【#1】Tìm Hiểu Về Cấu Tạo Của Tai Trẻ

Viêm tai giữa là một bệnh thường gặp ở trẻ. Để hiểu được vì sao trẻ bị viêm tai giữa và biết cách điều trị tốt nhất, việc đầu tiên là cha mẹ cần biết cầu tại của tai như thế nào?

Tai là bộ phận được chia ra làm 3 phần, đó là tai ngoài, tai giữa và tai trong

1. Phần tai ngoài:

Đây là phần tai bao gồm vành tai và ống tai ngoài, là phần ta dễ dàng nhìn thấy nhất.

2. Phần tai giữa:

Đây là phần gồm màng tai và một hốc xương gọi là hòm tai. Màng tai chính là màng nhĩ, là một màng mỏng hình bầu dục, lõm ở giữa. Phần màng tai có lớp xơ ở giữa khá chắc, nhưng lại rất dễ bị phá hủy và gây thủng khi có viêm nhiễm hoặc ứ đọng dịch trong tai giữa.

Màng tai cũng dễ bị rách thủng khi có các chấn thương. Tai giữa có vai trò rất quan trọng trong cơ chế sinh lý nghe, nhất là hệ thống màng nhĩ – xương con. Bất kỳ một trục trặc nào trong màng tai này như thủng màng nhĩ, cứng khớp giữa các xương con, tiêu hỏng 1 trong các xương con, sẽ đều gây nên gián đoạn sự dẫn truyền sóng âm vào tai trong, nặng nhất sẽ dẫn đến điếc.

3. Phần tai trong:

Đây chính là đầu mối thần kinh tiếp nhận các tín hiệu âm thanh truyền qua dây thần kinh thính giác lên não. Bởi điều này người ta mới nghe được. Phần tai này nằm trong một hốc xương có hình xoắn 2 nên được gọi là ốc tai.

Ở trẻ em thường bị mắc bệnh viêm tai giữa. nguyên nhân thường do viêm cấp do nhiễm trùng hoặc ứ đọng dịch trong hòm tai mà thành.

Ở trẻ em, bộ phận vòi nhĩ nối hòm tai và họng mũi thường ngắn hơn, khẩu kính lai lớn hơn ở người lớn nên vi khuẩn và các chất xuất tiết ở mũi họng rất dễ lan lên tai giữa. Nếu như em bé nằm ngửa thì tai sẽ ở vị trí thấp hơn mũi họng. Lúc trẻ khóc, vòi nhĩ sẽ mở rộng thêm làm cho các chất xuất tiết ở mũi họng theo đó chảy vào hòm tai. Nặng nhất chính là những biến chứng nhiễm trùng và có thể ảnh hưởng đến tính mạng của trẻ. Viêm tai giữa cấp có thể dẫn đến những biến chứng sọ não nguy hiểm ảnh hưởng đến sinh hoạt của trẻ như viêm màng não, áp xe não do tai, viêm tắc tĩnh mạch bên do nguyên nhân là viêm nhiễm lan từ trần hòm tai lên não hoặc gây liệt dây thần kinh mặt (dây số VII). Do đó nếu như phát hiện trẻ bị viêm tai giữa thì cha mẹ cần đưa trẻ đến ngay các cơ sở y tế để kịp thời điều trị.

Bài viết được thành viên sưu tầm và đăng tại:

chúng tôi – Trang web chia sẻ kinh nghiệm về sức khỏe và làm đẹp.

【#2】Thiết Kế Của Tai Nghe Ra Sao Và Cấu Tạo Của Tai Người

Tai nghe tuy có nhiều hình dạng và thiết kế, từ tai nghe không dayđến có dây truyền thống nhưng hầu như chỉ có năm loại chính, được phân biệt bởi kích cỡ và hình dạng của phần gắn tai, cùng với cách chúng tương thích và truyền tải âm thanh vào tai bạn. Các cách phân biệt tai nghe khác bao gồm nguyên lý âm học (sealed, opened, giảm ồn), hay các loại driver âm học chúng sử dụng (dynamic, planar-magnetic, electrostatic, vv.). Ta chưa cần đề cập đến phân loại driver hay các loại chống ồn, trước hết chúng ta cần đề cập đến một vấn đề đơn giản hơn. Phân biệt giữa tai nghe Opened (mở) và Sealed (đóng).

Tìm hiểu thêm : Tai nghe Bluetooth Jabra Motion

Tai nghe mở (Opened) cho phép âm thanh thoát ra từ phía sau driver hoặc thông qua miếng che tai (earpad), trong khi tai nghe đóng (Sealed/Closed) có miếng che tai bị kín phía sau driver hoặc có vành che xung quanh tai. Tai nghe mở không bị ảnh hưởng bởi cộng hưởng âm học trong phần khí phía sau driver hay phần khí giữa driver và đầu như ở tai nghe đóng, tuy nhiên chúng cũng không ngăn được các tạp âm từ bên ngoài. Tai nghe mở thường có âm thanh thoáng và rộng hơn, nhưng vì nó bị pha cả tạp âm nữa nên những nơi lí tưởng bạn có thể nghe hầu như chỉ là ở nhà hay trong phòng làm việc. Tai nghe ko dây đóng có xu hướng “kín đáo” hơn, tuy nhiên do âm thanh được cách biệt tốt với bên ngoài nên ta vẫn có thể dùng ở những nơi ồn ào. Trong đa số các trường hợp đề cập bên dưới đều có sự so sánh giữa tai nghe mở và đóng.

Tai nghe Circum-aural không chạm vào tai do đó thường mang lại tính tiện nghi cao nhất. Tai nghe Supra-aural thì lại được đặt trên tai nên mức độ tiện nghi và kín âm sẽ thay đổi tùy thuộc vào hình dạng tai người sử dụng. Tai nghe in-ear lại rất nhỏ và có nhiều loại đầu mút (tip) thường được đi kèm để người dùng có thể lựa chọn những yếu tố đó một cách ưng ý nhất.

Mỗi người có một hình dáng, cấu tạo và đặc trưng cơ thể khác nhau. Bởi vậy thiết bị tai nghe không dây này có thể thoải mái, phù hợp với người này nhưng chưa chắc đã thích hợp với người kia. Nói chung, tai nghe càng nhỏ càng dễ phát sinh các vấn đề về độ tiện lợi và tiện dụng.

Tags: cách sử dụng tai nghe bluetooth

【#3】Cấu Tạo Của Tai Người

Tai hay hệ thống tiền đình ốc tai là một cơ quan phức tạp, ngoài nhiệm vụ nhận cảm giác âm thanh (phần ốc tai), còn giúp điều chỉnh thăng bằng cho cơ thể (phần tiền đình). Về cấu tạo giải phẫu, tai gồm có 3 phần: tai ngoài, tai giữa và tai trong.

