Top 20 # Xem Nhiều Nhất Cấu Tạo Của Tế Bào Gốc / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Tạo Cấu Trúc Thận Tí Hon Từ Tế Bào Gốc / 2023

Mới đây, nhóm các nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Sinh học Salk (Mỹ) đã tạo ra được cấu trúc thận 3 chiều từ tế bào gốc của người, mở ra con đường mới cho việc tìm hiểu sự phát triển và các bệnh của thận cũng như khám phá những thuốc mới nhằm vào tế bào thận của người.

Kết quả nghiên cứu này tạo tiền đề cho những nghiên cứu mới về thuốc và phương pháp điều trị cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo

Mùa hè năm ngoái, một số nhà khoa học đã báo cáo việc tạo ra những tiền thân của tế bào thận từ tế bào gốc, nhưng nhóm nghiên cứu của Viện Salk lần đầu tiên đã “bắt” tế bào gốc của người tạo thành cấu trúc tế bào ba chiều giống như cấu trúc có trong thận của người.

“Những nỗ lực để biệt hóa tế bào gốc của người thành tế bào thận mới chỉ đạt được thành công rất hạn chế”, GS Juan Carlos Izpisua Belmonte của Phòng Thí nghiệm Gen thuộc Viện Salk cho biết. “Chúng tôi đã phát triển một phương pháp đơn giản và hiệu quả cho phép biệt hóa tế bào gốc thành cấu trúc 3 chiều có tổ chức tốt của mầm niệu quản, là cấu trúc mà sau này sẽ phát triển thành hệ thống ống góp ở thận”.

Phát hiện của các nhà nghiên cứu đã lần đầu tiên chứng minh rằng có thể biến các tế bào gốc “đa năng” – những tế bào có thể biệt hóa thành nhiều loại tế bào và mô tạo nên cơ thể – thành những tế bào tương tự như tế bào có ở mầm niệu quản, một cấu trúc phát triển sớm của thận, và sau đó biệt hóa tiếp thành cấu trúc ba chiều trong nuôi cấy mô. Các tế bào mầm niệu quản tạo thành giai đoạn đầu của các cơ quan tiết niệu và sinh dục của người trong quá trình phát triển và sau đó hình thành hệ thống ống dẫn nước tiểu ra khỏi thận. Các nghiên cứu đã thực hiện được việc này bằng cả tế bào gốc phôi người và tế bào gốc “đa năng” tạo được từ tế bào da đã được “lập trình lại” để trở về trạng thái tế bào gốc “đa năng”.

Sau khi những tế bào được “lập trình lại” có các đặc tính của tế bào gốc đa năng và có thể biệt hóa thành lớp trung bì, là lớp tế bào mầm ở phôi thai sau này sẽ phát triển thành thận, nhóm nghiên cứu đã sử dụng các yếu tố tăng trưởng cần thiết cho sự phát triển tự nhiên của thận để nuôi cấy cả các tế bào gốc “lập trình lại” và tế bào gốc phôi. Sự phối hợp các yếu tố tăng trưởng này đã “biến” các tế bào trở thành những tế bào tiền thân biểu hiện đặc điểm rõ ràng của tế bào thận chỉ sau 4 ngày.

Sau đó các nhà nghiên cứu đã hướng dẫn những tế bào này biệt hóa thêm nữa thành cấu trúc tương tự như cấu trúc thấy ở mầm niệu quản bằng cách nuôi cấy chúng với tế bào thận lấy từ chuột. Điều này chứng minh rằng tế bào từ chuột có thể cung cấp những “chỉ dẫn” thích hợp cho phép tế bào gốc của người phát triển thành cấu trúc ba chiều của thận.

Việt Nam đang có hàng nghìn bệnh nhân phải chạy thận nhân tạo, chờ ghép thận

Ngoài ra, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm quy trình này trên tế bào gốc “lập trình lại” lấy từ bệnh nhân bị bệnh thận đa nang, một bệnh di truyền khiến thận xuất hiện nhiều nang chứa đầu dịch có thể giảm làm chức năng thận và gây suy thận. Họ thấy rằng phương pháp này có thể tạo ra cấu trúc thận từ tế bào gốc “lập trình lại” của bệnh nhân suy thận.

