Top 6 # Xem Nhiều Nhất Cấu Tạo Đám Rối Thần Kinh Thắt Lưng Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Tổn Thương Đám Rối Thần Kinh Thắt Lưng

Đối với chi dưới thì dây thần kinh tọa là một trong những dây thần kinh quan trọng nhất đảm bảo thực hiện những chức năng vận động và cảm giác của hầu như toàn bộ vùng chi dưới.

Dây thần kinh tọa có cấu tạo từ rất nhiều rễ thần kinh bao gồm, rễ L4, L5, S1, S2 và S3 và 5 rễ thần kinh này đều thuộc một cấu tạo được gọi là đám rối thần kinh thắt lưng, đi từ vùng thắt lưng xuống những ngón chấn.

Đám rối thần kinh thắt lưng có vị trí ở dọc 2 bên vùng cột sống thắt lưng và ở phía trước mỏm ngang đốt sống, đám rối thần kinh thắt lưng chạy phía trước cơ vuông thắt lưng.

Chức năng chính của thần kinh thắt lưng cũng như đám rối thần kinh thắt lưng đó là chi phối những vận động của 2 chân, chi phối thực hiện những động tác như gấp, duỗi đầu gối, ngồi dậy, gấp duỗi bàn chân, điều phối vận động 2 chân.

Bên cạnh vận động thì đám rối thần kinh thắt lưng cũng có chức năng cảm giác, giúp vùng chi dưới của cơ thể có được những cảm giác nông, sâu khác nhau.

2. Tổn thương đám rối thần kinh thắt lưng

Trên lâm sàng, một số đặc điểm chính thường xuất hiện trên những bệnh nhân có tổn thương đám rối thần kinh thắt lưng đó là:

Bệnh nhân đau, tê bì vùng thắt lưng, lan xuống chân, có thể có cảm giác kiến bò

Yếu chi dưới, giảm sự phối hợp chức năng vận động chi dưới

Co thắt cơ

Giảm cảm giác chi dưới, phản xạ gân xương chi dưới giảm

Khi khám dấu hiệu Lasegue thấy dương tính

Để chẩn đoán xác định một bệnh nhân có chắc chắn bị tổn thương đám rối thần kinh thắt lưng hay không thì cần tiến hành một số kỹ thuật cận lâm sàng bao gồm:

Chụp cắt lớp vi tính và chụp tủy thường được áp dụng trên những bệnh nhân không thể chụp cộng hưởng từ.

Đo điện cơ và kỹ thuật kiểm tra tốc độ dẫn truyền thần kinh cho phép biết được những thông tin về rễ thần kinh, đám rối thần kinh thắt lưng, góp phần rất lớn trong việc chẩn đoán phân biệt giữa bệnh lý tổn thương đám rối thần kinh thắt lưng với những bệnh lý thần kinh ngoại biên khác như hội chứng ống cổ tay, bệnh lý chèn ép thần kinh…

Một số xét nghiệm khác cũng được chỉ định với những bệnh nhân nghi ngờ tổn thương đám rối thần kinh thắt lưng như xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi, tốc độ lắng máu, HLA – B27, sinh hóa máu…

Một số bệnh lý cần được chẩn đoán phân biệt với tổn thương đám rối thần kinh thắt lưng đó là:

Vì vậy, việc điều trị tổn thương đám rối thần kinh thắt lưng cũng phải đáp ứng được vấn đề tìm ra và giải quyết nguyên nhân gây bệnh, tránh đến mức tối đa tình trạng tái phát bệnh cũng như những biến chứng không mong muốn mà bệnh gây ra, gây ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Rối Loạn Thần Kinh Thực Vật