Tai ngoài

Gồm có vành tai và ống tai ngoài, đi từ vành tai tới màng nhĩ, có nhiệm vụ thu nhận và dẫn truyền âm thanh.

  • Vành tai (loa tai): bao gồm sụn và có lớp da phủ bên ngoài, có ít mạch máu và lớp mỡ bảo vệ. Các đường cong và xoắn của vành tai giúp nhận và hứng âm thanh (năng lượng âm) từ mọi phía vào ống tai.

  • Ống tai: là một ống hơi cong hình chữ S, nối từ vành tai tới màng nhĩ. Ở người lớn, ống tai có xu hướng hướng lên, sau đó hơi nghiêng về phía trước và càng hướng xuống khi tới gần màng nhĩ. Phần phía ngoài của ống tai có chứa các sợi lông nhỏ và các tuyến nhờn tạo ráy tai. Mỗi khi có ráy tai, các sợi lông chuyển động nhẹ nhàng đẩy ráy tai khô và da bong ra cửa tai. Đây là cơ chế tự làm sạch tự nhiên của ống tai.

Trong hệ thống của tai, tai ngoài là bộ phận dễ thấy nhất, nhô ra 2 bên đầu người và cũng là bộ phận duy nhất nằm ngoài xương thái dương của sọ. Các bộ phận phức tạp hơn của tai lại nằm ẩn sâu trong các khoang sọ.

Tai giữa

Cấu tạo tai giữa bao gồm màng nhĩ, hòm nhĩ, vòi nhĩ và các xương con bao gồm xương búa, xương đe, và xương bàn đạp.

  • Màng nhĩ: là một màng mỏng hình bầu dục, hơi lõm ở giữa, nằm hơi nghiêng ra sau, ngăn cách hoàn toàn ống tai ngoài và tai giữa. Màng nhĩ bình thường có màu trong mờ, trắng sáng hay hơi xám. Thường, chúng ta có thể nhìn xuyên qua màng nhĩ.

  • Hòm nhĩ: là một hốc xương gồ ghề nằm trong xương thái dương. Phía trước thông mũi họng, phía sau thông với xoang chũm, bên trong thông với tai trong.

Trong hòm nhĩ có các chuỗi xương thính giác bao gồm xương búa, xương đe, và xương bàn đạp. Ba xương này có nhiệm vụ dẫn truyền xung động âm thanh từ màng nhĩ vào tai trong.

    Vòi nhĩ (vòi Eustache): có cấu tạo 1/3 phía trên bởi xương, ⅔ phía dưới bởi sụn. Bình thường vòi nhĩ đóng kín, chỉ mở ra khi nuốt hoặc ngáp để cân bằng áp suất trong hòm nhĩ. Tác dụng của vòi nhĩ là làm cân bằng áp lực của hòm tai với tai ngoài.

Tai trong

Cấu tạo tai trong bao gồm:

  • Ốc tai: có hình dạng là một ống xương xoắn hai vòng rưỡi quay trụ ốc, bên trong trụ ốc có hạch thần kinh ốc tai. Trong ốc tai có chứa nhiều chất dịch. Khi chuỗi xương con đưa âm thanh đến cửa sổ bầu dục, chất dịch này bắt đầu chuyển động, kích thích các tế bào lông trong ốc tai gửi các xung điện thông qua các dây thần kinh thính giác đến não bộ, nơi mà ta nhận biết được âm thanh.

  • Tiền đình: là khoang hình bầu dục, ở giữa phình rộng là nơi chứa túi nhỏ và túi bầu dục của tai trong màng. Phía sau tiền đình thông với 3 khoang của ống bán khuyên theo ba chiều ngang, trên, sau.

  • Các ống bán khuyên: Mỗi tai có 3 ống bán khuyên: bên, trước và sau, nằm thẳng góc với nhau. Các ống đều thông hai đầu với tiền đình và có tác dụng giữ thăng bằng, nhận biết ra sự di chuyển và mức độ thăng bằng.

