n H2 = 0,5x + 0,5y = 0,125 (1)

– Theo bài ra và theo PTPƯ: m x = 46x + 60y = 12,2 (2)

– Giải hệ PT gồm (1) và (2) ta được: x = 0,2 và y = 0,05 (mol).

⇒ m C2H5OH = 0,2.46 = 9,2 (g). ⇒ m CH3CH2CH2OH = 3 (g).

⇒ %m C2H5OH = (9,2/12,2).100% = 75,4%

⇒ %m CH3CH2CH2OH = 100% – 75,4% = 25,6%

b) Phương trình phản ứng

Bài 6 trang 187 SGK Hóa 11: Oxi hoá hoàn toàn 0,60(g) một ancol A đơn chức bằng oxi không khí, sau đó dẫn sản phẩm qua bình 91 đựng H 2SO 4 đặc rồi dẫn tiếp qua bình (2) đựng KOH. Khối lượng bình (1) tăng 0,72g; bình (2) tăng 1,32g.

a. Giải thích hiện tượng thí nghiệm trên bằng phương trình hoá học.

b. Tìm công thức phân tử, viết công thức cấu tạo có thể có của A.

c. Khi cho ancol trên tác dụng với CuO, đun nóng thu được một anđehit tương ứng. Gọi tên của A?

* Lời giải bài 6 trang 187 SGK Hóa 11:

a) Sản phẩm oxi hóa gồm CO 2 và H 2O đi qua bình (1) đựng H 2SO 4 đặc thì H 2O bị hấp thụ làm bình (1) tăng m H2O = 0,72 (g) ; qua bình (2) CO 2 bị hấp thụ bởi dung dịch KOH, m CO2 = 1,32 (g).

b) Theo bài ra: n H2O = 0,72/18 = 0,04 (mol)

n CO2 = 1,32/44 = 0,03 (mol)

⇒ m O (trong A) = 0,6 – 0,03.12 – 0,04.2= 0,16 (g).

⇒ n O = 0,16/16 = 0,01 (mol).

c) Khi cho A tác dụng với CuO, đun nóng được một anđehit ⇒ A là Ancol bậc 1

Bài 7 trang 187 SGK Hóa 11: Từ 1,00 tấn tinh bột chứa 5,0% chất xơ (Không bị biến đổi) có thể sản xuất đưuọc bao nhiêu lit etanol tinh khiết, biết hiệu suất chung của cả quá trình là 80,0% và khối lượng riêng của etanol là D = 0,789 g/ml.

* Lời giải bài 7 trang 187 SGK Hóa 11:

– Phương trình hóa học:

– Theo bài ra: m = 0,05. 10 6 (g)

Từ (1) và (2) ta có:

– Mà hiệu suất đạt 80% nên lượng ancol thực tế thu được là:

Bài 9 trang 187 SGK Hóa 11: Cho 3,70gam một ancol X no, đơn chức, mạch hở tác dụng với Na dư có thấy 0,56 lit khí thoát ra (ở đktc). Công thức phân tử của X là:

Hãy chọn đáp án đúng

* Lời giải bài 9 trang 187 SGK Hóa 11:

– Phương trình phản ứng

2R-OH + 2Na → 2R-ONa + H 2

0,05 0,025 (mol)

– Theo bài ra: n H2 = 0,56/22,4 = 0,025 (mol).

– Theo PTPƯ: n R-OH = 2.n H2 = 2.0,025 = 0,05 (mol).

⇒ M ROH = 3,7/0,05 = 74 (g/mol).

⇒ Ancol no đơn chức có công thức: C nH 2n + 1 OH ⇒ 14n + 18 = 74 ⇒ n = 4

⇒ Vậy công thức phân tử của X là: C 4H 10 O