1. Khái niệm chung về hệ thần kinh

Mọi hoạt động của con người đều do thần kinh chi phối. Hệ thần kinh được chia thành hai phần, đó là thần kinh trung ương và thần kinh ngoại biên. Thần kinh trung ương được phân chia thành 2 hai hệ: hệ thần kinh động vật và Hai hệ này hoạt động phối hợp với nhau dưới sự chỉ huy của vỏ não. Hệ thần kinh động vật có chức năng tiếp nhận thông tin và chi phối những hoạt động theo ý muốn của con người như đi lại, nói năng, ăn uống… (systema nervosum vegetativum) chi phối những hoạt động tự động của cơ thể như: tiêu hóa, tuần hoàn, nội tiết, dinh dưỡng , bài tiết, sinh sản… Trong được chia ra làm hai phần là: hệ giao cảm và hệ phó giao cảm. Hai hệ này có tác dụng đối lập nhau. Hệ giao cảm làm tăng cường chức năng tự động còn hệ phó giao cảm lại làm giảm những chức năng tự động. ví dụ khi chức năng giao cảm tăng thì gây tăng nhịp tim, nhịp thở, đi tiểu nhiều lần, ra nhiều mồ hôi… ngược lại chức phó giao cảm tăng thì làm giảm nhịp tim, nhịp thở, giảm tiểu tiện… Hai hệ giao cảm và phó giao cảm tuy có chức năng trái ngược nhau nhưng luôn luôn được điều hòa nhằm duy trì và điều kiển những hoạt động tự động của cơ thể.2.Rối loạn thần kinh thực vậtRối loạn thần kinh thực vật ( có nhiều tên gọi khác nhau như : Rối loạn thần kinh tim, Rối loạn thần kinh chức năng, rối loạn thần kinh tự trị ).2.1 Thế nào là rối loạn thần kinh thực vật : (, rối loạn thần kinh chức năng , rối loạn thần kinh tự trị) là sự mất cân bằng giữa hệ giao cảm và hệ phó giao cảm . Biều hiện trên lâm sàng thường là tình trạng cường giao cảm.2.2. Bệnh sinh:Ngày nay có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh sinh của rối loạn thần kinh thực vật. Các nghiên cứu có chỉ ra rằng ở những người rối loạn thần kinh thực vật có sự bất thường của thụ cảm thể GABA. Sự mất điều hòa chất dẫn truyền thần kinh serotonin cũng được tìm thấy ở bệnh nhân rối loạn thần kinh thực vật . Nồng độ Noradrenalin (cathecholamin) và các chất chuyển hóa của nó cũng tăng.2.3. Triệu chứng lâm sàng của rối loạn thần kinh thực vật. ( ối loạn thần kinh chức năng )

– Tim đập nhanh người bệnh có cảm giác hồi hộp. Đây là triệu chứng hay gặp nhất nên người bệnh hay đi khám ở chuyên khoa tim mạch vậy nên bệnh này còn gọi là . ( Rối loạn thần kinh chức năng )– Thở nông, cảm giác hụt hơi, cảm giác nghẹn ở cổ, như có hòn gì đang chẹn ở cổ (triệu chứng này hay gặp ở phụ nữ hơn) Rối loạn thần kinh thực vật hay còn gọi là Rối loạn thần kinh tim , Rối loạn thần kinh chức năng, Rối loạn thần kinh tự trị ,bản chất của bệnh là rối loạn chất dẫn truyền thần kinh của não bộ (sinh hóa não). Khi được điều chỉnh các chất sinh hoá não trở về bình thường thì những triệu chứng của bệnh sẽ ổn định. – Chân tay mỏi giống như mất trương lực cơ, cầm nắm khó khăn. triệu chứng này hay xuất hiện vào buổi chiều và từng cơn.– Có những cơn nóng bừng người hoặc nóng dọc theo xương sống, hay lạnh toát.– Ra nhiều mồ hôi lòng bàn tay, bàn chân. hay phần trên của cơ thể.– Cứng tay, run tay làm người bệnh khó viết (ở học sinh mặc dù đã chuẩn bị bài tốt nhưng vẫn thấy run trước khi thi)– Giảm tình dục, di tinh ở nam giới, rối loạn kinh nguyệt ở nữ giới.– Cảm giác mất tự tin– Lo lắng quá mức, bồn chồn đứng ngồi không yên– Khó tập trung chú ý vào công việc– Dễ mệt mỏi– Hay cáu gắt– Khó đi vào giấc ngủ– Sợ lạnh, sợ nước, sợ gió, bàn chân, bắp chân lúc nào cũng thấy lạnh. Vì thế, vào mùa hè mặc dù trời rất nóng nhưng bệnh nhân cảm thấy rất lạnh, cảm giác mất nhiệt cơ thể, nên phải mặc nhiều quần áo, đi tất dầy..2.4. Triệu chứng cận lâm sàng– Điện não đồ thường thấy giảm biên độ và chỉ số nhịp alpha (α ), trong khi đó lại tăng chỉ số nhịp betha (β). Điện não đồ là một trạng thái kích thích– Các xét nghiệm máu : sinh hóa, tế bào không thấy thay đổi.2.5. Trị liệu (điều trị)2.5.1 Liệu pháp hóa dượcNgười bệnh được dùng các thuốc chuyên biệt có tác dụng điều chỉnh nồng độ chất dẫn truyền thần kinh trở về bình thường.