【#4】Tài Liệu Cấu Tạo Của Bộ Nhị Của Hoa

Cấu tạo của bộ nhị của hoa Tất cả các nhị trong hoa hình thành nên bộ nhị, bộ nhị của hoa thực vật hạt kín có cấu tạo rất phức tạp, người ta phân biệt các kiểu bộ nhị chính sau đây: – Bộ nhị tự do: các nhị nằm hoàn toàn rời nhau và chỉ dính với nhau ở đế hoa (hoa hồng, hoa sen…) – Bộ nhị đơn thể: các chỉ nhị dính với nhau thành 1 bó hoặc 1 mạng (hoa Dâm bụt). – Bộ nhị đa thể: các chỉ nhị dính với nhau thành nhiều bó (hoa Gạo và hoa Bưởi) – Bộ nhị lưỡng thể: là kiểu bộ nhị có các chỉ nhị dính với nhau thành 2 bó hoặc 1 bó với 1 nhị tự do (hoa các cây họ Đậu). – Bộ nhị liền bao: là kiểu bộ nhị có các chỉ nhị tách rời nhau, nhưng các bao phấn dính lại với nhau (thường gặp ở các cây họ Cúc). Ở một số hoa, trong bộ nhị có những nhị mang bao phấn bị teo đi gọi là nhị lép hay nhị bất thụ. Nhị lép có thể giữ nguyên hình dạng hoặc tiêu giảm bao phấn, còn chỉ nhị thì biến đổi thành tuyến mật; đôi khi nhị lép có thể biến đối thành những bản phiến dạng cánh giống như cánh hoa (thường gặp ở họ Chuối hoa – Cannaceae). 1.2.5. Bộ nhụy (Gynoeceum – G) Bộ nhụy là bộ phận sinh sản cái của hoa, thường nằm ở chính giữa của hoa do các lá noãn (tâm bì) hình thành. Khác với nhóm thực vật hạt trần, các lá noãn ở thực vật hạt kín đã khép kín hai mép lại với nhau, chỗ dính đó làm thành đường giá noãn và đường đối diện gọi là đường lưng. Cấu tạo của một nhụy bao gồm: phần phình to ở phía dưới là bầu nhụy bên trong có chứa noãn, phần hẹp hình ống ở phía trên gọi là vòi nhụy và tận cùng gọi là đầu nhụy hay núm nhụy hơi loe rộng hoặc có dạng hình đĩa. Ở các họ nguyên thủy, bộ nhụy thường gồm nhiều lá noãn rời nhau hoàn toàn, tạo thành bộ nhụy rời và có nhiều nhụy (Hoa hồng, Mãng cầu, Ngọc lan…). Ở các họ tiến hóa hơn, số lượng lá noãn giảm đi và thường dính lại với nhau ở nhiều mức độ, tạo thành bộ nhụy hợp, có một nhụy Bộ nhụy có một nhụy có thể do 1 lá noãn làm thành (các cây họ Đậu), cũng có thể do nhiều lá noãn dính với nhau, tùy theo mức độ dính với nhau có thể có các kiểu bộ nhụy sau đây: – Bộ nhụy dính với nhau ở phần bầu, nhưng vòi và núm nhụy tự do: hoa Cẩm chướng. – Bộ nhụy dính với nhau ở phần đầu và phần vòi nhưng núm nhụy tự do: Dâm bụt. – Bộ nhụy dính với nhau hoàn toàn: cây họ Cà, họ Cam. 96 – Bộ nhụy dính với nhau phần vòi và núm nhưng bầu tự do: cây Dừa cạn. Số lượng lá noãn hình thành nên bộ nhụy thường là 3 ở các cây thực vật 1 lá mầm; 5,4 hoặc là 2 ở các cây thực vật 2 lá mầm hoặc có khi chỉ là một đối với các cây họ Đậu. a. Đầu nhụy: Đầu nhụy là bộ phận chuyên hóa của lá noãn, là nơi tiếp nhận hạt phấn, bề mặt của đầu nhụy thường được phủ bởi một mô dẫn dắt, ’74iếp liền vào trong rãnh của vòi nhụy. Mô dẫn dắt do tế bào biểu bì và lớp dưới của các tế bào biểu bì lớn lên tạo thành, tế bào của chúng tương đối to, có màng mỏng và có nhiều chất tế bào. Chúng thực hiện vai trò tiết và có nhiệm vụ tạo môi trường thuận lợi cho sự nảy mầm của hạt phấn và sự phát triển của ống phấn ở đầu nhụy. b. Vòi nhụy: Vòi nhụy là một ống rỗng hoặc đặc, có thể dài hoặc ngắn khác nhau, làm cho đường đi của hạt phấn có thể khác nhau. Phía trong vòi có thể rỗng, tạo thành một rãnh, thành của rãnh thường do một lớp tế bào biểu bì hay do một lớp tế bào mô dẫn dắt chuyên hóa, mà một phần là do mô dẫn dắt của đầu nhụy tiếp tục đi vào. Nếu phía trong vòi đặc không tạo thành rãnh, thì trong đó chứa đầy mô dẫn dắt. Khi nhụy chín, đầu nhụy mở ra tiếp nhận hạt phấn, mô dẫn dắt ở đầu và vòi nhụy sẽ dung giải thành chất nước nhầy, tạo môi trường thuận lợi đưa hạt phấn từ đầu qua vòi và vào tới bầu nhụy. c. Bầu nhụy: Bầu nhụy được xem là phần chính của nhụy bên trong có chứa noãn. Bầu nhụy thường có nhiều hình dạng khác nhau: hình cầu, hình trái xoan, hình trụ dài, thuôn thẳng hoặc cong… bên ngoài của bầu thường nhẵn hoặc có khía, có gai mềm hoặc có lông. Khi cắt ngang bầu, ta thấy phía ngoài là vách bầu và phía trong là khoang bầu. Vách bầu được bao bọc ở cả mặt trong và mặt ngoài bởi 2 lớp biểu bì, lỗ khí có thể có cả biểu bì trong và biểu bì ngoài, ở mặt ngoài bầu có thể có tầng cutin. Giữa 2 lớp biểu bì của vách bầu là lớp mô mềm xốp, gồm các tế bào tương đối nhỏ, màng mỏng và nhân to. Các tế bào biểu bì và thịt của vách bầu đều có chứa lạp lục, ở vách bầu cũng có một số bó dẫn. Khoang bầu là nơi chứa noãn, khoang bầu có thể là một ô hoặc có thể có nhiều ô, nếu vách bầu có những phần đi sâu vào trong khoang thì sẽ chia khoang bầu thành ra một số ô, những phần vách đó chính là những phần vách ngăn giữa các lá noãn (tức là mỗi lá noãn khi dính nhau tạo thành một ô kín riêng biệt) và như vậy số ô của bầu tương ứng với số lá noãn. Nếu vách bầu không có phần ăn sâu vào khoang bầu, nghĩa là các lá noãn chỉ dính với nhau ở mép và tạo ra một khoang chung của bầu thì bầu chỉ có một ô. Còn nếu vách ngăn giữa các lá noãn tiêu biến đi, nhưng ở giữa bầu vẫn còn một trụ do các mép lá noãn 97 Vị trí của bầu ở trong hoa: căn cứ vào vị trí tương đối của bầu so với đế hoa và các mảnh bao hoa người ta có thể chia thành các vị trí tương đối sau đây: – Bầu trên (Bầu thượng): bầu nằm trên đế hoa, không dính với các mảnh bao hoa, kiểu này kém tiến hóa nhất ( hoa Đậu, Cam, Cà…). – Bầu dưới (Bầu hạ): bầu nằm chìm trong đế hoa, dính liền với đế hoa, các bộ phận khác nhau của hoa nằm trên đế hoa, do đó ở mức cao hơn so với bầu. Kiểu này tiến hóa hơn vì noãn ở bên trong được bảo vệ tốt hơn (Ổi, Sim, Bầu bí…). – Bầu giữa (bầu trung): bầu chỉ dính với đế hoa ở phần dưới, còn phần trên vẫn tự do (Hoa Mua , Bạch đàn…). + Cấu tạo của Noãn: noãn là một khối đa bào, có hình trứng đôi khi có dạng hình cầu hoặc hình thận. Mỗi noãn thường gồm có 2 phần: phần cuống noãn là nơi

【#5】Câu 1: Hệ Thống Nhiên Liệu Xe Máy Có Bơm Xăng Không? Tại Sao Cấu Tạo Như Thế Mà Hệ Thống Vẫn Làm Việc Được? Câu 2: Trình Bày Nguyên Lí Làm Việc Của Bộ Chế Hòa

Câu 1 : Hệ thống nhiên liệu xe máy có bơm xăng không? Tại sao cấu tạo như thế mà hệ thống vẫn làm việc được ?Hệ thống nhiên liệu động cơ xe máy không có bơm xăng. Hệ thống vẫn làm việc được vì thùng xăng được đặt cao hơn bộ chế hòa khí nên xăng tự chảy vào bộ chế hòa khí.Câu 2 : Trình bày nguyên lí làm việc của bộ chế hòa khí đơn giản ? – Nguyên lý hoạt động của bộ chế hoà khí được thể hiện trên hình. Nó bao gồm một buồng chứa xăng thường gọi là buồng phao, các đường dẫn xăng và các đường dẫn khí, họng khuyếch tán và các van điều khiển (bướm ga, bướm khí).