Do nhiều đặc điểm lâm sàng của bệnh nên cả liệu pháp gen cũng như liệu pháp kháng thể đều không phải là cách tiếp cận khả thi để điều trị thận đa nang. Kỹ thuật của nhóm nghiên cứu của Viện Salk có thể giúp khắc phục trở ngại này và tạo ra một nền tảng đáng tin cậy để nghiên cứu thuốc điều trị bệnh thận đa nang và nhiều bệnh thận khác.

Kết quả nghiên cứu được báo cáo trên tờ Nature Cell Biology ngày 17/11/2013.

Theo Cẩm Tú (Dân trí)

Cấu Tạo Chung Của Tế Bào / 2023

. CẤU TẠO CHUNG CỦA TẾ BÀO

Cấu tạo tế bào không đơn giản như mấy em học đâu nha, càng lên lớp lớn các em càng thấy nó phức tạp hơn nhiều (đến lúc đó nhớ học Hóa cho giỏi hok thuj hok hiểu j đâu ^^). Tế bào có sự khác nhau giữa động vật và thực vật, ngay cả trên cùng cơ thể cũng có sự khác nhau giữa các loại tế bào. Nhưng hấu hết chúng đều có cấu tạo chung như sau:

1. Vách tế bào: chỉ gặp ở các tế bào thực vật, vách tế bào cấu tạo chủ yếu bằng chất xenlulôzơ, còn ở vi khuẩn và nấm vách tế bào cấu tạo chủ yếu bằng các hợp chất hữu cơ phức tạp khác nhau.

2. Màng sinh chất (màng chất tế bào): mỏng, bao xung quanh tế bào , ngăn cách nó với môi trường bên ngoài. Màng này có ở tất cả mọi tế bào. Giúp tế bào thực hiện trao đổi chất

3. Chất tế bào: khối chất nửa lỏng, rất phức tạp, trong đó có nhiều tổ chức gọi là bào quan. Nơi đây thực hiện các hoạt động sống của tế bào

chất nhân ở bên trong với chất tế bào. Nhân gồm nhân con và nhiễm sắc thể

Ngoài ra tế bào còn có những bào quan khác mà lên lớp 8 các em sẽ học. Em nào mún bjk thêm thì xem hình sau nhá:

Lưới nội chất: gồm lưới nội chất có hạt và lưới nội chất không hạt (LNC không hạt là cái màu xanh giống cọng rong biển, ở bên cạnh cái nhân ấy). Chức năng: tổng hợp và vận chuyển các chất

Ribôxôm: nơi tổng hợp prôtêin. Ribôxôm gồm 1 hạt lớn và 1 hạt bé.

Ti thể: Ti thể có chức năng quan trọng trong việc chuyển hóa năng lượng cho tế bào. Có thể nói ti thể là trung tâm hô hấp và trung tâm năng lượng của tế bào. (các em có thể tưởng tượng ti thể như là cục pin vậy, nó cung cấp năng lượng cho tế bào hoạt động)

Bộ máy Golgi: Golgi là tên của nhà bác học Camilo Golgi nhười Ý đã phát hiện ra loài bào quan này vào năm 1898. Chức năng: thu nhận, hoàn thiện, phân phối sản phẩm. Ngoài ra, một s ố chất độc đột nhập vào cơ thể cũng được tích lũy trong thể Golgi để rồi sau đó tống ra ngoài

Trung thể: tham gia vào quá trình phân chia tế bào. Trung thể còn là nơi lắp ráp và tổ chúc các vi ống trong tế bào động vật

Lưu ý: Không phải tế bào nào cũng có nhân. Như tế bào hồng cầu trong máu chúng ta vậy, hay một số vi khuẩn hay khuẩn lam chưa có nhân điển hình mà mới chỉ có chất nhân (phân tử ADN) nằm tập trung ở vùng giữa tế bào và chưa có màng nhân.