2.5.2 Liệu pháp tâm lí-Tâm lí thư giãn luyện tập dựa trên cơ chế tự kỉ ám thị.– Tập thở kiểu yoga.Trong cơ thể phổi là cơ quan chụi sự chi phối của hệ và thần kinh động vật. Vì vậy khi tập thở yoga thì có tác dụng điều hòa thần kinh thực vật rất tốt. 3. Kết luận

ThS.Bs Đinh Hữu Uân – Thành viên Hiệp hội tâm thần Mỹ 0913511475

Đặc Điểm Giải Phẫu Vùng Cột Sống Thắt Lưng

1. Đốt sống thắt lưng:

Cột sống thắt lưng có 5 đốt sống, với đặc điểm:

– Thân đốt sống rất to và chiều ngang rộng hơn chiều trước sau. Ba đốt sống thắt lưng cuối có chiều cao ở phía trước thấp hơn phía sau nên khi nhìn từ phía bên trông như một cái chêm.

– Chân cung (cuống sống) to, khuyết trên của chân cung nông, khuyết dưới sâu.

– Mỏm ngang dài và hẹp, mỏm gai rộng, thô, dày, hình chữ nhật đi thẳng ra sau.

– Mặt khớp của mỏm khớp nhìn vào trong và về sau, mặt khớp dưới có tư thế ngược lại.

2. Khớp đốt sống.

Khớp đốt sống là khớp thực thụ, có diện khớp là sụn, bao hoạt dịch, hoạt dịch và bao khớp. Bao khớp và đĩa đệm đều cùng thuộc một đơn vị chức năng thống nhất. Do vị trí của khớp đốt sống ở hướng đứng thẳng dọc nên cột sống thắt lưng luôn có khả năng chuyển động theo chiều trước sau trong chừng mực nhất định. ở  tư thế ưỡn và gù lưng, các diện khớp cũng chuyển động theo hướng dọc thân.

– Sự tăng hay giảm áp lực cơ học lên đĩa đệm sẽ làm tăng hoặc giảm trọng lực trong bao và chiều cao của khoang gian đốt sống. Đĩa đệm và khớp đốt sống do đó đều có khả năng đàn hồi để chống đỡ với động lực mạnh, nếu bị chấn thương mạnh thì đốt sống sẽ bị gẫy trước khi đĩa đệm và khớp đốt sống bị tổn thương.

– Khi đĩa đệm bị thoái hóa hoặc thoát vị, chiều cao khoang gian đốt bị giảm làm các khớp đốt sống bị lỏng, dẫn đến sai lệch vị trí khớp, càng thúc đẩy thêm quá trình thoái hóa khớp đốt sống và đau cột sống. Ngược lại, nếu chiều cao khoang gian đốt tăng quá mức sẽ làm tăng chuyển nhập dịch thể vào khoang trong đĩa đệm, dẫn tới giãn quá mức bao khớp cũng gây đau.

– Cấu tạo: đĩa đệm được cấu tạo bởi 3 thành phần là nhân nhầy, vòng sợi và mâm sụn.