​- Bộ phận cơ bản của bộ chế hoà khí là họng khuyếch tỏn (còn gọi là buồng hoà khí), nó cấu tạo như một đoạn ống bị thắt lại ở đoạn giữa (venturi). Chính ở đoạn này người ta bố trí ống phun của đường xăng chính.

​​- Khi động cơ hoạt động, (bướm ga và bướm khí đều mở) không khí bị hút vào từ phía trên, đi qua họng khuyếch tán. Tại đây, do tiết diện lưu thông bị thu hẹp lại, tốc độ của dòng khí tăng lên làm áp suất giảm xuống tạo độ chân không hút nhiên liệu từ trong buồng phao qua đường xăng chính và phun ra dưới dạng tia. Như vậy, xăng bị phun vào dòng khí có tốc độ cao, hoà trộn với không khí và bay hơi để tạo thành hỗn hợp khí cháy.

​Tuy nhiên, do thời gian tạo hỗn hợp ở đây quá ngắn nên vẫn còn một lượng xăng nhất định chưa kịp bay hơi. Để tạo được hỗn hợp khí cháy hoàn chỉnh thì cần phải tạo điều kiện tốt để lượng xăng còn lại này bay hơi nốt trước khi bugi phát tia lửa điện (sử dụng xăng dễ bay hơi, xấy nóng xăng và khí nạp, tạo mặt thoáng và áp suất thấp trên đường ống hút để các giọt nhiên liệu bay hơi nốt, …). Để tăng hơn nữa độ chân không trong buồng hoà khí, người ta sử dụng các bộ chế hoà khí có 2 hoặc 3 ống khuyếch tán đặt nối tiếp nhau.

​- Lượng khí được hút qua carburetor phụ thuộc vào độ mở của bướm ga: bướm ga mở càng lớn thì lượng khí đi qua càng nhiều, nghĩa là tốc độ dòng khí ở họng khuyếch tán càng tăng và lượng xăng bị hút vào càng lớn. Như vậy, bướm ga cho phép điều khiển hoạt động của động cơ ở các chế độ tải khác nhau tuỳ theo điều kiện làm việc. Việc điều khiển bướm ga được thực hiện nhờ một bàn đạp bố trí trong ca bin ôtô, thường được gọi là bàn đạp ga.

​- Để bộ chế hoà khí có thể hoạt động bình thường ở mọi chế độ làm việc của động cơ, người ta khống chế mức xăng trong buồng phao luôn luôn không đổi nhờ một cơ cấu đóng mở tự động. Cơ cấu bao gồm một quả phao và một van đặt trên đường cấp xăng. Quả phao được gắn với vỏ của buồng phao bằng một khớp bản lề, sao cho nó có thể di chuyển lên xuống dễ dàng và luôn luôn nổi trên bề mặt xăng. Van có nhiệm vụ đóng, mở để điều khiển việc cấp xăng vào buồng phao. Kim van được gắn trên phao nên nó di chuyển lên, xuống cùng với phao. Khi lượng xăng trong buồng tăng thì phao nổi lên, kim van đi lên rồi đóng chặt lỗ van khi mức xăng đạt giá trị định mức. Khi mức xăng trong buồng giảm xuống thì phao đi xuống theo, kim van mở ra và xăng lại tiếp tục được cấp vào trong buồng.

​- Đối với bộ chế hoà khí, áp suất trên mặt thoáng của buồng phao đóng vai trò rất quan trọng, bởi vì lượng xăng mà nó cấp cho động cơ hoàn toàn phụ thuộc vào độ chênh áp giữa họng khuyếch tán và mặt thoáng buồng phao. Người ta phân biệt 2 dạng buồng phao: buồng phao cân bằng và buồng phao không cân bằng. Buồng phao cõn bằng có mặt thoáng được nối thông với khí trời, do vậy áp suất trong buồng phao luôn luôn bằng áp suất khí trời. Nó có nhược điểm là khi bầu lọc không khí bị tắc thì độ chân không trong họng hút tăng lên đáng kể, trong khi đó áp suất mặt thoáng buồng phao vẫn không đổi, do vậy lượng xăng bị hút vào sẽ vượt quá mức cần thiết. Buồng phao khụng cõn bằng có mặt thoáng được nối với ống hút, nằm ngay phía trên bướm khí, nhờ vậy mà khi độ chân không ở phía trước bộ chế hoà khí bị thay đổi (tắc lọc khí) thì áp suất mặt thoáng cũng thay đổi theo, do đó lượng nhiên liệu được hút vào vẫn không thay đổi.

– Bướm khí dùng để thay đổi độ chân không trong buồng hoà khí, nó thường chỉ được sử dụng khi khởi động động cơ ở trạng thái nguội (xem phần chế độ khởi động của chế hoà khí). Bướm khí thường được điều khiển bằng dây cáp từ trong ca bin ôtô.Hơi dài nha !Câu 3 : So với hệ thống nhiên liệu đùng bộ chế hòa khi,hệ thống nhiên liệu phun xăng có nhứng ưu điểm nổi bật gì ? Ưu điểm :

Suất tiêu hao nhiên liệu nhỏ hơn vì đảm bảo chính xác hệ số thừa không khí α, tối ưu đối với mọi chế độ hoạt động của động cơ, đều nhau trong các xi lanh.

Công suất lít cao hơn với hệ số nạp lớn hơn: luôn đảm bảo góc đánh lửa và thành phần hòa khí tối ưu.

Ở các chế độ chuyển tiếp động cơ hoạt động tốt hơn, đảm bảo chạy không tải ổn định hơn.

Khí thải ít độc hơn vì thành phần hòa khí được đảm bảo chính xác tối ưu đối với mọi chế độ hoạt động, chất lượng cháy tốt hơn kết hợp với xử lý khí thải trên đường thải.

Hoạt động tốt trong mọi mọi điều kiện thời tiết, địa hình hoạt động, không phụ thuộc vào tư thế của xe.

Có khả năng sử dụng các hệ thống và thiết bị tự chẩn đoán.