II. TẾ BÀO NHÂN NGUYÊN THỦY Ở VI KHUẨN

Tế bào vi khuẩn có kích thước rất nhỏ và cấu tạo hết sức đơn giản: tế bào chỉ lớn khoản 1 -10 micromet (=1/1000 mm), chưa có nhân điển hình, phần nội chất tế bào không phân biệt các bào quan (trừ ribôxôm). Bên ngoài màng sinh chất cũng có vách tế bào và một số có thêm vỏ bọc cứng bên ngoài. Nhiều tế bào vi khuẩn có roi giúp cho sự chuyển động

III. TẾ BÀO NHÂN THỰC Ở ĐỘNG VẬT

Chất tế bào không phải là một tổ chức đồng nhất mà có cấu tạo phức tạp, trong đó có thể phân biệt được các bào quan khác nhau, đặc biệt xem lẫn các bào quan này là một hệ thống các màng và hạt nhỏ, tạo thành mạng lưới nội chất (có 2 loại: mạng lướt nội chất trơn và mạng lưới nội chất có hạt, như tớ nói ở trên)

IV. TẾ BÀO NHÂN THỰC Ở THỰC VẬT

Tế bào có cấu tạo phức tạp và có một số bào quan tương tự ở tế bào thực vật (nhân, ti thể, bộ máy Golgi, ribôxôm, mạng lưới nội chất)

! Điểm phân biệt tế bào động vật và tế bào thực vật

– Tế bào động vật chỉ có màng sinh chất bao ngoài, không bào kém phát triển hoặc không có, có trung tử

– Tế bào thực vật có vách tế bào bên ngoài màng sinh chất, không có trung tử nhưng có một loại bào quan rất quang trọng và đặc trưng là lạp lục (trung tâm của sự quang hợp ở thực vật)

Cấu Tạo Của Tế Bào Prokaryote / 2023

Hầu hết Prokaryotes là sinh vật đơn bào. Một số loài sống thành nhóm, tập đoàn gồm nhiều tế bào giống nhau. Một số khác hình thành những tổ chức đa bào có sự phân công chức năng.

Prokaryotes có nhiều hình dạng khác nhau: hình cầu (cocci), hình que (bacilli), hình phẩy và hình xoắn (helice) bao gồm xoắn khuẩn (Spirilla) và Spirochettes

Kích thước tế bào từ 1-5 m. Tuy nhiên Prokaryotes lớn nhất có hình roi dài 0.5 mm (tế bào Eukaryote 10-100 m).

Hầu hết prokaryotes có vách tế bào bên ngoài màng sinh chất (plasma membrane) và duy trì hình dạng của tế bào bảo vệ tế bào không bi vỡ khi đặt trong môi trường nhược trương và có lysozyme. Tuy nhiên môi trường có áp suất thẩm thấu quá cao, Prokaryote sẽ chết.

Không giống như vách tế bào thực vật được cấu tạo từ cellulose, vách tế bào vi khuẩn có cấu tạo từ peptidoglycan gồm các phân tử polysaccharides liên kết ngang với các phân tử petides ngắn. Thành phần cấu tạo của vách là khác nhau giữa các loài. Ở một số loài, vách tế còn có thêm lipopolysaccharides (carbonhydrate liên kết với lipids) đây là đặc điểm giúp phân biệt vi khuẩn khi nhuộm Gram (Gram stain) với thuốc nhuộm tím tinh thể (crystal violet). Vi khuẩn Gram dương (Gram-positive bacteria) bắt màu sẽ có màu đỏ tía, vách tế bào của loài này phần lớn là peptidoglycan không có lipopolysaccharides. Vi khuẩn Gram âm (Gram-negative bacteria) không bắt màu, vách tế bào có ít peptydoglycan và có thêm lipopolysaccharides.

Phần lớn vi khuẩn gây bênh là vi khuẩn Gram âm bởi vì lypolysaccharides giúp vi khuẩn chóng lại lysozyme có trong tuyến nước bọt và tuyến mũi của người và có khả năng kháng kháng sinh bằng cách ngăn cản đường vào của kháng sinh. Lysozyme tác động trực tiếp lên vách tế bào. Kháng sinh chẳng hạn penicillin ngăn cản sự hình thành liên kết chéo giữa polysaccharides và polypetides. Nhiều vi khuẩn gây bệnh còn có lớp vỏ nhầy bên ngoài vách tế bào gọi là capsule tăng cường khả năng chống đề kháng của tế bào vật chủ và dính cơ chất của chúng. Mặc khác, capsule giúp kết dính các tế bào của vi khuẩn hình thành khuẩn lạc.