+ Nhân nhầy: được cấu tạo bởi một màng liên kết, hình thành những khoang mắt lưới chứa các tổ chức tế bào nhầy keo, ở người trẻ các tế bào tổ chức này kết dính với nhau rất chặt làm cho nhân nhầy rất chắc và có tính đàn hồi rất tốt (ở người già thì các tế bào tổ chức đó liên kết với nhau lỏng lẻo nên nhân nhầy kém tính đàn hồi). Bình thường nhân nhầy nằm ở trong vòng sợi, khi cột sống vận động về một phía thì nó bị đẩy chuyển động dồn về phía đối diện, đồng thời vòng sợi cũng bị giãn ra.

+ Vòng sợi: gồm những vòng sợi sụn (fibro-caetilage) rất chắc chắn và đàn hồi đan vào nhau theo kiểu xoắn ốc, ở vùng riềm của vòng sợi lại được tăng cường thêm một giải sợi. Giữa các lớp của vòng sợi có vách ngăn, ở phía sau và sau bên của vòng sợi tương đối mỏng và được coi là điểm yếu nhất, nơi dễ xảy ra lồi và thoát vị đĩa đệm.

+ Mâm sụn: gắn chặt vào tấm cùng của đốt sống, nên còn có thể coi là một phần của đốt sống.

– Chiều cao của đĩa đệm: thay đổi theo từng đoạn cột sống. ở đoạn sống cổ khoảng 3mm, đoạn ngực độ 5mm, đoạn thắt lưng độ 9mm, trừ đĩa đệm L5-S1 thấp hơn đĩa đệm L4-L5 khoảng 1/3 chiều cao. Chiều cao của đĩa đệm ở phía trước và phía sau chênh nhau tùy thuộc vào độ cong sinh lý của đoạn cột sống, ở đĩa đệm L5-S1 thì độ chênh này lớn nhất.

– Vi cấu trúc của đĩa đệm: gồm nguyên bào sợi, tế bào sụn, và những tế bào nguyên sống. Trong đó nước chiếm tới 80-85% (ở người trưởng thành). Colagen chiếm 44-51% trọng lượng khô của đĩa đệm. Mô của đĩa đệm có đặc điểm là mô không tái tạo, lại luôn chịu nhiều tác động do chức năng tải trọng và vận động của cột sống mang lại, cho nên đĩa đệm chóng hư và thoái hóa.

– Thần kinh và mạch máu:

+ Thần kinh: đĩa đệm không có các sợi thần kinh, chỉ có những tận cùng thần kinh cảm giác nằm ở lớp ngoài cùng của vòng sợi.

+ Mạch máu nuôi đĩa đệm: chủ yếu thấy ở xung quanh vòng sợi, còn ở trong nhân nhầy thì không có mạch máu, sự nuôi dưỡng chủ yếu bằng khuyếch tán. Việc cung cấp máu cho đĩa đệm bình thường chấm dứt hẳn ở độ tuổi thập niên thứ hai, sau đó dinh dưỡng đối với đĩa đệm là thông qua quá trình thẩm thấu.

4. Lỗ ghép:

Tạo bởi khuyết dưới của đốt sống trên và khuyết trên của đốt sống dưới, nhìn chung các lỗ ghép đều nằm ngang mức với đĩa đệm. Lỗ ghép cho các dây thần kinh sống đi từ ống sống ra ngoài, bình thường đường kính của lỗ ghép to gấp 5-6 lần đường kính của đoạn dây thần kinh đi qua nó. Các tư thế ưỡn và nghiêng về bên làm giảm đường kính của lỗ.

Khi cột sống bị thoái hóa hay đĩa đệm thoát vị sang bên sẽ chèn ép dây thần kinh sống gây đau. Riêng lỗ ghép thắt lưng – cùng là đặc biệt nhỏ do tư thế của khe khớp đốt sống ở đây lại nằm ở mặt phẳng đứng ngang chứ không ở mặt phẳng đứng dọc như ở đoạn L1-L4, do đó những biến đổi ở diện khớp và tư thế của khớp đốt sống dễ gây hẹp lỗ ghép này.

5. Các dây chằng:

– Dây chằng dọc trước: phủ mặt trước thân đốt từ mặt trước xương cùng đến lồi củ trước đốt sống C1 và đến lỗ chẩm. Nó ngăn cản sự ưỡn quá mức của cột sống.