Nhược điểm :

Cấu tạo phức tạp, có yêu cầu khắt khe về chất lượng lọc sạch nhiên liệu và không khí. Bảo dưỡng sửa chữa cần có trình độ chuyên môn cao.

Giá thành cao.Chúc bn học tốt !

【#6】Cấu Tạo Và Vai Trò Của Băng Tải Xích

Băng tải xích có vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp và được ứng dụng rộng rãi vào trong các nhà máy, kho xưởng. Hơn nữa nó có nhiệm vụ di chuyển các vật thể có kích thước lớn, khối lượng nhiều – điều mà con người khó lòng di chuyển nổi hoặc cần một số lượng nhân công rất lớn (tốn chi phí). Các loại băng tải xích công nghiệp thường có kích cỡ, mẫu mã phổ thông và kiểu dáng thiết kế đa dạng, phù hợp với nhiều mục đích sử dụng khác nhau. Chi phí thấp, bảo trì dễ dàng so với các loại băng tải hàng khác là lý do mà băng tải xích được ứng dụng nhiều trong cuộc sống hiện nay. Trong bài viết này Việt Thống Hưng Thịnh xin được chia sẻ một số thông tin về băng tải xích này.

Có trên nhiều loại băng tải được sử dụng rộng rãi tại các nhà máy, kho xưởng hiện nay. Tuy nhiên 2 loại băng tải xích inox và băng tải xích nhựa là được sử dụng nhiều nhất với các tính năng ưu việt hơn so với loại khác.

Nước ta có ngành công nghiệp khai khoáng, sản xuất hàng tiêu dùng rất phát triển. Vì thế mà nhu cầu băng tải xích rất lớn và tăng lên không ngừng trong nhiều năm qua. Các công ty cung cấp băng tải xích thường kiêm nhiệm luôn 3 vấn đề: thiết kế, sản xuất, lắp đặt cho các khách hàng có nhu cầu để đảm bảo sự vận hành trơn tru của máy móc.

  • Được chế tạo bằng inox, chịu sự mài mòn cao, có độ bền cao, chống gỉ tốt nên thường được sử dụng trong các môi trường khác nghiệt.
  • Băng tải có nhiệm vụ di chuyển các vật thể có kích thước lớn, trọng lượng nặng.
  • Kết cấu gồm những tấm thép bắt ngang thường được sử dụng trong các ngành sản xuất tải gỗ, đất, xi măng, đá…
  • Băng tải xích inox còn có loại lưới inox tạo thành băng tải lưới inox có chốt ngang.

  • Có trọng lượng nhẹ, kết cấu đơn giản, nhưng độ thẩm mỹ cao, phù hợp với mọi địa hình như cong, ngang…
  • Băng tải xích nhựa là dòng sản phẩm được sử dụng trong các ngành công nghiệp nhẹ, vận chuyển linh hoạt và đơn giản. Sử dụng dây băng xích nhựa có độ bền cao, khả năng chống mài mòn tốt cũng như chi phí bảo trì thấp.
  • Được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực sản xuất nhưng chủ yếu được dùng trong ngành thực phẩm, đồ uống, bánh kẹo,..đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng của khách hàng.

Vai trò của băng tải xích trong các ngành công nghiệp

  • Ứng dụng trong các ngành công nghiệp lắp ráp và thiết bị điện tử: Ti vi, tủ lạnh, điều hoà, xe đạp điện, xe máy, ô tô,…
  • Di chuyển khung xe ô tô các linh kiện lắp ráp
  • Trong ngành công nghiệp sản xuất các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu (đồ ăn, thức uống).
  • Sản xuất thức ăn cho gia súc, gia cầm (vận chuyển các bao tải thức ăn thành phẩm).
  • Dùng trong ngành công nghiệp khai khoáng (khai thác than, đá, quặng, cát, sỏi,…)
  • Băng tải xích đóng vai trò quan trọng trong công nghiệp sản xuất xi măng, sản xuất phân bón.
  • Áp dung trong di chuyển đồ gỗ

Khi nói đến băng tải xích inox chúng ta không thể không quên linh kiện quan trọng của băng tải xích đó chính là xích băng tải. Xích băng tải đặc trưng bởi một hay nhiều sợi xích trải dài xuyên suốt toàn bộ đường dẫn băng tải. Vật liệu được chuyển tải trực tiếp lên sợi xích hay các thiết kế đặc biệt gắn liền với xích.

Ứng dụng băng tải xích

  • Xích tải có thể làm việc khi quá tải đột ngột, hiệu suất cao hơn, không có hiện tượng trượt.
  • Không đòi hỏi phải căng xích, lực tác dụng lên trục và ổ nhỏ hơn.
  • Kích thước bộ truyền nhỏ hơn bộ truyền đai nếu truyền cùng công suất và số vòng quay.

Sản phẩm thường được dùng để tải các nguyên liệu như hạt, viên có góc cạnh, có độ ma sát cao, hay tiếp xúc với hóa chất, sản phẩm có trọng lượng khá lớn, có độ ẩm ướt lớn,…như xi măng, than, quặng, kim loại, kính vụn, … Dùng trong vận chuyển hàng hoá, đóng gói, kết nối các hệ thống truyền tải, các dây chuyền trong nhà máy. Với kết cấu linh hoạt phù hợp với mọi địa hình.

Băng tải Mini được thiết kế với kiểu dáng nhỏ gọn sử dụng trong các lĩnh vực lắp ráp linh kiện, đếm sản phẩm,..giúp nâng cao hiệu quả công việc.

Con lăn inox là một thiết bị rất quan trong các hệ thống băng chuyền cũng như trong các dây chuyền sản xuất trong công nghiệp và khai thác khoáng sản. Con lăn inox được sử dụng trong các nhà máy chế biến thực phẩm, do nó có khả năng chịu nước và chịu sự ăn mòn cao. Ứng dụng trong các nhà máy sản xuất linh kiện điện tử.

Công ty Việt Thống Hưng Thịnh chuyên thiết kế và chế tạo các loại băng tải, băng chuyền chất lượng đảm bảo, thương hiệu của chúng tôi đã có từ lâu năm với uy tín cao luôn là sự lựa chọn hàng đầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đến với công ty chúng tôi quý khách hàng sẽ cảm nhận được chất lượng đảm bảo trong từng sản phẩm, chế độ bảo hành đầy đủ và dịch vụ hậu mãi tốt nhất.

【#7】Cấu Tạo Và Ưu Nhược Điểm Của Băng Tải Xích Tấm

Băng tải xich tấm được sử dụng trong chủ yếu trong các ngành công nghiệp khai thác mỏ, chế tạo máy, các nhà máy hóa chất, hay khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng. Băng tải xích tấm được sử dụng khá nhiều trong công nghiệp tuy nhiên cấu tạo của băng tải xích tấm cũng khá đơn giản.