Một số loài có khuẩn mao giúp kết dính tế bào vào giá thể, giữ các tế bào dính đủ lâu để truyền DNA trong suốt quá trình tiếp hợp (conjugation).

Ví dụ:Neissenria gonorrhoeae gây bệnh lậu (goorrhoaeae) dùng khuẩn mao bám vào niêm mạc vật chủ.

Hơn phân nửa prokaryotes có khả năng chuyển động định hướng do có roi. Các roi tập trung trên toàn bộ cơ thể hoặc chỉ ở một hoặc hai đầu của tế bào. Có ba cơ chế trong chuyển động của vi khuẩn. Thứ nhất là nhơ roi. Thứ hai là nhờ hai hay nhiều khuẩn mao bên dưới vách tế bào có cấu trúc tương tự như roi. Mỗi sợi có motor gắn vào tế bào. Khi motor quay tế bào chuyển động theo cơ chế xoắn nút chai. Cơ chế này là đặc biệt hiệu quả trong môi trường có độ nhớt cao. Cơ chế thứ ba là một số vi khuẩn có thể tiết ra chất nhầy gây ra chuyển động trượt như khi thiếu khuẩn mao. Trong môi trường đồng nhất Prokaryote chuyển động theo hướng ngẫu nhiên. Trong môi trường không đồng nhất, Prokaryote chuyển động hướng kích thích chẳng hạn như hướng sáng, hướng nguồn thức ăn, tránh chất độc. Một số loài vi khuẩn có chứa một số phân tử nhỏ như hợp chất sắt cho phép chúng phân biệt trên, dưới để định hướng bắt mồi.

6.3 Màng sinh chất

Màng của prokaryotes có cấu trúc khảm lỏng giống như màng của Eukaryotes. Sự gấp nếp của màng tạo nên những màng có chức năng riêng biệt chẳng hạn như thylakoids, mesosome và màng hô hấp (respiration membranes)

Vật chất di truyền của prokaryote là DNA mạch đơn vòng. Những vòng DNA lớn tương tác với proteins hình thành nhiễm sắc thể của Prokaryotes hay giá genes tập trung ở một số khu vực nhỏ trong tế bào gọi là vùng nhân (không có màng nhân). So với Eukaryotes, bộ gene của Prokaryotes nhỏ hơn và đơn giản hơn.

Trong bộ gene của Eukaryotes, DNA mạch thẳng tương tác với các proteins hình thành bộ nhiễm sắc thể đặc trưng cho loài. Trung bình bộ gene của một prokaryote chỉ bằng 1/1000 DNA trong một tế bào Eukaryote.

Ngoài DNA của nhiễm sắc thể, Prokaryotes còn có những vòng DNA nhỏ hơn gọi là plasmids chứa vài genes. Trong hầu hết môi trường, Prokaryotes tồn tại không cần plasmids bởi vì các chức năng quan trọng đều mã hoá trong DNA nhiễm sắc thể. Tuy nhiên, các genes của plasmids có thể giúp prokaryotes sống trong môi trường có kháng sinh, các chất dinh dưỡng lạ. Plasmid nhân đôi độc lập với nhiễm sắc thể và chuyển cho tế bào khác giới khi tiếp hợp (conjugation).

Cấu Tạo Của Tế Bào Vi Khuẩn / 2023

Khác với các thành viên của protista lớp trên có nhân thật như tế bào động vật và thực vật, vi khuẩn có tế bào nhân sơ, nhân chỉ có một nhiễm sắc thể, không có màng nhân, không có ti lạp thể, không có bộ máy phân bào nhưng các tế bào lại phức tạp hơn.

1. Vách tế bào

Sự hiện diện của vách tế bào ở vi khuẩn được phát hiện bằng hiện tượng ly tương, bằng cách nhuộm và bằng phân lập trực tiếp.

Tác dụng cơ học như siêu âm phối hợp với ly tâm cho phép thu hoạch vách tế bào ròng, tách rời khỏi nguyên tương.

1.1. Vách tế bào vi khuẩn gram dương

Kính hiển vi điện tử cho thấy vách tế bào dày từ 15 đến 50 nm. Thành phần chủ yếu là mucopeptit gọi là murein, một chất trùng hợp mà những đơn vị hoá học là những đường amin. N-acetyl glucosamin và axít N-acetyl muramic và những chuỗi peptit ngắn chứa alanin, axít glutamic và axít diaminopimelic hoặc lysin. Ngoài ra vách tế bào của một số vi khuẩn gram dương còn chứa axít teichoic. Ở một vài lọai vi khuẩn, axít teichoic chiếm tới 30% trọng lượng khô của vách tế bào.