– Dây chằng dọc sau: phủ mặt sau thân đốt sống, chạy trong ống sống từ nền xương chẩm đến mặt sau xương cùng. Nó ngăn cản cột sống gấp quá mức và thoát vị đĩa đệm ra sau. Tuy nhiên dây chằng này khi chạy đến cột sống thắt lưng thì phủ không hết mặt sau thân đốt, tạo thành hai vị trí rất yếu ở hai mặt sau bên đốt sống, và là nơi dễ gây ra thoát vị đĩa đệm nhất. Dây chằng này được phân bố nhiều tận cùng thụ thể đau nên rất nhạy cảm với đau.

– Dây chằng vàng: phủ phần sau ống sống. Dày dây chằng vàng cũng là một biểu hiện của thoái hóa (ở một số người có hẹp ống sống bẩm sinh không triệu chứng), đến khi dây chằng vàng dầy với tuổi thuận lợi các triệu chứng mới xuất hiện.

– Dây chằng liên gai và trên gai: dây chằng liên gai nối các mỏm gai với nhau. Dây chằng trên gai chạy qua đỉnh các mỏm gai.

Các vị trí có dây chằng bám là những vị trí rất vững chắc ít khi nhân nhầy thoát vị ra các vị trí này, mà thường thoát vị ra các điểm yếu không có dây chằng bám, vị trí hay gặp là ở phía sau bên cột sống.

6. Ống sống thắt lưng.

Ống sống thắt lưng được giới hạn ở phía trước bởi thân đốt sống và các đĩa đệm, phía sau bởi dây chằng vàng và các cung đốt sống, bên cạnh là các cuống sống, vòng cung và lỗ ghép. Trong ống sống có bao màng cứng, rễ thần kinh và tổ chức quanh màng cứng (là tổ chức lỏng lẻo gồm mô liên kết, tổ chức mỡ và đám rối tĩnh mạch, có tác dụng đệm đỡ tránh cho rễ thần kinh khỏi bị chèn ép bởi thành xương sống, kể cả khi vận động cột sống thắt lưng tới biên độ tối đa).

– Rễ L3 thoát ra khỏi bao cứng ở ngang thân đốt L2.

– Rễ L4 ngang mức thân L3.

– Rễ L5 thoát ra ở bờ dưới thân đốt L4.

– Rễ S1 thoát ra ở bờ dưới thân đốt L5.

Khi ống sống thắt lưng bị hẹp thì chỉ cần một thay đổi nhỏ chu vi phía sau đĩa đệm (lồi đĩa đệm nhẹ) cũng có thể dẫn đến chèn ép rễ thần kinh.

7. Rễ và dây thần kinh tủy sống.

7.1. Đặc điểm chung.

Mỗi bên của một khoanh tủy sống thoát ra 2 rễ thần kinh: Rễ trước hay rễ vận động và rễ sau hay rễ cảm giác, rễ này có hạch gai. Hai rễ này chập lại thành dây thần kinh sống rồi chui qua lỗ ghép ra ngoài. Dây thần kinh sống chia thành hai ngành:

– Ngành sau đi ra phía sau để vận động các cơ rãnh sống và cảm giác da gần cột sống. Ngành này tách ra một nhánh quặt ngược chui qua lỗ ghép đi vào chi phối cảm giác trong ống sống.

– Ngành trước ở đoạn cổ và thắt lưng – cùng thì hợp thành các thân của các đám rối thần kinh, còn ở đoạn ngực thì tạo thành các dây thần kinh liên sườn.

7.2. Rễ và dây thần kinh hông to.

– Dây thần kinh hông to được tạo nên chủ yếu bởi hai rễ thần kinh là rễ L5 và rễ S1 thuộc đám rối thần kinh cùng.

– Sau khi ra ngoài ống sống rễ L5 và S1 hợp với nhau thành dây thần kinh hông to, là dây thần kinh to và dài nhất trong cơ thể. Từ vùng chậu hông, dây này chui qua lỗ mẻ hông to, qua khe giữa ụ ngồi và mấu chuyển lớn xương đùi chìm sâu vào mặt sau đùi và nằm dưới cơ tháp, đến đỉnh trám khoeo chân thì chia làm 2 nhánh là dây hông khoeo trong (dây chày), và dây hông khoeo ngoài (dây mác chung).