Cấu tạo của băng tải xích tấm

1/ Sơ đồ kết cấu băng tải xích tấm:

2/ Các bộ phận cấu tạo của băng tải xích tấm:

1.Đĩa xích chủ động.

2.Ray đỡ của nhánh băng dỡ tải.

3.Bộ phận mang hàng hóa

4. Ray chữ C đỡ nhánh băng không tải.

5.Khung đỡ băng tải.

6.Vít căng băng tải.

7.Đĩa xích bị động.

8. Bộ phận kéo của băng tải.

9. Máng vào tải

Nguyên lý hoạt động của băng tải xích tấm

Bộ phận kéo của băng tải thường sử dụng hệ thống hai dây xích hoặc hệ thống một dây xích quấn vòng qua 2 đĩa xích. Giữa 2 dây xích có gắn các tấm lát chứa vật liệu, trên xích tải có lắp các con lăn. Các con lăn này chạy trên 2 đường ray ở hai bên của băng tải. Hầu hết ở băng tải xích tấm sử dụng thiết bị căng băng theo kiểu trục vít .

Các tấm lát của băng tải được gia công theo phương pháp dập hoặc đúc. Khi chất hàng lên băng tải người ta thường sử dụng phễu vào hoặc là cấp liệu trực tiếp cho băng tải.

Các ưu nhược điểm của băng tải xích tấm

Ưu điểm của băng tải xích tấm

+ Băng tải xích tấm kim loại có độ bền và độ cứng cao, cho phép vận chuyển các vật liệu dạng cục lớn, nặng và có cạnh sắc.

+ Bộ phận kéo của băng tải xích tấm vận hành bằng xích nên có độ bền kéo lớn, có chiều dài và chiều cao băng lớn dẫn làm tăng năng suất của băng tải.

+ Băng tải có góc nghiêng lớn.

+ Băng tải xích tấm chuyển động với vận tốc không lớn nên băng tải vận hành một cách dễ dàng thuận tiện.

+ Khi sử dụng cơ cấu di động có thể đặt băng tải cong trong 1 mặt phẳng thẳng đứng hoặc mặt phẳng ngang.

Nhược điểm của băng tải xích tấm

+ Trọng lượng băng tải và trọng lượng truyền động lớn.

+ Kết cấu của băng tải tương đối phức tạp nên vốn đầu tư lớn .

+ Trong băng tải xích tấm có nhiều con lăn và bánh răng nên việc chăm sóc và bảo dưỡng phải diễn ra thường xuyên do đó chi phí vận hành lớn so với các loại băng tải khác.

【#8】Cấu Tạo Của Xe Tải Gắn Cẩu 10 Tấn

– Linh động, có thể nâng hạ hàng hóa ở bất kì đâu.

– Ổn định xe vì khi di chuyển cẩu được xếp lại.

– Tiện lợi nhanh gọn.

Tuy nhiên cũng có khuyết điểm đó là:

– Cấu trúc phức tạp, khó bảo trì khi hư hoảng.

– Khi cẩu vận hành tính ổn định thấp.

– Chỉ vận chuyển hàng hóa ở trọng lượng phù hợp của xe.

Cấu tạo của xe tải gắn cẩu 10 tấn. Ở đây ta sẽ nói về cẩu vì xe theo từng hãng sẽ có thông số xe khác nhau:

– Cẩu: Cẩu có thể thay đổi tầm trục cẩu nhờ các đoạn được ghép vào nhau. Số lượng đoạn tùy thuộc vào xe từ 2 tới 5 đoạn. Đoạn ngoài cố định, các đoạn còn lại chuyển động nhờ hệ thống thủy lực, trên đầu của cẩu có gắn hệ thống tời để nâng hạ hàng.

– Mâm quay: giúp cẩu quay trong 360 độ, được dẫn động bởi xy lanh thủy lực thông qua cặp bánh răng ăn khớp ở trong.

– Chân chống: tăng độ ổn định của xe khi làm việc, sử dụng hệ thống dẫn động bằng xy lanh thủy lực hoặc bằng tay.

Nguyên lý làm việc của xe tải gắn cẩu:

-Nâng hạ tải: sử dụng tời để nâng hạ, tời hoạt động được là nhờ động cơ thủy lực.

-Nâng hạ cần: Thông qua xy lanh thủy lực được bố trí từ đó sẽ kéo hoặc đẩy hàng hóa.

-Thay đổi tầm với của cần: Thông qua chiều dài xy lanh thủy lực được bố trí trong lòng cần ta có thể thay đổi tầm với của cần điều này giúp cho việc vận chuyển được tiện lợi hơn.

-Quay cần: nhờ trụ đứng cố định hoạt động dựa trên các bánh răng ăn khớp, dẫn động bởi cơ cấu trục vì thế toàn bộ cụm cẩu có thể hoạt động dễ dàng.

Khi sử dụng xe tải cẩu 10 tấn cần lưu ý những điều sau:

– Vì xe tải cẩu có tính ổn định kém nên hạn chế nâng hạ vật khu vực phía trước xe

– Khi chân chống bị nâng cách nền 50mm phải ngưng cẩu vì sẽ gây nguy hiểm.

– Không dùng xe tải gắn cẩu 10 tấn để nhổ cây, rụ điện hay các vật bị chôn sâu dưới đất

– Không được sử dụng cẩu để kéo hàng hóa trên đường có thể gây nguy hiểm

Hy vọng những thông tin trên sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ về cấu tạo cũng như cách hoạt động của xe tải gắn cẩu 10 tấn. Liên hệ chúng tôi để được tư vấn và chọn cho bạn xe tải gắn cẩu phù hợp với mục đích sử dụng.

từ khóa: giá xe tải gắn cẩu, gia xe tai gan cau

【#9】Cầu Xe Tải Là Gì, Cấu Tạo Của Cầu Xe Tải.

là gì ? Cầu xe tải còn có tên gọi khác là bộ visai, là bộ phận hình cầu nằm ở trục sau hoặc trục trước đối với loại xe 2 cầu), bên trong cầu bao gồm hệ thống bánh răng truyền chuyển động thông qua trục láp đến bánh xe tải.

Để nhận biệt các loại truyền chuyển động của xe tải, chúng ta thường gọi là cầu lắp và cầu dầu. Trong bài viết này, Ô tô Hoàng Long sẽ phân tích chi tiết cấu tạo của cầu xe tải để giúp các bác tài hiểu rõ và hiểu sâu hơn về chức năng, cấu tạo của cầu xe tải.