1.2. Vách tế bào vi khuẩn Gram âm gồm ba lớp

Lớp mucopeptit mỏng hơn khỏang 10nm và hai lớp lipoprotein và lipopolysaccharide ở bên ngoài, lớp lipoprotein chứa tất cả những axít amin thông thường. Không có axít teichoic, vách tế bào vi khuẩn gram âm chứa một lượng lipit đáng kể, khoảng 20 % trọng lượng khô của vách tế bào.

1.3. Chức năng của vách tế bào

Vách tế bào vi khuẩn có nhiều chức năng:

– Duy trì hình thể của vi khuẩn: Vách cứng tạo nên bộ khung, làm cho vi khuẩn có hình thể nhất định .

– Quyết định tính bắt màu gram của vi khuẩn: Sự bắt màu gram khác nhau ở vi khuẩn gram dương và gram âm là do tính thẩm thấu khác nhau đối với cồn của hai nhóm vi khuẩn đó. Nếu dùng lysozym biến đổi vi khuẩn gram dương thành protoplast không có vách thì protoplast lại bắt màu gram âm.

– Tạo nên kháng nguyên thân O của vi khuẩn đường ruột: Để điều chế kháng nguyên O của vi khuẩn đường ruột xử lý vi khuẩn không di động bằng nhiệt và cồn.

– Tạo nên nội độc tố của vi khuẩn đường ruột. Nội độc tố chỉ được giải tỏa lúc vi khuẩn bị li giải. Ở vi khuẩn đường ruột, nội độc tố là những phức hợp lipopoly-saccarit dẫn xuất từ vách tế bào.

2. Màng nguyên tương

Là màng bán thấm dày khoảng 10nm nằm sát vách tế bào. Người ta có thể chứng minh sự hiện diện của nó bằng hiện tượng ly tương hoặc nhuộm với xanh Victoria 4R. Nó chứa 60-70% lipit, 20-30% protein và một lượng nhỏ hydrat cacbon. Màng nguyên tương có chức năng rào cản thẩm thấu của tế bào, ngăn cản không cho nhiều phẩm vật vào bên trong tế bào nhưng lại xúc tác việc chuyên chở họat động của nhiều phẩm vật khác vào bên trong tế bào. Hơn nữa màng tế bào chứa nhiều hệ thống enzyme và vì vậy có chức năng giống như ti lạp thể của động vật và thực vật. Màng nguyên tương cho thấy những chỗ lõm vào gọi là mạc thể. Ở vi khuẩn Gram dương mạc thể khá phát triển cho thấy hình ảnh nhiều lá đồng tâm. Ở vi khuẩn Gram âm mạc thể chỉ là vết nhăn đơn giản.

3. Nguyên tương

Là cấu trúc được bao bọc bên ngoài bởi màng nguyên tương, ở trạng tháí gel, cấu trúc này gồm 80% nước, các protein có tính chất enzyme, cacbohydrat, lipid và các ion vô cơ ở nồng độ cao, và các hợp chát có trọng lượng phân tử thấp. Nguyên tương chứa dày đặc những hạt hình cầu đường kính 18nm gọi là ribôsôm. Ngoài ra còn có thể tìm thấy những hạt dự trữ glycogen, granulosa hoặc polymetaphotphat.

4. Nhân tế bào

Có thể thấy với kính hiển vi ánh sáng sau khi nhuộm hoặc soi trực tiếp ở kính hiển vi pha tương phản. Nhân có thể hình cầu, hình que, hình quả tạ hoặc hình chữ V. Khảo sát ở kính hiển vi điện tử nhân không có màng nhân và bộ máy phân bào. Nó là một sợi DNA trọng lượng phân tử 3×109 dallon và chứa một nhiễm sắc thể duy nhất dài khoảng 1mm nếu không xoắn. Nhân nối liền ở một đầu với thể mạc. Sự nối liền này giữ một vai trò chủ yếu trong sự tách rời 2 nhiễm sắc thể con sau khi sợi nhiễm sắc thể mẹ tách đôi. Trong sự phân chia nhân hai mạc thể qua chổ nối liền với màng nguyên tương di chuyển theo những hướng đối nghịch theo hai nhóm con nối liền với chúng. Như thế màng nguyên tương tự động như một bộ máy thô sơ của sự gián phân với mạc thể đảm nhận vai trò thai vô sắc.