– Rễ L5 chi phối vận động các cơ cẳng chân trước ngoài (gập mu chân và duỗi các ngón chân), chi phối cảm giác một phần sau đùi, mặt sau cẳng chân, hướng đến ngón cái và các ngón gần ngón cái. Rễ S1 chi phối vận động các cơ vùng cẳng chân sau, làm duỗi bàn chân, đảm nhận phản xạ gân gót, chi phối cảm giác phần còn lại sau đùi, mặt sau cẳng chân, bờ ngoài bàn chân, và 2/3 phía ngoài gan chân. 8. Đoạn vận động cột sống.

– Đoạn vận động là một đơn vị cấu trúc và chức năng của cột sống, bao gồm: khoang gian đốt, nửa phần thân đốt sồng trên và đốt sống dưới, dây chằng dọc trước, dây chằng dọc sau, dây chằng vàng, khớp đốt sống và tất cả phần mềm tương ứng

– Đoạn vận động của cột sống hoạt động giống như một cái kẹp giấy mà bản lề chính là khớp đốt sống. ở trạng thái cúi hoặc mang vật nặng, khoang gian đốt hẹp lại làm tăng áp lực nội đĩa đệm. Còn ở trạng thái nằm nghỉ hoặc cột sống ưỡn, khoang gian đốt giãn ra làm giảm áp lực nội đĩa đệm. Năm 1964, Nachemson đã đo áp lực nội đĩa đệm khoang gian đốt L3-L4 ở các tư thế như hình sau:

Như vậy ở tư thế đúng cúi và đặc biệt có xách thêm vật nặng thì áp lực nội đĩa đệm sẽ tăng lên rất nhiều lần, và là tư thế dễ gây đau lưng cấp do sự tăng lên đột ngột của áp lực này có thể gây lồi đĩa đệm.

5

1

vote

Article Rating

Cấu Tạo Và Chức Năng Hệ Thần Kinh Tự Động (Thần Kinh Thực Vật)

Về mặt chức năng, hệ thần kinh có thể chia làm 2 phần:

– Hệ thần kinh động vật: thực hiện chức năng cảm giác và vận động.

– Hệ thần kinh thực vật: thực hiện chức năng điều hòa hoạt động của tất cả các cơ quan nội tạng, mạch máu, tuyến mồ hôi… cũng như sự dinh dưỡng của toàn bộ các cơ quan trong cơ thể kể cả hệ thần kinh, các chức năng này được thực hiện một cách tự động. Vì vậy, hệ thần kinh thực vật còn được gọi là hệ thần kinh tự động. Tuy nhiên, khái niệm tự động không hoàn toàn tuyệt đối vì hệ thần kinh thực vật còn chịu sự chi phối của vỏ não.

Trong thực tế, vỏ não có thể điều khiển một số chức năng của hệ thần kinh tự động.

1. Ðặc điểm cấu tạo của hệ thần kinh tự động

Hệ thần kinh tự động được chia làm 2 phần:

– Trung tâm của hệ giao cảm

Hệ giao cảm có 2 trung tâm: trung tâm cao nằm phía sau vùng dưới đồI; trung tâm thấp nằm ở sừng bên chất xám tủy sống từ đốt ngực 1 đến đốt thắt lưng 3 (T1 – L3).

Các nơron ở sừng bên tủy sống phát ra các sợi gọi là sợi trước hạch, chúng đi đến các hạch giao cảm. Tùy vào vị trí, hạch giao cảm được chia làm 2 loại: Hạch giao cảm cạnh sống: xếp thành chuỗi 2 bên cột sống, gồm có: Hạch cổ trên, hạch cổ giữa, hạch cổ dưới (hay hạch sao), các hạch lưng và bụng. Hạch giao cảm trước cột sống: hạch đám rối dương, hạch mạc treo tràng trên, hạch mạc treo tràng dưới. Từ các hạch này, thân nơron phát ra các sợi đi đến các cơ quan gọi là sợi sau hạch. Riêng đường giao cảm đi đến tuyến thượng thận không có sợi sau hạch. Vì vậy, tuyến thượng thận được xem như một hạch giao cảm lớn.