Đối với các tài xế, việc hiểu rõ về cấu tạo xe là điều quan trọng để giúp việc vận hành tốt hơn, kiểm tra những dấu hiệu cần phải khắc phục sửa chữa kịp thời trước khi dẫn tới hao tổn lớn.

Vì sao lại có cầu xe tải ?

Các bánh của xe tải sẽ quay ở cùng tốc độ nếu xe chạy trên một đường thẳng còn khi vào cua, các bánh xe sẽ có tốc độ khác nhau.

Tốc độ của bánh xe phụ thuộc vào bán kính đường trong của khúc cua, bánh xe bên ngoài bán kính xe quay lớn hơn nên tốc độ quay nhanh hơn. Bánh xe phía sau trong có bán kính quay nhỏ nên tốc độ quay chậm hơn. Vì vậy ở cùng một thời điểm khi vào cua, 2 bánh sẽ quay với 2 tốc độ khác nhau.

Chức năng của cầu xe là.

  • Truyền mô-men của động cơ tới trục bánh xe.
  • Là nơi giảm tốc cuối cùng trước khi truyền mô-men xoắn tới trục của bánh xe.
  • Thay đổi tốc độ của các bánh xe khi vào cua để không gây ra hiện tượng trượt của bánh xe.

Phân biệt cầu láp với cầu dầu.

Phân biệt cầu láp với cầu dầu cũng rất đơn giản, chúng ta hãy nhìn vào mặt bích ngay giữa mâm xe. Mặt bích cầu dầu lớn hơn và thường có một lỗ để đổ dầu bôi trơn và làm kín.

Để biết ưu điểm và nhược điểm của các loại cầu bạn có thể tham khảo bài viết : Những Loại Cầu Thường Dùng Trong Xe Tải

Cách sử dụng bộ vi sai khi xe bị sa lầy

Khi xe bị sa lầy khi gặp địa hình xấu, bánh xe bị lầy sẽ quay liên tục trong khi bánh không bị sa lầy đứng yên. Lúc này tài xế hãy đổ thêm đất đá vào chỗ bị sa lầy và hãm cầu nối cứng 2 trục với vỏ cầu để 2 bánh xe quay cùng tốc độ để có thể vượt lấy, sau đó mở cầu để xe hoạt động bình thường.

CÔNG TY TNHH TM Ô TÔ HOÀNG LONG

Hotline : 0909.415.145

Mail : [email protected]