5. Lông của vi khuẩn

Lông chịu trách nhiệm về tính di động của vi khuẩn. Người ta quan sát sự di động của vi khuẩn ở kính hiển vi nhìn ơ giọt treo hoặc đặt một giọt vi khuẩn ở lam kính và phủ một lá kính mỏng. Lông dài 3-12 mm hình sợi gợn sóng, mảnh 10- 20nm ) nên phải nhuộm với axít tannic đê tạo thành một lớp kết tủa làm dày lông dễ phát hiện. Lông phát xuất từ thể đáy ngay bên dưới màng nguyên tương và có chuyển động xoay tròn. Bản chất protein nó tạo nên do sự tập hợp những đơn vị phụ gọi là flagellin tạo thành một cấu trúc hình trụ rỗng. Cách thức mọc lông là một đặc tính di truyền. Ở một số loại nhiều lông mọc quanh thân, ở một số lọai một lông mọc ở cực và ở một số loại khác một chùm lông ở một cực. Nếu lông bị làm mất đi bằng cơ học thì lông mới được tạo thành nhanh chóng. Lông đóng vai trò kháng nguyên như kháng nguyên H ở vi khuẩn đường ruột.

6. Pili

Là những phụ bộ hình sợi, mềm mại hơn lông, mảnh hơn nhiều và có xu hướng thẳng đường kính 2-3 nm và dài từ 0,3-1nm, tìm thấy từ một đến hằng trăm ở mặt ngoài vi khuẩn, bản chất protein. Pili phát xuất ở trong màng nguyên tương và xuyên qua vách tế bào. Pili được tìm thấy ở vi khuẩn gram âm nhưng cũng có thể tìm thấy ở một số vi khuẩn gram dương. Pili F có nhiệm vụ trong sự tiếp hợp. Những pili khác giúp cho vi khuẩn bám vào niêm mạc hoặc bề mặt khác của tế bào.

7. Vỏ của vi khuẩn

Vỏ là một cấu trúc nhầy bọc quanh vách tế bào của một số vi khuẩn, thường là polysaccharide, chỉ có vỏ của B.anthracis là một polypeptide acid D-glutamic. Vỏ có thể phát hiện dễ dàng ở huyền dịch mực tàu, ở đó nó hiện ra như một vùng sáng giữa môi trường mờ đục và tế bào vi khuẩn trông rõ hơn. Cũng có thể phát hiện bằng phản ứng phình vỏ hoặc bằng kỹ thuật nhuộm đặc biệt. Sự đột biến tạo thành vỏ rất dể nhận biết vì tế bào có vỏ tạo nên khuẩn lạc bóng láng hoặc nhầy M trong khi tế bào không vỏ tạo nên khuẩn lạc xù xì R. Nhiệm vụ duy nhất được biết của vỏ là bảo vệ vi khuẩn chống thực bào và chống virut muốn gắn vào vách tế bào .

8. Nha bào

Những thành viên của Bacillus, Clostridium và Sporosarcina tạo thành nội nha bào dưới ảnh hưởng của môi trường bên ngoài không thuận lợi, mỗi tế bào làm phát sinh một nha bào. Nha bào có thể nằm ở giữa, ở đầu nút hoặc gần đầu nút tùy theo loài, vách nha bào chứa những thành phần mucopeptide và axít dipicolinic. Sự dề kháng của nha bào với hóa chất độc là do tính không thẩm thấu của vách nha bào, sự đề kháng với nhiệt liên hệ đến trạng thái mất nước cao. Vì chịu đựng với điều kiện không thụân lợi bên ngoài nha bào góp phần quan trọng trong khả năng lây bệnh của trực khuẩn hiếu khí tạo nha bào như trực khuẩn than hoặc trực khuẩn kỵ khí tạo nha bào như Clostridia, nhất là trực khuẩn uốn ván, hoại thư, sinh hơi, ngộ độc thịt.