– Chất trung gian hóa học của hệ giao cảm

Khác nhau giữa 2 sợi trước hạch và sau hạch: (+) Sợi trước hạch: acetylcholin. (+) Sợi sau hạch: chúng tôi nhiên, sợi sau hạch giao cảm đi đến tuyến mồ hôi và mạch máu cơ vân thì chất trung gian hóa học là acetylcholin.

– Receptor của hệ giao cảm

Receptor tiếp nhận norepinephrin của hệ giao cảm được gọi là noradrenergic receptor. Bên cạnh norepinephrin, các receptor này cũng đáp ứng với epinephrin. Tuy nhiên, mức độ và hình thức đáp ứng của các receptor đối với 2 chất này rất khác nhau. Dựa vào mức độ và hình thức đáp ứng đó, người ta chia các receptor này ra làm 2 loại:α noradrenergic receptor, β noradrenergic receptor. Ngoài ra, α còn chia ra α 1 và α 2, β còn chia ra β1 và β 2.

Hình 11.4. Cấu tạo hệ thần kinh tự động

Gồm có: hạch mi, hạch tai, hạch dưới hàm và dưới lưỡi, hạch vòm khẩu cái. Các hạch nằm ngay trong thành các cơ quan: sợi trước hạch đi tới các cơ quan này nằm trong thành phần của dây X và dây chậu, hạch và sợi sau hạch nằm ngay trong các cơ quan ở lồng ngực, ổ bụng và cơ quan sinh dục.

– Chất trung gian hóa học của hệ phó giao cảm: Cả sợi trước hạch và sau hạch đều là Acetylcholin

– Receptor của hệ phó giao cảm: Receptor tiếp nhận acetylcholin của toàn bộ hệ phó giao cảm (cũng như của các sợi trước hạch giao cảm và một số sợi sau hạch giao cảm) được gọi là Cholinergic receptor.

Dựa vào tính chất dược lý, người ta chia các receptor này ra làm 2 loại:

* Muscarinic receptor: chịu tác dụng kích thích của muscarin, một loại độc tố của nấm độc. Muscarinic receptor phân bố chủ yếu ở cơ trơn và mạch máu, chúng bị ức chế bởi atropin.

* Nicotinic receptor: chịu tác dụng kích thích của nicotin nhưng không chịu tác dụng của muscarin. Nicotinic receptor được phân bố ở hạch giao cảm cũng như hạch phó giao cảm và không bị atropin ức chế.

3. Chức năng của hệ thần kinh tự động

Nói chung, tác dụng của 2 hệ giao cảm và phó giao cảm trên các cơ quan là đối ngược nhau. Sự đối ngược đó giúp cho hệ thần kinh tự động điều hòa các hoạt động tinh vi và nhanh chóng hơn.

Ví dụ: dưới tác dụng điều hòa của thần kinh tự động, tần số tim có thể tăng lên 2 lần trong vòng 3-5 giây, huyết áp có thể hạ thấp đến mức gây ra ngất trong vòng 4 – 5 giây.

4. Các thuốc ảnh hưởng lên hệ thần kinh tự động

a. Thuốc ảnh hưởng lên hệ giao cảm

– Thuốc giống giao cảm:Là các chất thuộc nhóm catecholamin:

Adrenalin (epinephrin). Noradrenalin (norepinephrin). Dopamin.

-Thuốc cường giao cảm. Ephedrin: tăng giải phóng norepinephrin. Isoprenalin (Isuprel):

kích thích β. Salbutamol: kích thích β2 ở cơ trơn phế quản. Neosynephrin (phenylephrin):

kích thích α 1.

– Thuốc ức chế giao cảm. Reserpin: giảm dự trữ norepinephrin. Propranolol (Inderal): ức

chế β 1 và β 2. Atenolol (Tenormin): ức chế β1. Prazosin (Minipress): ức chế α 1 .

b. Thuốc ảnh hưởng lên hệ phó giao cảm

-Thuốc cường phó giao cảm: Physostigmin (Eserin). Neostigmin (Prostigmin)

– Thuốc ức chế phó giao cảm: Atropin