Địa Chỉ: 967-969 QL1A, P.Thới An, Q.12, TPHCM

【#10】Tài Liệu Cấu Tạo Thứ Cấp Của Thân Cây Hai Lá Mầm

Cấu tạo thứ cấp của thân cây Hai lá mầm Thân cây thực vật 2 lá mầm sống nhiều năm và cây hạt trần có cấu tạo thứ cấp, thân cây có khả năng tăng trưởng về bề ngang và kích thước do hoạt động của mô phân sinh thứ cấp: tầng phát sinh libe – gỗ (tầng phát sinh trụ) và tầng phát sinh bần – lục bì (tầng phát sinh vỏ), trong đó tầng phát sinh trụ có vai trò chủ yếu. Thân cây Một lá mầm và thân cây Hai lá mầm sống một năm không có cấu tạo thứ cấp. Cấu tạo thứ cấp của thân cây Hai lá mầm rất phức tạp. Người ta phân biệt thành các phần chính sau đây: a. Vỏ thứ cấp Thân cây Hai lá mầm đặc biệt là các thân cây gỗ, vỏ sơ cấp thường không giữ được lâu, một tầng phát sinh mới thay thế cho lớp biểu bì, đó là tầng phát sinh vỏ (hay tầng sinh bần – lục bì). Hoạt động của tầng này sẽ sinh ra lớp bần ở phía ngoài, gồm các tế bào chết có màng hóa bần, mặt ngoài của tầng bần có nhiều lỗ vỏ đảm bảo sự trao đổi khí giữa thân cây và môi trường. Các tế bào của lớp lục bì sẽ được hình thành ở phía trong – đó là các tế bào nhu mô sống có chứa lạp lục, có màng mỏng bằng cellulose. Tập hợp của những lớp này hình thành nên lớp chu bì của thân cây. Do sự hoạt động liên tục của tầng phát sinh vỏ, một tầng phát sinh vỏ mới được hình thành sâu ở trong lớp vỏ và một lớp bần mới được hình thành. Khi lớp bần mới được hình thành thì tất cả các mô nằm bên ngoài của nó bị chết đi và cùng với lớp bần tạo thành bộ phận che chở phía ngoài của thân – lớp này gọi là thụ bì. Khái niệm vỏ thứ cấp trong cấu tạo thứ cấp của thân là tập hợp tất cả các mô nằm phía ngoài tầng phát sinh, bao gồm: các tế bào libe, vỏ sơ cấp (nếu có), các tế bào của chu bì hoặc thụ bì. b. Tầng phát sinh trụ 68 Trong cấu tạo sơ cấp của thân, tầng trước phát sinh (tiền tượng tầng) đã hình thành nên libe sơ cấp và gỗ sơ cấp, một phần các tế bào của tầng này vẫn giữ trạng thái phân chia và khi kết thúc sự sinh trưởng sơ cấp sẽ trở thành tầng phát sinh (tượng tầng) hay tầng phát sinh trụ. Tầng phát sinh trụ thường nằm ở giữa bó gỗ và libe, thường gồm 2 loại tế bào: – Tế bào khởi sinh hình thoi: thường có dạng hình thoi kéo dài, những tế bào này có chiều dài gấp nhiều lần chiều rộng, chúng thường phân chia theo mặt phẳng tiếp tuyến để hình thành nên những yếu tố dẫn, yếu tố sợi và các tế bào nhu mô. – Tế bào khởi sinh tia: thường có dạng hình tròn, có số lượng ít hơn tế bào khởi sinh hình thoi. Những tế bào này thường tập hợp thành nhóm với số lượng và kích thước khác nhau, tùy từng loài cây. Hoạt động của những tế bào này sẽ sinh ra tia ruột thứ cấp (gồm tia gỗ và tia libe). Các tế bào của tầng phát sinh có thể sắp xếp thành tầng hoặc không, hoạt động của những tế bào này có thể thường xuyên hoặc định kỳ theo mùa (thường gặp ở những cây gỗ sống ở vùng có khí hậu thay đổi theo mùa). c. Libe thứ cấp và gỗ thứ cấp + Libe thứ cấp: có cấu tạo phức tạp hơn libe sơ cấp, bao gồm: Mạch rây, tế bào kèm cùng với mô mềm hợp thành libe mềm. Sợi libe, mô cứng và tế bào đá hợp thành libe cứng, ở một số loài gặp các cấu trúc tiết nằm xen kẽ với các tế bào libe. Libe thứ cấp gồm những tế bào có màng mỏng, độ cứng kém nên thường bị gỗ dồn ra phía ngoài vỏ và bẹp dần lại. Trong cấu tạo thứ cấp của thân các yếu tố libe sơ cấp vẫn có thể tồn tại nhưng cũng bị tình trạng tương tự như libe thứ cấp và sau vài năm có thể bị biến mất đi. + Gỗ thứ cấp: gỗ là phần chiếm chủ yếu trong cấu tạo thứ cấp của thân cây, trong gỗ thường gồm các loại mô chính: mô cơ bản, mô cơ và mô dẫn. – Mô cơ bản: mô cơ bản trong gỗ thứ cấp gồm 3 loại mô chính: nhu mô gỗ, nhu mô gỗ hình thoi (sợi thay thế) và tia ruột (tia gỗ) tất cả các loại mô này đều có chức năng dự trữ. Nhu mô gỗ: là những tế bào sống thướng có dạng hình ống, có vách ngăn ngang, màng của chúng thường hóa gỗ song không quá dày, tế bào thường có chứa các chất dự trữ: tinh bột, các loại tinh dầu… Nhu mô hình thoi (sợi thay thế): tế bào thường có dạng hình thoi dạng sợi, có màng hóa gỗ, không có vách ngăn ngang, 2 đầu tế bào thường nhọn, có một nhân và thường làm nhiệm vụ dự trữ. Tia ruột: cấu tạo bởi những tế bào có dạng hình chữ nhật (trên lát cắt ngang) đó là những tế bào sống, màng hóa gỗ, tập trung thành từng tia chạy theo hướng phóng xạ từ trục của thân ra phía ngoài. 69 -Mô cơ: gồm các tế bào cương mô, màng dày hóa gỗ, tế bào thường có dạng hình thoi 3 đầu nhọn, những tế bào đó còn gọi là các tế bào sợi gỗ – đó là những tế bào chết, không chứa chất sống, có tác dụng nâng đỡ về mặt cơ học cho thân cây. – Mô dẫn: bao gồm quản bào và mạch thông, chúng có thể nằm rải rác ở trong gỗ và sắp xếp thành vòng (ở cây thực vật hạt trần thường chỉ có quản bào). d. Khái niệm vòng gỗ hàng năm Trong gỗ thứ cấp của thân các cây gỗ thường gặp những vòng gỗ đồng tâm hoặc tương đối đồng tâm, người ta gọi đó là những vòng gỗ hàng năm, chúng được hình thành do tầng phát sinh trụ hoạt động không đồng đều theo mùa: Mùa xuân và mùa hè khí hậu ẩm và nóng, cây hoạt động mạnh, dẫn truyền nhiều, tầng phát sinh trụ sản sinh ra các tế bào gỗ có màng mỏng, kích thước lớn, tập hợp những tế bào này tạo thành một vòng gỗ nhạt màu và rộng. Cuối thu sang đông, khí hậu khắc nghiệt, cây hoạt động rất ít hoặc ngưng hoạt động (thường gặp ở những cây rụng lá về mùa đông) tượng tầng hoạt động sẽ sản sinh ra các tế bào gỗ có kích thước nhỏ, màng dày, những tế bào này sẽ làm thành một vòng gỗ hẹp và sẫm màu. Như vậy, cứ một năm cây thường sản sinh ra một vòng gỗ sẫm màu, hẹp và một vòng gỗ nhạt màu rộng, Tuy nhiên, sự hình thành những vòng gỗ như trên chỉ mang tính chất tương đối. e. Khái niệm gỗ vỏ và gỗ lõi Việc dẫn truyền nước và muối khoáng hòa tan từ rễ lên lá là do các mạch dẫn trong phần gỗ của thân đảm nhận, song mức độ dẫn truyền không phải đồng đều trên mọi phần gỗ, người ta phân biệt: – Gỗ vỏ (dác): là vùng gỗ bên ngoài không màu hoặc có màu nhạt, có khả năng hoạt động dẫn truyền tốt. – Gỗ lõi (ròng): là vùng gỗ bên trong thường có màu sẫm hơn gỗ vỏ, có độ cứng hơn gỗ vỏ, gỗ lõi có chứa các thể nút (được hình thành do các tế bào nhu mô chui vào thành mạch, phình lên tạo thành những thể nút bít kín thành mạch lại), các chất gôm, dầu, tanin… gỗ lõi không có khả năng dẫn truyền hoặc dẫn truyền rất yếu và giữ chức phận nâng đỡ về mặt cơ học cho thân cây. Hình 3.10. Cấu tạo giải phẫu của thân cây Hai lá mầm 1. Lớp bần; 2. Nhu mô vỏ; 3. Tia ruột; 4. Sợi libe; 5. Nhu mô libe thứ cấp;6. Tầng phát sinh libe gô; 7. Gỗ thứ cấp; 8. Gỗ sơ cấp. (Nguồn: F.K. Tikhomirov,1978) 70 a. Biểu bì Gồm một lớp tế bào sống, có các tế bào lỗ khí nằm xen kẽ, màng ngoài của tế bào biểu bì có thể thấm thêm silic, có tầng cutin khá dày, hoặc phủ một lớp sáp, có thể có lông, gai… b. Lớp cương mô Nằm ngay bên dưới biểu bì là những tế bào cương mô, những tế bào cương mô này có thể sắp xếp thành vòng hoặc từng đám, nằm xen lẫn với các tế bào nhu mô có chứa lạp lục. Những đám cương mô này có thể kéo dài vào trong nối liền với những vòng cương mô bao xung quanh các bó dẫn. f. Khái niệm cây thân gỗ và cây thân thảo 2 lá mầm Trong hình thái tiến hóa thực vật, những dạng cây thân gỗ được xem là nguyên thủy hơn những dạng cây thân thảo. Người ta phân biệt cây thân gỗ và cây thân thảo 2 lá mầm chủ yếu dựa vào sự sinh trưởng thứ cấp của thân do hoạt động của tầng phát sinh trụ. Ở cây thân gỗ, quá trình sinh trưởng thứ cấp kéo dài trong suốt đời sống của cây, còn ở cây thân thảo, quá trình sinh trưởng thứ cấp của thân bị đình chỉ khi cây ra hoa và tạo quả…